BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

644. BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN – Phần 1

Posted by adminbasam trên 14/01/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BU C TNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 13/1/2012

TTXVN (Angiê 9/1)

Hy vọng và mơ hồ

Ngày 10/10/2010, Tổng thống Đài Loan, Mã Anh Cửu, đánh dấu ngày “Song Thập”, ngày Quốc khánh Đài Loan, bằng một bài diễn văn trong đó ông tập trung vào ba vấn đề: cải cách ở trong nước, mối quan hệ quốc tế của Đài Bắc và tiến trình xích lại gần với Trung Quốc. Như chuyên gia Jean-Paul Yacine phân tích trên tạp chí “Tin Trung Hoa” (Pháp), những vấn đề đó tuy được nêu lên cách đây hơn một năm, song vẫn luôn mang tính thời sự và được quan tâm hơn cả trong bối cảnh quốc tế và cuộc bầu cử tổng thống diễn ra trên hòn đảo vào ngày 14/1/2012.

Tổng thống Mã Anh Cửu nhiều lần nhấn mạnh đến việc cải thiện tình hình kinh tế, kiểm soát nạn thất nghiệp, tạo việc làm và phục hồi tăng trưởng. Ông đánh giá Đài Loan là một trường hợp ngoại lệ với hai sự thần kỳ giúp hòn đảo trở thành một xã hội vừa thịnh vượng vừa dân chủ, một hình mẫu cho thế giới Trung Hoa. Đây là một cách nói ám chỉ sự khác biệt về chế độ chính trị ở hai bờ eo biển Đài Loan. Ồng dành nhiều thời gian để nói về các vấn đề xã hội, hứa hẹn sẽ giảm khoảng cách phát triển và giúp những người nghèo nhất, kể cả việc học hành của con cái họ. Tổng thống Mã Anh Cửu cũng nêu lên vấn đề bảo vệ môi trường, đấu tranh chống tham nhũng và tội phạm.

Về vấn đề quan hệ quốc tế của Đài Loan, Tổng thống Mã Anh Cửu chủ trương áp dụng một chính sách thực dụng. Do Bắc Kinh gây sức ép về chính trị và tài chính đối với. tất cả các, nước trên thế giới nên mối quan hệ ngoại giao chính thức của Đài Bắc rất hạn chế. Từ khi sự hòa dịu trở lại trong mối quan hệ với Trung Quốc, Đài Loan lại có đại diện ở Tổ chức y tế thế giới và Tổ chức thương mại thế giới, mối quan hệ với Nhật Bản được thắt chặt trong khi lòng tin trở lại giữa Đài Bắc và Oasinhtơn, được đánh dấu bằng việc nối lại các hợp đồng mua bán trang thiết bị quân sự lớn.

Đối với người dân Đài Loan, cụ thể là cử tri, quan trọng hơn cả là chính sách của Chính quyền Đài Bắc trong việc xích lại gần Bắc Kinh trong bối cảnh sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự của Trung Quốc cũng như lợi ích đan xen của nước này và Mỹ khiến Đài Bắc đứng trước những thử thách mới. Hiệp định khung về hợp tác kinh tế ký với Trung Quốc vào tháng 6/2010, được Quốc hội Đài Loan phê chuẩn ngày 18/8/2010 và có hiệu lực vào ngày 12/12/2010. Bước tiến đó đáp ứng sự cần thiết có tính sống còn đối với Đài Loan vì trong một thế giới phát triển nhanh chóng, hòn đảo này có nguy cơ bị gạt ra ngoài lề ở châu Á trong khi các nước đối thủ của Đài Loan trong ASEAN từ tháng 1/2010 đã được hưởng quyền tiếp cận ưu đãi thị trường Trung Quốc.

Hiệp định khung về hợp tác kinh tế là sự kiện có ý nghĩa nhất trong mối quan hệ giữa hai bờ eo biển kể từ năm 1949 đến nay. Ngày 2/1/2011, Đài Loan và Trung Quốc đã hạ mức thuế quan đối với 800 mặt hàng. Trung Quốc tỏ ra nỗ lực hơn khi áp dụng giảm thuế đối với 557 mặt hàng các loại của Đài Loan, về phần mình, Đài Loan giảm thuế đối với 267 mặt hàng của Trung Quốc xuất sang. Hiệp định này cũng bao gồm một số điều khoản liên quan đến các lĩnh vực dịch vụ và ngân hàng, và dự kiến giảm dần trong vòng 3 năm tùy từng lĩnh vực. Phía Trung Quốc thông báo sẽ mở cửa 6 lĩnh vực dịch vụ cho các công ty Đài Loan và các cuộc thương lượng vẫn tiếp tục để phía Đài Loan mở cửa đối ứng. Đài Bắc hy vọng vào những triển vọng khả quan tạo 60.000 việc làm và đạt 180 tỷ đôla Đài Loan (khoảng 5 tỷ đôla Mỹ) trong trao đổi buôn bán. Nhưng tất cả các chuyên gia đều thống nhất nói rằng sau khi niềm phấn khởi ban đầu qua đi, việc thực hiện 15 hiệp định đã được ký kết và việc thương lượng các hiệp định tiếp theo sẽ gây ra căng thẳng ngày càng sâu sắc.

Mặt khác, theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận được kênh truyền hình TVBC gần gũi với Quốc dân đảng công bố, chỉ có 39% số người được hỏi ý kiến tin tưởng vào chính phủ sẽ bảo vệ lợi ích của Đài Loan trong bối cảnh Hiệp định khung và tiến trình xích lại gần Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế. Trong khi đó, số người không tin và tỷ lệ người cho rằng chính sách của Tổng thống Mã Anh Cửu thiên về có lợi cho Trung Quốc, đều lên tới 53%.

Sau cuộc thương lượng bất thành với Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực y tế, ông Trần Vân Lâm, Chủ tịch (của phía Trung Quốc) Hiệp hội quan hệ hai hờ eo biển và là người thiết kế hiệp định khung về phía Trung Quốc, tuyên bố ở Đài Loan rằng trong tương lai, những trở ngại và khó khăn chắc chắn sẽ cản trở các tiến bộ đã đạt được trong mối quan hệ song phương. Cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đều vấp phải việc bảo vệ đầu tư của mình. Phía Đài Loan đòi phải có khả năng cho phép một nước thứ ba can thiệp trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Đối với Bắc Kinh, khả năng đó là không thể chấp nhận được vì cho đó là một cách Đài Loan đi đường vòng để nâng tầm quy chế chính trị của mình.

Theo Tổng thống Mã Anh Cửu, ở Đài Loan có tự do và dân chủ. Ông tỏ ý tin tưởng và lạc quan khi so sánh lịch sử đầy thăng trầm của Đại Lục với lịch sử êm đềm của Đài Loan. Ông nói: “Lịch sử của Cộng hoa Nhân dân Trung Hoa mở ra trên nền các cuộc nổi dậy của xã hội, nhưng dân tộc Đài Loan làm được thành công trong hòa bình”.

Tuy nhiên, tại hòn đảo này, điều không ai nghi ngờ là không phải tất cả người dân đều lạc quan như vậy. Trong khi Trung Quốc cho phép 4 ngân hàng của Đài Loan hoạt động ở Đại Lục sau nhiều năm chờ đợi, bầu không khí bao trùm vẫn là thiếu tin tưởng. Một cảm giác trái ngược với sự phức tạp trong quan hệ giữa hai bờ eo biển, trong đó buôn bán và chính trị quyện chặt vào nhau.

Các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ Đài Loan tìm kiếm cơ hội làm ăn và mở rộng buôn bán trên thị trường Trung Quốc, một thị trường trở thành nơi bắt buộc phải qua và thường là một trong những niềm hy vọng tăng trưởng duy nhất của hòn đảo. Bắc Kinh nhìn xa hơn và đã thoáng nhận ra những dấu hiệu mong manh để tái thống nhất, từ đó chơi con bài thường xuyên kết hợp ve vãn bằng thương mại với các ý định khác nhằm mục đích đưa trao đổi buôn bán trở lại lĩnh vực chính trị.

Những người tỏ ra nghi ngờ nhất đang chờ đợi những dấu hiệu rạn nứt đầu tiên trong mối quan hệ giữa hai bờ eo biển khi Bắc Kinh tận dụng cam kết không thể đảo ngược được của Đài Bắc đối với Trung Quốc, nước trở thành mục tiêu hàng đầu đối với đồng vốn và xuất khẩu của Đài Loan, và bắt đầu gây sức ép đối với các nhà đầu tư vào Đài Loan và công việc làm ăn của họ để thúc đẩy thương lượng nhằm tái thống nhất. Tất cả những hành động đó diễn ra trong bối cảnh sức hấp dẫn kinh tế không thể cưỡng được của Đại Lục bị suy giảm trước những cảm giác nghi ngại nặng nề và kéo dài nảy sinh sau khi xảy ra các vụ cãi vã vào năm 2010 giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận được công bố ngày 13/9/2010 có tới 66% người dân Đài Loan ủng hộ giữ nguyên trạng và 16% (tăng 4% so với năm 2000) muốn có độc lập trong khi chỉ có 5% muốn tái thống nhất (giảm 4% từ năm 2000 trở lại đây). Nếu họ được lựa chọn (nghĩa là nếu Trung Quốc chấm dứt đe dọa về quân sự), 68% số dân Đài Loan có thể ngay lập tức, ủng hộ quy chế độc lập, 18% muốn tái thống nhất 14% không có ý kiến gì. Mặt khác, 43% số người Đài Loan cho mình là người Đài Loan, 50% cho mình vừa là người Đài Loan vừa là người Trung Quốc và chỉ có 3% cho mình là người Trung Quốc. Ở một khía cạnh khác 54% có ý kiến tiêu cực về chính phủ ở Bắc Kinh và 87% từ chối đến định cư ở Trung Quốc, trong khi 68% không có ý định lập nghiệp ở đó hay đầu tư vào đó.           

Tuy nhiên, vụ 14 kiều dân Đài Loan và 10 người Trung Quốc hôi tháng 2/2010 bị Bắc Kinh thuê máy bay đưa từ Philíppin về Trung Quốc dưới sự giám sát của Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila, đã đẩy Trung Quốc, Đài Loan và Philíppin vào một tình thế khó xử về ngoại giao. Số người này bị bắt vì đã xâm phạm lợi ích của Trung Quôc ở Philíppin (gian lận điện tử trên quy mô lớn, bắt cóc).

Đài Bắc tỏ ra quan ngại về vụ này và đã triệu hồi đại diện của mình tại Philíppin về để tham khảo ý kiến. Tình hình càng đáng ngại hơn khi câu trả lời đầu tiên của Chính phủ Philíppin là đưa ra “chính sách một nước Trung Quốc” để giải thích quyết định của mình thuận theo yêu cầu của Trung Quốc Còn Bắc Kinh yêu cầu dẫn độ số tội phạm nói trên mà họ coi là “công dân Trung Quốc”.

Báo chí Đài Loan làm ầm lên vì vụ này, phê phán cả phương pháp của Đảng cộng sản Trung Quốc lẫn các nhà ngoại giao Đài Loan đã thiếu tế nhị đối với Philíppin và cho đó có thể là nguyên nhân dẫn đến vụ việc này. Còn Chính phủ Philíppin bị cáo buộc nhân nhượng quá mức đối với yêu cầu của Bắc Kinh.

Tổng thống Mã Anh Cửu từng khẳng định mọi việc mở rộng thỏa thuận với Bắc Kinh sẽ phải được Quốc hội chấp thuận trong khi Đài Bắc duy trì chính sách “Ba bác bỏ”: bác bỏ độc lập, bác bỏ tái thống nhất và bác bỏ sử dụng vũ lực.  Đài Bắc tỏ ý hoan nghênh các đề nghị của Trung Quốc được Thủ tướng Ôn Gia Bảo nêu ra trước đó, theo đó Bắc Kinh rút bớt một số tên lửa nhằm vào Đài Loan, và nhắc lại rằng “Thỏa thuận năm 1992” là cơ sở cho mối quan hệ không còn sóng gió. Song không phải vì thế mà ông không nhấn mạnh đến hai điều cần thiết là duy trì một hệ thống phòng thủ hữu hiệu và mua của Mỹ trang thiết bị quân sự phòng thủ mà Đài Loan không có khả năng chế tạo.

Ông Charles Raymond Burghard, Giám đốc Viện Mỹ tại Đài Loan cơ quan đóng vai trò đại sứ quán không chính thức, cuối năm 2010 đã lên tiêng trấn an các đối tác Đài Loan. Ông nhắc lại rằng Oasinhtơn nghiêm túc nghiên cứu việc bán máy bay F-16 cho Đài Bắc mặc dù Trung Quốc gây sức ép rất mạnh. Cùng thời gian đó, người phát ngôn lực lượng không quân Đài Loan thông báo Chính quyền Đài Bắc đã có kế hoạch tài chính để nâng cấp số máy bay F-16 A/B mua trong những năm 1990. Nhưng ở Đài Loan nhiêu người sợ rằng hình bóng của Trung Quốc và ý muốn của Nhà Trắng hạn chế bất đồng với Bắc Kinh là trở ngại lớn đối với việc thay thế số F-16 già cỗi.

Đảng Dân tiến (DPP) của ứng cử viên tổng thống Thái Anh Văn tỏ ra mềm dẻo hơn trong lập trường của mình. Bà Thái Anh Văn thông báo nếu trở lại nắm quyền, đảng của bà sẽ tiếp tục chính sách đối với Trung Quốc của Quốc dân đảng và nói thêm rằng mọi sửa đổi các hiệp định phải được Quốc hội thông qua. Bà cũng khẳng định DPP sẽ không tổ chức trưng Cầu, dân ý để thúc đẩy việc xem xét lại các hiệp định đã được ký với Bắc Kinh mà trái lại, sẽ ưu tiên ổn định mối quan hệ giữa hai bờ eo biển. Trong thời gian gần đây, nhiều lần bà khẳng định DPP sẵn sàng phát triển quan hệ với Trung Quốc mà không đặt điều kiện tiên quyết, dù biết việc đó có nguy cơ không làm hài lòng những người ủng hộ mình trong phái vẫn đòi độc lập cho hòn đảo. Điều chỉnh chính trị đánh dấu bước phát triển rõ nét trong chiến lược của DPP so với chiến lược của thời kỳ Trần Thủy Biển và xuất phát từ nhận thức của ban tham mưu đảng này cho rằng một chính sách cực đoan chống Trung Quốc sẽ không bao giờ nhận được sự đồng tình của đa số cử tri Đài Loan.

Trung Quốc và Đài Loan hồi cuối năm 2010 đã tổ chức diễn tập cứu nạn chung trên biển với sự tham gia của lực lượng bảo vệ bờ biển và tàu tuần tra của Hải quân hai bên. Việc diễn tập cứu nạn diễn ra tại một vùng tàu bè và trao đổi hàng hóa không chính thức giữa Trung Quốc và Đài Loan qua lại rất nhộn nhịp, cho thấy tình hình lắng dịu ở vùng eo biển. Nhưng như vậy không có nghĩa là nghi ngại chính trị đã hoàn toàn bị loại bỏ. Đài Loan quả thực đáp lại một cách rất thận trọng những lời nhắc nhở kín đáo của Bắc Kinh tiến hành thương lượng chính trị. Lời đề nghị đó nhằm mục đích giảm số tên lửa nhằm vào hòn đảo và tiến hành trao đổi giữa hai quân đội.

Cũng cuối năm 2010, ông Dương Nghị, người phát ngôn Văn phòng các vấn đề Đài Loan ở Bắc Kinh, lại kín đáo nhắc Đài Bắc tiến hành trao đổi giữa hai quân đội. Thủ tướng Đài Loan, Ngô Đôn Nghĩa, đáp lại rằng chưa đến lúc để tiến hành kiểu tiếp xúc đó và các cuộc trao đổi vẫn sẽ chỉ tập trung vào vấn đề kinh,tế. Thái độ lưỡng lự của Đài Loan về các vấn đề luôn nhạy cảm về phương diện chính trị ở hòn đảo rõ ràng cho thấy những mơ hồ trong việc xích lại gần nhau giữa hai bờ eo biển Đài Loan.

Chính gii giữa ngã ba đưng

về phương diện chính trị, trong hai năm trở lại đây, có hai sự kiện lớn đánh dấu đời sống chính trị ở Đài Loan: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế được ký với Trung Quốc năm 2010 và cuộc bầu cử chính quyền nhân dân cấp tỉnh vào đầu tháng 12/2011. Theo đánh giá của chuyên gia phân tích Jean-Paul Yacine, kết quả bầu cử cho thấy cử tri của hòn đảo này tỏ ra rất thận trọng.

Đúng là Quốc dân đảng vẫn nắm giữ quyền kiểm soát đối với 3 (Đài Bắc, Đài Trung và Tân Bắc) trong số 5 thành phố lớn, song thắng lợi sít sao của đảng này ở Đài Trung là một hồi chuông báo động đối với Tổng thống Mã Anh Cửu. Hơn nữa vì Đảng Dân tiến (DPP) đã thành công trong việc giành được 25 ghế và thêm 400.000 phiếu để đạt được tỷ lệ chung là 79,87% sơ phiếu so với 44,54% của Quốc dân đảng.

Sau khi thành công trong việc tận dụng tình hình hòa dịu trong mối quan hệ giữa hai bờ eo biển và tái khởi động nền kinh tế, Chính quyền Đài Loan giờ đây phải trấn an cử tri về các vấn đề nhạy cảm liên quan đến chủ quyền của hòn đảo, đồng thời vẫn phải để tâm đến việc đa số người dân Đài Loan muốn giữ nguyên trạng. Tình hình căng thẳng đó nảy sinh do Đài Loan muốn duy trì bản sắc của mình và lo sợ chuyển dịch dần đến chỗ lệ thuộc về kinh tế trên thực tế (hơn 40% hàng xuất khẩu của Đài Loan hiện nay được bán sang Trang Quốc và Hồng Công), từ đó dẫn đến quá trình tái thống nhất dần dần.

Còn đối với DPP, đảng dường như đã giành lại được niềm tin của cử tri, việc đảng này chỉ thành công trong việc duy trì được vị thế ở 2/3 thành phố (Đài Nam và Cao Hùng) cho thấy rõ đảng này chưa có đủ khả năng tác động một cách có ý nghĩa đến chính sách đối với Trung Quốc của Tổng thống Mã Anh Cửu.

Tuy nhiên, bản sắc chính trị của Đài Loan đối với Trung Quốc rõ ràng lại là một trong những mối quan ngại lớn và bắt buộc đối với Tổng thống Mã Anh Cửu năm nay ra tranh cử. Chính vì vậy, ông có khuynh hướng làm chậm lại tiến trình xích lại gần với Đại Lục vì muốn tập trung vào việc xoa dịu số cử tri của phe đối lập. Đây là xu hướng thường thấy ở các vị tổng thống từ khi cơ chế phổ thông đầu phiếu được áp dụng ở Đài Loan. Quá trình trì hoãn đã diễn ra trong một thời gian dài. Đáp lại những đề nghị thúc ép của Bắc Kinh, Tổng thống Mã Anh Cửu nhấn mạnh rằng nhịp độ thực hiện các hiệp định song phương như thế là đủ và sẽ không được đẩy mạnh thêm.

Quốc dân đảng xây dựng chính sách xích lại gần Trung Quốc của mình trên cơ sở “Thỏa thuận năm 1992″. Tuy nhiên, cuối năm 2010, cựu Tổng thống Lý Đăng Huy (1988-2000), một trong những nhân vật phê phán Tổng thống Mã Anh Cửu quyết liệt nhất và cũng là biểu tượng của việc bảo vệ độc lập của Đài Loan, phủ nhận sự tồn tại của Thỏa thuận đó. Ông nói: “Cái gọi là Thỏa thuận năm 1992 gợi lại khái niệm một nước Trung Quốc, điều sẽ khiến người dân Đài Loan lo ngại. Đài Loan là một nền dân chủ và một nước có chủ quyền. Khái niệm một nước Trung Quốc chỉ có thể được nói đến với nước Trung Quốc cộng sản.”

“Thỏa thuận năm 1992″ nói đến một thỏa thuận ngầm giữa Quốc dân đảng và Đảng cộng sản Trung Quốc liên quan đến sự tồn tại của “một nước Trung Quốc”, song bản chất chính trị của nước Trung Quốc đó có thể là nguyên nhân dẫn đến việc hiểu khác nhau ở bên này hay bên kia của eo biển Đài Loan. Sau 8 năm căng thẳng dưới thời Tổng thống Trần Thủy Biển theo khuynh hướng ly khai cực đoan, việc Tổng thống Mã Anh Cửu năm 2008 nói đến Thỏa thuận này đã góp phần đáng kể trấn an Bắc Kinh, vốn sợ Đài Loan tách khỏi Trung Quốc.

Nhưng nhiều chính khách Đài Loan cũng khẳng định một thỏa thuận như vậy chưa bao giờ tồn tại. Chẳng hạn như ông Su Chi, nghị sĩ Quốc dân đảng, từng là người đứng đầu Văn phòng các vấn đề Trung Quốc, năm 2006 đã thừa nhận chính ông năm 2000 là người đưa ra khái niệm này nhằm giảm căng thẳng ở vùng eo biển. Bản thân ông Ko Chen Fu, người đứng đầu Văn phòng các vấn đề Đài Loan trong thời kỳ 1992 cũng luôn phủ nhận việc hai bên đã đạt được thỏa thuận trên. Hiện nay, dù thực hay hư, “Thỏa thuận năm 1992″ là lập luận chính trị duy nhất có khả năng duy trì bầu không khí hòa dịu ở eo biển Đài Loan, trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc, do được một bộ phận lớn trong cộng đồng quốc tế ủng hộ, sẽ không chấp nhận bất kỳ một khuôn khổ khác nào cho mối quan hệ giữa hai bờ eo biển. Trong bối cảnh đó, trào lưu ôn hòa nhất ở Trung Quốc cũng sẵn sàng chấp nhận một cách hiểu rất rộng về thỏa thuận và quyền tự trị của Đài Loan.

Cuối năm 2010, sau cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành, chủ tịch ủy ban các vấn đề Đại lục, Lại Hạnh Viên nhắc đến tính chất vô bổ của luật chống li khai theo đó Trung Quốc sẽ đáp lại bàng quân sự đối với mọi tuyên bố độc lập. Trên đà đó, bà nhắc lại những tính chất riêng biệt của hòn đảo về mặt chính trị là dân chủ, chủ quyền, an ninh, quyền tự do lựa chọn chính trị, có quyền được tham gia một cách đáng kể vào các thể chế quốc tế. Những đặc tính đó được người dân Đài Loan mong muốn bảo vệ trong tiến trình xích lại gần với Đại Lục.

Cũng trong thời gian đó, ông Su Chi, cựu Tổng thư ký Hội đồng an ninh quốc gia Đài Loan, hối thúc DPP thương lượng với Quốc dân đảng về chính sách chung đối với Trung Quốc, trước khi tiến hành thương lượng với Bắc Kinh về các vấn đề chủ quyền liên quan đến hiệp định khung (không gian hoạt động quốc tế, biện pháp quân sự để tạo lòng tin, hiệp định hòa bình).

Trong một lần phát biểu cuối năm 2010, Tổng thống Mã Anh Cửu chủ tâm nói về cuộc bầu tử tổng thống lần này. Ông nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị, một chủ đề vừa khiến Bắc Kinh tức giận vừa có khả năng trở thành vật cản đối với sự xích lại gần nhau về chính trị mà Đảng cộng sản Trung Quốc rất muốn có. Ông nói: “Trong thế kỷ 21, Trung Hoa Dân quốc sẽ là một hình mẫu dân chủ đối với thế giới Trung Hoa. Đó sẽ là một dân tộc độc lập và có chủ quyền. Không những dân tộc đó bảo vệ an ninh và nhân cách của Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ mà còn đưa ra bằng chứng cho thấy các dân tộc Trung Quốc có thể đi theo một con đường tự do và dân chủ mới.”

Tương lai chính trị của các chính khách Đài Loan như vậy bị bó hẹp bởi mối quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, người bảo trợ và cũng là bức tường thành bảo vệ cuối cùng của hòn đảo.

Cuối năm 2008, Bộ Quốc phòng Đài Loan thông báo sẽ chế tạo hàng loạt tên lửa hành trình Chichun và Chuifeng, còn không quân Đài Loan sẽ đưa vào sử dụng một chục chiếc máy bay có khả năng chống tàu ngầm P3- C Orien. Cùng thời gian đó, Oasinhtơn khẳng định quyết tâm bán cho Đài Bắc trang thiết bị quốc phòng cần thiết và hỗ trợ hòn đảo tìm kiếm quyền tự trị lớn hơn về phương diện quốc tế. Tuy nhiên, vì biết vụ việc này có khả năng gây căng thẳng trong quan hệ với Bắc Kinh nên Oasinhtơn không đáp ứng đề nghị mua máy bay tiêm kích F-16 mới mà chỉ chấp nhận nâng cấp số máy bay F-16 đã bán cho Đài Loan từ cuối những năm 1980.

Một cuộc thăm dò dư luận do Global View Research Center thực hiện cuối năm 2010 cho thấy 62,5% số người được hỏi ý kiến không tin Trung Quốc sẽ dỡ bỏ số tên lửa nhằm vào Đài Loan trước khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống ở hòn đảo này, 45,3% cho rằng Hiệp định khung về hợp tác kinh tế quan trọng đối với Đài Loan hơn là vấn đề tên lửa. Người dân Đài Loan phê phán Trung Quốc ở những điểm như làm giảm khả năng xoay xở của hòn đảo về phương diện quốc tế (77,2% số người được hỏi ý kiến), không có dân chủ và quyền tự do ngôn luận (68,4%), đe dọa bằng tên Lửa (67,6%), áp dụng luật chống ky khai (53,7%), đề nghị Đài Loan áp dụng cơ chế “Một nước hai chế độ” (47,4%).

DPP đã tiến hành soạn thảo một chính sách đối với Trung Quốc thực dụng hơn, mà bỏ qua thương lượng với Quốc dân đảng về chủ đề cốt tử liên quan đến các vấn đề chủ quyền gắn với việc thực hiện hiệp định khung. Còn Quốc dân đảng định ra giới hạn và điều kiện đối với chính sách Trung Quốc của mình. Đó là không tuyên bố độc lập, không tái thống nhất, duy trì bản sắc chính trị và chủ quyền của Đài Loan. Đảng này cũng hoạch định một chiến lược để trấn an cử tri của mình vốn bị giằng xé giữa một bên là đáp ứng về kinh tế cho việc xích lại gần nhau và bên kia là nỗi lo ngại về tiến trình tái thống nhất dần dần, trong khi chính tiến trình này lại có ưu thế không thể phủ nhận được: đó là làm yên lòng cả Bắc Kinh lẫn Oasinhtơn.

Tương lai nào cho các bên

Bà Thái Anh Văn, 55 tuổi, Chủ tịch Đảng Dân tiến (DPP) theo khuynh hướng ly khai, cựu Phó Thủ tướng dưới thời Tổng thống Trần Thủy Biển, được đảng này chọn làm ứng cử viên đối thủ của Tổng thống Mã Anh Cửu trong cuộc bầu cử tổng thống năm nay.

Trong bài phân tích trên tạp chí “Tin Trung Hoa”, chuyên gia Franeois Danjou phác thảo ý đồ, vị thế, mối quan hệ tương tác và đan xen giữa các tác nhân có liên quan đến tương lai của hòn đảo này.

Ứng cử viên Thái Anh Văn tốt nghiệp trường Đại học sư phạm Đài Loan, Trường kinh tế Luân ĐôN và trường Đại học Cornel le ở Mỹ, cùng trường với cựu Tổng thống Lý Đăng HuY. Dưới sự chỉ đạo của ông, bà là một trong những người soạn thảo chính học thuyết quan hệ giữa Nhà nước – Nhà nước với Trung Quốc, một thứ khiến Bắc Kinh nổi trận lôi đình vào năm 1996. Bà Thái Anh Văn đã rút ra được bài học từ thời ông Trần Thủy Biển và thất bạỉ nghiêm trọng của DPP trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008. Bà nhận thấy người Đài Loan một mặt muốn giữ nguyên trạng cũng như đặc tính dân chủ giúp họ khác với Trung Quốc, mặt khác cũng không muốn gây căng thẳng với Bắc Kinh, nên đã giảm đáng kể mức độ quyết liệt đòi độc lập trong chiến lược trở lại quyền lực của mình.

Vài tháng sau khi ông Mã Anh Cửu lên nắm quyền, bà Thái Anh Văn khẳng định: “Đảng (DPP-TTXVN) sẽ không đặt lại vấn đề đối với hệ thống quốc tế. Trong tình hình hiện nay, không thể và cũng là vô trách nhiệm nếu DPP hành xử như trong 8 năm trước để sửa đổi nguyên trạng và phát triển một nước Cộng hòa Đài Loan độc lập.’’ Không thể nói gì hơn thế.

Ớ trong nước, chiến thuật được sử dụng cũng nhuốm màu thực dụng buộc DPP, sau khi thu được thành công ban đầu, phải chấm dứt phê phán Hiệp định Khung về hợp tác Kinh tế với Trung Quốc. Trước đây bà Thái đã từng đặt lại vấn đề đối với hiệp định này do tính không binh đẳng và hậu quả tiêu cực của nó đối với những người sản xuất nông nghiệp nhỏ và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Phong trào đòi độc lập đang suy tính một cách tiếp cận ít trực tiếp nhưng hiệu quả hơn về phương diện chính trị. Bà chủ tịch DPP quyết định thành lập một trung tâm nghiên cứu với nhiệm vụ soạn thảo chính sách mới của đảng đối với Trung Quốc, đồng thời nói đến khả năng tiếp xúc trực tiếp với Đảng cộng sản Trung Quốc để thiết lập mối quan hệ ổn định với Bắc Kinh. Sáng kiến này giúp bà tạo được sự khác biệt rõ ràng đối với người tiền nhiệm Trần Thủy Biển, người trong thời kỳ 2000-2008 đã đặt Đài Loan vào tình thế đối đầu thường xuyên với Bắc Kinh.

Việc lựa chọn biện pháp này mang lại kết quả vì DPP hiện nay đã đạt ngang bằng trở lại với Quốc dân đảng về tỷ lệ dự kiến bỏ phiếu của người Đài Loan. Một cuộc thăm dò dư luận do tờ “United Daily News” thực hiện ngày 24/4/2011 cho thấy bà Thái sẽ giành chiến thắng với 36% số phiếu so với 35% của Tổng thống đươmg nhiệm Mã Anh Cửu, trong khi tỷ lệ người không đi bỏ phiếu là 26%. Trong quá trình chọn ứng cử viên tổng thống, trong đó có việc hỏi ý kiến 20.000 người qua điện thoại, bà Thái Anh Văn thậm chí còn vượt xa đối thủ với tỷ lệ phiếu nhận được dự kiến là 43,5% so vói 35% của đối thủ.

Mối lo ngại của Bắc Kinh

Nói rằng Bắc Kinh luôn theo dõi các cuộc bầu cử ở Đài Loan vởi tâm trạng bồn chồn là chưa đủ. Trước hết vì các cuộc bầu cử đó cho thấy hoạt động của một hệ thống chính trị mà Đảng cộng sản Trung Quốc hoàn toàn bác bỏ, hơn nữa lại ở một vùng lãnh thổ được coi là một tỉnh của Trung Quốc. Thứ hai là khả năng phái đòi độc lập trở lại quyền lực là bóng ma luôn ám ảnh Bắc Kinh bởi Đài Loan như vậy có thể trở nên cực đoan hơn về chính trị đối với Trung Quốc. Thứ ba vì tranh luận chính trị giữa các ứng cử viên chắc chắn sẽ đụng chạm đến những điều cấm kỵ và những điều không được nói ra phục vụ chính sách một nước Trung Quốc, được coi là cái vốn mơ hồ của cả Đảng cộng sản Trung Quốc lẫn Quốc dân đảng.

Lần bỏ phiếu này cũng không phải là ngoại lệ. Quả thực là bà Thái Anh Văn chấp nhận một chiến lược nhẹ nhàng hơn. Bà trì hoãn vô thời hạn việc đáp lại những lời kêu gọi đòi độc lập, song không nhân nhượng bất kỳ cái gì về cơ bản liên quan đến quy chế của hòn đảo, mối quan hệ với Trung Quốc và hiệu quả của công tác quốc phòng. Đã xuất hiện những dấu hiệu báo trước căng thẳng thử thách những tiến bộ đã đạt được giữa hai bờ eo biển từ khi ông Mã Anh Cửu lên nắm quyền vào năm 2008.

ít lâu sau khi được chỉ định, ứng cử viên tổng thống có khuynh hướng ly khai Thái Anh Văn nhận được sự ủng hộ công khai của ông Lý Đăng Huy, 88 tuổi, Tổng thống đầu tiên được bầu ở Đài Loan theo phương thức phổ thông đầu phiếu, cựu chủ tịch Quốc dân đảng và bị khai trừ khỏi đáng năm 2000 vì đã thành lập Liên hiệp đoàn kết Đài Loan có khuynh hướng đòi độc lập. Ông nói rằng “đã đến lúc nhân dân Đài Loan đứng lên bảo vệ chủ quyền và nhân cách của mình. Để làm điều đó, chỉ có cách là bỏ phiếu cho bà Thái”.

Trong khi Bắc Kinh thực hiện một vài cách tiếp cận thận trọng để hòa dịu trong mối quan hệ xuất phát từ Hiệp định Khung mở đường cho đối thoại chính trị, DPP tiếp tục bác bỏ “Thỏa thuận năm 1992″ về việc cả hai bờ eo biển công nhận “một nước Trung Hoa”. Theo Đảng cộng sản Trung Quốc, sự công nhận đó không những là cơ sở mà còn là điều kiện để tiến hành đối thoại chính trị giữa hai bờ eo biển.

Đáp lại những tuyên bố của bà Thái, theo đó đảng của bà sẽ không từ bỏ kế hoạch đòi độc lập cho hòn đảo, ông Trần Vân Lâm – Chủ tịch Hiệp hội quan hệ hai bờ eo biển – dọa sẽ xem xét lại toàn bộ các thỏa thuận ký từ 3 năm trước nếu một chính phủ theo khuynh hướng đòi độc lập và bác bỏ “Thỏa thuận năm 1992” lên nắm quyền ở Đài Loan.

Ngoài tình hình căng thăng đó, Bắc Kinh còn tỏ vẻ khó chịu trước việc Chính quyền Đài Loan liên tiếp đề nghị rút toàn bộ số tên lửa nhằm vào hòn đảo và Mỹ bán cho Đài Loan máy bay F-16 mới và tàu ngầm hiện đại trong khuôn khổ cải cách tổng thể hệ thống quốc phòng nhằm thay quân bằng trang thiết bị hiện đại – giảm ngân sách, chuyên nghiệp hóa và giảm hơn 50.000 quân.

Viễn cảnh nào cho các ứng cử viên?

Trong khi hãy còn sớm để dự đoán kết quả bầu cử, song đã có thể điểm qua một cách ngắn gọn những thế mạnh và điểm yếu của hai ứng cử viên.

Tổng thống Mã Anh Cửu có thể tự hào là ngưởi khởi xướng tiến trình làm hòa dịu mối quan hệ một cách ngoạn mục giữa hai bờ eo biển từ năm 1949 – với 15 hiệp định được ký với Trung Quốc, trong đó có Hiệp định khung về hợp tác kinh tế có hiệu lực vào năm 2010. Người Đài Loan nhạy cảm với thực tế đó cũng như đối với việc phát triển buôn bán với 1 Trung Quốc và phục hồi kinh tế sau khủng hoảng (10,8% tăng trưởng vào năm 2010). Theo Viện hàn lâm Sinica, sau mức tăng trưởng âm vào năm năm 2009, nền kinh tế Đài Loan đã có bước nhảy vọt, tăng 13,21% trong 6 tháng đầu năm 2010. Theo Ngân hàng phát triển châu Á, tăng trưởng trung bình của Đài Loan năm 2011 có thể ổn định ở mức 4-5%.

Nhưng ý kiến trong các cuộc thăm dò dư luận về Tổng thống Mã Anh Cửu lại tỏ ra lưỡng lự, chủ yếu là vì không phải ai cũng được hưởng thành quả của bước nhảy vọt trong khi khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, nạn thấtt nghiệp trong giới trẻ trở nên đáng lo ngại, còn hệ quả tích cực của Hiệp định Khung sẽ chỉ có thể thấy được trong nhiều năm nữa.

Đặc biệt, lôgích xích lại gần Bắc Kinh do Tổng thống Mã Anh Cửu khởi xướng có thể sắp đặt đến ngưỡng khi Trung Quốc – với sức mạnh quân Sự không ngừng gia tăng – gây áp lực để thúc đẩy nhanh đối thoại chính trị và quân sự mà người Đài Loan, vốn gắn bó với nguyên trạng và độc lập trên thực tế, nhìn nhận với thái độ ngờ vực rõ ràng nhất.

Còn bà Thái Anh Văn chủ trương quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở bình đẳng và quan hệ thương mại ít đơn chiều hơn, được cân bằng thông qua các hiệp định ký với các đối tác khác. Nhưng Bắc Kinh nhìn nhận các hiệp định này với con mắt ngờ vực vì đó có thể là nguồn gốc gây ra xung đột trong tương lai, kể cả giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Quốc dân đảng. Với chủ trương trên, bà Thái Anh Văn có thể thu nạp được những người lo sợ tái thống nhất dần dần sẽ dễ dàng hơn do mức độ đan xen quá sâu rộng về buôn bán với Trung Quốc.

Tuy nhiên, bà Thái gặp khó khăn trong việc thực hiện kết nối giữa những người theo khuynh hướng đòi độc lập ôn hòa và những người theo xu hướng cực đoan ủng hộ bà. Cuối cùng, cho dù triển vọng còn xa, song thái độ cứng rắn có nguyên tắc trong lập trường ủng hộ độc lập của bà đương nhiên sẽ chứa đựng mầm mống căng thẳng với Bắc Kinh và thậm chí với cả Oasinhtơn. Đó là một tình huống mà người Đài Loan không muốn có.

Cuộc chơi của Oasinhtơn và Bắc Kinh

Trong bối cảnh đó, Bắc Kinh và Oasinhtơn do cũng sợ đi đến chỗ cực đoan nên vẫn sẽ tiếp tục đi trên con đường chật hẹp và đầy cạm bẫy. Cho dù có nghi ngờ mức độ thành thật của Tồng thống Mã Anh Cửu, song Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn muốn ông tái đắc cử vì đó là điêu ít tồi tệ nhất. Tuy nhiên, Đảng cộng sản Trung Quốc không thể ủng hộ ông một cách quá lộ liễu vì lúc đó đa số cử tri Đài Loan sẽ phê phán ông ngay lập tức, hơn nữa một bộ phận trong số họ vốn đã nghi ngờ ông Mã Anh Cửu bán rẻ Đài Loan cho Trung Quốc. Bộ Quốc phòng Đài Loan cuối năm 2010 công bố kết quả một cuộc thăm dò dư luận cho thấy 76,5% số người được hỏi ý kiến tuvên bố sẵn sàng bảo vệ hòn đảo trong trường hợp xảy ra xung đột với Trung Quốc, tăng 2 điểm so với năm 2009.

về trung hạn, do nhận thấy người Đài Loan rất nghi ngại khi khởi động đối thoại chính trị, nên Chính phủ Trung Quốc sẽ phải tiếp tục chính sách gián tiếp chinh phục bằng kinh tế và thương mại và lần lượt bóp chết từ trong trứng mọi ý đồ đòi độc lập, bằng lời lẽ phát ngôn cứng rắn hơn cộng với đe dọa về quân sự. Chính sách đó tuy nhiên không loại trừ việc tiếp cận kín đáo các phái ôn hòa nhất trong DPP.

về dài hạn, ý định của Trung Quốc vẫn không thay đổi: tạo điều kiện để tái thống nhất bằng biện pháp hòa bình. Chiến lược này đòi hỏi phải kiên nhẫn với liều lượng đủ độ vì đó là giải pháp duy nhất có thể thay cho tình trạng làm trầm trọng đến cực điểm căng thẳng trong vùng eo biển vốn chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm tàng. Đối với Oasinhtơn, trong khi một số trào lưu bắt đầu nghi ngờ độ bền vững của những cam kết quốc phòng đối với Đài Loan, Chính phủ Mỹ sẽ phải lách giữa một bên là ý muốn hạn chế căng thẳng với Trung Quốc và bên kia là đòi hỏi về chính trị phải hỗ trợ hết mình cho nền dân chủ trẻ tuổi đang bị đe dọa trực tiếp về quân sự của Đảng cộng sản Trung Quốc vốn quyết tâm thực hiện tái thống nhất bằng mọi giá.

Giữa tình trạng tiến thoái lưỡng nan đó là chính sách bán vũ khí cho Đài Loan ngày càng bị Bắc Kinh phản đối. Nhiều lần Bắc Kinh đã biến việc ngừng cung cấp vũ khí làm điều kiện để tiếp tục đối thoại quân sự với Mỹ. Đây là vấn đề mà cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Robert Gates, muốn ưu tiên.

Nhưng trong khi nhiều bản báo cáo cảnh báo sự cân bằng lực lượng ở eo biển Đài Loan suy giảm có lợi cho Trung Quốc và phi đội máy bay tiêm kích F-16 già cỗi, Chính quyền Mã Anh Cửu liên tục đề nghị Mỹ bán máy bay F-16 C/D hay ít nhất cũng nâng cấp toàn bộ số máy bay F-16 cũ (trị giá 4,5 tỷ USD) nhưng từ nhiều năm nay vẫn không được đáp ứng vì Chính phủ Mỹ hiện nay trì hoãn do sợ đứt quan hệ quân sự với Trung Quốc.

Nhiều lần, Tổng thống Mã Anh Cửu cho rằng tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan là một trong hai yếu tố tối cần thiết cho chính sách mở cửa đối với Bắc Kinh. Ngày 17/2/2011, một lần nữa ông giải thích nguyên tắc này với tờ “Bưu điện Oasinhtơn”. Ông nói: “Điều quan trọng là chúng tôi có thể thương lượng việc xích lại gần với Đại Lục mà không phải lo sợ. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi mua của nước ngoài vũ khí phòng thủ cần thiết để tồn tại, những vũ khí mà chúng tôi không thể sản xuất trong nước được, số vũ khí đó góp phần vào hòa bình và ổn định ở vùng eo biển. Mỹ chưa bao giờ nói với chúng tôi về khả năng chấm dứt bán vũ khí hay hợp tác quân sự với chúng tôi.”

Giữa ngã ba đường

Đài Loan có thể đã đến một giai đoạn cốt tử đối với vận mệnh của mình. Trong khi ở trong nước, người dân vì muốn bảo vệ bản sắc riêng và tự do chính trị của mình mà cũng muốn phát triển quan hệ với Bắc Kinh theo phương thức ít căng thẳng hơn. Quá trình phát triển chiến lược được đánh dấu bằng sự lớn mạnh của Trung Quốc, trong khi lợi ích của Mỹ và Trung Quốc ngày càng đan xen nhau sẽ làm suy yếu cân bằng chính trị và quân sự trước đây.

Trong bối cảnh ảo tưởng chiến lược về nguyên trạng ngày càng khó giữ và mọi tác nhân không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tính tới biến số Trung Quốc, hai đảng chạy đua trong cuộc bầu cử tổng thống mỗi đảng đại diện cho một khả năng sắp tới, nhưng đến giờ vẫn không phù hợp với nhau.

Sự lựa chọn đầu tiên là sự lựa chọn từ lịch sử chính thức, của các đảng đang nắm quyền ở hai bờ eo biển, sinh ra trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc y và tập hợp xung quanh ý tưởng một nước Trung Hoa trông cậy vào sự gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hóa, nhưng với tư tưởng chính trị hoàn toàn khác biệt.

Nếu như thực tế là sự xích lại gần nhau về kinh tế dẫn đến tiến trình hòa dịu ngoạn mục, song sự khác biệt về hệ thống điều hành và độc lập trên thực tế của Đài Loan là những yếu tố gây căng thẳng về trung hạn, đến mức Đảng cộng sản Trung Quốc có thể muốn thúc đẩy tiến trình tái thống nhất và tiến hành thương lượng chính trị mà Đài Loan coi là một ngoáo ộp.

Sự lựa chọn thứ hai, nảy sinh từ thời kỳ cuối những năm 1980, không phải là kém hợp pháp hơn theo cách nhìn nhận của một bộ phận lớn người Đài Loan. Sự lựa chọn đó nằm trong bối cảnh lịch sử của một hòn đảo trước đây vừa thuộc về Trung Quốc vừa tách khỏi Trung Quốc, trong nửa thế kỷ bị bỏ mặc trong tay Nhật Bản đến mức mang nặng dấu ấn hành chính của nước này. Nhưng hòn đảo đó không để lại cho người Đài Loan những kỷ niệm tàn bạo như quân đội Nhật Hoàng đã để lại ở Trung Quốc.

Sự lựa chọn đó cho thấy sự thức tỉnh về chính trị của một dân tộc sau năm 1945 đã nổi dậy chống lại tình trạng lạm quyền, nạn tham nhũng và nạn cướp phá của Quốc dân đảng thay thế quân đội Nhật Hoàng. Năm 1947, Tưởng Giới Thạch đàn áp khốc liệt phong trào nổi dậy làm ít nhất 20.000 người chết. Giới tinh hoa trong Đảng Dân tiến là những người thừa kế của quân nổi dậy và trí thức, những người từ năm 1947 đã đứng lên chống lại sự thao túng của Trung Quốc đối với bộ máy chính trị của Đài Loan, chỉ dành cho người Đài Loan bản địa một phần quyền lực không đáng là bao.

Theo quan điểm của họ, không những sự gần gũi về địa lý, lịch sử và văn Hóa không tạo ra bất kỳ tính hợp pháp nào cho các kế hoạch tái thống nhất của Quốc dân đảng và Đảng cộng sản Trung Quốc, mà người Đài Loan còn phải được phép lựa chọn một cách dân chủ hình thái chính phủ và tương lai của mình. Nhưng quan điểm đó hoàn toàn đối lập với tư tưởng tái thống nhất, vốn là kế hoạch chính trị nhạy cảm nhất của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

(còn tiếp)

3 phản hồi tới “644. BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở ĐÀI LOAN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI BỜ EO BIỂN – Phần 1”

  1. Cóc đã trưởng thành ,không dại gì gắn thêm đuôi để trở thành nòng nọc sống trong cái ao tù bẩn thiểu.Đố Nail Man cái đuôi gì ? Đó là cái đuôi XHCN có phải không Ông bạn nhỉ .chào bạn !

  2. Vũ Tiến Đoàn said

    Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận được công bố ngày 13/9/2010 có tới 66% người dân Đài Loan ủng hộ giữ nguyên trạng và 16% (tăng 4% so với năm 2000) muốn có độc lập trong khi chỉ có 5% muốn tái thống nhất (giảm 4% từ năm 2000 trở lại đây). Nếu họ được lựa chọn (nghĩa là nếu Trung Quốc chấm dứt đe dọa về quân sự), 68% số dân Đài Loan có thể ngay lập tức, ủng hộ quy chế độc lập, 18% muốn tái thống nhất 14% không có ý kiến gì. Mặt khác, 43% số người Đài Loan cho mình là người Đài Loan, 50% cho mình vừa là người Đài Loan vừa là người Trung Quốc và chỉ có 3% cho mình là người Trung Quốc. Ở một khía cạnh khác 54% có ý kiến tiêu cực về chính phủ ở Bắc Kinh và 87% từ chối đến định cư ở Trung Quốc, trong khi 68% không có ý định lập nghiệp ở đó hay đầu tư vào đó.
    ====
    http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/15192-dai-loan-va-coi-nguon-bach-viet/

  3. Nails Man said

    Đài Loan nên quyết liệt và dứt khoát tuyên bố độc lập sẽ có lợi cho mình hơn là dùng dằng như vậy ! Dù sao TQ cũng sẻ giải quyết vấn đề Đài Loan và VN trước năm 2016 vì nếu để quá trễ thì vô phương cứu vãn : vòng vây của Hoa Kỳ , Nhật , Úc , Ấn Độ sẽ xiết chặt và TQ sẽ không còn lối thoát !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: