BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

314. TRAO ĐỔI LẠI VỚI HỌC GIẢ TÔN HỒNG NIÊN VỀ LỊCH SỬ

Posted by adminbasam trên 31/08/2011

TRAO ĐỔI LẠI VỚI HỌC GIẢ

TÔN HỒNG NIÊN VỀ LỊCH SỬ

Hà Văn Thùy

Trong bài “Lịch sử và chân thực: Diễn biến quan hệ Trung – Việt trước năm 1949” *, tác giả Tôn Hồng Niên dẫn sử liệu Trung Quốc để trình bày mối quan hệ Việt – Hoa từ thời nhà Chu đến trước năm 1949. Những tư liệu đó không mới bởi lẽ chúng đã làm nên không chỉ lịch sử Trung Hoa mà cả lịch sử phương Đông hơn 2000 năm qua.

Nhưng đâu phải lịch sử Trung Quốc chỉ bắt đầu từ thời nhà Chu? Trước Chu còn Thương, Hạ rồi Thuấn, Nghiêu, Hoàng đế. Xa hơn nữa, còn phải kể tới Thần Nông, Phục Hy, Toại Nhân, những vị vua lừng lững trong truyền thuyết!

Từ nhà Chu tới nay chỉ là một phần của lịch sử Trung Quốc. Một mẩu bánh mì là bánh mì nhưng một phần lịch sử quyết không thể là lịch sử! Muốn hiểu lịch sử phải nhìn từ gốc. Tiếc rằng cái gốc sâu xa của lịch sử Trung Hoa lại nằm ngoài “vòng phủ sóng” của tác giả. Cố nhiên, cái phần lịch sử méo mó mà ông dẫn ra chả chứng minh được điều gì!

Xin trao đổi lại với tác giả đôi điều.

1. Ai là tổ tiên người Trung Hoa?

Có thể nói chắc rằng, cho đến nay, mặc dù có “nhị thập tứ sử” – hai mươi bốn cuốn sử, thì người Trung Hoa cũng chưa biết tổ tiên họ là ai! Ai cũng nói họ là “Viêm Hoàng tử tôn” nhưng nếu hỏi Viêm là ai, Hoàng là ai, có mã di truyền (genome) ra sao, họ ú ớ! Đó không phải lỗi của họ mà là giới hạn của tri thức nhân loại ở thế kỷ XX.

Nhưng nay, nhờ áp dụng công nghệ di truyền vào tìm hiểu nguồn gốc cùng quá trình di cư của loài người, nhiều vấn đề về dân cư và văn hóa Đông Á được sáng tỏ. Đã cho in ba cuốn sách (1) về chuyện này, ở đây tôi chỉ xin nói vắn tắt.

Bảy mươi nghìn năm trước, người tiền sử từ châu Phi đã men theo bờ biển Ấn Độ tới Việt Nam. Tại đây, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết cho ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Nhờ điều kiện sống thuận lợi, nhân số tăng nhanh và khoảng 50.000 năm trước, người từ Việt nam di cư sang các hải đảo Đông Nam Á , châu Úc và Ấn Độ. Khoảng 40.000 năm trước, nhờ khí hậu phía bắc ấm lên, người Việt đi lên khai phá đất Trung Hoa và 30.000 năm trước, sang chiếm lĩnh châu Mỹ.

Khoảng 15.000 năm trước, người Việt cổ, chủ nhân văn hóa Hòa Bình, thuần hóa được lúa nước, giống gà, giống chó và đưa lên xây dựng kinh tế nông nghiệp ở Trung Hoa.

Cho tới 4.000 năm TCN, trên địa bàn Đông Á, người Việt với nhân số hơn 60% nhân loại, đã xây dựng nền văn minh nông nghiệp rực rỡ với Âm, Dương, Ngũ hành, Hà đồ, Lạc thư, sách Dịch và chữ tượng hình.

Khoảng 2.600 năm TCN, nhờ thắng trận ở Trác Lộc, người Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu vào chiếm đất của người Việt ở Nam Hoàng Hà. Vào Trung Nguyên, người Mông Cổ bỏ lối sống du mục, học nghề nông cùng phong tục tập quán, ngôn ngữ của người Việt, xây dựng vương triều Hoàng đế. Trong quá trình chung sống, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt bản địa, sinh ra chủng người lai Mongoloid phương Nam, tự gọi là Hoa Hạ. Sau nhiều thế hệ, người Hoa Hạ thay thế cha ông Mông Cổ, trở thành chủ thể các vương triều Trung Quốc. Mang nửa phần máu Việt, sống trên đất đai Việt, người Hoa Hạ thừa hưởng toàn bộ văn hóa vật thể và phi vật thể của tổ tiên Việt, nhận các vị vua Việt Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông là tổ của mình. Trước áp lực văn hóa Việt, người Hoa Hạ bỏ vật tổ (totem) sói trắng của Mông Cổ, nhận vật tổ Việt là con rồng nhưng thay bộ mặt con rồng – cá sấu Việt bằng mặt sói.

Như vậy, có thể nói một cách hình tượng, người Hoa Hạ, tổ tiên tầng lớp thống trị Trung Hoa, là cháu nội người Mông Cổ và cháu ngoại của người Việt.

Khoa học cũng chứng minh, người Việt Nam hiện đại có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư Đông Á, có nghĩa là người Việt Nam cổ nhất trong dân cư Đông Á!

2. Đâu là lịch sử Trung Hoa

Như vậy là, từ khoảng 2.600 năm TCN, với cuộc xâm lăng của Hiên Viên dựng vương triều Hoàng đế, nhà nước Trung Hoa ra đời.

Sau thời Nghiêu, Thuấn, Hạ, các bộ lạc Thương, rồi Chu, bằng bạo lực vũ trang thay nhau thống trị Trung Nguyên. Để khẳng định tính chính thống của mình, nhà Chu chỉ chấp nhận lịch sử Trung Hoa bắt đầu từ ông tổ Hậu Tắc. Cũng vì vậy, chính sử Trung Hoa ghi nghề trồng ngũ cốc chỉ bắt đầu từ Hậu Tắc. Đó là sự xuyên tạc, vì 8.000 năm trước, kê đã được trồng tại văn hóa Ngưỡng Thiều và xa hơn, 12.000 năm trước, lúa nước được  trồng ở Nam Dương Tử.

Không chỉ vậy, để đề cao tính chính thống của mình, các vương triều Trung Hoa còn tỏ ra bất nhân, vô ơn, coi các quốc gia Việt xung quanh họ là di là man, là rợ một cách khinh bỉ.

Cái mà chính sử Trung Hoa quen gọi là “nhà Tần thống nhất đất nước” thì về thực chất là cuộc đại xâm lăng các quốc gia Việt rộng lớn: Ba Thục phía tây, Sở phía đông và Văn Lang ở phía nam, sáp nhập bản đồ Trung Hoa. Nước Trung Hoa thời Tần được hình thành trên cơ sở đất đai, dân cư và văn hóa của người Việt.

Lưu Bang là người Việt sống bên bờ Hán Thủy nước Sở. Trong tiếng Sở, Hán, Hon hay Hòn đều có nghĩa là Việt. Khi làm vua, ông lấy tên Hán của quê hương mình đặt cho vương triều. Nhà Hán ra đời từ đó. Sau này người Trung Quốc được gọi là người Hán mà người ta quên rằng trong lịch sử chưa bao giờ có người Hán mà chỉ có người Việt sống bên bờ Hán Thủy!

Lịch sử Trung Hoa được kể từ đời Thương, 3.500 năm trước, ngắn hơn so với 4.600 năm nước Trung Hoa ra đời nhưng càng trở nên ngắn ngủi so với 40.000 năm người Việt khai phá lục địa Trung Hoa.

Cái khoảng thời gian xa thăm thẳm ấy, người Trung Hoa chưa biết!

3. Đâu là cội nguồn ngôn ngữ Trung Hoa

Từ xa xưa, người Việt có truyền ngôn “Việt Hoa đồng chủng đồng văn”, nghĩa là người Hoa và người Việt cùng chủng tộc và văn hóa.

Nhưng vào thập niên 20 thế kỷ trước, những học giả thực dân như  Maspéro và Karlgren, dùng phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ tân kỳ, khẳng định: “Tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán (!)” Thuyết này được thừa nhận như một khẳng định khoa học và truyền bá khắp thế giới. Nhưng đó là sự dối trá vĩ đại, một sự đảo điên trắng trợn. Thực  tế cho thấy một tình hình trái ngược: tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa!

Có thể khẳng định: khoảng 4.600 năm trước, khi vào chiếm đất Bách Việt, người Mông Cổ là những bộ lạc du mục võ biền với vốn từ vựng nghèo nàn, chưa có chữ viết. Để sống còn, họ phải học nghề nông, phong tục tập quán, tiếng nói và chữ viết của người Việt. Trong vị thế kẻ thống trị, người Mông Cổ buộc dân cư vùng bị chiếm phải nói và viết theo cách nói Mông Cổ (Mongol parlance). Sau nhiều thế hệ, ngôn ngữ Trung Hoa hình thành, gồm chủ yếu là từ vựng Việt, được nói và viết theo ngữ pháp Mông Cổ.

Do người Việt sống phân tán trên khắp đất Trung Hoa thời gian quá  dài nên phân hóa thành những nhóm có ngôn ngữ khác nhau. Trong sự đa tạp đó thì ngôn ngữ của người Việt phương Nam được coi là chuẩn, ở thời Xuân Thu, gọi là nhã ngữ – ngôn ngữ thanh nhã. Thời Tần, khi thống nhất văn tự, đã lấy ngôn ngữ phương nam – nhã ngữ làm quốc ngữ.

Ngày nay ta có thể dễ dàng tìm thấy trong cổ thư Trung Hoa như kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch những tên riêng theo cách gọi Việt như Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Nữ Oa, Đế Minh, Đế Lai… cùng với cách nói Việt “chính trước phụ sau” trong tập hợp “trung + danh từ” như trung đình, trung cốc, trung lâm, trung hà, trung quốc… (ngược với cách nói Hoa: lâm trung, cốc trung…) với nghĩa trong sân, trong hang, trong rừng, giữa sông, trong nước.

Trong sách Thuyết uyển của Lưu Hướng đời Hán có bài Việt nhân caDuy gáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn. Hơn 2.000 năm nay, nhiều văn nhân tài tử cố giải mã hai bản văn này mà chưa có lời giải nào thực sự thuyết phục. Nhưng khi học giả Đỗ Thành giải mã theo hệ thống tiếng Việt cổ thì hóa ra đó là bài thơ lục bát của người Việt và một mệnh lệnh ngắn gọn bằng tiếng Việt của ông vua Việt! (2)

Dấu ấn rõ ràng nhất của tiếng Việt trong ngôn ngữ Trung Hoa là cuốn Thuyết văn giải tự của Hứa Thận đời Hán. Xin dẫn khảo cứu của học giả Đỗ Thành:

“Thuyết văn giải tự” do Hứa Thận thời Đông Hán biên soạn, bao gồm hai phần là Thuyết văn và Trọng văn.

– Phần Thuyết văn gồm 9.353 chữ, chia theo 540 bộ thủ.

– Phần Trọng văn gồm 1.163 chữ, chỉ ra những chữ cùng âm cùng nghĩa nhưng mà cách viết khác nhau.

Thuyết văn dùng hai phương pháp “Phản” và “Thiết” để tra chữ, rồi giải thích nghĩa, tạo ra tiền lệ và trở thành quyển từ điển chữ Hán đầu tiên. Các từ điển sau nầy là phỏng theo phương cách của Thuyết văn.

– “Phản” là cách nói phản-nghịch (nói lái): dùng từ phản (nói lái) để đọc ra phát âm của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

Phát âm chữ “Thiên 天” là theo cách nói lái của “Tha-Tiền 他前”, là “Thiên Tà”, thì sẽ biết “Thiên” là phát âm của chữ 天 = 他前.

– “Thiết” là nhất thiết, là tất cả: chữ đầu lại dùng luôn âm vần của chữ thứ hai để phiên âm ra giọng đọc của chữ cần tra cứu. Ví dụ:

Phát âm chữ “天” là dùng chữ “Tha-Tiền 他前”. Với cách đánh vần chữ “Tha 他” và dùng luôn âm “iên” của chữ “tiền 前” thì sẽ được Tha-iên –>Thiên: 天=他前.

–  Chữ 夏, tiếng Hoa ngày nay đọc là “Xia”. Thuyết văn ghi, 夏 : 中國之人也. 從夊從頁從𦥑. 𦥑,兩手. 夊,兩足也. 胡 雅 切. (Hạ: Trung Quốc chi nhân dã. Tùng xuôi tùng hiệt tùng cúc. Cúc, lưỡng thủ. Xuôi, lưỡng túc dã. Hồ nhã thiết.)

Nghĩa là, Hạ 夏: người Trung Quốc vậy. Viết theo xuôi theo hiệt theo cúc𦥑. Cúc , hai tay (cúc: khép, chấp hai tay. Ngày nay còn dùng: cúc cung tận tụy). Xuôi, hai chân vậy. Hồ nhã thiết.

– Phiên âm theo cách phản: Hồ nhã = Hà nhỗ, âm : “Hạ”

– Phiên âm theo cách thiết: Hồ-nhã=Hồ-a-ha, âm : “Hạ”.

Một đoạn ngắn nêu trên khi tra chữ Hạ 夏 cho thấy thời cổ đại cho đến Hán triều thì chữ 夏 xia của tiếng Hoa bây giờ, ngày xưa đọc là “Hạ”. Như vậy rõ ràng là dùng tiếng “Xia” khi tra Thuyết văn là trật, là không thích hợp. “Hồ nhã” không bao giờ phiên âm ra thành “Xia”.

Chữ Bôn

譒  也。从言番聲。《商書》曰:“王譒告之.”  補過切
Boa dã. Tùng ngôn bàn thanh. (Thương thư) viết: “Vương bôn cáo chi”. Bổ qua thiết, là “ Bổ-ua=bua”. Bua (Bổ qua thiết là phiên âm của đời sau. Nguyên văn của “Thuyết văn” là “ngôn-bàn thanh 言番聲”= Bôn.

Bây giờ người ta đọc chữ Bôn (bua) 譒 là “Phiên” hay là “Phồn”. Đọc là “phồn” thì còn hợp với Thuyết văn đã ghi là “ngôn, bàn thanh”. Bôn hay Phôn hay Phồn giống nhau, chỉ là đọc giọng nặng nhẹ khác nhau theo từng miền. Người ta đọc 譒 phiên theo âm chữ ghép bên phải là “phiên 番”; cách đọc “phồn 譒” là vì ghép vần 番 phiên và 言 ngôn. Nhưng thời xưa lại đọc chữ 番 phiên là “bàn 番”.

Xin giải thích thêm: 譒 vết tích của âm “Boa” còn được dùng trong tiếng Triều Châu – Mân Việt ngày nay. Hiện giờ tiếng Triều Châu vẫn gọi “bàn chân” là “kha-bóa” (Kha là kẳng/cẳng, Boa là bôn/bàn, bàn tay, bàn chân). Từ nguyên văn “tùng ngôn bàn thanh” của Thuyết văn thì chúng ta biết được ở thời Cổ đại đọc là “Bôn, Bồn, Bàn”, đến thời Trung Cổ, người ta “biên soạn” lại Thuyết văn thì thêm vào “Bổ qua thiết = Bua = Boa” phù hợp với “kha-boa (bàn chân)”, bên tiếng Triều Châu còn dùng cho đến ngày nay. Âm của các “Nho gia” từ từ biến thành  “Phiên – như tên của nước “Thổ Phiên” hay “Phồn”, tức là nước “Thổ phồn”.

“Phiên” hay “Phồn” có sau và được dùng cho đến ngày nay. Người ta lại gọi đó là “từ Hán-Việt”! Điều rõ ràng là “Hán-Việt” của “phiên” hay “phồn” có sau, còn chữ Nôm “bóa” “boa” “bàn” mới là có trước và đã được ghi trong sách “Thuyết văn”. Cho nên nếu nói rằng “bàn” là “Nôm” thì rõ ràng là Nôm có trước.

Dưới đây sẽ xét đến âm chữ Bàn trong Thuyết văn:

  番:  獸足謂之番。从釆;田,象其掌。   附袁切  

Phiên: Thú túc vị chi phiên. Tùng 釆 thể; 田 điền, tượng kỳ chưởng 掌. Phù viên thiết.

Phiên: Chân thú gọi là phiên, viết theo 釆 thể; theo 田 điền, như là chưởng (bàn tay).

Phần trên là tôi phiên dịch theo “đa số” hiện giờ! Và “phù viên thiết” cũng là do đời sau thêm vào mà phiên âm như vậy, chứ thật ra thì đoạn văn trên phải phiên dịch là “ Bàn: thú túc vị chi bàn, tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng.”

Đây là vết tích của chữ Phiên 番 trước và ngay thời Hán, vào lúc ông Hứa Thận còn sống thì đọc là Bàn. Cho nên còn cách giải nghĩa phần nầy như sau:  { Bàn 番: Thú túc gọi là Bàn. Theo  (thể) 釆 bẻ ; (Điền) 田 đàn, tựa như cái chưởng. Bàn:  chân thú gọi là bàn (bàn chân), viết theo bẻ 釆 (thể) và đàn 田 (điền), tựa cái bàn (tay, chân)…} Vì sao lại “diễn nôm” như vậy ? Vì thuyết văn đã viết đây là “ngôn – bàn thanh”.  Chữ bẻ 釆 (thể) quá đặc biệt! (“thể” là “hái” là “bẻ”). Tiếng Triều Châu đọc là “bboi” hay “bbé” hay “tiaé”; tiếng Quảng Đông là “chsổi”; tiếng Bắc Kinh là “chsài”. Chsổi hay chsài  y như đọc “thể” không chuẩn mà thành “chsể, chsề”, còn “thể” đọc không chuẩn qua vần “T” sẽ thành “tể” hay “Tiae” ; “bbé” hay “bẻ” là giống nhau. Xin hỏi ai là chuyên gia về “Hán-Nôm” thì những âm của một chữ “đặc biệt” như vậy, âm nào là “Hán”, âm nào là “Nôm” và chữ Hán có trước hay là Nôm có trước?

Điều thú vị khi nghiên cứu Thuyết văn giải tự của Hứa Thận để phục nguyên cổ Hán ngữ thì thấy rõ phát âm thời Tần và Hán giống như các tiếng nói Việt Nam và Quảng Đông (Việt), Phước Kiến-Triều Châu (Mân-Việt) ngày nay; đồng thời cũng phát giác những biến âm đã khác tiếng Việt thời cổ đại mà các phương ngôn Việt Nam, Quảng Đông, Triều Châu còn giữ được. Ví dụ tiếng Việt Nam còn giữ được tiếng “bàn” tay, “bàn” chân; Triều Châu giữ được “boa-boá” hay là “póa” Trung cổ mà thời Hán đã được ghi lại trong “Thuyết Văn”. Biến âm của Bàn-bồn-bôn/ tùng “ngôn” “bàn” thanh trở thành bua-boa-bóa-póa, trở thành “biên” rồi thành “phiên” và “phồn”! Thực ra thì từ “bàn-bèn” biến thành biên, bua, phàn, phền, phồn, phiên v v… đó là quy luật biến âm thường tình của ngôn ngữ theo miền và theo thời đại. Cổ âm xưa là Bàn, giáp cốt – kim văn đã vẽ rõ chữ nầy bằng hình bàn chân thú với đầy đủ móng vuốt. Ngày nay chỉ có tiếng Việt Nam còn dùng “bàn” là “bàn tay – bàn chân” thì rõ ràng là tiếng Việt Nam còn giữ được âm cổ xưa nhất, và cũng là một minh chứng giọng “Nôm” của chữ “Nôm” là có trước: có thể nói giáp cốt văn-chữ tượng hình đầu tiên là “chữ Nôm” tức chữ Việt cổ. cổ văn vẽ chữ tượng hình:  番 phiên là “bàn 番” , bàn chân thú có móng vuốt. Ngày nay đọc “附袁切 phù viên thiết” thì làm sao đúng với ngày xưa? Nếu đọc là “bùa vang- 附袁” là “bàn (vua)” thì hoàn toàn đúng là “bàn” như chú thích trong Thuyết văn vậy! Bởi vì chính chữ “bùa” của bùa chú là chữ bùa (附) đó thôi. Tiếng Việt ngày nay, “phù” và “bùa” vẫn được dùng như nhau.”

Từ phân tích trên có thể đưa tới kết luận vững chắc rằng: không phải tiếng Việt mượn tiếng Hoa mà ngược lại, chính tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa. Đấy chính là lịch sử chân thực của phương Đông mà rồi đây các học giả Trung Hoa từng bước sẽ giác ngộ.

4. Kết luận

Khoa học đã soi sáng lịch sử. Những phát hiện di truyền học thập niên đầu thế kỷ không chỉ soi sáng cội nguồn nhân loại mà còn cho thấy bức tranh chân thực về sự hình thành dân cư cùng văn hóa Đông Á.

Người Việt cổ không chỉ sinh tạo ra toàn thể giống nòi Đông Á mà còn sáng tạo nền văn hóa phương Đông rực rỡ.

Từ cuộc xâm lăng của người Mông Cổ, nói như Khương Nhung, tác giả Tôtem Sói, một nhà nước mang máu sói ra đời, đã bành trướng, chiếm đoạt đất đai, dân cư và văn hóa của các quốc gia Việt trong vùng. Trong quá trình lịch sử, do nhiều lần bị các tộc du mục thống trị, nguồn máu sói được tăng cường, trở thành tai họa cho các dân tộc nông nghiệp phương Đông.

Thiên thư đã định là, dù trải nghìn năm bị người Trung Hoa đô hộ, dập vùi, cướp đoạt, người Việt Nam đến nay vẫn giữ được nền độc lập trên đất tổ gốc của mình và duy trì nền văn hóa giầu giá trị nhân văn của tộc Việt từ xa xưa.

Tháng Tám năm 2011

Ghi chú:

1. Xin xem thêm các bài có cùng tác giả Hà Văn Thùy:

Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học 2007.

Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.

Tìm cội nguồn qua di truyền học. NXB Văn học, 2011

2. Xin xem nhannamphi.com

* 298. LOẠT BÀI VỀ “CÂU CHUYỆN KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI” GIỮA TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM.

34 bình luận trước “314. TRAO ĐỔI LẠI VỚI HỌC GIẢ TÔN HỒNG NIÊN VỀ LỊCH SỬ”

  1. […] Nguồn Like this:LikeBe the first to like this post. […]

  2. […] https://anhbasam.wordpress.com/2011/08/31/314-trao-d%E1%BB%95i-l%E1%BA%A1i-v%E1%BB%9Bi-h%E1%BB%8Dc-gi…  […]

  3. […] https://anhbasam.wordpress.com/2011/08/31/314-trao-d%E1%BB%95i-l%E1%BA%A1i-v%E1%BB%9Bi-h%E1%BB%8Dc-gi… […]

  4. Trần Tự Do said

    Tôi thấy bài của Hà Văn THủy rất thuyết phục, cần dịch ra nhiều thứ tiếng và công bố rộng rãi nhằm trao đổi tranh luận với các sử gia quốc tế cho ra ngọn ngành, có thể tổ chức cả hội thảo về các vấn đề trên để các học giả kể cả Trung Quốc được thấy sự công bằng của khoa học lịch sử.
    Khi thấy đủ sức thuyết phục thì phải biên soạn thành sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Mục đích là tôn vinh khoa học lịch sử và tăng cường lòng tự hào dân tộc cho người Việt Nam.

    Nhưng vấn đề truy nguyên nguồn gốc lịch sử từ qua xa xưa cũng chỉ là khoa học lịch sử, còn biên giới, lãnh hải của các quốc gia hiện đại là dựa vào thực tế đàm phán ký kết sau mỗi cuộc chiến tranh; sau mỗi cuộc mua bán, sát nhập hoặc chia tách tại những thời điểm gần nhất với hiện tại.
    Ví dụ: khi Naponeong tại vị thì biên giới các nước Ý, Áo, Phổ, Pháp… khác; sau khi Naponeong thất trận thì biên giới Đức, Ba lan, pháp, ý… lại khác.; sau 1945 thì có hai nước Đức nhưng sau 1989 thì chỉ còn một nước Đức; sau 1953 có hai nước Triều Tiên; sau khi Liên Xô tan rã thì lại xuất hiện thêm nhiều quốc gia khác như Azecbaizan, Benlarut, Ucraen,..; Pakitan tách ra từ Ân độ; Đông ti mo mới tách ra từ Inđônesia……Hoặc một số nước thuộc địa của Anh, Pháp, Bồ đào nha, Tây ban nha…. tách ra độc lập sau này.

    Sau mỗi cuộc chiến, sau mỗi cuộc sát nhập hoặc chia tách hoặc mua bán thì biên giới lãnh thổ, lãnh hải thay đổi là hiển nhiên, phải chấp nhận thực tế theo khả năng kinh tế, văn hóa, sức mạnh quân sự và ngoại giao của mỗi nước mà có được.

    Khôn thì được nhiều, dại thì mất nhiều. Vua sáng thì nước mạnh, vua tối thì nước yếu. Mạnh được, yếu mất. Vua bán nước cầu vinh thì sẽ mất nước hoặc vua bán nhiều thì mất nhiều, bán ít thì mất ít, chỉ có người dân chịu thiệt.

    Từ đó có thể nói biên giới, lãnh hải, đảo của Việt Nam không cần viện đến lịch sử quá xa xôi làm gì, chỉ cần chứng cứ , văn bản, hiệp ước và luật lệ tính từ thời Nguyễn Ánh đến nay. Tức là từ năm 1802, đặc biệt từ thời Pháp chiếm VN qua thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Đế Quốc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa đên nay là Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đủ khẳng định Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.

    Thời Đế Quộc Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu, tại hội nghị quốc tế về biển tại Sanfranxico 1951 đã tuyên bố khảng định với cả thế giới về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.

  5. F 361 said

    Những điều Ông HVT viết, đúng là có xuất phát từ các luận điểm của linh mục Kim Định từ các sách Việt Lý Tố Nguyên, Dịch Kinh Linh Thể, Lạc Thư Minh Triết, Loa Thành Ðồ Thuyết,… Tuy nhiên các luận điểm của ông Kim định chỉ là những dự phóng thiên tài, thiếu chứng cứ vật chất… nên cuối cùng ông kết luận đó là ý đồ của Chú Kitô.
    Các trình bày của ông HVT (tôi tạm gọi là luận điểm HVT, dù nó được nhiều người xây dựng và phát triển) lại được củng cố bằng các kiến thức phát hiện gần đấy nhất về mặt di truyền học phân tử và được giới khoa học hiện đại thế giới xác nhận. Ngoài ra vấn đề này còn được sư hổ trợ của các ngành rất khác nhau nhưng lại hoàn toàn ủng hộ các luận điểm của HVT.
    Ngoài ra ông HVT, gần như là người phát ngôn cho luân điểm này, dù nhiều người khác đã lên tiếng trước ông HVT, như Phạm Viêt Châu (Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh), Cung Đình Thanh, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đức Hiệp (Một vài ghi chép thêm về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam)… Ngoài ra nó còn lấy cảm hứng từ “ÁNH SÁNG MỚI TRÊN MỘT QUÁ KHỨ LÃNG QUÊN” củaTíến Sĩ Wilhlem G. Solheim II, “ĐỊA ĐÀNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG” của Stephen Oppenheimer.
    Mời các ACE vào trang anviettoancau để tự mình tìm hiểu kỷ càng hơn và đóng góp thêm cho các quan điểm trên đây. Chỉ có qua tranh luận, cọ xát, thì chân lý mới hiển lộ.
    Chỉ có sức mạnh dân tộc mới bắt bọn học giả bá quyền Bắc Kinh im miệng được. Hiện nay, họ như con đà điểu rúc đầu vào đống “nhị thập tứ sử” để rặn ra cái gì phù hợp với ý đồ xâm lược của Nha nước China. đây là điểm yếu chết người của họ: hoặc họ không biết các phát hiện mới nhất về cổ sử, cổ sinh học di truyền phân tử…, hoặc biết nhưng cố tình xuyên tạc theo ý muốn của họ. Nhưng chân lý khoa học thì chỉ có đúng hoặc sai.
    Một điều làm cho các luận điểm HVT chưa được phổ biến rộng rải, cũng do sư im lặng khó hiểu của giới sữ học chính thống VN. Họ cũng giống như đám học giả China: họ sợ những phát hiện mới này đánh đổ cái mà họ đã bám víu mấy chục năm nay để có được học hàm, chức vị, lương cao bổng hậu… (Nói ngoài lề chút xíu, mấy ông nêu quan điểm mới này toàn dân tay ngang, không được đào tạo chính thống về sử học. Có ông sử gia được đào tạo rất chính quy về sử mà ông ta rât tự hào, là sử gia Vũ Ngự Chiêu, cũng chẳng thấy nói năng cho gảy gọn về luân điểm mới này).

    Ngoài ra tôi coi khinh tất cả những kẻ tư ti, nhu nhược, không tư mình tìm hiểu vấn đề, tự vấn, để tìm ra những kết quả tích cực cho việc hình quan điểm mới vể lịch sử cổ Việt – Hoa, mà cứ giở ba cái luận điêu xưa như truyện Tàu để châm biếm, chế giểu, đả kích luận điểm HVT.

    Chúng ta, mọi người VN, phải hợp sức, trí nảo, kiến thức… để bẻ gảy các bài báo lếu láo về mặt học thuật và lịch sử. Hơn nửa dân ta rồi còn phải dồn sức, dồn tài lực để bảo vệ và thu hồi biển đảo.

    F 361

  6. Vô Tình Tú Sĩ said

    Nên mời ông Tôn Hồng Niên qua Kampuchea học lại lịch sử hình thành nước Đại Việt;

  7. nieman54 said

    Người Tàu còn hay đạo văn, đạo ý tưởng nữa. Đấy ví dụ như nhân vật AQ của Lỗ Tấn chẳng hạn. AQ là mẫu người Việt Nam đấy chứ. Bằng chứng là ông giáo sư này này. Là con cháu AQ chứ còn gì nữa. Không biết ông giỏi môn “Việt Nam học” đến độ nào mà nổ khiếp thế? Kinh!
    Đề nghị kiện Lỗ Tấn tội đạo ý tưởng.

  8. lehaichampal said

    Thời nào cũng vậy,mạnh được,yếu thua,không thể khác được. Trước đây bác Lê Duẩn nói”Mỹ giàu nhưng không mạnh”
    nghĩa là yếu nhưng lại giàu.
    Trước 30/4/1975 trong,ngoài vỹ tuyến 17 mấy chủng người mà choảng nhau chí tử vì cái gì vậy? Khẳng định: Thế giới
    này chỉ có Một chủng người mà thôi. Đen,vàng,đỏ,trắng chỉ là do khí hậu của vùng miền trên hành tinh này quyết định.
    Người châu âu đến châu phi ở Mười đời sau sẽ đen cho mà coi. Người đầu tiên xuất hiện trên trái đất chắc chắn không
    có cha+mẹ vậy chủng đâu,tộc đâu mà”70.000″năm có đến 7 tỷ. Chúng ta chưa biết mình sinh ra từ đâu thì chủng với tộc
    chưa nói lên điều gì,có khi còn giết nhau cho chết bớt bởi quá đông…

  9. KTS Trần Thanh Vân said

    Bài viết của tác giả Hà Văn Thủy là một trong những kết quả nghiên cứu rất sâu sắc của ông. Tôi trân trọng và coi đây là một tài liệu tham khảo. Riêng về phần phân tích về ngôn ngữ,( mục 3 ) tôi có thể bổ sung như sau.
    Là lưu học sinh, du học ở Trung Quốc 5 năm, vào thời kỳ còn rất trẻ, lại học ngành Kiến trúc ( nên có học lịch sử Trung Hoa từ thơi ăn hang ở lỗ cho đến thời văn minh ), tôi có thể tự tin “khoe” rằng tôi nói tiếng TQ hay hơn nhiều người dân TQ và “vẽ” chữ TQ ( bằng bút sắt ) cũng đẹp hơn nhiều người dân TQ.

    Bởi vậy tôi có thể khẳng định rằng tiếng TQ rất nghèo về âm tiết. Bởi vậy ngôn ngữ của họ có rất nhiều từ “đồng âm dị nghĩa” và họ đành phải dùng “chữ tượng hình” để “vẽ” lên cái điều họ định nói. Bởi thế chữ viết của họ phức tạp và rắc rôi.
    Ví du như chữ BẢO có tới chín cách viết chữ BẢO khác nhau mang chín nghĩa khác nhau:

    Thí dụ.
    Nếu là bảo vật, của quý, thì họ vẽ cái mái nhà rồi để hòn ngọc ở bên trong.
    Nếu là bảo vệ, thằng gác cửa, thì là thằng đần, có bộ nhân đứng, như một cái cây gỗ có cái mồm để ăn.
    Nếu là thành quách thì chữ bảo vệ đè lên trên một chữ Thổ.Tức là thằng bảo vệ gác thành……

    Cũng vì rắc rối phức tạp như vậy nên TQ đã nhiều lần thất bại khi họ muốn la tinh hóa chữ viết. Rời hình vẽ ra, chữ viết của họ phiên âm lên khiến người đọc không hiểu ý nghĩa gì cả.

    Ở Việt Nam ta thì ngược lại, ta có chữ Việt cổ thời Hùng Vương, ta có chữ Nôm, tồn tại song song với chữ Hán và khi chữ Quốc ngữ ra đời đã trở thành phổ cập hơn 100 năm nay thì không việc gì phải lăn tăn về chữ viết của ta với TQ nữa.

    Tiếng nói, chữ viết là biểu hiện của một mặt văn minh.

    Còn chuyện ăn ở?.

    Quả thật. Trong ký ức của tôi, người Tàu là một trong những người ở bẩn nhất thế giới. Chắc bà con Hà Nội chưa quên khu nhà Ba Tàu phố Hàng Buồm? Ngay tại Thượng Hải, một trong những thành phố văn minh nhất TQ cũng thế. Đó là đặc điểm dân tộc. Thậm chí người Tàu ị vào những chiếc thùng gỗ để trong phòng ngủ.
    Một trong những câu chuyện “Truyền thống văn hóa cưới hỏi” mà tôi nhớ nhất là người ta mang tặng đôi vợ chồng mới cưới một cái thùng gỗ có nắp đậy, sơn son thiếp vàng hẳn hoi, người ta vứt vào đó nào kẹo bánh, hoa quả, tiền xu….để ở ngay trong phòng ngủ của đôi vợ chồng trẻ. Đêm tân hôn, đôi vợ chồng trẻ ăn uống xong, đi vệ sinh, có thể ị vào đó, thể hiện họ may mắn sung túc….phóng uế ra vàng???!!!!

  10. Má TÀU said

    Ơn Đảng, ơn chính phủ( lời một bài hát) mà Hai lúa mới biết đến độc lập, tự do, có cơm ăn, áo mặc.
    Bên TQ, nghe tin nhân dân bị đói khổ, nhiều nơi bị quan tham nhũng nhiễu, nhà sư tự thiêu vì đòi độc lập, sự kiện Thiê6n an môn…
    Nếu VN thành một tỉnh của TQ, Hai lúa sẽ có hoàn cảnh như bà con bên đó à? Hai lúa sợ quá. Vậy 90 triệu bà con VN có sợ không?
    Nếu VN thành 1 tỉnh của TQ, TQ có thêm 90 triệu lòng căm hờn và lúc đó nó kết hợp với hàng trăm triêu người TQ bị mất tự do, đói khổ để kết thành một làn sóng mạnh mẽ.
    Với tài biến ảo lịch sử, các nhà khoa học TQ đang mụ mị người VN. Nhưng Hai lúa cho biết, Hai lúa đang sống trong một đất nước có chủ quyền, độc lập, được thế giới công nâận.
    Các nhà ảo thuật gia lịch sử đừng dụ Hai lúa về lại lịch sử phong kiến CS nhé.
    ĐỪNG MƠ.
    HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA VN

  11. thai anh said

    Cái luận chứng khoa học của ông THÙY cũng có những điểm hay,co lý. Quan điêm :Văn hóa Hán,chữ vuông người Hán chiếm của người Bách Việt,theo tôi được biết,người đầu tiên nêu lên và chứng minh la giáo sư KIM ĐỊNH .Sau này ông Trần Ngoc THêm tiêp thu một phần đưa vào sach “Tim về cội nguồn
    v.h V.N”.Tôi cũng thừa nhận quan điểm này . Văn hóa gôc của người Hán là của dân du mục, bọn này
    chi giỏi về đánh nhau,đi cươp phá chinh phục,độc tài ,ác,hiếu chiên…Văn hóa Bách Việt (thuộcluwu
    vức sông Trường Giang)là văn hóa nông nghiệp lúa nước,quen sống ổn định ,hòa hiếu,ưa nghiên cứu phát minh (Các trung tam văn minh thời cổ đại đều ở các trung tâm nông nghiệp.thuộc luu vực các
    con sông lớn).Vì vâỵ cac tôc nguwoif Việt bi người Hán đô hộ ,đồng hóa là dĩ nhiên.May mà Lac Việt
    chưa bị đồng hóa …Biết vậy nhưng bây giờ ta cũng đành chịu vậy.Mình nhận chữ vuông là của mình
    nó đanh cho bỏ mẹ. Chẳng khác gì vợ của mình bị thằng hàng xóm to khỏe nó cướp mất,ở với nó mấy chục năm sinh con đẻ cái với nó rồi làm sao mà đòi lại đươc nữa ,thôi đành chịu mất vậy.Bây giờ nó
    cậy đông cậy khỏe đang định cướp nốt vườn ao của TA đấy ,Còn không đoàn kết bao nhau mà tìm cách
    giữ lấy ,không thì hêt đất sống đấy ĐỒNG BÀO ơi !

  12. Kiệt Nịch said

    Những điều ông Thùy nói, trước đây Giáo sư KIM ĐỊNH đã nói rồi . Chỉ tiếc là không thấy ông H.V.Thùy dẫn những tư liệu cụ thể của thế giới (theo như ông nói trong bài),chỉ như vậy thì mới có sức thuyết phục. Vả lại nếu có chứng minh được người Việt là tổ tiên của họ ,mà bây
    giờ lại bị nó cưỡi lên đầu thì càng thêm nhục mà thôi ! Như vậy cũng chẳng khác gì nhân vật
    A.Q của nhà văn Lỗ Tấn :” Cha ông ta ngày xưa danh giá gấp trăm lần cha ông nhà mày ấy chứ ”
    Hình như người mình mang cái thói”chiến thắng tinh thần” còn vào bậc “bố A.Q “: Đất nươc lạc
    hậu vào loại gần đội sổ của thế giới,thế mà quanh năm thấy tuyên truyền rùm beng đủcác kiểu
    lễ hội,rồi ‘nhặng” lên coi cả thế giới chẳng ai “anh hùng” bằng mình. Sắp đến ngày tết độc lập,
    trên các hệ thống thông tin tuyên truyền,báo chí lại đang đầy những lời có cánh tư khen mình đáy
    thôi.Nói thế tôi không có ý phủ nhận thành tich của cha ông mình .Tôi chỉ muốn nói một suy nghĩ
    chúng ta khoe it thôi, hãy tìm cách làm cho nhân dân ,cho đất nước thực sự tốt đẹp thì hơn ngồi
    mà “nhấm nhap”cái qá khứ vinh quang của ông cha !Vả lại “kẻ thù” nay ta đã định kêt bạn,mà lại
    cứ nhè vào vết thương quá khứ của người ta ,thì hỏi nếu là ta ta có muốn chơi với một ngươi cứ
    suốt năm chửi bố ta không? Thực tình tôi thấy lối tuyên truyền “khoe mẽ” quá nhiều của ta thật
    quá lố bịch !
    phục

  13. Bức xúc hơn said

    Người Việt Nam có truyện ngụ ngôn “Mèo và Hổ”. Không biết có phải muốn nói rằng, ngày xửa ngày xưa, Việt (mèo) dạy võ cho Tàu (hổ). Không ngờ, dạy xong, võ đánh trả thầy, Tàu bành trướng hết đất Việt, Cũng may, Việt vẫn còn ngón võ bí truyền, nên bọn Tàu hết thua keo này đến thua keo khác???

    • Khách said

      Chính xác là câu chuyện này đó. Văn hóa dân tộc Việt phi vật thể có nhiều chuyện ngụ ngôn phản ánh đời sống. Ví dụ chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh là phản ánh chuyện trị thủy, thời kỳ nước biển dâng đối với dân tộc. Chuyện Thánh Gióng phản ánh cuộc chiến đánh giặc Ân. Câu chuyện Mèo và Hổ phản ánh chuyện trò đánh thày… Còn rất nhiều chuyện khác trong dân gian nếu các chúng ta muốn tìm hiểu rõ hơn về lịch sử văn hóa dân tộc.
      Một góc nhìn khác về nguồn gốc du mục của dân Hán đó là các bác nhìn vào cách hành xử, văn hóa lối sống của chúng ngày nay thì thấy rất rõ. Vụ thảm sát Thiên An Môn man rợ, các vụ ăn thịt hài nhi, giết đồng loại, chuyện ăn cướp và hành xử như cướp biển trên Biển Đông, chí Phèo với thế giới, thực phẩm độc hại tuồn khắp thế giới,,, Nếu nhìn dưới góc độ văn hóa thì đó phản ánh tiềm thức mọi rợ của Hung Nô, Mông Cổ của dân Hán. May mà nó kết hợp với dân Việt nên mới có được những thành tựu văn hóa mà nhiều người lầm tưởng là rực rỡ của Tàu này.
      Ngày nay chính các học giả Trung quốc cũng không thẻ xác nhận được Kinh Dịch là của mình sau mấy ngàn năm. Tương tự Phong thủy, Tử vi,…các học giả Trung quốc cũng còn mù mờ và không thể xác định được nguồn gốc của nó vì nó chứa trong đó những mật mã không phải thuộc dân tộc Hoa Hạ mà của dân tộc Việt.
      Đó chính là chìa khóa để khẳng định rằng Trung quốc không phải là chủ nhân của những tinh hoa văn hóa cổ Phương Đông.

  14. TổQuốcNhìnTừBiển said

    Trên thế giới khi con người từ bỏ đời sống trong hang núi để sống trên mặt của trái đất có hai người: một ông một bà (ông bụt và bà trời) đã tạo ra “quy cửu” cho con người và chia con người ra 4 bốn tộc thị đại diện cho 4 sắc dân: da vàng, da đỏ, da đen và da trắng.

    Mỗi sắc dân được trao cho 1 tấm thẻ bài và đi về 4 hướng khác nhau. Họ có bổn phận phải đi vượt sông vượt núi (vượt=việt) tạo dựng thị thành cho đến khi nào họ đến tận cùng của trái đất.

    Sắc dân da đỏ ngày nay là gốc của châu Mỹ và tấm thẻ bài và văn hóa đó được đời đời lưu truyền và được chăm giữ bởi bộ lạc HOPI (Hòa Bình).

    Tấm thẻ bài của sắc dân da vàng được trông giữ bởi dân Tây Tạng (Đó là lý do tại sao cách đây vài năm đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng đã phải đến gặp dân HOPI để đối chứng thẻ bài của dân da vàng với thẻ bài của dân da đỏ và để coi những gì “ông bụt” đã dặn dò còn bao nhiêu thời gian nữa sẽ đến.

    Tấm thẻ bài của sắc dân da đen thì nằm ở châu Phi và được gìn giữ bởi 1 bộ tộc trong quốc gia của bố tổng thống MỸ OBAMA.

    Tấm thẻ bài của dân da trắng theo đúng lý thì dân Thụy Sĩ phải gìn giữ tuy nhiên và dường như nó còn nằm nơi Ai Cập. Đó là lý do tại sao nhân loại đang lo sợ sẽ có một thế chiến thứ 3 sẽ xảy ra vì tấm thẻ bài của dân da trắng chưa tìm ra được để nhân loại cùng nhìn nhận tuy khác 4 màu da nhưng họ đều cùng một tộc thị: BÁCH VIỆT và cùng phải gọi nhau là đồng bào.

  15. Ẩn danh said

    Mời mọi người tìm đọc: ” Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm. Hay lắm và vấn đề này được phân tích rất khoa học và kỹ lưỡng

  16. Dân Việt said

    Khoa học thế này viết được sao”
    Cùng chung nguồn gốc? Rõ tào lao
    Tàu, Ta tự thưở vừa lập quốc
    Đã được bình yên một lúc nào?

    • Dân tộc Hán là đứa con hư của dân tộc Việt.

      • TổQuốcNhìnTừBiển said

        Phải cẩn thận cách ăn nói khi nói về lịch sử.

        Khi con người bỏ đời sống trong hang núi ra sống trên mặt trái đất thì có 4 dân tộc. Mỗi một tộc mang một sắc da. Da vàng, da đỏ, da đen và da trắng. Mỗi một sắc da đi về một hướng theo chỉ thị của hai người đắc đạo toàn chân thiện mỹ gọi là bà trời, ông phật (Nữ Oa – Bà Trời và Phục Hy-Phụ Hệ).

        Trên đời không có dân tộc Hán chỉ có triều đại nhà Hán được lập thành bởi Lưu Bang. Nói tới Lưu Bang phải nói tới Tây Sở Bá Vương Hạng Võ. Cả hai đều là thuộc dân Bách Việt.

        Khi Cao Biền qua nước ta đốt hết sách vở và đưa những sách tàu bậy bạ nhằm phá hoại long mạch của Việt tộc vì Cao Biền biết rằng sau này khi hết vòng biến hóa 5000 năm sẽ có thánh nhân ra đời để đưa nhân loại và Bách Việt quay về một mối.

    • 100viet said

      Cảm tạ GS HVT đã cho một bài nghiên cứu công phu.

      Quan hệ văn hóa (vh) Việt – Hoa pha trộn có nhiều phức tạp. Có lẽ nên xem như chiếc bánh thì rõ hơn: Hoa ruột Du Mục (thợ săn – Hoàng Đế) nhưng vỏ lại thu tóm bọn Nông Nghiệp, nên bề ngoài tuy pha nhiều vh gốc Việt, nhưng bản tính lõi vẫn hiếu chiến (săn mồi: thắng = sống, yếu = chết) tâm lý lúc nào cũng sợ hãi phải cố tranh thắng tranh mạnh bằng mọi giá. Nếu không lại phải sinh mặc cảm (complex win-loose). Lại thêm quá tham lam thu tóm tạp nham, lúc nào cũng thấy cần phải thống nhất (one this, one that, one China, one world, one dream, one one one …)

      Việt gốc nông (Thần Nông) sống trên sự sống quanh mình, sống cho người ta sống với, nhưng lại phải tranh đấu quá lâu, bọc thêm lớp vỏ du mục, nhìn sơ sơ chẳng khác anh chàng kia bao nhiêu. Rồi lâu năm chẳng học hành gì quên tất gốc ruột xưa, đọc nhiều sách vở lý luận lại càng rối rắm. Không biết còn dùng được bài võ win-win được bao nhiêu. Lại bỏ xó bài võ ruột Trăm Việt, múa loạn bài One One One không biết học lóm của thằng nào! Ô hô ai tai.

      Source: tusachvietthuong.org

  17. Ẩn danh said

    TT. Thích Chân Quang có bài thuyết pháp nói về nguồn gốc của nước Việt:
    http://my.opera.com/minovn/blog/audio-mp3-tt-th
    (số thứ tự 16)
    PP.

    • Vô Tình Tú Sĩ said

      Trang web bác đưa không vô được, bác cho trang web khác nha
      Cám ơn bác

  18. doxuanthanh said

    Tôi nghe nói ở Quảng Đông có tiếng Việt, nhưng không phải Việt nam, có phải vậy không ?
    Theo ông Hà Văn Thùy thì người Việt và người Hán là đồng chủng(cùng huyết thống), vậy thì trách cứ gì khi phê phán ông Nguyễn Huy Quý(trưởng khoa tiếng Trung quốc ĐHHN- đã nghỉ hưu khi trả lời phỏng vấn Đài Phượng hoàng)?

    • Nails Man said

      Người Hoa có 2 loại : Hoa Bắc và Hoa Nam. Hoa Bắc thì cao to như Mông Cổ , rất hiếu chiến. Người Hoa Nam gốc từ giống Bách Việt , tức là thuộc vùng Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ. Người Hoa Nam thuộc chủng Bách Việt có quan hệ huyết thống chặt chẽ với người Việt Nam. Tiếng nói của người Hoa Nam gần giống như người Việt. Thí dụ : người Việt mình gọi là Mao Trạch Đông thì người Hoa Nam gọi là Mao Tse Tung. Mình gọi là Độc Lập thì người Hoa Nam gọi là ” tục lạp ” !
      Trong tương lai , những gì mà Đảng CS Trung Quốc cướp đoạt sẽ được trả lại cho nguyên chủ : Tây Tạng sẽ trở về cho người Tạng , Mãn Châu sẽ trở về cho người Mãn , Nội Mông sẽ sát nhập với Ngoại Mông cho dân Mông Cổ , và tất nhiên miền Hoa Nam sẽ trở về với chủng VN , Đài Loan , Hong Kong sẽ tách ra thành 2 quốc gia riêng. Siêu cường Hoa Kỳ đã tính rồi , chỉ có chia 5 xẻ 7 Trung Quốc thì mới triệt tiêu được tham vọng đế quốc của dân gốc Hán.
      Đảng CS Việt Nam vì không hiểu lịch sử nên trong cuôc Chiến Tranh Lạnh vừa qua thay vì đứng vào khối Tự Do để làm suy yếu Khối Cộng sản thì lại đứng với TQ để ngày nay bị hệ lụy sâu sắc với nước này. Nếu ông Hồ và Đảng CS VN chỉ cần tranh đấu Bất Bạo Động như thánh Ghandi Ấn Độ thì Pháp ,cho dù có chiếm VN ,cũng chả được bao lâu. Nhưng vì quyết tâm giải phóng đất nước bằng vũ lực nên đã phải nhờ Tàu giúp. Khi mà nhờ Tàu thì tên ” điếm chảy ” này sẽ đòi hỏi có qua có lại sau khi thành công !
      Pháp và Tây Phương cho dù có chiếm VN cũng là giữ đất và đảo cho dân VN chứ không nuốt chửng như Tàu. Chúng ta nên học người Thái và người Phi là không cần đánh thắng bất cứ đế quốc nào cũng dành được độc lập !
      Nên nhớ người Tây Phương dễ bị khuất phục bằng đấu tranh Bất bạo động vì họ văn minh , còn Tàu phải dùng bạo lực để tranh đấu chứ không dùng phương pháp như Đức Đạt Lai Lạt Ma được ! Đảng CS VN lại áp dụng ngược lại : thay vì tranh đấu bất bạo động với Tây Phương và bạo lực với Tàu thì họ lại dùng bạo lực với Tây Phương như Pháp , Mỹ , và quỵ lụy năn nỉ Tàu bằng chiến thuật Bất Bạo Động ! Tàu càng đánh VN thì Đảng CS thay vì chống cự thì lại đề cao 16 chữ Vàng và 4 Tốt ! Người Phi Luật Tân có một sách lược với Tàu rất rõ ràng : sẵn sàng dùng giải phap quân sự để giải quyết chủ quyền , trong khi Đảng CS VN( chứ không phải dân VN) lại chủ trương dùng ngoại giao và thuơng lượng một cách nhu nhược với một tên Côn Đồ Khu Vực !
      Thuơng lượng về ngoại giao với Tây Phương thì nên chứ còn với Tàu thì phải cứng rắn như Phi mới được !

  19. Ẩn danh said

    Đi từ miền Nam đến miền Bắc Trung Quốc mới thấy người miền Nam TQ như Quảng Đông, Quảng Tây rắt gần gũi người Việt Nam về văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc. Người miền Bắc Trung Quốc khác với người miền Nam nhiều, họ cao to, trắng hơn, mắt một mí sụp, tóc cứng.

    Miền Nam Trung Quốc là miền có sự phát triển về văn hóa, kinh tế hơn các vùng khác của Trung Quốc, đi khắp nơi trên thế giới chúng ta gặp người Hoa đa số là người Quảng Đông.

  20. bảo vệ said

    lai giống sói nên ăn thịt đồng loại nay mẹ Việt phải dạy lại đứa con bất hiếu này [giống tầu].

  21. Người Việt Nam said

    Ý bác Hà Văn Thùy là người Bách Việt chăng? Việt Nam là 1 phần của Bách Việt.

  22. Bạn có thể cho biết thêm về “Bài học Thái Bình” không?

  23. pham long said

    đọc hà văn thùy mới thấy người việt quá giỏi, văn minh quá rực rỡ. cho em hỏi một câu là người việt có phải việt nam không ạ? nếu đúng là người việt nam bây giờ là tổ ngoại của người tàu thì vinh dự quá, chỉ có tiếc là người tàu làm gì cũng bài bản, thâm hậu, còn người việt làm gì cũng hời hợt, tình thế. chắc do mấy bà mẹ hời hợt này thường đẻ con thông minh.

    • hanoian said

      Như tôi biết thì người Việt ở đây là thuộc các tộc Bách Việt. Người VN là 1 trong số đó và là tộc duy nhất còn sót lại do đã chống lại được sự đồng hóa của người Hán. Người Việt nam là kết hợp của Âu Việt và Lạc Việt.

    • Nobita said

      Có con cháu như tàu khựa thì có gì mà vinh dự!

    • donvuon said

      ôi phân tích như bài của ông Hà Văn Thùy thì người VN và nguwì TQ đều chung huyết thống là đồng bào rồi, còn những bất đồng như hiện nay là do nhận thức của lớp hậu bối “đéo biết gì mà còn tỏ ra nguy hiểm” thôi.
      Hoan hô lãnh đạo Đảng Nhà nước ta và Đảng, Nhà nước Tung Quốc sáng suốt hữu hảo làm rạng rỡ tổ tông.
      Theo phân tích như trên thì VN và TQ là một. Khoa học nhân chủng học có đúng vậy không. nếu không đúng thì chí ngu.

  24. Khách said

    Nhờ bác nào biết tiếng Trung dịch sang cho bọn Trung quốc nó đọc.
    Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy.
    Thật ra không phải bây giờ bác Thùy nói mà đã lâu Kinh Dịch, phong thủy, Hà đồ – Lạc Thư, Âm dương Ngũ hành, Tử vi, Bốc dịch,… là sản phẩm văn hiến của Việt tộc, kể cả hình tượng Rồng. Tuy nhiên sau này khi Hai Bà Trưng thất trận, nước Văn Lang cùng với những thành tựu văn hóa rực rỡ của nó bị dân Trung quốc nhập và nghiễm nhiên lầm tưởng rằng của mình.
    Ngày nay tại Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam vẫn còn có những nơi có đền thờ Hai Bà Trưng (theo khảo cứu của BS Trần Đại Sỹ và một số tư liệu khác). Nhân dân xung quanh đó vẫn giữ những ký ức về Hai Bà. Đó là những dấu tích thể hiển rằng Hai Bà đánh trên chiến trường Bắc Việt nam và Nam Trung quốc chứ không chỉ là miền Bắc Việt nam bây giờ. Lãnh thổ của chúng ta lúc đó ở ở Nam Dương Tử chứ không chỉ là miền Bắc bây giờ.
    Nhìn vào điều đó càng thấy Tàu nhận xằng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung quốc từ thời nhà Hán là xảo trá và bất chấp lịch sử đến mức nào.
    Đã đến lúc đòi lại những gì của Tổ tiên chúng ta.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d người thích bài này: