BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

1532. ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á

Posted by adminbasam on 05/01/2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ bảy ngày 29/12/2012

ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á

TTXVN (Angiê 27/12)

(Bài phân tích của tác giả Kishore Mahbubani, thuộc Đại học quc gia Xinhgapo, đăng trên mạng tin “Chân trời chiên lược’’)

Với những nét đặc trưng của vị trí địa lý, lục địa châu Úc về mặt lý thuyết có đông người châu Á sinh sống. Ngoài ra do yếu tố lịch sử, Ôxtrâylia cũng là nơi sinh sống của đa số người phương Tây. Ngày nay, sự trùng hợp lịch sử này đang dần chấm dứt.

Ôxtrâylia trước những thích ứng đau đớn

Nước sẽ phải có những thích ứng đau đớn nhất trong thế kỷ châu Á chắc chắn là Ôxtrâylia. Giống như cường quốc phương Tây đang dần suy tàn, Ôxtrâylia cùng với Niu Dilân có thể sẽ vẫn là hình thái phương Tây duy nhất tại châu Á. Ngày nay, hiển nhiên Ôxtrâylia gắn với cường quốc Mỹ. Việc Ôxtrâylia mới đây cho phép 2.500 quân Mỹ đến đồn trú tại đảo Darwin rõ ràng cho thấy nước này tin rằng sự bảo trợ của Mỹ liên quan đến an ninh của họ. Tuy nhiên, cường quốc Mỹ sẽ tiếp tục suy yếu. Hiện có ít người Mỹ và Ôxtrâylia tin rằng với tốc độ như hiện nay nền kinh tế Mỹ sẽ tụt xuống vị trí thứ hai thế giới. Các số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy năm 1980, nước Mỹ chiếm 25% toàn bộ sức mua toàn cầu trong khi Trung Quốc chỉ chiếm 2,2%. Đến năm 2016, sức mua của Mỹ sẽ giảm xuống còn 17,6% trong khi của Trung Quốc sẽ tăng đạt mức 18%. Trong các điều kiện lịch sử thay đổi bi đát trên, sai lầm lớn mà Ôxtrâylia có thể mắc phải là tiếp tục tự hào về vai trò dẫn đường gắn với sức mạnh của phương Tây hay của Mỹ như một nguồn bảo đảm an ninh duy nhất. Mong muốn vẫn là một phần của phương Tây của họ là điều hoàn toàn dễ hiểu. Trong một cuộc phỏng vấn với báo “The Straits Times”, Ngoại trưởng Ôxtrâylia Bob Carr đã bày tỏ mong muốn trên như sau: “Vì những lý do ngôn ngữ, thể chế và các giá trị, Ôxtrâylia chắc chắn vẫn thuộc về phương Tây, đó là những gì chúng tôi đang có. Điều này lôi cuốn chúng tôi và làm chúng tôi trở nên trân trọng những đối tác hơn trước. Một nền dân chủ nghị viện, một ngành tư pháp độc lập, một môi trường báo chí tự do, tôn trọng nhân quyền-tất cả những điều này đều xuất phát từ truyền thống phương Tây. Những người nhập cư châu Á vừa mới đến đây. Họ mang đều xuất phát nền văn hóa, triển vọng của họ và đang thích ứng theo cách thức trên”.

Những suy nghĩ địa chính trị cứng nhắc

Lô gích bản sắc văn hóa không thể vượt qua những suy nghĩ địa chính trị cứng nhắc. Ví dụ: phương Tây đã hỗ trợ chế độ Apácthai của người thiểu số da trắng Nam Phi trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh bởi họ coi chế độ trên như một chiến lũy chống lại sự bành trướng của chế độ Xôviết tại châu Phi, Nhưng ngay khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Nam Phi đã mất đi lợi thế chiến lược và nhanh chóng bị phương Tây từ bỏ. Những gốc rễ văn hóa chung đã không được chú ý nữa. Để tránh những hiểu lầm, cần phải nhấn mạnh Ôxtrâylia – ngược lại với chế độ Apácthai tại Nam Phi – không phải là một phần “xa lạ” của châu Á. Theo năm tháng, Ôxtrâylia đã tương đối thích ứng với các nước láng giềng châu Á. Ôxtrâylia đang duy trì quan hệ chặt chẽ và hữu nghị với nhiều nước tại châu lục này.

Thực sự, Oxtrâylia có nhiều lợi ích tại châu Á. Thứ nhất, cùng với Xinhgapo, Malaixia, Niu Dilân và Anh, Ôxtrâylia là thành viên của Hiệp định Phòng thủ của 5 cường quốc (FPDA). FPDA được thành lập năm 1971, nhằm bổ sung cho các hiệp ước và hệ thống truyền thống song phương với Mỹ, các thỏa thuận song phương và hoạt động với ASEAN, Ôxtrâylia cũng đang hợp tác với Anh và Niu Dilân trong việc duy trì một cấu trúc hòa bình tại Đông Nam Á. Thứ hai, Ôxtrâylia đã thực hiện một chuỗi những dự án giáo dục và đào tạo thông qua cơ quan Phát triển Quốc tế Ôxtrâylia (AusAID) và các cơ quan chính phủ khác. Thực tế, AusAID đang tài trợ cho chương trình hợp tác và phát triển ASEAN-Ôxtrâylia nhằm giúp thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đến năm 2015. Chương trình này nhằm tập trung đào tạo khả năng thể chế của AEC bằng cách tài trợ cho nghiên cứu kinh tế và các hoạt động chính trị, thực hiện các dự án hỗ trợ các Nhà nước thành viên trong ASEAN còn kém phát triển và giúp nền “kinh tế xanh” của ASEAN vận hành. Tóm lại, Ôxtrâylia đã đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo cho các Nhà nước thành viên ASEAN. Thứ ba, Ôxtrâylia đã duy trì các kênh tiếp xúc chặt chẽ với các nước láng giêng châu Á, nhất là-với Nhật Bản và Inđônêxia. Nhật Bản và Ôxtrâylia đang duy trì mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế bởi Nhật Bản là đối tác thương mại lớn nhất của Ôxtrâylia và là một nguồn huy động tài chính quan trọng. Năm 2007, Ôxtrâylia và Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện các cuộc đàm phán về một hiệp định mậu dịch tự do song phương. Hai nước cũng đã hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch, quốc phòng và khoa học.

Ôxtrâylia cũng đang duy trì quan hệ tốt với Inđônêxia. Từ khi Inđônêxia giành độc lập, hai nước đã hợp tác trong các lĩnh vực cứu hộ ngư dân trên biển, thực thi luật pháp và tư pháp. Hai nước cũng đã ký kết một thỏa thuận an ninh vào tháng 6/2006 (với tên gọi Thỏa thuận Lombok) để thiết lập một khung pháp lý phát triển quan hệ an ninh song phương.

Trong giai đoạn 2011-2012, viện trợ của Ôxtrâylia cho Inđônêxia lên tới gần 558 triệu USD. Inđônêxia là nước tiếp nhận viện trợ lớn của ôxtrâylia. Hai nước cũng duy trì quan hệ thương mại và kinh tế lên tới 13,8 tỷ USD giai đoạn 2010-2011 và đầu tư song phương vào khoảng 5,7 tỷ USD năm 2010. Tầm qụan trọng trong quan hệ Ôxtrâylia-Inđônêxia được tóm tắt trong bài phát biểu của Thủ tướng Ôxtrâylia Paul Keating năm 1994, nhấn mạnh: “Không một nước nào có tầm quan trọng với Ôxtrâylia hơn Inđônêxia. Nếu chúng ta không thành công trong việc ổn định, duy trì và phát triển mối quan hệ song phương, mối quan hệ chính trị đối ngoại của chúng ta coi như chưa hoàn chỉnh”.

Chiến tranh Lạnh đã kết thúc từ lâu

Tuy nhiên, có những lợi thế mấ ôxtrâylia đã coi nhẹ. Khi quyền lực của phương Tây cai trị, Ôxtrâylia, với tư cách là chính quyền phương Tây, có thể dễ dàng thiết lập mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng châu Á. Vì lý do đó, những tiếp xúc chặt chẽ của Ôxtrâylia, trước tiên với Luân Đôn và sau đó với Oasinhtơn, được đánh giá như một lợi thế hơn là một nghĩa vụ với khu vực. Việc Ôxtrâylia, ASEAN, Trung Quốc và phương Tây cùng một bên trong suốt cuộc Chiến tranh Lạnh, kéo dài từ 1950-1990, là yếu tố có lợi. Cuộc cạnh tranh địa chính trị mới sẽ diễn ra theo cách này hay cách khác giữa Mỹ và Trung Quốc. Vì lý do nấy, Ôxtrâylia sẽ phải có những quyết định đau đớn không chỉ về mặt văn hóa mà còn về mặt địa chính trị. Thời điểm để quan tâm đến những thập kỷ tới, để trả lời những câu hỏi khách quan và đơn giản liên quan đến an ninh và chính sách đối ngoại của Ôxtrâylia đã tới. Việc tiếp tục con đường mà Ôxtrâylia đã tự lựa chọn tuyệt nhiên không còn giá trị.

Ôxtrâylia phải chú ý đến những thực tế mi trên thế giới

Trước tiên, Ôxtrâylia sẽ phải chú ý ngay lập tức tới những thực tế mới trong thế giới quanh họ. Càng thích ứng sớm, Ôxtrâylia sẽ càng ít bị đau đớn. Không nước nào có thể dự báo tương lai ngay cả khi chúng ta có thể có sẵn những ứng xử hợp lý trong dài hạn. Mọi kịch bản địa chính trị có thể sẽ xảy ra, trong đó một số thách thức địa chính trị có khả năng gồm: cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ; cạnh tranh Trung-Ấn và căng thẳng giữa đạo Hồi với phương Tây. Mỗi yếu tố đối đầu trên có thể gây cho Ôxtrâylia những thách thức thực sự.

Từ năm 1967, Ôxtrâylia đã được thừa hưởng một đối tác địa chính trị bất ngờ và quý giá là ASEAN. Mặc dù có những thiếu sót, ASEAN đã giúp tăng cường an ninh cho Ôxtrâylia bằng cách duy trì hòa bình tại khu vực Đông Nam Á (ít có làn sóng ngưòi tị nạn). Ôxtrâylia cũng đã giữ khoảng cách với các chính quyền như Trung Quốc hay Ấn Độ; mở rộng các mạng lưới hợp tác đa phương giúp tạo sự ổn định địa chính trị lớn hơn.

Đâu là sai lầm lớn nhất của Ôxtrâylia

Một trong những sai lầm lớn nhất mà ôxtrâylia mắc phải trong những thập kỷ qua là chưa đánh giá cao thành công địa chính trị của ASEAN. Việc Ôxtrâylia đôi khi làm xáo trộn ASEAN hay bỏ qua tổ chức này trong việc áp dụng các sáng kiến ngoại giao còn sai lầm hơn. Một điểm yếu cố hữu nữa trong suy nghĩ địa chính trị của Ôxtrâylia là luôn đánh giá mình sẽ tiếp tục là một “cường quốc bậc trung” trong trật tự toàn cầu. Việc kết nạp Ôxtrâylia vào G20 đã làm cho nước này duy trì ảo ảnh trên. Ít người Ôxtrâylia ý thức được rằng Ôxtrâylia được kết nạp là do những tính toán về GDP mà các Bộ trưởng Tài chính Mỹ và Canađa, Larry Summer và Paul Martin, đã đưa ra năm 1999. Đó là giai đoạn quyền lực của phương Tây đang ở tuyệt đỉnh vinh quang. Như những chính quyền các nước mới nổi châu Á và các cường quốc kinh tế khác đánh giá, vị trí của Ôxtrâylia trong trật tự thế giới sẽ suy giảm chậm dần và không còn là một cường quốc bậc trung nữa.

Mới đây, Ôxtrâylia đã ra Sách Trắng về thế kỷ châu Á. Quyết định địa lý và địa chính trị của Ôxtrâylia là tại châu Á bởi Ôxtrâylia (và Niu Dilân) không còn lựa chọn nào khác ngoài gắn bó chặt chẽ với ASEAN. Một “Cộng đồng 12 nước” mới trong đó 10 nước ASEAN và Ôxtrâylia, Niu Dilân thích hợp với quyết định địa chính trị hiển nhiên. Trong nhiệm kỳ thủ tướng Ôxtrâylia (1991-1996), Paul Keating đã cố gắng đi theo đường hướng trên. Tuy nhiên, những tầng lớp lãnh đạo kế cận đã không tiếp nối con đường đó. Nhiều cơ hội địa chính trị bị Ôxtrâylia bỏ lỡ bởi nước này vẫn gắn với con đường lịch sử truyền thống hướng về phương Tây. Nếu những năm tới họ còn tiếp tục bỏ lỡ, Ôxtrâylia sẽ không thể biến những gì đã ghi chép thành hiện thực./.

About these ads

12 phản hồi to “1532. ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á”

  1. [...] 1532. ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á [...]

  2. Năm Darwin đã nói

    Sang năm, tới Hoàng Sa và cả Trường Sa!
    nghe bác F361!

  3. Kangaroo gốc Mít đã nói

    Nước Úc từ sau 75 đã từ bỏ chính sách ‘nước Úc da trắng’ lần đầu tiên trong lịch sử Úc đã mở cửa đón nhận cả trăm ngàn thuyền nhân VN, các trao đổi thương mãi lớn lao của Úc đã uyển chuyển theo đà tiến hóa của thế giới , đối ngoại của họ rất nhạy bén với sự phát triển kinh tế của Á Châu, bằng chứng là họ đã mở rộng buôn bán (đôi bên cùng có lợi) bất kể đối tác là mèo đen hay mèo đỏ Tác giả Mahbubani có lẽ là học trò của mohamed Mahatir , hay học cùng sách với ông này : dân Úc đều nhớ mãi cách nay 15 năm (khi Mahatir là thủ tướng Malaysya đã không ngớt trù ẻo nước Úc rằng chẳng bao lâu Úc sẽ trở thành ‘white trash’. Ô hô !15 năm sau lời tuyên bố xổng sượt này nước Úc dân số chỉ có 22 triệu , nếu tính GDP hàng năm thì Úc vẫn là cường quốc kinh tế hạng 9 , huy chương vàng các lực sĩ Úc đem về trong kỳ thế vận hội London vừa qua (hạng 8 trên thế giới), tiềm lực một quốc gia như thế thì đến bao giờ quốc gia của thầy trò ông Mahatir mới đạt đến nhỉ?

  4. F 361 đã nói

    Cám ơn NămDarwin đã cho thông tin!

    Trước đây, thế giới Phương Tây hô hoán về hoạ da vàng, thực ra là hoạ Tàu. Mấy chục năm gần đây, phương Tây loá mắt vì phát triển kinh tế của Tàu và bị cái câu bùa chú “Thao quang, dưỡng hối” ru ngũ nên quên đi cái hoạ Tàu.
    Tôi sợ, Tàu mà tràn qua Úc nữa, thì nhân loại mạt vận diệt vong, chỉ còn mỗi giống nhợn Tàu, như bài nói chuyện của Trì Hạo Điền cách đây gần 10 năm.

    Các bác ở Úc ráng vận động cho dư luận và quốc hội Úc về việc tăng suất tái định cư cho người VN. Theo Wiki, hiện nói nay, Úc có 4,3% dân số là Tàu (1,6% nói tiếng phổ thông, tức là dân phía bắc, còn 1,2% nói tiếng Quãng Đông), còn VN chỉ có 1,2% dân số.

    Một lần nửa cám ơn!

    Sang năm, tới Hoàng Sa

  5. [...] 1532. ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á [...]

  6. Năm Darwin đã nói

    Bác đừng lo, Tàu sang sống tại Úc dần bị đồng hóa thành Úc dù vẫn da vàng, Việt cũng vậy. Trừ thế hệ thứ nhất, các thế hệ sau cũng phải chật vật học tiếng ông bà nội đẻ mới có thể nói được tiếng đó. Gìn giữ văn hoá dân tộc thì được nhưng dùng nó để đồng hoá văn hoá dân bản xứ thì bất khả thi.

  7. Năm Darwin đã nói

    Bài này có ý nói tương lai của Úc là ở ASIAN/Châu Á, Úc phải nên chọn nghiêng về ASIAN/Châu Á thay vì Phương Tây truyền thống vì lý do “Lô gích bản sắc văn hóa không thể vượt qua những suy nghĩ địa chính trị cứng nhắc”.

    Nhưng câu trả lời của Bob Carr đủ nói lên bản sắc của Úc ““Vì những lý do ngôn ngữ, thể chế và các giá trị, Ôxtrâylia chắc chắn vẫn thuộc về phương Tây…Những người nhập cư châu Á vừa mới đến đây. Họ mang đều xuất phát nền văn hóa, triển vọng của họ và đang thích ứng theo cách thức trên” nghĩa là họ vẫn tôn trọng cái gốc Phương Tây của nước Úc và thích ứng văn hoá của họ theo hướng đó.

    Úc hiện nay vẫn đang hướng nhiều về Châu Á nhưng kêu Úc chối bỏ truyền thống Tây Phương? Ngay cả người Tàu hay bất cứ người Châu Á nào nhập cư tại Úc đề không muốn điều đó huống chi người Úc chính gốc Anglo-Saxons vì đó chính là bản sắc riêng làm Úc ở Châu Á mà không phải Châu Á.

  8. raymond đã nói

    mot bai viet nham nhi va sac mui tuyen truyen.

  9. F 361 đã nói

    Úc phải hội nhập với Châu Á để nhạt bớt cái mùi Anh Cát Lợi của mình đi!
    Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết nếu muốn giử bản sắc Úc của mình, thì phải siết tối đa chính sách nhập cư đối với dân Tàu cộng và chùng mực với dân Tàu nói chung đồng thời mở rộng cửa với dân Việt. Dân Việt trên đất Úc sẽ là gọng kềm đối với dân Tàu di cư, bởi vì chỉ có dân Việt mới có kinh nghiệm ngàn năm sống và đồng hoá đám dân Tàu di cư!
    Nếu không, úc sẽ trổ thành một nước Tàu không mặc trường bào và xường xám, cũng như Indonesia là một nước Tàu vận xà rông!

    Sang năm, tới Hoàng Sa!

  10. Cầu Cải Tiến đã nói

    uhm.. tìm không ra nguồn của “chân trời chiến lược”.

    Tác giả dịch bài không xác thực cho lắm điển hình như câu mở đầu lấy ở trang web của ông Kishore Mahbubani:

    “By the logic of geography, the continent of Australia should have been populated with Asians. Instead, by an accident of history, Australia has been predominantly populated with Westerners.”

    Đại khái là:

    “Theo địa thế Úc Châu đáng lẽ là nơi người Á Châu cư trú nhưng bởi vì yếu tố lịch sử đa số dân cư Úc là dân Tây phương.”

    Không có phần “Ngày nay, sự trùng hợp lịch sử này đang dần chấm dứt.”. Một nhà trí thức như ông Kishore Mahbubani hoặc bất cứ trí thức có danh tiến nào cũng không thể tuyên bố hoặc ám chỉ một điều “ngông” vô căn cớ như vậy, “dân Á châu sẽ xóa sổ dân Tây phương ở Úc?”

    Trong cuộc phỏng vân của đài ABC có trùng tựa của bài “Australian in the Asian Century” (ÔXTRÂYLIA TRƯỚC THẾ KỶ CHÂU Á) nhưng nội dung khác xa. Không biết người dịch bài cố tình áp đặt gì đây. Có ý khuyên VN tương lai là Á Châu nên theo TQ chăng? Nếu vậy đây là tuyên truyền của TC.

    Có điều nên nêu là ông Kishore Mahbubani khuyên thế hệ trẻ Úc nên đến Á châu du học, China hoặc Indonesia vì tương lai. Các vị quan to hãy xem xét có nên rút con cháu từ Mỹ, Anh, Úc v.v… về và chuyển sang TQ.

  11. Ba Ban Xoi đã nói

    Chơi với bạn (Hoa Kỳ )mà kại đâm sau lưng bạn , nói xấu bạn thì ai mà làm bạn lâu dài? Chơi với kẻ thù như TQ mà o bế , nịnh bợ nó thì nó….đề phòng chứ nó đâu có ngu gì mà không cảnh giác !
    Đảng CSVN nên học cách làm bạn của người Do Thái , toàn tâm , toàn ý như Hàn , Nhật , Phi , Thái …. thì chả có gì mà lo !
    Bài học của Miền Nam trước kia là chơi với Mỹ , nhận viện trợ Mỹ nhưng vẫn chửi nó , nằm vùng phá hoại nó….thì nó ra đi chứ ở lại để bị chửi là ngu à?

  12. No Way Out đã nói

    Tướng Nguyễn Chí Vịnh nên tìm học tư tưởng của Mao và Đặng

    Đoàn Hưng Quốc

    Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (phải) đón thượng tướng Mã Hiểu Thiên tại trụ sở Bộ Quốc phòng

    Mao Trạch Đông thống nhất Hoa Lục, Đặng Tiểu Bình mở cánh cửa Đổi Mới đưa Trung Quốc tiến lên cường quốc hàng thứ nhì trên thế giới. Cả hai đều có công và tội – riêng họ Đặng đã quyết định đem quân tấn công Việt Nam vào năm 1979; nhưng đối với với nhiều người dân Trung Quốc, họ là những nhà lãnh đạo lỗi lạc, hiểu thời mẫn thế và dám có những quyết định vô cùng can đảm.

    Điểm đáng nói là cả hai đều đặt quyền lợi của đất nước Trung Hoa lên trên hết: khi bị Liên bang Xô viết chèn ép thì họ không ngần ngại vất bỏ những ràng buộc ý thức hệ giữa hai đảng cộng sản láng giềng mà bắt tay với Hoa Kỳ, tạo ra thế chân vạc thoát khỏi gọng kềm của đàn anh phương Bắc.

    Liệu Mao và Đặng có biết là Mỹ dụng tâm chia rẽ Nga – Trung để làm ngư ông hưởng lợi hay không? Chắc chắn là họ không ngây thơ! Liệu Bắc Kinh lúc đó có tự hào hống hách vì đã đẩy quân đội Đồng Minh lùi xuống vĩ tuyến 38 trong chiến tranh Triều Tiên mà không thắt chặt quan hệ với Mỹ hay không? Họ không thể để những tỵ hiềm nhỏ nhặt chi phối vào các quyết định quan trọng cho tương lai Trung Quốc.

    Chúng ta cần nhìn lại bài học lịch sử năm 1972 lúc Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon lần đầu tiên viếng thăm Hoa Lục. Chuyến công du này chỉ có thể xảy ra một khi Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đã dứt khoát và công khai vứt bỏ quan hệ với Đảng Cộng sản Liên Xô. Một khi Bắc Kinh không còn áp dụng chính sách ngoại giao hai hàng thì Mỹ – Hoa dù không là đồng minh nhưng vẫn trở thành đối tác chiến lược vì cùng chung một đối thủ.

    Bài học thứ nhì là khi Đặng Tiểu Bình sang viếng Hoa Kỳ năm 1979 hai tuần trước khi xua quân vào biên giới Bắc Việt Nam, nhằm đánh hỏa mù khiến Mạc Tư Khoa đắn đo không biết nếu Nga tấn công trả đũa thì liệu Mỹ có sẽ nhảy vào can thiệp hay không. Kết quả là Liên Xô không dám phản ứng nên họ Đặng mới chế nhạo rằng sờ đuôi cọp mới biết cọp giấy!

    ***

    Bài viết này không nhằm đề cao các quyết định vốn đã khiến biết bao dân chúng hai miền Nam – Bắc trả giá bằng xương máu, nhưng để nhắc nhở giới tướng lãnh Việt Nam rằng quyền lợi đất nước cao hơn rất nhiều so với điều mà Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã gọi là “di sản quý báu hàng đầu mà Việt Nam và Trung Quốc có được chính là sự tương đồng ý thức hệ”.

    Điều này không có nghĩa là hai quốc gia Mỹ – Việt sẽ trở thành đồng minh, vì giống như Mỹ – Trung trước đây, giữa hai xã hội và thể chế chính trị còn quá nhiều dị biệt; dù vậy lãnh đạo đôi bên vẫn có thể tin tưởng lẫn nhau vì cùng chia sẻ ý chí và quan điểm chiến lược.

    ViệtNamkhông thể một mặt vận động quốc tế hỗ trợ chống bành trướng phương Bắc mà mặt khác thì tiếp tục tâng bốc 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. ViệtNamkhông thể tìm ra đối tác chiến lược để vừa giải toả áp lực quân sự trên Biển Đông nhưng đồng thời vẫn tỏ lòng mang ơn Giải phóng quân Trung Quốc! ViệtNamkhông thể tập trung sức mạnh của nhân dân khi cấm cản biểu tình thể hiện lòng yêu nước. Dân chúng trong nước còn hoang mang bức xúc với lập trường của giới cầm quyền thì làm sao nước ngoài có thể tin tưởng được?

    Nước Nga vốn là cái nôi của ý thức hệ cộng sản và đã đỡ đầu cho Hoa Lục trong cuộc cách mạng 1949 cùng chiến tranh Triều Tiên 1950. Nhưng Mao Trạch Đông – Đặng Tiểu Bình đã không sợ vứt bỏ mối quan hệ bất bình đẳng giữa hai đảng Cộng sản sẽ đưa Trung Quốc vào thế bị bỏ rơi, vì họ tiên liệu tranh chấp xảy ra thì chính Liên Xô mới bị quốc tế cô lập. Quyết định can đảm này đã cứu Đảng Cộng sản Trung Quốc tồn tại cho đến ngày nay; giới lãnh đạo Bắc Kinh có đủ tự tin và viễn kiến để trước hết bảo tồn, sau đó canh tân đất nước, nhờ thế mới duy trì được quyền lực mà không lệ thuộc ngoại bang.

    ***

    Trong hoàn cảnh bị đe dọa từ phương Bắc thì Việt Nam tuy đã mở rộng bang giao với quốc tế nhưng phải tìm ra đối tác chiến lược, nếu không sẽ giống như một người dù nhiều bạn nhưng không có bạn thân, đến khi hoạn nạn chẳng ai ra mặt giúp đỡ. Hiện thời cường quốc duy nhất có thể đối trọng với Trung Quốc là Hoa Kỳ, và dàn dựng như vậy thì mới hợp tác thêm được với Ấn – Úc – Phi – Nhật,…

    Muốn tạo sự tin tưởng Việt – Mỹ thì ViệtNamphải chứng tỏ độc lập với Bắc Kinh, mà rõ rệt nhất là cho tàu chiến Hoa Kỳ luân chuyển vào Cam Ranh đồng thời thả tù nhân lương tâm để dân chúng tự do thể hiện lòng yêu nước. Khi đó Mỹ có lý do để nâng tầm quan hệ chiến lược như bán vũ khí sát thương và hợp tác chặt chẽ hơn về quân sự.

    Trung Quốc dùng hạm đội tàu đánh cá và hải giám khiêu khích giăng bẫy cho Việt – Phi bắn phát đạn đầu tiên để có cớ trả đũa bằng quân sự; còn không phản ứng tức là chấp nhận hiện trạng (status-quo). Bắc Kinh đang chờ cơ hội để lập lại bài học của Georgia khi bị Nga tấn công năm 2008 mà các nước Tây phương không có phản ứng nào cụ thể. Chiến thuật của Phi là cho tàu chiến Hoa Kỳ ra vào hải phận trong phạm vi hiệp ước an ninh chung năm 1951. Hiện Phi còn quá yếu, nhưng có tàu Mỹ ra vào thì Bắc Kinh dù muốn leo thang cũng phải đắn đo về nguy cơ chiến tranh mở rộng. Như vậy Phi dùng kế sách của Đặng Tiểu Bình năm 1979 lấy Mỹ để hù dọa Nga trước khi xâm lấn Việt Nam.

    Phải có gan sờ đuôi cọp mới biết cọp giấy – ViệtNamtuy mạnh hơn Phi về quân sự nhưng đã chuẩn bị đầy đủ về ngoại giao và có được đối tác chiến lược hay chưa?

    Đ. H. Q.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: