711. NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TRUNG QUỐC TRONG NĂM 2012 – PHẦN 2
Được đăng bởi adminbasam trên 12/02/2012
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TRUNG QUỐC TRONG NĂM 2012
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ bảy, ngày 11/2/2012
(phần cuối)
TTXVN Angiê 5/2)
Điều chỉnh ở châu Á
Cũng trên tạp chí “Tin Trung Hoa”, nhà phân tích Franeois Danjou cho rằng năm 2012, ngành ngoại giao Trung Quốc sẽ phải trổ hết tài để đối phó với ảnh hưởng của Mỹ đang mở rộng ở châu Á và giải tỏa bầu không khí căng thẳng với Oasinhtơn, liên quan đến các cuộc tranh cãi giữa Bắc Kinh, Hà Nội và Manila xung quanh vấn đề biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) nảy sinh trong thời gian gần đây từ các vụ va chạm với tàu tuần tra Trung Quốc trong các vùng biển tranh chấp.
Bắc Kinh đã cử ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc sang Mianma để kiểm soát việc Mỹ làm mất ổn định một trong những đồng minh của mình, và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình sang Việt Nam và Thái Lan. Tháng tới, nhân vật này sẽ đi thăm Mỹ theo lời mời của Phó Tổng thống Joe Biden.
Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc càng trầm trọng hơn do tình hình trong nước, vì cả hai đều đang trong giai đoạn chuẩn bị chuyển giao quyền lực. Song giai đoạn này, mở đầu với chuyến thăm Việt Nam và Thái Lan vào tháng 12/2011 của Tập Cận Bình và chuyến thăm Mỹ sắp tới của ông, không thể không trùng với một trong những động thái liên tục làm dịu tình hình có thể giúp ngành ngoại giao Trung Quốc thoát khỏi tình thế phức tạp khiến hình ảnh hòa bình của họ bị sứt mẻ.
Phần phân tích dưới đây trước hết mổ xẻ tình hình căng thẳng đang diễn ra và bị kích động thêm bởi lập trường quân sự ở Đông Nam Á giữa Bắc Kinh và Oasinhtơn. Tiếp đó sẽ là những giả thiết làm dịu tình hình dựa trên những nhượng bộ mới đây của Trung Quốc đối với Việt Nam vào tháng 10/2011, trước khi hai ông Tập Cận Bình và Đới Bỉnh Quốc sang thăm.
Trung Quốc sẽ còn phải làm dịu nỗi lo sợ bị chà đạp của Philíppin, cưỡng lại các xu thế đoàn kết lại của các nước ASEAN trong các vấn đề bất đồng ở biển Nam Trung Hoa – nơi tất cả đều muốn hưởng nguồn tài nguyên, đồng thời triệt tiêu tư tưởng chống Trung Quốc đang gia tăng ở Mỹ và châu Âu.
Sức mạnh bùng nổ của căng thẳng dân tộc chủ nghĩa
Tại Mỹ, thời kỳ trước bầu cử, với sự xuất hiện trở lại các bài diễn văn mang tính phê phán về nhân quyền và bất đồng thương mại, lại càng không phù hợp để đàn xếp tình hình. Ngày 16/1/2012, khi trả lời phỏng vấn ở Trung Quốc, ông Gary Locke, đại sứ Mỹ tại Bắe Kinh, cho rằng tình hình nhân quyền xấu đi. Một tuần lễ sau, trong thông điệp liên bang, Tổng thống Obama nêu đích danh Trung Quốc và thông báo thành lập một đơn vị đặc biệt để phát hiện những hoạt động thương mại bất hợp pháp.
Tại Trung Quốc, bầu không khí đắm chìm trong căng thẳng trước Đại hội lần thứ 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc, lại càng nặng nề thêm do lập trường dân tộc chủ nghĩa và quan điểm cố hữu của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa. Mọi thứ cho thấy hoạt động diễn ra nhộn nhịp ở quanh căn cứ hải quân Tam Á trên đảo Hải Nam. Theo một số lính thủy Trung Quốc được nhật báo “Asahi Shimbun” phỏng vấn, hạm đội tàu ngầm Tam Á được đặt trong tình trạng báo động từ tháng 7/2011, thực hiện hết lặn lại phóng thủy lôi. Một ngư dân kể rằng từ tháng 7/2011, ông thấy tàu ngầm xuất hiện ít nhất 10 lần. Cuối tháng 10/2011, tàu của chính ngư dân này suýt nữa bị một tàu ngầm đâm phải khi nổi lên trên mặt nước. Các cơ quan tình báo Mỹ cho biết ngoài các tàu ngầm cổ điển, căn cứ Tam Á còn có 5 tàu ngầm hạt nhân phóng tên lửa lớp Tấn được trang bị tên lửa đạn đạo có tầm bắn 8.000 km.
Hoạt động ở căn cứ Tam Á trở nên nhộn nhịp từ mùa Hè năm 2011 sau các vụ va chạm ở biển Nam Trung Hoa. Tháng 5/2011, một tàu tuần tra Trung Quốc chạy với tốc độ cao đã cắt cáp của một tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Tháng 6 năm đó, một đơn vị khác của Trung Quốc đã bắn vào một tàu đánh cá của Philíppin. Hai vụ đụng độ trên khiến Hà Nội và Manila phản ứng quyết liệt và tiếp đó là thái độ cứng rắn của Nhà Trắng, cộng với việc tổ chức tập trận với Philíppin vào tháng 6 và tháng 7/2011.
Tháng 11/2011, việc Mỹ thông báo tăng cường sự có mặt về quân sự trong vùng, bao gồm việc thiết lập một căn cứ của lính thủy đánh bộ ở Ôxtrâylia và đưa tàu tuần tiễu đến Xinhgapo, càng làm cho Trung Quốc lo ngại. Đồng thời, Oasinhtơn thảo luận với Manila về việc tăng cường hợp tác quân sự và chuẩn bị triển khai lực lượng trên lãnh thổ Philíppin, nơi Hải quân Mỹ duy trì một số căn cứ cho đến đầu những năm 1990.
Những động thái quân sự trên diễn ra sau khi Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc khẳng định sức mạnh và cho biết muốn “tái lập quyền của Bắc Kinh ở các vùng biển thuộc về Trung Quốc trong lịch sử”. Tướng Luo Yuan, nhân vật số hai của Học viện khoa học quân sự Trung Quốc, giải thích: “Chủ quyền của chúng tôi rõ ràng bị xâm phạm. Chúng tôi phải hành động.” Sự việc là từ năm 2009, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến hành các cuộc diễn tập đổ bộ để cắm chân trên các đảo ở biển Nam Trung Hoa và thiết lập các cứ điểm ở đây.
Theo Bộ tham mưu quân đội Trung Quốc, mục tiêu của họ là “khai thác các mỏ dầu khí (…), xóa bỏ ảnh hưởng của Mỹ ở trong vùng cũng như sự phản kháng của các nước ASEAN ven biển (…) và có được một không gian biển an toàn để triển khai tàu ngầm hạt nhân, được Trung Quốc coi là phương tiện chính để đánh trả trong trường hợp bị tấn công bằng hạt nhân”.
Lối nói đó kích động tư tưởng dân tộc và làm hài lòng trào lưu dân túy. Mới đây, tờ Thời báo hoàn cầu, một ấn phẩm của tờ Nhân dân nhật báo thường theo khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa nước lớn, đăng kết quả một cuộc thăm dò dư luận theo đó 83% trong số 20.000 người được hỏi ý kiến cho rằng vấn đề biển Nam Trung Hoa phải được giải quyết bằng sức mạnh quân sự.
Tháng 8/2011, trong khi Tổng thống Philíppin, Benigno Aquino, thăm chính thức Trung Quốc, một bài của tờ báo trên viết rằng “dư luận Trung Quốc không hoan nghênh chuyến thăm này” và Trung Quốc phải sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để gây áp lực với Philíppin, rồi nói thêm: “Vì chúng ta có sức mạnh nên chúng ta cần sử dụng nó để xác lập lại vùng Đông Á phù hợp với ý đồ của mình.”
Trung Quốc-Việt Nam, sử dụng ngoại giao và trí thông minh đúng kiểu
Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ý thức được tầm quan trọng cốt tử của mối quan hệ Trung-Mỹ – 400 tỷ USD trao đổi thương mại trong năm 2011- và những nguy cơ chiến lược nảy sinh từ căng thẳng với các nước láng giềng. Song do bị kẹt giữa áp lực dân tộc chủ nghĩa ở trong nước và trách nhiệm cao cả phải tháo ngòi nố bầu không khí căng thẳng, ông Tập Cận Bình sử dụng lối nói hòa dịu và kêu gọi Oasinhtơn kiềm chế. Ông nói: “Mối quan hệ Trung-Mỹ không thể bị rối loạn trong một thời gian dài” (…), “trước hết cần đề cập các vấn đề nhạy cảm liên quan đến lợi ích sống còn với sự thận trọng tối đa”.
Ở các nước ASEAN, với sự hỗ trợ của sức mạnh kinh tế và thương mại của Trung Quốc, Tập Cận Bình ưu tiên cách tiếp cận song phương, giữa hai nước với nhau, trái ngược với ý kiến của Oasinhtơn chủ trương thương lượng giữa Trung Quốc và ASEAN về các vấn đề liên quan đến biển Nam Trung Hoa, với sự tham gia của Nhà Trắng. Tuy nhiên, cũng rất có thể Bắc Kinh, với một số nhượng bộ khéo léo và kín đáo, sẽ tháo được ngòi nổ từng vụ việc một, từ đó làm cho Mỹ chưng hửng và vượt mặt Mỹ.
Điều đó có thể xảy ra trong trường hợp Việt Nam. Tập Cận Bình đến thăm nước này từ ngày 20 đến ngày 22/12/2011 để gặp Chủ tịch Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong khi Việt Nam đang phải đối phó với dấu hiệu suy thoái và lạm phát lên tới gần 20%. Sau những lời hứa hẹn hợp tác song phương trong các lĩnh vực giao dục và y tế, kèm theo một khoản cho vay 500 triệu USD với lãi suất thấp của Ngân hàng phát triển Trung Quốc, có lẽ các cuộc trao đổi về bất đồng ở biển Nam Trung Hoa diễn ra khác xa với lối nói hung hãn của giới quân sự Trung Quốc.
Trung tuần tháng 10/2011, trong một thông cáo chung với Hà Nội Bắc Kinh quả thực chấp nhận thúc đẩy nhanh việc hoạch định các vùng lãnh hải và thương lượng việc cùng khai thác ở các vùng quần đảo Hoàng Sa. Tuyên bố cho biết ít nhất là đối với vùng này, các nhà thương lượng Trung Quốc, được sự bảo lãnh của Hồ Cẩm Đào và người đồng nhiệm Việt Nam, có thể từ bỏ yêu sách đối với 80% vùng biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố nói rõ rằng “cả hai nước tìm giải pháp lâu đài, có thể chấp nhận được đối với cả hai bên trên cơ sở Công ước Liên hợp quốc về luật biển (…) Trong khi chờ đợi một thỏa thuận tổng thể về vấn đề chủ quyền, Bắc Kinh và Hà Nội sẽ tích cực thương lượng để hợp tác vì sự phát triển chung”.
Đây không phải là lần đầu tiên hai bên đạt được thỏa thuận trái với yêu sách của Bắc Kinh đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa. Năm 2000 , một cam kết song phương kiểu như vậy đã được ký liên quan đến vịnh Bắc Bộ, hoạch định các vùng biển nằm giữa bờ Bắc của Việt Nam và bờ Tây đảo Hải Nam. Hải quân hai nước thậm chí còn tiến hành các chuyến tuần tra chung ở đây.
Một tài liệu của Bộ Tài nguyên đất của Trung Quốc cho biết trữ lượng của toàn bộ biển Nam Trung Hoa, lớn bằng Địa Trung Hải, tương đương với 30% trữ lượng dầu mỏ hiện nay của Trung Quốc (100 tỷ tấn). Theo ông Dong Xiucheng, giáo sư thuộc Viện dầu mỏ Trung Quốc trữ lượng dầu ở biển Nam Trung Hoa đứng hàng thứ tư thế giới.
Vân theo Bộ trên, năm 2010, dầu khai thác được ở ngoài biển chiếm tới 30% sản lượng của Việt Nam. Còn ở Trung Quốc, Công ty dầu khí quốc gia ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) hy vọng có thể mỗi năm khai thác từ biển Nam Trung Hoa khoảng 50 triệu tấn từ năm 2020. Lượng dầu này sẽ bù đắp lượng dầu suy giảm (trung bình 3%/năm) ở các mỏ Đại Khánh và Thắng Lợi ở trong nước. Nhìn chung, các chuyên gia không phải của Trung Ọuốc cho rằng đánh giá của nước này là phóng đại.
Biển Nam Trung Hoa cũng có trữ lượng lớn khí đốt cho đến nay chưa xác định được quy mô. Một công trình nghiên cứu của us Geological Survey đánh giá trữ lượng khoảng 24.000 tỷ mét khối (tương đương với 50% trữ lượng của Trung Quốc). Cuộc chạy đua khai thác nguồn tài nguyên này ngày càng quyết liệt, trong khi Trung Quốc, Malaixia, Philíppin, Đài Loan, Brunây và Việt Nam đều đòi chủ quyền, hoàn toàn hay một phần, đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Viện dầu mỏ Trung Quốc cho rằng trên cơ sở nhu cầu của đất nước, Bắc Kinh phải cương quyết tham gia việc khai thác các nguồn tài nguyên này. Mới đây, CNOOC, công ty hàng đầu về khai thác dầu ngoài biển của Trung Quốc, xác nhận năng lực thăm dò tới độ sâu 3.000 m, và cho rằng từ nay trở đi, các cuộc thăm dò do Trung Quốc thực hiện sẽ không giới hạn ở các vùng nước sâu gần bờ của Trung Quốc nữa.
Việc năng lực khoan ở các vùng nước sâu của Trung Quốc tăng lên có khả năng sẽ làm gia tăng tình hình căng thẳng. Tháng 5/2011, CNOOC thông báo đưa một dàn khoan đến một vùng đặc quyền kinh tế mà Philíppin đòi chủ quyền. Đồng thời, Bắc Kinh yêu cầu công ty Exxon-Mobil và BP phải từ bỏ dự án thăm dò của họ ở các lô đã được Hà Nội nhượng quyền nằm trong vùng kinh tế đặc quyền của Việt Nam gần các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa BP chấp thuận làm theo, song Exxon-Mobil vẫn tiếp tục thăm dò.
Mùa Hè năm 2011 là thời gian xảy ra nhiều vụ đụng độ với Việt Nam và Philíppin, không những xung quanh các mỏ dầu mà cả tại các ngư trường, nơi tàu đánh cá của Philíppin và Việt Nam thường xuyên bị quây nhiễu. Vụ phức tạp mới đây nhất là tháng 9/2011, công ty dầu mỏ ONGC của Ấn Độ ký với Việt Nam hợp đồng thăm dò dầu mỏ trong vùng lãnh hải của Việt Nam, cũng bị Bắc Kinh chính thức cảnh cáo, yêu cầu Ấn Độ phải tránh xa các cuộc xung đột ở biển Nam Trung Hoa.
Tuy nhiên, do thái độ như người ta đã thấy vào mùa Hè và mùa Thu năm 2011 của các nước ven biển đang xích lại gần với Mỹ, và trên cơ sở đánh giá cái giá phải trả về chiến lược của các cuộc đối đầu này, có thể về ngắn và trung hạn, Trung Quốc sẽ có thái độ thận trọng hơn.
Thái Lan thân Mỹ, song cũng nhạy cảm với ý tứ của Trung Quốc
Ông Tập Cận Bình tiếp tục chuyến đi tới Thái Lan, nước vừa gượng dậy sau trận lũ lụt nghiêm trọng và cũng có một số bất đồng với Trung Quốc, tuy ít gay cấn hơn so với Việt Nam và Philíppin. Bất đồng thứ nhất và cũng là bối cảnh chung của những bức xúc đối với Bắc Kinh trong toàn vùng, liên quan đến những ý kiến khác nhau về hậu quả của các đập chắn nước của Trung Quốc trên sông Mê Công, nơi Băng Cốc đứng cùng phe với Hà Nội và Phnôm Pênh.
Thêm vào đó, trong thời gian gần đây có mối nghi ngờ về việc lực lượng đặc biệt Thái Lan can dự vào vụ sát hại 13 thủy thủ Trung Quốc, từ đó cho thấy mối liên kết không lành mạnh giữa giới doanh nhân Trung Quốc và lực lượng an ninh Thái Lan. Mọi thứ đều cho thấy cả hai phía đều dính líu đến buôn bán ma túy.
Đối với Bắc Kinh, Thái Lan vừa là một nước có những giá trị trái ngược nhau, vừa là một mục tiêu lớn đối với hoạt động ngoại giao của mình, nơi sức nặng trao đổi thương mại Thái-Trung ngày càng tăng cùng với ánh hưởng văn hóa của Trung Quốc. Cựu Thủ tướng Thái Lan đang sống lưu vong Thaksin (2001-2006) đã từng tạo điều kiện cho việc phát triển nền văn hóa đó, hơn nữa vì ông là một người Thái gốc Hoa rất được lòng dân thuộc các tầng lớp nghèo và ở vùng nông thôn, và có người em gái hiện là Thủ tướng. Lợi dụng nạn tham nhũng tràn lan, ông đã lái đất nước hướng đến một chế độ dựa trên mối quan hệ làm ăn rất giống như ở Trung Quốc, không tách bạch được quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp và quyền lực kinh tế.
Mặc cho các xu hướng đó, Thái Lan vẫn là một “khu vườn cấm” có tính chiến lược của Mỹ và cũng là một trong những điểm tựa dân chủ trong vùng mà Oasinhtơn gắng sức bảo vệ Với tư cách là đồng minh chiến lược của Thái Lan, hàng năm Mỹ đều tổ chức ở đây cuộc tập trận “Hổ mang Vàng”, một trong những cuộc tập trận đa phương lớn nhất thế giới, với sự tham gia của Hàn Quốc, Nhật Bản, Xinhgapo và Inđônêxia. Cuối cùng, vì muốn lưu ý ảnh hưởng của Trung Quốc ở những nơi ảnh hưởng đó có thể trở thành “của độc”, Mỹ cũng tăng hỗ trợ tài chính cho các nước vùng hạ lưu sông Mê Công, đồng thời lên tiếng phê phán các con đập của Trung Quốc trong vùng.
Tuy nhiên, Băng Cốc lại là nước ASEAN đầu tiên ký với Trung Quốc một “kế hoạch hành động chiến lược cho thế kỷ 21” nhằm phát triển cả hợp tác an ninh lẫn quan hệ kinh tế. Trong bối cảnh đó, cả hai nước hứa hẹn nâng trao đổi thương mại song phương lên 100 tỷ USD bắt đầu từ năm 2015 (tức gần gấp 2 lần mục tiêu dự kiến thực hiện với Việt Nam). Hai nước cũng quyết định hợp tác tài chính bằng việc ký thỏa thuận sử dụng đồng tiền Trung Quốc trong thanh toán song phương.
Sáng kiến khác hỗ trợ phát triển trao đổi thương mại là một thỏa thuận cùng xây dựng một đường tàu cao tốc nối Băng Cốc với Chiềng Mai 600 km có thể nằm trong khuôn khổ các dự án đường sắt lớn của Trung Quốc trong vùng, với Mianma hay Lào qua tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.
Giải thoát Mianma và sức nặng của Trung Quốc
Bắc Kinh giữ các “khu vườn cấm” như gìn giữ con ngươi mắt mình, từ đó nhanh chóng phản ứng trước chiến dịch Mianma do Bộ Ngoại giao Mỹ phát động và chuyến thăm của Ngoại trưởng Hillary Clinton đến Nâypiđô.
Mianma có nhiều nguồn tài nguyên mỏ và tiềm năng rất lớn về nông nghiệp, song quản lý tồi do cuộc đảo chính quân sự năm 1962 và tiếp đó là một loạt các cuộc quốc hữu hóa, cắt đứt đất nước với thế giới bên ngoài. Thêm vào đó là các biện pháp trừng phạt do Mỹ áp đặt để trả đũa việc nước này không ngừng vi phạm nhân quyền từ năm 1988, thời điểm chế độ Mianma hoàn toàn do quân đội nắm.
Biện pháp trừng phạt gây ra nạn chảy máu chất xám và khiến Ngân hàng thế giới cũng như Ngân hàng châu Á không đầu tư được vào Mianma. Bốn mươi năm lộn xộn chính trị và kinh tế cộng với hơn 20 năm bị trừng phạt đã dẫn đến một nền kinh tế thảm họa, không có nguồn nhân lực, với Tổng sản phấm quốc nội thấp hơn 7 lần so với của Thái Lan và một hệ thống tiền tệ hai lần quy đổi – chỉ còn hiệu lực ở 17 nước trên thế giới – tạo điều kiện thuận lợi cho tham nhũng tràn lan có lợi cho các doanh nghiệp Nhà nước và giới chóp bu có liên quan. Họ hưởng nhiều lợi nhuận từ hệ thống hiện hành và tạo thành trở ngại chính cho công cuộc đổi mới.
Ở một đất nước không có một sự tiếp xúc nào với bên ngoài, Trung Quốc chiếm giữ vị trí thống trị. Mở cửa chính trị và việc các thể thế quốc tế, những yếu tố sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, trở lại không phải không có rủi ro lớn.
Quả thực là do thiếu một hệ thống pháp lý và lập pháp độc lập có khả năng ngăn chặn chủ nghĩa cơ hội thấp hèn, và với tình hình đòi hỏi phải ưu tiên nỗ lực cho ngành y tế, giáo dục và vùng nông thôn, Mianma có thể phải tiến hành công cuộc phát triển cấp tốc các vùng nông thôn, từ đó mang lại lợi nhuận cho một số ông trùm có quan hệ với các tập đoàn tư nhân có khả năng tạo ra bất công sâu rộng.
Với 2.000 km đường biên giới chung với Trung Quốc, nước có các công ty Nhà nước tham gia khai thác gỗ, niken, đồng và khí đốt cũng như xây dựng đường sá và nhà máy điện, Mianma là một quân cờ quan trọng trong bàn cờ của Trung Quốc trong vùng. Nước này đồng thời là đồng minh chính trị của Mianma ở Liên hợp quốc chống lại mọi phê phán của phương Tây từ khi Mianma bị áp đặt lệnh cấm vận. Còn Mianma là nguồn dự trữ tài nguyên, là đối tác thương mại ưu đãi – từ năm 2010 Trung Quốc là nhà cung cấp và khách hàng hàng đầu của Mianma – và là nơi thông thương ra vịnh Bengan cho hàng hóa Trung Quốc và, ngược lại, cho dầu mỏ nhập khẩu và chuyên chở bằng đường ống về Vân Nam.
Nhưng việc Trung Quốc khống chế Mianma ngày càng chặt chẽ cũng có những hạn chế của nó. Trung Quốc đã biến các vùng biên giới, đặc biệt là vùng lãnh thổ của người Wa ở vùng Đông-Bắc, thành căn cứ quyền lực của các doanh nhân Trung Hoa. Họ đầu tư vào một danh sách dài các hoạt động thương mại và khai thác hợp pháp cũng như bất hợp pháp, tranh giành đất đai, xây dựng khách sạn, trung tâm giải trí và sòng bạc với hàng trăm bàn đánh bạc.
Trong cuốn “Where China meets India” (2011), Thant Myint-U, một người Mianma tốt nghiệp trường Đại học Harvard, kể rằng thành phố Mongla, căn cứ cũ của Cộng sản bên bờ sông Mê Công, trở thảnh lãnh địa của một lãnh chúa kinh doanh Trung Quốc tên là Lin Mingxian, có đội quân vũ trang bảo vệ riêng, tiến hành mọi kiểu buôn lậu, song cũng đón khách thuộc giới lãnh đạo Trung Quốc và Mianma đến nghỉ hè.
Năm 2005, hoảng sợ trước hình ảnh xấu về Trung Quốc, Bắc Kinh đưa quân đội đến đóng cửa các sòng bạc và biên giới. Nhưng các cuộc sát phạt đỏ đen vẫn diễn ra trên mạng. Bất kỳ ai ở Trung Quốc cũng có thể đặt cược một triệu USD qua Internet mà không cần phải đến tận xó xỉnh heo hút này ở Mianma.
Tồi tệ hơn nữa là các công ty xây dựng sử dụng hàng nghìn công nhân Trung Quốc xây dựng đập chắn nước cho mình, đông đến nỗi gây ra tình trạng dư thừa năng lực một cách lố bịch, gây tác động xấu đến môi trường khiến dân chúng địa phương phản kháng. Toàn bộ các đập chắn nước đang được xây dựng với hàng tỷ USD đầu tư, nếu hoàn thành, sẽ sản xuất ra một lượng điện lớn gấp 10 lần mức tiêu thụ ở Mianma, tức 20 gigawatt, trong đó phần lớn sẽ được xuất sang Trung Quốc.
Năm 2011, đụng độ vũ trang lại nổ ra giữa quân đội chính phủ và đội quân Kachin độc lập, trong bối cảnh bất an ninh âm ỉ từ khi năm 2010 chính quyền hủy bỏ lệnh ngừng bắn ký năm 1994 cho phép lực lượng Kachin được giữ vũ khí. Mọt số trận chiến diễn ra xung quanh đập nước Myitsone do Trung Quốc xây dựng, chống lại các nhóm Kachin phản đối sự có mặt của người Trung Quốc.
Tháng 9/2011, sau nhiều tuần lễ tranh cãi công khai, Tổng thống dân sự mới của Mianma thông báo dừng việc xây dựng đập nước Myitsone do các công ty Trung Quốc thực hiện trên sông Irrawaddy, trị giá 3,6 tỷ USD. Trong bối cảnh phức tạp đó, do Bắc Kinh sợ liên minh với Nâypiđô đổ vỡ, đại sứ nước này tại Mianma, Lý Quân Hoa, đã gặp bà Aung San Suu Kyi, hai tuần lễ sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton. Đó là hành động đầu tiên của Trung Quốc đối với phe đối lập Mianma kể từ 20 năm trơ lại đây. Ba ngày sau, đến lượt Đới Bỉnh Quốc, phụ trách các vấn đề chiến lược, có hàm ngang với Bộ trưởng Ngoại giao Dương Khiết Trì, đến gặp các nhà lãnh đạo Mianma.
Theo tờ “Irrawaddi” do một số nhóm ly khai của Mianma sống lưu vong điều hành, quân đội có thể can thiệp với hơn 10.000 người với sự yểm trợ của pháo binh, gây ra làn sóng hàng nghìn người tỵ nạn, song bị Chính phủ Trung Quốc chặn lại ở biên giới. Việc Chính phủ Mianma ngừng xây dựng đập chắn nước có thể cho phép tái khởi động cuộc thương lượng giữa lực lượng dân quân vũ trang từ lâu đòi thiết lập một Nhà nước liên bang với chính phủ và quân đội vốn sợ đất nước tan vỡ.
Quá trình can dự từ lâu của Trung Quốc vào vùng này, sự gần gũi về địa lý, số lượng lớn các dự án công nghiệp và hạ tầng, phát triển trao đổi thương mại, lập trường của Bắc Kinh sẵn sàng can dự với tư cách là nhà hòa giải vào việc tìm kiếm giải pháp cho các vùng đòi ly khai ở biên giới, là những con chủ bài của Trung Quốc. Tuy Mianma mở cửa với Oasinhtơn, song chưa phải Bắc Kinh đã thua cuộc ngay. Sức nặng của những cam kết, tình hình bất ổn định triền miên ở các vùng biên giới, nơi các nhà hòa giải Trung Quốc đóng vai trò cốt yếu, tạo ra một tổng thể liên kết bắt buộc và đáng quan tâm mà Oasinhtơn khó có thể cân bằng được trong thời gian ngắn.
Tương lai Trung Quốc sẽ ra sao?
Ông Gordon G. Chang là tác giả cuốn “Trung Quốc sắp sụp đổ” (The Coming Collapse of China). Trong cuốn sách này, vào giữa năm 2001, ông dự đoán việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mười năm sau sẽ dẫn đến sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một thập kỷ đã trôi qua, song Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn nắm quyền. Ông Gordon G. Chang thừa nhận ông đã lầm khi dự đoán Đảng Cộng sản Trung Quốc sụp đổ vào năm 2011, nhưng ông cho rằng mình chỉ nhầm “có một năm”. Dưới đây là lý giải của ông trên tạp chí “Statafrik”.
Tại sao Bắc Kinh còn sống sót? Trước hết là vì cho dù Chính phủ Trung Quốc, khi gia nhập WTO năm 2001, cố hứa mở cửa nền kinh tế và tôn trọng luật chơi, song Bắc Kinh đã thành công trong việc lẩn tránh nhiều nghĩa vụ của mình. Còn cộng đồng quốc tế hoàn toàn tỏ ra bao dung trước thái độ né tránh của Trung Quốc. Kết quả là Bắc Kinh đã bảo vệ được một phần thị trường trong nước trước sự cạnh tranh của nước ngoài, đồng thời thúc đẩy phát triển xuất khẩu.
Sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc cho thấy hiệu quả đáng sợ trong phát triển kinh tế của mình như thế nào. Nước này gần như thành công trong việc lấy lại được mức tăng trưởng hai con số mà họ từng có trước thời kỳ gần như suy thoái vào cuối những năm 1990.
Thời hoàng kim đã qua rồi
Nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc sẽ có thể duy trì được mức tăng trưởng như vậy trong một thời gian không xác định. Ông Justin Yifu Lin, nhà kinh tế trưởng thuộc Ngân hàng thế giới (WB), nghĩ rằng Trung Quốc có thể tăng trưởng 8%/năm trong ít nhất 20 năm nữa. Còn Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự đoán nền kinh tế nước này sẽ vượt nền kinh tế Mỹ từ nay đến năm 2016.
Nhưng không nên tin điều đó. Trung Quốc gặt hái được nhiều thành quả tốt hơn các nước khác vì nước này có được một chu kỳ siêu dài ít nhất ba thập kỷ nhờ ba yếu tố. Trước hết là chính sách cải cách và mở cửa do Đặng Tiểu Bình chủ trương và đã làm biến đổi đất nước. Rồi kỷ nguyên Đặng Tiểu Bình trùng lặp với thời kỳ cuối Chiến tranh Lạnh giúp Trung Quốc xóa bỏ được rào cản chính trị đối với thương mại quốc tế. Cuối cùng
là tất cả các yếu tố trên diễn ra khi Trung Quốc tận dụng được “thành quả dân số” và từ đó khai thác được mức tăng trưởng khác thường về nhân lực.
Nhưng thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc đã qua rồi. Các điều kiện từng giúp nước này trỗi dậy đã không còn trong những năm gần đây hay đang nguội tàn. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc quay lưng lại với các chính sách tiến bộ của Đặng Tiểu Bình. Kỷ nguyên Hồ Cẩm Đào, nhà lãnh đạo hiện nay, trên thực tế được đánh dấu bằng sự thụt lùi. Đặc biệt là từ năm 2008, người ta thấy nền kinh tế Trung Quốc bị tái quốc hữu hóa một phần và vận hội đối với các doanh nghiệp nước ngoài đã tiêu tan.
Bùng nổ chấm dứt cùng với sự sụp đổ của các thị trường chứng khoản
Chẳng hạn, Bắc Kinh siết chặt điều kiện mua đối với người nước ngoài, dựng lên hàng rào mới như quy định về “sáng tạo trong nước” và đối xử không tốt với các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, như Google. Bằng cách tăng cường vai trò của doanh nghiệp Nhà nước, còn được gọi là “nhà vô địch quốc gia”, và bỏ qua các loại hình doanh nghiệp khác, Hồ cẩm Đào từ bỏ chủ nghĩa thực dụng kinh tế, yếu tố đã làm nên thành công của Trung Quốc.
Thứ hai, bùng nổ thế giới trong hai thập kỷ gần đây đã chấm dứt vào năm 2008 khi các thị trường chứng khoán thế giới sụp đổ. Thời kỳ ưu ái bất thường, khi cộng đồng quốc tế định đưa Trung Quốc hội nhập vào hệ thống và như vậy, bỏ qua các chính sách yếu kém của nước này, đã chấm dứt với những vụ việc ồn ào trong năm 2008.
Các nước từ nay đều muốn xuất khẩu nhiều hơn và, trong thời thịnh hành chủ nghĩa bảo hộ và thương mại có điều tiết, Trung Quốc sẽ không có khả năng dùng xuất khẩu làm cơ sở để vươn tới sự thịnh vượng như họ đã làm trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào cuối những năm 1990. Trung Quốc phụ thuộc vào thương mại quốc tế nhiều hơn so với gần như tất cả các nước khác. Căng thẳng thương mại hay suy giảm về nhu cầu trên thế giới sẽ khiến Trung Quốc bị thiệt hại nhiều hơn các nước khác. Như vậy, Trung Quốc có thể sẽ trở thành nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng trong khu vực đồng euro.
Thứ ba, trong kỷ nguyên cải cách, nếu Trung Quốc tận dụng được một trong những bước phát triển dân số mạnh mẽ nhất thì sắp tới sẽ phải chịu một trong những bước thụt lùi tệ hại nhất. Các nhà dân số học Trung Quốc cũng như nước ngoài dự báo nhân lực của nước này sẽ chững lại yào năm 2013, có thể vào năm 2014, nhưng hệ quả của tình hình này đã bắt đầu xuất hiện: tiền lương tăng và xu hướng này rốt cuộc sẽ làm xói mòn tính cạnh tranh của các nhà máy Trung Quốc. Điều nghịch lý là ở Trung Quốc không có nhiều người có khả năng chuyển ra khỏi thành phố, vào làm việc ở nhà máy và giúp nền kinh tế vận hành. Dân số có thể không phải là định mệnh, song đang dựng lên rào cản đối với tăng trưởng.
Những chỉ so xấu
Không những nền kinh tế Trung Quốc không còn được hưởng ba tình thế thuận lợi nói trên nữa, mà còn phải chữa chạy các căn bệnh khác (lạm phát và bong bóng cổ phiếu) xuất hiện sau khi Bắc Kinh tung ra kế hoạch tái khởi động kinh tế với quy mô quá lớn trong thời kỳ 2008-2009, kế hoạch lớn chưa từng có trên thế giới (hơn 1.000 tỷ USD chỉ trong năm 2009).
Từ cuối tháng 9/2011, các chỉ số kinh tế – chỉ mới kể đến các khâu tiêu thụ điện, nhu cầu điện, xuất khẩu tăng, bán xe hơi và giá nhà – cho thấy nền kinh tế đang chững lại và không phát triển được nữa. Tiền đã bắt đầu rời bỏ đất nước ra đi vào tháng 10/2011 và dự trữ ngoại tệ của Bắc Kinh suy giảm từ tháng 9/2011.
Kết quả là hoặc sẽ dẫn đến đổ vỡ, hoặc điều có nhiều khả năng xảy ra hơn là đi xuống trong nhiều thập kỷ, giống như Nhật Bản. Dầu sao, rối loạn kinh tế cũng sẽ trùng với rối loạn xã hội ngày càng tăng ở Trung Quốc.
Các phong trào phản kháng không những nổ ra ngày càng nhiều – với 250.000 vụ xảy ra trong năm 2010 theo con số chính thức – mà còn ngày càng bạo lực hơn, như làn sóng nổi loạn, nổi dậy, phá phách và khủng bố mới đây cho thấy.
Thay đổi xã hội diễn ra nhanh chóng
Do không có khả năng xoa dịu sự bất bình trong xã hội, Đảng Cộng sản Trung Quốc chọn cách chơi con bài đàn áp, với mức độ chưa từng thấy trong hai thập kỷ này. Cảnh sát và quân đội được triển khai tại các thành phố và làng mạc và gân như tất cả các hình thức thông tin và truyền thông đều bị kiểm soát. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu “kiểm soát” và “hạn chế” được các cư dân mạng đánh giá là những từ thông dụng nhất ở Trung Quốc trong năm 2011.
Thái độ không khoan nhượng đó cho đến lúc này giúp chế độ ổn định được, song không thể kéo dài trong một xã hội ngày càng hiện đại, trong đó phần lớn dân chúng dường như không còn tin rằng một Đảng – Nhà nước vẫn là phương thức hay nữa. Bắc Kinh rõ ràng đã thua trận chiến tư tưởng.
Thay đổi xã hội hiện đang diễn ra nhanh chóng ở Trung Quốc, vấn đề đối với Đảng cầm quyền là cho dù người dân Trung Quốc nhìn chung không có ý định làm cách mạng, song biểu hiện bất bình của xã hội có thể dẫn đến hệ quả cách mạng trong thời kỳ cực kỳ nhạy cảm này.
Năm 2012, ở đâu đó tại Trung Quốc, trong một ngôi làng nhỏ hay tại một thành phố lớn, một vụ việc nhỏ sẽ trở nên khó kiểm soát và có thể lan truyền với tốc độ cao. Dù họ ở đâu, người Trung Quốc cũng có cùng tư tưởng: không nên ngạc nhiên nếu họ có phản ứng giống nhau. Họ đã từng đồng lòng hành động – như hồi tháng 6/1989, rất lâu trước khi xuất hiện truyền thông xã hội, các cuộc biểu tình đã nổ ra trong khoảng 370 thành phố ở Trung Quốc, mà không hề có sự phối hợp nào trong cả nước.
Ví dụ Mùa xuân Arập
Hiện tượng tràn qua Bắc Phi và Trung Đông trong năm 2011 cho chúng ta thấy chính bản chất của thay đổi chính trị cũng đang thay đổi trên toàn thế giới, làm mất ổn định các chế độ chuyên chế xem ra có vẻ ổn định nhất. Trung Quốc trong bất luận trường hợp nào cũng không thoát khỏi làn sóng nổi dậy đó của dân chúng, như phản ứng tàn bạo của chính quyền trước cuộc cách mạng “hoa Nhài” ở địa phương đã cho thấy. Đảng Cộng sản Trung Quốc trước đây hưởng lợi từ toàn cầu hóa, nay đang phải gánh chịu hậu quả của quá trình đó.
Liệu Trung Quốc có vì thế mà sụp đổ không? Các chuyên gia khoa học chính trị, những người thường thích giải thích những điều không thể giải thích nổi, nói rằng để một chế độ sụp đổ cần hội tụ đầy đủ một loạt các yếu tố, và hai yếu tố quan trọng nhất là một chính phủ bị chia rẽ và một phe đối lập mạnh.
Trong khi phải đương đầu với ngày càng nhiều thách thức, Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành một cuộc chuyển giao chính trị trong nhiều năm và như vậy chuẩn bị không đầy đủ để đối mặt với các vấn đề gặp phải. Đã xuất hiện chia rẽ trong giới tinh hoa của Đảng và thái độ thờ ơ của các nhà lãnh đạo Đảng trong những tháng gần đây – trái ngược hẳn với phản ứng nhanh nhạy của họ khi đối mặt với rối loạn kinh tế năm 2008 – cho thấy tiến trình ra quyết định của Bắc Kinh đang gặp trục trặc. Như vậy, Chính phủ Trung Quốc rõ ràng đang bị chia rẽ.
Còn về sự tồn tại của phe đối lập, Liên bang Xôviết sụp đổ mà gần như không cần phải có một phe đối lập. Trong thời đại đầy biến động này, Chính phủ Trung Quốc có thể tự giải tán như các chế độ độc tài ở Tuynidi và Ai Cập. Như “cuộc cách mạng xanh” ở làng Ồ khảm, thuộc tỉnh Quảng Đông, hồi tháng 12/2011 cho thấy, dân chúng có thể nhanh chóng tổ chức lại, họ đã nhiều lần làm như vậy từ cuối những năm 1980. Trong thời của các cuộc cách mạng không cần thủ lĩnh, không còn cần thiết phải có một bộ máy chạy trơn tru mới lật đổ được một chế độ.
Cách đây không lâu, mọi thứ đều tốt đẹp với các viên quan lại ở Bắc Kinh. Nhưng lúc này không có gì còn tốt đẹp nữa./.






Nguyenlong said
Từ bây giờ đến cuối năm chắc TQ sẽ án binh bất động các chính sách ngoại giao, phải cuối năm nay và đầu năm tới khi ĐH ĐCSTQ họp bầu ra ban lãnh đạo mới thì mới rõ chính sách của họ. Có thể diều hâu, có thể bồ câu. Nhưng việc của VN là cứ phải chuẩn bị tinh thần cho phái diều hâu lên nắm quyền
SÔNG HÀN said
Tây Tạng có thể xảy ra chiến tranh, nhà chức trách đã được đặt trong tình trạng báo động cao: http://www.hantimes.com/2012/02/trung-quoc-tin-tuc-ve-tay-tang-china.html.
Bản chi tiết sẽ được cập nhật trong vòng 2h đồng hồ sau comment này!
SÔNG HÀN said
Trung Hoa luôn mơ giấc mơ siêu cương, họ ham muốn thể hiện sức mạnh của mình nhưng “Mặt trái của sức mạnh Trung Hoa chỉ còn là sự tự ti, bối rối khi họ còn đang dằn vặt về quá khứ, lấy quá khứ làm đích đến, phô những ham muốn của mình trong ngôn từ của một kẻ giàu thói cơ hội”. Trích – http://www.hantimes.com/2012/01/trung-hoa-boi-roi.html
SÔNG HÀN said
Tình hình Tây Tạng phức tạp nhiều hơn người ta nghĩ. Cập nhật từ CNN: http://www.hantimes.com/2012/02/trung-quoc-tin-tuc-ve-tay-tang-china.html
SÔNG HÀN said
RƯỚC ÁP LỰC ĐÒI TỰ CHỦ CỦA NGƯỜI TÂY TẠNG, NGÀY 10/2/2012, THỦ TƯỚNG TRUNG QUỐC ÔN GIA BẢO ĐÃ KÊU GỌI TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA TẠI TÂY TẠNG.
Đây là lần đầu tiên, một người đứng đầu chính phủ Trung quốc tỏ rõ thái độ nhân nhượng trước những đòi hỏi về quyền tự chủ của người Tạng. Thực sự là một bất ngờ.
Theo dự đoán của tôi, sau đại hội 18 ĐCS TQ, tình hình Tây Tạng mới có hướng đi dứt khoát. Nhưng dù thế nào một số quyền tự do về Tôn giáo, Văn hóa của người Tây Tạng sẽ được nới rộng.
hoa caỉ said
tôi nhìn ra thế kỷ 21như một cơn baỏ manh vô cùng thổi bay tàn dư cộng sản .sống trên dôí trá ,aỏ tưởng ,đàn áp và bốc lột bất công và đoí rách .
dân không bao giờ chấp nhận và nếu họ gioĩ sẻ chuyển qua dân chủ một cách như MIẾN ĐIỆN để sống còn .ngoaì ra chỉ một đường chết thê thảm thôi .taù và Việt nam quả thật khó khân vô cùng ,
Dân Đui Chính Hãng said
“ Đôi khi Thượng Đế vẫn cho phép những kẻ tàn ác tồn tại , để chúng sẽ là “khách mời chính” trong cái Ngày Hủy Diệt của Ngài “ – Thánh Kinh