158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học
Được đăng bởi adminbasam trên 06/07/2011
TẠP CHÍ XƯA & NAY
Số 381 Tháng 6 – 2011
Trần Trọng Kim và bộ sách 
giáo khoa bậc sơ học
Phan Trọng Báu
BỘ SÁCH GIÁO KHOA BẬC SƠ HỌC CỦA TRẦN TRỌNG KIM CHỦ BIÊN MÀ CHÚNG TÔI MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ NHỮNG CUỐN: SỬ KÝ GIÁO KHOA THƯ, LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ VÀ QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ CỦA CÁC TẦNG LỚP ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) DO NHA HỌC CHÍNH ĐÔNG PHÁP QUẢN LÝ. NGOÀI TRẦN TRỌNG KIM CÒN CÓ CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN NGỌC, ĐẶNG ĐÌNH PHÚC VÀ ĐỖ THẬN THAM GIA BIÊN SOẠN.
Sách giáo khoa bậc sơ học trước Trần Trọng Kim
Từ khi mới tổ chức nền giáo dục ở Nam kỳ (1861) cho đến trước cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), nhà cầm quyền Pháp đã gặp một vấn đề nan giải là sách giáo khoa, vì không có người đủ năng lực để biên soạn đã đành, mà còn làm sao cho nội dung của sách phải phù hợp với tâm sinh lý của nền giáo dục Nho giáo. Thời kỳ đầu chưa có sách giáo khoa, họ đã phải cho học sinh dùng tờ Gia Đình báo làm sách tập đọc. Một thời gian sau họ lại mang sách từ Pháp sang nhưng vì không hợp với năng lực của giáo viên và trình độ của học sinh nên kết quả rất hạn chế. Cho đến những năm 80 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký và một số giáo viên người Việt và người Pháp ở cơ quan học chính Nam Kỳ đã biên soạn hoặc dịch một số sách giáo khoa tiếng Pháp để dạy trong các trường tiểu học. Những sách này dần dần được bổ sung thêm một số quyển khác và đã thành những sách dạy trong các trường tiểu học lúc đó(1).
Đa số những sách này hoặc do chữ Quốc ngữ mới ở thời kỳ đầu sơ khai, hoặc mô phỏng sách giáo khoa tiểu học Pháp, hoặc trình độ dịch còn non yếu nên câu chữ lủng củng và do đó, cách diễn đạt nội dung có phần hạn chế. Cũng do mô phỏng nên 82 bài trong Sách tập học của Pot-taux (Sài Gòn 1875) thì 70 bài là khoa học thưởng thức về địa lý (núi non, sông biển, các nước trên địa cầu…), cơ khí máy móc (các nguyên lý máy móc, đường sắt, xe lửa…), còn lại hai bài có nội dung xã hội nhưng là của nước Pháp nhiều hơn là của Việt Nam (Ông Montyon, Chuyện một công chúa làm phước, Những người tu trên núi St Bernard…). Sau cải cách giáo dục lần thứ nhất (1906), sách giáo khoa vẫn chưa được cải thiện là bao nhiêu. Sách cách trí và ngay cả sách địa dư cũng do một số người Pháp biên soạn và người mình dịch lại(2). Như vậy việc biên soạn một bộ sách giáo khoa phù hợp với trình độ của học trò sơ học là rất cần thiết và cấp bách.
Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học
Theo qui chế của cải cách gioá dục lần thứ 2 (1917) thì bậc tiểu học có 5 lớp (đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, lớp nhì và lớp nhất), đến 1925 lại có thêm lớp nhì đệ nhất cộng là 6 năm. Bậc tiểu học được chia làm hai: sơ học là 3 lớp dưới gồm đồng ấu (lớp năm), dự bị (lớp tư), sơ đẳng (lớp ba) và tiểu học là 3 lớp trên (nhì đệ nhất, nhì đệ nhị, lớp nhất). Ba lớp dưới được dạy hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, chỉ có trường nào dạy toàn cấp (tiểu học bị thể hay kiêm bị) thì mới dạy chữ Pháp. Bộ sách giáo khoa của Trần Trọng Kim dùng cho ba lớp như ta đã biết gồm:
– Sử ký địa dư giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).
– Luân lý giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sở đẳng).
– Quốc văn giáo khoa thư (Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng).
Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn sách đầu tiên chúng tôi muốn giới thiệu. Cuốn này do hai ông Trần Trọng Kim và Đặng Đình Phúc biên soạn. Mở đầu các tác giả viết:
“Theo qui chế mới thì lớp Đồng ấu không dạy sử, còn lớp Dự bị sử ký chỉ dạy những truyện cổ tích, truyện ký sự và những chuyện của các danh nhân trong lịch sử theo đúng chương trình đã định. Đến lớp Sơ đảng thì mới dạy sử ký và không dạy lẻ loi từng truyện một như ở lớp Dự bị nữa; từ đầu đến cuối bài nọ liên lạc với bài kia và các biến cố lớn đều quan hệ với nhau”(3).
Do đó ta thấy môn Sử ký lớp Dự bị là những truyện Sơn tinh Thuỷ tinh, Phù đổng thiên vương đánh giặc Ân, Lê Lợi đánh quân Minh… Còn Sử ký lớp Sơ đẳng được chia làm 6 chương, gồm:
Chương một: Thượng cổ thời đại nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích Lạc Long Quân, Âu Cơ; 18 đời vua Hùng…
Chương hai: Bắc thuộc thời đại, với những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc: lần thứ nhất kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng; lần thứ hai kết thúc với cuộc giành độc lập của Lý Bôn thành lập nhà Tiền Lý; Bắc thuộc lần thứ ba kết thúc bằng sự dấy nghiệp của Khúc Thừa Dụ.
Chương ba: chấm dứt ba lần Bắc thuộc hơn nghìn năm mở đầu cho “tự chủ thời đại” với các võ công văn trị của các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.
Tiếp theo là chương bốn có tiêu đề “Nam Bắc phân tranh thời đại” với những cuộc nội chiến liên miên giữa Trịnh – Mạc rồi Trịnh – Nguyễn và cuối cùng là khởi nghĩa Tây Sơn, chấm dứt một thời gian dài nội chiến và chia cắt.
Nhưng cuộc thống nhất thực sự và hoàn toàn phải đến sau khi Nguyễn Ánh đánh thắng nhà Tây Sơn. Do đó chương năm là đề mục của Thống nhất thời đại vưói các triều Gia Long, Minh Mạng, Triệu Trị và các sự biến loạn dưới triều Tự Đức. Cuối cùng là chương sáu “Người Pháp sang bên ta” với các hoà ước 1862, 1855 rồi “Các công cuộc người Pháp làm ở nước Nam” như “dẹp loạn” (người Pháp còn dùng từ “bình định”), xếp đặt việc cai trị, xây dựng kinh tế, mở mang y tế và học hành…
Cuối sách còn có niên biểu chép từ họ Hồng Bàng đến 1926 là năm vua Bảo Đại lên ngôi.
Ta thấy cuốn sách trình bày khá hợp lý. Tác giả đã tóm tắt cốt lõi của lịch sử, viết hết sức ngắn gọn, sự kiện cuối cùng của một chương thường là nguyên nhân mở đầu cho thời kỳ tự chủ; hoặc lợi dụng lúc nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Ánh đã đánh bại nhà Tây Sơn, chấm dứt thời kỳ chia cắt, mở đầu thời kỳ thống nhất đất nước.
Tuy viết cho học sinh nhỏ tuổi nhưng tác giả cũng đã cho các em tập làm quen với sự chân xác lịch sử, hoặc những nghi vấn, ví như họ Hồng Bàng cả thảy có 20 đời vua trị vì trong 2621 năm (2879 – 258 TCN) mỗi đời vua là 138 năm “thì thật là vô lý. Cho dù tuổi thọ của người xưa có thể dài nhưng cũng không thể sống lâu được như vậy”. Hoặc đánh giá đúng mức một số quan Tàu có công trong việc truyền bá văn minh cho dân nước ta buổi đầu: Tích Quang thái thú quận Giao Chỉ, Nhâm Diên thái thú quận Cửu Chân đã bắt dân ta theo lễ nghĩa, con trai con gái ăn ở với nhau phải theo phép cưới hỏi; Sĩ Nhiếp đã có công đưa chữ Hán sang dạy người nước ta… “Đó là những người nhân chính muốn mở mang cho người mình”(4). Hay như phong trào chống Pháp của nhân dân ta cuối thể kỷ XIX, tác giả cũng cho rằng: “Các quan và đảng Văn Thân tuy phần nhiều là người có nghĩa khí nhưng thế lực không đủ lâu ngày cũng phải tan cả”(5).
Đó là về sử ký, còn về địa dư, cuốn sách trình bày các vấn đề địa lý của năm xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia). Tuy rất ngắn gọn nhưng học sinh cũng có thể phân biệt được những yếu tố cấu thành địa lý của từng xứ: hình thế (vị trí, giới hạn, diện tích) khí hậu, sông ngòi; chính trị; kinh tế; công nghệ; giao thông thuỷ bộ, các thành phố lớn… Tuy nhiên tác giả cũng lưu ý: “Trước khi học địa dư toàn xứ cần cho trẻ học địa dư tỉnh nó ở và các tỉnh lân cận”. Tác giả đã lấy tỉnh Hà Đông làm ví dụ và viết tiếp: “Ông thầy theo những bài ấy mà đặt những bài mình phải dạy”(6).
Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng là cuốn thứ hai mà chúng tôi muốn giới thiệu. Từ năm 1917 khi đang làm chủ nhiệm tờ Học báo là nội san hướng dẫn phương pháp sư phạm và nội dung giảng dạy bậc sơ đẳng tiểu học cho mãi đến sau này, Trần Trọng Kim vẫn luôn giữ mục Luân ký và Lịch sử Việt Nam. Năm 1925, cuốn Luân lý giáo khoa thư lớp Đồng ấu ra đời: sau đó lần lượt các cuốn của lớp Dự bị và Sơ đẳng nhưng Luân lý lớp Sơ đẳng là đầy đủ hơn cả, ngoài 4 chương trình còn có phụ lực về phong tục, đon từ, thư khế(7).
Trong bốn chương thì chương 1 và 4 là quan trọng nhất, chiếm số bài nhiều hơn cả (chương 1: 16 bài, chương 4: 18 bài).
Chữ Hiếu được coi trọng hàng đầu trong chương “Bổn phận đối với gia tộc”. Nó không chỉ là thương yêu bố mẹ, vâng lời bố mẹ mà còn phải phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu, thờ cúng khi bố mẹ đã mất. Nó liên quan đến nghĩa gia tộc, tức là cháu đối với ông bà, anh trưởng đối với em…
Còn “Bổn phận đối với học đường” thì không những phải đi học, phải luôn luôn quan tâm đến học vấn tức là “Kiến thức thâu thái được ở trường” và giáo dục tưức là “cách mở mang trí tuệ, rèn luyện cho có đủ tư cách làm một người dân trong xã hội”, mà còn phải coi trọng bổn phận đối với thầy, đối với bạn khi đang ngồi trên ghế nhà trường cũng như khi đã thôi học.
Đối với bản thân thì sao? Đó là phải biết trọng linh hồn, biết quí thân thể. Ăn uống điều độ, rèn luyện thể chất, xa rời cờ bạc, rượu chè và nhất là không nghiện thuốc phiện.
Con người luôn là con người xã hội, cho nên tác giả đã dành 18 bài cho chương 4, chương cuối cùng và cũng là một trong hai phần quan trọng nhất của cuốn sách. Nếu như chương I “chữ hiếu” là vấn đề quán xuyến thì ở đây tinh thần “Công bằng và nhân ái” là sợi chỉ xuyên suốt, gồm những vấn đề như trọng tính mệnh tài sản và danh giá người khác, không nói vu, không nói xấu. Lòng nhân ái bao gồm cả tính hữu ái, lòng thí xã, việc thiện, bố thí, thương yêu loài vật… Cuốn sách cũng không quên gói lại bằng một bài “kính mến và biết ơn Nhà nước”.
Mỗi bài học đều có nội dung rất ngắn gọn, tiếp theo là một tiểu dẫn có tính minh hoạ, cuối cùng là một câu cách ngôn hoạc chữ Hán hoặc tiếng Việt thâu tóm cái “thần” của bài học(8). Phần phụ gồm Phong tục đơn từ, thư khế có thể coi như phần thu nhỏ của giáo dục công dân. Từ chương I đến chương VI là tóm lược tổ chức chính quyền xã, huyện, tỉnh của năm xứ Đông Dương và chính thể Đông Pháp. Chương VII là cúng lễ, hội hè. Chương VIII nói về lễ hôn và lễ tang. Chương IX gồm đơn xin khẩn điển, giảm thuế, văn tự vay nợ, chúc thư chia gia tài…
Tóm lại, nếu học đầy đủ Luân lý giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, học sinh cũng đã có thể hiểu được bổn phận đối với gia đình và xã hội, những điều sơ đẳng về thể chế, pháp luật cần tuân theo để làm một công dân tốt.
Tuy nhiên nói đến sách giáo khoa sơ học của Trần Trọng Kim thì Quốc văn giáo khoa thư ba lớp Đồng ấu Dự bị và Sở đẳng được người ta chú ý hơn cả.
Tuy nói là “quốc văn” nhưng nội dung chủ yếu của lớp Dự bị lại là lịch sử hay đúng hơn là những nhân vật lịch sử như Truyện hai chị em Bà Trưng, Truyện Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Kim; ông tổ sáng nghiệp ra nhà Nguyễn: Nguyễn Hoàng. Có khi thông qua một nhân vật mà nói lên một sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước như Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Hà Nội, Cố A. Đờ Rốt và việc đặt ra chữ Quốc ngữ, Luỹ Đồng Hới (gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ và thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh). Chữ Nho. Còn nội dung cuốn Quốc văn của lớp Đồng ấu và Sơ đẳng thì người ta lại nói nhiều đến luân lý, tính văn học chỉ là điểm xuyết của một số bài tả cảnh, “mùa cấy”, “mùa gặt”, “cảnh mùa xuân”, “cánh đồng nhà quê” của lớp Đồng ấu, ca dao hoặc một bài thơ cổ “con cò mà đi ăn đêm” của lớp Dự bị, “vào hè”, “vịnh cái chổi”, của lớp Sơ đẳng…
Tại sao tác giả lại chú ý đến luân lý như vậy? Ta biết rằng bậc sơ học chủ yếu yếu là dạy cho học trò ở nông thôn: “Học trò phần nhiều chỉ có thể học mấy năm cho biết đọc biết viết rồi về làm ruộng, không có chí học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học thì chỉ nên đặt trường sơ đẳng mà thôi”(9). Có thể nói mục tiêu của trường sơ đẳng là đạo tạo “trí thức làng xã”, mà tầng lớp này thì không thể vội vã “chỉ trong hai thế hệ là có thể làm cho họ nói và suy nghĩ bằng tiếng Pháp” được. Bởi vì đối với người Việt Nam thì “Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ, đều rút từ sách Hán học. Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là họ học những những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời. Chính các trường làng sẽ cung cấp cho họ nền giáo dục đó (TG nhấn mạnh)(10)
Chính theo định hướng trên mà Quốc văn giáo khoa thư bậc sơ học, bậc của học sinh nông thôn, rất quan tâm đến luân lý. Ngoài sách luân lý có tính “chuyên đề”, sách quốc văn vẫn nhắc lại một số nội dung chính. Như đã trình bày, sách quản lý lớp Đồng ấu chữ hiếu được để lên hàng đầu thì ở đây sách Quốc văn lớp Đồng ấu, chữ Hiếu vẫn là những bài học chiếm tỷ lệ khá lớn. Chữ Hiếu được hiển hiện bằng những việc làm cụ thể: Giúp đỡ cha mẹ; Đi phải thưa, về phải trình; Sớm tối chăm non cha mẹ; Gọi dạ bảo vâng; Thờ cúng tổ tiên; Cháu phải kính mến ông bà…
Một số “bổn phận” cũng được nhắc lại: Đối với bản thân: Đừng để móng tay dìa; chớ nhổ bậy; chớ tắm rửa bằng nước bẩn; tham thực cực thân… Đối với học đường: Học trò phải biết ơn thầy; anh em bạn học phải giúp đỡ lẫn nhau (chuyện Lưu Bình – Dương Lễ)… Nếu như quốc văn lớp Đồng ấu chữ “hiếu” và những “bổn phận” được nhắc lại với những bài dễ thuộc dễ nhớ thì nội dung luân lý trong quốc văn lớp Sơ đẳng được nâng cao và sâu sắc hơn. Ở đây chữ “hiếu” vẫn được đề cao nhưng không phải là những lời khuyên bảo về một công việc cụ thể mà là những điển hình như: “sự hoà thuận và thương yêu nhau trong gia đình” (Chuyện anh em họ Điền), “lòng thảo hiếm có” (chuyện Mẫn Tử Khiên đối với em khác mẹ), “Lòng kính yêu chị” (Lý Tích nấu cháo cho chị bị cháy cả râu). Tình bạn thì “Đạo bằng hữu phải cho có thuỷ chung” (Chuyện Dương Tiêu Sơn và Từ Từ Dữ); “Lưu Bình – Dương Lễ”…. Đặc biệt một số vấn đề lớn của luân lý Nho giáo được đề cập như tu thân: “Cách sửa mình” (Trình Tử) “Có học phải có hạnh” (chuyện Sài Thế Viễn trọng đạo đức hơn văn chương); “Không tham của người” (chuyện ông Nguyễn Đình Thản đào được vàng đã giao lại chủ cũ), “Cần phải giữ gìn tính hạnh của mình” (chuyện một người đi đường lội, lúc đầu thì chú ý giữ gìn đôi giầy, nhưng sau khi bị bẩn thì cứ bước tràn đi). Lập chí: Người con trai là phải “quyết chí tu thân” để chờ “Phong vân gặp hội, anh hào ra tay” trong bài cao dao “Chí làm trai”. Không sợ nghèo khó (chuyện ông Châu Trí đốt lá đa mà học, sau đi thi đỗ giải Nguyên). Trị quốc: Nêu gương những nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc và Việt Nam: Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Văn An…
Trở lên chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản về nội dung của những sách giáo khoa thư bậc Sơ học. Còn hình thức thì sao?
Hầu hết những cuốn giáo khoa thư này đều biên soạn khi mà nền quốc văn của ta không còn là sơ khai như đầu thế kỷ mà đã có những bước tiến rõ rệt về cách diễn đạt. Do đó những bài ca dao cổ, thơ cổ, tác giả thường để nguyên (Lính thú đời xưa; Thằng mõ (của Lê Thánh Tông). Cũng có một vài bài ca dao tác giả đã sáng tác để phục vụ cho một chủ đề nào đó, ví dụ “Đi học phải đúng giờ”, “khuyên học”. Tất cả những bài hát đều theo thể lục bát, dễ nhớ, dễ thuộc(11). Còn những bài văn xuôi, trừ một số rất ít bài mô phỏng theo ngụ ngôn Ézope (Cái lưỡi), Lafontaine (Con chồn và con gà trống), Cổ học tinh hoa (cách sửa mình) còn đều là những sáng tác theo chủ điểm: trường học, luân lý, lịch sử, phong cảnh đất nước, một số hiểu biết về tự nhiên hoặc xã hội… Nhưng bất kỳ mô phỏng hay sáng tác, những bài quốc văn đều ngắn gọn, lời văn sáng sủa, đôi khi giải thích một vấn đề khó, trừu tượng hoặc mang một ý nghĩa triết lý nhân sinh nhưng vẫn dễ hiểu đối với lứa tuổi mới cắp sách đến trường(12). Chúng ta ai đã học ít nhiều ở trường Pháp – Việt trước 1945 hẳn cũng còn nhớ một vài câu rất ấn tượng: về một niềm vui nho nhỏ của một cậu bé “nhà quê”, một niềm vui làm ta bất ngờ: Ai bảo chăn trâu là khổ? Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Hay nỗi buồn, nỗi buồn của một chú bé lần đầu tiên xa nhà không da diết lắm nhưng cũng không kém phần sâu sắc: “Ôi! Cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Nhà văn Sơn Nam đã từng viết về ảnh hưởng sâu sắc của những sách giáo khoa này đối với cả một thế hệ người Việt ở nông thôn cũng như ở thành thị, trong truyện ngắn nổi tiếng “Mối tình giáo khoa thư”.
Minh hoạ cũng là một bộ phận cấu thành của các cuốn sách. Nó làm cho nội dung phong phú hơn, sâu sắc hơn và cũng dễ hiểu hơn. “Sự mở mang của người Pháp ở xứ ta” trong sách luân lý lớp Sơ đẳng chỉ có một bài nhưng những minh hoạ đẹp về trường Cao đẳng, nhà Bưu chính, nhà thương chữa mắt, cầu Hàm Rồng… đã gây ấn tượng khá đậm trong đầu óc ngây thơ của trẻ em về những công trình hiện đại của người Pháp bên cạnh những bức tranh quen thuộc về cảnh gia đình, làng xóm… Riêng Sử ký là cuốn sách có ưu thế nhất về minh hoạ, với tranh những vị võ tướng xưa giáp trụ oai phong, trường đao, đoản kiếm đầy vẻ lẫm liệt (Triệu Quang Phục, Lữ Gia…), Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt phun ra lửa, vung roi sắt diệt giặc Ân, hoặc “quân đi điệp điệp trùng trùng” giữa đoàn voi chiến của “Hai Bà Trưng đánh giặc Hán”… đã làm tăng thêm thích thú học sử của lứa tuổi thiếu nhi.
Tuy nhiên bộ sách cũng bộc lộ một vài thiếu sót như chữ “hiếu” đã nói kỹ trong sách luân lý nhưng còn lặp lại quá nhiều trong sách quốc văn sẽ gây nhàm chán cho người đọc. Về các bài học, nói chung ngắn gọn nhưng trong sách Luân lý có những bài giải thích dài dòng (Ăn uống có điều độ, không nên nghiện rượu…). Hình thức trong Quốc văn giáo khoa thư có thể còn phong phú hơn nếu các tác giả chú ý đến các thể loại về tường thuật, tả cảnh, tả tình, thơ… thì còn gây thêm hứng thú cho người đọc.
Vài nhận xét
Bộ sách giáo khoa bậc Sơ học do Trần Trọng Kim và các cộng sự biên soạn ra đời vào lúc cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917) đã tiến hành được gần 10 năm và đang đi dần vào ổn định. Chữ Quốc ngữ được phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến đây đã qua khỏi bước chập chững buổi đầu, trở nên nhuần nhuyễn hơn. Riêng đối với các tác giả thì đều là những người sâu sắc cựu học vững vàng tân học, đa số là giáo chức ngạch bậc cao như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc (thanh tra tiểu học), Đặng Đình Phúc (giáo viên hạng nhất ngạch bản xứ), hoặc có địa vị xã hội khá cao (Đỗ Thận, Uỷ viên hội đồng Thành phố) và tất cả đều đã từng viết sách giáo khoa, nhất là Trần Trọng Kim và Đỗ Thận. Do đó từ việc lựa chọn nội dung, cách diễn đạt đều có một văn phong thống nhất, trong sáng và dễ hiểu. Đặc biệt trong tất cả các cuốn sách bóng dáng của những quan cai trị người Âu đều rất thưa vắng. Ngoại trừ Paul Bert viên Tổng trú sứ kiêm nhà khoa học, nhà giáo dục và Bá Đa Lộc người đã giúp Gia Long đánh bại nhà Tây Sơn ra, còn lại là những nhà khoa học lớn của nhân loại hoặc của dân tộc Việt Nam như Pasteur, Alexandre de Rhodes, một trong những người sáng chế ra chữ Quốc ngữ, hay bà phước Phêlixien đã tận tâm săn sóc người bị bệnh phong và đã từ trần ở Sóc Trăng vào cuối thế kỷ XIX. Nếu ta biết rằng ở giai đoạn trước (1906-1917) người ta đã đưa cuốn “Đại Pháp công thần” của Lê Văn Thơm làm sách giáo khoa nhằm ca ngợi “mẫu quốc” Pháp, thì ở đây những cuốn sách giáo khoa do Trần Trọng Kim chủ biên đã có tính dân tộc rất cao, trong lịch sử là những anh hùng cứu nước, những vị vua sáng lập ra các triều đại, trong luân lý quốc văn là những người con hiếu thảo, nhằm nêu gương sáng về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, tu thân, tề gia, quốc trị… Tất cả đã quán xuyến toàn bộ sách giáo khoa Sử ký Địa dư, Luân lý và đặc biệt là ba cuốn Quốc văn giáo khoa thư của các lớp Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng. Đó chính là những “giá trị dân tộc đích thực” (chữ của Trịnh Văn Thảo trong “Nhà trường Pháp ở Đông Dương”) và nhóm biên soạn đứng đầu là Trần Trọng Kim xứng đáng được đánh giá cao là những nhà sư phạm sáng giá, những nhà biên soạn sách giáo khoa mẫu mực của một giai đoạn lịch sử giáo dục của dân tộc ta.
CHÚ THÍCH
- Trương Vĩnh Ký, Abrégé de grammaire Annamite (Sơ lược ngữ Pháp An Nam), Sài Gòn, 1867; Cours d’histoire annamite (Lịch sử nước An Nam), Sài Gòn, 1875; Petit cours de geographie de la Basse Cochinchine (Sơ lược địa dư An Nam lục tỉnh), Sài Gòn, 1875; Thông loại khóa trình, Sài Gòn, 1888; Cours d’annamite (Bài tập tiếng An Nam), Sài Gòn, 1889. Huỳnh Tịnh Của, Sách bác học sơ giải, Sài Gòn, 1887. Trương Vĩnh Ký, Tập dạy học tiếng Pha lang sa và tiếng Annam, Sài Gòn, 1892.
- Gourdon, Bác vật sơ độc nhập môn – Vô sanh động vật. Nguyễn Văn Mai dịch, Sài Gòn 1911. Ph. Eberhardt, Bài cách trí với tập đọc. Tập II. Thực vật, Trần Văn Thông dịch, Hà Nội 1912. Tập III. Người và động vật. Phạm Văn Hữu (giáo thụ trường Sư phạm Hà Nội) dịch, Hà Nội, 1912. Ruissier, Đông Dương địa dư, Đỗ Thận dịch.
- Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký Địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, in lần thứ 8, 1935, tr.1.
- Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc, Sử ký địa dư giáo khoa thư lớp Sơ đẳng (In lần thứ 3, Hà Nội, 1928, tr.13, 17).
- Sđd, tr.91.
- Bài mẫu: Địa dư tỉnh Hà Đông: 1. Hình thể; 2. Chính trị (Dân sự, cai trị); 3. Giao thông; 4. Kinh tế, sản vật công nghệ, thương mại. Thời gian này đã xuất hiện một số sách đại dư các tỉnh Nghệ An của đốc học Đào Đăng Hy, Hà Tĩnh của đốc học Trần Kinh, địa chí tỉnh Vĩnh yên của Nha học chính Vĩnh Yên…
- Sách này do bốn tác giả Trần Trọng Kim Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Bốn chương chính: 1. Bổn phận đối với gia tộc; 2. Bổn phận đối với học đường; 3. Bổn phận đối với bản thân; 4. Bổn phận đối với xã hội.
- Ví dụ bài nói về “Phép dưỡng sinh”: Ăn không no quá, uống không nhiều quá, đồng đừng ấm quá, hè đừng mát quá, ngủ sớm dậy sớm, có giờ có giấc, làm lụng có chừng, nghỉ ngơi có độ, chơi bời vừa phải, đừng có điều gì thái quá. Tiểu dẫn: Hoa Đà trả lời học trò về cách sống lâu. Cách ngôn: Ăn để sống không phải sống để ăn.
Xem Lòng nhân ái, tiểu dẫn: Vua Lý Thánh Tôn cởi áo đắp cho người sắp bị chết rét. Cách ngôn: Thương người như thể thương thân.
Lòng thí xã, tiểu dẫn: Lê Lai cứu chúa. Cách ngôn: Cúc cung tận tuỵ, tử nhi hậu dĩ.
- Tạp chí Nam Phong, số 12 (6-1918), tr.331.
- Báo cáo của toàn quyền P. Doumer trước Thượng Hội đồng Đông Dương 1897 – 1902.
- 11. Lính thú đời xưa:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón dấu vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hoả mai,
Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền.
Thùng thùng đánh trống ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Đi học thì phải đúng giờ
Xuân đi học coi người hớn hở
Gặp cậu Thu đi ở giữa đường
Hỏi rằng: sao đã vội vàng
Trống chưa nghe đánh tới trường làm chi
Thôi hãy hượm đừng đi anh ạ
Này con khăng tôi đã sẵn rồi
Cùng nhau ta hãy đánh chơi
Lát rồi ta sẽ tới nơi cũng vừa
Thu đáp: Dẫu giờ còn sớm
Cũng nên đi kẻo chậm làm sao?
Nếu chờ khi đánh trống vào
Dẫu ta rảo bước tài nào kịp cho
Trễ giờ ta phải nên lo
- Chuyện “Người đi đường với con chó”. Một người cưỡi ngựa bị một con chó đuổi theo. Người đi đường không cần đánh con chó mà chỉ kêu lên: Chó dại! Chó dại! Lập tức mọi người xung quanh đổ ra đánh chết con chó. Bài đọc kết luận: “Gớm thay! Lời nói có khi còn lợi hại hơn đồ binh khí”.
Giải nghĩa “mỹ thuật”…Cơm ăn đã vậy nhưng nếu xới vào bát kiểu và bằng đũa mun thì vẫn ngon hơn; quần áo mặc đã vậy nhưng điểm thêm cái nhẫn, chiếc vòng, đôi hoa thì người mới đẹp thêm ra…






Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học « Thanhhaphung's Blog said
[…] Bài viết dưới đây là của Phan Trọng Báu, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 381 tháng 6 năm 2011, được lấy về từ blog Ba Sàm. […]
Trần Hồng said
Các ngươi, con dân Việt, đứa nào cãi cũng giỏi. Vậy thì dân trí Việt ở mức nào? Có phải đất nước nào cũng có con dân học vấn cao, trình độ cao như các ngươi để mà cãi nhau lem lẻm?
Nói gì nữa? Hiển nhiên GDVN là cao. Có điều, tiêu chí đào tạo có thể cần xét lại, sao cho hợp lý, cần những người giỏi tổ chức, không cần các ngươi, những đứa thích cãi mà không hiểu mình cãi gì.
Mối quan hệ cay đắng Myanmar-Trung Quốc & bài học cho Việt Nam. | embasam said
[…] Tin thứ Năm, 07-07-2011 « BA SÀM 158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học « BA SÀM […]
Hoàng Thị Gái said
Buồn quá:
Sao chóng thế nàng Mỵ Châu thưở trước
Để bây giờ sinh ra lắm Mỵ Châu
Mỵ Châu pê đê, Mỵ Châu trọc đầu
Mỵ Châu quỷ, Mỵ Châu “hầu” Trọng Thủy
Phải chăng rằng con không phải dân đất Việt.
Kết quả nền GDVN đương đại.
co dai said
Các bác nói dân trí VN thấp là sai đấy. tôi nói các bác nghe thử : nhiều địa phương đã phổ cập hết cấp 3 ghê chưa, trên thế giới có mấy nước được như thế. Thi TN PTTH đậu gần 100%, TN THCS 100% ,Tiểu học 100%, lên lớp 100%, Bầu cử 100%… 100% con bò vina…
Thằng Bờm said
Ngày xưa Bờm đi học
QUẠT MO
Lúc bé, Bờm học sách cụ Trần. Bây giờ còn nhớ mãi: VN sử lược, Quốc văn giáo khoa thư, Văn phạm Việt Nam, Nho giáo… Nhờ thế sáng dạ… Thầy dạy Bờm mừng vô hạn… Thầy bảo: Ông Trần công trạng lớn khai dân trí. Bé quá. Bờm chả hiểu.
Lớn lên, Bờm lấy vợ, đẻ con. Ngày đầu dạy chữ cho nó, trúng ngay chữ bờ không có bụng, do “cãi” cách. Bờm ngọng! Khăn gói đi tìm thầy. Thầy e hèm: “Chữ bờ không bụng là chữ bờ xì-la-vơ, gốc tiếng Nga đó. Nước ta đang chơi với Nga, chống Tàu. Thằng ngu, chậm tiêu thế”.
Hãi quá, Bờm cáo vội. Về nhà Bờm quăng bút, chả dạy con kiểu cũ nữa. Cải cách rồi, mua sách giáo khoa về vừa học lại vừa dạy.
Lại hãi hơn!. Số là vậy: Thưở Bờm đi học thì sách ra sách, vở ra vở. Bây giờ chúng nó làm nửa sách nửa vở. Làm luôn bài tập, viết, sửa luôn trong sách.Thời Bờm đi học, cuốn giáo khoa thư của cụ, đứa nào đứa nấy kính quý như cuốn kinh, chả dám dày vò nó. Vả lại, để dành năm sau thằng cu em lên lớp, có cái mà xài, khỏi mua.
Lại lấm lét tìm thầy. Thầy thở dài: Chúng nó “condom hóa” sách giáo khoa rồi con ạ. Bờm chả hiểu. Nhìn sắc mặt ngu ngơ của Bờm, cụ lại quát: cái condom là… cái con…, ờ, ờ… là cái dùng một lần rồi bỏ. Thời buổi condom là phải… condom. Không condom hóa sách giáo khoa thì mấy thằng chủ in sách bốc… cát mà ăn hở?. Đồ ngu, hiểu chửa? Nghe thầy nói, ngẫm mãi Bờm mới hiểu lờ mờ…
Tính thầy nóng như lửa. Bờm chả dám. Thầy mắng ngu, Bờm chịu. Nhưng Bờm vẫn mê thầy ở chỗ mỗi lần thầy mắng, cứ gần đến câu chữ gì gần văng tục thì thầy dừng kịp, rồi sửa một chữ gần nghĩa, nhưng thanh hơn. Học thầy, Bờm bớt nói tục. Có hôm đang buổi học, bỗng dưng thầy và vợ quát mắng nhau rầm rộ. Thầy hô lớn: “pạc-lê-phờ-răng-xe”, rồi từ đó cả thầy lẫn vợ cãi nhau dữ dội bằng tiếng… Pháp. Học trò ở giữa, chẳng hiểu gì. Cứ như được coi xi-nê không phụ đề miễn phí.
Lại nói về sách cải cách. Càng đọc, Bờm càng thấy mình như thời… chưa đi học. Kiến thức vô ngần, toàn những ngôn từ cao siêu: “giai cấp, đỉa hai vòi, vô sản, quá độ, tư bản giẫy chết…” Ôi thôi, thế mà cứ tưởng. Đã biết sở học là vô bờ mà… Bờm dốt thật rồi. Phải học lại cả, vâng, tất cả… Học chưa nổi thì làm sao dạy con? Thôi thì, mướn người dạy. Trung tâm gia sư dán quảng cáo ối cột điện đấy. Ra sao thì ra…
Nhưng quái lạ, con Bờm lại học cực giỏi. Rõ ràng gien bố là loại thằng ngu cơ mà, thầy Bờm đã bảo thế. Con Bờm tuần nào cũng mang giấy khen về nhà… Bờm ngẫm: đại phúc, đại phúc… Cải cách thật rồi bu nó ạ. Ơn Đảng, con mình được học hành dưới mái trường xã hội chủ nghĩa… Chả mấy chốc, nó sẽ thành con người vươn vai năm châu chấn động địa cầu đấy bu nó ạ. Bu nó tròn xoe mắt. Bờm biết mụ đang sướng, bèn bồi: Cả năm châu nằm mơ cũng không có. Ta là con Rồng cháu Tiên đây. Sẽ đến thời ra ngõ gặp tiến sĩ. Vận nước sẽ vượng lên bằng con rồng Việt Nam… Bờm lại đê mê với giấc mơ con rồng…
Cuối năm, giấy báo con được phần thưởng. Bờm sướng, vách mặt lên, đi đâu cũng đầy vẻ tự hào… Bờm nôn nao chờ ngày bế giảng, đến trường dự lễ phát thưởng cho con. Đẹp mặt Bờm lắm lắm. Nghĩ đến đã thấy sướng điên…
Hôm phát thưởng, Bờm bị một vố đau mãi đến bây giờ. Lớp con Bờm có 40 đứa thì có đến 39 đứa được thưởng cùng hạng như con mình. Ngẫm lại, lâu nay vênh mặt với người ta, xấu hổ quá, Bờm chẳng làm sao chui xuống đất cho được.
Bờm suy sụp, về nhà đóng cửa nằm dài mấy ngày, buồn như cha chết.
Lại thất thểu đi tìm thầy. Chưa trình dứt chuyện, thầy đã quát: Tao dạy mày sách cụ Trần. Ai bảo mày đi học sách “cãi” cách. Đồ… mất dạy!
Bờm im thít. Bỗng nghĩ: Ô hay, sao mọi lần thầy chửi mình là đồ ngu, lần này thầy chửi là mất dạy nhỉ?
Ngẫm một lát, Bờm khóc òa:
– Mất dạy là mất cả rồi bu nó ơi! Hu hu…
KTS Trần Thanh Vân said
Sử gia Trần Trọng Kim đã “dậy tôi” biết cách “tự răn mình và nhắc nhở đời”.
Câu chuyện diễn ra như sau:
Năm 1998, KTS Nguyễn Trực Luyện, KTS Hoàng Phúc Thắng, KTS trẻ Nguyễn Hoàng Phương, cùng tôi chống Dự án Thủy cung Thăng Long ở Bán đảo Tây Hồ, Hà Nội.
Sau 3 tháng điều tra theo lệnh của TT Phan Văn Khải, khi tôi đi lễ Đức Thánh Trần ở Nam Định về, vừa lúc kết thúc hai ngày ông PTT Ngô Xuân Lộc chủ trì cuộc họp, nghe báo cáo điều tra về dự án này, một người bạn là một Đại tá Công an, hốt hoảng gọi điện thoại cho tôi :
– “Người ta quyết định thay chủ đầu tư, còn Dự án TCTL thì vẫn phải làm ngay để kịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Làm thế nào bây giờ hả bà?”
Tôi trả lời:
– “Ai bảo các anh cứ đi điều tra thằng ranh con chủ đầu tư?. Tôi không quan tâm đến nó. Tôi chống dự án đến cùng, bất kể ai là chủ đầu tư”
Rồi như có ai xui khiến, đêm đó, tôi mở Bản đồ TP Hà Nội ra xem. Ở quận Hoàn Kiếm có một một góc có nhiều tên phố : Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Lê Văn Hưu, Yết Kiêu, Dã Tượng…đông vui như một Triều đình thu nhỏ. Nhìn ra phía bờ sông, tôi lại thấy tên các tướng lĩnh và địa danh các trận chiến : Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Nguyên Hãn, Trần Khát Chân, Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, Bến Hàm Tử Quan…
Nhưng có một nơi, tôi vô cùng sửng sốt, gần quảng trường Ba Đình, tôi thấy tên phố Chu Văn An, người viết thất trảm sớ, xuýt bị gian thần của vua Trần Dụ Tông giết chết. Nơi đặt trụ sở cơ quan TW Đảng là phố Nguyễn Cảnh Chân, một quan văn trung thành của nhà Trần, đã khuyên can vua Trần Giản Định đừng nghe lời bọn xu nịnh, nhưng đã bị bọn xu ninh Nhà vua bóp cổ chết. Quá tý nữa, tôi thấy phố Đặng Tất, một quan võ trung thành, cũng can gián vua, bị bọn gian thần của vua Trần Giản Định chém ngang lưng. Quá tý nữa, tôi lại thấy tên phố Đặng Dung, con trai cụ Đặng Tất, đã cùng vua Trần Trùng Quang nhẩy xuống sông tự vẫn khi bị quân Minh đuổi ráo riết…. Và đêm đó tôi thức suốt đêm, viết thư khuyến nghị thứ 4 dài 18 trang, gửi TT Phan Văn Khải. Trong thư, tôi kể chuyện tên phố và đặt câu hỏi, “ngẫu nhiên hay ẩn ý của ai đây?mà nơi Trung tâm Ba đình lịch sử, không chỉ rền vang tiếng trống reo vui của Hùng Vương thời dựng nước, mà còn có tiếng ai oán của các oan hồn”….Mấy ngày sau, tôi liên tục nhận được điện thoại gọi đến, báo rằng, những tên phố đó là do Bác sĩ Đốc lý Trần Văn Lai đặt ra, sau ngày Đảo chính Nhật, dưới sự chỉ đạo của “Thủ tướng bù nhìn Tần Trọng Kim” . Vâng “Thủ tướng bù nhìn” đã nhận ra lỗi lầm của cha ông mình, để tạ tội với tiền nhân!
Bảy tháng sau, TT Phan Văn Khải đã ra quyết định thu hồi hai quyết định của hai phó TT Ngô Xuân Lộc và Nguyễn Công Tạn đã ký, hủy bỏ Dự án TCTL như chúng tôi khuyến nghị
Năm ngoái, khi đi cùng đoàn chuyên gia của Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam VUSTA vào số 4 Nguyễn Cảnh Chân gặp thường trực Ban bí thư, phát biểu ý kiến của các nhà KH về Quy hoạch Thủ đô, lúc ra giải lao uống nước, tôi nhắc đến câu chuyện này. Ông Trương Tấn Sang đứng gần đó xen vào:
– “Chị cứ nói đi, không ai giết chị đâu”
Tôi trả lời
– “Vâng! Tôi biết. Ban nẫy tôi thấy anh có lắng nghe ý kiến tôi. Vả lại, các Cụ đang đứng quanh tôi đây rồi, ai giết nổi tôi?”
D.Nhật Lệ said
Thật ra,dù thực dân Pháp tàn ác nhưng không
có chính sách áp đặt chính trị đảng phái một
cách triệt để lên giáo dục như các nước độc tài.Nói cách khác,giáo dục độc lập và tách rời chính trị nên không hề có chuyện kết nạp
học sinh sinh viên vào đoàn thể của chính quyền ở trong trường hay đại học.
Ở miền Nam trưóc 1975 cũng thế ! Điều này
tôi nhớ giáo sư Võ Tòng Xuân trong một cuộc hội thảo giáo dục ở VN.có lần đọc tham luận
của mình cũng từng nói tới việc này.
Do đó,người dân VN.yêu nước cũng có nhiều thuận lợi trong việc biên soạn sách giáo khoa theo ý chí và mục đích của mình mà không hề
bị chính quyền gây khó khăn hay trừng phạt.
Thành thử,nếu nhà cầm quyền hiện nay cũng chủ trương như vậy thì giáo dục VN.sẽ có kết qủa
tốt đẹp,không bế tắc như ta thấy !
lan said
Thôi đi các bác ạ, các bác im lăng cho dân tộc Việt Nam đở xấu hổ thêm nhé. Dân trí nước ta thấp vì sao(lời của các bác chức cao trọng vọng)? sao không ngày càng phát triển cao hơn mà lại thấp hơn ? đố bác nào biết nguyên nhân , các bác chỉ biết gào thét thôi. Mà hậu quả này là do ai ?Đây gọi là định mệnh dân tộc nhé đã là định mệnh thì ráng mà chịu vì chính dân tộc Vn chọn định mệnh này , định mệnh đau thương buồn tuổi . Dân tộc này kém thông minh, dân trí thấp nên tư chọn cái định mệnh này thì ráng mà trả nhé, trả hết ,trả hết cho đời trả xong chỉ còn bộ xương khô dân tộc là vừa. Cái này gọi là quả báo vì không nghe lời ông cha , dân tộc lại đi nghe mấy ông tây râu ria rậm rạp, cái ông học hành hẳn hoi nhưng không chịu làm việc mà tối ngày chỉ biết nương nhờ tiền của của 1 một ông quý tử để sống,chỉ biết đập phá , còn quý tử kia thì tiền thì vô tư nhưng đầu thì rỗng tếch, thế mà được tế như tế sao . Thôi quả báo nhãn tiền(không cần chờ kiếp sau nhé),
thanh said
Những trí thức đầu thế kỉ 20 là những người uyên bác, không như trí thức bây giờ dùng toàn bằng giả, hiện bộ giáo dục đang trình chính phủ dự án viết sách giáo khoa tốn 72000 tỉ đồng, Việt Nam thừa tiền để mấy ông trong bộ giáo dục viết sách, khi viết xong con cháu chúng ta thành người nước nào chẳng ai biết
Dân đen said
Sách cần xem:
ĐẠI HOA QUỐC TẾ VÔ SẢN CÔNG THẦN: tác giả HOÀNG NHẬT TÂN + TRƯƠNG ĐỨC DUY, Nhà xuất bản Thành Đô 9/1990.
Lời mở đầu:
* Độ tận kiếp ba huynh đệ tại; tương kiến nhất tiếu mân ân cừu” (dịch nghĩa: qua hết sóng gió anh em vẫn còn; gặp nhau cười một cái [là] quên ân oán).
* “Huynh đệ chi giao số đại truyền; oán hận khoảnh khắc hóa vân yên; tái tương phùng thời tiếu nhan khai; thiên tải tình nghị hựu trùng kiến” (tạm dịch nghĩa : anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ, trong khoảnh khắc oán hận biến thành mây khói; gặp lại nhau cười rạng rỡ, tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại).
Bài 1: 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”
Bài 2: 4 tốt “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”
Bài 3: Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan.
Tập 4: Mục lân , An lân, Phú lân
Tập 5: “Chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”
Bài cuối: LÁNG GIỀNG KHỐN NẠN, CƯỚP ĐẤT TOÀN DIỆN, LẤN BIỂN LÂU DÀI, THÔN TÍNH TƯƠNG LAI.
NGUYÊN NHÂN MỌI NGUYÊN NHÂN: TỪ GIÁO DỤC ĐẾN MẤT NƯỚC ĐỀU DO CỘNG SẢN said
SAU KHI ĐỌC BÀI VIẾT, QUẢ THẬT TRẦN TRỌNG KIM ÔNG LÀ MỘT NHÀ VĂN HOÁ LỚN, CÓ NHÂN CÁCH CỦA MỘT NHÀ GIÁO DỤC. TRẢ LỜI TẠI SAO XÃ HỘI HIỆN NAY HỖN LOẠN. NỀN TẢNG CỦA XÃ HỘI LÀ GIÁO DỤC, NỀN CỦA GIÁO DỤC LÀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ CÁC NHÀ BIÊN SOẠN. SÁCH VÀ NGƯỜI VIẾT SÁCH ,PHẦN NHIỀU PHỤC VỤ CHẾ ĐỘ VÀ TUÝ TIỀN. CẢI TIẾN LIÊN TỤC GIÁO DỤC: TỪ BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA, ĐẾN THI CỬ…HẾT NĂM NÀY ĐẾN NĂM KHÁC, NHƯNG MỌI SỰ CÀNG BI BÉT. MỌI NÃO TRẠNG DO ĐẢNG CỘNG SẢN MÀ RA
3851 said
Đã biết đến bộ sách Luân lý – Quốc văn nhưng tới hôm nay mới đọc 1 bài đầy đủ thế này.
Thiết nghĩ thời này các bậc cha mẹ phải dành thời gian dạy dỗ con cái về truyền thống dân tộc, trung hiếu lễ nghĩa, nên càng thấy bộ sách này thật quý.
Tôi đã sắm được vài quyển được tái bản gần đây nhưng bị cắt bỏ nhiều phần và không đầy đủ 3 lớp Đồng ấu – Dự bị – Sơ đẳng. Mong anh BS giới thiệu nơi bán 3 bộ sách 9 quyển, chỉ cần bản scan là tốt lắm rồi.
buidanang said
Bây giờ tôi đã hiểu vì sao người xưa bằng cấp thấp (Sơ học, Tiểu học) mà văn hóa lại rất cao. Xin cảm ơn TG
van said
Khà khà mấy ông quan đốc học trước kia ở MB và VN ngày nay đâu có thèm coi SGK của TVK ra gì, vậy các bác đưa cho dân đen đọc thì có ích gì? SGK như thế nào là do quan đốc học ngày nay quyết, mà các quan này mở miệng ra là bảo Ông TVK là tây sai , là bán nước nên SGK cũa TVK coi như là đồ bỏ. Mà lạ thật đấy , TVK là tây sai nhưng xuyên suốt bộ sách hầu như là đề cập đến anh hùng lịch sử dân tộc, dạy học sinh về đạo đức dân tộc. Còn SGK của ta mạng đậm tính dân tộc sao toàn là các ông tây râu ria không hà? ÔNG LÊ NIN Ở NƯỚC NGA
MÀ SAO EM THẤY RẤT LÀ VN.
Hết ông Mac, ông Nin lại tới Ông Mao….lạ nhỉ ? hay Thưở trời đất nổi cơn gió bụi
Nền giao dục nước nhà cũng lụi tàn theo ?
Ẩn danh said
Hình như có câu danh ngôn thế này: ” Cái ác không chỉ mâu thuẫn với cái thiện mà còn mâu thuẫn với chính nó nữa”. Nhìn vào thời cuộc ai cũng thấy câu này thật đúng.
Tất cả các sách báo tuyên truyền của họ đều tâng bốc quần chúng nhân dân lên tận mây xanh. Sự tâng bốc này thể hiện rõ nhất trong các danh xưng như Quân đội nhân dân, Giáo viên nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân,… Còn trong văn chương, nhất là trong thơ của các “thi hào” như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi,Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm v.v thì tràn ngập hai chữ “nhân dân”. “Dân ta gan dạ anh hùng,…Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ…”. Chỉ thua thằng Tàu ở chỗ: đơn vị tiền của VN còn gọi là Đồng chứ không phải là Nhân dân tệ (mả cha thằng Tàu mị dân đến thế là cùng).
Vậy nhưng khi có ai đòi hỏi phải trả lại cho nhân dân cái quyền tự nhiên-thiêng liêng-do tạo hóa ban cho như : tự do ngôn luận-tự do báo chí, quyền được biểu tình v.v thì họ lại khăng khăng cho rằng dân trí VN quá thấp, nghĩa là dân VN còn ngu muội-man di-mọi rợ lắm nên không thể cho nhân dân TỰ DO được, mà nhân dân phải bị dẫn dắt, bị định hướng, bị điều điều khiển bởi những người tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ”!
Trời ơi là trời.
Sao lại có thể tráo trở, lật lọng, đổi trắng thay đen dễ dàng như trở bàn tay vậy?
Hay đó biểu hiện của quy luật tất yếu về sự mâu thuẫn nội tại mà câu danh ngôn đã dẫn ở trên đã nói đến
Dân đen said
THÌ BỞI
Ai biểu làm quan THỜI THỰC DÂN mà soạn sách giáo khoa dạy về lòng yêu nước, thương dân, thương thân, thương cả đồng loại, để rồi nền giáo dục ấy đẻ ra lớp người … có lòng nồng nàn yêu nước.
Lớp người yêu nước đó đã lật đổ thực dân, đến MẤT CHỨC QUAN của mấy ông Trần Trọng Kim.
Nếu chỉ dạy dân cuốn ĐẠI PHÁP CÔNG THẦN của Lê Văn Thơm thì con cháu mấy ông, bà Trần Trọng Kim ngày nay vẫn giữ được quốc tịch Pháp và ăn lương Nhà nước bảo hộ.
Trong bộ sách giáo khoa đó không chỉ nhằm tạo ra người dân yêu nước thương nòi mà còn dạy lòng bác ái, lẽ công bằng, cách đổi mới duy tân —> cách mạng nhân dân thắng lợi thì phải bỏ chúng đi, vì chúng không còn phù hợp. Nhiều người cứ tiếc và nhớ thuộc lòng nhiều bài trong bộ sách đó.
Lý do là bộ sách giáo khoa đó nhằm tạo ra lớp người có lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần đổi mới duy tân, có óc đoán xét đúng sai trên cơ sở khoa học (theo tân học) nhưng vẫn giữ được nguồn cội.
Họ sẽ yêu nước, chứ không YÊU TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, yêu dân tộc chứ không YÊU TINH THẦN QUỐC TẾ VÔ SẢN —> phải đốt bỏ loại sách gây hại cho sự cầm quyền của chế độ nhân dân, dân chủ tập trung.
DÂN TRÍ THẤP = YÊU NƯỚC + THƯƠNG NÒI
DÂN TRÍ CAO = YÊU TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA + YÊU TINH THẦN QUỐC TẾ VÔ SẢN.
Do đặc thù của Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa, nên mấy ông bà lãnh đạo đánh giá dân trí thấp là đúng, rất trúng.
Sách cần xem:
ĐẠI HOA QUỐC TẾ VÔ SẢN CÔNG THẦN: tác giả HOÀNG NHẬT TÂN + TRƯƠNG ĐỨC DUY, Nhà xuất bản Thành Đô 9/1990.
Lời mở đầu:
* Độ tận kiếp ba huynh đệ tại; tương kiến nhất tiếu mân ân cừu” (dịch nghĩa: qua hết sóng gió anh em vẫn còn; gặp nhau cười một cái [là] quên ân oán).
* “Huynh đệ chi giao số đại truyền; oán hận khoảnh khắc hóa vân yên; tái tương phùng thời tiếu nhan khai; thiên tải tình nghị hựu trùng kiến” (tạm dịch nghĩa : anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ, trong khoảnh khắc oán hận biến thành mây khói; gặp lại nhau cười rạng rỡ, tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại).
Bài 1: 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”
Bài 2: 4 tốt “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt.”
Bài 3: Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan.
Tập 4: Mục lân , An lân, Phú lân
Tập 5: “Chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác”
Bài cuối: LÁNG GIỀNG KHỐN NẠN, CƯỚP ĐẤT TOÀN DIỆN, LẤN BIỂN LÂU DÀI, THÔN TÍNH TƯƠNG LAI.
Hoàng Thị Gái said
Tất cả là của “Nhân dân” mừ, “đày tớ” có cái …????? !!!!!!!!!! gì đâu.
Dân đen said
CHỮ HIẾU
Hiếu là đức hạnh hàng đầu của một con người nói chung. Tôn trọng người già, nghe lời người lớn tuổi, người đã có nhiều kinh nghiệm sống sẽ giúp ta tránh được nhiều thiếu sót sai trái?
Chưa chắc:
* Cái thân ta là do cha mẹ sinh ra, dù cái móng tay, sợi tóc cũng phải giữ gìn? Mất vệ sinh, khó sinh hoạt —> đó không phải là hiếu, và phải phát động phong trào cắt móng tay, móng chân, cắt búi tó để tóc ngắn.
* Cái gì của cha mẹ cũng là quý, kể cả khi cha mẹ chết đi, để trong hòm, chưa chôn, nước rỉ ra thì con cái cũng liếm không bỏ đi—> đó không phải là hiếu và mất vệ sinh quá, dẹp bỏ cái hủ tục đó.
* Đang học hành, làm quan mà cha mẹ mất là phải bỏ hết về chịu tang 3 năm, khóc đến mù mắt —> không phải là hiếu, quá trọng quá khứ mà quên tương lai—> dẹp bỏ lệ cũ, chỉ cho nghỉ việc tang 1 tuần.
* Thời kỳ cách mạng, mà đặt cha mẹ lên trên tổ chức, quý cái thân, dù là cái móng tay sợi tóc cũng sợ hư hỏng —> không phải là hiếu.
* Nghe lời các vị bô lão, các vị tiêm nhiễm thói phong kiến, lạc hậu, bao cấp độc quyền, toàn trị, bảo thủ, lấy chữ SỢ, chữ HÈN làm đầu để tồn tại, lấy sự giả dối, nói trơn tuột, tròn vo, NỊNH nọt, vu khống CHÀ ĐẠP hại người làm phương tiện vươn lên là tôn trọng bề trên, HIẾU VỚI CẤP TRÊN—>làm sao cải cách … ruộng đất được?
Chính vì vậy phải phân biệt hiếu với cha mẹ chung chung, bất kể cha mẹ thuộc thành phần cố nông hay địa chủ, là cái hiếu hẹp hòi, và cần mở rộng ra cao cấp hơn là HIẾU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA tức HIẾU VỚI DÂN. Đó mới là chữ hiếu thực sự.
Sách của ông Trần Trọng Kim tuy là rất hay nhưng chỉ hợp với thời thái bình thịnh trị, không hợp với thời trì trệ, cổ hủ, bảo thủ, lạc hậu, thời ma quỷ ở chung với con người.
Ẩn danh said
Không có một tư tưởng, một quan điểm giáo dục nào là hoàn hảo cả. Bất kì một tư tưởng nào cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực gắn liền nhau như hai mặt của một chiếc lá.
Bởi vậy cho nên cần làm sao để ai nấy cũng ý thức được rằng: không nên độc tôn-cuồng tín vào bất kỳ một quan điểm nào hết, rằng không có một học thuyết nào là “đỉnh cao của văn minh nhân loại” cả. Mọi thứ đều tương đối.
Quan trọng là biết cách vận dụng các tư tưởng một cách linh hoạt, “tùy cơ ứng biến”.
Tâng bốc hay hạ bệ một tư tưởng nào đó đều không phải là sự lựa chọn của người có trí tuệ
danS said
May phuoc cho ong Tran Trong Kim ,mot con nguoi thong thao ca Han hoc ,ca Tay hoc ,lai co tam long voi dat nuoc ,tien do cua dan toc nhu the ,sau khi bac Ho vi dai va dang cong san lam “cach mang thanh cong” da kip thoi chay tron , luu vong,chu khong thi voi cai toi : Thu Tuong bu nhin ,tay sai cua thuc dan ,phong kien ,quan phiet Nhat , kho thoat khoi cai hoa cua Pham Quynh , Ngo Dinh Khoi va bao nhan si tri thuc khac.
Sach giao khoa cua Ong ,nhat la bo Viet Nam Su Luoc sau nay trong thap nien 1960 o Mien Nam van con xu dung de day cho hoc sinh , nhung bai tho nhu :Linh thu doi xua , Di hoc phai dung gio …dam da tinh nhan ban , nhung nho co “bac Ho vi dai va dang cong san Viet Nam quang vinh” da dep bo thay vao do la mot nen giao duc mang tinh giai cap , nhoi so ,dau to giet nguoi ,sac mui mau ,ket qua gat hai duoc la ngay hom nay tat ca moi nguoi deu thay .
Xin chep hau qui vi mot bai tho da quen mat dau de ,hoc trong chuong trinh Tieu Hoc cua VNCH giua thap nien 1960:
An com muon voi vang di hoc ,
But roi duong Minh khoc hu , hu
May thay nho co anh Thu
Nhin an qua giup muoi xu mua ngoi ,
Roi lay giay Thu ngoi cuon giup,
Choc da thanh quan but cho Minh,
May hom sau bat thinh linh ,
Troi mua Thu dung mot minh khong o
Minh voi den che cho can than ,
Roi dua Thu ve tan cong nha,
GIUP NGUOI ,NGUOI LAI GIUP TA ,
LAM ON CHANG THIET DAU MA VOI LO.
Giao duc long trac an ,tinh thuong yeu ,day tinh nhan ban ,nhung de hoc , de nho voi lop tuoi Tieu Hoc ,tao cho tre em mot cai nhan cach khi con nho ,do la buoc dau cua “THU NHAN” .No khac han voi “tinh uu viet cua giao duc XHCN” va “TRONG NGUOI ” cua bac Ho.
minhnhi said
Dân trí Việt quá thấp nên chưa thể tự do báo chí.
Chỉ số IQ của dân Việt cao nên phải xây dựng đường sắt cao tốc
Rebel said
mồm quan trôn trẻ mà lại!
lethuy said
Cảm ơn bác Phan Trọng Báu. Học là để làm người. Bây giờ, người ta học vì mục đích khác nên “định hướng” sách giáo khoa bây giờ nó cũng khác.
Những bộ sách quý báu này, đến bao giờ mới được tái bản nhỉ ???
NGUYỄN ĐÌNH HƯNG said
Đến hôm nay chữ vô cùng mờ,khó đọc,sao vậy ABS và các bạn?
Bình Loạn Viên said
Không nói đến vấn đề chính trị, Trần Trọng Kim là một người uyên bác, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam thế kỷ 20.
Dù bị đả kích là tay say và bù nhìn này nọ, nhưng Chính Phủ của ông đã làm được một số việc có ích cho đất nước, không hại làm đến tổ quốc, dân tộc.
Cái nhìn lệch lạc về ông là hậu quả của mục đích tuyên truyền của phe Cộng Sản. Nhưng nay thời gian đã đủ lâu để chúng ta nhìn nhận lại vai trò của các cá nhân trong lịch sử để đánh giá lại họ một cách khách quan, kẻo sau này con cháu chúng ta cười chê chúng ta ví chúng ta như Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nhà Nho thì xấu hổ lắm.
Từ Nguyên Vũ said
Kể cả vua Gia Long, Phan Thanh Giản cũng vậy. Hãy trả cho lịch sử cái sự thật của nó.
Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học | ixij said
[…] Nguồn anhbasam […]
Rebel said
Lịch sử sẽ dần trả lại những giá trị thật của nó! chỉ có điều đáng tiếc là đến lúc người VN biết được hết sự thật thì đã phải trả giá quá đắt!
danS said
Chinh xac ,nhan xet cua ban rat chinh xac ,cho du co tuyen truyen ,xuyen tac ,boi nho cach may thi su that van la su that ,mot ban tay cua dang cong san Viet Nam khong che duoc mat troi va “Lich su se……….” nhu ban noi.
Tiến Thanh said
Bộ sách giáo khoa này gần đây được tái bản để tham khảo. Các nhà sách ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận có bán.
Hồi trước 1975, tôi có vài quyển trong bộ giáo khoa thư này, do cha tôi để lại, tiếc là nay đã thất lạc.
ixij said
Những người luôn sẵn miệng nói: “dân trí thấp”! luôn … ngọng và chả bao giờ trả lời được câu hỏi “vì sao?” – Vì sao chủ nghĩa siêu việt, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, mà một đất nước rừng vàng biển bạc, giầu tài nguyên lại cứ mãi lụi đụi, lạc hậu, đạo đức xuống cấp! và … dân trí thấp!!! Buồn…
Teo said
“Dân trí Việt còn quá thấp” (trích lời ông Lê doãn Hợp)??! Vâng, đúng là dân trí người Việt thấp thật! Cả gần trăm năm trước, chỉ một nhóm tác giả, bộ sách giáo khoa đấy nhìn lại, vẫn còn giá trị cho đến bây giờ (dù vào lúc bấy giờ, chữ quốc ngữ vẫn còn phôi thai, mới mẽ!). Nước Việt Nam độc lập từ năm 1954, thống nhất từ năm 1975, dưới sự lãnh đạo sáng suốt tài tình… nay dân trí thấp đến độ bao giáo sư, tiến sĩ không viết cho ra hồn một bộ sách giáo khoa!!! Vì sao ư? Vì họ muốn vậy! Ngày xưa Pháp đô hộ Việt Nam cũng muốn người Việt ngu để dễ trị mà!!!!
Từ Nguyên Vũ said
Thôi Teo, bộ bạn không hay là ” thiên hạ” lại định làm thêm bộ sách giáo khoa mới cho hao tiền,tốn của nhân dân đóng thuế à ? Bạn vô tình nhắc nhở,tạo quyết tâm cao,nhất trí cao cho họ tiếp tục làm nghèo dân đó(nhưng đầy túi “thiên hạ) .Hì!
Cái tội ác nhất là dân ta còn nghèo mà “thiên hạ” chế ra bộ sách bắt học trò viết thẳng lên sách khiến cho “xài xong thì vứt” để “thiên hạ” tiếp tục móc túi phụ huynh thêm. Đó là tội ác!
Hoàng Thị Gái said
hay wa
ttsangvl said
Mục tiêu đề ra lần này, kính thưa quý vị là chúng ta sẽ cải cách sách giáo khoa chứ không thay đổi nền giáo dục hiện tại. hết.
Jason said
hic, em bắt đầu đi học năm 1985, thật tình thì hok có cảm tình gì với sách giáo khoa lúc đó cả
Thạch Lâm said
Bác Trần Trọng Kim là “tay sai” của dân tộc VN đấy chơ. Tìm cuốn này ở đâu nhỉ. Tôi muốn cho các cháu đọc. Tôi cũng muốn xem xem thế hệ 1945 có gì trong đầu mà giỏi thế.
Dân Đen said
Đúng hén là “tay sai” của dân tộc, nhưng những sách giáo khoa sơ học này lại chứa đựng một cở bản tinh thần dân tộc Việt. Sao lại thế?