BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

943. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC NGA – TRUNG

Posted by adminbasam on 01/05/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

TRIỂN VỌNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC NGA – TRUNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 26/4/2012

TTXVN (Mátxcơva 20/4)

“Báo Độc Lập” (Nga) mới đây đăng bài của tác giả Iuri Tavrovski, nhà nghiên cứu chính trị – chuyên gia phương Đông học phân tích và dự báo triển vọng phát triển của “quan hệ đối tác chiến lược giữa Nga và Trung Quốc sau khi ở hai nước có sự thay đổi lãnh đạo cấp cao nhất, như sau:

Trong năm nay, ở Nga và Trung Quốc đều sẽ có sự thay đổi những người đứng đầu đất nước. Sự thay đổi như vậy thường dẫn đến việc nếu không xem xét lại, thì cũng điều chỉnh chính sách đối ngoại. Liệu quan hệ giữa Mátxcơva và Bắc Kinh có gì thay đổi?

Câu nói “mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc đang ở mức cao nhất trong lịch sử” đã trở thành câu thông dụng. Câu nói này thường được các nhà lãnh đạo của cả hai nước, các chuyên gia và các phương tiện truyền thông sử dụng. Thực tế đúng là như vậy, nếu xem xét không phái là toàn bộ lịch sử 400 năm quan hệ giữa Nga và Trung Quốc, mà xem xét thời kỳ trong khoảng 50 năm, ngay sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô và sự chỉ trích trong đó tệ sùng bái cá nhân Stalin, những bất hòa về hệ tư tưởng giữa Nikita Khrushchev và Mao Trạch Đông làm cho mối quan hệ song phương trở nên lạnh nhạt. Nhưng điều này hoàn toàn không đúng, và thậm chí không phải như vậy, nếu chúng ta nhớ lại một thời kỳ khác – thời kỳ từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời vào năm 1949 và tới thời điểm bắt đầu “đóng băng” các mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc vào năm 1960. Trong khoảng thời gian này, hai bên đã xây dựng được các mối quan hệ còn lưu lại trong tâm trí của nhiều thế hệ người Nga và người Trung Quốc như là quan hệ anh em, còn trong các tác phẩm lịch sử, gọi là các mối quan hệ đồng minh.

Liên minh được củng cố bằng máu

Ngày 14/2/1950, bốn tháng sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập (1/10/1949), Liên Xô và Trung Quốc đã ký kết “Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ lẫn nhau”. Văn kiện này, được chuẩn bị với sự tham gia của Stalin và Mao Trạch Đông, đã hình thành Liên minh quân sự – chính trị. Trên thực tế, Liên minh này bắt đầu được hình thành từ những năm Trung Quốc tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật giai đoạn 1937-1945 và được củng cố trong thời gian nội chiến 1945- 1949. Theo Hiệp ước và các thỏa thuận liên quan, Liên Xô đã chuyển giao cho Trung Quốc quyền cùng quản lý tuyến đường sắt Trung Quốc – Trường Xuân, rút quân đội khỏi căn cứ hải quân chung ở Cảng Arthur, bàn giao tài sản của mình ở thành phố Dalni. Trong những năm tháng khó khăn nhất sau chiến tranh, Mátxcơva đã cho Bắc Kinh vay ưu đãi 300 triệu USD để xây dựng 50 cơ sở công nghiệp lớn. Hàng nghìn chuyên gia Liên Xô đã tham gia xây dựng và khôi phục những nhà máy, xí nghiệp hiện có của Trung Quốc. Các sinh viên, nghiên cứu sinh, các chuyên gia Trung Quốc đã sang học tập tại các trường đại học cua Liên Xô.

Năm 1952, thị phần của Liên Xô chiếm hơn một nửa kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Các mối quan hệ đồng minh giữa Mátxcơva và Bắc Kinh đã được thử thách trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950- 1953) Trong những trận chiến đấu chống lại quân Mỹ và các đồng minh, lực lượng chí nguyện quân Trung Quốc đã tổn thất hơn một triệu binh lính và sĩ quan. Không chính thức tham chiến, Liên Xô hỗ trợ cho các lực lượng của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên bằng cách cung cấp vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng. Mátxcơva cử cố vấn quân sự của mình tham gia các đơn vị quân đội, toàn bộ lực lượng không quân của Liên Xô đã tham gia các trận chiến trên không, bảo vệ các công trình quân sự quan trọng nhất ở Bắc Triều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc.

Không phải ngẫu nhiên trong những năm 1953 – 1956 hệ tư tưởng giữa các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xích gần lại nhau, quan hệ chính trị giữa hai nước được củng cố. Khi đó, các hiệp định về hỗ trợ trong việc xây dựng ở Trung Quốc 156 công trình công nghiệp lớn đã được ký kết, các khoản vay tín dụng tương ứng đã được cấp. Trung Quốc đã được viện trợ không hoàn lại cho 1.400 dự án của các xí nghiệp công nghiệp hiện đại và được chuyển giao hơn 24.000 bộ tài liệu khoa học – kỹ thuật khác nhau. Trên thực tế, hàng nghìn chuyên gia Liên Xô đã làm việc trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là những ngành lần đầu tiên được tạo ra ở Trung Quốc (ngành chế tạo Ô tô, máy bay, máy kéo, ngành công nghiệp hạt nhân). Với công nghệ của Liên Xô, Trung Quốc bắt đầu chế tạo được bom nguyên tử vấn đề về thành lập hạm đội chung đã được thảo luận. Khối lượng hợp tác về quân sự, chính trị, kinh tế và khoa học — kỹ thuật là chưa từng có trong lịch sử hai quốc gia có chủ quyền. Đó là liên minh quân sự – chính trị thực sự.

Từ quan hệ đồng minh tới Chiến tranh Lạnh

Dấu ấn trong lịch sử vẻ vang, nhưng không dài, của mối quan hệ đồng minh là vào mùa Thu 1960, khi Liên Xô triệu hồi chuyên gia của mình về nước, còn Trung Quốc thì từ chối mua các thiết bị của Liên Xô. Những sự việc này xảy ra là do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó có việc các nhà lãnh đạo Liên Xô không muốn làm “cái Ô” cho những hành động không được thoả thuận với họ của các lực lượng vũ trang Trung Quốc ở eo biển Đài Loan và ở biên giới với Ấn Độ. Làn sóng phản đối ở Tây Tạng, Nội Mông và Tân Cương là hậu quả của nạn đói hàng loạt và những hậu quả khác của chính sách “Đại nhảy vọt”, gần 60 nghìn cư dân ở các huyện lân cận đã tràn qua biên giới các nước Cộng hòa Xôviết ở Trung Á, và các vụ vi phạm biên giới đã xảy ra ở các khu vực khác. Chẳng bao lâu, cuộc Chiến tranh Lạnh Trung – Xô đã bắt đâu, một vài lần xung đột đã gần tới ngưỡng chiến tranh thực sự trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa (1966 – 1976).

Lấy lại những năm đã mất

Chỉ tới mùa Xuân 1989, giai đoạn nguy hiểm và trái tự nhiên này đối với hai nước láng giềng mới kết thúc. Từ ngày 15 đến ngày 18/5/1989, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đã tới thăm Trung Quốc. Kết quả của chuyến thăm này là việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Việc này được ghi nhận trong Thông cáo chung. Chuyến thăm này có thể là sự khởi đầu không chỉ việc bình thường hóa, mà còn “đẩy nhanh” các mối quan hệ song phương. Trong điều kiện cuộc cải tổ bị ngưng trệ ngày càng rõ ràng, các giới chính trị ở Mátxcơva ngày càng quan tâm tới những cải cách có hiệu quả của Đặng Tiểu Bình – người nhấn mạnh các cải cách kinh tế cấp tiến trong khi vẫn duy trì sự ổn định chính trị.

Đồng thời, trong Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, các nhà lãnh đạo có ảnh hưởng do Tổng Bí thư Triệu Tử Dương đứng đầu, muốn bắt đầu việc cải cách của mình với ưu tiên “tư duy mới”, “công khai” và những thay đổi chính trị khác gây ảnh hưởng tới những cải cách kinh tế. Những sự kiện trùng hợp với chuyến thăm lịch sử của ông Gorbachev tại Quảng trường Thiên An Môn đã đặt dấu chấm hết cho những giấc mơ này, còn thực tiễn chính trị đã cho thấy phương án phát triển nào là thành công. “Đẩy nhanh” đã không diễn ra, nhưng quá trình tháo dỡ cơ sở hạ tầng quân sự và tuyên truyền của Chiến tranh Lạnh bắt đầu, các khả năng cho sự xuất hiện những hình thức quan hệ mới giữa hai nước láng giềng đã được mở ra.

Sự sụp đổ của Liên Xô và “thời gian rối loạn” tiếp đó không thể không ảnh hưởng đến tốc độ phục hồi của các mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, vào năm 1992, sau chuyển thăm Trung Quốc của Tổng thống Nga Boris Yeltsin, “Tuyên bố chung về các cơ sở của sự hiểu biết lẫn nhau giữa Nga và Trung Quốc” đã được ký kết. Văn kiện này bảo đảm nền tảng vững chắc cho việc nhanh chóng thiết lập các mối quan hệ về thương mại, khoa học, thậm chí cả quân sự. Ở cả hai nước, những người còn nhớ tới thời kỳ thân thiện cũ vẫn giữ các vị trí có anh hưởng. Họ đã thúc đẩy để khắc phục tình trạng thiếu tin tưởng tích đọng trong xã hội, đã thoa thuận trao đổi các nhà khoa học, hợp tác ở vùng biên, mua bán các sản phẩm truyền thống. Hàng hoá của Trung Quốc giá rẻ, tuy chất lượng không phải lúc nào cũng tốt, đã đáp ứng được tình trạng thiếu hàng hóa trên các thị trường của Nga. Trung Quốc cũng bắt đầu nhận được nguyên vật liệu giá rẻ và sản phẩm chế tạo máy cần thiết cho ngành công nghiệp của mình. Thậm chí cả trong lĩnh vực nhạy cảm như buôn bán vũ khí, đã đạt được những kết quả chưa từng có. Chỉ từ năm 1992 đến năm 2008, Trung Quốc đã mua 25 tỷ USD vũ khí của Nga: 4 tàu khu trục và 12 tàu ngầm, gần 200 máy bay chiến đấu, trực thăng, hệ thống tên lửa. Việc sản xuất máy bay quân sự và kỹ thuật khác theo giấy phép của Nga đã được mở ra, tại các học viện quân sự (của Nga) đã xuất hiện trở lại các thính giả Trung Quốc, các cuộc tập trận chung quy mô lớn thường xuyên được tổ chức. Giữa Bộ Quốc phòng hai nước đã thiết lập đường dây nóng, lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu hai nước thường xuyên tiến hành các cuộc tham vấn về những vấn đề an ninh chiến lược. Đỉnh cao của thập kỷ phục hồi quan hệ song phương đầu tiên là việc ký kết “Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện” ngày 16/6/2001 theo sáng kiến của Bắc Kinh.

Quan hệ đối tác chiến lược

Chính trên cơ sở văn kiện này, “quan hệ họp tác và đối tác chiến lược” đã được thông qua. Thật ra, công thức tương tự đã xuất hiện trong “Tuyên bố chung” được Tổng thống Yeltsin và Chủ tịch Giang Trạch Dân ký kết từ năm 1996, trong đó hai bên tuyên bố quyết tâm “phát triển mối quan hệ đối tác bình đẳng, tin cậy nhằm hợp tác chiến lược trong thế kỷ XXI”. Thuật ngữ ngoại giao lần đầu tiên được sử dụng khi đó đã trở thành mốt và được đưa vào hàng chục văn kiện khác mà Mátxcơva ký kết với các nước khác. Việc đó, tất nhiên, đã làm cho nó phần nào mất đi ý nghĩa. Tuy nhiên, Hiệp ước năm 2001 bao gồm các điều khoản làm cho cụm từ “quan hệ đối tác chiến lược” có ý nghĩa quan trọng. Điều 9 của Văn kiện này nói:

” Trong trường hợp nảy sinh tình hình, mà theo ý kiến của một trong các bên tham gia thỏa thuận, có thể đe dọa hòa bình, vi phạm hòa bình hoặc ảnh hưởng đến lợi ích an ninh, cũng như trong trường hợp xuất hiện mối đe dọa xâm lược đối với một trong các bên tham gia thỏa thuận, thì các bên tham gia thỏa thuận có trách nhiệm ngay lập tức tiếp xúc với nhau và tổ chức tham vấn để loại bỏ mối đe dọa nảy sinh”.

Trong gần 11 năm tồn tại của Hiệp ước, Điều khoản này chưa bao giờ được áp dụng trong thực tế, mặc dù, chẳng hạn, cuộc xung đột Nga – Grudia năm 2008 đã diễn ra trong những ngày Thủ tướng Vladimir Putin đang ở thăm Bắc Kinh. Và trong cuộc khủng hoảng giữa Trung Quốc – Nhật Bản ở khu vực quần đảo Điếu Ngư (Senkaku), quan hệ Trung – Mỹ căng thẳng do Mỹ cung cấp vũ khí cho Đài Loan, v.v.. Trung Quốc cũng không tham vấn Nga. Trong cụm từ “quan hệ đối tác chiến lược”, hai bên nhấn mạnh quan hệ đối tác, để lại các khía cạnh chiến lược đến những thời điểm tốt nhất (hoặc tồi tệ nhất).

Tiềm năng hợp tác quân sự ở khu vực, được đưa vào các văn kiện của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), tổ chức trên thực tế được thành lập gần như đồng thời với thời gian ký kết “Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Láng giềng thân thiện” năm 2001, cũng chưa được sử dụng. Ban đầu, người ta đánh giá SCO như là “NATO của lục địa Á – Âu”, như là sự đáp lại của Nga – Trung Quốc đối với sự dịch chuyển của khối EU – Đại Tây Dương vào các khu vực Trung Á và Trung Đông. Nhưng việc thành lập Trung tâm chống khủng bố tiếp theo, và các cuộc tập trận đã không diễn ra. Chẳng hạn, trong thời gian bùng nổ cuộc nội chiến ở Cưrơgưxtan năm 2010 cả Mátxcơva lẫn Bắc Kinh đều không nhớ tới các điều đã thoả thuận trong Tuyên bố về thành lập SCO: “Các quốc gia thành viên SCO tăng cường cơ chế tham vấn và phối hợp hành động trong các vấn đề khu vực và quốc tế, giúp đỡ và hợp tác lẫn nhau trong các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng nhất, cùng nhau củng cố hòa bình và sự ổn định trong khu vực…’’.

Số lượng chưa chuyển thành chất lượng

Gần 11 năm đã trôi qua kể từ khi ký kết Hiệp ước năm 2001, nhưng hai bên chủ yếu là mở rộng các thông số số lượng của quan hệ đối tác. Khối lượng thương mại tăng từ 8 tỷ USD năm 2000 lên gần 80 tỷ vào năm 2011. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại chính của Nga. Đến năm 2015, kim ngạch thương mại có thể đạt tới 100 tỷ USD, và vào năm 2020 là 200 tỷ USD. “Chương trình hợp tác giữa các khu vực Viễn Đông, Đông Xibêri, với các tỉnh Đông Bắc Trung Quốc đến năm 2018” ký kết năm 2009, được thừa nhận đã có vai trò đáng kể trong việc đạt được các chỉ số này. Ngoài chương trình đầy tham vọng này, hơn 200 văn kiện khác nhau về hợp tác song phương đã được ký kết.

Nếu nói về các thông số chất lượng, thì bức tranh kém ấn tượng hơn. Thành tựu chính, không nghi ngờ, là việc giải quyết dứt điểm vấn đe biên giới trong năm 2005. Tuy nhiên, cả việc loại bỏ “quả bom nổ chậm” này lẫn việc tổ chức “Năm Hữu nghị của thanh niên”, “Năm Trung Quốc ở Nga” và “Năm Nga ở Trung Quốc”, “Năm tiếng Nga” và “Năm tiếng Trung”… cũng không thể khôi phục được sự quan tâm và cảm tình đối với nhau. Nói một cách đầy đủ rằng số lượng sinh viên Trung Quốc học tiếng Nga không tới 30 nghìn người, trong khi những người học tiếng Anh là trên 300 triệu! Có lẽ Năm du lịch Nga ở Trung Quốc và Năm du lịch Trung Quốc ở Nga (2012 – 2013) sẽ hiệu quả hơn, bởi số lượng các chuyến thăm lẫn nhau của người dân Nga và người dân Trung Quốc hiện nay là khoảng 3 triệu người/năm.

Có lẽ, những hậu quả của cuộc Chiến tranh Lạnh có vai trò của nó. Trong số những người dân thường của Trung Quốc, việc thể hiện tình cảm đối với nước Nga bị hạn chế bởi việc hát các bài hát Nga tại các quán bar karaoke. Ớ Nga, người ta quan tâm đến văn hóa của Nhật Bản hơn là quan tâm tới tìm hiểu những thành tựu của nền văn minh của “đối tác chiến lược Trung Quốc. Trong số các chuyên gia Trung Quốc, các chuyên gia về Nga, đặc biệt là các chuyên gia trẻ, sự tôn trọng đối với nước Nga hiện nay đối với nền kinh tế và chính trị của Nga đang giảm đi. Các nhà Trung Quốc học của Nga trung thành hơn, nhưng trong số họ, sự tức giận đang tăng lên bởi những bất đông mới trong giao tiếp với các đồng nghiệp và các nhà ngoại giao của Trung Quốc, những người được cho là “hết sức thành công”. Những nhà lãnh đạo các cơ quan độc quyền nhà nước thường giữ lập trường cứng rắn với các đối tác Nga tại các cuộc đàm phán.

Dường như, ở cấp lãnh đạo không phải tất cả mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Cho đến nay, Mátxcơva vẫn từ chối bán cho Bắc Kinh một số loại vũ khí mà họ quan tâm, trong khi lại bán cho Đêli. Bắc Kinh vẫn coi phần phía Nam quần đảo Kuril là lãnh thổ của Nhật Bản. Trong nhiều năm, tranh cãi về giá khí đốt mà Nga hy vọng xuất khẩu cho Trung Quốc vẫn tiếp tục. Các đại diện của Quân đội Trung Quốc, những người đã đóng góp to lớn vào việc đập tan quân Nhật – đồng minh của Đức Quốc xã, năm 2010 đã không được mời tham dự cuộc duyệt binh nhân Kỷ niệm lần thứ 65 Chiến thắng chủ nghĩa phát xít. Sau vài tháng, người ta “khuyên” Tổng thống Nga Dmitry Medvedev thăm mộ của những binh sĩ Nga ở Cảng Arthur, và ông bị giới hạn ở việc đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm những người Liên Xô tham gia các cuộc chiến tranh giai đoạn 1945-1953. Sự không ăn nhịp lại tiếp tục – chỉ mới gần đây, chuyến viếng thăm Mátxcơva của Phó Thủ tướng thứ nhất Quốc Vụ viện Trung Quốc Lý Khắc Cường, người một năm nữa sẽ trở thành Thủ tướng, đã bị hủy bỏ – Tổng thống Medvedev và Thủ tướng Putin không có thời gian để tiếp do “lịch trình dày đặc trước cuộc bầu cử”. Thế nhưng Tổng thống Mỹ Barack Obama và các quan chức hàng đầu của Chính phủ Mỹ, mặc dù ở Mỹ cũng sắp diễn ra cuộc bầu cử, lại có thời gian để gặp gỡ với Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, người vào mùa Thu này sẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, và sau đó lãnh đạo Nhà nước Trung Quốc, và cùng với Lý Khắc Cường tạo thành “bộ đôi”. Cả hai nhân vật này, theo thông lệ, sẽ nắm giữ quyền lực hai nhiệm kỳ 5 năm, thực hiện các chuyến công du tới các nước chủ chốt của thế giới, và Lý Khắc Cường muốn mở đầu chuyến viếng thăm tới Mátxcơva …

Liệu “thời kỳ vàng son” có bền vững? Tính tới kinh nghiệm của liên minh quân sự – chính trị trong những năm 1950 và Chiến tranh Lạnh trong những năm 1970, cần gọi mức độ quan hệ Nga-Trung Quốc đã đạt được, không phải là “cao nhất trong lịch sử quan hệ”, mà là “thời kỳ vàng son”. Hiện nay mức độ như vậy làm cho cả Mátxcơva và Bắc Kinh đều hài lòng. Xem xét các bài viết mang tính cương lĩnh của ông Putin, người sắp trở lại Điện Cremlin, thì những hy vọng lãng mạn của người tiền nhiệm của ông vào việc phương Tây hỗ trợ cho công cuộc hiện đại hóa của Nga để đổi lấy sự nhượng bộ trong chính sách đối ngoại, sẽ được điều chỉnh. Tuy nhiên, dường như người ta chưa có kế hoạch bù đắp những điều chỉnh này bằng những thay đổi về chất ở hướng Trung Quốc. Trong bài viết về Liên minh Âu – Á, tổ chức liên kết này được xem là “một phần không thể tách rời của châu Âu lớn, được thống nhất bởi các giá trị chung về dân chủ, tự do và pháp luật thị trường”. Trong khi đó, sự tương tác của Liên minh Âu – Á với Trung Quốc không được đề cập. Trong một bài viết có tính định hướng khác với tổng quan toàn bộ chính sách đối ngoại của Nga, có một vài đoạn nói về Trung Quốc. Nhưng qua đó thấy rõ rằng mặc dù muốn “mượn gió Trung Quốc thổi cánh buồm kinh tế của chúng ta (Nga)”, nhưng vẫn sử dụng tương đối hạn chế “gió từ phương Đông”, bài viết cho rằng: “Chúng ta cần tích cực hơn trong việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác mới, đồng thời tranh thủ các khả năng công nghệ và khả năng sản xuất của các nước, thu hút – tất nhiên, với sự thông minh – tiềm năng của Trung Quốc nhằm mục đích phát triển kinh tế của khu vực Xibêri và Viễn Đông”.

Còn về sự hợp tác chính trị thì vẫn trong khuôn khổ hiện nay: “Chúng ta sẽ tiếp tục ủng hộ lẫn nhau trên trường quốc tế”. Tuy nhiên, việc bài báo được viết bằng ngôn ngữ không có đại từ, – đây là một chuyện, nhưng thực tế chính trị lại là một chuyện khác hoàn toàn.

Quan điểm đối ngoại của “bộ đôi” sắp cầm quyền của Trung Quốc hiện còn chưa rõ. ít nhất là trên báo chí công khai, họ không công bố nhũng bài viết của mình. Tuy nhiên, một lần tại một cuộc gặp gỡ với đồng bào của mình ở Mêhicô, ông Tập Cận Bình nói. về những phê phán của phương Tây đối với Trung Quốc: “Có một số người nước ngoài với dạ dày no đủ không tìm thấy việc gì làm tốt hơn là việc chọc ngoáy chúng ta. Thứ nhất, Trung Quốc không tham gia xuất khẩu cách mạng. Thứ hai, Trung Quốc không xuất khẩu đói nghèo. Thứ ba, Trung Quốc không làm cho các vị đau đầu. Vậy các vị muốn gì?”. Trong những năm 2008 – 2011, ông Tập Cận Bình đã thực hiện chuyến công du tới một số nước ở khu vực Đông Á, Trung Đông, Mỹ Latinh, châu Âu và khu vực Nam Á. Tháng 2 năm nay, ông đã tới thăm Mỹ. Năm 2010 ông thăm Mátxcơva và gặp gỡ với Tổng thống Medvedev và Thủ tướng Putin. Con gái ông đang học tập tại Đại học Harvard. Thủ tướng tương lai Lý Khắc Cường có ít kinh nghiệm trên diễn đàn quốc tế. Năm 2010, ông đã nói chuyện ở Davos, Thuỵ Sĩ, đã đi thăm một số nước đang phát triển. Ông chưa tới thăm Nga trên cương vị chính thức. Nhiều khả năng, trước hết “bộ đôi” này sẽ tiếp tục chính sách hiện nay, trong đó Nga được xếp ở vị trí ưu tiên thứ hai, sau Mỹ.

Như vậy, cả Mátxcơva lẫn Bắc Kinh đều không định nâng quan hệ “đối tác chiến lược” hiện nay lên một tầm cao hơn. Nhưng những khả năng có thể xảy ra sẽ buộc họ phải làm điều đó. Bởi rất có thể, phản ứng của phương Tây đối với sự trở lại ghế Tổng thống của ông Putin và việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nga sẽ là việc kiềm chế chặt chẽ hơn toàn bộ các mối quan hệ quân sự, chính trị, kinh tế – thương mại, thông tin – truyền thông. Trước mắt, đối tượng kiềm chế là Trung Quốc. Việc Bắc Kinh khước từ thực hiện đòi hỏi của phương Tây – sớm nâng tỷ giá đồng nhân dân tệ và như vậy thừa nhận sự hạn chế chủ quyền chính trị, kinh tế, tài chính của họ – đã gây ra sự đánh giá lại có tính chiến lược mối quan hệ giữa phương Tây với Trung Quốc. Các đồng minh của Oasinhtơn vẫn đến Bắc Kinh để giành các hợp đồng và đầu tư có lợi, nhưng trên tàu chỉ huy của hải đoàn phương Tây, cờ hiệu chiến đấu đã được kéo lên. Chiến lược mới thay đổi trọng tâm của những chuẩn bị về quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã được tuyên bố, việc thành lập các liên minh chính trị và quân sự nhằm chống Trung Quốc đã bắt đầu, các hiệp ước quân sự hiện hành đã được khởi động, các căn cứ quân sự mới được thành lập. Dường như hai nhiệm kỳ tổng thống 6 năm có thể của ông Putin và hai nhiệm kỳ 5 năm của “bộ đôi” Tập cận Bình – Lý Khắc Cường sẽ diễn ra trong điều kiện Nga và Trung Quốc bị kiềm chế chặt chẽ hơn. Tình hình phát triển như vậy có thể sẽ thúc đẩy các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa hai nước xác định rỗ hơn “mối quan hệ đối tác chiến lược”, và sau đó tạo ra các hình thức hợp tác mới./.

About these ads

5 phản hồi to “943. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC NGA – TRUNG”

  1. hunglaconic đã nói

    Quả là thiển ý!

  2. KOSOHUDOA đã nói

    ….chưa có khả năng Nga-TQ đi vào thực tế quan hệ đối tác chiến lược…? Nga có phong cách ngoại giao kín đáo, linh hoạt…Hiện nay Nga đang quan hệ chặt chẽ voi Ấn Độ…quyền lợi o biển Đông và CHâu Á-TBD gấn chặt Nga- An- ÁSean…gần gữi hơn.
    - Theo nhiều chuyên gia phân tích : Quan hệ Nga – TQ chỉ là ẢO….thậm chí có khi lại là dối thủ…?

  3. hồ xị đã nói

    nước Nga ngày nay ,Liên xô ngày xưa là bạn tốt !họ đã ngồi trên núi xem hổ đấu nhau vào ngày 14-3-1988,hải quân vixi bị chino đánh tơi bời ở Nansha qundao mà LX vĩ đại chả thèm giúp đàn em một ngón tay dù hiệp định hữu nghị vệt xô do Duẩn và Brrezhnev ký vẫn còn hiệu lực!hoan hô gấu Nga!

  4. toan đã nói

    Tập Cận Bình không biết mình vô liêm sỉ hay sao ? Tất cả các lãnh đạo TQ chỉ cần nhìn xuống Biển Đông là thấy ngay bộ mặt nhơ bẩn vô liêm sỉ của họ

  5. Le Huu Sinh đã nói

    KHAROSO !
    Theo thiển ý của tôi, Việt Nam nên ủng hộ Nga và Đảng ‘Nước Nga Thống Nhất’ của Tổng Thống Putin.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: