BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

1510. “Sang năm tới Hoàng Sa”

Posted by adminbasam on 29/12/2012

Đồng Phụng Việt

“Sang năm tới Hoàng Sa”

29-12-2012

Mỗi ngày, mình vào trang web Ba Sàm một lần. Mỗi lần mình ở lại đó từ 30 đến 45 phút – khoảng thời gian chỉ đủ để lướt qua các sự kiện mà nhóm thực hiện trang web này lựa chọn – giới thiệu. Cũng vì vậy, gần như chẳng bao giờ mình xem bình luận của độc giả. Hôm qua, trò chuyện với một người bạn, kể như vậy, nghe xong, bạn bảo mình sai. Bạn bảo: Bình luận của độc giả là một phần giá trị của Ba Sàm, không thể không đọc. Bận bịu cỡ nào cũng ráng mà đọc, ở đó thế nào cũng có vài ý kiến đáng ngẫm.

Hôm nay, mình thử đọc bình luận của những người đọc Ba Sàm và có ngay một chuyện để nghĩ…

1.

Đa số độc giả tham gia đóng góp ý kiến cho các sự kiện được nhóm thực hiện Ba Sàm lựa chọn – giới thiệu, thường dùng nickname thay tên thật.

Vì là nickname nên nó “thiên hình, vạn trạng”. Trong số này có một bác, không rõ nam – nữ, già – trẻ, chọn nickname là “F 361”.

Bác “F 361” đóng góp ý kiến cho nhiều sự kiện và điểm đặc biệt, khiến mình chú ý tới bác là: Lúc nào, bên dưới các ý kiến mà bác đóng góp cũng có dòng “Sang năm tới Hoàng Sa”. Dòng chữ đó khiến mình gai người!

Ngoài chuyện gai người, trong đầu mình nảy ra một thắc mắc khác: “Sang năm tới Hoàng Sa” là ý tưởng của riêng bác “F 361” hay là của một nhóm người (?). Mình mượn google, lấy “Sang năm tới Hoàng Sa” làm từ khóa để kiểm tra thì phát giác thêm một chuyện thú vị khác: Hóa ra bác “F 361” còn là độc giả, tham gia đóng góp ý kiến trên nhiều trang web và diễn đàn khác. Độc đáo là chỗ nào, góp xong, bác cũng viết thêm dòng “Sang năm tới Hoàng Sa”…

Bây giờ thì mình giải thích vì sao “Sang năm tới Hoàng Sa” làm mình gai người…

2.

Cách nay đâu chừng ba mươi năm – lúc hàng triệu người Việt “ngậm đắng, nuốt cay”, tìm đủ mọi cách để trốn khỏi nơi “chôn nhau cắt rốn” của họ, một người bạn vong niên đưa cho mình hai cuốn sách và bảo: Mày nên đọc cả hai. Đọc thật kỹ!

Cả hai: “Exodus” – tiểu thuyết lịch sử của Leon Uris và “Bài học Israel” của cụ Nguyễn Hiến Lê, cùng viết về người Do Thái và chuyện tái lập quốc gia Israel của họ.

Với mình, “Exodus” của Leon Uris và “Bài học Israel” của cụ Nguyễn Hiến Lê đều là những cuốn sách đáng đọc. Nhờ chúng mà mình có thêm kiến thức về lịch sử dân tộc Do Thái, xứ Israel, hiểu hơn nguồn gốc, đặc điểm của cuộc xung đột Israel – Palestine nói riêng, mâu thuẫn giữa Israel với các quốc gia ở khu vực Trung Đông nói chung,… Mình tin ít ai đọc xong “Exodus” và “Bài học Israel” mà không cảm thấy thán phục tinh thần dân tộc của người Do Thái.

Người Do Thái có tôn giáo riêng, được gọi là Do Thái giáo, vẫn được xem là gốc của một số tôn giáo, trong đó có cả Thiên Chúa giáo lẫn Hồi giáo sau này. Do Thái giáo tạo nơi người Do Thái niềm tin, rằng họ là dân tộc được Thượng đế chọn làm dân riêng của Ngài và xứ sở của họ là nơi mà Thượng đế ban cho riêng họ. Khoảng năm 60 trước Công nguyên, Do Thái bị đế quốc La Mã xâm chiếm. Dân Do Thái nổi dậy chống lại vài lần nhưng không thành công. Đó cũng là lý do để năm 70, đế quốc La Mã xóa tên Israel trên bản đồ thế giới. Jerusalem – thủ đô của người Do Thái bị san thành bình địa. Người Do Thái lưu lạc khắp nơi và trở thành một dân tộc không có tổ quốc.

Trong gần 2000 năm (từ năm 70 đến năm 1948), người Do Thái bị khinh miệt, ngược đãi không sao kể xiết. Họ bị xem là một loại động vật hạ đẳng, bị hắt hủi, săn đuổi. Thảm sát là một thảm kịch mà người Do Thái liên tục phải gánh chịu từ thế kỷ này, sang thế kỷ khác, ở khắp mọi nơi trên thế giới, bất kể Á hay Âu. Sáu triệu người Do Thái bị gom lại, rồi bị giết trong các trại tập trung của Đức Quốc xã hồi Chiến tranh Thế giới lần thứ hai chỉ là một phần trong chuỗi thảm kịch kéo dài khoảng 20 thế kỷ của dân tộc này.

Đáng nể là tuy không còn quê hương, không rõ ngày về nhưng từ đời ông, đến đời cha, qua đời con, sang đời cháu, chắt, chút, chit,.. cho dù lưu lạc ở đâu và bất kể trong hoàn cảnh nào, trước mỗi bữa ăn, người Do Thái đều cầu xin Thượng đế dẫn họ về đất hứa, trước khi từ biệt nhau, họ luôn luôn chào nhau: “Sang năm về Jerusalem”!

Mình không biết Do Thái có đúng là dân tộc được Thượng đế chọn và lãnh thổ của Israel có phải là xử sở mà Thượng đế ban cho riêng họ hay không nhưng minh tin chắc, niềm tin, sự tự hào về việc được Thượng đế chọn, trong mỗi người Do Thái đã nâng đỡ họ vượt qua đủ thứ khó khăn, nghịch cảnh và vươn tới thành công. Lịch sử nhân loại ghi nhận nhiều thiên tài và thời nào, lĩnh vực nào cũng có những thiên tài gốc Do Thái góp mặt. Theo thống kê, khoảng ¼ số nhà khoa học được trao tặng giải Nobel có gốc Do Thái! Do Thái cũng là dân tộc có rất nhiều tỷ phú mang đủ thứ quốc tịch khác nhau. Nói cách khác, dân tộc này nổi tiếng cả vì sự thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh, tài chánh.

Trong “Bài học Israel”, cụ Nguyễn Hiến Lê đã tập hợp, trưng dẫn nhiều bằng chứng cho thấy, thời nào, người Do Thái cũng tìm cách để tái lập quốc gia Israel nhưng không thành công. Luôn luôn thất bại nhưng họ không nản. Từ đời ông, đến đời cha, qua đời con, sang đời cháu, chắt, chút, chit,.. trước mỗi bữa ăn, người Do Thái vẫn tiếp tục xin Thượng đế giúp họ trở về quê hương. Trước khi từ biệt nhau, vẫn chào: “Sang năm về Jerusalem”!..

Mãi tới khoảng cuối thế kỷ 19, những nỗ lực vận động tái lập Israel của người Do Thái mới bắt đầu đạt được vài kết quả.

Lịch sử ghi nhận đó là công lao của Theodore Herzl – một nhà báo gốc Do Thái, sinh ra ở Hungary, lớn lên và sống ở Áo. Herzl – vốn xuất thân từ trường Luật – viết, cho xuất bản cuốn “Quốc gia Do Thái”, khẳng định với đồng bào của ông rằng, nếu họ muốn có một quốc gia thì họ sẽ có, vì họ xứng đáng với điều đó. Rồi Herzl vẽ cờ, thiết kế quốc huy, phác thảo kế hoạch thành lập “Quốc gia Do Thái”.

Ý tưởng, kế hoạch của Herzl được người Do Thái ở khắp nơi ủng hộ. Họ góp tiền, mua lại đất đai ở Palestine – nơi vốn là lãnh thổ của Israel từ 2000 năm trước. Có những người bỏ hết mọi thứ mà họ đang có, tình nguyện trở về Palestine, gầy dựng các trang trại để những người Do Thái khác quay về cố quốc sinh sống…

Số phận, khát vọng, nỗ lực của người Do Thái khiến nhiều người khác cảm động, muốn giúp đỡ. Chính quyền Anh ngỏ ý tặng vài chỗ ở châu Phi, châu Mỹ, châu Á – lúc đó đang là thuộc địa của Anh – để người Do Thái có chỗ thành lập “Quốc gia Do Thái” nhưng người Do Thái từ chối vì đó không phải là đất tổ – dẫu cho đất tổ chỉ toàn… đá và cát.

Cuộc vận động ấy diễn ra khoảng chừng mười năm thì Herzl chết do kiệt sức, song kế hoạch thành lập “Quốc gia Do Thái” vẫn được thực thi, tuần tự từng bước theo đúng tiến trình mà Herzl đề nghị.

Nỗ lực thành lập “Quốc gia Do Thái” tiến thêm một bước khi Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Ông Chaim Weizmann – một nhà khoa học kế nhiệm Herzl, kêu gọi người Do Thái tham chiến, hỗ trợ Anh và đồng minh. Ông Weizmann còn đem phát minh chế tạo acetone (một loại dung môi quan trọng trong công nghiệp, bao gồm công nghiệp quốc phòng) tặng người Anh. Cảm kích trước sự giúp đỡ này, chính phủ Anh tặng Weizmann một tấm séc, bỏ trống chỗ ghi giá trị khoản tiền được tặng, họ muốn chính Weizmann tự quyết định giá trị tấm séc nhưng ông ta từ chối. Weizmann chỉ xin “một điều gì đó có lợi cho dân tộc của tôi”.

Được sự ủy nhiệm của chính quyền Anh, Ngoại trưởng Anh thời đó, gửi cho Weizmann một lá thư, chính thức xác nhận: Anh ủng hộ người Do Thái thành lập một quốc gia ở Palestine. Các đồng minh của Anh tất nhiên là tán thành. Vậy là nỗ lực tái lập “Quốc gia Do Thái” của người Do Thái tìm được sự ủng hộ có giá trị pháp lý trên bình diện quốc tế. Họ tiếp tục hồi hương, tiếp tục bỏ tiền mua lại đất đai trên lãnh thổ cũ của cha ông họ, tiếp tục đổ tiền, đổ mồ hôi để biến hoang mạc thành đất hứa.

Thế rồi sự thành công của người Do Thái ở Palestine khiến các sắc dân khác sống quanh họ lo âu và ganh tị. Để xoa dịu sự bất bình của người Ả Rập, giữ sự chi phối các giếng dầu tại Trung Đông, người Anh thay đổi chính sách đối với người Do Thái tại Palestine: Cấm nhập cư vào Palestine, chỉ cho người Do Thái mua đất ở một số khu vực đã xác định và không cho phép sở hữu quá 5% diện tích tại những khu vực đó.

Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ, bị Đức Quốc xã săn lùng – giết hại khắp châu Âu, người Do Thái tiếp tục đổ về Palestine nhưng vì chính sách của Anh, những con tàu chở họ bị chặn lại khi đã tới sát đất hứa. Tàu cũ, neo đậu, loanh quanh vài ngày trên biển thì chìm, hàng ngàn, hang ngàn người Do Thái chết đuối.

Bất kể sự tráo trở của Anh, người Do Thái vẫn tình nguyện gia nhập quân đội Anh và quân đội đồng minh, vừa để chống Đức Quốc xã, trả thù cho những đồng bào bị Đức Quốc xã sát hại, vừa để học kinh nghiệm tổ chức quân đợi, kỹ năng chiến đấu – thứ mà “Quốc gia Do Thái” sẽ rất cần trong tương lai. Cũng vì vậy, trong quân đội đồng minh, có cả nữ quân nhân gốc Do Thái. Đánh đấm không thua gì nam giới.

Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, thảm kịch của người Do Thái, kể cả sự hy sinh, đóng góp của họ cho chiến thắng chung, không làm chính phủ Anh thay đổi thái độ, chính sách của họ đối với người Do Thái ở Palestine. Vì người Anh cần sự “ổn định chính trị” ở bán đảo Ả Rập để giữ… các giếng dầu nên người Do Thái vẫn bị cấm nhập cư, bị bắt, giam trong nhiều trại giam khác nhau, khi họ tìm cách trở về Palestine. Vậy mà họ không nản.

Năm 1946, người Do Thái qua mặt lính Anh, đưa khoảng 300 đứa trẻ đang bị giam trong một trại giam những người Do Thái muốn vượt biên vào Palestine, đặt ở đảo Chypre, lên một con tàu mang tên Exodus để tiếp tục trốn về Palestine. Vụ việc vỡ lỡ, lính Anh không dám lên tàu, xua trẻ con xuống, vì tàu vừa chất đầy thuốc nổ, vừa có 300 đứa trẻ. Ho vây con tàu, không cho nó nhổ neo. Hăm dọa chán, chính quyền Anh chuyển qua thương lượng nhưng Ben Cananan – người chỉ huy con tàu trả lời thẳng tuột, đại ý: Hãy để chúng tôi đi. Hoặc là những đứa trẻ sẽ được sống trên đất hứa, hoặc là chúng sẽ chết như cha ông chúng từng chết khắp nơi vì bị ngược đãi!

Vụ cầm giữ tàu Exodus kéo dài khoảng nửa tháng thì 300 đứa trẻ bắt đầu tuyệt thực. Vụ tuyệt thực kéo dài đến ngày thứ tư, khi những đứa trẻ sắp sửa chết vì đói và khát thì chính phủ Anh tuyên bố nhượng bộ. Họ chịu không nổi sự phẫn nộ của dân chúng Anh và dân chúng – chính quyền nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay cả những người lính Anh được giao nhiệm vụ vây, giữ tàu Exodus cũng vứt súng, xin ra Tòa án Quân sự, thà bất tuân thượng lệnh chứ không thể nhìn cảnh hàng trăm đứa trẻ thà chết chứ không lên bờ, trở lại với cuộc sống không có tổ quốc như ông cha chúng.

Viết tới đây, mình nhớ tới phim “Exodus” mà mình cũng đã từng được xem. Phim được dựng từ tiểu thuyết cùng tên của Leon Uris. Mình tin không ai có thể quên được cảnh những bà mẹ trên tàu “Exodus”, xin Ben Cananan cho con họ – những đứa trẻ đang ẵm ngửa – cùng được tuyệt thực với những đứa lớn hơn vì… chúng cũng là người Do Thái. Vì họ không muốn con họ khi lớn lên phải chào người khác bằng câu: “Sang năm về Jerusalem” nữa! Cũng phải nói thêm là sở dĩ Leon Uris – một nhà báo Mỹ – quyết định viết “Exodus” là vì ông ta từng có mặt ở đảo Chypre để tường thuật sự kiện tàu “Exodus”. Chính sự kiện tàu “Exodus” thúc đẩy ông ta tìm hiểu lịch sử Do Thái, cũng như số phận, tinh thần của dân tộc này.

Trở lại với vụ tái lập “Quốc gia Do Thái”, sau sự kiện tàu Exodus, chính sách của Anh đối với người Do Thái càng lúc càng khắc nghiệt hơn. Để tồn tại, người Do Thái ở Palestin vừa chống quân Anh, vừa dựa trên sự thừa nhận trước đó của Anh và đồng minh để khiếu nại. Khoảng giữa năm 1947, Liên Hiệp Quốc nhóm họp, xem xét và quyết định chia đôi Palestine, một phần Palestine thuộc về dân Do Thái. Tới lúc này, ngoài quân Anh, khối Ả Rập, bao gồm bảy quốc gia (Ai Cập, Syria, Liban, Iraq, Jordan, Saudi Arabia, Palestine), cũng bắt đầu liên kết để đuổi người Do Thái ra khỏi Palestin. Ai cũng nghĩ bốn, năm chục triệu người sẽ nuốt chửng khoảng năm, sáu trăm ngàn người. Vậy mà khối Ả Rập nuốt không nổi. Để tránh bị phê phán việc để người của khối Ả Rập tàn sát người Do Thái, Anh tuyên bố rút khỏi Palestine. Hôm 14 tháng 5 năm 1948, ngay vào thời điểm tuyên bố rút khỏi Palestine của Anh có hiệu lực, ông Ben Gurion – thay mặt những người Do Thái ở Palestine, tuyên bố thành lập “Quốc gia Do Thái”. Ông bảo: Kể từ hôm nay “Quốc gia Do Thái” ở Palestine sẽ lấy tên là Israel! Diễn văn lập quốc rất ngắn, chỉ có vài dòng. Chủ yếu thông báo với người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới rằng, họ đã có quốc gia, đã có nơi gọi là quê hương, hãy ráng hết sức để ước mơ hàng ngàn năm của họ – tái lập Israel – không bị xóa thêm lần nữa.

Tuy ngay sau đó, Mỹ, Liên Xô và nhiều quốc gia khác cùng lên tiếng công nhận Israel là một quốc gia nhưng ít ai tin Israel sẽ tồn tại. Khối Ả Rập dồn sức đánh Israel từ ba phía, dự định dồn người Do Thái xuống biển (phía còn lại) nhưng không nuốt nổi Israel. Từ đó đến nay, Israel bị “đánh hội đồng” thêm vài lần nữa nhưng nó vẫn trơ ra như thế giữa khối Ả Rập…

3.

Mình tin bác “F 361” cũng đã đọc hoặc “Exodus” của Leon Uris, hoặc “Bài học Israel” của cụ Nguyễn Hiến Lê, hoặc đã đọc cả hai cuốn sách ấy như mình. Tuy nhiên bác “F 361” hơn hẳn mình ở chỗ, nhìn ra giá trị của: “Sang năm về Jerusalem”, rồi ứng dụng vào hiện tình Việt Nam, biến nó thành: “Sang năm tới Hoàng Sa”.

Trong “Bài học Israel”, cụ Nguyễn Hiến Lê có viết, đại ý, theo cụ, thanh niên, trí thức Việt Nam nên học người Do Thái. Lúc đọc “Bài học Israel” mình còn rất trẻ, chỉ nhớ thế thôi chứ chẳng thấm được bao nhiêu. Bây giờ, ý tưởng “Sang năm tới Hoàng Sa” của bác “F 361” làm mình tỉnh ngộ.

Có thể ý tưởng “Sang năm tới Hoàng Sa” của bác “F 361” làm nhiều người mắc cười, giống như thiên hạ đã từng cười người Do Thái khi nghe họ hẹn nhau: “Sang năm về Jerusalem”, lúc Jerusalem thuộc về kẻ khác. Cũng có thể đây chính là lý do khiến cụ Nguyễn Hiến Lê – một học giả đáng kính – bỏ thời gian nghiên cứu lịch sử dân Do Thái và chuyện tái lập quốc gia Israel của họ, rồi lấy “Bài học Israel” làm tên cho công trình biên khảo của cụ.

Cám ơn bác “F 361”.

“Sang năm tới Hoàng Sa”

Nguồn: Đồng Phụng Việt

Mời xem thêm các bài cùng tác giả: + 1490. Hoàng Sa ư? Đừng mơ! ; + 1497. Hóa ra các bác bịp dân!; + 1502. Lời thề thứ 11 không còn. Từ nay, đừng nêu thắc mắc, đòi trả lời nữa, bác Lập nhé!

131 phản hồi to “1510. “Sang năm tới Hoàng Sa””

  1. Le Hung Van said

    Le Hung Van đã nói
    31/12/2012 lúc 18:20

    Hoàng đế Quang Trung hạ dụ:

    “Đánh cho để dài tóc

    Đánh cho để đen răng

    Đánh cho nó chích luân bất phản

    Đánh cho nó phiến giáo bất hoàn

    Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
    Trả lời
    Le Hung Van đã nói
    31/12/2012 lúc 18:12

    LỜI DI CHÚC CỦA TIỀN NHÂN:

    VUA TRẦN NHÂN TÔNG

    (1258-1309)

    Các Người chớ quên !

    Nghe lời Ta dạy

    Chính nước lớn

    Làm những điều bậy bạ

    TRÁI ĐẠO LÀM NGƯỜI

    Bất nghĩa bất nhân

    Ỷ nước lớn

    Tự cho mình cái quyền ăn nói !

    Nói một đường làm một nẻo ! Vô luân !

    Chớ xem thường chuyện nhỏ ngoài biên ải.

    Chuyện vụn vặt thành lớn chuyện: NGOẠI XÂM !

    Họa Trung Hoa !

    Tự lâu đời truyền kiếp !

    Kiếm cớ này bày chuyện nọ ! TÀ MA !

    Không tôn trọng biên cương theo quy ước

    Tranh chấp hoài ! Không thôn tính được ta

    Chúng gậm nhấm Sơn Hà và Hải Đảo

    Chớ xem thường chuyện vụn vặt Chí Nguy !

    Gặm nhấm dần

    Giang Sơn ta nhỏ lại

    Tổ ĐẠI BÀNG thành cái tổ chim di

    Các việc trên khiến Ta đây nghĩ tới

    Canh cánh bên lòng “ ĐẠI SỰ QUỐC GIA “!

    Chúng kiếm cớ xua quân qua ĐẠI VIỆT

    Biến nước ta thành quận huyện Trung Hoa !

    VẬY NÊN

    CÁC NGƯỜI PHẢI NHỚ LỜI TA DẶN

    KHÔNG ĐỂ MẤT

    MỘT TẤC ĐẤT CỦA TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI

    HÃY ĐỀ PHÒNG

    QUÂN ĐẠI HÁN TRUNG HOA !

    LỜI NHẮN NHỦ

    CŨNG LÀ LỜI DI CHÚC

    CHO MUÔN ĐỜI CON CHÁU NƯỚC NAM TA.

  2. Le Hung Van said

    Bà Triệu nói:Năm 19 tuổi, đáp lời người

    Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh,
    đạp luồng sóng dữ,
    chém cá kình ở biển Đông,
    đánh đuổi quân Ngô,
    giành lại giang sơn,
    cởi ách nô lệ,
    chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người!

  3. Le Hung Van said

    Hoàng đế Quang Trung hạ dụ:

    “Đánh cho để dài tóc

    Đánh cho để đen răng

    Đánh cho nó chích luân bất phản

    Đánh cho nó phiến giáo bất hoàn

    Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

  4. Le Hung Van said

    LỜI DI CHÚC CỦA TIỀN NHÂN:

    VUA TRẦN NHÂN TÔNG

    (1258-1309)

    Các Người chớ quên !

    Nghe lời Ta dạy

    Chính nước lớn

    Làm những điều bậy bạ

    TRÁI ĐẠO LÀM NGƯỜI

    Bất nghĩa bất nhân

    Ỷ nước lớn

    Tự cho mình cái quyền ăn nói !

    Nói một đường làm một nẻo ! Vô luân !

    Chớ xem thường chuyện nhỏ ngoài biên ải.

    Chuyện vụn vặt thành lớn chuyện: NGOẠI XÂM !

    Họa Trung Hoa !

    Tự lâu đời truyền kiếp !

    Kiếm cớ này bày chuyện nọ ! TÀ MA !

    Không tôn trọng biên cương theo quy ước

    Tranh chấp hoài ! Không thôn tính được ta

    Chúng gậm nhấm Sơn Hà và Hải Đảo

    Chớ xem thường chuyện vụn vặt Chí Nguy !

    Gặm nhấm dần

    Giang Sơn ta nhỏ lại

    Tổ ĐẠI BÀNG thành cái tổ chim di

    Các việc trên khiến Ta đây nghĩ tới

    Canh cánh bên lòng “ ĐẠI SỰ QUỐC GIA “!

    Chúng kiếm cớ xua quân qua ĐẠI VIỆT

    Biến nước ta thành quận huyện Trung Hoa !

    VẬY NÊN

    CÁC NGƯỜI PHẢI NHỚ LỜI TA DẶN

    KHÔNG ĐỂ MẤT

    MỘT TẤC ĐẤT CỦA TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI

    HÃY ĐỀ PHÒNG

    QUÂN ĐẠI HÁN TRUNG HOA !

    LỜI NHẮN NHỦ

    CŨNG LÀ LỜI DI CHÚC

    CHO MUÔN ĐỜI CON CHÁU NƯỚC NAM TA.

  5. Le Hung Van said

    Hịch Tướng Sĩ

    (Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn)

    Ta thường nghe: Kỷ Tín (1) đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Ðế; Do Vu (2) chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương. Dự Nhượng (3) nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái (4) chặt tay cứu nạn cho nước. Kinh Ðức (5) một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh (6) một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc. Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách cùng trời đất muôn đời bất hủ được?

    Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ. Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn. Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói: Vương Công Kiên (7) là người thế nào? Nguyễn Văn Lập tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà đem thành Ðiếu Ngư (8) lớn tày cái đấu đương đầu với quân Mông Kha (9) đường đường trăm vạn, khiến cho sinh linh nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu! Cốt – đãi – ngột – lang (10) là người thế nào? Xích – tu – tư (11) tỳ tướng của ông lại là người thế nào? Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm, đánh quỵ quân Nam Chiếu (12) trong khoảng vài tuần, khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!

    Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ. ỷ mệnh Hốt Tất Liệt (13) mà đòi ngọc lụa, để phụng sự lòng tham không cùng; khoác hiệu Vân Nam vương (14) mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn. Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa (15), cũng nguyện xin làm.

    Các ngươi ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền, không có mặc thì ta cho áo; không có ăn thì ta cho cơm. Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Ði thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa. Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết; được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười. So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá nào có kém gì?

    Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo; thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức; nghe nhạc thái thường (16) đãi yến sứ ngụy mà không biết căm. Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích. Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình; có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ. Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước; có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân. Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm. Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai. Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta cùng bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp (17) của ta không còn mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào; chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích, phỏng có được chăng?

    Nay ta bảo thật các ngươi: nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” (18) làm nguy; nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” (19) làm sợ. Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho ai nấy đều giỏi như Bàng Mông (20), mọi người đều tài như Hậu Nghệ (21), có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam vương ở Cảo Nhai (22). Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền (23) mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng; chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy; chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu mà tổ tiên các ngươi cũng bốn mùa thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm; chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một, mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi, phỏng có được không?

    Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một quyển, gọi là Binh thư yếu lược. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

    Vì sao vậy? Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung, mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc. Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc (24), để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa?

    Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.

    Huệ Chi
    (Dịch lại trên cơ sở các bản dịch cũ) (25)

  6. Le Hung Van said

    Nam quốc sơn hà

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
    Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

  7. Le Hung Van said

    Bình Ngô đại cáo

    Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

    Từng nghe:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Song hào kiệt thời nào cũng có.

    Cho nên:

    Lưu Cung tham công nên thất bại;
    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
    Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
    Việc xưa xem xét,
    Chứng cứ còn ghi.

    Vừa rồi:

    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
    Để trong nước lòng dân oán hận
    Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ
    Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
    Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
    Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
    Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
    Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
    Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
    Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
    Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
    Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
    Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
    Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
    Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
    Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
    Nặng nề những nổi phu phen
    Tan tác cả nghề canh cửi.
    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
    Lẽ nào trời đất dung tha?
    Ai bảo thần dân chịu được?

    Ta đây:

    Núi Lam sơn dấy nghĩa
    Chốn hoang dã nương mình
    Ngẫm thù lớn há đội trời chung
    Căm giặc nước thề không cùng sống
    Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
    Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
    Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
    Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
    Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
    Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
    Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
    Chính lúc quân thù đang mạnh.

    Lại ngặt vì:

    Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
    Nhân tài như lá mùa thu,
    Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
    Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
    Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
    Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

    Thế mà:

    Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
    Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
    Phần vì giận quân thù ngang dọc,
    Phần vì lo vận nước khó khăn,
    Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
    Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
    Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
    Ta gắng trí khắc phục gian nan.
    Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
    Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
    Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
    Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

    Trọn hay:

    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
    Lấy chí nhân để thay cường bạo.
    Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
    Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
    Sĩ khí đã hăng
    Quân thanh càng mạnh.
    Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
    Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
    Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
    Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
    Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
    Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
    Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu
    Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.
    Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
    Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
    Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,
    Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
    Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ
    Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.
    Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
    Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

    Bởi thế:
    Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
    Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
    Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
    Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
    Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
    Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
    Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
    Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
    Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
    Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
    Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
    Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
    Lại thêm quân bốn mặt vây thành
    Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
    Sĩ tốt kén người hùng hổ
    Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
    Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
    Voi uống nước, nước sông phải cạn.
    Đánh một trận, sạch không kình ngạc
    Đánh hai trận tan tác chim muông.
    Cơn gió to trút sạch lá khô,
    Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
    Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
    Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
    Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
    Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
    Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
    Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

    Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
    Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
    Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
    Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
    Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
    Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
    Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
    Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
    Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
    Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
    Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
    Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
    Chẳng những mưu kế kì diệu
    Cũng là chưa thấy xưa nay
    Xã tắc từ đây vững bền
    Giang sơn từ đây đổi mới
    Càn khôn bĩ rồi lại thái
    Nhật nguyệt hối rồi lại minh
    Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
    Muôn thuở nền thái bình vững chắc
    Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

    Than ôi!

    Một cỗ nhung y chiến thắng,
    Nên công oanh liệt ngàn năm
    Bốn phương biển cả thanh bình,
    Ban chiếu duy tân khắp chốn.

    Xa gần bá cáo,
    Ai nấy đều hay.

  8. Le Hung Van said

    Hoàng Sa Trường Sa

    Dòng máu Lạc Hồng trên đất Việt Nam.
    Nòi Giống Tiên Rồng tỏa rạng khắp 5 châu.
    Tình nghĩa anh em nam trung bắc đậm màu.

    Sắc vàng máu đỏ nghìn đời không phai,
    lời hứa mặn nồng trên những vành môi.
    Bài hát ấm nồng lòng thổn thức ta đi.
    Cùng gánh non sông Hoàng Trường Sa giương kỳ,
    chân trời góc biển,nguyện thề sắc son.

    Thanh niên sinh viên dâng tràn sức sống xua tan quân thù.
    Bao nhiêu quân nhân vững chèo giữ súng tiến về đảo xanh.
    Hiên ngang xông pha lao mình giông bão trong đêm quân hành.
    Thiên thu muôn năm ghi vào sử xanh,quyết đem đảo về.

    Hoàng Sa….Trường Sa…

    Dòng máu Ông Cha đã bao đời tuôn trào.
    Ngày mai (ngày nay),biển xanh (biển sâu) con cháu ông cha cùng can trường hi sinh.
    Thù xưa(thù xưa) thù nay(thù nay),
    quyết ra tay cùng giữ vùng ven biển.
    Rừng xanh (rừng xanh),biển khơi (biển khơi) tóc mây xanh ta muôn trùng bay cao.

    Từng mái tranh nghèo tan nát vì đâu.
    Rừng núi trập trùng khô héo tàn suy,
    biển cả mênh mông giặc thù xưa xâm lược.
    Hoàng Trường côn đảo đành tạm thời cách xa.

    Truyền thống oai hùng Dòng Giống Rồng Tiên.
    Cuộc sống trập trùng man mát đời trai.
    Cùng nắm tay nhau máu xương ta xá gì.
    Quê hương ôm ấp quyết tâm ta đáp đền.

  9. Đại_úy said

    Hãy nghe giai điệu của Exodus :

  10. Nothing said


    500 Năm Chưa quên Cội Nguồn !
    Một bộ phận dân tộc Việt di cư đến Tỉnh Quảng Tây TQ nhưng vẫn nhớ về cội nguồn !
    Vùng Tự Trị Quảng Đông & Quảng Tây thuộc bộ tộc Bách Việt cũ vẫn ước mơ như người Do Thái trở về với quê huơng !
    Chúng ta hỗ trợ họ tách rời khỏi TQ để thành lập một quốc gia riêng làm trái độn giữa VN và TQ để con cháu ta được an toàn !

  11. Lê Mêng said

    Tôi được một bạn cũ giới thiệu nên đọc trang anhbasam cách đây quảng một năm . Vì học được vượt tường lửa nên tôi mải mê đọc các trang boxit, danchim viet, dlb….Đến khi xẩy vụ bắt cóc Nguyễn phương Uyên , nóng lòng biết diễn biến , tình cờ hôm đó các trang quen thuộc trên không vào được, tôi nhớ lời dặn tìm đến trang anhbasam, tôi thấy hấp dẫn . nay trang này nằm thứ 3 trong khi vào mạng của tôi. Đó la thứ tự xem lần lượt ,nhưng nó lại là trang số một để tôi được phản hồi, bày tỏ tình cảm, suy nghĩ …của mình trên mạng. Tôi cảm ơn anhbasam đã cho phép mọi người phản hồi dù nghĩ đúng hay sai ,ủng hộ hay phản bác…phải được cọ xát tranh luận… Công khai là con đường dẫn đến dân chủ.
    Tôi xin gữi lời cảm ơn tới bác F361 ,sự khâm phục sâu sắc trước ý tưởng thông minh của bác. Cảm ơn bác Đồng phụng Việt vì đây là bài viết hay nhất đối với tôi trong nửa năm nay mà tôi đọc được.
    Tôi đề nghị bác F361 và bác Đồng Phụng Việt và anhbasam cho thành lập hội ” sang năm tới Hoàng sa” và cho tôi ghi tên với.

  12. Thanh Tâm said

    Mình cho rằng Nguoi HN nói rất thực tế và chính xác. Trước khi nói đến chuyện sang năm tới Hoàng Sa hay về SG, HN mong các bác có trí lược hãy làm sao dấy lên 1 sự thức tỉnh đi tìm sự thật về lịch sử Việt Nam từ thời vua Bảo Đại cho đến nay; các sự kiện người Nhật trao trả 1 phần độc lập cho VN cho đến chuyện cướp chính quyền, chuyện đội OSS giúp đỡ Việt Minh, rồi vì sao Mỹ can thiệp vào VN, các hiệp định Geneva, Paris tại sao VN lại có chiến tranh lâu nhất Đông Nam Á v.v.. Nếu thanh niên và nhân dân Vn hiểu rõ hơn về lịch sử cận đại VN hi vọng họ sẽ thiết tha “sang năm tới Hoàng Sa” chăng?

    • Cong Dong Hai Ngoai said

      Không cần thiết phải rườm rà như vậy vì anh cứ tham khảo các tài liệu trên Net qua Google.com là tim ra sự thật !
      Trước mắt chúng ta biết là Hoàng sa & Trường Sa thuôc VN từ thế kỷ xa xưa và gần nhất là từ Thế Kỷ 17 đến nay ta đã xác định chủ quyền , dưới thời Pháp Thuộc 2 quần đảo này do Pháp quản lý ! Không cần bàn cãi về chủ quyền nữa ! TQ biết là yếu thế và đuối lý nên không bao giờ chịu đưa ra Toà Án Quốc Tế La Haye để phân xử !
      Chỉ cần mỗi người VN chúng ta làm theo tinh thần của dân tộc Do Thái là khi gặp nhau , trước khi chia tay , chúc ta chúc nhau : Sang Năm về Hoàng Sa !
      Ngoài ra , mỗi người Do Thái đều có một cuốn Thánh Kinh Cựu Ước để đọc hằng ngày và họ cũng bắt con cái họ đọc trước khi đi ngủ nữa để nhớ lịch sử và tổ tiên của họ !
      Chúng ta cũng nên mua mỗi gia đình một cuốn Việt Nam Sử Lược của Học Giả Trần Trọng Kim để đọc và khuyến khích con cháu ta đọc để nuôi dưỡng tinh thần yêu nước !
      Có một Bộ Tộc Do Thái lưu lạc 2,000 năm và sống tại chân núi Hi Mã lạp Sơn , giữa biên giới Miến Điện và Ấn Độ vừa lên đường trở về quê huơng Do Thái !!!
      Suốt 2000 năm họ đều cầu nguyện với Thánh Kinh Cựu Ước và dạy con cháu là quê huơng mình là Israel Do Thái ! Nhờ vậy mà cháu con không quên cội nguồn , lúc nào cũng huớng về Tổ Quốc xinh đẹp ( thực sự thì toàn là sa mạc ) !
      Bây giờ Đảng CSVN cấm biểu tình và bắt bớ khốc liệt ! Chúng ta dùng cách của người Do Thái là mỗi khi chia tay nhau đều nói câu : Sang năm về Hoàng Sa !
      Khi bị cảnh sát giao thông phạt , chúng ta chào xong và nói ” Sang Năm hẹn anh ở Hoàng sa nhé !”
      Khi làm xong bài tập , nộp cho thầy cô giáo , phía dưới cũng ghi chữ : ” Sang Năm về Hoàng sa ”
      Nghĩa là bất cứ lúc nào cũng nói câu này để khẳng định chủ quyền của mình ! Mình cũng dạy cho người nước ngoài , Tây Ba Lô… khi gặp người VN nên chào : ” Sang năm về Hoàng sa ” ( See you next year in Paracel Island ) ! Nói với họ đây là câu xã giao rất được ;lòng dân VN , anh đừng quên câu này !
      Người Do Thái có cái hay nữa là bỏ tiền ra in tràn lan cuốn Thánh kinh Cựu Ước và phát Free cho thế giới để truyền bá lịch sử và tôn giáo của họ ! Sắp tới , nếu chúng ta có tài chính và phương tiện , chúng ta sẽ dịch cuốn VNSL của Trần Trọng Kim ra tiếng Anh , Pháp , Tây Ban Nha , Nga , Nhật….để làm y hệt như người Do Thái trong công cuộc giữ nước !
      Thời điểm năm 2013 là thời điểm nguy hiểm nhất cho VN trong lịch sử 5,000 năm ! TQ sẽ đánh VN trước năm 2016 cho dù mình có hay không có khiêu khích họ vì vòng vây chiến lược của Hoa Kỳ đã bao vây TQ rồi nên phải đánh chiếm VN không thì chết ! Đó là sinh tử của TQ không phải là chuyện nói tầm phào !
      See You Next Year In Paracel Islands
      Sang Nam ve Hoang Sa

  13. Tran said

    Chào Bác F361! Thử bói : nếu Bác là sư 361 thì em F369 đây . Phục sáng kiến giữ tinh thần của Bác , nhưng dân Do Thái nó mất hẳn nước còn VN thì Hoàng Sa mới tinh đây thôi, tinh thần chống ngọai xâm mình có thừa, sao không dùng? Lại thích nhập ngoại nó lòng vòng…

  14. VN said

    Sang năm tới Hà Nội mới đúng. Vì Việt Nam bây giờ cai trị bởi bọn thái thú tàu bản địa chính là cái đảng cộng sản việt nam bán nước cho tàu.

  15. The Luc Thu Dich said


    2,000 năm luân lạc , cuối cùng một bộ lạc Do Thái đã tìm đường về lại quê huơng !
    Sang Năm Về Jerusalem : một câu chúc không tưởng nhưng đã thành hiện thực khi những người của bộ lạc này đã bắt đầu hứa hẹn chắc nịch : NĂM NAY TẠI JERUSALEM !

    • Le Hung Van said

      Jerusalem mà nằm trong mảnh đất tàu cộng thì làm gì có chuyện hơn 2000 năm Dân Do Thái mới có ngày trở về rồi xây dựng nước Israel.

      • 3 Giong Thac said

        Có thể như bạn nói đúng ! Nhưng không nên bi quan quá ! Cứ nhìn dân tộc Tây tạng , Duy Ngô Nhỉ , Mông Cổ thì thấy là họ đang học tinh thần Do Thái về lập quốc !
        Nếu có VN giúp đỡ , huấn luyện chiến tranh du kích , tình báo…. rồi Hoa Kỳ , Nhật ( đang giúp ) , Ấn , Nga , Nato…. giúp thêm thì TQ sẽ tan nát vì các khu Tự Trị này nổi dậy !
        Ngay 2 Tỉnh Lưỡng Quảng gần VN cũng đang nổi dậy và muốn tácg rời khỏi TQ !
        Việc chia cắt TQ thành nhiều nước nhỏ phù hợp với lợi ích chung của thế giới và 3 Giòng Thác Cách mạng ( cách mạng dân chủ nhân quyền , cách mạng của giai cấp Công Nhân , Nông dân tại TQ , VN , Bắc Hàn , Cuba đòi lại ruộng đất và quyền làm chủ tập thể , cách mạng Tin Học đòi quyền ăn nói và phát biểu tư tưởng , biểu tình tại các nước độc tài , đảng trị )
        Khối Cách mạng Dân Chủ Nhân Dân hiện nay do Hoa Kỳ lãnh đạo với sự hợp tác của Khối Tây Âu , Nga , Nhật , Ấn , Úc , ASEAN đang cùng nhau đoàn kết chống lại bọn phản cách mạng TQ , VN , Bắc Hàn và Cuba !

  16. […] 1510. “Sang năm tới Hoàng Sa” […]

  17. người HN said

    Người VN cần được phát động phong trào đi tìm sự thật. Đi tìm sự thật để tìm thấy sự dối trá. Thế thôi. Cũng không cần bình luận gì thêm. Sự thật là sự thật. Mà như người Nga nói một nửa sự thật là sự giả dối.Sự thật như Lê Văn Tám tự đốt thân mình qua hàng rào Mắc Na Ma Ra vào tổng kho xăng, mở khó van để phá kho xăng!!!!Sự thật vụ xe tăng ngày 30tháng tư, mà nếu không có bức ảnh chụp của nhà báo nước ngoài!!!Sự thật về Phạm Tuân bắn rơi B52 lần đầu tiên, còn anh hùng Xuân Thiều không được coi là người bắn B52 đầu tiên mà là đâm thẳng vào máy bay địch vì sợ phi công khác cũng làm thế thì lấy đâu ra …máy bay mà chống Mỹ. Còn biết bao sự thật liên quan đến sự kiện, con người. Sự thất về nhiều cái chết của các bậc anh tài trong cuộc CM. Sự thật các chết của Tướng LTTấn, của Bác Sáu Dân v.v..Lịch sử nên bắt đầu từ đây.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: