BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

285. Biển Đông – Tương lai của Xung đột

Posted by adminbasam trên 22/08/2011

Foreign Policy

Biển Đông – Tương lai của Xung đột

Chiến trường quyết định của thế kỷ 21 sẽ là trên mặt nước.

Robert D. Kaplan

Tháng 9-10 năm 2011

Châu Âu là một bức địa cảnh; Đông Á là một bức thủy cảnh. Trong đó ẩn chứa một sự khác biệt chủ yếu giữa hai thế kỷ 20 và 21. Những khu vực bị tranh chấp nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ vừa qua nằm trên đất liền khô cạn ở châu Âu, đặc biệt là trong sự mở rộng mặt bằng tạo nên những đường biên giới giả tạo ở phía đông và phía tây nước Đức và phơi ra cho cuộc hành quân bất lay chuyển của quân đội. Nhưng trong nhiều thập niên, trục nhân khẩu học và kinh tế của Trái Đất đã dịch chuyển đáng kể đến tận cùng bên kia của lục địa Âu – Á, nơi không gian giữa những trung tâm dân số lớn chủ yếu là biển.

Nhờ cách thức mà địa lý học giải thích và đặt ra các ưu tiên, những đường nét tự nhiên của Đông Á báo trước một thế kỷ hải quân – hải quân ở đây được xác định theo nghĩa rộng bao gồm cả các đội hình chiến đấu trên biển và trên không mà giờ đây đã trở nên ngày càng phức tạp. Tại sao? Trung Quốc, đặc biệt là hiện nay khi các đường biên giới trên bộ của nước này an toàn hơn so với bất cứ thời nào kể khi Nhà Thanh cực thịnh vào cuối thế kỷ 18, đang bận rộn trong việc mở rộng hải quân một cách không thể chối cãi. Chính nhờ sức mạnh trên biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ về mặt tâm lý hai thế kỷ những tội ác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình – buộc tất cả các nước xung quanh phải phản ứng.

Giao chiến quân sự trên đất liền và trên biển rất khác biệt, có những tác động lớn đến các chiến lược lớn cần thiết để chiến thắng – hoặc né tránh – chúng. Giao chiến trên đất liền vướng víu dân thường, trên thực tế làm cho các quyền con người trở thành một yếu tố nổi bật của các nghiên cứu chiến tranh. Đánh nhau trên biển tiếp cận xung đột như một vấn đề lâm sàng và mang tính kỹ trị, trên thực tế giảm thiểu chiến tranh thành toán học, tương phản rõ rệt với các trận chiến trí tuệ vốn đã giúp định rõ các cuộc xung đột trước kia.

Thế chiến II là một cuộc đấu tranh đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa cộng sản, hệ tư tưởng áp bức tương tự đã cai trị các vùng lãnh thổ rộng lớn mà Hồng quân Liên Xô chiếm đoạt. Thời kỳ ngay sau Thế chiến II trở thành một cuộc chiến đạo lý chống lại tội diệt chủng ở vùng Balkan và Trung Phi, hai nơi mà chiến tranh trên đất liền và các tội ác chống loài người luôn song hành. Gần đây hơn, một cuộc chiến đạo đức chống lại Hồi giáo cực đoan đã lôi kéo Mỹ vào sâu các vùng đồi núi Afghanistan, nơi sự đối xử nhân đạo với hàng triệu dân thường có tính quyết định đối với thành công của cuộc chiến. Trong tất cả những nỗ lực ấy, chính sách ngoại giao và chiến tranh đã trở thành các đề tài không chỉ cho lính tráng và các nhà ngoại giao mà còn cho cả giới nghiên cứu nhân văn và trí thức. Quả thực, việc chống chiến tranh du kích thể hiện đỉnh cao của nhiều sự kết hợp giữa các sĩ quan quân phục và các chuyên gia nhân quyền. Đây là kết cục của loại chiến tranh trên bộ phát triển thành một cuộc chiến toàn diện ở thời hiện đại.

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, nơi đang nhanh chóng trở thành tâm điểm mới của các hoạt động hải quân thế giới, báo trước một động lực hoàn toàn khác biệt về cơ bản. Nhiều khả năng khu vực này sẽ tạo ra một số cuộc chiến đạo đức mà chúng ta đã quen trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với ngoại lệ là khả năng xa về một cuộc chiến trên bộ ở Bán đảo Triều Tiên. Tây Thái Bình Dương sẽ giao trả các vấn đề quân sự cho lĩnh vực chật hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Điều này không phải chỉ bởi chúng ta đang đối phó một lĩnh vực hải quân, trong đó dân thường không hiện diện, mà còn bởi vì bản chất của chính các quốc gia ở Đông Á, như Trung Quốc chẳng hạn, có thể rất độc đoán nhưng trong hầu hết các trường hợp lại không bạo ngược hoặc độc ác cực điểm.

Cuộc đấu giành vị trí đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết phải dính đến chiến tranh; phần lớn những gì xảy ra sẽ xảy ra một cách êm ả và ở ngoài đường chân trời trên không phận biển trống vắng, ở một nhịp độ lạnh lùng phù hợp với sự điều chỉnh đều đặn, chậm rãi theo sức mạnh quân sự và kinh tế ưu việt hơn mà các nước đã tạo dựng được qua lịch sử. Chiến tranh còn lâu mới xảy ra ngay cả khi cạnh tranh là một sự định sẵn. Và nếu Trung Quốc và Mỹ giải quyết thành công cuộc bàn giao sắp tới thì châu Á và cả thế giới sẽ trở thành một nơi phồn thịnh, an toàn hơn. Còn điều gì đạo đức hơn thế? Hãy nhớ: Chính chủ nghĩa hiện thực phục vụ lợi ích quốc gia – mục đích là tránh chiến tranh – đã cứu sống nhiều nhân mạng trong suốt chiều dài lịch sử hơn so với chủ nghĩa can thiệp nhân đạo.

Đông Á là một dải rộng lớn, trải dài gần như từ Bắc Cực tới Nam Cực – từ quần đảo Kuril về phía nam tới New Zealand – và có đặc điểm là một dãy đứt đoạn các bờ biển riêng biệt và các quần đảo trải rộng bao la. Ngay cả tính đến việc công nghệ đã rút ngắn khoảng cách hiệu quả đến thế nào thì vùng biển này tự nó vẫn đóng vai trò như một hàng rào ngăn xâm lược, ít nhất cũng ở một mức độ mà đất liền khô cạn không thể làm được. Không giống như đất liền, vùng biển này tạo thành các đường biên giới được định rõ, cho phép nó có khả năng làm giảm xung đột. Bên cạnh đó cần tính đến tốc độ. Ngay cả các tàu chiến nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm chạp, 35 hải lý, làm giảm bớt cơ hội của tính toán sai và cho các nhà ngoại giao nhiều giờ hơn – thậm chí nhiều ngày hơn – để xem xét lại các quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản là không chiếm đóng lãnh thổ theo cách các quân đội vẫn làm. Chính nhờ các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm sản xuất của thế giới cũng như số hợp đồng mua sắm quân sự ngày càng tăng – mà thế kỷ 21 có một cơ hội tốt hơn so với thế kỷ 20 trong việc tránh những cuộc xung đột quân sự lớn.

Tất nhiên, Đông Á đã chứng kiến nhiều xung đột quân sự lớn trong thế kỷ 20 mà các vùng biển đã không ngăn chặn được: Chiến tranh Nga – Nhật; nội chiến gần nửa thế kỷ ở Trung Quốc xảy ra với sự sụp đổ từ từ của Nhà Thanh; nhiều cuộc chinh phạt của đế quốc Nhật, tiếp đến là Thế chiến II ở Thái Bình Dương; cuộc chiến Triều Tiên; các cuộc chiến ở Campuchia và Lào; và hai cuộc chiến ở Việt Nam liên quan tới Pháp và Mỹ. Thực tế địa lý Đông Á chủ yếu là biển đã có rất ít ảnh hưởng đến những cuộc chiến tranh mà tâm điểm của chúng là các xung đột về thống nhất hoặc giải phóng dân tộc. Nhưng thời đại ấy phần lớn nằm phía sau chúng ta. Các quân đội ở Đông Á, thay vì tập trung vào bên trong với các đội quân công nghệ thấp, nay đang hướng ra ngoài với các lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao.

Ví Trung Quốc ngày nay với nước Đức trước Thế Chiến I như nhiều người có thể so sánh thì không đúng. Trong khi Đức chủ yếu là một cường quốc đất liền, do địa thế của châu Âu, thì Trung Quốc sẽ là một cường quốc hải quân, do địa lý của Đông Á.

Đông Á có thể chia thành hai khu vực chung: Đông Bắc Á – bị chi phối bởi Bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh vận mệnh Bắc Triều Tiên, một đất nước bị cô lập và chuyên chế với tương lai u mê trong một thế giới do chủ nghĩa tư bản và liên lạc điện tử chi phối. Nếu Bắc Triều Tiên nổ tung, các lực lượng trên bộ của Hàn Quốc, Mỹ và Trung Quốc có thể chạm trán nhau trên nửa bắc của Bán đảo trong khởi nguồn của mọi sự can thiệp nhân đạo, ngay cả khi họ chia ra các khu vực ảnh hưởng cho chính mình. Các lực lượng hải quân sẽ là thứ yếu. Nhưng một sự thống nhất sau cùng của Triều Tiên sẽ sớm đưa các lực lượng hải quân lên vị trí chỉ đạo, với một Triều Tiên thống nhất, Trung Quốc, và Nhật Bản trong sự cân bằng mong manh, cách nhau bởi Biển Nhật Bản, Hoàng Hải và Bột Hải. Tuy nhiên, do Bắc Triều Tiên vẫn tồn tại nên giai đoạn Chiến tranh Lạnh trong lịch sử Đông bắc Á vẫn chưa kết thúc hoàn toàn, và sức mạnh trên bộ có thể sẽ chi phối tin tức ở đó trước khi sức mạnh trên biển làm được điều này.

Trái lại, Đông Nam Á đang chìm sâu vào giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh của lịch sử. Việt Nam, nước chiếm ưu thế trên bờ phía tây Biển Đông, là một sự tàn phá tư bản chủ nghĩa bất chấp hệ thống chính trị của nước này, đang tìm kiếm các mối quan hệ quân sự thân thiết hơn với Mỹ. Trung Quốc, thống nhất như một nhà nước của triều đại Mao Trạch Đông sau nhiều thập niên hỗn loạn và trở thành nền kinh tế năng động nhất thế giới nhờ những mở rộng tự do của Đặng Tiểu Bình, đang vươn ra bên ngoài bằng lực lượng hải quân tới những gì mà họ gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” ở Tây Thái Bình Dương.

Nước đông dân Hồi giáo Indonesia, đã phải chịu đựng và rút cục chấm dứt được nhiều chục năm quân đội cầm quyền, đang sẵn sàng nổi lên như một Ấn Độ thứ hai – một nền dân chủ năng động và ổn định với khả năng phóng sức mạnh theo cách nền kinh tế đang tăng trưởng của nước này. Singapore và Malaysia cũng đang nổi lên về kinh tế, đi theo mô hình nhà nước-thành phố-kết hợp-nhà nước-kinh doanh và thông qua những pha trộn khác nhau của dân chủ và độc tài. Bức tranh ghép đủ màu là một cụm các quốc gia, với những vấn đề về tính hợp pháp nội địa và xây dựng đất nước nằm đằng sau, đã sẵn sàng nâng cao nhận thức về các quyền lãnh thổ vượt ra ngoài bờ biển của họ. Sức đẩy chung ra phía ngoài nằm trong buồng lái nhân khẩu học của thế giới, vì nó nằm ở Đông Nam Á với 615 triệu dân, nơi 1,3 tỷ người của Trung Quốc tập trung cùng 1,5 tỷ người của tiểu lục địa Ấn Độ. Và nơi gặp gỡ địa lý của các quốc gia này, cùng quân đội của họ, là biển: Biển Đông.

Biển Đông nối các nước Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như một yết hầu của các tuyến đường biển quốc tế. Đây là trung tâm hàng hải của của Âu-Á, được nhấn mạnh bằng các eo biển Malacca, Sunda, Lombok, và Makassar. Hơn nửa số lượng tàu buôn hàng năm của thế giới cùng một phần ba tất cả các hoạt động hàng hải phải chạy qua những điểm eo hẹp này. Dầu lửa được vận chuyển qua Eo biển Malacca từ Ấn Độ Dương, trên đường tới Đông Á qua Biển Đông, nhiều gấp 6 lần so với số lượng được chuyển qua Kênh đào Suez và 17 lần so với số lượng qua Kênh đào Panama. Xấp xỉ 2/3 các nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc, gần 60% các nguồn cung năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Không chỉ có thế, Biển Đông còn được chứng minh có các mỏ dầu 7 tỷ thùng và ước tính 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên, một phần thưởng rất lớn về tiềm năng.

Không chỉ vị trí và dự trữ năng lượng hứa hẹn mang lại cho Biển Đông tầm quan trọng địa chiến lược then chốt mà cả những tranh cãi lãnh thổ từ lâu xung quanh vùng biển này. Một số tranh chấp liên quan tới Trường Sa, một quần đảo nhỏ ở phía đông nam Biển Đông. Việt Nam, Đài Loan và Trung Quốc mỗi bên đều tuyên bố chủ quyền ở tất cả hoặc hầu hết Biển Đông, cũng như tất cả các nhóm đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt, Bắc Kinh còn khẳng định một tuyến đường lịch sử: nước này đòi chủ quyền tận trung tâm của Biển Đông trong một đường cong lớn (được biết đến rộng rãi là đường lưỡi bò) từ đảo Hải Nam ở cực bắc của Biển Đông hướng về phía nam dài 1.200 dặm tới gần Singapore và Malaysia.

Kết quả là cả 9 quốc gia dính đến Biển Đông đều ít nhiều dàn trận chống lại Trung Quốc, và vì thế dựa vào Mỹ về hỗ trợ ngoại giao và quân sự. Những tuyên bố xung đột đó nhiều khả năng sẽ còn kịch liệt hơn khi các nhu cầu về năng lượng tăng cao ở châu Á – mức tiêu thụ năng lượng được cho là tăng gấp đôi vào năm 2030, với Trung Quốc chiếm gần một nửa mức tăng đó – làm cho Biển Đông trở thành một sự bảo đảm quan trọng hơn bao giờ hết cho sức mạnh kinh tế của khu vực. Biển Đông đã trở thành một trại vũ trang, khi các bên tuyên bố chủ quyền xây dựng và hiện đại hóa hải quân của họ, kể cả khi tranh chấp biển đảo trong những thập niên gần đây hầu như đã chấm dứt. Đến nay, Trung Quốc đã chiếm 12 đặc điểm địa lý, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam 25, Philippines 8 và Malaysia 5.

Chính địa lý của Trung Quốc định hướng nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về phương nam hướng tới một lòng chảo nước được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philippines, đảo Borneo chia tách giữa Malaysia và Indonesia (cả Brunei nhỏ bé), Bán đảo Malay phân chia giữa Thái Lan và Malaysia, và dải bờ biển dài như rắn lượn của Việt Nam: tất cả đều là các nước yếu, so với Trung Quốc. Giống như Biển Caribbe, được nhấn mạnh bởi các quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi nước Mỹ to như lục địa, Biển Đông rõ ràng là một vũ đài cho việc phóng tỏa quyền lực của Trung Quốc.

Do vậy, vị trí của Trung Quốc ở đây theo nhiều cách rất giống với vị trí của Mỹ đối diện với Carribe rộng tương tự hồi thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ công nhận sự hiện diện và các tuyên bố của nhiều cường quốc châu Âu ở Caribbe nhưng vẫn tìm cách thống trị cả khu vực. Chính cuộc chiến Tây Ban Nha – Mỹ năm 1898 và việc đào kênh Panama từ năm 1904 tới 1914 đã báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ như một cường quốc thế giới. Hơn nữa, sự thống trị vùng Caribbe rộng lớn hơn giúp Mỹ kiểm soát hiệu quả vùng Tây Bán Cầu, cho phép nước này gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở Đông Bán Cầu. Và ngày nay, Trung Quốc tự thấy mình trong tình thế tương tự ở Biển Đông, một phòng chờ của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc cũng thèm khát một sự hiện diện của hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng của mình từ Trung Đông.

Tuy nhiên, một thứ sâu sắc và cảm động hơn địa lý đang thúc đẩy Trung Quốc tiến vào Biển Đông và tiến ra Thái Bình Dương: đó là sự tan rã một phần của chính Trung Quốc bởi các cường quốc phương Tây trong quá khứ tương đối gần đây, sau khi đã trở thành một sức mạnh vĩ đại và một nền văn minh thế giới trong nhiều thiên niên kỷ.

Trong thế kỷ 19, Nhà Thanh trở thành một kẻ bệnh tật của Đông Á. Trung Quốc mất rất nhiều lãnh thổ vào tay Anh, Pháp, Nhật và Nga. Thế kỷ 20 chứng kiến cuộc thôn tính đẫm máu của Nhật Bản đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu. Tất cả những điều đó là sự nhục nhã đỉnh điểm ép buộc Trung Quốc bằng các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhờ đó các nước phương Tây giành quyền kiểm soát nhiều phần của các thành phố Trung Quốc – được gọi là “các hải cảng mở cho thương mại nước ngoài”. Năm 1938, như sử gia Jonathan D. Spence của Đại học Yale, nói cho chúng ta biết trong cuốn “The Search for Modern China”, do những vụ cướp bóc này cùng với Cuộc Nội chiến Trung Quốc mà vẫn còn âm ỉ nỗi sợ rằng “Trung Quốc sắp bị chặt chân tay, khiến nước này không thể tồn tại như một quốc gia, và rằng lịch sử 4000 năm được ghi lại của họ sẽ tiến tới một hồi kết điếng người”. Việc Trung Qôốc hối hả mở rộng là một lời tuyên bố rằng nước này sẽ không bao giờ để cho người ngoài lợi dụng một lần nữa.

Giống như lãnh thổ Đức tạo nên mặt trận quân sự tiền phương của Chiến tranh Lạnh, các vùng nước ở Biển Đông có thể hình thành một mặt trận quân sự tiền phương cho những thập niên sắp tới. Khi Hải quân Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn, và khi những đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông trái ngược với những tuyên bố của các nước ven biển khác, các nước này sẽ buộc phải phát triển hơn nữa các khả năng hải quân của mình. Họ cũng sẽ cân bằng trước Trung Quốc bằng cách tăng cường dựa vào Hải quân Mỹ, lực lượng có sức mạnh đã đạt đến đỉnh cao trong các điều kiện tương đối, ngay cả khi phải chuyển hướng các nguồn lực lớn tới Trung Đông. Đa cực khắp thế giới đã là một đặc điểm của ngoại giao và kinh tế, nhưng Biển Đông có thể cho chúng ta thấy đa cực thực sự sẽ như thế nào theo nghĩa quân sự.

Chẳng có gì lãng mạn về mặt trận mới này, cũng không có nghĩa như các cuộc chiến đấu đạo đức. Trong các cuộc xung đột hải quân, nếu không có pháo kích trên bờ thì tự nó không có nạn nhân; cũng không có một kẻ thù can đảm để mà đối đầu. Chẳng có gì ở quy mô thanh trừng sắc tộc có khả năng xảy ra ở chiến trường trung tâm mới của xung đột. Trung Quốc, tuy những người bất đồng chính kiến vẫn phải chịu đựng, đơn giản là không đến độ là mục tiêu của cơn thịnh nộ đạo đức. Chế độ Trung Quốc chỉ thể hiện một phiên bản hàm lượng calo thấp của chủ nghĩa độc đoán, với một nền kinh tế tư bản và một chút ý thức hệ chủ đạo để mà nói đến. Hơn nữa, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ trở thành một xã hội cởi mở hơn chứ không khép lại trong những năm tới. Thay vì chủ nghĩa phát xít hay chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc – cùng với các nước khác ở Đông Á – đang ngày càng được xác định bởi sự tồn tại của chủ nghĩa dân tộc kiểu cũ: một ý tưởng, chắc chắn vậy, nhưng không phải là loại hấp dẫn giới trí thức từ giữa thế kỷ 19. Và ngay cả nếu Trung Quốc có trở nên dân chủ hơn thì chủ nghĩa dân tộc của họ cũng chỉ có khả năng tăng lên, như được tỏ rõ trong một cuộc khảo sát ngẫu nhiên về quan điểm của các cư dân mạng khá tự do của nước này.

Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một tình cảm phản động, một di vật của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống đã thúc đẩy chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục làm như thế. Chủ nghĩ dân tộc ấy dang dẫn dắt một cách không cần biện giải tới sự lớn mạnh của quân đội các nước trong khu vực – đặc biệt là hải quân và không quân – để bảo vệ chủ quyền và tuyên bố chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên tranh chấp. Không có sự quyến rũ triết lý ở đây. Tất cả là về một logic lạnh lùng của cán cân quyền lực. Đến mức độ đó, chủ nghĩa hiện thực vô cảm, vốn liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà địa lý, đó là Biển Đông.

Bất cứ thảm kịch đạo đức nào xảy ra ở Đông Á đều sẽ mang hình thức chính trị quyền lực khắc khổ của loại khiến rất nhiều trí thức và nhà báo tê liệt. Như Thucydides đã giải thích rất đáng nhớ trong câu chuyện ông kể về cuộc chinh phạt đảo Melos của người Athens cổ đại. “Kẻ mạnh làm những gì họ có thể và kẻ yếu chịu đựng những gì họ phải chịu”. Trong câu chuyện kể lại của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của người Athen như một cường quốc biển vượt trội trong khu vực, kẻ yếu vẫn phải cam chịu – nhưng chỉ thế thôi. Đây sẽ là chiến lược im ỉm của Trung Quốc và các nước nhỏ hơn ở Đông Nam Á có thể liên kết với Mỹ để tránh số phận của người Melo. Nhưng sẽ không có tàn sát ở đó.

Biển Đông báo trước một hình thức xung đột khác so với những cuộc xung đột mà chúng ta từng biết đến. Từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị tổn thương bởi một mặt là những trận chiến lớn theo lối cổ truyền trên bộ, mặt khác là những cuộc chiến nhỏ bẩn thỉu và bất thường. Vì cả hai loại chiến tranh này đều gây thương vong lớn cho dân thường nên chiến tranh đã trở thành một chủ đề cho những người theo chủ nghĩa nhân văn cùng các tướng lĩnh. Nhưng trong tương lai, chúng ta chỉ có thể chứng kiến một hình thức thuần túy hơn của xung đột, giới hạn trong lĩnh vực hải quân. Đây là một viễn cảnh tích cực. Xung đột không thể bị loại bỏ hoàn toàn khỏi thân phận con người. Một chủ đề trong “Các luận đàm về Livy” của Machiavelli là xung đột đó, nếu được kiểm soát đúng đắn, sẽ có khả năng dẫn đến tiến bộ của loài người hơn so với sự ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy tàu chiến không mâu thuẫn với một kỷ nguyên tràn đầy hứa hẹn cho châu Á. Sự bất an thường nuôi dưỡng động lực.

Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể kiểm soát một cách đúng đắn không? Đến đây, lập luận của tôi cho rằng một cuộc chiến tranh lớn sẽ không nổ ra trong khu vực và thay vào dó, các nước sẽ bằng lòng để khôn khéo giành ưu thế với các tàu chiến của họ ở các vùng biển cả, trong khi vẫn đưa ra các tuyên bố cạnh tranh các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có lẽ còn đồng ý phân chia chúng một cách công bằng. Nhưng ra sao nếu Trung Quốc, đi ngược lại mọi xu hướng dựa trên bằng chứng, xâm lược Đài Loan? Thế nào nếu Trung Quốc và Việt Nam, hai nước hiện đang cạnh tranh gay gắt bắt nguồn từ sâu trong lịch sử, xảy ra chiến tranh như hồi năm 1979, với nhiều vũ khí gây chết người hơn thời nay? Vì không chỉ một mình Trung Quốc đang xây dựng mạnh mẽ quân đội của mình, các nước Đông Nam Á cũng thế. Ngân sách quốc phòng của họ tăng lên khoảng 1/3 trong thập niên qua, ngay cả khi ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu đã giảm bớt. Nhập khẩu vũ khí vào Indonesia, Singapore, và Malaysia lần lượt tăng 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Chi tiêu đều dành cho các nền tảng của hải quân và không quân: chiến hạm trên mặt nước, tàu ngầm với các hệ thống tên lửa tân tiến, và các phi cơ chiến đấu tầm xa. Mới đây, Việt Nam đã chi 2 tỷ USD mua 6 tàu ngầm hạng Kilo tối tân và 1 tỷ USD mua các chiến đấu cơ của Nga. Malaysia vừa mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo. Mặc dù Mỹ bị phân tâm bởi các cuộc chiến trên bộ ở Trung Đông, sức mạnh quân sự của nước này vẫn đang lặng lẽ dịch chuyển từ châu Âu đến châu Á.

Mỹ hiện thời đang bảo đảm cho hiện trạng không yên ở Biển Đông, hạn chế sự xâm lược của Trung Quốc chủ yếu trên các bản đồ và giữ vai trò như một sự kiểm tra đối với các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (nhưng điều này không phải để nói rằng Mỹ trong sáng trong các hành động của mình còn Trung Quốc tự là kẻ ác). Những gì Mỹ mang đến cho các nước trong khu vực Biển Đông không nhiều thực tế về lòng tốt dân chủ bằng sự thật về sức mạnh cơ bắp của nước này. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc rụt cục sẽ giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore và Malaysia được tự do, có thể kích bẩy cường quốc này chống lại cường quốc kia. Và trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên như một sức mạnh của chính nó, dưới hình thức ASEAN. Tuy nhiên, loại tự do như vậy không tự nhiên mà có. Vì sự bế tắc căng thẳng đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc – vốn mở rộng thành một loạt các chủ đề phức tạp từ thương mại, cải cách tiền tệ, an ninh mạng đến giám sát tình báo – các mối đe dọa rút cục sẽ làm thay đổi thiện cảm của Trung Quốc ở Đông Á, chủ yếu là do trung tâm địa lý của Trung Quốc đối với khu vực.

Tổng kết toàn diện nhất của cảnh quan địa chính trị châu Á không đến từ Bắc Kinh hay Washington mà từ Canberra. Trong một bài viết dài 74 trang được xuất bản năm ngoái, “Dịch chuyển quyền lực: Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh”, tác giả Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học quốc gia Australia, mô tả đất nước ông là một cường quốc “nguyên trạng” tinh hoa – một nước đang hết sức muốn tình hình ở châu Á duy trì đúng như hiện nay, với Trung Quốc tiếp tục phát triển để Australia có thể buôn bán ngày càng nhiều hơn với nước này, trong khi Mỹ vẫn là “quyền lực mạnh nhất ở châu Á” để luôn là “người bảo vệ tối thượng” của Australia. Tuy nhiên, như White viết, vấn đề là cả hai điều này đều không thể diễn ra. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về kinh tế mà không thay đổi về chính trị và chiến lược; một nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc tất nhiên sẽ không hài lòng với vị thế đứng đầu quân sự của Mỹ ở châu Á.

Vậy Trung Quốc muốn gì? Giáo sư White cho rằng, Trung Quốc có thể mong muốn một loại đế chế kiểu mới ở châu Á mà Mỹ đã xây dựng ở Tây Bán cầu ngay khi Washington đảm bảo sự thống trị đối với Lòng chảo Caribbe (như Bắc Kinh hy vọng sẽ thống trị Biển Đông). Đế chế kiểu mới này, theo diễn giải của White, có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít hay nhiều sẽ tự do điều hành đất nước của chính họ”, ngay cả khi Washington có khẳng định rằng các quan điểm của nước này sẽ được “xem xét toàn diện” và được ưu tiên so với những quan điểm của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, nước có thể sẽ không chấp nhận sự bá chủ của Trung Quốc, dù là mềm mỏng. Điều đó khiến Bản hòa tấu mô hình châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Mỹ, và có lẽ một hoặc hai nước khác nữa ngồi xuống bàn thương lượng về sức mạnh châu Á ngang bằng nhau. Nhưng liệu Mỹ có chấp nhận một vai trò khiêm tốn như vậy vì nước này đã gắn kết sự thịnh vượng và ổn định của châu Á với sự ưu việt của chính mình? Giáo sư White cho rằng, trong khi đối diện với sức mạnh đang lên của Trung Quốc, sự thống trị của Mỹ từ nay trở về sau có thể lại có nghĩa là bất ổn cho châu Á.

Sự thống trị của Mỹ được khẳng định dựa trên khái niệm rằng vì Trung Quốc là một chế độ độc đoán trong nước nên họ sẽ hành động “không thể chấp nhận được ở nước ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy, White lập luận. Quan niệm về mình của Trung Quốc là quan niệm của một cường quốc ôn hòa không bá quyền, một nước không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác theo cách mà Mỹ – với giáo lý của kẻ bao biện – vẫn làm. Bởi vì Trung Quốc tự nhận mình là một Vương quốc Trung dung, với nền tảng thống trị của họ là vị trí trung tâm vốn có của nước này với lịch sử thế giới, chứ không phải bất kỳ một hệ thống nào mà họ tìm cách xuất khẩu.

Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực sự quan tâm quá nhiều đến bản chất nội bộ của chính quyền Trung Quốc và tìm cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở nước ngoài bởi vì chúng ta không thích các chính sách trong nước của họ. Thay vào đó, mục tiêu của Mỹ ở châu Á nên là sự cân bằng, chứ không phải thống trị. Chính xác là bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế và chúng ta phải nhường chỗ cho một Trung Quốc đang lên. Mỹ không cần tăng sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương nhưng thực chất cũng không thể giảm bớt lực lượng này.

Việc mất đi một đội hàng không mẫu hạm Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do cắt giảm ngân sách hoặc do tái bố trí đến Trung Đông có thể gây ra những cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực về sự suy giảm của Mỹ và hậu quả cần phải thực hiện những sửa đổi và các thỏa thuận với Bắc Kinh. Hoàn cảnh tốt nhất là sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ ở một mức độ nhiều hơn hoặc ít hơn hiện nay, ngay cả khi Mỹ phải dùng mọi sức mạnh của mình để xây dựng các mối quan hệ thất thiết và có thể dự báo trước với Trung Quốc. Bằng cách đó, Mỹ có thể điều chỉnh theo thời gian với một lực lượng hải quân viễn dương Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế, đằng sau mọi câu hỏi về đạo đức đều ẩn chứa vấn đề quyền lực. Sự can thiệp nhân đạo tại vùng Balkan chỉ có thể bởi vì chế độ Serbia quá yếu, không giống như chính quyền Nga phạm các tội ác với quy mô tương tự ở Chechnya nhưng phương Tây không có hành động gì. Ở Tây Thái Bình Dương trong những thập niên tới đây, đạo đức có thể có nghĩa là từ bỏ một số các ý tưởng thân thương nhất của chúng ta vì lợi ích của sự ổn định. Chúng ta sẽ thế nào để tạo chỗ trống cho một Trung Quốc gần như độc tài khi quân đội nước này mở rộng? Bản thân sự cân bằng quyền lực, thậm chí nhiều hơn các giá trị dân chủ của phương Tây, thường là sự bảo vệ tốt nhất cho tự do. Đó cũng sẽ là một bài học của Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học khác mà những người hay lý tưởng hóa không muốn nghe.

Robert D. Kaplan là một chuyên viên cấp cao của Trung tâm vì  một An ninh Mỹ mới, nhà báo quốc gia cho The Atlantic, và một thành viên của Hội đồng Chính sách Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ. Ông là tác giả cuốn Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power.  

Người dịch: Trúc An

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

29 bình luận tới “285. Biển Đông – Tương lai của Xung đột”

  1. Hoàng Oanh said

    Cám ơn anh Ba Sàm và chị Trúc An với một bài dịch khá hay. Tôi vừa tìm thấy một bản dịch khác ở blog của nhà thơ Nam Hải Trường Sơn cũng được lắm. Các bạn vào đó xem để đối chiếu nha: http://namhai-truongson.blogspot.com/2011/08/bien-ong-tuong-lai-cua-xung-ot.html . Chúc vui 😉

  2. MinhNguyen said

    Sự nguy hại của thông tin 1 chiều;
    -Tác động thông tin 1 chiều từ xưa nay đã gây nguy hại cho xã hội vô cùng to lớn, Goebel của Đức Hitler, Nhật phát xít…trong Thế chiến thứ 2 đã chứng minh: Hệ quả của thông tin 1 chiều lá che dấu sự thật..tô vẻ tương lai sáng lạn của 1 nước, 1 chủ nghĩa…1 lý tưởng rất ảo tưởng., hoang tưởng. Để rồi xui dục hàng triệu con người hiền lành, ngây thơ. ít học..vào thảm cảnh chiến tranh, hận thù, chia rẽ, kể cả gây chiến, xam lược…chém giết ko thương tiếc..? Kết quả với thông tin 1 chiều , Nước đó bị thảm bại nặng nề…hàng chục triệu người chết và bị thương, gây đau khổ hàng chục năm cho chính dân nước họ và các nước làng giêng …Nước gây chiến, xâm lược cũng phải bồi thường chiến tranh, tôn hao hàng trăm tỷ ÚSD…
    -Gần đây có nước tuyên truyền về chủ quyền biển – đảo không đúng sự thật cho dân nước họ…Gây hiểu lầm ở 1 số người nhẹ dạ… chỉ nghe thông tin 1 chiều…?
    + Thời @, thông tin đa dạng…con người có quyền tiếp cận các nguồn thông tin đã được LHQ quy đinh trong điều 19 Bản tuyên ngôn Nhân quyền…Tin chính xác, có giá trị thì người ta tiếp nhận. tin bịa đặt, vu cáo…ko ai nghe, ko đọc, ko tin….đó là quyền tự do tư tưởng.
    -Một số trang WEB hải ngoại nội dung sơ sài, ít cạp nhật…một vài bài viết thiếu trung thực,thiếu nhân văn, có lúc bịa đặt, vu cáo…kích động, gây chia rẽ…? Ít có giá trị. Rất ít người views, khoảng vài người views 1 ngày…đó cũng là quyền tự do thông tin…
    -Các nước trên thế giới đa phần có thông tin đa chiều, nên các vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…xãy ra,NÊN xử lý kịp thời, có hiệu quả…tránh được các vấn đề bất lợi lan tràn, có thế tác động xấu đến xã hội và quan hệ quốc tế…tạo niềm tin trong nhân dân và dư luận quóc tế…đó là ưu diểm của thông tin đa chiều.?

  3. […] – Tương lai của Xung đột Posted on Tháng Tám 22, 2011 by bahaidao Posted by 285.Basamnews on 22.08.2011 Robert D. […]

  4. Ẩn danh said

    gac ma noi co lam giau doan ket dan toc mua sam vu khi toi tan chien dau dung de that bai tham hai nhu anh em chung toi ti le 64 -12
    gac ma dau qua

  5. deleted said

    http://binhthuantoday.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=18941

  6. Đỗ Thịnh said

    Cảm ơn dịch giả Trúc An, trang BASAM, ban Công dân chân chính …. Sự cẩn trọng để có bản dịch dầy đủ, chính xác hơn cũng rất quí. Song cũng nên như ý kiến số (3): “tỉ mỉ ở thời đại thông tin này có khi phản tiến độ”.
    Muốn góp một ý kiến: Khả năng chiến tranh “lớn” có thể rất ít; song sự “lấn chiếm hoà bình / tằm ăn dỗi / xâm lăng toàn diện qua biên giới mềm”, đã xảy ra, đang tiếp diễn càng khốc liệt hơn. Tổ quốc VN lâm nguy, thậm chí nguy, đã đang và sẽ là một hiện thực. Xin đừng vô cảm! Mau mau thức tỉnh!
    Đỗ Thịnh, 69 tuổi, Hà Nội, dothinh1@yahoo.com, 0167.8462.640

    • TrầnLê said

      Nội phản chưa diệt được. Thì nói chi đến đánh đuổi ngoại thù.
      Xin mọi người suy nghĩ kỹ.

  7. Miu said

    2012 : Trung Quốc sẽ triển khai hàng không mẫu hạm tại Biển Đông

    ” Không đầy một hôm sau khi chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc trở lại cảng sau 5 ngày thử nghiệm trên Hoàng Hải, Bắc Kinh vào hôm qua 16/08/2011 công khai cho biết : địa bàn hoạt động của con tàu này sẽ là Biển Đông. Theo giới phân tích, quyết định này một lần nữa chứng tỏ tham vọng thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, bất chấp quyền lợi của các nước Đông Nam Á…….”

    Mời các bạn đọc tiếp trong trang :
    http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fjjj.ivrg.esv.se/ivrg-anz/20110817-gehat-dhbp-knp-auna-fr-gevra-xunv-gnh-fna-onl-qnh-gvra-gnv-ovra-qbat-inb-anz-2012

    • Dân nghèo SG said

      trung cộng đưa HKMH ra biển đông, VN sẽ đưa 2 tàu hộ vệ mới nhận ra biển đông nghênh tiếp và áp sát HKMH và sẽ áp giải về Hải Phòng để biến thành Nhà Hàng Hàng Khách Sạn 5 hay 10 sao gì đó cho dân đỉnh cao trí tuệ cùng hưởng thụ. Bọn tàu ngu quá, mới có một chiếc HKMH mà đã thách thức, khoe khoang, coi chừng đó anh tàu ơi. VN sẽ đem hạm đội thuyền thúng và 2 tàu mới nhận ra tiếp đón anh đó
      Cám ơn Bạn Miu

  8. truongsa88 said

    Khó xảy ra chiến tranh lớn ở khu vực này lắm vì Việt Nam sẽ không bao giờ dám đánh Trung Quốc nếu không có đại ca nào chống lưng. Việt Nam sẽ khó có thể tin Mỹ để chống lại Trung Quốc khi mà chính Mỹ cũng đang rất khó khăn giải bài toán quyền lực khi mà Nga đang dần đứng về Trung quốc chống lại Mỹ.
    Tại sao Nga lại ủng hộ Trung Quốc chống Mỹ ? có bài phân tích ở trang này tương đối thuyết phục ( la_cum blog )
    http://vn.360plus.yahoo.com/la_cum/article?mid=7&prev=8&next=6

    Tuy nhiên ông này lại nghiêm trọng hóa lên thành…thế chiến.

    • Ẩn danh said

      Thổi phồng. bịa dạt, ko đung thực tế….Ô này ko biết gì về Nga va Mỹ, cần học hỏi nhiều hơn trước khi comment…
      KOSOHUDOA

      • NgôngNhuKhách said

        Chú Khách này xứng đáng được Nga và Mỹ rước về Moscow và Washington để làm cố vấn cho hai đại cường quốc này.

        Nhân dân Việt nam anh hùng ta nhiều đỉnh cao như thế hèn gì luôn dẫn đầu (hiểu ngược lại) trên thế giới.

        “cần học hỏi nhiều hơn trước khi comment…”

      • KháchƠiKhách said

        bác Khá,ch hiện đang là cố vấn quan trọng cho đám Nga khờ và bọn Mỹ dốt đấy!!!

    • Vu Din said

      Bài viết nông cạn (không phải “chú khách” ở trên)..

  9. 285 said

    Đọc qua bài này, tôi thấy ngay là, chủ đích của bài viết muốn khơi gợi một ý thức hòa bình gượng ép ờ đông Á, bất chấp thực tế là một sự mặc cả quyền lợi đang cao trào tại đây, mà không ai tin chắc là súng đạn không có tiếng nói quyết định. Với những đặc tính dân tộc đặc thù, đông Á sẽ không dễ thiết lập ít nhất là một logic bất kỳ nào đó. Chúng ta chờ xem kết quả của một Trung Hoa tập tễnh quyền lực, như hàng ngàn năm qua nó đã tập tễnh.
    Còn về phần bài dịch tiếng Việt, kết cấu văn phong, đọc qua đã thấy chưa ổn ở một ít đoạn. Nhưng không sao, tỉ mỷ ở thời đại thông tin này có khi phản tiến độ.

  10. Minhnguyen said

    Cám ơn tác giả đã dịch bài này, tuyệt vời…nhận định tình hình Biển Đông rất sâu sắc…có giá trị nghiên cứu lâu dài…
    Nước nào cũng muốn phát triển, vươn lên cả, nhất là xu thế: Kinh tế-chính trị-an ninh…. biển – đảo ngày càng quan trong dối với các quốc gia có biển – đảo…
    Chúng ta đã biết mưu đồ bành truong, bá quyền…từ lâu…Việc cần làm là tỉnh táo, linh hoạt, khôn kheo.. trong sách lược ngoại giao. Đồng thời tăng cường tuyên truyền về chủ quyền biển đảo của TA sâu rộng khắp Thế giới. Đoàn kết chặt chẽ khối ÁSEAN
    Đặc biệt tăng cường khả năng phòng thủ biển – đảo với nhiều phương án tác chiến, phòng vệ hiệu quả, kiên cường…
    + Các bạn SV trong và ngoài nước cố gắng học tập, nghiên cứu, làm công tác ngoại giao nhân dân sâu rộng ở nơi bạn học, thực tập…công luận giữ vị trí rất lớn trong quan hệ quốc tế. Kẻ bành trướng rất sợ công luận quốc tế..đây là điểm yếu chung ta cần biết…
    + Ở trong nước: Không nhu nhược khi bị xâm phạm, gây hấn…chúng ta có chính nghĩa, cần có dũng khí độc lập, tự chủ…tự tin vào sức mạnh của DÂN TỘC và thời đại @ này…
    -Thế giới sẽ ủng hộ mạnh mẽ ĐÂT nước CHÚNG TA nếu bị kẻ bá quyền gây hấn, xâm lược…? Vì đó là bảo vệ tự do,an ninh, hòa bình, ổn định trong khu vực va Thế giới…
    Minh Nguyên-TP Pleiku

  11. MINH HẰNG YÊU NUỚC said

    Minh Hằng đọc vẫn hiễu rõ nội dung và nắm đuợc những gì nguời dịch muốn chuyễn tãi bằng chữ Viêt.
    Cám ơn người dịch: Trúc An
    Cám ơn web BA SÀM cung cấp kịp thời và miễn phí

  12. Trung quốc là mối nguy hiểm cho sự an toàn và ổn định của toàn thế giới . Cách tốt nhất : Nền Dân chủ và tự do trên toàn thế giới chung tay đập China vỡ ra thành nhiều mảnh . 3 trong 1 .

  13. TổQuốcNhìnTừBiển said

    Cái quan điểm bá chủ vì dân số đông vì lãnh thổ rộng lớn đã bị xoá bỏ cả vài thiên niên kỹ vừa qua. Nhưng Trung Hoa không chịu chấp nhận và từ bỏ một quan điểm lỗi thời để hòa nhập vào sự tiến hóa của nhân loại.

    Trung Hoa vẫn muốn tự cho mình là trung tâm của vũ trụ, đã biến một thể chế quân chủ chuyên chế thành một đảng chủ chuyên chế và ép buộc các thuộc địa tự trị như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Vân Nam, và Quảng Châu làm theo ý riêng của mình không bằng sự kêu gọi hòa nhập tự ý mà bằng kềm chế hay bạo lực. Nếu nội bộ của Trung Quốc vừa tạm yên là TQ sẽ luôn tìm cách bành trướng ảnh hưnởg nhằm sát nhập vào TQ qua các láng giềng thân cận mà nhỏ hơn, ít dân hơn hay yếu hơn như VN, Lào, Campuchia, Miến Điện v.v…

    Quan điểm cai trị quốc gia theo đảng trị chuyên chế dễ dàng mị dân hơn là một thể chế quân chủ chuyên chế vì một tập đoàn nhỏ luân phiên chịu trách nhiệm mọi sai trái hay mọi thành công sẽ khiến cho người dân càm thấy yếu kém khi truy tìm trách nhiệm sai trái, cảm thấy có tự do và bảo đảm vì còn thấy một người hay một gia đnìh lãnh đạo

    Một đảng trị chuyên chế chỉ thành công bao giờ họ tạo được một hệ thống công an chặt chẻ xen vào đời tư của mọi gia đình vào đời sống của mọi cá nhân và tập cho họ cảm thấy đó là sự bình thường trong cuộc sống.

    Người dân sẽ chỉ cần nghe những gì lãnh đạo cho nghe và muốn người dân được nghe. Người dân sẽ chỉ cần thấy những gì lãnh đạo cho thấy và muốn người dân được thấy. Người dân sẽ chỉ cần cảm xúc những gì lãnh đạo cho cảm xúc và muốn người dân được cảm xúc. Người dân phải có lòng tin tuyệt đối vào đảng để được sống còn và hưởng những ân sủng mà người không phải đảng viên phải phục vụ và cung cấp.

    Thế giới chỉ có hòa bình thật sự khi Việt Nam có thể thoát vòng kềm tỏa của TC và không còn lệ thuộc vào thể chế đảng trị chuyên chế mà TC hiện nay đang áp đặt và tìm cách đồng hóa Việt Nam trong vòng 10 năm sắp đến.

  14. Dân den said

    Bon Tàu khống chế và lập ra chế độ Pôn Pốt quái thai diệt chủng. Vậy tương lai Đảng và NN có chống được Tàu khựa không. VN có thể trở thành Căm pu chia thời pôn pốt không? Nếu yếu quá thì thà theo Mỹ còn hơn theo Tàu để tránh trở thành chế độ quái thai như Pôn pốt diệt chủng.

    • Dân Ngu said

      Xin bạn nhìn kỹ vào lá cờ của đảng cs Tàu và đảng cs Việt.
      Kế đến xin bạn nhìn kỹ vào lá cờ của nước Tàu và của nước Việt.
      Hy vọng là bạn sẽ hiểu ngay, và khỏi cần thắc mắc.

      • Dân nghèo SG said

        Tôi Dân nghèo SG cũng đồng tình với Bạn
        Ngày xưa búa và lưởi liềm là đại diện của giới Công Nông, bây giờ là của bọn ăn cướp bằng quyền lực sẳn có. Chúng dùng liềm để cắt cổ, nếu chưa chết thì có búa đập đầu là chết liền (bao nhiêu dân oan đã chết bằng cách nầy rồi)
        còn cờ ngôi sao của VN là trên trời có một ông sao, dưới đất (địa cầu) chỉ có mình tao là thằng khùng.
        Chúc Bạn hiền mau hết Ngu.

  15. Quân nổi dậy Lybia đã tiến vào quảng trường Xanh trung tâm Tripoli.

    • Chúc mừng nhân dân Libi đã gần hoàn thành sứ mạng lịch sử đó là lật đổ chế độ độc tài gia đình trị (gần giống với chế độ phong kiến hiện đại cộng sản VN) của đại tá Gadafi.

  16. HẰNG YÊU NUỚC said

    MỜI HÀNỘI XEM : HAI CON CUẢ GADHAFI BỊ PHE DÂN CHỦ BẮT SỐNG TAỊ TRIPOLI
    Two of Gadhafi’s sons arrested in Tripoli

    http://www.cnn.com/2011/WORLD/africa/08/21/libya.war/index.html?hpt=hp_t1

  17. Công Dân Chân Chính của Nước Pháp Quyền CHXNCN VN: said

    Với dịch giả Trúc An: bạn nên vào đọc những bài dịch đăng trong blog http://namhai-truongson.blogspot.com để học hỏi thêm kinh nghiệm dịch thuật. Theo ý kiến riêng của mình, có lẽ trang blog này là trang duy nhất đăng những bài dịch Anh ngữ hay nhất và chuẩn xác nhất có thể nói là khuôn mẫu cho những ai làm công tác dich Anh-Viêt để nghiên cứu và học hỏi. Xin giới thiệu với bạn và mong được đọc những bài dịch chính xác hơn, hay hơn của bạn trong tương lai.

  18. Công Dân Chân Chính của Nước Pháp Quyền CHXNCN VN: said

    Méc với anh Basam có một bản dịch khác đăng ở đây http://namhai-truongson.blogspot.com/2011/08/bien-ong-tuong-lai-cua-xung-ot.html , chính xác và hay hơn rất nhiều, Anh Basam đối chiếu sẽ thấy những điểm dịch sai nguyên tác của bài.

    Editor: Cám ơn bác, tôi sẽ gửi cho người dịch. Mà bác đọc nhanh thiệt, bài dài gần 12 trang, tôi vừa post chưa đầy 20′, bác có thể đọc và so sánh 2 bài, trong vòng chưa tới…20′, đã biết “những điểm dịch sai nguyên tác của bài”.

    • Công Dân Chân Chính của Nước Pháp Quyền CHXNCN VN: said

      Hihi, tại vì mình đọc bài đó và đã đọc nguyên bản Anh ngữ mấy hôm rồi. Nên khi đọc xong bản dịch của Trúc An là mình thấy ra liền. Anh Ba tinh mắt thật đấy!

      Editor: Vậy thì tôi phải bái bác làm sư phụ rồi. Tôi dịch bài xong, đọc version của người khác dịch, tôi phải đối chiếu cả 3 bản, bản dịch của tôi, bản Anh ngữ, và bản dịch của người khác, phải so sánh từng câu, từng chữ, tôi mới dám kết luận, câu nào, đoạn nào, ai dịch có lý hơn. Vả lại trong vòng chưa đầy 20′, tôi không thể nào đọc xong bài dịch dài 12 trang của cô Trúc An, nói gì tới so sánh 2 bản dịch với bản tiếng Anh, chưa kể thời gian comment nữa.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d người thích bài này: