BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

633. Quả Bom Đoàn Văn Vươn

Posted by adminbasam on 11/01/2012

Osin HuyDuc

Quả Bom Đoàn Văn Vươn

10-01-2012

Huy Đức

Khi lực lượng cưỡng chế huyện Tiên Lãng đến khu đầm, anh Vươn cho nổ trái mìn tự tạo cài dưới một bình gas. Bình gas không nổ. Nhưng, trái mìn tự tạo vẫn gây tiếng vang như một quả bom, “quả bom Đoàn Văn Vươn”. Vụ nổ không chỉ gây rúng động nhân tâm mà còn giúp nhìn thấy căn nguyên các xung đột về đất đai. Quyền sở hữu nói là của “toàn dân”, trên thực tế, rất dễ rơi vào tay đám “cường hào mới”.

Sự Tùy Tiện Của Nhà Nước Huyện

Quyết định giao bổ sung 19,5 ha đất nuôi trồng thủy sản cho ông Đoàn Văn Vươn, ký ngày 9-4-1997, ghi thời hạn sử dụng là 14 năm tính từ ngày 14-10-1993. Theo báo Thanh Niên, ở thời điểm ấy, chính quyền huyện Tiên Lãng đã quy định thời hạn giao đất cho nhiều cá nhân, hộ gia đình rất tùy tiện: có người được giao 4 năm; có người 10 năm… Tuy thời điểm này chưa có các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thi hành, nhưng Luật Đất đai năm 1993 đã nói rõ thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình và cá nhân là 20 năm.

Theo Nghị định ngày 28-08-1999, nếu chính quyền Tiên Lãng không tùy tiện thì gia đình ông Vươn có quyền sử dụng phần đất này cho đến ngày 9-4-2017, tính từ ngày ông được huyện ký giao; tối thiểu cũng phải đến ngày 15-10-2013, nếu huyện “ăn gian” tính theo ngày Luật Đất đai có hiệu lực. Vấn đề là, cho dù đất được giao của gia đình ông Vươn hết hạn thì có phải là đương nhiên bị thu hồi để giao cho người khác như cách mà Tiên Lãng đã làm. Luật Đất đai 2003 quy định hạn điền cho loại đất nuôi trồng thủy sản là 3 hecta và với phần đất vượt hạn mức của ông Vươn có thể áp dụng Điều 35 để cho ông tiếp tục thuê như quy định đối với đất đai nông nghiệp.

Sở Hữu Toàn Dân

Tuy dịch từ Hiến pháp 1936 của Liên xô, Hiến pháp 1959 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai”. Cho dù, từ thập niên 1960s ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970s ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức bị coi là thuộc “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980.

Theo Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc: “Trong bản dự thảo Hiến pháp 1980 do Chủ tịch Trường Chinh trình Bộ Chính trị vẫn đề nghị duy trì đa hình thức sở hữu, trên cơ sở khuyến khích 5 thành phần kinh tế. Theo tôi biết thì Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương cũng không đồng ý quốc hữu hóa”. Nhưng, ngày 10-9-1980, trong một bài nói chuyện trước Ban chấp hành Trung ương có tựa đề, “Hiến pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa”, Tổng Bí thư Lê Duẩn nói: “Nhân đây, tôi nhấn mạnh một điểm rất quan trọng trong Dự thảo Hiến pháp mới là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như vậy hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Đình Lộc, thành viên Ban thư ký của Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp 1980, thừa nhận: “Khi đó, uy tín Lê Duẩn bao trùm. Mặt khác, nhiều người cũng không hình dung được bản chất của sở hữu toàn dân là quốc hữu hóa”.

Tuy chấp nhận quốc hữu hóa đất đai nhưng theo ông Tôn Gia Huyên, lúc bấy giờ là Vụ phó vụ Quản lý Đất đai, ông Trường Chinh chủ trương giữ nguyên hiện trạng chứ không tịch thu ruộng đất như điều mà Lenin đã làm với kulax ở Nga sau năm 1917. Ông Trường Chinh yêu cầu ghi vào Điều 20 của Hiến pháp 1980: “Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật”.

Khi Hiến pháp 1992 bắt đầu được soạn thảo, theo ông Phan Văn Khải: “Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tôi muốn sửa Hiến pháp theo hướng, trao quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân nhưng không thành công, chúng tôi đành phải tìm ra khái niệm, trao 5 quyền cho người sử dụng đất”. Trong Đại hội Đảng lần thứ VII, vòng I, nhiều nhà lãnh đạo địa phương đã lên tiếng ủng hộ “đa sở hữu hóa đất đai”. Nhưng, ở cấp cao, theo Trưởng ban Biên tập Hiến pháp 1992, ông Nguyễn Đình Lộc: “Không ai có đủ dũng cảm đứng lên đòi bỏ sở hữu toàn dân, vì đó là một vấn đề nhạy cảm, đụng đến chủ nghĩa xã hội. Khi chuẩn bị bài phát biểu về Hiến pháp cho Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi có trình bày, nhưng ông Đỗ Mười nghiêng về sở hữu toàn dân. Ông tin vào điều ông Lê Duẩn nói, sở hữu toàn dân là quan hệ sản xuất tiên tiến. Ông Đỗ Mười tin, trước sau gì ta cũng tới đó nên cứ để vậy”.

Các Nhà Làm Luật

Luật Đất đai 1993 đã trao cho người dân 5 quyền: sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất. Nhưng, so với Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 1993 có một điểm lùi. Hiến pháp ghi: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”. Trong khi Luật chỉ giao đất cho cá nhân và chỉ giao có thời hạn. Ông Tôn Gia Huyên giải thích: “Thời hạn giao đất thực chất chỉ là ý chí chính trị, là sợi chỉ cuối cùng để phân biệt giữa sở hữu tư nhân và sở hữu Nhà nước”. Là ranh giới để trấn an những người vẫn còn tin, Việt Nam tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng, cái ranh giới tưởng có giá trị trấn an ấy đã lại rất mù mờ, mù mờ ngay trong đầu chính các nhà lập pháp. Tháng 7-1993, sau bốn buổi thảo luận trên Hội trường về Luật Đất đai, các đại biểu miền Nam đề nghị “giao đất lâu dài” như Hiến pháp 1992, trong khi các đại biểu miền Bắc và miền Trung lại tán thành giao đất có thời hạn; thậm chí có đại biểu còn đòi rút ngắn thời hạn giao đất xuống còn từ 10-15 năm. Trong tính toán của nhiều người, giao đất có thời hạn nghĩa là sau đó Nhà nước có thể lấy lại để giao cho người khác. Đại biểu Đặng Quốc Tiến, Bắc Thái, nói: “Đất ít, người đông, giao có thời hạn thì sẽ bảo đảm cho công tác điều chỉnh đất đai khi có biến động nhân khẩu”. Ông Nguyễn Bá Thanh, khi ấy là Chủ tịch Thành phố Đà Nẵng, đã rất hăng: “Đi nghĩa vụ quân sự 2 năm thì kêu dài, giao đất 20 năm thì bảo ngắn”.

Khi Luật Đất đại 1993 được đưa ra sửa đổi, Chính phủ đề nghị nâng thời hạn giao đất nông nghiệp từ 20 năm lên 50. Trong hai ngày 14 và 16-11-1998, nhiều đại biểu cũng đã phản ứng, thậm chí còn có phần gay gắt. Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Đại Thắng, Đại Lộc (Quảng Nam) ông Trần Văn Mai nói: “Số nông dân chưa có đất đang trông chờ cho hết thời điểm 20 năm, bây giờ đã được 5 năm, còn 15 năm nữa họ sẽ được chia đất. Nếu bây giờ ta tăng thời hạn lên 50 năm sẽ là một sự hụt hẫng lớn của nhân dân với Đảng”. Theo cách hiểu của ông Trần Văn Mai: “Hoặc hết hạn 20 năm, hoặc người sử dụng đất chết, chúng ta sẽ thu hồi cấp lại cho những nhân khẩu phát sinh”. Nhưng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, ông Nguyễn Đức Hoan đã phát biểu: “Đừng lo cho 20 năm sau không có đất để phân phối lại. Bây giờ ở ta 80% dân số làm nông nghiệp. Không lẽ 20 năm sau cũng 80%?”. Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Đồng Tháp ông Trương Minh Thái cho rằng: “Đừng nghĩ chúng ta chỉ có thể điều phối ruộng đất ở nông thôn bằng cách thu hồi rồi chia lại. Chúng ta đã giao cho người dân năm quyền, họ có thể để thừa kế, hoặc sang nhượng cho người chưa có đất”.

Đất Dân Quyền Quan

Năm quyền của người sử dụng đất sau đó được “pháp điển hóa” trong Bộ Luật Dân sự 1995 như các quyền dân sự. Quyền sở hữu, tuy “trá hình” này, vẫn là cơ sở pháp lý để hình thành thị trường địa ốc. Và trong giai đoạn đầu, nhờ tư vấn của World Bank, thị trường đã được điều hành bằng công cụ thuế. Cho dù do thuế suất quá cao, Luật Thuế Chuyển quyền sử dụng đất, ngay lúc ấy, đã khiến nhà đất đóng băng nhưng sử dụng công cụ thuế chính là thừa nhận giá trị các giao dịch dân sự liên quan tới đất đai. Tuy nhiên, chính quyền các cấp có vẻ như không mấy mặn mà với vai trò đứng ngoài. Các giao dịch, đặc biệt là mua bán đất đai đã bị hành chánh hóa: Nhà nước thu hồi đất của người bán rồi giao đất cho người mua. Thay vì thu thuế chuyển quyền, người mua phải đóng tiền sử dụng đất, đặt người có đất trong tình thế phải trả tiền hai lần.

Đỉnh cao của sai lầm về chính sách là Pháp lệnh 14-10-1994 và Nghị định 18, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đó. Theo Nghị định 18, các tổ chức không còn được giao đất có đủ các quyền như Hiến pháp 1992. Những doanh nhân tiên phong như Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Trần Quang Vinh… đã vay hàng ngàn tỷ đồng để mua đất, sau Nghị định 18 phải chuyển những lô đất ấy thành đất thuê và chỉ được thế chấp ngân hàng theo giá trị số tiền thuê đã trả cho nhà nước. Khi bị bắt, cũng nhân danh “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, Hội đồng thẩm định do Nhà nước lập ra đã tính, có những mét vuông đất, giá không bằng que kem. Đất biệt thự đường Trần Phú, Vũng Tàu, mà chỉ được Tòa công nhận giá ba-trăm-đồng/m2. Khoản chênh lệch giữa giá thực mua và giá của Tòa được coi là thất thoát để buộc tội các doanh nhân này lừa đảo.

Trong tù, có lúc Minh Phụng nói với Luật sư Nguyễn Minh Tâm: “Xin luật sư hãy nhìn vào mắt em để xem em có phải là người lừa đảo?”. Ngày 12-7-1999, khi nghe Luật sư Tâm nhắc lại câu này Minh Phụng đã bật khóc trước Tòa. Cũng đầu tư vào đất đai cùng một phương thức tuy khác quy mô, nhưng, thái độ của Nhà nước với giá đất đã biến ông Lê Văn Kiểm, Huy Hoàng, thành anh hùng và tử hình ông Tăng Minh Phụng.

Danh Chính Ngôn Thuận

Đầu tháng 12-2011, Chính quyền Đà Nẵng nơi ông Nguyễn Bá Thanh là Bí thư kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân đã đề nghị cho tư nhân sở hữu đất đai. Sau 20 năm lãnh đạo một địa phương, có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh nhìn thấy, quyền sở hữu trá hình đã đặt đất đai của người dân vào tay chính quyền cấp huyện với quá nhiều rủi ro. Điều 38, Luật Đất đai 2003, nói: Nhà nước chỉ thu hồi đất khi “cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế” (khoản 7). Nhưng, tại khoản 10 cũng của Điều 38, Luật lại mở ra khả năng: Nhà nước thu hồi những phần đất “không được gia hạn khi hết thời hạn”. Chính quyền cấp huyện được Luật giao quyền giao đất và thu hồi đất của cá nhân và hộ gia đình. Nếu chính quyền Tiên Lãng áp dụng điều 67, tiếp tục giao đất cho ông Vươn, thì đã không có gì xảy ra, nhưng họ đã đẩy ông vào khoản 10, Điều 38: Thu hồi đất vì “không được gia hạn” khi thời hạn giao đất của ông đã hết.

Sau “trái bom Đoàn Văn Vươn”, chúng ta biết, khu đất đầm mà anh có không phải là đất được nhà nước giao mà là đất do gia đình anh phải lấn biển, khai hoang. Suốt 5 năm “trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya”, biết bao lần bị bão biển cuốn phăng để đắp được một bờ kè dài hai cây số, tạo nên bãi bồi màu mỡ và một khu đầm nuôi tôm cá rộng gần 40 hecta. Cũng nơi đây, anh Vươn mất một đứa con gái 8 tuổi vì khi cha mẹ mải làm con gái của anh đã rơi xuống cống. Đừng nói chuyện thu hồi, lẽ ra chính quyền Tiên Lãng phải xấu hổ khi ký quyết định giao cho anh Vươn phần đất của chính anh, phần đất mà anh Vươn đã phải gắn bó suốt 20 năm, đã đổ cả mồ hôi và máu.

Nếu như, quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, thì cách khai hoang, lấn biển của gia đình anh Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà từ xa xưa cha ông ta đã áp dụng cho người dân để ngày nay Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Nếu như quyền sở hữu về đất đai của người dân được công nhận, Chính quyền không thể hành chính hóa các giao dịch dân sự liên quan đến đất đai. Các đại gia không thể thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ mua không được.

Nhưng đó là câu chuyện có thể được thảo luận trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Người dân đang dõi theo thái độ của Chính phủ, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước trường hợp Đoàn Văn Vươn.

Theo cách giải thích của Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì đất ông Vươn nằm trong vùng quy hoạch xây dựng một sân bay quốc tế. Nếu thu hồi bây giờ hoặc chuyển thành thuê thì mai này nhà nước không phải bồi thường cho ông Vươn. Đỗ Hữu Ca nói: “Với công trình đặc biệt quan trọng như thế thì đền bù sẽ rất lớn. Ông Vươn cố giữ lại như thế để lấy đền bù khi dự án được triển khai”. Có thể Đỗ Hữu Ca là một công chức mẫn cán chứ không phải là “cụ Bá”. Nhưng, lo quyền lợi của nhà nước sao không tính quyền lợi của dân, không tính máu và mồ hôi 20 năm của gia đình anh Vươn. Chắc Đỗ Hữu Ca không nghĩ, anh em, bà con ông và chỉ vài năm nữa chính ông cũng là dân.

Đỗ Hữu Ca có lẽ không nhớ chuyện anh rể của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sáng 17-4-2009, bị “áp giải ra khỏi hiện trường” khi chính quyền huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương tiến hành cưỡng chế thu hồi hơn 185 hecta cao su của ông để làm khu công nghiệp. Ông đã không đồng ý cho giải tỏa, mặc dù, 185 hecta cao su này ông có được nhàn hạ hơn so với công sức khai hoang, lấn sóng của anh Vươn và mức đền bù thì cao hơn gấp 20 lần giá vốn. Nhắc lại câu chuyện này để thấy, bất luận là ai, khi phải đối diện với tài sản của mình thì mới thấy của đau, con xót.

Dù sao thì hành động chống người thi hành công vụ của anh Đoàn Văn Vươn cũng phải được đưa ra xét xử. Nhưng, thông điệp mà các địa phương chờ đợi không phải là những năm tù cho anh mà là thái độ của nhà nước với chính quyền Tiên Lãng. Từ năm 2013, ruộng đất của nông dân bắt đầu lần lượt hết hạn giao đất. Nếu như quyết định của Chủ tịch Tiên Lãng Lê Văn Hiền không bị coi là sai, hơn 500 chủ tịch huyện trên cả nước có thể noi gương thu hồi đất đáo hạn của nông dân để… giao, thì không biết điều gì sẽ xảy ra. Đừng chậm trễ và đừng để “quả bom Đoàn Văn Vươn” lại nổ.

Nguồn: FB Osin HuyDuc

214 phản hồi to “633. Quả Bom Đoàn Văn Vươn”

  1. tridung84059 said

    Khong the chap nhan duoc

  2. Khách said

    Không thể không nể phục tầm nhìn và hiểu biết cua Huy Đức trong bài này. Nếu có thêm phần tài liệu của những phát biểu đã trích dẩn thì rất thuyết phục

  3. […] đọc lại bài của Huy Đức đề cập tới những văn bản luật về đất đai: 633. Quả Bom Đoàn Văn Vươn.   – Nóng trong tuần: Vụ cưỡng chế ở Hải Phòng (VNN). – Hưởng ứng lời kêu […]

  4. […] đọc lại bài của Huy Đức đề cập tới những văn bản luật về đất đai: 633. Quả Bom Đoàn Văn Vươn.   – Nóng trong tuần: Vụ cưỡng chế ở Hải Phòng (VNN). – Hưởng ứng lời kêu […]

  5. […] Quả Bom Đoàn Văn Vươn […]

  6. Quốc Thanh say:
    15/01/2012

    Cần phải khởi tố lũ chính quyền huyện,xã và cuối cùng là lũ dựng lên chế độ này. Chính lũ chúng mới là những kẻ chủ mưu,lũ chúng đã dùng đủ âm mưu thủ đoạn xúi dục,thúc ép, buộc những người lương thiện không còn tin vào luật pháp phải dùng đến bạo lực.
    – Gây mất ổn định XH
    – Gây chia rẽ dân với đảng

  7. Observer said

    So sánh 2 vụ cướp đất điển hình ở VN và TQ : dân Ô Khảm và dân Tiên Lãng

    Không biết có phải là duyên số không mà chỉ cách nhau có vài tháng, ở Trung Quốc xảy ra cuộc biểu tình dữ dội của người dân Ô Khảm và ở VN xảy ra vụ Tiên Lãng. Cả 2 vụ đều có liên quan đến đất đai và hậu quả là xảy ra đụng độ bạo lực giữa chính quyền và người dân. Nhưng cách xử sự của người dân của 2 nơi rất khác nhau. Phải nói thật là người dân VN không có tính đoàn kết (chỉ trừ trong chiến tranh, cái này thì rất ngộ !!!) trong các vấn đề liên quan đến tiền bạc, kinh tế. Thấy mấy ông chủ đầm kia đứng nhìn gia đình ông Vương bị nạn, chắc họ nghĩ rằng ai đó bị chứ không liên quan gì đến họ. Họ không biết rằng nếu chính quyền có thể bứng gia đình ông Vươn ra khỏi nơi ông đổ mồ hôi sôi nước mắt thì không sớm thì muộn cũng sẽ đến lượt những ông chủ đầm kia thôi. Trong khi đó, hơn 20 nghìn người dân Ô Khảm đã đồng loạt đứng dậy, nắm tay nhau tổ chức tự quản không cần đến chính quyền. Cùng nhau căng băng rôn, hô to, tôi xem tivi nước ngoài thấy có cả những ông già râu tóc bạc phơ, thanh niên, phụ nữ đã cùng nhau tập trung ở đình làng, người cầm micro, người trả lời phóng viên báo đài…, người ôn hòa có, kẻ kích động cũng có. Nhưng sự đoàn kết của người dân đã buộc chính quyền chọn giải pháp ôn hòa hơn là đối đầu. Một bài học cho những người dân ở Tiên Lãng. Ngay lúc này đây, số phận của gia đình anh Vươn cũng sẽ là số phận của quý vị. Nếu 2 thằng anh em chủ tịch huyện, xã làm trót lọt vụ này thì tụi nó sẽ lấn tiếp. Tụi nó phải bị đem ra xét xử hơn là cách chức !! Đảng có sự lựa chọn !!!

  8. Lòng Mẹ said

    Hỡi anh em chiến sĩ quân đội và công an, hãy trở về với dân tộc với mẹ Việt Nam đừng nghe và làm tay sai cho bọn lãnh đạo cộng sản chúng đã hút máu nhân dân mấy mươi năm tội ác chồng chất nay chúng không còn đường về với tổ quốc với mẹ Vệt Nam thân yêu. Còn các anh đừng vì miếng cơm manh áo mà làm theo sự chỉ đạo của chúng, cá anh hãy trở về mẹ VN sẵn sàng đón các anh.

  9. Trần Duy Việt said

    Tôi xin nêu một vài dẫn chứng pháp luật đất đai cho trường hợp anh Vươn:
    1. Trường hợp anh Vươn đang sử dụng đất nuôi trồng thủy sản, theo khoản 1 Điều 34 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, “khi hết thời hạn sử dụng đất” thì “được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật Đất đai, trừ T.hợp Nhà nước có QĐ thu hồi đất quy định tại các khoản 1, 4, 7, 8 và 11 Điều 38 của Luật Đất đai” tức là được sử dụng đất tiếp tục với thời hạn là 20 năm nữa.
    2. Về thu hồi đất theo các khoản 1, 4, 7, 8 và 11 Điều 38 Luật Đất đai, ta thấy chỉ thu hồi đất khi:
    a. Khoản 1: Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
    b. Khoản 4: Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
    c. Khoản 7: Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
    d. Khoản 8: Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
    e. Khoản 11: Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền.
    Như vậy, UBND huyện Tiên Lãng, nếu muốn thu hồi đất của anh Vươn phải căn cứ vào khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai.
    3. Về thu hồi đất theo khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai phải căn cứ vào Điều 39 của Luật này, cụ thể theo Điều 39:
    a. Khoản 1: Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
    b. Khoản 2: Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.
    c. Khoản 3: Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
    Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại.

    Qua theo dõi báo chí, chúng ta thấy UBND huyện Tiên Lãng thu hồi đất căn cứ vào việc “hết thời hạn sử dụng”, còn theo ông Chủ tịch Hiền thì “việc thu hồi đất không bồi thường là theo điều 39 Luật Đất đai” (báo Người Lao động) và UBND huyện đã không thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục nêu khoản 2 và 3 Điều 39 nêu trên là hoàn toàn hiểu sai và vận dụng sai pháp luật đất đai.

    4. Đúng là theo khoản 10 Điều 38 Luật Đất đai có nói trường hợp thu hồi đất đối với “đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn” nhưng đối với hộ gia đình đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp khi hết thời hạn thì phải áp dung khoản 1 Điều 34 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, tức là không áp dụng khoản 10 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 mà áp dụng khoản 1, 4, 7, 8 và 11 của Điều này (như đã nêu tại điểm 1).

    BS: Cám ơn bác đã công phu phân tích.

  10. Trần Duy Việt said

    Tôi xin nêu một vài dẫn chứng pháp luật cho trường hợp anh Vươn:
    1. Trường hợp anh Vươn đang sử dụng đất nuôi trồng thủy sản, theo khoản 1 Điều 34 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, “khi hết thời hạn sử dụng đất” thì “được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật Đất đai, trừ T.hợp Nhà nước có QĐ thu hồi đất quy định tại các khoản 1, 4, 7, 8 và 11 Điều 38 của Luật Đất đai” tức là được sử dụng tiếp với thời hạn là 20 năm.
    2. Về thu hồi đất theo các khoản 1, 4, 7, 8 và 11 Điều 38 Luật Đất đai, ta thấy chỉ thu hồi đất khi:
    a. Khoản 1: Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
    b. Khoản 4: Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
    c. Khoản 7: Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
    d. Khoản 8: Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
    e. Khoản 11:Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất.
    Như vậy, UBND huyện Tiên Lãng, nếu muốn thu hồi đất phải căn cứ vào khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai.
    3. Về thu hồi đất theo khoản 1 Điều 38 Luật Đất đai phải căn cứ vào Điều 39 cua Luật này, cụ thể theo Điều 39:
    a. Khoản 1: Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
    b. Khoản 2: Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.
    c. Khoản 3: Sau khi có quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất.
    Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại.
    Qua theo dõi báo chí, chúng ta thấy UBND huyện Tiên Lãng thu hồi đất căn cứ vào việc “hết thời hạn sử dụng”, còn theo ông Chủ tịch Hiền thì “việc thu hồi đất không bồi thường là theo điều 39 Luật Đất đai” và UBND huyện đã không thực hiện theo đúng khoản 2 Điều 39 nêu trên là hoàn toàn sai pháp luật.
    4. Đúng là theo khoản 10 Điều 38 Luật Đất đai có nói trường hợp thu hồi đất đối với “đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn” nhưng đối với hộ gia đình đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp mà hết thời hạn thì phải áp dung khoản 1 Điều 34 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, tức là không áp dụng khoản 10 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 mà áp dụng khoản 1, 4, 7, 8 và 11 của Điều này.

  11. Khách said

    Anh Vươn mất đất, mất nhà, mất cuộc đời nhưng ” Bom Vươn” đã mang lại sự giác ngộ. Tiếng rên xiết uất ức đã dồn nén, bật ra thành tiếng thét uất hận…

  12. Khách said

    Xin góp thêm đôi điều:
    – Việc cưỡng chế xảy ra vào những ngày cận Tết, thể hiện những người cầm quyền bất nhân.
    – Chính quyền phải xem lại việc cưỡng chế. Cơ quan thi hành án cưỡng chế theo bản án hay là chính quyền huyện, xã cưỡng chế? Khi mà chính quyền là bị đơn trong vụ kiện.
    – Lực lượng Quân đội nhân dân tham gia cưỡng chế là một vấn đề cần phải suy nghĩ.
    – Đây có phải là vấn đề “đấu tranh giai cấp”, khi mà đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, sử dụng mọi lực lượng chính quyền, quân sự, cảnh sát… để giải quyết tranh chấp dân sự với những người nông dân?
    Cám ơn Huy Đức!

  13. Nguyễn Đăng Thiên said

    Chính quyền dùng lực lượng công an núp dưới danh nghĩa nhà nước để ăn cướp của dân, tiếng bom của Đoàn Văn Vươn như một lời hiệu triệu mọi người dân đứng lên chống lại lũ cướp.

  14. loan zona said

    Thành thật cám ơn bài viết của HĐ và những comments. Ai cũng đã nói và phân tích rất nhiều, rất hay. Riêng tôi xin mưọn trang này để viết vài suy nghĩ của riêng mình vào đây.
    Như HĐ đã nói, quả bom của A. Vươn làm ngòi cho nhiều những quả bom sau này. Không biết những anh công an, bộ đội và nhất là cái đám “người dân tự phát” có suy nghĩ rằng một ngày đẹp trời nào đó những quả bom của ai đó sẽ làm chết, hay thương tật cho chính mình trong những lần đi làm công việc cưỡng chế(ăn cướp) sắp đến hay không???? Rồi họ có nghĩ rằng nếu họ bị như vậy thì nhà nước XHCN có chăm lo cho vợ con của họ? Nếu thương tật nằm một chỗ thì ai sẽ là người săn sóc cho họ, nhà nước? hay là vợ con họ??? Mong sao các anh nên tự bỏ việc, kiếm cho mình một công việc làm dù lương ít hơn nhưng tâm được thanh thản hơn! Hãy quay về với nhân dân, với đất nước, với dân tộc. Mong lắm thay!!! Siết.

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: