BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

217. VN CẦN SỬ DỤNG NHỮNG CHUYÊN GIA PHÁP LÝ NHIỀU KINH NGHIỆM NGƯỜI VIỆT VÀ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỚI TQ VỀ BIỂN ĐÔNG, TS-HS

Posted by adminbasam trên 27/07/2011

VIỆT NAM CẦN SỬ DỤNG NHỮNG CHUYÊN GIA PHÁP LÝ NHIỀU KINH NGHIỆM NGƯỜI VIỆT VÀ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỚI TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐÔNG, TRƯỜNG SA, HOÀNG SA.

 

Hà nội  ngày 27/7/2011

Luật sư Trần Vũ Hải

Việt Nam thường tuyên bố có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa. Nhưng chưa thấy Việt Nam yêu cầu Trung Quốc và những nước tranh chấp khác giải quyết bằng con đường pháp lý.

Trong khi đó, mới đây Philippines đã yêu cầu Trung Quốc cùng nhau đưa vụ tranh chấp liên quan đến Biển Đông, Trường Sa ra một tòa án Quốc tế. Trung Quốc đã từ chối yêu cầu hợp lý này của Philippines, dẫn đến Philippines và dư luận quốc tế cho rằng Trung quốc rất yếu về chứng cứ pháp lý để khẳng định những tham vọng về chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Sự “to mồm” của Philippines khiến Trung Quốc e dè, lộ ý định muốn đàm phán tay đôi với Philippines về Trường Sa, có vẻ sẽ nhượng bộ đôi chút cho Philippines. Nếu đàm phán tay đôi với Trung Quốc về Biển Đông, Trường Sa xảy ra sẽ rất nguy hiểm cho Việt Nam.

Ngày 23/7/2011, tại Bali (Indonesia), bà Ngoại trưởng Mỹ Hilary Cliton cho rằng Mỹ muốn các nước tranh chấp giải thích tuyên bố chủ quyền theo Công ước LHQ về Luật Biển đồng thời chứng minh các tuyên bố chủ quyền bằng chứng cứ pháp lý; các tuyên bố về chủ quyền vùng trời trên biển Đông cũng chỉ được xuất phát từ các tuyên bố chủ quyền hợp pháp về những đặc trưng đất liền.

 

Ngày 25/7/2011, tân Chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang, một Cử nhân luật, khi trả lời báo chí có vẻ đã thấy tầm quan trọng về pháp lý, ông nói việc giữ vững chủ quyền quốc gia, chủ quyền biển, đảo phải dựa vào ba cơ sở quan trọng là luật pháp, lịch sử và chiếm hữu, khai thác thực tế. Trong vấn đề luật pháp có luật pháp quốc tế và luật quốc nội. Đối với luật pháp quốc tế, phải căn cứ vào Công ước quốc tế về Luật Biển 1982.

Theo chúng tôi, Việt Nam cần tiếp cận giải quyết tranh chấp tại Biển Đông theo hướng chứng minh chủ quyền của Việt Nam cho thế giới bằng những chứng cứ pháp lý phù hợp với thông lệ và luật  pháp quốc tế. Việt Nam cần sẵn sàng chuẩn bị các điều kiện để đấu tranh pháp lý với Trung Quốc và các nước liên quan theo những phương thức được quốc tế thừa nhận, kể cả đưa vụ việc ra giải quyết tại tòa án quốc tế có thẩm quyền và được các bên chấp nhận. Để làm điều này, Việt Nam phải có một đội ngũ các chuyên gia pháp lý có uy tín và kinh nghiệm, đặc biệt các luật sư giỏi, am hiểu về luật pháp quốc tế và lịch sử tranh chấp tại Biển Đông. Trước hết, Việt Nam cần mời những luật sư người Việt, cho dù họ có chính kiến nào, đã nghiên cứu về Biển Đông, nếu chưa đủ có thể thuê những luật sư, chuyên gia nước ngoài khác chuyên về luật pháp quốc tế, đặc biệt về luật biển và am hiểu Trung Quốc.

Được biết Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã thành lập một Ban nghiên cứu về Biển Đông, nhưng chưa thấy Ban này có động thái hoạt động, có vẻ sẽ hoạt động theo cơ chế hành chính quan liêu, khó hy vọng vào hiệu quả của cơ chế này.

Với tư cách là luật sư, tôi đề nghị các luật sư có mối quan tâm về Biển Đông và có khả năng đóng góp phần nào đó cần liên hệ với nhau, cộng tác với nhau và tham gia những diễn đàn để thảo luận những vấn đề pháp lý của Biển Đông. Không thiếu những luật sư người Việt đã nghiên cứu sâu sắc về Biển Đông (trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thống, tại California, Mỹ có bài viết xin được giới thiệu dưới đây).

Nếu chúng ta tự tin về những chứng cứ pháp lý và những chứng cứ lịch sử về Biển Đông, tại sao chúng ta không thông qua kênh  “ngoại giao nhân dân” để tranh luận với Trung Quốc, giúp học giả và người dân Trung Quốc hiểu rõ hơn về Biển Đông. Ví dụ, thông qua các tổ chức có sẵn như Hội Hữu nghị Việt Trung, Hội Sử học, Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư … phối hợp với các chuyên gia để tổ chức các hội thảo, diễn đàn với các học giả Trung Quốc có tham gia những đoàn thể tương tự của Trung Quốc, với sự tham dự của học giả các nước khác. Những chứng cứ luận điểm của Trung Quốc, của Việt Nam sẽ được giới học giả mổ xẻ, phân tích. Những chứng cứ luận điểm nào chấp nhận được, những chứng cứ luận điểm nào không thể chấp nhận được sẽ rõ trong những buổi tranh luận công khai như vậy.

—-

 HOÀNG SA TRƯỜNG SA THEO TRUNG QUỐC SỬ

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

Dẫn Nhập

Thời Thế Chiến II, cuối thập niên 1930 Nhật Bản cấu kết với Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý để phát động Chiến Tranh Thái Bình Dương. Năm 1938 Nhật chiếm 3 đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật. Qua năm sau, ngày 30-3-1939, Chính Phủ Đông Kinh ra Tuyên Cáo đòi chủ quyền lãnh thổ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1937, Nhật oanh tạc và tiến chiếm Nam Kinh Thượng Hải trong cuộc chiến tranh không tuyên chiến. Trước đó, năm 1931, Nhật chiếm Mãn Châu để thành lập Mãn Châu Quốc và đem Phổ Nghi là ông vua cuối cùng của triều Mãn Thanh về làm vua Mãn Châu.

Việc Nhật Bản thôn tính Hoàng Sa và Trường Sa năm 1939 là một hành động xâm lăng võ trang làm bàn đạp tấn công các quốc gia thân Tây Phương tại Đông Nam Á như Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba, Miến Điện và Việt Nam. Đặc biệt để kết hợp Mặt Trận Hoa Nam với Mặt Trận Đông Bắc tại Nam Kinh Thượng Hải. Đây là nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia Trung Hoa. Mặc dầu vậy, Chính Phủ Trùng Khánh vẫn án binh bất động và không lên tiếng phản đối.

Trong khi đó, thay mặt Việt Nam, ngày 21-4-1939, Chính Phủ Pháp đã gửi Công Hàm phản kháng hành động xâm lăng phi pháp của Nhật Bản tại Biển Đông Hải, đồng thời công bố chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tại Hà Nội, bàn về vụ tranh chấp Biển Đông, nhà văn Hoàng Đạo trong Nhóm Ngày Nay quan niệm rằng: “Lấy luật mới cũ ra mà nói thì Hoàng Sa là của Việt Nam. Nhưng trên trường quốc tế, người ta không theo luật mới cũ gì cả. Chỉ có Luật của Sức Mạnh. Đó là quan điểm thực tiễn theo châm ngôn Kẻ Mạnh Bao Giờ Cũng Có Lý, và Sức Mạnh Là Lẽ Phải. (La raison du plus fort est toujours la meilleure; Might is right).

Để phản bác quan niệm phi nhân này, chúng ta đề ra nguyên lý căn bản trong việc tổ chức xã hội loài người:

Vì con người không phải là cầm thú nên nhân loại văn minh không chấp nhận Luật Rừng Xanh Mạnh Được Yếu Thua.

Vì con người không phải là tôm cá nên chúng ta phủ nhận quan niệm Cá Lớn Nuốt Cá Bé.

Đó là nói về thời điểm 1939.

35 năm sau, tháng 1-1974, thừa dịp quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam theo Hiệp Định Paris 1973, Trung Quốc vận dụng toàn lực chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam với các đảo Hoàng Sa, Quang Hòa, Quang Ảnh, Hữu Nhật, Duy Mộng và Tri Tôn.

Trước đó, hồi tháng 4-1956, thừa dịp quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam theo Hiệp Định Geneva 1954, Trung Quốc chiếm 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc. Đó là vùng biển của Việt Nam có danh xưng là Thất Châu Dương gồm 7 đảo: Phú Lâm, Lincoln, Đảo Hòn Đá, Đảo Cây, Đảo Bắc, Đảo Trung và Đảo Nam.

Năm 1974, từ Paris Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn nhận định rằng: “Hoàng Sa thất thủ là do sự rạn nứt của khối đại đoàn kết dân tộc. Hoàng Sa là đất của Việt Nam, của nước Việt Nam thống nhất. Khi Việt Nam còn chia đôi thì chúng ta không có tư thế để điều đình đòi lại quần đảo này, mặc dầu theo lịch sử có nhiều bằng chứng cho biết đó là đất của Việt Nam”.

Do đó muốn giành lại chủ quyền hải phận và hải đảo tại Biển Đông Hải phải có sự đoàn kết quốc dân trong một quốc gia thống nhất.

Đó là cảm nghĩ của nhà trí thức lý tưởng, tha thiết đến tiền đồ đất nước.

Tuy nhiên, từ 1974 đến nay đã 36 năm, thời gian cho biết nhận định này đã tỏ ra không chính xác.

Vì ngày nay đất nước ta đã thống nhất. Và toàn dân ta, với trên 85 triệu người Việt trong và ngoài nước, đã đồng tâm nhất trí đứng lên đấu tranh đòi lại những hải đảo và hải phận đã mất. Vậy mà, theo chiều hướng hiện tại, càng ngày chúng ta càng mất chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông Hải. Lý do không phải vì đất nước chúng ta bị qua phân, mà vì chúng ta có một chính quyền đi trái lòng dân, không cho người dân đứng lên bảo toàn đất tổ và hành sử quyền yêu nước bằng những cuộc biểu dương lực lượng quy mô và đồng loạt khắp nơi trên thế giới làm chấn động dư luận quốc tế và cảnh tỉnh lương tri nhân loại. Đồng thời gây áp lực buộc kẻ xâm lược phải chùn bước xâm lăng, phải tôn trọng danh dự và chữ ký của họ. Và phải ngồi vào bàn hội nghị để các cơ quan trọng tài hay tài phán quốc tế đưa ra những giải pháp công bằng và hợp lý theo tinh thần và bản văn Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà họ đã ký kết tham gia năm 1982. Công Ước này là một văn kiện trong chính sử Trung Quốc và có hiệu lực chấp hành từ năm 1994.

1. Quy Chế Thềm Lục Địa

Chiếu Điều 76 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển các quốc gia duyên hải được hưởng quy chế Thềm Lục Địa 200 hải lý (370km) để thăm dò và khai thác dầu khí. Đây là chủ quyền chuyên biệt (sovereign exclusive right), không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị (occupation, exploration or assertion of right). Mọi sự tự tiện chiếm cứ của ngoại bang dầu có võ trang hay không đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực (các Điều 77 và 81).

Về mặt địa lý, tại quần đảo Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý, và đảo Hoàng Sa chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy quần đảo Hoàng Sa nằm trong Thềm Lục Địa 200 hải lý của Việt Nam.

Trong khi đó các đảo Hoàng Sa cách Hoa Lục tới 270 hải lý nên không nằm trong Thềm Lục Địa của Trung Hoa.

Về mặt địa chất, các chuyên gia quốc tế như Tiến Sĩ Khoa Học Armand Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau 2 năm nghiên cứu, đo đạc và vẽ bản đồ các hải đảo và đáy biển, đã lập phúc trình kết luận rằng: “Về mặt địa chất, các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam”. (Geologiquement les Paracels font partie du Vietnam). Về địa hình đáy biển Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp lục địa Việt Nam.

Độ sâu nhất tại vùng biển Hoàng Sa là 900m. (Trong quá trình hình thành nước Biển Đông Hải đã rút xuống 4,000m). Ngày nay nếu nước biển rút xuống 900m thì các đảo Hoàng Sa sẽ biến thành một hành lang chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn qua Cù Lao Ré đến các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. (Phúc Trình Krempt về Hoàng Sa lập trong hai năm 1925-1927 được lưu trữ tại Văn Khố Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris).

Vì đáy biển Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền kéo dài ra ngoài biển nên chiếu Điều 76 Luật Biển, Việt Nam có triển vọng được Ủy Ban Định Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng Thềm Lục Địa Pháp Lý 200 hải lý thành Thềm Lục Địa Địa Chất hay Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lý (650km).

Trong khi đó từ Hoàng Sa về lục địa Trung Hoa có một rãnh biển sâu tới 2,300m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, Hoàng Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Trong trường hợp này Trung Hoa không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng.

Tại Trường Sa cũng vậy, tại Bãi Thanh Long Tứ Chính, nơi khai thác dầu khí, độ sâu chỉ tới 400m, và tại đảo Trường Sa độ sâu chỉ tới 200m. Như vậy về mặt địa chất và địa hình đáy biển, cũng như Hoàng Sa, các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Theo quan điểm của các Luật Sư Covington và Burling trong Bản Tường Trình tháng 6-1995 gửi Chính Phủ Việt Nam, quần đảo Trường Sa có triển vọng được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng đến 350 hải lý.

Trong khi đó từ Trường Sa về bờ biển Quảng Đông có một rãnh biển sâu tới 4,550m. Như vậy các đảo Trường Sa không phải là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Trung Hoa từ đất liền ra ngoài biển. Và Trung Quốc không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở Rộng 350 hải lý. Dầu sao, trong mọi trường hợp, khoảng cách từ Hoa Lục tới đảo Trường Sa là 750 hải lý (quá xa tầm 350 hải lý Thềm Lục Địa Mờ Rông nếu có).

Hơn nữa, về mặt địa lý, Bãi Thanh Long Tứ Chính và đảo Trường Sa chỉ cách lục địa Việt Nam từ 150 đến 220 hải lý. Trong khi đó quần đảo Trường Sa cách lục địa Trung Hoa từ 550 đến 800 hải lý nên không nằm trong thềm lục địa Trung Hoa.

 

Trong Bản Tường Trình nạp tại Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc ngày 11- 5-2009, Chính Phủ Bắc Kinh chỉ đề cập đến hải phận hay Biển Lịch Sử chứ không vẽ Thềm Lục Địa Mở Rộng theo các tiêu chuẩn luật định về khoa học và kỹ thuật như Liên Hiệp Quốc đòi hỏi.

Cũng vì vậy Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc sẽ bác bỏ không cứu xét đơn thỉnh nguyện của Bắc Kinh. Để trốn tránh vấn đề và làm lạc hướng dư luận, Trung Quốc chỉ đơn thuần đòi vùng biển phác họa theo hình chữ U mà họ gọi là Lưỡi Rồng Trung Quốc hay Biển Lịch Sử.

2. Lưỡi Rồng Trung Quốc

Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò) chiếm 80% hải phận Biển Đông Nam Á. Nó nằm sát bờ biển các quốc gia duyên hải, chỉ cách Quảng Ngãi 40 hải lý và cách Phi Luật Tân và Mã Lai 25 hải lý. Như vậy nó tước đoạt ít nhất 160 hải lý của Thềm Lục Địa Việt Nam, và 175 hải lý của các Thềm Lục Địa Phi Luật Tân và Mã Lai. Đây hiển nhiên là sự vi phạm thô bạo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển dành chủ quyền chuyên biệt cho các quốc gia duyên hải như Việt Nam, Phi Luật Tân và Mã Lai được hưởng tối thiểu 200 hải lý Thềm Lục Địa Pháp Lý để thăm dò và khai thác dầu khí.

Theo học giả Mark J. Valencia tại Viện Hải Học Đông Tây Hawaii (East-West Institute) yêu sách của Trung Quốc về Biển Lịch Sử không được Luật Pháp và Tòa Án chấp nhận. Ngày nay càng ngày dư luận quốc tế càng phê phán và chế giễu Lưỡi Rồng Trung Quốc là khôi hài và lố bịch (China‘s claim is being increasingly criticized and even ridiculed: China and the South China Sea Disputes, Mark J. Valencia, Oxford University Press. October 1995).

Hồi thế kỷ thứ nhất Đế Quốc La Mã cũng đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng Biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển Lịch Sử Của Chúng Tôi!” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đó là một quan niệm bá quyền lỗi thời từ 2 ngàn năm trước.

Mặc dầu vậy, từ 1955, để phục hồi Chủ Nghĩa Bá Quyền, Mao Trạch Đông lại nêu lên thuyết Biển Lịch Sử để đòi chủ quyền lãnh thổ tại vùng biển và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh Lưỡi Rồng Trung Quốc rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa. Họ cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị.

Về điểm này chúng ta nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh rằng: Trong thế kỷ này và dưới vòm trời này, không có điều gì, việc gì, hay vấn đề gì là bất khả tranh nghị. Về mặt tinh thần, văn hóa và đạo lý, Trung Quốc không thể nói một đàng làm một nẻo. Họ phải tôn trọng danh dự quốc gia và chữ ký của họ trong Công Ước. Họ phải chấp nhận công khai hóa vụ tranh chấp và phải đưa ra trước thanh thiên bạch nhật những tài liệu và quan điểm cho biết tại sao và căn cứ vào đâu mà đòi tước đoạt chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia Đông Nam Á tại các thềm lục địa như đã quy định trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký kết tham gia với tư cách một trong Ngũ Cường hội viên thường trực Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết? Nếu không đưa ra sự giải thích hợp lý và các cơ sở pháp lý thì Trung Quốc vẫn chỉ là kẻ sử dụng Luật Rừng Xanh theo chủ trương Mạnh Được Yếu Thua và Cá Lớn Nuốt Cá Bé. Để tước đoạt 4/5 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Việt Nam, đồng thời tước đoạt 7/8 Thềm Lục Địa Pháp Lý của Phi Luật Tân và Mã Lai.

Hơn nữa, chiếu các Điều 77 và 81 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, chủ quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm lục địa có tính tuyệt đối và chuyên biệt. Bất cứ sự xâm phạm nào của ngoại bang dầu là xâm chiếm võ trang hay không võ trang cũng đều bất hợp pháp, vô giá trị và vô hiệu lực. Cũng như việc Nhật Bản đã chiếm cứ bất hợp pháp các hải đảo và hải phận tại Hoàng Sa và Trường Sa thời Thế Chiến II từ 1938 đến 1945.

Chắc hẳn Trung Quốc cũng hay biết rằng Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 là một văn kiện pháp lý rút trong chính sử mà trên một trăm quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc phải tôn trọng và thực thi.

Trung Quốc không thể tự coi mình là một ngoại lệ bằng cách ban hành Luật Biển Quốc Nội năm 1992 (Domestic Law of the Sea) để mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ (Territorial Sea) và Vùng Tiếp Cận (Contiguous Zone) và coi ranh giới Lưỡi Rồng Trung Quốc là “biên thùy chiến lược” của đảo Hải Nam. Tuy nhiên biên thùy này cách lục địa Trung Hoa cả ngàn cây số nên không thể coi là biên thùy cho một hải đảo hay một lục địa.

Chiếu nguyên tắc “các hiệp ước quốc tế phải được tôn trọng” (Rule Pacta Sunt Servanda), Điều 26 Công Ước Vienna về Luật Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties 1969) quy định như sau: “Các hiệp ước quốc tế có hiệu lực chấp hành buộc các quốc gia kết ước phải ngay tình tuân thủ“. Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về Luật Quốc Tế (The United Nations International Law Commission) coi đây là “một nguyên tắc căn bản về luật hiệp ước, có lẽ là nguyên tắc quan trọng nhất trong công pháp quốc tế”.

Chiếu nguyên tắc về giá trị thượng tôn của Luật Quốc Tế đối với Luật Quốc Nội (Rule of Supremacy of International Law), các quốc gia kết ước phải thực sự thi hành những quyến hạn và nghĩa vụ ghi trong các hiệp ước hay công ước quốc tế. Họ không thể viện dẫn luật quốc nội để khước từ thi hành nghĩa vụ của họ ghi trong các hiệp ước và công ước quốc tế mà họ đã ký kết hay tham gia.

Đó chính là trường hợp của Trung Quốc. 10 năm sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, năm 1992, Bắc Kinh ban hành Luật Quốc Gia về Biển mở rộng đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ và Vùng Tiếp Cận để xâm phạm chủ quyền chuyên biệt tại các Thềm Lục Địa của Việt Nam, Mã Lai và Phi Luật Tân.

Ngoài ra, như đã trình bày, ranh giới Lưỡi Rồng Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa không thể coi là biên thùy chiến lược của đảo Hải Nam hay của Hoa Lục. Vì, theo định nghĩa, biên thùy phải nằm sát hải đảo hay lục địa.

Những vi phạm Luật Biển nói trên phải được đệ trình Tòa Án Quốc Tế (The Hague) hay các Tòa Án Luật Biển do Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thiết lập. Muốn giải quyết những mâu thuẫn và tranh chấp về thềm lục địa, về hải phận và hải đảo, về mặt tố tụng, các quốc gia đương tụng phải, trước hết, tuân hành những phương thức điều giải ôn hòa như hòa giải, thương nghị hay trọng tài trước khi nội vụ được thụ lý bởi các tòa án quốc tế.

Ngoài Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, còn có rất nhiều tài liệu lịch sử rút ra từ chính sử hay ngoại sử Trung Quốc theo đó chủ quyền của Việt Nam tại các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa đã được thừa nhận bởi các quốc gia trên thế giới kể cả Trung Quốc.

3. Trung Quốc Khước Từ Chủ Quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa trong Tuyên Cáo Cairo 1943

Trong khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, năm 1943, ba cường quốc đồng minh đại diện bởi Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt, Thủ Tướng Anh Churchill và Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã hội nghị tại Cairo (Ai Cập), và đã ký Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 trong đó có đoạn như sau:

“Đối tượng của các quốc gia đồng minh là tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các lãnh thổ và hải đảo tại Thái Bình Dương mà Nhật đã cưỡng chiếm từ khi khởi sự Thế Chiến I. Tất cả các lãnh thổ và hải đảo mà Nhật Bản đã chiếm đoạt của nhân dân Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ sẽ phải giao hoàn cho Trung Hoa Dân Quốc”. Điều đáng lưu ý là, tại Hội Nghị Cairo Tổng Thống Tưởng Giới Thạch không đòi Hoàng Sa và Trường Sa. Và như vậy đã khước từ chủ quyền tại hai quần đảo này. (U. N. Treaty Series, American Policy 1950-1955).

Năm 1931, bằng chiến tranh võ trang, Nhật xâm chiếm Mãn Châu để thành lập “Mãn Châu Quốc”. Lúc này theo khuyến cáo của Luật Sư Ngoại Trưởng Henry Stimson, Tổng Thống Hoa Kỳ Herbert Hoover đề ra Chủ Thuyết Stimson theo đó Hoa Kỳ không thừa nhận các quốc gia hay chính phủ thiết lập do chiến tranh võ trang. Năm 1931, Hoa Kỳ và Anh Quốc đã áp dụng Chủ Thuyết Stimson khi Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu bằng võ lực. Cũng vì vậy trong Tuyên Cáo Cairo 1943 Tổng Thống Roosevelt và Thủ Tướng Churchill tán thành đề nghị của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch về việc Đồng Minh sẽ giao hoàn Mãn Châu cho Trung Quốc khi chiến tranh kết thúc.

Trước đó, trong Chiến Tranh Trung-Nhật 1894-1895, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cũng bị Nhật Bản chiếm cứ bằng võ lực nên cũng sẽ phải giao hoàn cho Trung Quốc.

Tại Biển Đông Hải, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã bị Nhật Bản chiếm cứ bằng võ lực hồi khởi sự Thế Chiến II. Năm 1938 Nhật Bản chiếm 3 đảo tại Hoàng Sa là Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật (Robert). Năm 1939 Nhật Bản công bố chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto và Trường Sa thành Shinnan Gunto. Nếu quả thật hai quần đảo này thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc thì lẽ cố nhiên Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng đã đề nghị giao hoàn Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc tại Hội Nghị Cairo 1943.

Theo công pháp quốc tế Tuyên Cáo Cairo 1943 là một hiệp ước quốc tế tạo nên những nghĩa vụ quốc tế áp dụng cho các quốc gia liên hệ. Nó có hiệu lực cưỡng hành đối với Trung Quốc, dầu là Trung Hoa Dân Quốc hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là quốc gia kế thừa chủ quyền. Đặc biệt là, trong hiện vụ, cả hai phe Quốc Cộng Trung Hoa đều xác nhận như vậy.

Thật vậy, ngày 4-12-1950, Chu Ân Lai, lúc này là ngoại trưởng, tuyên bố tán thành Bản Tuyên Cáo Cairo 1943 là văn kiện lịch sử quốc tế mà Hoa Kỳ, Anh Quốc và Trung Quốc đã ký kết để làm căn bản cho Hòa Ước ký với Nhật Bản (Hòa Ước San Francisco ngày 8-9-1951). (Chou En Lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan. People’s China, 12-16-1950).

12 năm sau khi ký, ngày 8-2-1955, trong bản “Duyệt Lại Tình Hình Thế Giới” Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng xác nhận Tuyên Cáo Cairo và Tuyên Ngôn Potsdam đã phản ảnh chính xác sự thật lịch sử: “Tôi còn nhớ năm 1943 cố Tổng Thống Hoa Kỳ Roosevelt và Thủ Tướng Anh Churchill đã cùng tôi họp Hội Nghị Cairo để thảo luận về những vấn đề liên quan đến việc tiến hành Chiến Tranh Chống Nhật. Trong Bản Tuyên Cáo công bố vào ngày bế mạc Hội Nghị (27-11-1943) chúng tôi loan báo rằng tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc, kể cả Đông Bắc Tỉnh (Mãn Châu), Đài Loan và Bành Hồ, phải được giao hoàn cho Trung Quốc. Bản Tuyên Cáo này đã được Tuyên Ngôn Potsdam (ngày 26-7-1945) thừa nhận và được Nhật Bản chấp nhận thi hành khi đầu hàng. Như vậy giá trị Tuyên Cáo Cairo đặt căn bản trên những thỏa thuận không ai có thể dị nghị được“. (Review of International Situation, China Publishing Co, Taipei 1956, p.p 22-23).

Tuyên Cáo Cairo ngày 27-11-1943 cũng đã được Liên Sô tán thành tại Hội Nghị Tehran ngày 30-11-1943 giữa Tổng Thống Roosevelt, Thủ Tướng Churchill và Chủ Tịch Stalin. Trong phiên Hội Nghị này Stalin cho biết ông đã đọc Tuyên Cáo Cairo với đầy đủ nội dung của nó. Ông cũng nhìn nhận rằng việc giao hoàn Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ cho Trung Quốc là hợp lý. (The Conferences at Cairo and Tehran 1943, The Foreign Relations of the United States, Washington D.C, 1961)

4. Đồng Minh Không Thừa Nhận Chủ Quyền Lãnh Thổ của Trung Quốc tại Hoàng Sa Trường Sa trong Tuyên Ngôn Potsdam 1945.

Tháng 5-1945 Đức Quốc Xã đầu hàng Đồng Minh. Tháng 7-1945 Mỹ, Anh và Liên Sô họp Hội Nghị Potsdam (Đức) để thảo luận về tương lai chính trị, đặc biệt về vấn đề tổ chức tuyển cử tại các nước Đông Âu và Trung Âu. Ngoài ra Tuyên Ngôn Potsdam ngày 26-7-1945 còn ấn định thể thức giải giới quân đội Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh tại Thái Bình Dương. Để tước khí giới quân đội Nhật, Đồng Minh quyết định chia Việt Nam thành 2 khu vực giải giới theo Vĩ Tuyến 16: Quân đội Trung Hoa có nghĩa vụ giải giới và hồi hương quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 ra Bắc. Và quân đội Anh được ủy nhiệm giải giới và hồi hương quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 vào Nam. (Japan Subdued: The End of The War in the Pacific, Princeton Press University, 1961). Theo Tuyên Ngôn Potsdam, Trung Quốc có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 ra Bắc kể cả tại quần đảo Hoàng Sa tọa lạc tại Vĩ Tuyến 16: Nhóm Lưỡi Liềm (Crescent Group) phía tây nam tại vĩ độ 16o30 và Nhóm An Vĩnh (Amphitrite Group) phía đông bắc tại vĩ độ 16o50.

Trong khi đó quân đội Anh có nghĩa vụ giải giới quân đội Nhật từ Vĩ Tuyến 16 vào Nam, kể cả tại quần đảo Trường Sa tọa lạc tại các Vĩ Tuyến từ 12o đến 7o (từ Cam Ranh xuống Nam Cà Mau).

Giải giới quân nhân không phải là tiếp thu hay chiếm hữu lãnh thổ. Do đó nếu Anh Quốc không có chủ quyền lãnh thổ tại Trường Sa, thì Trung Quốc cũng không có chủ quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa. Và lẽ dĩ nhiên, Trung Quốc cũng không có chủ quyền lãnh thổ tại Trường Sa.

Về việc giải giới quân đội Nhật tại phía Bắc Vĩ Tuyến 16, ngày 28-2-1946 Trung Quốc ký với Pháp Hiệp Ước Trùng Khánh theo đó “Pháp khước từ trị-ngoại pháp-quyền và các quyền liên hệ khác tại Trung Hoa” (chủ yếu là Pháp trả Trung Quốc các tô giới tại Thượng Hải và Quảng Châu Loan). Để bù lại Trung Quốc đồng ý để quân đội Pháp đổ bộ lên Bắc Việt thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật tại phía bắc Vĩ Tuyến 16. (Jean R. Sainteny: Histoire D’une Paix Manquée, Indochine 1945-1947).

Một tuần sau Hiệp Ước Trùng Khánh, Chính Phủ Pháp ký với Chính Phủ Hà Nội Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny ngày 6-3-1946 theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do và tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Về mặt quân sự 15 ngàn quân Pháp được đồn trú tại Việt Nam trong thời hạn 5 năm. Theo tinh thần hợp tác quốc tế, Chính Phủ Hà Nội cam kết sẽ tiếp đón quân đội Pháp vào Bắc Việt để thay thế quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật.

Việc này cho biết, khác với Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, Đồng Minh không nhìn nhận Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Lý do là vì, tại Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, Trung Quốc được quyền tiếp thu rồi tự mình đứng ra giải giới quân đội Nhật Bản mà không phải nhờ đến các quốc gia đồng minh Anh Pháp.

5. Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951 Thừa Nhận Chủ Quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Mùa Xuân 1945, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. 6 năm sau, năm 1951, 51 quốc gia đồng minh lại họp Hội Nghị để ký Hòa Ước Cựu Kim Sơn ngày 8-9-1951. Mục đích để chấm dứt tình trạng chiến tranh, phục hồi và tái thiết Nhật Bản nhằm xây dựng hòa bình thế giới trong tinh thần hòa giải, hợp tác và hữu nghị theo tôn chỉ của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và phỏng theo Kế Hoạch Marshall được thi hành từ 1947 để tái thiết Âu Châu.

Năm 1949 Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cướp chính quyền bằng võ trang tại Hoa Lục, và Chính Phủ Trung Hoa Dân Quốc đã di tản sang Đài Loan. Trong điều kiện chính trị này các Quốc Gia Đồng Minh Tây Phương không thừa nhận Chính Phủ Bắc Kinh chiếu Chủ Thuyết Stimson được áp dụng trong vụ Mãn Châu năm 1931. Do đó cả hai Chính Phủ Quốc-Cộng Trung Hoa đều không được mời tham dự Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951.

Trong khi đó, ngày 8-3-1949, Pháp ký với Việt Nam Hiệp Định Elysee để trả độc lập và thống nhất cho Quốc Gia Việt Nam. Ngày 23- 4-1949, chiếu nguyên tắc Dân Tộc Tự Quyết, Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ thuộc địa để sát nhập Nam Phần vào Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ đó Việt Nam có tư cách để đứng ra bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ từ Nam Quan đến Cà Mâu. Với tư cách này, Việt Nam được mời tham dự Hội Nghi San Francisco 1951.

Ngày 12-7-1951 Ban Tổ Chức Hội Nghị San Francisco đã phổ biến bản Dự Thảo Hòa Ước trong đó Điều 2 về Lãnh Thổ (Territory) đề cập đến 4 vấn đề chủ yếu sau đây:

(a) Nhật Bản nhìn nhận nền độc lập của Triều Tiên. [sau khi thắng Nga

năm 1905, Nhật thiết lập chế độ thuộc địa tại Triều Tiên].

(b)Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các đảo Kurile và Sakhalin [để giao hoàn cho Liên Sô. Trước Chiến Tranh Nga-Nhật năm 1905 các đảo này thuộc chủ quyền của Vương Quốc Nga].

(c) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ [để giao hoàn cho Trung Quốc. Những đảo này Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc trong Chiến Tranh Trung-Nhật 1895].

(d) Nhật Bản khước từ chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa [để giao hoàn cho Việt Nam].

Đây là một sự thật lịch sử và một quyết định hợp lý. Vì nếu Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc [cũng như Đài Loan và Bành Hồ] thì Điều 2 Hòa Ước San Francisco không cần phải chia thành hai đề mục riêng biệt (c) và (d), mà chỉ cần ghi: “Nhật Bản khước từ chủ quyền tại đảo Đài Loan và các quần đảo như Bành Hồ, Hoàng Sa và Trường Sa” [để giao hoàn cho Trung Quốc].

Khi Nhật Bản tuyên bố khước từ chủ quyền lãnh thổ về Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, các quốc gia tham dự Hội Nghị đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc, và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của Việt Nam tại 2 quần đảo này. Thật vậy:

Ngày 5-9-1951, trong phiên Khoáng Đại Hội Nghị thứ 5, Ngoại Trưởng Liên Sô Andrei Gromyko đệ trình Tu Chính Án yêu cầu Hội Nghị trao Đài Loan, Bành Hồ, Trường Sa và Hoàng Sa (Nam Sa và Tây Sa) cho Trung Quốc. Tu Chính Án này đã bị Hội Nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và 1 phiếu trắng.

Ngày 7-9-1951, trong phiên Khoáng Đại Hội Nghị thứ 7, Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và không gặp sự phản kháng nào của 51 quốc gia tham dự Hội Nghị (kể cả Liên Sô). Qua hôm sau, ngày 8-9-1951 các quốc gia tham dự Hội Nghị San Francisco chấp thuận toàn bộ Bản Dự Thảo Hòa Ước đặc biệt là Điều 2 quy định nền độc lập của Triều Tiên và giao hoàn 3 nhóm hải đảo tại Thái Bình Dương cho 3 nước Liên Sô, Trung Quốc và Việt Nam.

Về mặt pháp lý, với sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc tham dự Hội Nghị San Francisco 1951, chúng ta khẳng định rằng: Từ 1951 các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, chứ không thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Việc 92% các quốc gia Đồng Minh hội viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa có giá trị tuyệt đối (erga omnes: full force and credit), kể cả đối với những quốc gia không tham dự Hội Nghị như Trung Quốc và Đài Loan. (Conference for the Conclusion and Signature of the Peace Treaty with Japan, U. N. Treaty Series, Volume 136, p. 46).

Như ta đã biết, chiếu Chủ Thuyết Stimson ban hành năm 1931, Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh như Anh, Pháp không công nhận Chính Phủ Mao Trạch Đông vì Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã cướp chính quyền tại Hoa Lục bằng võ trang hai năm trước đó (1949).

Ba năm sau Hội Nghị San Francisco 1951, Hội Nghị Geneva 1954 đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

6. Hiệp Định Geneva 1954 Minh Thị Xác Nhận các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Chủ Quyền Lãnh Thổ của Việt Nam

Tháng 7-1954, để giải quyết Chiến Tranh Đông Dương, Hội Nghị Geneva được triệu tập với sự tham dự của 9 quốc gia gồm Ngũ Cường Mỹ, Anh, Pháp, Liên Sô và Trung Quốc, cùng Ai Lao, Cao Miên và 2 nước Việt Nam là Quốc Gia Việt Nam (Miền Nam) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc). Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 một lần nữa, đã minh thị xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa (lúc này là Quốc Gia Việt Nam) tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thật vậy:

a). Điều 4 Hiệp Định Geneva ngày 20-7-1954 quy định như sau:

Giới tuyến giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam (Vĩ Tuyến 17) kéo dài ra ngoài hải phận theo một đường thẳng góc với đường ven biển.

“Lực lượng Liên Hiệp Pháp (gồm có Quốc Gia Việt Nam, Pháp và đồng minh) phải rút khỏi tất cả các hải đảo tại phía Bắc giới tuyến (Vĩ Tuyến 17).

“Quân đội Nhân Dân Việt Nam (Bắc Việt) phải rút khỏi tất cả các hải đảo phía Nam giới tuyến” (Vĩ Tuyến 17) nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 7, từ Quảng Trị xuống Nam Cà Mau).

Do đó chiếu Hiệp Định Geneva 1954, quân đội Bắc Việt phải triệt thoái ra khỏi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc về phía nam Vĩ Tuyến 17 (Quảng Trị-Nam Cà Mâu). Và, lẽ tất nhiên, tất cả các quân đội ngoại quốc khác (kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc) phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa và không được chiếm cứ hay đồn trú tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kể cả vùng hải phận tại Biển Đông Hải. (Từ 1955 Quốc Gia Việt Nam thay đổi chính thể và lấy quốc hiệu là Việt Nam Cộng Hòa).

Vì Bắc Việt không có chủ quyền lãnh thổ từ Vĩ Tuyến 17 vào Nam, nên Chính Phủ Hà Nội không có tư cách sở hữu chủ để chuyển nhượng vùng hải phận và các hải đảo Hoàng Sa Trường Sa cho bất cứ quốc gia đệ tam nào, kể cả Trung Quốc và nhất là Trung Quốc. Kết quả là Công Hàm Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 không có giá trị và không có hiệu lực pháp lý.

b). Hơn nữa Điều 24 Hiệp Định Geneva 1954 còn buộc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các lực lượng vũ trang của đôi bên. Lực lượng vũ trang của mỗi bên sẽ phải tôn trọng lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của bên kia và không có hành động nào chống phá hay phong tỏa (bên kia), danh từ lãnh thổ bao gồm cả hải phận và không phận“.

c). Ngoài ra Điều 12 Bản Tuyên Ngôn Sau Cùng của Hội Nghị Geneva ngày 21-7-1954 cũng khẳng định: “Các quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva (trong đó có Trung Quốc) cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam“. (Trung Quốc là một trong 9 quốc gia tham dự Hội Nghị Geneva 1954 với Anh Quốc và Liên Sô là đồng chủ tịch). (Thế Nguyên, Đông Dương 1945-1973, Saigon, 1973).

d). Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (1998) cũng khuyến cáo các quốc gia hội viên tránh mọi vi phạm tập thể, thô bạo và có hệ thống bắt nguốn từ sự kỳ thị chủng tộc, đô hộ hay chiếm đóng, gây hấn hay đe dọa chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ bằng cách phủ nhận quyền dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc được hành sử đầy đủ chủ quyền đối với các tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước”.

Căn cứ vào những tài liệu lịch sử nói trên, Trung Quốc đã ý thức sự yếu kém của họ về cả ba mặt pháp lý, địa lý và lịch sử. Do đó họ không bao giờ dám công khai thảo luận về vấn đề tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải. Họ thường tránh né và cho đó là một vấn đề bất khả tranh nghị. Lý do đơn giản là họ không có tài liệu hay lý lẽ gì để đưa ra tranh nghị công khai trong tinh thần chính đại quang minh.

Tất cả lý lẽ và lập trường của Trung Quốc chỉ thu gọn trong câu: “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc”. Cách đây 2000 năm, trong thế kỷ thứ nhất, Đế Quốc La Mã cũng đã từng tuyên bố “Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử của Chúng Tôi“. Theo các luật gia và chuyên viên hải học trên thế giới, thuyết Biển Lịch Sử của Đế Quốc La Mã và Đế Quốc Đại Hán đã lỗi thời và lạc hậu.

Kể từ 1982, vấn đề Biển Lịch Sử hay Nội Hải đã được giải quyết chung thẩm bởi Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:

“Tòa Án Quốc Tế định nghĩa “Biển Lịch Sử là Nội Hải, nghĩa là vùng biển tọa lạc trên đất liền về phía bên trong đường cơ sở của Biển Lãnh Thổ. Theo Tòa Án Tối Cao: “Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo (như Phi Luật Tân hay Nhật Bản), Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. (The International Court of Justice has defined “historic waters” as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway, 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).

Trong khi đó, Biển Nam Hoa chỉ là ngoại hải chạy từ bờ biển Trung Hoa đến bờ biển Nam Dương, và rộng tới 2000 cây số.

7. Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ

Thêm một tài liệu đáng tin cậy về chính sử Trung Quốc là cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978. Trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lý” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương“. Theo những tài liệu lịch sử chính thống “thản hoặc nhà cầm quyền Trung Hoa cũng gửi những đoàn thám hiểm đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên, và tại Đông Nam Á, Ấn Độ, Ba Tư và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ đời nhà Tần thế kỷ thứ ba Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20).

Dưới đời nhà Minh, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những đoàn thám hiểm đến Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập nhằm thiết lập bang giao với trên 30 quốc gia duyên hải, đồng thời khai triển Con Đường Tơ Lụa tại Ấn Độ, Phi Châu và Trung Đông. Những chuyến hải hành của phái bộ Trịnh Hòa không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đoàn hải thuyền chỉ đi qua (cross) Biển Nam Hoa nhằm khai phá (explore) Ấn Độ Dương. Phái bộ không hề ghé đến các hải đảo Việt Nam, trạm trú chân duy nhất là Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban) thủ phủ Chiêm Thành. Sau khi Minh Thành Tổ mất, dư luận triều đình nhà Minh đã phê phán những cuộc hải trình nặng phần trình diễn của Trịnh Hòa vì đã làm suy yếu nền kinh tế quốc gia.

(Throughout most of their long history of cultural and scientific development, the Chinese people have been but passively interested in the ocean. Historical records indicate that from time to time the Chinese authorities sent out maritime exploring expeditions, notably those to Japan as early as the second and third centuries B.C., and to Southeast Asia, India, and Africa during the fifteenth century. Apparently there have been few, if any, planned deep penetrations of the Pacific Ocean by the Chinese during their long history. But Chinese traders did follow the land and water trade routes to India and beyond to Africa and the Middle East, prior to the Renaissance. Chiao-Min Hsieh, Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287.

During a period of twenty-eight years, from 1405 to 1433 Admiral Cheng Ho led seven exploring expeditions into the Pacific and Indian Oceans and visited more than thirty-seven countries. The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291).

(The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China, A New History: Harvard University Press 1991, p. 138).

Trong Trung Quốc sử có nhiều tài liệu lịch sử và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa xác nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

1. Dưới đời Nhà Thanh, trong các thế kỷ từ 17 đến 20, theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ do Chính Phủ ấn hành năm 1894, thì đến cuối thế kỷ 19, lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″. Các quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam kéo dài từ Vĩ Tuyến 20 (ngang Thanh Hóa) đến Vĩ Tuyến 18 (ngang Nghệ Tĩnh). Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa tọa lạc về phía nam, từ Vĩ Tuyến 17 đến Vĩ Tuyến 15 (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi), và quần đảo Trường Sa tại các Vĩ Tuyến 12-8 (Cam Ranh – Cà Mâu).

2. Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa như Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc, Tuyên Đức, v…v….

Hơn nữa, trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát dài ngoài biển được dùng làm phên giậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam“. Như vậy có sự nhìn nhận rằng quần đảo này là biên thùy của Việt Nam.

Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa, không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã sát nhập các hải đảo này vào lãnh thổ Trung Quốc (There is no evidence here that the Ch’ing State had in any sense absorbed the islands into the imperial domain: Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea, Methuen London, 1982, note 31, p.38). Tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Nhà Thanh duyệt phê năm 1731, không ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc (cũng như Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí đời Nhà Minh).

Trong bộ sách địa lý “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Thanh Tuyên Tông, không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc địa phận tỉnh Quảng Đông.

Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.

Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong việc chiếm hữu, kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông Hải nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đời Nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thôn tính và đổi tên nước Nam Việt thành Giao Chỉ Bộ, vùng biển Đông Hải chạy từ bờ biển Bắc Việt đến Thanh Hóa, Nghệ An (Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) có tên là Giao Chỉ Dương.

3. Đời nhà Minh cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi (và cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời nhà Tống) cũng gọi Biển Đông Hải là Giao Chỉ Dương. Trong khi đó trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa 7 lần đi qua Biển Nam Hoa để khai phá Biển Tây Dương (Ấn Độ Dương).

Theo lịch sử Việt Nam trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến liên miên giữa Việt Nam và Chiêm Thành. Nếu quả thật nhà Minh đã chiếm đất Chiêm Thành năm 1413 trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa, thì lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa và Việt Nam đã phải ghi chép việc đó. Trong khi đó theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới đời vua Lê Thánh Tông năm 1471, Chiêm Thành đã là lãnh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí về tỉnh Khánh Hòa thì cuốn Minh Sử cũng ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ còn 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp mà thôi”. Lúc này vua Nhà Minh sai sứ sang yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. (Lý do là vì Minh Chủ không trả đất Nam Việt của Triệu Vũ Đế cho nước Đại Việt).

Những tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn hải phận ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt. Cũng nên ghi chú rằng từ năm 1427 Lê Lợi đã đánh thắng quân Nhà Minh để giành lại chủ quyền độc lập đã bị Minh Thành Tổ tước đoạt từ 20 năm trước (1407).

4. Đời nhà Nguyên, trong thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong 90 năm. Năm 1257, quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Đại Việt.

Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, dưới hiệu kỳ Thành Cát Tư Hãn, quân Mông Cổ đã chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Ngoài ra họ còn thôn tính nước Tây Hạ phía tây bắc, nước Kim phía đông bắc rồi tràn sang Triều Tiên. Sau khi dẹp nhà Tống và đặt nền thống trị tại Trung Quốc, Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý hay Vân Nam Phủ. Tuy nhiên, tại Đại Việt, với quân dân một lòng, năm 1257 nhà Trần đã đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu phía đông Sông Nhị Hà. Đây là chiến thắng đầu tiên của Đại Việt đối với nhà Nguyên.

27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ là Thái Tử Thoát Hoan kéo quân sang báo thù.

Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lão đồng thanh xin đánh. Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12 năm 1284 đến tháng 6 năm 1285, quân Đại Việt đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra ngoài bờ cõi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi bị đuổi quá gấp phải một mình chạy trốn bằng thuyền, trong khi Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe tháo chạy về Tầu.

Thời gian này Hốt Tất Liệt đã có kế hoạch thôn tính quần đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đình chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287 Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.

Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong vòng một năm quân Mông Cổ đã mua lấy thất bại. Ô Mã Nhi lần này bị bắt sống. Sau đó Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão đại phá quân Nguyên tại Bạch Đằng Giang khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng.

Đây là một vinh quang của Đại Việt đã ba lần đơn phương phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân Mông Cổ nổi danh là bách chiến bách thắng từ đời Thành Cát Tư Hãn.

Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó Việt Nam cả trên lục địa đến các hải đảo. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “Trong suốt thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (sách đã dẫn, trang 20).

Nguyên Sử cũng xác nhận điều đó. Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lý Chí đã viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi“.

5. Đời Nhà Tống, cũng như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11, quân Đại Việt cũng đã 3 lần đánh thắng quân Nhà Tống.

Trước hết, đời Tiền Lê, năm 981 Lê Đại Hành phá tan hải quân của Lưu Trừng nhà Tống tại Bạch Đằng Giang.

Đến đời Nhà Lý, năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản vây hãm quân Nhà Tống tại Châu Liêm, Châu Khâm (Quảng Đông) vả Châu Ung (Quảng Tây). Qua năm 1076, một lần nữa, Lý Thường Kiệt lại đánh bại hải quân Nhà Tống trên sông Như Nguyệt và sông Phú Lương.

Sau 3 phen thất bại, theo trình tấu của hoàng thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đã phải theo chính sách Trọng Võ Ái Nhân (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nhìn nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lý Trường Sa (Bãi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc Việt Nam, chứ không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Châu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.

Nói tóm lại các sách sử địa Nhà Tống không bao giờ ghi chép rằng Trung Quốc đã chiếm hữu các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa như Chính Phủ Bắc Kinh đã xuyên tạc trong “Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa”ngày 1-tháng 9-1951.

6. Đời Nhà Đường sách Đường Thư Nghệ Văn Chí có đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam.

Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Trình do Giã Đàm đời Đường khi ghi lộ trình hay hải đạo Hongkong-Tân Gia Ba cũng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.

Kế tiếp đời nhà Đường là đời Ngũ Đại Thập Quốc (907-960). Đây là một giai đoạn lịch sử phân hóa và suy yếu. Thừa dịp này, năm 939 Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán để giành lại chủ quyền độc lập cho Việt Nam.

7. Đời Nhà Hán, trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đã xác nhận nhiều sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau:

Năm 111 Trước Công Nguyên, sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam, mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7) mới đặt lại quyền cai trị”.

Như đã trình bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới quận Quỳnh Châu đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.

Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán đến sau Thế Chiến II, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Mãi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đòi chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống. (Notes on the Nanwei and Sisha Islands, People’s China, Foreign Language Press, 9-1-1951).

Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đã không ghi nhận như vậy. Như đã trình bày, cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của sử gia Chu Khứ Phi đời Nhà Tống cũng gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương (biển của nước Giao Chỉ tức Việt Nam đời Nhà Hán).

Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đòi chủ quyền các hải đảo Thái Bình (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc đã lên tiếng phản kháng và chủ trương rằng các hải đảo này đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh trong thế kỷ 15.

Tuy nhiên cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân năm 1956 của Đài Bắc không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lý, địa lý hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cả hai Chính Phủ Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ.

Trên thực tế đây chỉ là âm mưu của Chính Phủ Bắc Kinh nhằm khôi phục chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc do Mao Trạch Đông tái phát động từ cuối thập niên 1950. Và để thi đua tranh thủ nhân tâm, Chính Phủ Đài Loan cũng phụ họa luận điệu này. Mặc dầu, như đã trình bày, cho tới tháng 2-1955 Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch vẫn xác nhận giá trị Tuyên Cáo Cairo 1943 trong đó Trung Quốc khước từ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

8. Phục Hồi Chủ Nghĩa Đại Hán

Tháng 5-2008 trên tạp chí Duyệt Lại Nền Kinh Tế Tại Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), học giả Micheal A. Ledeen trong Viện Nghiên Cứu Chính Sách của Hoa Kỳ đã mệnh danh chính sách bá quyền của Trung Quốc hiện nay là Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển (Beijing Embraces Classical Fascism).

Theo tác giả, thay vì tiếp thu chủ nghĩa đa nguyên theo sự mong đợi của mọi người, giới lãnh đạo Trung Quốc càng ngày càng trở nên giáo điều và bảo thủ. Cũng như tại Ý Đại Lợi 50 năm sau Cách Mạng Phát Xít, Nhà Nước Ý vẫn giữ nguyên chế độ độc tài và chủ yếu vẫn đàn áp chính trị. Để biện minh cho chế độ, họ đã nêu lên quan hệ về sự vinh quang cổ xưa của dân tộc Ý thời Đế Quốc La Mã. Ngày nay, để phỏng theo Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển Ý, Bắc Kinh cũng đề xướng “Dân Tộc Hán Vĩ Đại“. Mục đích để giữ chặt quyền lực chính trị hầu phục hồi Đế Quốc Đại Hán.

Đây chính là Chủ Nghĩa Đại Hán được xây dựng và phục hồi. Với “tứ hiện đại hóa” Trung Quốc ngày nay đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay phòng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Trong khi chờ đợi họ phóng kim ngân để tích cực vận dụng thông tin tuyên truyển hầu giành cảm tình và sự thán phục của các quốc gia trên thế giới. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu.

Những nhận định nói trên của ký giả Micheal A. Ledeen cũng là những nhận định của Tiến Sĩ Lo Chi-Kin từ Hong Kong trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986 : Đối với Trung Quốc, những lãnh thổ phụ dung trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man (Territory once won for civilization must not be given back to barbarism: Chi-Kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes, Routledge London, 1989).

Trong thập niên 1960 khi phát động Cách Mạng Văn Hóa, Trung Quốc đã viện dẫn nguyên tắc này để giành giật chủ quyền lãnh thổ trong Chiến Tranh Biên Giới Ấn-Hoa. Lúc này chính sách ngoại giao của Bắc Kinh nhằm thu hồi toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Đế Quốc Trung Hoa thời cực thịnh. Đó là quan niệm “trật tự thế giới theo truyền thống Trung Quốc“.

Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc“.

Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.

Trong cuốn Cách Mạng Trung Quốc và Lịch Sử Đảng Cộng Sản Trung Quốc xuất bản sau năm 1949 có đoạn như sau:

“Sau khi đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh võ trang, các đế quốc đã thôn tính nhiều nước phụ dung của Trung Quốc: Nhật Bản chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Bành Hồ, các đảo Ryukyu, và Port Arthur. Anh chiếm Miến Điện, Bhutan, Nepal và Hong Kong; Pháp chiếm “An Nam”; và ngay cả một quốc gia vô nghĩa như Bồ Đào Nha cũng chiếm Macao”.

(In earlier days, especially in the immediate aftermath of the Sino-Indian border war of 1962, a popular interpretation of China’s policies towards territorial disputes was that they were dictated by insatiable irredentist ambitions. It has been claimed that it is the belief of the Chinese that territory once won for civilization must not be given back to barbarism. Therefore territory which was once Chinese must forever remain so, and, if lost, must be recovered at the first opportunity C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Foreign Relations, 1963.

In defeating China in war, the imperial states have taken away many Chinese dependent states and a part of her territories. Japan took away Korea, Taiwan, the Ryukyu Islands, the Pescadores and Port Arthur; Britain seized Burma, Bhutan, Nepal and Hongkong; France occupied “Annam”; and even an insignificant country like Portugal took Macao.

Mao’s remark is believed to have lent weight to the irredentist interpretation of China’s territorial policies. Guy Searls, Communist China’s Border Policy, Dragon Throne Inperialism? Hongkong 1963).

(Irredentist interpretation means an advocate of the recovery of lands of which his nation has been deprived, or, of territory historically or culturally related to his nation but now subject to a foreign government).

Nhận định nói trên của họ Mao đã yểm trợ cho chính sách thổ địa của Trung Hoa với quan niệm cực đoan cho rằng, về phương diện lịch sử và văn hóa, bất cứ lãnh thổ nào trước kia thuộc ảnh hưởng Trung Quốc hiện bị các đế quốc (Tây Phương) xâm chiếm, nay phải giao hoàn cho Trung Quốc.

Riêng tại Việt Nam và vùng Biển Đông Nam Á, Trung Hoa đề ra thuyết Biển Lịch Sử và chủ trương rằng họ đã viện dẫn rất nhiều tài liệu lịch sử từ thời cổ xưa cho biết họ đã khám phá và chiếm cứ những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó họ tự cho có ưu thế trên lãnh vực lịch sử và khẳng định rằng chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo trong Biển Nam Hoa là vấn đề “bất khả tranh nghị” (Both contentions are strong: the ancient title based on immemorial possession or discovery- occupation).

Điều đáng lưu ý là Bắc Kinh mới chỉ chính thức lên tiếng đòi chủ quyền tại Biển Đông Hải ngày 1-9-1951 viện cớ họ đã chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10).

Trong khi đó, 5 năm sau, ngày 29-51956, trong bản kháng nghị Phi Luật Tân tại Trường Sa, Đài Bắc lại chủ trương rằng Trung Quốc chỉ thủ đắc chủ quyền các hải đảo này từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15).

Trong mọi trường hợp, người Trung Hoa, dầu là quốc gia hay cộng sản vẫn chỉ căn cứ vào những tài liệu ngoại sử, vào thuyết Biển Lịch Sử và thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền do Khám Phá và do Chiếm Cứ. Họ chủ quan cho đó là lập trường ưu thắng không ai có thể phủ nhận hay bác bỏ.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị lấn chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam toàn thể lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. bao gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Việt Nam. Năm 181 Trước C. N., sau khi đánh thắng quân Tây Hán tại quận Trường Sa, Triệu Vũ Vương xưng đế hiệu là Nam Việt Hoàng Đế, ngang hàng với Hán Cao Tổ tại miền Bắc. Năm 157 Hán Văn Đế sai Lục Giả đưa quốc thư khuyến dụ Triệu Vũ Đế từ bỏ đế hiệu với lời cam kết sẽ để Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị vùng trung nguyên Trung Quốc từ Ngũ Lĩnh đến bờ biển Việt Nam.

Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã phản bội cam kết của các tổ phụ và tiên vương nhà Tây Hán như Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế. Và đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa và văn minh khác biệt với các dân tộc du mục miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (Had Nan Yueh remained independent, it is very possible a separate culture would have arisen in the south, and the Chinese might never have established their influence in the valley of West River. C. P. Fitzgerald: China, A Short Cultural History, Oxford University Press 1953, p.184).

Điều nghịch lý là, dầu quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, Trung Quốc không bao giờ dám công khai đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế, kể cả các cơ quan điều giải do các quốc gia đệ tam vô tư phụ trách.

(Ironically, despite most of the existing studies having found in favour of China’s position over to islands, it appears that China has been most reluctant to subject the disputes to international legal arbitration. Chi-Kin Lo. Ibid).

Ngay từ năm 1932, trong vụ tranh chấp về quyền khai thác phốt phát trên quần đảo Hoàng Sa, đại diện Việt Nam, Chính Phủ Pháp đã viện dẫn những tài liệu lịch sử để xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này. Để tỏ thiện chí hòa giải, Pháp đề nghị đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa ra trước Tòa Án Quốc Tế là cơ quan tư pháp tối cao có thẩm quyền công bố những quan điểm tham vấn (consultative opinions). Tuy nhiên Trung Quốc đã tránh né và không dám công khai trình bầy những quan điểm pháp lý và những tài liệu lịch sử mà họ thường phô trương. (Báo cáo của Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier năm 1932 hiện lưu trữ tại Văn Khố Bộ Ngoại Giao Pháp).

Ngày nay chúng ta thách thức Trung Quốc công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài, hòa giải hay tham vấn theo thủ tục quốc tế (international litigation, arbitration, legal mediation or judicial consultation).

Giáo Sư Fairbank tại Đại Học Harvard và Giáo Sư Fitzgerald tại Đại Học Oxford cho rằng Trung Quốc vẫn chủ trương duy trì một trật tự thế giới nhằm tái lập vai trò bá chủ truyền thống của họ. Quá trình lịch sử của Trung Quốc đã ảnh hưởng quyết định đến chính sách đối ngoại hiện nay của Bắc Kinh. Họ chỉ giảo hoạt nương theo trào lưu tiến hóa lịch sử để duy trì địa vị và uy thế, bất kể những mục tiêu tinh thần của Liên Hiệp Quốc như bình đẳng, hợp tác và hữu nghị giữa các quốc gia hội viên trên thế giới.

(Some historians like Fairbank and Fitzgerald believe in the existence of a Chinese traditional world order, or a traditional view of “their place in the world”. This historical legacy continues to exert an important influence on China’s foreign policy today. In Fitzgerald’s words “the Chinese view of the world has not fundamentally changed: it has been adjusted to take account of the modern world, but only so far as to permit China to occupy, still, the central place in the picture”, C. P. Fitzgerald, The Chinese View of Their Place in the World: Oxford University Press 1964: 68-72. J. K. Fairbank, The Chinese World Order, Harvard University Press, 1968 and China‘s World Order, Encounter, December 1968:14-20).

Hiện nay, tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc và coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau Thế Chiến II. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển tại Montego Bay, Jamaica.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

9. Biển Lịch Sử và Thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền

Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng đòi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan điều giải, trọng tài hay tố tụng. Lý do là vì họ không đưa ra được quan điểm pháp lý hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.

Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1) Phải có sự hành sử chủ quyền;

2) Một cách liên tục và trường kỳ; và

3) Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Dầu sao Tòa Án Quốc Tế đã định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.

Năm 1982 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:

“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal water” (Fisherys cases UK vs. Norway, 1951, I. C. J. 116, 130); “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal water of the State” (Art. 8 LOS Convention 1982).

Ngoài ra Trung Quốc còn nêu lên thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền các đất vô chủ, thủ đắc do khám phá và thủ đắc do chiếm cứ.

A. Thủ Đắc do Khám Phá (Acquisition by Discovery).

Theo các tài liệu do Bắc Kinh xuất trình, từ hơn 2000 năm nay, dưới đời nhà Hán, với 100 ngàn hải quân, Đô Đốc Yang Pu đã khám phá các hải đảo tại Biển Nam Hoa, và do đó đã thủ đắc chủ quyền các hải đảo này.

Lý luận này hoàn toàn vô căn cứ:

1) Trước hết không có tài liệu khách quan vô tư nào kiểm chứng có sự tuần thám của 100 ngàn hải quân Trung Quốc tại các tiểu đảo san hô trên Biển Đông Hải. Có chăng chỉ là đội hải thuyền của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi thôn tính Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong Trận Xích Bích.

Vả lại, như đã trình bày, trong thế kỷ thứ I Trước C.N, quân Nhà Hán đã rút khỏi đảo Hải Nam cho đến cuối thế kỷ thứ 6 mới đặt lại quyền cai trị.

Hơn nữa, sử sách đời Nhà Thanh còn ghi rõ “đến cuối thế kỷ 19, lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18 là hết”. Như vậy trong 20 thế kỷ, từ đời Nhà Hán đến đời Nhà Thanh, hải quân Trung Quốc không chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc về phía nam, từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến thứ 8 (Quảng Trị-Cà Mâu).

2) Vả lại kẻ khám phá không đương nhiên là kẻ sở hữu. Hoa Kỳ đã khám phá mặt trăng, treo cờ, lấy đá, chạy xe thử nghiệm và chiếm cứ tượng trưng nhiều lần. Nhưng không phải vì các hành động này mà Hoa Kỳ có thể tuyên bố: “Mặt trăng thuộc chủ quyền không gian của Hoa Kỳ”.

3) Các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế từ thế kỷ 15, như Christopher Columbus khám phá Châu Mỹ, Vasco de Gama khám phá Mũi Hảo Vọng tại Phi Châu và các hoang đảo tại Ấn Độ Dương; Magellan đi xuyên ba đại dương từ Đại Tây Dương vượt Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, khám phá quần đảo Phi Luật Tân và hải đảo Guam. Vậy mà Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng không đòi chủ quyền các hải đảo này. Cũng trong tinh thần đó, năm 1867 Hải Quân Anh đã phát hiện Quần Đảo Trường Sa và đặt tên là Spratleys. Vậy mà Anh Quốc cũng không đòi chủ quyền các hải đảo này, dầu rằng, theo Tuyên Ngôn Potsdam 1945, Anh Quốc được Đồng Minh trao nghĩa vụ giải giới Quân Đội Nhật tại Spratleys.

4) Vẫn theo tinh thần đó, khám phá ra Bắc Cực, Nam Cực, rồi cắm cờ, dựng bia kỷ niệm cũng không có hiệu lực ban bố chủ quyền cho người chinh phục.

B. Thủ Đắc do Chiếm Cứ (Acquisition by Occupation)

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

1) Chiếm cứ thực sự.

Tại Trường Sa trong số các đảo, cồn, đá, bãi có danh xưng quốc tế, Trung Quốc chiếm 8 đơn vị, Đài Loan chiếm đảo Ba Bình hay Thái Bình, trong khi Việt Nam chiếm 21 đảo và Phi Luật Tân chiếm 8 đảo..

2) Chiếm cứ công khai.

Sự chiếm cứ phải có tính công khai, không thể ngấm ngầm như trường hợp Trung Quốc lấn chiếm và xây công sự tại đá chìm Mischief trên thềm lục địa Phi Luật Tân năm 1995.

3) Chiếm cứ hòa bình.

Không có sự chối cãi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.

Năm 1974 Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm 6 hải đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.

Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công võ trang các đảo Trường Sa, và đã chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá chìm và bãi ngầm.

Năm 1992, Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm Bãi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các Bãi Thanh Long và Tứ Chính.

Những vụ chiếm cứ này không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang nên không được luật pháp và tòa án bảo vệ. Vì nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

4) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Cho đến năm 1951 Trung Quốc không bao giờ lên tiếng đòi chủ quyền lãnh thổ tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong khi đó, ít nhất từ 1816 dưới đời Vua Gia Long, Việt Nam đã chiếm cứ công khai, liên tục, hòa bình các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do người Pháp dựng năm 1938 có ghi:

République Francaise (Cộng Hòa Pháp)

Empire D’Annam (Vương Quốc Việt Nam)

Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa)

1816 -Ile de Pattle- l938 (Đảo Hoàng Sa)

Chiếm cứ năm 1816 và dựng bia năm 1938)

Các căn cứ quân sự của người Pháp được thiết lập từ đầu thập niên l930. Đài Khí Tượng Hoàng Sa mang số 48860 thuộc Tổ Chức Khí Tượng Thế Giới bắt đầu hoạt động từ 1938. Trước đó, trong thập niên 1920, Công Ty Phosphate Bắc Kỳ đã khởi sự khai thác phân chim. Ngoài ra còn có hải đăng, Miễu Bà, Nhà Thờ Thiên Chúa, cầu tàu và các nhà cửa công sự xây cất với sự đồn trú của Đội Phòng Vệ Đông Dương và của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sự chiếm cứ này có tính công khai, hòa bình, trường kỳ và liên tục cho đến 1956 và 1974 khi hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Càn Long. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa thì cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Nhà Nước Trung Hoa.

5) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

Như đã trình bày, năm l951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận . Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam lên diễn đàn công khai tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.

Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ý nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Điều đáng lưu ý là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ công khai, hòa bình và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)

Như vậy thuyết Thủ Đắc Chủ Quyền do Khám Phá hay do Chiếm Cứ do Trung Quốc viện dẫn đã trở thành vô dụng. Nó chỉ dựa vào những lời tuyên bố suông, những khẩu thuyết vô bằng. Hơn nữa nó vi phạm nghiêm trọng các điều khoản trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đồng thời vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Do đó, về mặt công pháp quốc tế, Thuyết Biển Lịch Sử không còn là một vấn đề tranh nghị tại các cơ quan trọng tài hay các Tòa Án Luật Biển. Vì thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế và đã bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.

Vì biết rõ điều đó nên Trung Quốc không bao giờ dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay trước các cơ quan Trọng Tài và Điều Giải của Liên Hiệp Quốc.

Trong mọi trường hợp, dầu cực đoan đến mấy, ngày nay Bắc Kinh không còn dám yêu sách đòi chủ quyền lãnh thổ tại một số các quốc gia Đông Á như Triều Tiên, Miến Điện, Nepal, hay Việt Nam mà Mao Trạch Đông thường miệt thị là “nước phụ dung An Nam”

10. Tín Nghĩa và Quyền Mưu

Muốn hội nhập vào cộng đồng nhân loại văn minh, thay vì tổ chức các thế vận hội về thể dục thể thao hay các hội chợ thế giới về văn hóa kỹ thuật với tác dụng phô trương tuyên truyền, Bắc Kinh nên trở về với tín nghĩa, pháp lý và đạo lý. Bằng cách tôn trọng danh dự quốc gia và chữ ký của mình để nghiêm chỉnh thực thi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà họ đã ký kết tham gia từ 28 năm nay. Nếu đi ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại văn minh và trọng pháp, Trung Quốc sẽ bị các quốc gia trên thế giới chê cười và tẩy chay do thái độ trí trá, tiền hậu bất nhất, nói một đàng làm một nẻo.

Theo các nhà minh triết cổ kim có hai con đường lập quốc:

Lấy tín nghĩa mà lập quốc là theo chính đạo.

Lấy mưu mô quỷ quyệt mà trị nước là theo tà đạo.

Con đường này sẽ đưa đất nước đến suy vong.

(Tín nghĩa lập nhi nhân đạo, quyền mưu lập nhi vong quốc).

Tài liệu soạn cho các sinh viên Việt Nam ở trong nước

các sinh viên Việt Nam tại hải ngoại

và các sinh viên Việt Nam du học tại hải ngoại

Mùa Xuân 2010

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống

 

(Nguồn:http://www.dahieu.com/hoangsa_truongsa/hoangsatruongsatheotrungquocsu.pdf )

69 bình luận tới “217. VN CẦN SỬ DỤNG NHỮNG CHUYÊN GIA PHÁP LÝ NHIỀU KINH NGHIỆM NGƯỜI VIỆT VÀ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỚI TQ VỀ BIỂN ĐÔNG, TS-HS”

  1. Cam on bai viet rat hay, tuy nhien no bi che phu boi su hen nhat+4 tot & 16 chu vang + su dong thuan cua CP VN the nen no rat co gia tri khi dua ra Toa an LHQ (con lau moi duoc dua ra, vi phai con giu Dang truoc)> Tuy nhien toi cung rat nhiet liet hoan nghenh bai viet nay va mong muon no se duoc lam bang chung CHU QUYEN cua VN chung ta tai LHQ.
    Mot lan nua xin chan thanh cam on tac gia va nhung nha tri thuc VN da day cong tim hieu va dua ra truoc Cong luan

  2. Năm Darwin said

    Có thể chủ quan, nhưng bài viết rất hay và giá trị, rất academic. Cám ơn anh Ba Sàm đã phỗ biến, cám ơn LS Trần Vũ Hải đã giới thiệu, nhất là cám ơn LS Nguyễn Hữu Thống, công sức ông bỏ ra rất lớn để viết bài này làm vũ khí tranh luận mạnh mẽ với bọn bá quyền Trung Cộng. Với tinh thần của những cuộc biểu tình vừa qua, cộng với những người con đất Việt này, chúng ta không thể mất nước được.

    Nếu có thể được, xin anh Ba để bài này lâu lâu một chút cho nhiều người cùng đọc. Cám ơn anh.

  3. dan noi dan ban dan lam dan kiem tra said

    người dân ngày càng nghi ngờ những chuyện mờ ám như thế này . Giữa ban ngày ban mặt ,công an còn đạp thẳng vào mặt ngươ`i biểu tình chống Trung Quốc thế thì chuyện đi đêm giữa lãnh đạo VN va lãnh đạo TQ tại sao là không thể xảy ra ?

    Hơn nữa, chính những chuyện đi đêm này mới tạo ra tiền đề cho cú đạp lịch sử

  4. Dân saigon u30 said

    Phỏng vấn giáo sư Phạm Toàn đang sống ở HN về phiên xử CHHV

    Phỏng vấn Linh Mục Phạm Minh Triệu Cha Xứ Nhà Thờ Bảo Long Nam Định vể bản án CHHV

  5. Khách đã nói. said

    14 Ủy viên Bộ Chính trị đảng viên đảng cộng sản cầm quyền tại Việt Nam hiện nay là những người không có tôn giáo. Họ là con em cách mạnh từ giai cấp CÔNG NÔNG mà lên. Đa số họ học từ các trường Chính trị trong nước với bằng cử nhân luật và Chính trị cao cấp nguyễn ái quốc, thời gian học nhiều người bận bịu không đi học đủ thời gian. Bằng của họ là bằng “thật” nhưng học “học” giả. Họ đã có Đảng lãnh đạo và tập thể Đảng. Họ không cần SỬ DỤNG NHỮNG CHUYÊN GIA PHÁP LÝ NHIỀU KINH NGHIỆM NGƯỜI VIỆT VÀ QUỐC TẾ ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỚI TRUNG QUỐC VỀ BIỂN ĐÔNG, TRƯỜNG SA, HOÀNG SA đâu. Vì họ vẫn còn THAM-SÂN-SI-MÃN-NGHI- TÀ KIẾN lắm.
    Chúng ta hãy kiên nhẫn đợi sự GIÁC NGỘ và SÁM HỐI của họ.
    Lòng THAM có từ muôn thủa của con người, nhất là những người CS mới nổi dậy. Từ bỏ lòng THAM phải có thời gian tu tập .

  6. Chua dat said

    http://my.opera.com/Nhula1giacmo/blog/?startidx=1
    Mời các bác vào đây đọc để mở mang dân trí, hihi.

    • Binh said

      Mở mang dân trí cái giề? Chắc bác Chua Dat chỉ định diễu cho vui. Thằng cha Lê Vũ này thuộc dạng cực đoan trước giờ, dạng này đến giai đoạn cuối sẽ trở thành kiểu người giống Công dân Na Uy cực đoan vừa đánh bom vừa bắn súng tiểu liên như trong phim Terminator nhưng xảy ra thật ngoài đời đó.

      Lê Vũ chỉ xúi dại được một mớ mấy cậu trẻ có thiên hướng cực đoan giống anh ta. Nhưng blog đó ít ai vào xem lắm, hi hi.

  7. Tiểu dân SG said

    Một nguồn tin từ trong nội bộ an ninh VN cho biết: ngày 9-6-2011 có 125 chuyên gia an ninh TQ (trong đó có cả tù hình sự Trung Quốc biết võ thuật) trực tiếp vào Hà Nội và Sài Gòn để cùng lên phương án tổ chức ngăn chặn, bắt bớ những kẻ biểu tình. Đây là kết quả của cam kết phối hợp công tác “chống bạo loạn” của 2 nước Việt-Trung họp ngày 25-4-2011 tại Hà Nội. Tại sao lại gọi những tên xâm lược sang để bàn cách đàn áp nhân dân phản đối họ? Nếu đúng vậy thì Lãnh đạo ĐCSVN là tay sai cho giặc Phương Bắc chống lại nhân dân Việt Nam chúng ta và chúng ta phải làm gì với họ đây?

    – Theo một nguồn tin từ các cán bộ cao cấp tại Hà Nội thì tối 21.06 vừa rồi hai ông quyền lớn nhất nước là Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng đã phải bay cấp tốc sang Trung Quốc họp theo lệnh của Hồ Cẩm Đào vào lúc 11 giờ đêm. Tại sao người đứng đầu đất nước ta lại phải sang theo lệnh của TQ đột ngột như vậy trong khi họ đang gây sự, lấn chiếm biển và đất liền của ta? Hai nhân vật quan trọng nhất có thể ra lệnh cho cấp dưới trong nước làm điều này, điều kia bị Trung Quốc khống chế rồi chăng? Vậy ai sẽ ra lệnh để cấp dưới làm đây? Nếu không có ai ra lệnh trước những hành động của TQ bất lợi cho nhân dân ta thì TQ cứ thế lấn dần từng bước một tiến tới thôn tính nước ta hoặc nhân dân sẽ vùng dậy, hay Quân đội đành phải đảo chính.
    http://tintuchangngay4.wordpress.com/2011/07/28/chung-ta-c%e1%ba%a7n-ti%e1%ba%bfp-t%e1%bb%a5c-bi%e1%bb%83u-tinh/#more-7871

  8. Vogiacu said

    Lòng dân đã rõ
    Luật Quốc tế rõ ràng
    Hoàng sa và Trường sa đều của Việt Nam
    Dân ta từ trong nước đến Hải ngoại
    Một lòng đoàn kết
    Gìn giữ non sông biển trời
    Của cha ông để lại
    Cho con cháu Mai sau
    Chỉ có đám độc Tài
    Con cháu Trần Ích Tắc
    Dâng đất nước cho Tàu
    Đàn áp dân yêu nước


    • Các Anh Hai bên vĩnh viễn đi vào Việt Sử
      ================

      Chân lý Lịch sử phải tất thắng

      Vì Hoàng Sa quyết sinh Anh nằm xuống

      Dưới Cờ Vàng một lần mãi mãi Nghìn năm

      Dù Ngụy kách miệng thâm hiểm bôi bẩm

      Hồn Thiêng Sông Núi vọng gọi tên Anh

      *

      Chân lý Lịch sử phải tất thắng

      Vì Trường Sa quyết tử vào vĩnh hằng

      Thủy táng trùng dương là Lòng Biển Mẹ

      Bao dung làm phai Ý hệ hai ngọn cờ Quốc – Cộng

      Chỉ còn Ngàn giọt lệ thương con mặn nồng

      Lai láng trong Tim Mẹ Việt Nam

      Thương đàn con Hai bên cùng Lạc Hồng màu đỏ

      *

      Thủy táng con vào Biển Mẹ Thái Bình Dương

      Bao dung hóa giải hai ngọn cờ Vàng – Đỏ

      Cho Tương lai Tổ Quốc lên hẹn đến hò .. ..

      TRIỆU LƯƠNG DÂN

  9. DO NGHE said

    Bài VIẾT quả Hửu TÌNH hửu LÝ
    Hợp LÒNG người Xu THẾ hoàn CẦU
    Riêng VIỆT nam Tình LÝ ở ĐÂU
    Điếu CÀY Hà VŨ tại SAO vào TÙ

    Lý HỌNG Súng Dùi CUI Xiềng XÍCH
    Lý và LỰC của ĐỊCH giống TA
    Đành lòng KÊU gọi xin THA
    Bởi LỰC thắng LÝ thành RA cúi LUỒN

    Nam quan ĐẾN Đồi SƠN Bản GIỐC
    Hoàng Trừờng SA Hòn NGỌC Biển ĐÔNG
    Biết RỒI Nhân LOẠI Một LÒNG
    Nô BEN Tài PHIÊT Quyết KHÔNG tha TÀU

    Mộng Bá CHỦ hoàn cầu Bị DIỆT
    Trời Ơi TRỜI Em biết Về MÔ
    Kho Vàng CHẤT chứa núi ĐÔ
    Theo Tàu TÀU Phải tru di Ba ĐỜI

    Gẩm những KẺ thức THỜI Mẫn THẾ
    Nhắc nhủ NGƯỜI lý lẽ Công MINH
    Xin cho Chí LÝ Chí TÌNH
    Thương DÂN thương NƯỚC tự MÌNH Biết LO

  10. Ẩn danh said

    Cong Trinh cua LS Nguyen huu Thong theo toi no la mot Luan An Tien Si Khoa Hoc nganh
    Luat,chuyen nganh hep Cong Phap Quoc Te.Co gia tri thuc tien va chung minh mot cach hung hon ve chu quyen cua VN tren hai quan dao HS va TS.No gian tiep chung minh su lap liem,trao tro cua bon xam luoc phuong Bac.

    Nhan dip nay ma nha nuoc ta khong dung Phap Ly ,dang co su dong tinh cua du luan the gioi de chung minh chuquyen va doi lai Hoang Sa va mot phan truong Sa thi khong biet den bao gio VN moi gianh laiduoc?

    Cam on ABS,LS Tran Vu Hai,va LS Nguyen huu Thong.

  11. Đại Việt said

    Ý tưởng của các luật sư rất hay và tốt!
    Nhưng xin thưa Lãnh đạo Việt Nam bất cần những chuyên gia về Biển Đông. Các trí thức yêu nước có hiểu biết sâu về Biển Đông lên tiếng về sự xâm lược của TQ đều bị đàn áp. Đi dự hội thảo về Biển Đông thì không cho đi… Những điều đó chứng minh đủ thấy trí thức (chuyên gia) chẳng có chút trọng lượng gì. Phải chăng “Trí phú địa hào” đã đào tận gốc, trốc tận rễ như TBT Trần Phú đã nêu trong luận cương cách mạng VN.
    Để đấu lý, lãnh đạo VN sẽ cho nông dân, công nhân mang búa, liềm đi đòi chủ quyền Biển Đông chăng??? Hichic

  12. Ngư dân nghèo said

    Thông tấn xã Việt Nam chắc bị câm hết rồi, nên từ hồi ngư dân VN bị HQ Tàu bắt và hành hung trái phép trên vùng biển VN chẳng thấy E Nga hay ma nào lên tiếng bênh vực phê phán TQ vi phạm chủ quyền lãnh thổ VN lấy một câu cho ngư dân mình mát ruột nhỉ.

  13. Dân đen said

    LUẬT SƯ
    Để ý thấy mấy ông luật sư mở miệng ra là nói có sách mách có chứng cứ. Chuyện chủ quyền biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa nghe sướng lỗ tai: chứng cứ lịch sử, khoa học, pháp lý chắc chắn rõ ràng thế kia à. Chuyện tâm địa bọn Tàu ông nói cứ y như ở trong bụng chúng.

    Giờ đã hiểu vì sao Trung Quốc không bao giờ dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay trước các cơ quan Trọng Tài và Điều Giải của Liên Hiệp Quốc.

    Và cũng hiểu vì sao báo lề phải và tổ chức Nhà nước không công khai chứng cứ pháp lý lịch sử. Càng hiểu hơn vì sao Tàu phù và bọn tay sai thấy trí thức, nhân sỹ, dân Việt biểu tình yêu nước, đòi công khai sự thì thụt là hoảng.

    Đáng tiếc là không có cái hình ông luật sư Nguyễn Hữu Thống này để dân biết mặt kẻ anh tài nhỉ. Cả bọn “ác ôn” (theo cách gọi của nhà văn Nguyên Ngọc) cũng cần biết luôn để:
    1. Nếu lỡ ông có từ California, Mỹ về thăm quê thì cũng tới hotel thăm hỏi, dò la này nọ, thùng rác bcs…
    2. Lỡ nhằm ngày chủ nhật thì nhắc đừng đi ra đường.
    3. Lỡ ông “xuống đường” thì dặn nhau “nó là Việt kiều Mỹ”, đừng đạp vô mặt nó. Nó là LUẬT SƯ QUỐC TẾ, nó la ì xèo, không vận động cơ quan quốc tế bãi nại được.

  14. Ẩn danh said

    nga be:LS TVH se gui thu kem bai viet nay den ong TTS,Bo ngoai giao,hoi huu nghi viet trung,hoi su hoc, hoi luat gia ,lien doan luat su, hy vong se duoc quan tam.Neu ko duoc quan tam , LS TVH se lap nhom luat su nghien cuu rieng ve van de nay.Hy vong moi nguoi se ung ho LSTVH

  15. khách said

    Nếu báo Đảng sợ thì Báo Tuổi trẻ và Báo Thanh niên cho đăng bài viết của Luật Sư Nguyễn Hữu Thống để cho nhiều người biết.

    • Ẩn danh said

      Báo tuổi trẻ, và Thanh Niên đều là báo Đảng nốt, chỉ có BS mới dám đăng thôi .

  16. Nông dân said

    Đi với bụt thì nhân đức ,vị tha -Di với Trung hoa thì trở ra tàn ác

  17. Về tính chính xác của thông tin thì chắc thời gian sẽ kiểm chứng. Nhưng đây là bài đầu tiên tôi đọc thấy tư duy rất khúc chiết, mạch lạc. Lập luận chặt chẽ, ngắn gọn. Thông tin về các văn bản liên quan đến luật rất rõ ràng: Thời gian, không gian, tên tài liệu, nội dung. Rất cám ơn bác luật sư.

  18. trananh said

    anh 3S oi, có bài này của tác giả Lê Ngọc Thống : chỉ là vấn để thời gian …
    việt-studies-infohttp://W.W.W.viet-studies.infor/kinhte/chilavandethoigian.htm
    Bài viết rất xác đáng, anh 3S bê luôn về đây cho mọi người cùng xem.
    cảm ơn rất nhiêu.

  19. Ẩn danh said

    Ngày nào còn Đảng còn ta
    Ngày nào Đảng mất thì ra vỉa hè
    Hết còn xuống ngựa lên xe
    Vì ta sợ mất nên nghe lời Tàu

    Chúng dân chớ có làu bàu
    Nếu còn quá khích ta tâu Thiên Triều
    Bịt mồm cho khỏi nói nhiều
    Bỏ tù, bắt bớ thật nhiều, sợ không ?

    Biểu tình thật quá uổng công
    Nước Nam giờ đã nằm trong tay Tàu
    Dân Nam đừng có chen vào
    Quốc gia đại sự để Tàu tự lo.

    • Dân đen said

      QUỐC GIA ĐẠI SỰ ĐỂ TÀU TỰ LO
      Nói vậy việc bầu cử quốc hội, đại hội đảng, nhân sự BCT cũng là chuyện đại sự rồi để Tàu tự lo luôn à?

      HÙ
      Ngày nào còn Đảng còn ta
      Ngày nào Đảng mất thì RA VỈA HÈ

      Ở Đông Âu và Liên xô khi sụp đổ họ lập ra đảng mới. Họ tham gia bầu cử và đắc củ. Mấy ông cộng sản cũ trở thành nhà tài phiệt mới chứ ai vô đó. HÙ quá hóa sợ, đổi mới rồi đổi luôn cái đời là đương nhiên. Nhưng đời mới không có nghĩa là tất yếu phải ra vỉa hè.

      Chẳng lẽ đảng viên “loại to”, khi không còn ghế để lãnh đạo, chỉ biết một cách duy nhất để kiếm miếng ăn lương thiện qua ngày là NGỮA TAY ăn xin trên vỉa hè?

      Thực tế, các cựu chiến binh, khi bỏ tay súng, về làm đủ thứ vườn tược, cá heo, không giàu cũng chẳng nghèo tới mức ăn xin vỉa hè. LÁO

  20. vannam said

    Mình có đủ các bằng chứng lịch sử về cái ao( ông nội, bố mình đã đào nó, đã thả cá, đã thu hoạch hằng năm từ mấy đời…). Có cả bằng chứng pháp lý là có văn tự do trưởng bạ ký tên đóng dấu thuộc về ông nội, ông bố mình, khi chết có di chúc để lại hẳn hoi. Nhưng một ngày kia vì tranh chấp gia tài do bố mẹ để lại với thằng em.Nhờ có thằng Trương Tuần nhà kế cận, nó vừa có tí quyền trong làng, lại lắm mưu chước và nhất là đã , đang ủng hộ mình về tiền bạc để mình đem vụ kiện lên quan. Có nó chắc chắn thằng em chẳng chóng thì chầy cũng thua. Một ngày kia nó nói với mình cái ao ngoài bià làng kia (cũng là phần gia tài cuả em mày,) xét ra chả có lợi lộc là bao, cùng lắm mấy chục cân cá thôi, mày để tao trình cho làng và công bố cho ngõ trên, xóm dưới biết là nó thuộc về tao, nghe thế em mày biết là tao “chống lưng” mày, nhờ đó mà tư thế của mày trước mặt làng càng thêm vững vàng. Suy đi, tính lại, cái ao ngoài bìa làng kia chỉ là cái đinh gỉ so với nhà ngang, dẫy dọc , ruộng vườn mẫu nọ mẫu kia. Thế nên khi nó trình làng thì mình phụ hoạ “ghi nhận và tán thành” lại bắt con cái, kẻ ăn người ở không được xì xèo bàn tán. Lại “công khai” cho làng nước biết ý định cuả mình là hoàn toàn nhất trí với thằng Trương Tuần. Cuối cùng nhờ mưu trí, sức khoẻ,và uy quyền cuả thằng Trương Tuần mà thằng em chiu thua, bán xới. Gia tài thằng em hoàn toàn thuộc về mình. Nay mình biết cái ao kia là cả một kho vàng mà ông nội, bố mình chôn giấu thì đã hỡi ôi! Mở miệng làm sao? Mới ngày hôm qua, trước mặt làng nước, bà con, giòng họ,mình đã chối bỏ, lại còn thay mặt thằng em tội nghiệp phụ hoạ tán thành cho thằng trương tuần lấy ao. Thử hỏi bây giờ mình có thể đem việc này ra trình làng là theo lịch sử, pháp luật và nhất là mình chưa bao giờ “tán thành” việc thằng Trương Tuần cướp ao?
    Mình đã đem việc này hỏi ý kiến cụ cố Lý Trưởng Phạm, hỏi cả thằng tuần đinh Lưu Văn Lơị, thằng Mõ Làng Nguyễn Mạnh Cầm. Tất cả đều “cứng họng”, bắp thịt lưỡi bất khiển dụng, chĩ còn lắc đầu quầy quậy và…thở hắt ra!

  21. Kim said

    Toi xuc dong truoc nhung tinh cam, hien^’ ke^’ cua~ cac’ vi. Nhung thien^~ nghi~ can^` co’ tieng^’ noi’ phan~ bien^., vi` TQ cung~ co’ nhung*~ chuan^~ bi. Chua* ke^~ dda~ co` nhung*~ mat^. uoc*’ giua*~ CSVN va` TQ ma` chung’ ta chua* biet^’

  22. Ẩn danh said

    Nếu được GS Việt Đinh giúp thì rất có nhiều cơ hội cho Việt Nam.

  23. Học sinh yêu nước said

    …….
    “Việt Nam muôn năm!”
    Việt Nam, Tổ quốc muôn năm
    Nơi ta yêu quý muôn vàn của ta
    Ngàn năm đất tổ ông cha
    Đất chân ta đứng vẫn là của ta
    Sau lưng ta cả quê nhà
    Nơi lưng ta tựa ấy là Trường Sơn
    Là bờ ruộng, lối cỏ mòn
    Đỏ tươi bông gạo, biếc rờn ngàn dâu
    Là Thu Bồn mặt nước xao
    Dòng sông tuổi nhỏ rì rào hát ca
    Là hàng ớt đã ra hoa
    Đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông
    Là trưa tiếng mẹ ru nồng
    Tiếng thoi lách cách bên nong dâu tằm
    Là Việt Nam! Là Việt Nam!
    Biển Đông một dải xanh lam cõi bờ
    Việt Nam đất nhạc, đất thơ
    Chân mây điểm trắng cánh cò quê hương
    Đầm sen nở trắng, nở hường
    Đêm trăng thơm dịu những đường sầu riêng
    Việt Nam xứ sở thần tiên
    Bốn mùa một sắc trời riêng đất này
    Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây
    Non cao gió đựng, sông đầy nắng chan
    Sum sê xoài biếc, cam vàng
    Dừa nghiêng cau thẳng hàng hàng nắng soi
    Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
    Như sông, như núi, như người Việt Nam
    Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang
    Cà Mau cuối đất mỡ màng phù sa
    Trường Sơn chí lớn ông cha
    Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào
    Mặt trời ánh sáng tự hào
    Dáng đi cũng lấp lánh màu tự do
    Bốn ngàn năm dựng cơ đồ
    Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người
    Ôi Việt Nam! Việt Nam ơi!
    Việt Nam, ta gọi tên Người thiết tha.

    ( Trích thơ Lê Anh Xuân )

  24. Thanh niên yêu nước said

    Phương châm hành động của Đảng đã được QH Thông qua :

    ” Con đường ngắn nhất để giữ vững ghế và Quyền lực là con đường đàm phán và đồng thuận song phương “

  25. 217) VN cần sử dụng những CG pháp lý ,nhiều K N….giải quyết về tranh chấp biển Đông…

    Quan Việt khoái “ngón nghề” đồng thuận,
    Quan Tầu mưu xâm lấn biển khơi…
    Khát dầu “Bành” muốn “lên đời”,
    Dân yêu nước xót, kêu trời nhưng xa!
    Bằng chứng cái “lưỡi bò” đang “liếm”,
    Dân muốn “dao, kéo,kiếm” “cắt” đi!
    Quan vẫn đủng đỉnh chẳng hề…
    Vẫn tình”tồng chí”, má kề, tay ôm!
    Đã đến lúc không khom lưng được,
    Phải đàng hoàng mà bước, mà bay,
    Philippines nhỏ, nhưng hay!
    Sẵn sàng, Tầu khựa, “thò tay”, phải chùn!
    Ở đời, “mềm nắn, rắn buông”,
    Được thể nó dễ coi thường, coi khinh!

  26. Ăng ten chìm said

    Thông báo khẩn :

    Thiên Triều vừa có lệnh cho các Thái Thú Phương Nam: Phải bằng mọi giá làm ” Hạ Nhiệt ” các cuộc tụ tập của người dân yêu nước về lâu dài, tránh làm ảnh hưởng đến UY TÍN của Thiên Triều trong cộng đồng quốc tế.

  27. Đại Việt Bất Khuất said

    Rất cảm ơn Luật sư Nguyễn Hữu Thống về bài viết mang tính khoa học nên đầy tính thuyết phục trong việc khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Chúng ta cần hệ thống hóa mọi cứ liệu liên quan để xuất bản bộ sách về vấn đề này, công bố trước hết cho toàn dân ta, song song với việc công bố cho toàn thế giới biết rõ về sự thật này, trước hết là người dân Trung Quốc phải biết, từ đó VN có thêm nguồn lực cả về tinh thần lẫn pháp lý trong việc bảo vệ và gìn giữ những gì vốn có của chúng ta. Trước hết, hãy nhanh chóng lập các trang web bằng tiếng Hoa để công bố một cách đầy đủ, chính xác toàn bộ sự thật về Hoàng Sa và Trường Sa, làm tắt bớt ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa đầy tính Đại Hán mà bọn cầm quyền Trung Cộng đang thổi lên nhằm lôi kéo dân TQ hậu thuẫn cho cuộc xâm lăng Việt Nam và Đông Nam Á.
    Một lần nữa, xin cảm ơn Luật sư Nguyễn Hữu Thống, đồng thời cảm ơn cả anh Ba Sàm đã chuyển tới chúng tôi những thông tin vô cùng qúy báu trên.

  28. hihi said

    Thông tin của công an tên Minh , Đội phó đội an ninh quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đạp vào mặt người yêu nước : […] phường Bách Khoa, Hà Nội .Số điện thoại nhà riêng : 04 38694087Số di động : 0917372727 […].

  29. Dân Việt said

    Nhà nước bảo : ” Dân hãy về đi
    Đừng tụ tập chuyện này đã có Đảng và Nhà Nước lo
    Càng tụ tập đông người và kéo dài thế này Nhà Nước và Đảng càng thêm lo ”

    Lý do vì sao thì dân cả nước biết hết rồi .

  30. Văn Anh said

    Hoan nghênh LS Trần Vũ Hải,mong rằng bài viết này cũng sớm được gởi đến Quốc Hội và thúc đẩy để Quốc Hội ra nghị quyết về Biển Đông.

  31. anh duy said

    Bài viết quá sâu sắc, đáng báo động cho chính quyền

  32. DÂN OAN said

    GÓP VÀI Ý VỤN ,

    -Văn hoá Trung quốc không tôn trọng sự thật, cá lớn nuốt cá bé .TQ vẫn còn là một thứ văn hoá ăn thịt lẫn nhau mà Lê Duẫn đã thú nhận trong nội bộ.
    -Biết như vậy mà vẫn đưa đầu cho chúng quần thảo là phải có lý do.
    -Những buớc đi cuả Philippine là những phản ứng ngoai giao tối thiểu cuả một nuớc có chủ quyền .
    – Mọi phản ứng ngoại giao lúng túng , lén lút, che đậy lâu nay cuả Hànội cắt nghiã đây là một nhà nuớc không bình thuờng .
    -Tình thế hiện tại đã đũ cho mọi nguời thấy Việt nam đang nằm trong nguy ngập . Tháo gở thoát cho đuơc tình thế cần một chuyễn động có cơ sở tận góc …

  33. Minh Nguyên said

    Hoan nghênh bài viết cúa LS Hải, nên mời chuyên gia Luật quốc tế người Việt trong và ngoài nước…dù có chính kiến khác nhau, nhưng vấn đề quyền lợi Tổ quốc là trên hết, sẽ không ai từ chối phục vụ cho tổ quốc mình…cỏ thể mời Chuyên gia luật Quốc tế có tiếng tăm… làm Tư vấn Luật biển quốc tế UNCLOS- 1982
    * Đồng thời nên mời chuyên gia giỏi ngoại ngữ, dịch đúng nghĩa, vì danh từ Pháp luật có ý nghĩa cao hơn từ phổ thông .
    -Trang mang http://www.nghiencuubiendong.vn, nên có thêm tiêng Anh-Pháp-Hoa-Duc-Tay ban Nha-Nhat…
    Cuộc dấu tranh Pháp lý về chủ quyền HS-TS còn lâu dài, cần kiên trì…Thế giới luôn đứng về phía chính nghĩa…

  34. TổQuốcNhìnTừBiển said

    Việt Nam hiện như con cá nằm trên thớt để TC có thể lấy bất cứ lúc nào cho cái mộng bá quyền trên toàn thế giới của chúng.

    Trước khi nói chuyện pháp lý với quốc tế, chúng ta phải coi nhà nước CSVN có thật tâm muốn làm như vậy không đã hay giữa cấp cao VN như Phạm Văn Đồng hay ngay cả Hồ Chí Minh đã ký những hiệp ước mật gì với TC đã khiến cho chính quyền VNCS không dám nhúc nhích và luôn tìm cách che đậy tin tức với dân chúng. Phạm Văn Đồng chỉ có thể gởi công hàm cho Chu Ân Lai qua sự phê chuẩn đồng ý của Hồ Chí Minh.

    Một tin quan trọng như vậy có liên hệ đến an nguy của quốc gia từ chiến lược đến chủ quyền của quốc gia không thể nào các tưnớg lãnh đã từng bao nhiêu kháng chiến đánh giặc thành công không thể không thấy và không thể không biết.

    Vậy mà cái công hàm đó chỉ được nhà nước biện minh gần đây (sau 36 năm độc lập và thống nhất) sau khi phía TC tuyên bố VNCS lật lọng. Ngoài công hàm đó còn có mật ước gì khác mà toàn dân chưa được biết? Có thể đã có một mật ước cao hơn cái công hàm của Phạm Văn Đồng mà TC đã dùng để bịt miệng Hồ Xuân Sơn toàn bộ ngoại giao của VNCS, quân đội VNCS sau những tuyên bố hùng hồn cũng nhu tập trận mãnh liệt từ phía VNCS.

    Việc đằu tiên trên căn bản pháp lý là quốc hội VNCS phải phê chuẩn hai hiệp ước nhà Thanh đã ký với Pháp (Bảo hộ cho An Nam Quốc)
    – Hiệp Ước Pháp-Hoa (Convention de Fournier) ký ngày 18.05.1884 và 09.06.1885 tại Thiên Tân.
    – Hiệp Ước Pháp-Hoa (Convention de Brévié) ký ngày 26.06.1887 quy định về Vịnh Bắc Việt.

    Hai hiệp ước này đã phân định rõ ràng biên gìới của An Nam Quốc (tức VN ngày nay trải dài từ Ải Nam Quan sự tích Phi Khanh-Nguyễn Trãi cho đến mũi Cà Mau) trên đất liền cũng như trên biển cả bao gồm HS-TS.

    Quốc hội VN không phê chunẩ 2 công ước này thì VN sẽ không có căn bản pháp lý để bảo toàn chủ quyển và lãnh thổ của HS-TS-VN với công ước quốc tế.

    Có thể vì một lý do mập mờ nào đó từ Bộ Chính Trị Đảng CSVN mới khiến các nhà nghiên cứu và luật gia VN bị lúng túng khi đưa ra các kế sách tranh luận với TC nơi Tòa Án Quốc Tế vì thiếu sự nhất quán.

    Chính phủ VNCS có 5 năm để làm việc để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ VN. Chúng ta bảo vệ lãnh thổ nào? HS-TS-VN? VN nào Việt Nam ngày nay không có Bản Giốc, không có Ải Nam Quan? không có Hoàng Sa, không có toàn vẹn TS. Hay 1 VN trong tương lai lớn hơn với vượt qua Hoàng Hà sát cạnh ngoại mông? với một bờ biển bao gồm Hải Nam-HS-TS rồi gọi đó là Tam Sa?

    Tương lai gần đây qua các thái độ của các nhà lãnh đạo trong BCT CSVN đối với người BT yêu nước chống TC sắp đến sẽ cho chúng ta thấy tương lai của Việt Tộc sẽ đi về đâu dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nước.

    • Dân Đen said

      Phải có hiệp ước mật gì quá vì từ ngày ông Sơn (ở BNG) đi qua TQ đến giờ chính phủ VNCS quá là im lặng.

      Cuôc hội nghị ASIAN ở Indonesia đến giờ, Philippine lên tiếng phản đối ào ào trong khi đó phía VN thì không nói mạnh bạo như năm trước.

  35. Quangsaungon said

    Bài viết rất hay và có giá trị. Tại sao Việt Nam không cùng với Philippin phối hợp để phản đối cái “lưỡi bò” tham lam của Tung Của ?

    • việc bắt giam giữ các luật sư như Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ và mới đây đàn áp người biểu tình chống TQ là câu trả lời của chính quyền VN cho những người yêu nước muốn đòi lại chủ quyền các quần đảo cho VN. đừng nghĩ là họ nói việc này để cho Đảng lo mà lầm nghe bạn.

  36. Thaygiaolang said

    Bài viết của tác giả rất rõ ràng, thuyết phục. Với sự hợp sức của nhiều học giả yêu nước và sự đồng lòng của chính quyền cùng toàn dân, chúng ta tin tưởng sẽ chứng minh cho thế giới thấy rõ chủ quyền về Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

  37. Thành Ca said

    Đồng ý với ý kiến của LS Trần Vũ Hải. Cảm ơn LS Nguyễn Hữu Thống đã dày công nghiên cứu (không công) để có bản viết thật nhiều giá trị.

    Ai cũng biết đấu tranh pháp lý là cách hòa bình nhất. Nhưng Nhà nước có lẽ khôn g nghĩ vậy, bởi …… “há miệng mắc quai”. Ngoài cái quai là cái Công hàm kém giá trị của P.V.Đ còn những quai gì nữa? Nhà nước cứ nửa mê nửa tỉnh, cứ ru ngủ đêm đêm thì dân sao dám đặt niềm tin. Khổ dân ta quá!

  38. trinhdoan said

    Cảm ơn Luật Sư Nguyễn Hữu Thống về bài viết với nhiều dẫn chứng lịch sử thuyết phục và có hệ thống về chủ quyền đảo TS-HS thuộc về Việt Nam không thể chối cải .

    Tha thiết mong Chính Phủ khẩn trương tập hợp các dữ liệu về TS-HS là của VN và đệ trình lên Tòa án Quốc tế phân xử để dân đở khổ .

    Đây là con đường ngắn nhất và hữu hiệu nhất .

  39. Ẩn danh said

    Toi thay denghi cua LS Tran vu Hai la rat rat dung.Va Cam on LS Nguyen Huu Thong da day cong nghien cuu roi tap hop viet thanh bai chung minh mot cach Khoa Hoc (khia canh Lich su,Khia canh Cong phap quoc te, dia chinh tri,long ghep trong lich su the gioi can dai).

    Dat duoc thoa uoc DOC (ASEAN de nghi lan thu 21 TQ moi chiu toa thuan) la mot buov tien bo.Nhung thuoc tinh cua TQ la hay trao tro,lat long,noi mot duong lam mot neo.Neu ho khong tuan thu DOC thi sao?Cho nen chu quyen HS va TS cua VN can phai duoc cong chung,nghia la dem ra LHQ de cac the he sau cua VN khong bi phien toai.

    Su viec nay giong nhu can phai nho Dia Chinh ve va xac dinh ranh gioi chu quyen dat roi cap so do .Ve phap ly la nhu vay.Neu lang gieng lan ranh hay lan chiem doi sau con co co so thua kien duoc.

  40. Tiểu dân SG said

    À, ơi …
    Ru con, con ngủ cho lành,
    Để mẹ gánh nước đổ bành Ông Voi;
    Ai coi, lên núi mà coi:
    Coi Bà Triệu Ẩu cưỡi voi đánh cồng…

    Chẳng mơ túi vóc, túi hồng,
    Chỉ mong biển lặng cho chồng ra khơi;
    Ru con, con ngủ, à ơi,
    Mai sau con lớn đáp lời núi sông…

    Sớm nay lại Chủ Nhật Hồng,
    Mẹ đi xuống phố, hoà chung dòng người;
    Hòa chung tiếng thét vang trời:
    Nước Nam: Rừng biển của người Việt Nam!

    À ơi, con ngủ cho ngoan,
    Nước mà bị mất, thì tan nát nhà;
    Thì bao mồ mả ông cha,
    Cũng không còn nữa để mà khói hương…

    Mai con cùng bạn đến trường,
    Học cho biết chữ mà thương Đồng bào;
    Mà thương biển rộng trời cao,
    Là bao xương trắng, máu đào tiền nhân…

    Nuôi con, khuya sớm tảo tần,
    Trông con từ những bước chân ban đầu;
    Lo con, bạc tóc mái đầu,
    Mong con khôn lớn, mai sau nên người…

    Mẹ đi với trái tim thôi,
    Góp chung tiếng nói giữ đời Tự do;
    Cho con mãi mãi ấm no,
    Cho con tròn đẹp tuổi thơ…
    Ơi à…

    Thiện Hảo
    http://buudoan.blogspot.com/2011/07/cun-xin-phat-bieu-4.html

    • Bảy thư sinh said

      Các Bác ở báo lề phải, hẳn cũng có nhiều người vào trang Basam, nếu Bác nào có chút dũng khí, thử mang bài thơ này về Báo của mình đăng ! thôi thì cứ đăng ở mục phản hồi vậy ???

      • Đảng Viên Già said

        Đa phần Nhân viên các tòa soạn báo lề phải đều là đảng viên, chí ít cũng là con cháu Đảng viên
        Mà các Bác biết rồi đấy đã là thành viên trong Đảng thì muốn làm việc gì cũng phải thông qua Đảng, Đảng không cho phép thì đành chịu, không cãi lại được đâu, ở nhà có thể cãi ông bà cha Mẹ, nhưng với Đảng thì đố dám cãi .

        Ví dụ : Đảng chỉ con Gà, nhưng bảo anh phải nói nó là con Vịt, phải viết bài ca ngợi nó, thì phải tượng tượng ra nó là con Vịt để mà viết bài theo chỉ đạo của Đảng.

        Anh nào nói sự thật, thì sẽ bị liệt vào thành phần có vấn đề, Kết quả sẽ khó mà lường hết được

      • Ẩn danh said

        Báo lề phải và VTV1 hiện nay chỉ có con nít xem thôi.

    • Dân đen said

      NÂNG MỨC ĐỘ
      Các bác không nâng quan điểm thì nâng mức độ.

      “À ơi, con ngủ cho ngoan,
      Nước mà bị mất, thì tan nát nhà;
      Thì bao mồ mả ông cha,
      Cũng không còn nữa để mà khói hương…”

      Xin thưa nhiều lắm là mất 4/5 thềm lục địa Việt Nam (Lưỡi bò liếm 160 hải lý của Thềm Lục Địa Việt Nam). Ở đó, cùng lắm là vô số xương cốt liệt sỹ, ngư dân vô tội, chứ làm gì có mổ mả ông cha mà sợ mất và không được khói hương?

      “Mẹ đi với trái tim thôi,
      Góp chung tiếng nói giữ đời Tự do;
      Cho con mãi mãi ấm no,
      Cho con tròn đẹp tuổi thơ…”

      Cái này thì lại càng nâng quan điểm nữa. Yêu nước, bức xúc giặc Tàu mà đi biểu tình hay yêu TỰ DO? Nghe mà phát hoảng.

  41. Ẩn danh said

    Nhung chung cu nhu tac gia da neu tren,can co nhung ban sao chup cu the(NGUON)thi se hoan toan thuyet phuc.Toa an Quoc Te luon doi hoi Bang Chung Cu The,vi vay muon chien thang chung ta can chuan bi truoc….

  42. Ẩn danh said

    Day la lan dau tien toi doc duoc mot bai chung minh de bao ve tinh chu quyen ve HSvaTS cua VN,mot cach day du ,toan dien ve mat Lich su,Cong Phap Quoc Te,ve mat dia ly suot chieu dai cua lich su VN va The gioi .Co tinh Khoa hoc va logic cua van de chu quyen HS,TS cua VN dong thoi chung minh su phu dinh su doi hoi chu quyen cua TQ.
    Tu nam 1974 cho den nay dat nuoc ta luon im lang va muon giu hoa khi nen chua bao gio len tieng cong khai ,minh bach ve chu quyen cua VN hai quan dao HSva TS.banh truong phuong Bac luon huy hiep,an cuop,gay han dat nuoc ta.Nhan co hoi nay toi nghi thoi co da chin muoi de dat nuoc ta dua ra LHQ voi nhung chung cu va logic cua van de chu quyen de doi lai HS va mot phan TS nhu de nghi cua LS Tran Vu Hai la dung dan.Vi hien nay ca The Gioi deu len tieng ve duong luoi bo ngang nguoc cua bon banh truong.

    Cam on LS Hai va ABS da co cong tap hop nhung tu lieu quy gia nay.
    Va Rat cam on LS Nguyen huu Thong.Rat cam on.

  43. Ẩn danh said

    Day la lan dau tien toi doc duoc mot bai chung minh de bao ve tinh chu quyen ve HSvaTS cua VN,mot cach day du ,toan dien ve mat Lich su,Cong Phap Quoc Te,ve mat dia ly suot chieu dai cua lich su VN va The gioi .Co tinh Khoa hoc va logic cua van de chu quyen HS,TS cua VN dong thoi chung minh su phu dinh su doi hoi chu quyen cua TQ.
    Tu nam 1974 cho den nay dat nuoc ta luon im lang va muon giu hoa khi nen chua bao gio len tieng cong khai ,minh bach ve chu quyen cua VN hai quan dao HSva TS.banh truong phuong Bac luon huy hiep,an cuop,gay han dat nuoc ta.Nhan co hoi nay toi nghi thoi co da chin muoi de dat nuoc ta dua ra LHQ voi nhung chung cu va logic cua van de chu quyen de doi lai HS va mot phan TS nhu de nghi cua LS Tran Vu Hai la dung dan.Vi hien nay ca The Gioi deu len tieng ve duong luoi bo ngang nguoc cua bon bang truong.

    Cam on LS Hai va ABS da co cong tap hop nhung tu lieu quy gia nay.

  44. Cao Vi Hiển said

    Vừa rồi có chuyện ngoại giao ta im lặng ngoại giao tàu thì đưa tin ” đồng thuận ” …. dẫn đến các nhân sĩ trí thức(NSTT) yêu cầu Bộ ngoại giao ta thông tin rỏ về những gì mà ông Sơn đã thỏa thuận với tàu sau khi đi sứ tàu về. Cuộc gặp của đại diện bộ này với NSTT không thành do không gửi giấy mời, mời hết nhóm NSTT đến để trả lời mà chỉ gọi điên cho vài người . Điều này càng cho thấy NSTT và nhân dân ta lo lắng về quan hệ ngoại giao ta với tàu là đúng, đề nghị từ nay tất cả các văn kiện ký kết giữa ta với trung qốc, nhất là về chủ quyền phải thông qua Quốc hội mới có hiệu lực. Xin các vị quốc hội quan tâm cho !

    • Cựu Đại Biểu QH said

      Quốc Hội ở nước ta chỉ toàn là những ông Nghị gật thôi, chỉ là những chiếc bánh xe lăn theo sự lèo lái điều khiển của Đảng, các vị đừng hy vọng gì ở QH cho phí công sức .

      Nên đặt hy vọng vào sự đoàn kết đấu tranh kiên trì của toàn dân và sự giúp sức ủng hộ của tất cả bạn bè trên thế giói mới có thể thay đổi được tình thế hiện nay .

    • Dân đen said

      RỐI
      Chuyện thông qua dự án tàu cao tốc không xong, là vì có chữ TẦU. Chuyện Vinashin sụp đổ cũng rắc rối kỷ luật vì có chữ TẦU. Vậy bây giờ bàn chuyện chủ quyền với tàu, văn kiện ký kết thông đồng với tàu mà đem ra quốc hội bàn càng thêm RỐI.

      Rút kinh nghiệm cái gì rối thì nên im im mà làm lơ.

  45. Mot nguoi Viet nam said

    .
    Cái này theo ngu ý của tôi nên gửi cho Báo Chính thống nào đó đăng thì tốt quá.

    • Ẩn danh said

      Báo chính thống thừa biết chuyện này, nếu nó đăng thì đâu đến lượt BS phải lên tiếng.

  46. Ants said

    Các Bác nghe GS Ngô Đức Thọ nói câu kết trong bài “Tấm bản đồ cổ có tên An Nam Đồ Chí” khi được hỏi Cơ quan hữu trách phản hồi sao về tấm bản đồ này:
    “Các nhà chính sách của Việt Nam từ Bộ Ngoại Giao, Ban Biên Giới thì nên chú ý ngay đến An Nam Đồ Chí mà Ngô Đức Thọ đã phát biểu chứng minh. Những cái này thật tâm  muốn hỏi thì họ cũng nghĩ là họ không có thẩm quyền gì, còn những điều quan trọng thậm chí họ cũng chả hiểu ra sao, thậm chí Bộ Ngoại Giao không quan tâm đến cái này thì tôi thấy sai lầm vô cùng. Đây là cái chứng lý khẳng định nhờ mọi người giám định thì vô cùng chắc chắn.
    Ban Pháp Luật có mở ra hội đồng, chương trình gì đâu! Cái bản đồ cổ tôi đang nghĩ rằng chỉ cấn một cuộc hội thảo, viện khoa học có thẩm quyền đứng ra là có thể kết luận được bài của tôi, nhưng hoàn cảnh Việt Nam hiện nay thì không làm được.Viện Hán Nôm tổ chức cũng được, Bộ Ngoại Giao không ai làm.”
    http://vietnamese.rfa.org/rss.jsp;jsessionid=2C217E8A694D20E73DAD566245B4BEA3.aldo2?rssid=25421681&item=http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/interv-prof-ngo-duc-tho-07262011084101.html/mobiletech.rss&cid=25393931

  47. ngố said

    Mọi lý lẽ, chứng cứ hoàn toàn ủng hộ Việt nam nhưng tại sao chúng ta không đưa vụ này ra toàn án quốc tế về luật biển?
    Đơn giản là vì lãnh đạo của VN sợ rằng cái toà án kia, nơi mà Trung quốc đã “cắm” người vào sẽ xử vụ án này như “án lệ bỏ túi” Cù Huy Hà Vũ thì…toi!
    Hỏng biết có đúng hôn ta?

  48. khách said

    Tôi trân trọng cám ơn luật sư, ý kiến hay quá.
    Thương tiếc cho quê hương đất nước!, Đại Hán giờ khỏi tốn nước bọt ở tòa quốc tế, không phải đổ giọt máu Tàu xâm lược nào, chúng chỉ tốn ít tiền còm làm cái biển hiệu Ba Đình Thái Thú Phủ treo lên là xong tất.

  49. trannao said

    Thưa tác giả và các tác giả của tài liệu được trích dẫn kèm theo…
    Phài nói đây là tâm huyết, và cả tấm lòng của những người Viet, yêu nước, có học thật (để phân biệt với Giả)…
    Nhưng, các bạn co buồn không, nghi nghe âm thanh phát ra từ mồm, từ loa…của lực lương AN : về đi, ghi nhận lòng yêu nước, tụ tập thê là đủ rồi, MOI CHUYỆN ĐÃ CÓ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC LO CẢ RỔI…!
    than ôi, một lũ vừa hèn, vừa ngu, vừa tham,…chúng nó mưu mô rắp tâm…bàn hết rồi, thì các bác đưa ra để …lòi cái mặt bán hết, bán tất của họ à? không khéo thì lại bị mởi lên CA làm việc, rồi…ai mà biết được với ông cử nhân Luật …rừng vừa tái đắc cử…!
    xin cảm ơn tất cả.

  50. Hậu Sinh said

    Bài viết rất có giá trị , không biết có được giới hữu trách để ý tới không !

  51. ntm007@yahoo.com.vn said

    Chưa nghiên cứu hết thật kỹ bài viết nhưng thấy thật hay , từ trước đến nay hình như đây là lần đầu tiên có một bài viết đầy đủ , cô đọng và súc tích , lại chứa đầy thông tin có giá trị . . . về HS , TS như thế này .
    Nếu mà nhà nước không liên kết được với những nhà nghiên cứu như thế này để thực hiện việc đấu tranh đòi chủ quyền HS, TS thì đúng là cái đầu của quí vị đó có vấn đề về việc liên kết khó giải thích với chính quyền TQ , người ta có quyền nghi vấn như thế bởi không thể lý giải khác hơn .
    Nếu chỉ cứ chăm chăm vào việc nghiên cứu để đẻ ra các quái thai như Vinashin mà không thành công trong cuộc chiến đấu giữ vững chủ quyền đất nước với TQ thì tội của quí vị sẽ to không núi nào sánh bằng đối với nhân dân , Tổ quốc .

  52. Kha~ Quan^ said

    Nguoi viet bai nam vung luat quoc te, am hieu lich su voi chung cu chac chan. Co tam huyet bao ve le phai. Kham phuc

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d người thích bài này: