BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

645. BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN – Phần 2

Posted by adminbasam trên 15/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BẦU C TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ bảy, ngày 14/1/2012

(phần cuối)

TTXVN (Angiê 9/1)

Cân bằng lực lượng bị phá vỡ

Theo chuyên gia Jean-Paul Yacine, quân đội Đài Loan bước vào năm 2011 với một thời kỳ căng thẳng và thay đổi không mấy dễ chịu trong khi báo động gia tăng liên quan đến việc cân bằng lực lượng xấu đi ở vùng eo biển Đài Loan có lợi cho Trung Quốc.

Trong thời gian gần đây, các nhà phân tích nói nhiều đến việc Trung Quốc giới thiệu J-20, chiếc máy bay chiến đấu tàng hình đầu tiên của nước này tại Thành Đô và phải mất ba tuần sau đó chuyến bay thử nghiệm đầu tiên mới được thực hiện. Một số thông tin gây lo ngại khác cũng nói về những tiến bộ về tàng hình của máy bay chiến đấu Trung Quốc được sao chép từ mảnh vỡ chiếc F-117 của Mỹ bị tên lửa Xécbia bắn hạ trên bầu trời Nam Tư cũ vào năm 1999. Ở Mỹ, loại máy bay F-117 được đưa vào thường trực chiến đấu từ năm 1983 và loại F-22 Raptor từ năm 2005.

Các mối lo ngại trên xuất hiện sau một loạt các đánh giá bi quan về cán cân lực lượng ở vùng eo biển Đài Loan. Đó là nguyên nhân dẫn đến một loạt những đề nghị được Đài Bắc liên tiếp đưa ra được mua trang thiết bị quân sự hiện đại của Mỹ (máy bay chiến đấu F-16, tên lửa đất đối không, máy bay trực thăng chiến đấu, tàu ngầm), trong bối cảnh nhiều chuyên gia cho rằng mất cân bằng lực lượng có khả năng gây phương hại tới nguyên trạng chính trị giữa Đài Bắc và Bắc Kinh.

Bầu không khí trở nên nặng nề hơn khi một số giới ở Mỹ nghi ngờ tính bền vững của Đạo luật quan hệ Đài Loan và khả năng can dự của Mỹ vào vùng eo biển. Chính vì vậy, quân đội Đài Loan mới đây đã hai lần trở thành tâm điểm chú ý khi được báo chí trên đảo nhắc đến trong các chủ đề liên quan đến an ninh.

Ngày 30/1/2011, tờ “China Post” đăng một bài báo phê phán rất mạnh những khiếm khuyết của lực lượng không quân vì chỉ thành công được một nửa trong vụ tập trận bắn đạn thật chống máy bay không người lái ngày 18/1/2011, trước sự chứng kiến của Tổng thống Mã Anh Cửu. Theo bài báo đó, 19 quả tên lửa đất đối không đã được phóng lên, nhưng chỉ có 6 quả bắn trúng mục tiêu. Tất cả các loại tên lửa, từ loại MICA mua của Pháp đến loại Thiên Kiếm II được sản xuất ở Đài Loan hay loại Sparrow của Mỹ, đều bắn trượt mục tiêu và rơi xuống biển chỉ 6 giây sau khi được phóng lên.

Tác giả bài báo trên thậm chí còn nhân cơ hội đó đặt lại vấn đề đối với độ tin cậy nói chung của quân đội khi viết: “Nói thăng ra, không thể giấu được ai việc quân đội Đài Loan còn lâu mới có trình độ.” Đối mặt với khoảng l600 quả tên lửa được Trung Quốc triển khai ở vùng eo biển, đúng là khả năng phòng thủ đất đối không và chống tên lửa trở thành một trong những yếu tố chủ chốt trong hệ thống phòng thủ của Đài Loan, vốn là một trong những vấn đề phức tạp nhất về phương diện kỹ thuật.

Thêm vào đó là tình huống trầm trọng thêm được nói đến trong nhiều bài báo khác với giọng điệu mỉa mai. Cuộc diễn tập không thành công diễn ra vào thời điểm Tư lệnh không quân Lôi Ngọc Kỳ vừa bị Tổng thống Mã Anh Cửu cách chức vì sử dụng lính nghĩa vụ để phục vụ đám cưới con trai mình.

Cuối cùng, tờ báo trên kêu gọi kiểm tra lại chi tiết toàn bộ và công khai công tác huấn luyện và trang thiết bị, với lý do phần lớn số tên lửa đang trực chiến đều có từ cuối những năm 1990 nên cần phải nghĩ đến chuyện thay thế. Điều đó dẫn đến những áp lực mà Đài Loan tạo ra để Mỹ không ngừng việc cung cấp vũ khí cho mình.

Giai đoạn cuối tháng 1/2011 cũng được chú ý với một loạt bài báo liên quan đến việc tướng Lo Hsien-Che bị bắt ở Đài Loan vì cung cấp bí mật quân sự cho Trung Quốc từ năm 2004. Lúc đó với tư cách là tùy viên quân sự ở Thái Lan, tướng Lo, nhân vật có chức vụ cao nhất từ trước đến nay liên đới đến một vụ gián điệp ở Đài Loan, rơi vào bẫy của một phụ nữ Trung Quốc mang hộ chiếu Ôxtrâylia và thường đi lại làm ăn giữa Thái Lan, Trung Quốc và Mỹ .

Sau khi trở lại Đài Loan vào năm 2005, tướng Lo được phân về làm việc tại Văn phòng các vấn đề quốc tế thuộc Bộ Quốc phòng, rồi được bổ nhiệm làm người đứng đầu Lực lượng thông tin của quân đội. Ông vẫn tiếp tục đi lại với người phụ nữ đó và dường như đã nhận một triệu USD trả cho những thông tin tình báo mà ông đã chuyển cho Trung Quốc.

Tin tức tình báo đó liên quan đến một dự án bán trực thăng chiến đấu Apache của Mỹ, bản thiết kế của một loạt các trạm truyền tin cũng như của mạng cáp quang ngầm thuộc hệ thống chỉ huy của quân đội được mua của hãng Lockheed Martin với giá 1,5 tỷ USD và nối với Trung tâm chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ.

Cho đến nay, vụ này tuy không gây tổn hại tới mối quan hệ giữa Đài Bắc và Oasinhtơn, nhưng gây ra một số mối lo ngại ở Mỹ về bảo đảm an ninh đối với các thông tin nhạy cảm cũng như hệ quả tiêu cực trong mối quan hệ với Bắc Kinh. Tại Đài Loan, vụ gián điệp này đã gây ra một làn sóng phản kháng trong giới nghị sĩ đối lập. Nhiều nghị sĩ trong số này đòi cách chức Bộ trưởng Quốc phòng vào thời điểm Tổng thống Mã Anh Cửu bị dư luận và Đảng Dân tiến (DPP) thúc ép phải có lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc về các vấn đề quân sự. Theo ông Ting Yu-chou, cựu Tổng thư ký Hội đồng an ninh quốc gia, có thể toàn bộ các kế hoạch tác chiến của lục quân Đài Loan cũng chịu chung số phận.

Ở cả bên này lẫn bên kia eo biển Đài Loan, các vụ gián điệp vẫn tiếp diễn kể từ năm 1949. Trung Quốc được biết đến với một lịch sử lâu đời hoạt động gián điệp công nghệ và quân sự ở các nước phương Tây và ở Đài Loan, đôi khi mua chuộc được một số nhân vật cao cấp.

Tháng 1/2009, một thành viên chính phủ của Tổng thống Mã Anh Cửu và một thư ký của một nghị sĩ bị bắt với lời cáo buộc đã chuyển thông tin mật cho Trung Quốc. Tháng 11/2010, đến lượt một viên đại tá quân đội Đài Loan mắc lưới của cơ quan phản gián Đài Loan cũng vì những lý do trên.

Trong nhiều năm liền, Đài Loan và CIA trả tiền cho hàng nghìn doanh nhân để họ cung cấp thông tin tình báo về Trung Quốc và hệ thống quân sự của nước này. Hàng trăm người trong số đó đã bị bắt quả tang và bị giam giữ bí mật ở Đại Lục cho đến nay vẫn chưa được thả.

Chẳng hạn, tháng 11/2003, khi Tổng thống Đài Loan lúc đó là Trần Thủy Biển, trong một bài diễn văn đọc trước công chúng, tố cáo Trung Quốc gia tăng số lượng tên lửa nhằm vào hòn đảo – một thông tin mà ông có được nhờ mạng lưới tình báo ở Trung Quốc. Bắc Kinh ngay lập tức đáp lại bằng cách bắt 36 “gián điệp” Đài Loan. Hai mươi tư người khác cũng chịu chung số phận trong năm 2004. Cuối năm 2008, Trung Quốc thậm chí tử hình Wo Weihan, một người Trung Hoa Đại lục bị kết tội bán bí mật quân sự cho Đài Loan.

về phương diện quân sự, giới quan sát đánh giá Đài Loan dễ bị đánh quỵ. Ngày 31/12/2010, tờ “Shankei Shimbun”, một trong 5 tờ báo tầm cỡ quốc gia của Nhật Bản, đăng một bài báo dài về mối đe dọa ngày càng tăng của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc. Tờ báo cho biết trong tháng 2/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã vượt qua eo biển Đài Loan rồi chạy dọc theo bờ biển Philíppin và đi đến tận bờ biển Sumatra mà không bị phát hiện. Trước hết, đó là mối đe dọa đối với Nhật Bản và từ đó suy ra là Đài Loan, trong bối cảnh đó, cũng là một khâu yếu trong hệ thống phát hiện chống tàu ngầm.

Chiếc tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc mang tên một đô đốc vào thế kỷ 17 đã đánh chiếm Đài Loan: đó là Thi Lang. Có thể con tàu này đóng căn cứ tại Tam Á, ở phía Nam đảo Hải Nam. Sự có mặt của một tàu chiến lớn như vậy ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông-TTXVN) không phải ngay lập tức làm đảo lộn sự cân bằng chiến lược, nhưng sẽ là một biểu tượng và một cột mốc đánh dấu ý định của Bắc Kinh gắn liền không những với những yêu sách của họ đối với biển Nam Trung Hoa mà đặc biệt với quyết tâm của họ bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền của mình đối với Đài Loan.

Việc đưa vào sử dụng chiếc tàu sân bay, mặc dù để làm chủ được phải mất vài năm nữa, sẽ đưa Trung Quốc tiến gần hơn đến khả năng bảo đảm làm chủ bầu trời trên eo biển Đài Loan vốn là điều kiện cần thiết nếu không muốn nói là đủ để tiến hành một chiến dịch quân sự chống Đài Loan.

Phân tích sự cân bằng lực lượng ở eo biển Đài Loan là một chủ đề phức tạp phải tính tới tình trạng dễ bị đánh quy của hòn đảo cũng như sự cân bằng lực lượng phát triển tất yếu có lợi cho Trung Quốc. Cũng cần tính tới những thế mạnh của hệ thống đảo đã được tăng cường đáng kể nhằm gây khó khăn cho một cuộc tấn công trực tiếp, với cái được mất và nguy cơ đáng kể cũng như những khiếm khuyết vẫn chưa được khắc phục của quân đội Đài Loan cộng với một loạt các yếu tố rủi ro.

Trong số các yếu tố này có tiến trình chính trị và tinh thân phòng thủ của người Đài Loan, khó có thể đo đếm được, hay thậm chí vị thế địa chính trị của vùng này, được đánh dấu bằng cuộc đối đầu răn đe Mỹ-Trung, những lời hứa hẹn không rõ ràng về hỗ trợ của Lầu Năm Góc đối với Đài Loan, trong bối cảnh chung đang tiến triển nhanh chóng, với đặc điểm là sự

chuẩn bị chuyển giao quyền lực của Đảng cộng sản Trung Quốc và sự phụ thuộc về kinh tế ngày càng tăng của hòn đảo này đối với Trung Quốc.

Ảo tưởng về hiệp ước hòa bình

Khi phân tích về tâm trạng khác nhau và lập trường không rõ ràng của người dân Đài Loan, quan điểm đối kháng giữa hai đảng chính ở hòn đảo này, bản chất của mối quan hệ tay ba Trung-Mỹ-Đài Loan và giữa nước nọ với nước kia… chuyên gia Jean-Paul Yacine rút ra kết luận rằng một hiệp ước hòa bình giữa Đài Bắc và Bắc Kinh là không thể.

Trong một thời gian dài, Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, tránh đưa ra bình luận về một hiệp định chính trị với Trung Quốc mà chỉ tập trung phát biểu về tiến trình xích lại gần nhau về phương diện kinh tế giữa hai bờ eo biển Đài Loan và Hiệp định khung về hợp tác kinh tế. Nhưng đến đầu tháng 11/2011, ông nói rằng việc ký một hiệp định hòa bình với Bắc Kinh trong khoảng 10 năm nữa, có thể là một trong những mục tiêu chính trị của Quốc dân đảng. Tuy nhiên, ông đặt điều kiện triển vọng đó phải nằm trong khuôn khổ một sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng, phù hợp với lợi ích của Đài Loan và đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Quốc hội.

Tuyên bố trên được Tổng thống Mã Anh Cửu đưa ra sau khi Chủ tịch Trung Quốc, Hồ cẩm Đào, kêu gọi “hai bờ eo biển ngừng đối kháng, chay chữa vết thương quá khứ và cùng nhau làm việc để đổi mới Dân tộc Trung Hoa”. Ông Hồ cẩm Đào đưa ra lời khích lệ này trước cuộc gặp gỡ giữa ông và ông Liên Chiến, Chủ tịch danh dự Quốc dân đảng, tại Hội nghị thượng đỉnh APEC diễn ra ngày 11/11/2011 tại Haoai, nơi chủ đề về một hiệp ước hòa bình cũng được đề cập đến. Việc giải quyết vấn đề Đài Loan, với chìa khóa là một hiệp ước hòa bình, trước đó đã chính thức được nêu lên trong tuyên bố chung kết thúc chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của ông Liên Chiến vào năm 2005.

Từ sau cuộc gặp trở thành một cột mốc trong mối quan hệ giữa Đài Bắc và Bắc Kinh, hai ông Hồ cẩm Đào và Liên Chiến còn gặp nhau ba lần nữa. Tại Haoai, ông Liên Chiến, người trở thành “Ông làm phúc” cho Quốc dân đảng, nhắc lại triết lý của mình về mối quan hệ giữa hai bờ eo biển: đó là triển vọng về tái thống nhất, giống như của Bắc Kinh, nhưng với thuật ngữ khác nhau về cơ bản. Ông cũng giải thích rằng phần lớn các mục tiêu được nêu trong thông cáo năm 2005 đều đã đạt được. Đó là nối lại thượng lượng, phát triển quan hệ giữa hai đảng, thiết lập khuôn khổ chung cho mối quan hệ kinh tế, tiến hành thương lượng để Đài Loan được quyền tự chủ lớn hơn trong mối quan hệ quốc tế. Nhưng vấn đề bản hiệp ước hòa bình vẫn còn để treo đó.

Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên vì trên thực tế, việc thực hiện một bản hiệp ước như vậy không có lợi do tính chất không rõ ràng của “Thỏa thuận năm 1992”, nền tảng cho việc xích lại gần nhau về phương diện chính trị giữa hai bờ eo biển. Theo thỏa thuận đó, cả Đài Loan lẫn Trung Hoa Đại lục đều là phần không thể tách rời khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, Đảng Dân tiến (DPP) bác bỏ về cơ bản quan điểm này. Đây là điều đáng chú ý vì lần đầu tiên đảng này đạt được tỷ lệ cao hơn Quốc dân đảng trong các cuộc thăm dò dư luận về cuộc bầu cử tổng thống trong tháng 1/2012 (47,3% so với 45,8%).

Cần nói rõ rằng tình trạng không rõ ràng không phải chỉ do DPP mà vì bất đồng về cơ bản giữa Quốc dân đảng và Đảng cộng sản Trung Quốc về bản chất chính trị của khái niệm một nước Trung Quốc. Quốc dân đảng muốn đó là dân chủ, nhưng triển vọng đó đến lúc này là không thể được đối với Bắc Kinh.

Dĩ nhiên là Tổng thống Mã Anh Cửu dường như đáp lại ý muốn của Bắc Kinh bỏ qua những vấn đề kinh tế và thương mại để bàn chủ đề nhạy cảm nhất về quy chế của Đài Loan. Khi bước vào vấn đề Hiệp định hòa bình, dù là rất thận trọng, trong khi cuộc bầu cử tổng thống đến gần, Tổng thống Mã Anh Cửu gặp rủi ro chính trị vì sẽ bị DPP tấn công và cáo buộc bán rẻ hòn đảo cho Trung Quốc.

Tình chất nhạy cảm của chủ đề này hơn nữa được ông Andrew Yang Thứ trưởng Quốc phòng Đài Loan, nhấn mạnh. Phát biểu ngày 9/11/2011 tại trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), ông nói rõ rằng Đài Loan chưa có lộ trình để ký hiệp ước hòa bình, nhưng việc Bắc Kinh chấm dứt đe dọa Đài Loan về quân sự sẽ là bước đi đầu tiên cần thiết. Ông nói: “Làm sao chúng ta có thể nghĩ đến một hiệp ước hòa bình khi chúng ta không hề thấy bất kỳ một hành động hòa bình nào?”

Chiến lược của Bắc Kinh đã quá rõ ràng. Đó là bỏ qua những vướng mắc về chính trị bằng cách siết chặt mối quan hệ kinh tể và thường mại đến mức sự gần gũi về buôn bán giữa hai bờ eo biển sẽ trở thành động lực bắt buộc để xích lại gần nhau về chính trị và tái thống nhất dần dần.

Không gì cho thấy Đảng cộng sản Trung Quốc sẽ không đạt được mục đích trong bối cảnh các thế hệ mới ở Đài Loan hiện tỏ ra ít nghi ngại đối với viễn cảnh xích lại gần với Trung Quốc hơn cha ông họ. Trong khi đó, mối quan tâm hàng đầu của thế hệ mới vẫn là cải thiện mức sống và giảm thất nghiệp trong giới trẻ, còn bùng nổ buôn bán giữa hai bờ eo biển có thể góp phần tạo điều kiện cho tiến trình này.

Không còn nghi ngờ gì nữa: thông điệp hòa dịu của Hồ cấm Đào, được đưa ra trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa, nhằm vào thế hệ trẻ hơn, thực dụng hơn và ít nghi ngại hơn, đồng thời là những lá phiếu cần phải giành lấy. Trong trường hợp Quốc dân đảng thắng cử, cũng phải lường đến khả năng sức ép đối với Đài Loan sẽ gia tăng để mở đối thoại chính trị, một con ngoáo ộp đối với dư luận trên hòn đảo này.

Tại cuộc gặp với ông Ngô Bá Hùng, nguyên là lãnh đạo Quốc dân đảng, ngày 6/5/2011 tại Thành Đô, ông Giả Khánh Lâm – Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc tỏ ý rất muốn Tổng thống Mã Anh Cửu tái đắc cử và kêu gọi người Đài Loan bỏ phiếu cho “một người xứng đáng để duy trì ổn định trong mối quan hệ giữa hai bờ eo biển”. Tháng 6/2011, thăm dò dư luận cho thấy có tới 60,1% số dân Đài Loan ủng hộ giữ nguyên trạng, trong đó 26,8% muốn giữ mãi mãi và 33,3% trong một thời gian nhất định (tăng 4% kể từ năm 2008 đến nay). Trái lại, tỷ lệ 23,2% số người muốn độc lập và 10% ủng hộ tái thống nhất không thay đổi từ năm 2008 đến nay. Trong số người ủng hộ Tổng thống Mã Anh Cửu, có 65,6% phản đối tái thống nhất, 25,6% ủng hộ. Các con số này lại khác đối với người Đài Loan định cư ở Trung Quốc: chỉ 50% phản đối tái thống nhất và 31,2% ủng hộ.

Vấn đề là Bắc Kinh một mặt cay đắng nhận thấy rằng tỷ lệ dân chúng ủng hộ tái thống nhất không tăng trong các cuộc thăm dò ý kiến và uy tín của ứng cử viên theo khuynh hướng đòi độc lập Thái Anh Văn lên tới mức cao nhất, mặt khác lại nghiên cứu cẩn thận các phản ứng cần đưa ra trong trường hợp Tổng thống Mã Anh Cửu thất bại.

Cho dù bạn lãnh đạo mới của DPP nói họ sẽ không ủng hộ độc lập quyết liệt như cựu Tổng thống Trần Thủy Biển, song có thể những tiến bộ đã đạt được trong Hiệp định khung có thể sẽ bị ảnh hưởng xấu. Đúng là DPP, thông qua một nhóm tư vấn được thành lập chỉ để phục vụ mục đích này, đã nghiên cứu một chiến lược mới đối với Bắc Kinh. Trong khuôn khổ đó, bà Thái giải thích rằng một khi lên nắm quyền, đảng của bà “có ý định thiết lập mối quan hệ lâu dài với Trung Quốc, với tinh thần cởi mở và thực dụng”, đồng thời “hy vọng Bắc Kinh cũng làm như vậy’’.

Vấn đề còn lại là vai trò trước đây của bà Thái trong Chính phủ của Lý Đăng Huy, cựu Tổng thống, đương nhiên khiến bà bị Bắc Kinh nghi ngại. Cũng cần nói rằng quá khứ đó cũng không trấn an được Oasinhtơn.

Trong trường hợp DPP thắng cử, khả năng xoay xở của bà Thái sẽ không nhiều, cũng như Đảng cộng sản Trung Quốc, do bị bó hẹp trong một khái niệm không thể hòa hợp được với Bắc Kinh về mối quan hệ giữa hai bờ eo biển. Chính vì vậy, giả thiết đáng tin cậy nhất có thể là làm chậm lại các cuộc thương lượng thương mại và có thể là cả tình hình căng thẳng quay trở lại.

Khi cuộc bầu cử tổng thống đang đến gần, hai ứng cử viên đều tìm cách tốt nhất và lối nói sát với vấn đề nhất giữa một bên là mối quan tâm ở trong nước đối với các vấn đề nạn thất nghiệp, tiền lương, công bằng xã hội, chênh lệch về thu nhập và các vấn đề môi trường, và bên kia là vấn đề luôn ám ảnh về bản sắc của Đài Loan đối với Bắc Kinh.

Nhưng chủ đề hiệp định hòa bình bị bó hẹp trong thế tiến thoái lưỡng nan do quan điểm của DPP, Đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc dân đảng, lại dẫn tới mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Oasinhtơn, người bảo trợ lịch sử của Đài Loan đang ngày càng dấn sâu vào một cuộc đấu tay đôi chiến lược có quy mô toàn cầu với Trung Quốc, nước hiện nay đang thể hiện rất mạnh mẽ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ở Mỹ có nhiều người đặt câu hỏi có cần phải tiếp tục bảo vệ Đài Loan trong bối cảnh chung của mối quan hệ Trung-Mỹ ngày càng chặt chẽ về cơ cấu, hay không. Một số nhà phân tích thậm chí còn cho rằng Oasinhtơn sẽ rút lui và ngừng bán vũ khí cho Đài Bắc vì đó là nguồn gốc gây ra va chạm thường xuyên với Bắc Kinh. Trong bối cảnh đó, bài viết mới đây của Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, trong số tháng 11/2011 của tạp chí “Foreign Policy” dưới đầu đề “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ” không trực tiếp giải đáp các vấn đề nảy sinh ngày càng nhiều xung quanh mối quan hệ giữa Oasinhtơn và Đài Bắc.

Bài viết khẳng định quyết tâm tăng cường sự có mặt của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương về phương thức và can dự với cường độ như đối với châu Âu trong thế kỷ 20, đồng thời điểm qua các vấn đề chiến lược lớn trong vùng (quyền tự do hàng hải ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông- TTXVN), chủ quyền trên các hòn đảo nhỏ, Hàn Quốc) và nhấn mạnh đến tính bền vững của mối quan hệ liên minh giữa Mỹ và Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philíppin và Ôxtrâylia.

Ngoại trưởng Mỹ cũng hé lộ ý định của Nhà Trắng ưu tiên mối quan hệ với Ấn Độ và Inđônêxia, một vấn đề có thể bị Bắc Kinh nhìn với con mắt nghi ngờ, đồng thời mô tả Trung Quốc như một đối tác không thể bỏ qua, nhưng cần phải có tiến bộ hơn nữa về sự minh bạch trong quân sự, trong lĩnh vực tỷ giá đồng nhân dân tệ, mở cửa thị trường và nhân quyền.

Ngày 12/11/2011, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, công bố dự án về một hiệp định trao đổi hàng hóa tự do trong khu vực Thái Bình Dương đã được ký năm 2005. Hiệp định này lúc đầu bao gồm 9 nước và có tầm quan trọng cao do được cả Nhật Bản bảo trợ. Canada và Mêhicô cũng muốn được tham gia hiệp định này.

Trung Quốc trái lại phải đứng ngoài. Nước này cũng phản ứng mạnh mẽ trước một tuyên bố của Tổng thống Mỹ cáo buộc họ không tuân thủ luật chơi thương mại quốc tế. Theo Bắc Kinh, họ không tuân thủ vì không được tham khảo ý kiến về vấn đề đó.

Tiếp đó, ngày 16/11/2011, trong chuyến thăm khu vực Thái Bình Dương và các nước ASEAN nhân Hội nghị thượng đỉnh APEC, Tổng thống Obama công bố kế hoạch thiết lập căn cứ quân sự của Mỹ ở Ôxtrâylia. Việc triển khai không diễn ra trên quy mô lớn, nhưng là biểu tượng cho ý đồ của Mỹ lưu ý đến sự trỗi dậy của cường quốc Trung Quốc trong vùng. Ông Obama nói: “Chúng tôi đến đây để ở lại lâu dài (…) và đó là ưu tiên hàng đầu của tôi.”

Việc Mỹ mở căn cứ quân sự ở Ôxtrâylia cũng khiến người ta nghĩ đến Canbơrơ bị giằng xé giữa phát triển quan hệ với Trung Quốc, khách hàng chính của các công ty mỏ nước này, và tham gia liên minh nhằm kiểm soát nguy cơ nảy sinh từ những yêu sách của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa.

Cùng ngày hôm đó, Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, đến thăm Philíppin để tái khẳng định mối quan hệ quân sự với nước này sau những vụ tranh cãi với Bắc Kinh về quần đảo Trường Sa trong năm 2011. Trên boong tuần dương hạm USS Fitzgerald, bà Clinton nhắc lại những gì bà đã viết trên tạp chí “Foreign Policy”: “Chúng tôi muốn bảo đảm với các bạn rằng năng lực phòng thủ chung của chúng ta có khả năng răn đe mọi hành động khiêu khích của bất kỳ ai.”

Bà ám chỉ các cuộc tranh cãi với Bắc Kinh khi nhắc đến “biển Tây Philíppin”, một cách nói chỉ Biển Đông được chính quyền nước này sử dụng trong thời gian gần đây và khiến Bắc Kinh tức giận.

Trái lại, bài viết này không hề nói gì đến Đài Loan. Một số người cho đó là dấu hiệu báo trước từ bỏ cam kết, song có lẽ đúng hơn là ý tứ kín đáo đó cho thấy ý muốn không can thiệp vào cuộc bầu cử sắp tới ở Đài Loan. Quả thực là chỉ có thể nhận thấy sự cách biệt giữa việc không nói gì về Đài Loan và giọng văn chung dè chừng Trung Quốc, đồng thời tập trung nói một cách có hệ thống đến tất cả các bất đồng, như các nhà lãnh đạo Mỹ vẫn thường nói trong thời gian gần đây trong phần lớn tuyên bố của họ.

Toàn bộ các vấn đề chiến lược được đề cập đến trong bài viết đó quả thực, dù theo cách gián tiếp, khiến người ta nghĩ ngay đến tranh chấp với Trung Quốc và khẳng định khả năng của Mỹ và đồng minh “phản ứng trước tất cả các sự khiêu khích của bất kỳ ai’’. Tháng 9/2011, bà Clinton nhắc lại rằng Nhà Trắng gắn bó với Đạo luật quan hệ Đài Loan và quyết tâm của Mỹ tiếp tục tăng cường năng lực phòng thủ của hòn đảo.

Dĩ nhiên là Mỹ đang ở trong thế tiến thoái lưỡng nan trong mối quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt về Đài Loan, với hệ thống dân chủ mà Oasinhtơn là người bảo trợ. Đối với Oasinhtơn cũng như Bắc Kinh, sức mạnh của các cuộc tranh chấp chỉ có thể cân bằng được với tổng các mối quan hệ không thể bỏ qua, kể cả trong lĩnh vực quân sự hay an ninh. Chính vì vậy bài viết của Ngoại trưởng Clinton xác định mối quan hệ với Bắc Kinh là mối quan hệ đặt ra “các thách thức lớn nhất” đối với Nhà Trắng.

Trong bối cảnh việc tôn trọng cam kết là điều chủ chốt đối với độ tin cậy của Oasinhtơn ở trong vùng, vấn đề còn lại là giả thiết dễ xảy ra nhất về mối quan hệ tay ba đầy sóng gió là Lầu Năm Góc sẽ bị buộc phải bảo đảm nguyên trạng mong manh như Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, đã nói khi nhậm chức năm 2008. Đó là: Đài Bắc không tuyên bố độc lập, Bắc Kinh không xâm lược quân sự.

Như vậy có thể dự đoán các phi vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan vần sẽ tiếp diễn, cho dù các loại vũ khí tân tiến nhất như phiên bản mới nhất của loại tiêm kích F-16 – mà Đài Bắc phải từ bỏ và đành bằng lòng với việc nâng cấp số máy bay cũ – làm dấy lên những lời phản đối quyết liệt.

Còn lại là việc giữa người Đài Loan và người Trung Quốc, số phận của họ bị chia xẻ giữa một bên là sự gần gũi về địa lý, văn hóa và lịch sử, cũng như sức nặng của tiến trình xích lại gần nhau về kinh tế và nỗi ám ảnh tái thống nhất; và bên kia là thái độ ngờ vực đối với chế độ độc tài cộng sản, những kỷ niệm cay đắng của thời kỳ Quốc dân đảng độc quyền đô hộ và, có thể, nguyện vọng của một dân tộc muốn có tự do và bản sắc dân chủ đã được khẳng định qua nhiều thập kỷ.

Năm 2012 có tính cốt tử

Trung tuần tháng 10/2011, Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, nói đến khả năng ký một hiệp định hòa bình giữa Bắc Kinh và Đài Bắc trong thập kỷ tới. Tuy nhiên, theo tạp chí “Phát thanh” của Pháp, vấn đề tái thống nhất trái lại vẫn “dậm chân tại chỗ”.

Ông Hồ Cẩm Đào, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc, gặp ông Liên Chiến, chủ tịch danh dự Quốc dân đảng, bên lề cuộc họp lần thứ 19 các nhà lãnh đạo Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào trung tuần tháng 11/2011 tại Haoai. Nhân dịp này, ông Hồ Cẩm Đào đã khẳng định lại “Thỏa thuận năm 1992” là cơ sở phát triển hòa bình mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan.

Theo ông Hồ cẩm Đào, nhờ nỗ lực chung, thay đổi tích cực và quan trọng đã diễn ra trong 3 năm trở lại đây ở vùng eo biển Đài Loan và viễn cảnh mới để phát triển hòa bình mối quan hệ giữa hai bên là có thế. Ông Hồ Cẩm Đào đánh giá điều đó được khẳng định qua sự phát triển hòa bình mối quan hệ giữa Trung Hoa đại lục và Đài Loan, phù hợp với nguyện vọng của dân chúng ở hai bờ eo biển và phục vụ lợi ích của tất cả người Trung Quốc. Nhân dịp này, ông Hồ cẩm Đào cũng kêu gọi hai bên duy trì định hướng phát triển hòa bình mối quan hệ song phương, củng cố cơ sở chính trị chung chống lại “nền độc lập của Đài Loan” và công nhận “Thỏa thuận năm 1992” để duy trì nhịp độ phát triển quan hệ.

“Thỏa thuận năm 1992”, được thông qua bởi các nhóm phi chính phủ của Bắc Kinh và Đài Bắc với sự chấp thuận của chính phủ hai bên, theo ông Hồ Cẩm Đào, là một thực tế khách quan. Ông nói thêm rằng cốt lõí của thỏa thuận đó là tìm kiểm những điểm chung, nhưng vẫn duy trì sự khác biệt. Theo tạp chí “Phát thanh”, điều đó cho thấy thái độ thực dụng của cả Trung Quốc lẫn Đài Loan nhằm giải quyết các vấn đề chính trị.

Tuy nhiên, ông Hồ cẩm Đào coi việc công nhận “Thỏa thuận năm 1992” là một điều kiện “trước tiên” và “cần thiết” để tiến hành mọi cuộc đối thoại giữa hai bờ eo biển, đồng thời là một “cơ sở quan trọng” để phát triển hòa bình quan hệ giữa hai bên. ông Hồ cẩm Đào cho rằng với mục đích duy trì ôn định ở eo biển Đài Loan và bảo đảm cuộc sống của dân chúng ở cả hai bên, Bắc Kinh và Đài Bắc cần tiếp tục dựa vào “Thỏa thuận năm 1992”, tăng cường tin tưởng lẫn nhau về chính trị và không ngừng tìm kiếm triển vọng mới.

Đáp lại, chủ tịch danh dự Quốc dân đảng, Liên Chiến, nhấn mạnh rằng căn cứ vào “Thỏa thuận năm 1992” là điều cơ bản để phát triển quan hệ giữa hai bờ. Ông Liên Chiến mong muốn cả hai bên tìm kiếm những điểm chung đồng thời giữ nguyên những khác biệt để làm sao đóng góp tích cực hơn nữa vào cuộc sống của dân chúng hai bên bờ. Ông nói rằng mối quan hệ chính trị phát triển một cách hòa bình giữa hai bờ eo biển là điều “đáng khích lệ”, cũng như trao đổi thương mại giữa hai bên và tác động tương hỗ về xã hội trong những năm gần đây.

Trong khi ông Hồ cẩm Đào nói đến vấn đề tái thống nhất tại lễ kỷ niệm cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911, ở Đài Loan, dường như Đài Bắc không muốn gì hơn ngoài chung sống hòa bình. Ngày 9/10/2011, ông Hồ Cẩm Đào, Chủ tịch Trung Quốc, lại một lần nữa kêu gọi hai bên tái thống nhất bằng biện pháp hòa bình. Ngay ngày hôm sau, Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, đẳ bác bỏ đề nghị này. Ông khẳng định Đài Bắc “duy trì nguyên trạng” và kêu gọi Bắc Kinh chấp nhận sự tồn tại của Đài Loan. Lời lẽ của ông Mã Anh Cửu, theo chuyên gia phân tích Rémi Carayol, là “có mức độ” và “phù hợp” với bầu không khí hòa dịu về ngoại giao và sự xích lại gần nhau về kinh tế nhận thấy được từ khi ông lên làm tổng thống.

Tuy nhiên, trong một động thái được tạp chí “Phát thanh” nhìn nhận như một nỗ lực nhằm thay thế tiến trình tái thống nhất mà Bắc Kinh mong muốn nhưng đối với Đài Bắc là không khả thi, bằng một giải pháp khả thi hơn Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, hé mở cánh cửa để chính thức hóa bầu không khí ấm dần lên giữa Bắc Kinh và Đài Bắc.

Tổng thống Mã Anh Cửu nói rõ rằng mối quan hệ giữa hai bờ eo biển được cải thiện dần dần và thường xuyên và hai bên dự định nghiên cứu một cách thận trọng khả năng ký một hiệp ước hòa bình trong 10 năm tới. Hai điều kiện được ông cho là cần thiết để ký một hiệp ước như vậy: ủng hộ dự án xã hội của Đài Loan và rút toàn bộ số tên lửa (khoảng 1.600

tên lửa) nhằm vào hòn đảo này.

Về phương diện chính trị, bị chia cắt sau khi phái cộng sản giành chiến thắng năn 1949 và phái dân tộc chủ nghĩa bỏ chạy lên đảo Formosa, Trung Quốc và Đài Loan đều tổ chức kỷ niệm cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 đánh dấu sự ra đời của Trung Hoa Dân quốc. Mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc đặc biệt căng thẳng từ năm 2000 đến năm 2008, là hai nhiệm kỳ tổng thống của ông Trần Thủy Biển, thuộc Đảng Dân tiến có khuynh hướng đòi độc lập. Mối quan hệ giữa hai bờ eo biển ấm dần lên từ năm 2008 với việc ông Mã Anh Cửu, thuộc Quốc dân đảng, lên làm tổng thống.

Trong dịp lễ kỷ niệm 100 năm cuộc Cách mạng Tân Hợi, Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, đá quả bóng sang chân ông Hồ cẩm Đào về vấn đề tái thống nhất, khi ông kêu gọi Trung Quốc tiến hành dân chủ hóa theo lời dạy của Tôn Dật Tiên, người ở Đài Loan được coi là cha đẻ của dân tộc, còn ở Trung Quốc là người anh hùng của cuộc cách mạng đầu tiên.

Lễ kỷ niệm ngày “Song Thập” cũng là dịp để Bắc Kinh và Đài Bắc điểm lại số đồng minh của mình. Châu Phi là một trong số những đối tượng chứng kiến thực trạng mối quan hệ đó.

Trong một thơi gian dài, cả Trung Quốc lẫn Đài Loan tranh giành nhau ở châu lục này. Bắt đầu từ những năm 1980, Bắc Kinh đòi hỏi các đối tác của mình phải công nhận nguyên tắc một nước Trung Quốc. Đầu những năm 1990, Đài Loan cưỡng lại ý định đó và giành thêm được sự ủng hộ của 8 nước, trong đó có Buốckina Phaxô vào năm 1994. Nhưng năm này qua năm khác, hòn đảo nhỏ bé này (với 23 triệu dân) mất đi nhiều nước châu Phi, như Lêxôthô (năm 1994), Nam Phi và Nigiê (năm 1996), Cộng hòa Trung Phi và Ghinê Bítxao (năm 1998), Xênêgan, Sát và Malauy (năm 2005 và2006)…

Từ 3 năm nay, hai người anh em châu Á thù địch nhau này nỗ lực bình thường hóa quan hệ song phương. Đại sứ Đài Loan tại Buốckina Phaxô, Trương Minh Trung, cho biết Bắc Kinh “không còn tìm cách chinh phục các đồng minh” của Đài Loan nữa, và Đài Bắc cũng làm như vậy. Nhưng thực tế là số đồng minh của Đài Loan giờ không còn nhiều. Hiện chỉ có 23 nước trên thể giới công nhận Đài Loan, trong đó có 4 nước ở châu Phi. Ngoài Buốckina Phaxô, còn lại là những nước nhỏ: Dămbia (1,7 triệu dân), Xoadilen (1,12 triệu dân) và Xaotômê và Prinxpê (212.000 dân).

Tuy nhỏ, song các nước này vẫn được Đài Loan chiều chuộng. Năm 2008, viện trợ Nhà nước cho phát triển chỉ chiếm 0,11% Tổng sản phẩm quốc nội của Đài Loan, tương đương với 430 triệu USD, song hợp tác với Đài Bắc, chủ yếu về hạ tầng cơ sở, được các nước này đánh giá cao. Một chuyên gia về phát triển thừa nhận cơ chế hợp tác của Đài Loan rất linh hoạt, cụ thể và không “ăn người” như viện trợ của Trung Quốc.

Hoạt động của Đài Loan thể hiện rõ nhất ở Buốckina Phaxô, nước tiếp nhận 18,5 triệu USD/năm viện trợ. Với 16 triệu dân và ảnh hưởng đối với toàn vùng Tây Phi, ai cũng biết nước này là rất quý giá đối với Đài Loan. Tổng thống Blaise Compaoré là khách danh dự tại lễ kỷ niệm Quốc khánh Đài Loan tháng 10/2011. Đại sứ Đài Loan tại Buốckina Phaxô, Trương Minh Trung, cho biết đối với Đài Bắc, nước này là một biểu tượng vì là nước đông dân nhất và đứng thứ hai về diện tích tại châu Phi. Nhưng chuyên gia Rémi Carayol đặt câu hỏi trường hợp ngoại lệ này có thể tồn tại được đến bao giờ?

Theo tạp chí “Phát thanh”, năm 2012 sẽ là năm cốt tử trong sự phát triển mối quan hệ giữa Trung Hoa Đại lục và “tỉnh nổi loạn” của nước này, bởi một cuộc chuyển tiếp chính trị sẽ diễn ra trên hòn đảo – với sự ra đi của cả Chủ tịch Hồ Cẩm Đào lẫn Thủ tướng Ôn Gia Bảo ở Trung Quốc – trong khi ở Đài Loan, cuộc bầu cử tổng thống có thể sẽ đưa bà chủ tịch Đảng Dân tiến, Thái Anh Văn, trở lại cầm quyền./.

Một phản hồi tới “645. BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN – Phần 2”

  1. Ta dung said

    TQ La noi chuyen san xuat hang nhai hang gia tren the gioi. Co gi dang hoan nghenh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: