BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

182. ĐÔI ĐIỀU SUY LUẬN VỀ BẰNG THỜI MINH MẠNG CẤP CHO NHỮNG NGƯỜI ĐI HOÀNG SA

Posted by adminbasam trên 14/07/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 282, Tháng 6 – 2011

ĐÔI ĐIỀU SUY LUẬN VỀ BẰNG THỜI MINH MẠNG

CẤP CHO NHỮNG NGƯỜI ĐI HOÀNG SA

Nguyễn Đăng Vũ (*)

Văn bản cổ của họ Đặng ở đảo Lý Sơn

Trong suốt thời gian qua, kể từ ngày 31/3/2009, ngày chúng tôi được gia tộc họ Đặng làng An Hải, huyện Lý Sơn bàn giao văn bản cổ của dòng họ liên quan đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, nhiều phương tiện thông tin đại chúng trong nước lẫn ngoài nước đã đưa tin, bình luận về việc phát hiện, cũng như sự tự nguyện hiến tặng, bàn giao cho nhà nước một văn bản cổ mà gia tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, làng An Hải, huyện Lý Sơn đã gìn giữ suốt 175 năm qua.

Về nội dung văn bản cổ này, dù có một vài sai sót nhỏ mà báo chí đưa tin ngay sau ngày chúng tôi tiếp cận văn bản cũng không làm mất đi giá trị đích thực của văn bản (như về niên đại, một vài tờ báo, vài trang web ghi là năm Ất Mùi – 1835, mà đúng ra phải là năm Giáp Ngọ – 1834; hoặc về chủ thể văn bản, không phải là vua Minh Mạng mà là của “quan Bố – Ấn”, tức của quan Bố chánh và Án sát, như có viết ở trang đầu văn bản, và vì thế cũng không thể gọi là “sắc chỉ”). Dù không phải sắc chỉ của vua, hoặc lệnh của Bộ Binh, nhưng chúng ta cũng thấy rằng, việc đi Hoàng Sa lẫn Trường Sa để đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc, dựng bia chủ quyền, trồng cây trên đảo là có sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước phong kiến Việt Nam, đặc biệt là vào thời Minh Mạng. Sự chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới địa phương về việc đi Hoàng Sa – Trường Sa thể hiện rõ trong các bộ chính sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ..., hoặc trong các châu bản triều Nguyễn. Nội dung của văn bản này cũng đã thể hiện rõ điều đó, vì ngay chính ở dòng đầu của trang đầu tiên cũng đã ghi là (quan Bố – Ấn) “vâng lệnh của Bộ Binh”!

Nhưng vì sao lại chỉ có quan Bố chánh và Án sát đồng đóng dấu triện trên văn bản cổ này? Sao không thấy sự hiện diện của quan Tuần phủ? Chúng ta biết rằng, tỉnh Quảng Ngãi được chính thức thành lập (là đơn vị cấp tỉnh) vào năm 1932 (năm Minh Mạng thứ 13). Theo Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, và cả những ghi chép trong Hải Nam tạp trứ của Thái Đình Lan – một nho sinh Đài Loan bị gió bão đánh trôi giạt vào bờ biển tỉnh Quảng Ngãi vào thời điểm này, mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu, lúc bấy giờ, tỉnh Quảng Ngãi chưa có quan Tuần phủ riêng. Mãi đến tháng 6 (nhuận) năm Minh Mạng thứ 16 (1835) tiến sĩ Phan Thanh Giản mới bổ nhiệm làm Bố chính Quảng Nam kiêm Tuần phủ Nam-Ngãi (cả Quảng Nam lẫn Quảng Ngãi, nhưng chỉ đóng dinh thự ở Quảng Nam). Hai vị quan trực tiếp xử lý toàn bộ công việc chính trị, hành chính, quân sự… tại Quảng Ngãi là Bố chánh (mà lúc đó Ty Bố chánh gọi là Ty Phiên) và Án sát (Ty Án sát gọi là Ty Niết). Hai ty Phiên và Niết đều đặt tại tỉnh thành Quảng Ngãi (nằm trong khu vực cổ thành). Bố chánh Quảng Ngãi năm 1834 là Lê Nguyên Trung, rồi sau đó là Trương Văn Uyển, năm 1835 là Tôn Thất Bạch; Án sát Quảng Ngãi năm 1834 và 1835 là Nguyễn Đức Hội rồi Nguyễn Thế Đạo, và sau đó là Đặng Kim Giám (hiện nay gia tộc họ Đặng huyện Hậu Lộc, Thanh Hoá cũng đã cung cấp cho chúng tôi một số tài liệu Hán Nôm liên quan đến ông Đặng Kim Giám, rất tiếc chưa có điều kiện kê cứu trong bài viết này). Khi cần ban một quyết định cơ mật, thì cả quan Bố chánh và Án sát cần phải hiệp y. Vì thế ta không có gì ngạc nhiên khi trên văn bản cổ này có đóng dấu của quan Án sát lẫn quan Bố chánh. Và cũng chính từ hai con dấu đỏ đóng trên văn bản này, chúng ta cũng có thể suy luận thêm, việc cử các ông Võ Văn Hùng, Đặng Văn Siểm, và nhiều người khác (có ghi trong văn bản) đi Hoàng Sa còn là một việc hết sức quan trọng và cơ mật.

Họ là những ai trong “tờ lệnh” đi Hoàng Sa?

Trong văn bản cổ của dòng họ Đặng làng An Hải, Lý Sơn có nói rõ về thời gian ấn định để các phái viên, biền binh, thuỷ thủ đi Hoàng Sa, đó là: cứ vào hạ tuần tháng 3 hàng năm. Lần giở các bộ chính sử như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ… và châu bản của triều Nguyễn, lẫn các tài liệu khác có nói về những chuyến hải trình đi Hoàng Sa vào các năm 1834, 1835, 1836, 1837, 1838… tức là các Minh Mạng thứ 15, 16, 17, 18, 19…, sẽ thấy danh tính những cai đội, đội trưởng, chánh đội trưởng suất đội, như Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật, Phạm Văn Biện, các hướng dẫn viên đường thuỷ như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, các viên giám thành vẽ hoạ đồ Hoàng Sa là Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng… Tên tuổi họ rõ ràng là có được ghi trong sử sách, dù trong số đó có năm, những người đi Hoàng Sa, đo vẽ bản đồ Hoàng Sa chưa thật sự hoàn thiện, lại về chậm trễ nên mỗi người bị phạt 80 trượng, như chuyến đi Hoàng Sa năm Minh Mạng thứ 16 (1835) mà cai đội Phạm Văn Nguyên dẫn đầu. Nhưng còn hàng trăm binh phu, thuỷ thủ đã cùng đi với họ trong nhữgn năm này đều là vô danh. Điều đó không có gì là lạ, bởi sử sách không thể nào ghi đầy đủ tên tuổi, bản quán của tất cả binh phu cùng đi với họ trong từng năm một. Dù không phải đi Hoàng Sa, lẫn Trường Sa, tất cả đều phải hy sinh, nhưng hàng trăm ngôi mộ gió còn hiện diện trên đất đảo Lý Sơn cũng đã cho chúng ta nghĩ về một sự hy sinh thầm lặng không hề nhỏ.

Giờ đây, khi nghĩ về những người lính vô danh đã từng đi Hoàng Sa, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, chúng ta càng tiếc nuối, khi nghĩ rằng, giá như các châu bản của triều Nguyễn không vì chiến tranh, vì mối mọt, vì bày bán cùng với giấy lộn ở chợ Đông Ba, Nam Phố trong hơn 60 năm trước thì có lẽ chúng ta còn biết thêm tên tuổi của họ (trong số hơn 3.200 tập – theo Viện Hán Nôm, mà mỗi tập dày từ 6 đến 10cm, với trên dưới 600 trang giấy viết tay; đến năm 1975, sau khi kiểm kê chỉ còn có 611 tập, tức chỉ còn có 1/5 trong số ấy). Và cũng vì thế, có thể nói, văn bản cổ của dòng họ Đặng lưu giữ 175 năm qua, không chỉ góp phần bổ sung cho những điều ghi trong chính sử, châu bản của Nguyễn, mà còn xác lập thêm một số danh tính của những “hùng binh Hoàng Sa” như cách gọi của vua Tự Đức.

Họ là những ai trong văn bản cổ này? Người đầu tiên phải nhắc tới, đó chính là Võ Văn Hùng. Văn bản cổ của dòng họ Đặng cho biết, Võ Văn Hùng giỏi việc đi thuyền, rành rẽ hải phận, là người đã được cử đi từ năm trước (1833), nên lần này (1834) lại được quan Án sát và Bố chánh tỉnh Quảng ngãi tiếp tục giao nhiệm vụ tuyển chọn thêm những binh phu am hiểu hải trình, đưa các phái viên ở kinh thành, biền binh, thuỷ quân thẳng tiến ra đảo Hoàng Sa.

Như đã nói ở trên, vào năm Minh Mạng thứ 16 (Ất Mùi – 1835), chuyến đi Hoàng Sa về chậm trễ, đo vẽ bản đồ chưa chu toàn, cai đội Phạm Văn Nguyên và các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoàng bị phạt mỗi người 80 trượng, nhưng Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, là những người có công trong việc hướng dẫn binh thuyền, tận tâm đo đạc hải trình nên được thưởng mỗi người 1 quan Phi Long ngân tiền, các dân phu hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cùng đi mỗi người cũng được thưởng 1 quan tiền. Và đến năm Minh Mạng thứ 18 (18370 cũng chính Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh cùng Thuỷ sư suất đội Phạm Văn Biện, người chỉ huy chuyến đi Hoàng Sa lần này, do khởi hành chậm trễ nên đều bị phạt (nhưng binh lính thì vẫn được thưởng 2 quan tiền). Thật là quân lệnh nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng, và có lẽ việc thưởng phạt nghiêm minh ấy còn chứng tỏ rằng, thời ấy sứ mệnh đi Hoàng Sa lẫn Trường Sa là một nhiệm vụ cực kỳ “quan yếu”, như đã có ghi trong văn bản cổ của dòng họ Đặng làng An Hải.

Lần theo chính sử

Nội dung chính văn bản cổ của dòng họ Đặng làng An Hải năm 1834 cho biết: Theo lệnh của Bộ Binh, quan Bố chánh và Án sát tỉnh Quảng Ngãi làm bằng cấp theo tháng trước. Vâng sắc cảu triều đình Bộ đã chuẩn bị ba chiếc thuyền tu bổ kiên cố tại kinh, phái viên và thuỷ quân biện binh cùng hiệp đồng cho thuyền đến Quảng Ngãi để đi nhanh đến đảo Hoàng Sa. Tuân theo lệnh này, tỉnh (cũng) chuẩn bị (thêm) ba chiếc thuyền nhẹ (lê thuyền) để chờ phái viên, thuỷ quân ở kinh thành đến và đã phái Võ Văn Hùng, là người đã thuần thục đường biển, đi từ năm trước, tuyển thêm binh phu giỏi nghề đi biển, cốt sao mỗi thuyền có được 8 người, 3 thuyền là 24 người, lại chọn được ông Đặng Văm Siểm là người có kinh nghiệm làm đà công, để đến cứ hạ tuần tháng 3 hàng năm cùng với phái viên, biền binh ở kinh thành thẳng tiến đến đảo Hoàng Sa để đo đạc thuỷ trình (theo các bản dịch của các ông Dương Quỳnh – dịch tháng 3 năm 1999; Võ Hiển Đạt, Ngước Đức Tập, Lâm Dũ Xênh, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Tấn An, Lê Hạng dịch vào tháng 4 – 2009).

Lần theo chính sử, ta thấy có một số sự kiện lịch sử liên quan đến nội dung của văn bản cổ này.

Sách Đại Nam thực lục, chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 122 của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép về những sự kiện lịch sử vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 15 (1834), có ghi: “Đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người đi thuyền đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vẽ bản đồ” (Nxb Giáo dục, H. 2004, tập 4, tr.120)

Ở một số trang khác, sách này cũng cho biết, chính năm 1834 vua Minh Mạng đã sai binh lính đi dựng miếu và lập bia ở Hoàng Sa, nhưng vì sóng to gió lớn không làm được, nên vào tháng 6 năm Minh Mạng thứ 16 (1835), sai Cai đội Thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, dựng bia đá đảo Hoàng Sa (tr. 673). Sách này còn cho biết thêm, vào tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu rằng: “Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu, đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được một nơi… Hàng năm nên phái người đi dò xét khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay (1834) trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng chọn phái biền binh thuỷ quân và vệ giám thành đáp một chuyến thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng Hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói cho rõ, đem về dâng trình” (tr. 867). Chuẩn theo lời tấu của Bộ Công, vua Minh Mạng sai Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền cùng 10 bài gỗ, mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt khắc chữ: “Minh Mạng thập thất niên, Bính Thân, Thuỷ quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chí thử lưu đẳng tự” (Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân (1836), Thuỷ quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa xem xét, đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ). Có lẽ, đây là sự kiện mà hầu hết các bộ chính sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ… đều có ghi chép.

Ngoài những trang ghi chép về sự kiện đi Hoàng Sa vào các năm 1834, 1835, 1836, sách Đại Nam thực lục, đệ nhị kỷ, quyển 204, còn ghi chép thêm rằng, phái viên Hoàng Sa là Suất đội Thuỷ sư Phạm Văn Biện cùng thuỷ quân, binh phu đi Hoàng Sa bị gió bão đánh tan nát nên đến tháng 7 năm Minh Mạng thứ 20 (1839) mới “lục tục” về đến kinh thành. Hỏi vì sao, đoàn thuyền đi Hoàng Sa lần này cho biết, họ đã nhờ thuỷ thần cứu giúp. Vua Minh Mạng sai Bộ Lễ chọn địa điểm ở cửa biển Thuận An đặt đàn cúng tế tam sinh nhằm cảm tạ thuỷ thần, rồi thưởng tiền cho Phạm Văn Biện, các biền binh và dân phu đi theo (tập 5, tr. 532).

Chỉ căn cứ theo các đoạn ghi chép nêu trên cũng đã thấy nội dung văn bản cổ của dòng họ Đặng là hoàn toàn trùng khớp với chính sử.

Tìm về châu bản

Nội dung văn bản cổ của dòng họ Đặng còn trùng khớp với nhiều nguồn tài liệu, thư tịch bằng chữ Hán của các sử gia, quan lại ở những triều vua khác nhau, đặc biệt là những tài liệu, thư tịch có ghi chép khá kỹ lưỡng về hoạt động của đội Hoàng Sa – Trường Sa cũng như việc thực thi chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.

Trước hết đó là những ghi chép của Nội các triều Nguyễn trong Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, những ghi chép của Pham Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chíHoàng Việt địa dư chí, những ghi chép của Nguyễn Thông trong Việt sử cương giám khảo lược… Sở dĩ ta xem văn bản cổ của dòng họ Đặng có sự trùng khớp về nội dung so với các tài liệu này, bởi nhiều trang ghi chép trong Khâm định Đại Nam hội điển sư lệ, hay các sách của Phan Huy Chú, Nguyễn Thông không khác mấy với các bộ chính sử triều Nguyễn như Đại  Nam thực lục, Quốc triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống chí mà chúng tôi đã có dịp đề cập. Xin được không trích dẫn lại. Riêng về hoạt động của đội Hoàng Sa, ngay từ thời đầu chúa Nguyễn, thì cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, hầu hết những trang ghi chép cảu các sử gia Việt Nam viết về hoạt động của đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (bao gồm cả Trường Sa) ít nhiều cũng đã kế thừa, thậm chí có những chỗ gần như nguyên văn một số sự kiện mà nhà bác học Lê Quý Đôn mô tả trong bộ sách Phủ biên tạp lục nổi tiếng, vốn được biên soạn vào năm 1776, tức lúc Lê Quý Đôn theo lệnh của vua Lê – chúa Trịnh vào làm Hiệp trấn Thuận Hoá.

Cùng với những trang ghi chép của các sử gia phong kiến Việt Nam, các quan ở Nội các triều Nguyễn, đó là các tờ phúc tấu, tấu trình lên cho vua của các đình thần như Bộ Công, Bộ Hộ, các quan đầu tỉnh…, và được vua phê chuẩn bằng mực đỏ, gọi chung là châu bản (châu = mực đỏ). Nội dung văn bản cổ dòng họ Đặng trùng khớp với những trang ghi chép trong châu bản triều Nguyễn, đặc biệt là châu bản dưới thời vua Minh Mạng.

Châu bản tập Minh Mạng số 54 cho biết, ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua đã ra chỉ dụ thưởng phạt cho những người đi Hoàng Sa vào năm này (trong đó có ghi phạt Phạm Văn Nguyên và những viên giám thành 80 trượng vì tội trì hoãn thời gian đi Hoàng Sa, thưởng Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh vì có công hướng dẫn hải trình như đã nêu ở trước).

Phúc tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Bính Thân (1836) cho Phạm Hữu Nhật đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền. Tờ tấu của Bộ Hộ ngày 11 tháng 7 cũng năm Bính Thân (1836) cho xin thanh toán lương thực cho dân phu đi Hoàng Sa. Tờ dụ ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) trong Châu bản Minh Mạng tập 57 cho biết việc sai các giám thành, biền binh hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định đi đo vẽ bản đồ, cắm mốc chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa.

Trong năm Minh Mạng thứ 19 (1838) có 3 tờ tấu trình. Thứ nhất, đó là Tờ tấu của Bộ Công ngày 2 tháng 4 (nhuận) cho biết việc hoãn thi hành công vụ đi đo giáp vòng quần đảo Hoàng Sa trong tháng 3 vì mưa gió kéo dài. Thứ hai, cũng là tờ tấu trình của Bộ Công ngày 21 tháng 6 năm (1838) cho biết: hướng dẫn viên đi Hoàng Sa là Võ Văn Hùng (người được ghi trong văn bản cổ của dòng họ Đặng là lo việc tuyển chọn binh phu và đã tuyển chọn đà công Đặng Văn Siểm) đã cung cấp thông tin là quần đảo Hoàng Sa có tất cả bốn nơi cần khảo sát; lần đi năm này (1838) chỉ đi được ba nơi, còn một nơi không đi được vì gió đang mạnh nên xin để cho năm sau đi tiếp. Hướng dẫn viên Võ Văn Hùng cũng cho biết thêm, quần đảo Hoàng Sa có tất cả 25 hòn, nhưng trong năm chỉ đi đến được 12 hòn, khảo sát và vẽ đựơc 3 bản đồi riêng, 1 bản đồ chung, còn lại 13 hòn chưa đến được. Đây là tờ tấu trình hết sức đặc biệt, không chỉ liên quan đến ông Võ Văn Hùng có ghi trong văn bản cổ của dòng họ Đặng mà còn ghi chép khá cụ thể về số lượng các hòn đảo trong bốn nơi thuộc quần đảo Hoàng Sa, số lượng các hòn đảo đã được đo vẽ trong năm này. Tờ tấu trình thứ ba năm 1839 là tờ tấu trình của tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 19 tháng 7, tức sau đó chưa đầy 1 tháng, quan tỉnh Quảng Ngãi tấu trình về việc miễn thuế cho hai chiếc “bổn chinh thuyền” đã đưa binh lính đo giáp vòng quần đảo Hoàng Sa từ tháng 3 đến hạ tuần tháng 6.

Nhìn từ Lý Sơn và đi dọc biển Quảng Ngãi

Trong hàng chục năm qua, chúng tôi đã tiìm về làng An Vĩnh, An Hải tại vùng biển cửa biển Sa Kỳ, làng An Vĩnh, An Hải trên đất đảo Lý Sơn và nhiều nơi khác dọc ven biển Quảng Ngãi. Những gì chúng tôi tìm thấy đựơc trong các nhà thờ tộc họ, chứng kiến những ngôi mộ chiêu hồn, tham dự nhiều lễ tục độc đáo như Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ cúng việc lề, nghe kể những truyền thuyết, giai thoại, cùng ngồi thâu đêm để được nghe hát những bài dân ca còn lưu truyền… đã giúp cho chúng tôi hiểu hơn về lịch sử hình thành, về sản vật, hải vật có trên đảo Lý Sơn và những nơi khác trải qua nhiều thế kỷ, về phong tục tập quán, về di sản văn hoá dân gian mà không dễ gì trong một thời gian dăm ba năm có thể thu nhặt hết, đặc biệt là về những người đi lính Hoàng Sa, Trưởng Sa thuở trước.

Về nguồn tài liệu, trước hết phải nó đến nguồn tài liệu Hán Nôm. Trong số hàng nghìn trang tài liệu Hán Nôm mà chúng tôi sưu tầm được, hoặc do các dòng họ cung cấp, tiêu biểu là ở các tộc họ Võ (Văn), Phạm (Quang), Phạm (Văn), Nguyễn, Trần…, thì trong số đó có nhiều tài liệu có niên đại cách đây hơn 200 đến 250 năm, như các tài liệu thời Cảnh Hưng (1740 – 1786), Thái Đức (1778 – 1793), Cảnh Thịnh (1793 – 1801), tức thời vua Lê, chúa Nguyễn, thời Tây Sơn, đến các tài liệu cách đây 150 năm đến 200 năm, như tài liệu thời nhà Nguyễn: Gia Long (1802 – 1819), Minh Mạng (1920 – 1840), Thiệu Trị (1741 – 1847), Tự Đức (1848 – 1883)… Tất nhiên trong số hàng nghìn trang ấy, không phải tất cả đều là ghi chép về hoạt động của đội Hoàng Sa, nhưng theo chúng tôi, dường như hầu hết đều có giá trị. Bởi nhờ các tài liệu này mà chúng tô hiểu biết hơn về lịch sử, nguồn gốc cư dân, chính sách phát triển kinh tế xã hội, các địa danh thời trước, những lễ nghi…; xác định được bản quán của những người đi Hoàng Sa.

Và cũng từ những điều đó cho phép ta khẳng định thêm một lần nữa, nội dung văn bản cổ của dòng họ Đặng trùng khớp với những tài liệu cổ khác hiện còn trên đất đảo Lý Sơn mà các dòng họ còn lưu giữ, dù có tài liệu không còn nguyên vẹn. Nhưng đó cũng chỉ là việc xác lập thông tin qua nguồn tư liệu Hán Nôm, còn những ngôi mộ chiêu hồn, những di tích liên quan đến đội Hoàng Sa, những câu chuyện kể, những câu ca dân gian được lưu truyền… mà ở đây chưa có dịp đề cập cũng là những bằng chứng khác hết sức sống động về quá trình hoạt động của đội Hoàng Sa, về sự hy sinh đầy cao cả của những hùng binh Hoàng Sa trong nhiều thế kỷ.

Cuối cùng, tất cả những điều chúng tôi đã trình bày ở trên, trước hết cũng chỉ là thêm một lần để khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và ít nhiều cũng chỉ là gợi ý cho những ai quan tâm đến sự kiện này thêm một lần hướng về chủ quyền của quốc gia trên vùng biển đảo quê hương. Chúng tôi mong muốn rằng:

– Cần có một dự án điều tra toàn bộ các di tích liên quan đến đội Hoàng Sa – Trường Sa không chỉ trên đất Quảng Ngãi mà còn ở nhiều nơi khác nữa dọc miền Trung. Có kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình văn hóa phi vật thể trên đảo Lý Sơn, cũng như dọc biển đảo miền Trung, đặc biệt là Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa.

– Cần có một sự hỗ trợ cần thiết để đánh giá trữ lượng di sản Hán Nôm còn trên đất Quảng Ngãi (lẫn miền Trung) mà chắc chắn trong số đó sẽ còn có những tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này.

– Cần tiếp tục trùng tu các di tích liên quan đến hội Hoàng Sa, Thuỷ quân Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa, như nhà thờ của các dòng họ cai đội, chánh đội trưởng đội Hoàng Sa, như: nhà thời họ Võ Văn (thờ Võ Văn Khiết, Võ Văn Phú, Võ Văn Hùng); nhà thờ họ Phạm Quang (thờ Phạm Quang Ảnh); nhà thờ họ Phạm Văn (thờ Phạm Hữu Nhật, Phạm Văn Nguyên, Phạm Văn Biện…); nhà thờ họ Đặng (thờ Đặng Siểm)…, gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch.

– Cần có một chủ trương tổ chức Festival Biển đảo Việt Nam (hoặc là Tuần Văn hoá Biển đảo Việt Nam) tại Quảng Ngãi bắt đầu từ năm 2012 (là năm Quảng Ngãi cũng như các tỉnh Nam Trung bộ chính thức trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh – tính từ năm Minh Mạng thứ 13, 1832), và lấy Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa làm hạt nhân cho lễ hội này.

– Và một đề nghị (mà tỉnh Quảng Ngãi đã đề nghị lên Trung ương từ năm 2010) là, để có điều kiện bảo tồn di sản văn hoá biển đảo, trong đó có những tài liệu Hán Nôm, như tài liệu của dòng họ Đặng và các dòng họ khác, các văn tế Khao lề thế lính… cần thiết phải có một Bảo tàng Văn hoá Biển Việt Nam. Mà có lẽ, hơn ở đâu hết, Quảng Ngãi chính là nơi được đặt bảo tàng này, vì Quảng Ngãi là nơi có truyền thống biển từ lâu đời, có đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa được thành lập từ nhiều thế kỷ trước, và trong lịch sử, Hoàng Sa lẫn Trường Sa đều là các quần đảo thuộc phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

(*) Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi

26 phản hồi to “182. ĐÔI ĐIỀU SUY LUẬN VỀ BẰNG THỜI MINH MẠNG CẤP CHO NHỮNG NGƯỜI ĐI HOÀNG SA”

  1. MinhNguyen said

    Tôi là người sinh ra và lớn lên sau chiến tranh ở Việt Nam, tôi không có ý chê trách chế độ nào cả, nhưng nhìn những ngưòi lính VNCH hy sinh để giữ biển đảo của tổ quốc, mỗi lần xem tôi lại thấy mắt mình cay cay.

  2. Hà nam said

    Nói về triều Nguyễn và đảo Hoàng Sa,tôi thấy vào thời phong kiến,các vua Nguyễn đã quá tài giỏi,nhìn xa trông rộng.Thời ấy phương tiện,kỹ thuật yếu kém,các vì vua làm được như vậy là vuợt bậc rồi.
    Rỏ ràng so với ngày trước,hiện tại ta thấy quá tệ.Ông cha ta đã lo lắng cho ta,công lao vô cùng to lớn.Vậy mà nhà cầm quyền hôm nay đã biến công lao đó trở thành công cốc.
    Tội này đáng nguyền rủa muôn đời.

  3. Nguyen said

    không phải ấm ức, không thèm mất thời gian đoán mò, nhưng thấy cách comment của F361 …. không biết phải nói sao đây ? thôi thì tạm gọi hội chứng ung não.Bơ sữa và Bobo sao không liên quan ?F361 nói thao thao bất tuyết đếch cần biết có đúng hay sai ,như cái mấy thu rồi phát lại . Ấm ức ah ?chẵng gì ấm ức. Người khơi ra chuyện này là F361 nhé

  4. Dân đen said

    PHÂN MINH – XƯA NAY
    Tôi đã từng đọc bài có nội dung gần giống bài này. Lần này tôi chợt nghĩ chuyện Ngày xưa và chuyện Ngày nay

    TẦM NHÌN NGÀY XƯA: các nhà Vua triều Nguyễn đã dựa vào cơ sở nào để quan tâm đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa
    * Về hiệu quả kinh tế: việc khai thác tài nguyên, thu lượm của cải các tàu bị đắm ở Hoàng Sa và Trường Sa là lớn hơn nhiều và đáng kể so với (chi phí + sự nguy hiểm rập rình khi vượt biển) đáng để tầm cỡ Nhà Vua quan tâm.
    * Về quân sự, dân định cư, điểm trú + cung cấp nước ngọt cho dân đánh cá: chắc chắn hồi đó không đủ kỹ thuật để đóng quân, để ở. Thế thì tại sao có chỉ đạo của Bộ Binh và cho là việc quan trọng và CƠ MẬT?

    MỐI LO NGÀY XƯA: nhà Vua phải cho làm ngay vì
    *Tránh bị nước khác dành HS-TS mất? Không thấy mối lo đó, vì ngay cả Nhà Thanh còn không tranh thì lấy ai tranh giành?
    * Tạo thuận lợi cho việc đi biển và khai thác về sau? Có thể
    —> Có sự cần thiết đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc, dựng bia chủ quyền, trồng cây trên đảo—> lập dự án và điều binh khiển tướng + chi tiền ngân sách?

    Kết luận: Các Cụ biết lo xa và có tầm nhìn 3 trăm năm.

    NGÀY NAY:
    Trước hết xin cảm ơn Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi Nguyễn Đăng Vũ tác giả bài viết tâm huyết&giá trị này, và cảm ơn Anh Ba Sàm đăng bài. Trong bài có 4 điều cần và 1 đề nghị của tác giả với Trung Ương, tôi thấy rất thiết thực và ủng hộ.
    Ngoài ra, cá nhân tôi có đề nghị với Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Ngãi về việc ĐẶT TÊN ĐƯỜNG như sau:
    * Xem lại ở Quảng Ngãi hiện nay có bao nhiều tên đường của các Chúa Nguyễn mở đất phương Nam, các vua Nhà Nguyễn có công xác định chủ quyền lãnh thổ ở HS – TS như GIA LONG, MINH MẠNG và đặt tên các vị tiền nhân mở đất, giữ b iển đó ở các con đường lớn. D9ie62u nào là hợp đạo lý uống nước nhớ nguồn.
    * Bổ sung tên các vị Phan Thanh Giản, Lê Nguyên Trung, Trương Văn Uyển, Tôn Thất Bạch, Nguyễn Đức Hội, Nguyễn Thế Đạo, Đặng Kim Giám vào kho tên đường lớn chạy dọc đất nước (hướng Bắc- Nam): vì đó là các vị quan của tỉnh Quảng Ngãi có công trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông.
    * Bổ sung tên các vị Võ Văn Hùng, Đặng Văn Siểm, Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật, Phạm Văn Biện, Phạm Văn Sanh, Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vào kho tên đường sắp mờ, chạy theo hướng Đông –Tây. Để các vị ấy nhìn ra biển Đông, ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì các vị ấy có công trong việc thực hiện, thể hiện chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông.

    Phán xét CÔNG TỘI là chuyện của lịch sử, nhưng tôi kiến nghị:
    1. Đổi tên đường QUANG TRUNG thành đường MINH MẠNG (vì đó là con đường lớn và chạy ngang trước trường đại học chính quy đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi, trường đại học Phạm văn Đồng). Điều này sẽ giúp các giáo sinh sư phạm suy nghĩ về việc học hỏi TẦM NHÌN của tiền nhân đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ.
    2. Đặt tên đường Phạm Văn Nguyên, Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoàng là những người CÓ CÔNG với nước. Đặt tên ở những con đường cắt ngang đường Phạm Văn Đồng. Vì những người này tuy có công nhưng cũng có lỗi trong việc “điều hành” chuyến đi Hoàng Sa về chậm trễ, đo vẽ bản đồ chưa chu toàn, và bị nhà Vua PHẠT mỗi người 80 trượng. Để thấy rằng người dân Quảng Ngãi cũng biết PHÂN MINH như người xưa.

    Nếu Sở VHTTDL tỉnh Quảng Ngãi làm được điều này thì sẽ giúp nhiều vị danh nhân tương lai “lo nghĩ ” và dướng mắt nhìn xa, trước khi đồng thuận bất kỳ cái gì liên quan đến chủ quyền biển Đông.

  5. hanh said

    Đối với F361 thì chỉ có anh cả đỏ Lien Xô là tốt nhất vì nó nuôi dân VN bằng BoBo, luá Mì để nguyên ,là thứ Mà nó cho gia súc ăn . Thế mà VN còn gọi là Cao Lương. Mỹ là xấu nhất vì nó cho MN ăn Bơ thừa,Sữa cặn. Nên bây giờ cả cái đất nước này đang them sữa cặn,chứ ko chỉ có MN. Còn Cao Lương của LX thì đếch còn thằng nào thích

    • 1/86 000 000 said

      Tôi kể bạn nghe chuyện Việt Nam
      Bán nước ai trao bức công hàm.
      Lịch sử ngàn năm sẽ lưu lại
      Bán biển, bán rừng sản Việt Nam.

    • Dân đen said

      ẤM ỨC?
      Không hiểu bạn mất công đoán mò về F361 làm gì. Còn chuyện bo bo và bơ sữa liên quan gì tới bài này hoặc bức xúc của Hanh? Hay là còn ấm ức chuyện ngày xưa, ngày xửa, ngày xừa.

  6. hanh said

    Cái định cuả dân tộc VN chăng? Thằng bị cho là xấu thì càng ngày càng thấy nó quá tốt với đất nước,cái thằng được tung hô vạn tuế thì càng ngày càng lòi ra cái đuôi …Mà thằng TQ cũng đểu thật, nó mà ko gây ra sống gió thì đếch có thằng zịt Nam tỉnh ngộ,đúng là thằng TQ chơi xỏ lá anh em kết nghĩa gian(g) hồ thật

  7. Xàm said

    Chúng ta không thể thay đổi được lịch sử, có xấu có tốt, tất cả là những bài học. Nhưng chúng ta có thế thay đổi hiện tại.

    • Dân đen said

      OK. Đúng quá. Nhưng mà lịch sử là do kẻ mạnh viết ra. Vì vậy có khi cũng phải xem lại lịch sử.

  8. Đoàn nam Sinh said

    Triều đại nào, thời kỳ nào cũng có những đúng sai, công tội,… Không chỉ nói chung và vơ đũa cả nắm, Có những phần riêng rẽ cần phải tách bạch. Sự công bằng của lịch sử chính là chỗ đó.

    • Dân đen said

      OK. Đúng quá. Nhưng mà môn lịch sử ngày nay chả mấy em chịu theo học vì chán.
      Hình như có câu “lịch sử là cô gái đẹp mà bất cứ chính trị gia nào cũng muốn kéo cổ lên giường”.
      Như cha của Lý Thái Tổ là ai? Như Thái sư Lê Văn Thịnh hóa cọp. Như Lê Long Đỉnh ngọa triều… hoặc Biển Đông là của Tàu cả nghìn năm rồi … muốn có công bằng đâu có dễ

  9. Thành Ca said

    Đánh giá về lịch sử phải nhìn công ra công tội ra tội. Nhà Nguyễn có nhiều công lao với Việt Nam, có thể nói là công lớn nhất so với tất cả các triều đại. Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long) tuy có nhờ Bá Đa Lộc là giáo sĩ người Pháp giúp tàu và vũ khí cùng 8 người Pháp nữa để đánh Tây Sơn nhưng sau đó họ chẳng có nhiều quyền lực, dù một số người Pháp được bổ nhiệm làm quan. Đến đời Minh Mạng thì những người Pháp làm quan hầu như về nước hết và không liên quan đến quân đội viễn chinh Pháp xâm lược Việt Nam sau này. Thậm chí Minh Mạng còn ra lệnh trục suất những người phương Tây và giết một số nhà truyền giáo người nước ngoài để duy trì đạo Phật đã thịnh hành từ lâu.
    Nói chung thì Nguyễn Phúc Ánh cũng có thể coi là có công vì thống nhất Việt Nam. Trước khi Nguyễn Phúc Ánh thống nhất, VN đang chia 3: miền Nam do Nam Bình Vương Nguyễn Lữ chiếm cứ, vùng Quy Nhơn do Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc chiếm cứ, từ Phú Xuân (Huế) trở ra do Bắc bình Vương Nguyễn Huệ chiếm cứ. Do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Huệ, Lữ không thống nhất được nên cũng thỉnh thoảng kéo quân đánh nhau. Nguyễn Phúc Ánh cũng có tội là đưa quân Xiêm về nhưng việc này không phải Xiêm sang xâm lược mà là sang giúp theo Giao ước tương trợ Xiêm – Đàng Trong trước đó (đây là giao ước ngang hàng, khác kiểu giao ước chư hầu với TQ).
    Đến thời Tự Đức (1848 – 1883) chúng ta mới bị Pháp xâm lược (bắt đầu 1858), tức là tội mất nước do Tự Đức là chính. Nếu tính từ khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi 1802 đến khi Pháp bắt đầu đánh chiếm VN năm 1858 là 56 năm. Những người Pháp mà Nguyễn Phúc Ánh nhờ giúp đánh Tây Sơn và những người Pháp đánh chiếm VN sau này chẳng liên quan gì nhau cả, có chăng là họ cùng quốc tịch Pháp thôi. Mặt khác những người Pháp mà Nguyễn Phúc Ánh nhờ giúp không phải người của quân đội Pháp nên lại càng không liên quan đến quân đội viễn chinh Pháp sau này đánh VN. Chính vì thế nếu nói “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà” với ý là đưa Pháp vào chiếm Việt Nam là không chính xác.
    Mỗi lần nhắc đến Hoàng Sa là tôi lại cảm thấy buồn mênh mang…………..

    • diemdan said

      dẫu sao cũng nên cảm ơn di sản người Pháp đã để lại VN. [đường sắt,cầu cống,dinh thự,văn chương,âm nhạc…]

      • Từ Nguyên Vũ said

        Xin nói thêm :
        Khi đang cai trị quốc gia thì chắc không một chế độ cầm quyền nào dể dàng để cho giặc ngoại xâm lấn chiếm . Vì họ đang có đặt quyền,đặc lợi thì ngu sao bỏ chạy khơi khơi vậy. Súng thần công trước khi bắn phải cúng,vái và tầm bắn chỉ vài trăm mét thì làm sao đọ lại với đại bác tầm xa hơn của tàu Pháp. Vì vậy,thua và thỏa hiệp dần đến mất nước vào tay kẻ mạnh.
        Hãy thử nghĩ về ngày xưa để liên hệ thời nay thì… coi chừng mất nước nửa bà con ơi !

    • Dân đen said

      OK
      Đồng ý với Thành Ca nói “Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà” với ý là đưa Pháp vào chiếm Việt Nam là không chính xác. Vì hợp lý và vì nhạy cảm, bạn có biết Trung Quốc đưa 320 nghìn quân vào Bắc Việt thời chống Mỹ? Thời đó họ làm đủ trò ở biên giới, tới nay còn không dám giải mật. Vậy bây giờ mà nói “cõng rắn cắn gà nhà” là nhạy cảm lắm.

      Không đồng ý với Thành Ca: “Đến thời Tự Đức (1848 – 1883) chúng ta mới bị Pháp xâm lược (bắt đầu 1858), tức là TỘI MẤT NƯỚC do Tự Đức là chính”: trong bi ký ở Khiêm Lăng vua Tự Đức có nhận tội thật. Nhưng cả một thời kỳ châu Á, Phi, Mỹ, Úc đều bị họa thực dân, riêng gì Việt Nam? Do chênh lệch nền văn minh, sao lại đổ tội cho một ông vua. Nhà Thanh to bệu gấp chục lần cũng sụm mà.

      Đồng ý với Diêm dân “cảm ơn di sản người Pháp đã để lại VN. [đường sắt, cầu cống, dinh thự, văn chương, âm nhạc…]”. Người Pháp cướp nước người ta, tới thời họ thua, thì họ phải bỏ của (bất động sản) chạy, chứ cần gì phải cảm ơn. Tuy nhiên, thế hệ do giáo dục Pháp đào tạo kể cũng thuộc hàng cự phách về nhiều mặt, so ra hơn hẵn thế hệ do Liên Xô và Tàu đào tạo.

      Đồng ý với Từ Nguyên Vũ “Khi đang cai trị quốc gia thì chắc không một chế độ cầm quyền nào dễ dàng để cho giặc ngoại xâm lấn chiếm . Vì họ đang có đặc quyền,đặc lợi thì ngu sao bỏ chạy khơi khơi vậy.” Nhưng trong lịch sử Tàu có vô khối bọn bán nước cầu vinh. Ở Việt Nam cũng có “ả Trần”, sinh đẹp, học rộng tài cao, gia nhân môn khách hàng đàn.

  10. F361 said

    Đọc các phản hồi này, tôi nghĩ các anh muốn vào phá đám hả? Là chính mấy tên Việt gian ăn “nhân dân tệ”. Hay là mấy ông CCCĐ bán rao hận thù? Hay là công an mạng ? Nhưng là gì thì cũng là hạng côn đồ phá đám diển đàn bàn chuyện nghiêm túc này.

    F361

    Editor: Nhắc chung tất cả các còm sĩ: các bác cố gắng tranh luận ôn hòa dựa trên tinh thần duy lý, xây dựng, tránh những chuyện không hay xảy ra, giúp diễn đàn duy trì tiếng nói đa chiều, công khai, sòng phẳng. Chúng tôi hạn chế tối thiểu việc censor hoặc xóa các comment, ngoại trừ phải “vãn hồi trật tự” và giữ an ninh cho blog này. Xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

  11. Xàm said

    Có khi nào bọn TQ qua thủ tiếu những tài liệu lịch sử này không ta?

    Hay là quan lớn lén đem đi bán?

    • Dân đen said

      Có khi nào bọn TQ qua thủ tiêu những tài liệu lịch sử này không ta?: qua mua thì đã có rồi.

      Hay là quan lớn lén đem đi bán?:
      1. Hán nô (không phải quan lớn) khỏi cần “đem bán”, chỉ cần đốt.
      2. Hán nô chỉ cần cất, đào sâu chôn chặt. Đã có tiền lệ vô hiệu hóa tài liệu Pháp – Thanh, phá mốc thực địa, hợp thức lần lần các thỏa thuận —> khi lục ra tài liệu lịch sử cũ, bản đồ biên giới cũ thì đã có “thỏa thuận lịch sử” mới đè lên trên.

  12. Anthony Nguyen said

    Những gì thuộc về vua Minh Mạng và triều đại nhà Nguyễn Ánh cõng rắn cắn gà nhà không có giá trị.

    Đường Đồng Khánh, đường Duy Tân, đường Minh Mạng đã bị thay tên trong bản đồ thành phố Hồ Chí Minh. Cũng như những con đường này, tài liệu về vua Gia Long hay Minh Mạng gắn liền với đảo Hoàng Sa, Trường Sa chỉ có giá trị lợi dụng. Nhà nước nên phục hồi địa vị của các vì vua này. Nên dùng tên họ cho những con đường mới xây. Như vậy mới tỏ ra trân trọng.

    Cũng như việc đề cập đến hải chiến Hoàng Sa. Họ là lính Ngụy và họ đi lính cho Quân Lực VNCH. Không thể tách họ ra khỏi quân đội của họ. Nếu nhắc đến họ, tri ân họ, ghi công họ vì họ cũng là người VN. Vậy thì những đồng đồi của họ ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa thì sao? Chiến tranh qua đã lâu đã đến lúc chính quyền CSVN nên có những thay đổi mang tính nhân đạo thu phục lòng dân như việc cho phép đại tu nghĩa trang này. Cho thân nhân họ tự do vào ra nhang khói.

  13. Nguyen said

    Nghe nói Nguyễn Ánh , Minh Mạng là kẻ bán nước, là bọn thực dân phong kiến phản động , nên các con đường có tên Gia Long, Ming Mạng đều bị xóa tên mà. Bây giờ lại lấy vua Ming Mạng ra làm gì? coi chừng ông Vua Minh Mạng khóc thêm lần nữa. Cách đây vài năm có cuộc hội thảo về công tội của Triều Nguyễn do 1 số học giả và con cháu dòng họ Nguyễn khởi xướng , thế mà có 2 vị nào đó không biết ,đã viết bài khẳng định đây là triều đại bán nước , và cảnh báo đừng có đánh lận con đen, rồi còn trích dẫn lời vàng ngọc của Tiên Đế, thế là đám con cháu nhà Nguyễn và học giả bỏ chạy mất dép, í lộn bỏ chạy mất tăm.

  14. Hùng said

    “…tỉnh Quảng Ngãi được chính thức thành lập (là đơn vị cấp tỉnh) vào năm 1932 (năm Minh Mạng thứ 13) ”

    Cái này nhầm – 1832 mới phải!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: