BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Tư 30th, 2011

22. Chu Ân Lai nói chuyện với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Chu Ân Lai nói chuyện với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

11-04-1967

Trung Quốc có một câu châm ngôn nổi tiếng: chỗ đánh dấu 90 dặm là nửa chặng đường của cuộc hành trình dài 100 dặm. Có nghĩa là du khách đã đi được 90 dặm và còn 10 dặm nữa là xong. Nhưng 10 dặm còn lại là chặng đường khó khăn nhất cho người lữ hành. Leo núi cũng tương tự như vậy. Ví dụ như leo núi Hy Mã Lạp Sơn, đoạn cuối cùng là khó khăn nhất.

Chúng tôi tin rằng, chắc chắn các ông sẽ giành thắng lợi cuối cùng. Chúng tôi sẽ vận động nhân dân cả thế giới hỗ trợ các ông giành chiến thắng. Tuy nhiên, Liên Xô chắc chắn muốn các ông dừng lại nửa chừng. Họ đã làm như vậy dưới thời Stalin. Sau khi Nhật đầu hàng năm 1945, Hoa Kỳ hỗ trợ Tưởng Giới Thạch. Lúc đó, Liên Xô chịu tổn thất lớn trong chiến tranh. Họ đã ký kết thỏa thuận Yalta, chia khu vực ảnh hưởng với Hoa Kỳ. Thoả thuận Yalta là sai. Về chiến thuật, thỏa thuận này hợp lý, nhưng về chính sách, thì không đúng.

Việc cho nổ hai quả bom nguyên tử đặc biệt đã gây sốc cho Liên Xô. Liên Xô đã sẵn sàng ký một thỏa thuận với Tưởng Giới Thạch, công nhận thực tế rằng Hoa Kỳ có phạm vi ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc. Ngược lại, Liên bang Xô viết muốn duy trì lợi ích đặc biệt của Nga ở vùng Đông Bắc và Tân Cương và bảo vệ nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ.

Lúc đó, Stalin đánh điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, nói rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc nên hợp tác với Quốc Dân đảng thay vì bắt đầu một cuộc nội chiến và rằng nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động nội chiến, đất nước Trung Quốc sẽ bị hủy hoại. Rõ ràng là Liên Xô đã bị bom nguyên tử đe dọa.

Chúng tôi nói rằng Stalin vẫn còn xứng đáng là một người Marxist-Leninist, vì ông ta có khả năng nhận ra lỗi lầm của mình. Sau khi giải phóng Thượng Hải, Lưu Thiếu Kỳ đến Moscow, nơi Stalin đã tự phê bình một cách âm thầm. Ông ta hỏi liệu bức điện tín ông gửi đến đồng chí Mao Trạch Đông hồi tháng 8 năm 1945 có làm suy yếu tiến trình chiến tranh giải phóng của Trung Quốc hay không. Lưu Thiếu Kỳ trả lời là không. Chắc chắn là không. Một lần, trong một bữa tiệc, Stalin đã nâng cốc, tuyên bố rằng ông ta đã già và rất sợ, sau khi chết những người đồng chí này (nói với Voroshilov, Molotov, Khrushchev và những người đang có mặt) sẽ sợ chủ nghĩa đế quốc. Bây giờ chúng ta có thể thấy rằng những tiên đoán của Stalin đã chứng minh đúng sự thật.

Ngọc Thu dịch từ Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , | Leave a Comment »

21. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp

11-04-1967

Mô tả: Mao Trạch Đông khuyến khích Phạm Văn Đồng tiếp tục chiến đấu và ca ngợi Việt Nam về khả năng phục hồi, không những trong cuộc chiến chống lại người Mỹ, mà còn chống Pháp và Nhật.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi rất vui khi thấy Mao Chủ tịch khỏe mạnh.

Mao Trạch Đông: Chỉ bình thường, không khỏe lắm … Trong tất cả các ông ở đây, có ai ở miền Nam không?

Võ Nguyên Giáp: Đồng chí Phạm Văn Đồng là người miền Nam.

Phạm Văn Đồng: Quê tôi ở tỉnh Quảng Ngãi [miền Trung Việt Nam], nơi mà mọi người đang chiến đấu dữ dội chống lại kẻ thù.

Võ Nguyên Giáp: Chỉ trong một năm, người dân Quảng Ngãi bắn rơi gần 100 máy bay trực thăng. Họ đang chiến đấu rất ác liệt để chống lại quân đội bù nhìn, quân Mỹ và Nam Hàn.

Mao Trạch Đông: Khi các ông chiến đấu, các ông có được kinh nghiệm, các ông hiểu được quy luật. Nếu các ông không chiến đấu các ông sẽ không có được kinh nghiệm, sẽ không biết được quy luật … Nhiều hay ít, nó tương tự như kháng chiến chống Pháp của các ông.

Phạm Văn Đồng: Hiện tại, chúng tôi chiến đấu tốt hơn và trận chiến hiện nay thì khốc liệt hơn.

Mao Trạch Đông: Vì vậy, tôi mới nói bây giờ các ông biết quy luật.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi mới bắt đầu có được như vậy.

Mao Trạch Đông: Vấn đề dĩ nhiên là trong quá trình tiến triển, những thay đổi có thể xảy ra. Những năm khó khăn nhất là 1956-1959 … Năm 1960 có một số thay đổi thuận lợi. Từ 1960-1961, các lực lượng vũ trang vẫn còn nhỏ. Nhưng trong năm 1963 và 1964, tình hình đã thay đổi. Và bây giờ, năm 1965 và 1966, các ông đã hiểu rõ quy luật hơn, dựa trên kinh nghiệm chiến đấu chống Pháp, Nhật, và hiện nay là quân đội Mỹ. Các ông cũng đã chiến đấu chống Nhật, phải không?

Võ Nguyên Giáp: Có, chúng tôi đã chống Nhật nhưng không nhiều, chỉ trong một cuộc chiến tranh du kích với quy mô nhỏ. Trong cuộc chiến của chúng tôi chống lại người Mỹ, chúng tôi luôn nhớ lời của các ông: cố gắng bảo tồn và phát triển lực lượng, vững chắc tiến về phía trước.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi có một câu châm ngôn: “nếu giữ cho núi xanh, bạn sẽ không bao giờ phải lo thiếu củi“, Hoa Kỳ sợ chiến thuật của các ông. Họ mong các ông sẽ đưa các lực lượng bình thường ra chiến đấu, để họ có thể tiêu diệt các lực lượng chính của các ông. Nhưng các ông đã không bị lừa. Chiến đấu một cuộc chiến tranh tiêu hao giống như đang ăn: [cách tốt nhất] là không cắn một miếng quá lớn.

Chiến đấu với quân đội Hoa Kỳ, các ông có thể cắn một miếng cỡ như một trung đội, một đại đội, hoặc một tiểu đoàn. Đối với quân đội chế độ bù nhìn, các ông có thể cắn cỡ một trung đoàn. Nghĩa là chiến đấu tương tự như đang ăn, các ông nên cắn một miếng sau một miếng khác. Sau cùng, chiến đấu không phải là một nhiệm vụ quá khó. Cách tiến hành cũng tương tự như cách các ông ăn.

… Người ta nói với tôi rằng các ông muốn xây một đường sắt 100 km mới, các đối tác Trung Quốc của chúng tôi đồng ý giúp các ông?

Chu Ân Lai: Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề này. Một số người sẽ được gửi [tới Việt Nam] để thực hiện một nghiên cứu khả thi.

Mao Trạch Đông: Không quá dài, ngắn hơn khoảng cách từ Bắc Kinh tới Thiên Tân.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi sẽ thực hiện các nghiên cứu khả thi cùng với các đồng chí Trung Quốc.

Mao Trạch Đông: Được rồi, vì lợi ích chiến tranh. Còn vấn đề cung cấp lương thực thì sao?
Chu Ân Lai: Chúng tôi đã trao đổi với đồng chí Lý Tiên Niệm (1). Chúng tôi sẽ cung cấp 100.000 tấn gạo, 50.000 tấn ngô.

Phạm Văn Đồng: Nên chỉ trong năm nay, Trung Quốc đã giúp Việt Nam khoảng 500.000 tấn lương thực. Sự giúp đỡ này là rất lớn.

Mao Trạch Đông: Chúng tôi có thể giúp các ông. Năm ngoái chúng tôi được mùa.

Phạm Văn Đồng: Cảm ơn Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Nếu ông muốn nói lời cảm ơn, ông nên nói với nông dân chúng tôi … Sau này, khi ông ăn tối với đồng chí Chu, ông có thể hỏi đồng chí Vĩ Quốc Thanh  về việc đồng chí ấy đã bị Hồng Vệ binh chỉ trích như thế nào. Tôi biết đồng chí Vĩ vì đồng chí ấy thường xuyên thăm và báo cáo cho tôi khi đồng chí ấy trở lại từ các chuyến làm việc ở Việt Nam. Ai hiện là đại sứ mới của Việt Nam [tại Bắc Kinh]?

Chu Ân Lai: Đồng chí Ngô Minh Loan (2).

Mao Trạch Đông: [Loan] thuộc nhân vật [Trung Quốc] nào?

Chu Kỳ Văn: Giống chim Phượng Hoàng.

Mao Trạch Đông: loại chim này rất mạnh.

Phạm Văn Đồng: Đồng chí Loan sẽ cố gắng hết sức để tiếp tục công việc của đồng chí Trần Tử Bình (3), nghĩa là, tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước.

Mao Trạch Đông: Tôi lấy làm tiếc vì đồng chí Trần Tử Bình qua đời.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi cũng rất đau buồn về chuyện này.

Mao Trạch Đông: Ông ấy bị bệnh gì vậy?

Phạm Văn Đồng: Cùng loại bệnh mà ông ấy bị trước và sau khi trở về nhà, ổng quá bận rộn.

Võ Nguyên Giáp: Ông ấy qua đời sau khi bị cảm nặng. Ổng ở cùng bệnh viện với Đại sứ Chu Kỳ Vân.

Chu Kỳ Văn: Bệnh viện Hữu nghị. Tôi cũng bị cao huyết áp.

Phạm Văn Đồng: Hôm nay, chúng tôi thực hiện chuyến viếng thăm đáp lễ với các ông, Mao Chủ tịch, Phó Chủ tịch Lâm [Bưu] và các đồng chí khác. Một lần nữa, cảm ơn các ông rất nhiều.

Mao Trạch Đông: Các ông đã dũng cảm chiến đấu ở cả hai miền Nam Bắc.

Phạm Văn Đồng: Đó là vì chúng tôi đang học tư duy quân sự của Mao Chủ tịch.

Mao Trạch Đông: Không nhất thiết như vậy. Không có nó, các ông vẫn có thể giành được chiến thắng. Trong quá khứ, các ông chiến đấu chống Nhật, Pháp. Bây giờ các ông đang chiến đấu chống Mỹ.

Phạm Văn Đồng: Cám ơn chính sách quân sự của Đảng chúng ta và cũng cám ơn tư duy quân sự của Mao Trạch Đông.

Võ Nguyên Giáp: Tôi còn nhớ, một thời trong cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Chu đã gửi Hồ Chủ tịch một bức điện như thế này: “Bây giờ không phải là thời điểm thích hợp để có một giải pháp hòa bình. Ông nên tiếp tục chiến đấu”. [Ghi chú: ông Giáp đề cập đến cuối năm 1949 hoặc tháng 1 năm 1950].

Chu Ân Lai: Vào thời điểm đó, Pháp sắp công nhận chúng tôi. Nhưng vì chúng tôi công nhận Việt Nam, họ đã phớt lờ chúng tôi. Như Lênin đã dạy, các nước lớn có trách nhiệm khuyến khích cuộc cách mạng thế giới. Lúc đó cuộc cách mạng thắng lợi tại Nga, nên Lênin nghĩ tới Trung Quốc và Ấn Độ. Bây giờ, mong muốn của Lênin đã có được phân nửa: cuộc cách mạng Trung Quốc đã thành công. Tuy nhiên, thực tế chưa phát triển theo cách mà mọi người muốn. Một số nước nhỏ hơn đã có được chiến thắng trước đó. Chiến thắng tại Triều Tiên có được theo sau chiến thắng ở Việt Nam.

Ghi chú:

1. Lý Tiên Niệm là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, và là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính của Trung Quốc.

2. Ngô Minh Loan là Ủy viên dự khuyết Đảng Lao Đông Việt Nam từ năm 1960-1976, và là Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh từ năm 1967-1969. Đã từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Cghiệp nhẹ từ năm 1959-1967. Năm 1968, viếng thăm Pakistan như là “đặc phái viên” và đã hội đàm với Tổng thống Ayub Khan. Từ năm 1969-1971 Bộ trưởng Bộ Lương thực và Thực phẩm, giữ chức Bộ trưởng đến năm 1976.

3. Trần Tử Bình (bí danh Phạm Văn Phu) (1907-1967), thành viên lâu đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, Tổng Thanh tra Quân đội Nhân dân Việt Nam trong ba năm thời Chiến tranh Đông Dương. Trần Tử Bình kế nhiệm Hoàng Văn Hoan làm đại sứ Bắc Việt tại Trung Quốc từ năm 1957 và phục vụ cho đến khi mất năm 1967; Ngô Minh Loan thay thế.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Tagged: , , | Leave a Comment »

20. Thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam 11-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam

11-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai kể lại mối quan hệ trước đây liên quan đến Đài Loan và Quốc Dân đảng, Mỹ và Liên Xô trong bối cảnh lịch sử hiện tại của Trung Quốc. Ông ta cũng nhấn mạnh sự cần thiết trong việc hỗ trợ Campuchia.

Chu Ân Lai: … Vì vậy, chúng tôi cho rằng chiến thắng càng gần hơn, thì cuộc đấu tranh của các ông với Liên Xô càng quyết liệt hơn. Bởi vì khi các ông tiến gần đến chiến thắng, Mỹ muốn gây áp lực nhiều hơn để chấm dứt chiến tranh, để họ có thể có phần ở miền Nam Việt Nam, không phải mất hoàn toàn. Hiện tại Pháp chỉ trích Mỹ, nhưng khi các ông tiến gần tới chiến thắng, Pháp có thể đến gần hơn với Mỹ, và các quốc gia dân tộc khác muốn thỏa hiệp, có thể đến nói chuyện như Mỹ.

Trung Quốc có một câu châm ngôn rằng, bạn thực sự bắt đầu một cuộc hành trình dài 100 dặm sau khi đã đi được 90 dặm đầu. Bởi vì 10 dặm cuối cùng luôn khó khăn như đi 90 dặm đầu tiên. Trên một con đường bằng phẳng, các ông không thể nhìn thấy rõ, nhưng các ông sẽ nhìn thấy rõ hơn khi các ông leo núi Hy Mã Lạp Sơn. Chúng tôi tin rằng các ông sẽ cố gắng hết sức để giành thắng lợi cuối cùng và chúng tôi sẽ khuyến khích người dân thế giới để hỗ trợ các ông. Nhưng Liên Xô sẽ bỏ cuộc.

Ở đây, tôi muốn nói cho các ông biết sự thật: ngay cả Stalin đã một lần làm như vậy. Năm 1945, Nhật đầu hàng. Hoa Kỳ hỗ trợ Tưởng giới Thạch. Liên Xô chiến thắng, nhưng bị thiệt hại trong cuộc chiến rất lớn. Vì vậy, Hội nghị Yalta là một trong những thỏa hiệp về phạm vi ảnh hưởng giữa Liên Xô và Mỹ sau Đệ nhị Thế chiến. Đó là một hội nghị sai lầm. Xem sự thỏa hiệp là một chiến thuật đúng đắn, nhưng thật là sai lầm khi xem nó như một chính sách. Hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ đã làm Stalin bàng hoàng, làm cho ông ta sẵn sàng cho một thỏa hiệp. Vì vậy, ông ta đã ký một thỏa thuận với Tống Tử Văn (1) công nhận Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc, để đổi lấy sự công nhận của Mỹ về ảnh hưởng của Liên Xô ở vùng Đông Bắc [Trung Quốc] và ở Tân Cương cũng như Mông Cổ.

Stalin đã gửi một bức điện cho đồng chí Mao Trạch Đông, nói rằng, đảng Cộng sản Trung Quốc cần hợp tác với Quốc Dân đảng, [và] không bắt đầu một cuộc chiến bởi vì điều này có thể dẫn đến sự hủy diệt của dân tộc Trung Hoa. Rõ ràng là Stalin cảm thấy bị đe dọa do hai quả bom nguyên tử của Mỹ. Vào thời điểm đó, Lục Định Nhất (Lu Dingyi) (2), Stalin cũng đề nghị rằng đồng chí Mao Trạch Đông nên đến Trùng Khánh đàm phán với Tưởng [Giới Thạch]. Và không lâu sau đó, có một tin về lời mời chuyển đến đồng chí Mao từ Tưởng.

Lúc đó, chúng tôi đối mặt với thực tế là Cộng sản Quốc tế không còn tồn tại; cũng như họ không giữ vai trò trong việc ban hành các hướng dẫn chung. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng Trung Quốc là một phần của phong trào chung, và chúng tôi phải phục vụ mục đích chung. Dựa trên những suy nghĩ của đồng chí Mao Trạch Đông, chúng tôi giữ cho nội chiến không thể tiêu diệt dân tộc Trung Hoa. Chúng tôi cũng có thể chứng minh rằng nội chiến là do Quốc Dân đảng, chứ không phải do Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhưng vấn đề vào thời điểm đó là, liệu đồng chí Mao Trạch Đông có nên đến Trùng Khánh hay không. Nếu không, người ta cho rằng đảng Cộng sản Trung Quốc chịu trách nhiệm cho cuộc nội chiến.

Vì vậy, bây giờ các ông thấy, những suy nghĩ của Khrushchev đều có nguồn gốc của nó. [Sau đó] Khrushchev làm cho người Trung Quốc giết người Ấn Độ, nên cuộc xung đột biên giới Trung-Ấn do Trung Quốc gây ra. Dĩ nhiên, Stalin không nói như thế. Cho nên đồng chí Mao Trạch Đông quyết định đi Trùng Khánh. Vào thời điểm đó, toàn bộ lập trường của ĐCSTQ đã thống nhất: các thông điệp phản đối các cuộc đàm phán được gửi từ mọi miền đất nước tới ủy ban trung ương. Nhưng đồng chí Mao, đồng chí Vương Nhược Phi (3) và tôi đã khởi hành. Lúc đó, đồng chí Mao bổ nhiệm Lưu Thiếu Kỳ để thay mặt mình. Chuyện này đã 22 năm rồi.

Kết quả của chuyến đi Trùng Khánh của chúng tôi là, một mặt, Tưởng ký thỏa thuận, và mặt khác, bắt đầu nội chiến. Sau khi ký, đồng chí Mao trở về vùng giải phóng và một nhóm đàm phán gồm ba người, Trương Trung Trị, [phái viên Mỹ, George C.] Marshall, và Chu Ân Lai vẫn ở Trùng Khánh. Nhiều cuộc đàm phán đã được tiến hành và nhiều thỏa thuận đã được ký. Nhưng tháng 7 năm 1946, Quốc Dân đảng phát động các cuộc tấn công quy mô lớn, trước hết là vào quân lính do đồng chí Trần Nghị chỉ huy ở vùng giải phóng của Bắc Giang Tô. Quân của Tưởng chiếm đóng một số thành phố, đặc biệt là Trương Gia Khẩu, Andong… Nghĩ rằng chắc chắn có thể giành chiến thắng, họ triệu tập hội nghị của Quốc hội bù nhìn mà không tham khảo chúng tôi. Chúng tôi, những người đàm phán, lúc đó trở lại Duyên An.

Đầu năm 1947, Hồ Tông Nam (4) tiến hành một cuộc tấn công vào Duyên An, và chưa đầy sáu tháng, vào tháng 7 năm 1947, ông ta chiếm các thị xã, thành phố trong khu vực này. Lúc đó, đồng chí Mao chỉ huy chiến tranh du kích ở Thiểm Bắc, đồng thời lãnh đạo cuộc đấu tranh trên toàn quốc. Tôi ở bên đồng chí Mao. Một bác sĩ Liên Xô (5) đi cùng chúng tôi lúc đó, chuyển một thông điệp từ Stalin, mong đồng chí Mao đến Moscow. Không biết tại sao, chúng tôi nghĩ rằng [họ muốn đồng chí Mao đi đến] đó là để thảo luận về việc tiến hành cuộc chiến. Tuy nhiên, do tình hình trong nước, đồng chí Mao không thể đi.

Ngay sau đó, chúng tôi nhận được tin quân đội dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lưu Bá Thừa (6) đã vượt sông Hoàng Hà và tấn công khu vực núi Đại Biệt [Sơn]. Điều này xảy ra chỉ một năm sau khi nội chiến bắt đầu. Trước đó, gần như tất cả các thành phố và thị đã được giải phóng [khỏi Nhật Bản] bị mất vào tay quân Tưởng. Cho nên, đa số quân của Tưởng lúc đó bận rộn trong các khu vực mới chiếm đóng.

Khi quân của Lưu Bá Thừa tấn công khu vực miền núi Đại Biệt [Sơn], điều này dường như đánh vào tâm can của Tưởng. Ông ta rất sợ hãi và đã phải sử dụng một mưu mẹo. Qua Tống Tử Văn, em trai của bà Tống Mỹ Linh (7), Tưởng đã gặp Federenko, lúc đó là Đại biện Liên Xô, yêu cầu Moscow thông báo cho ĐCS Trung Quốc rằng, ông ta sẵn sàng đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh. Vào thời điểm đó, mặc dù Tưởng bị đánh bại, nhưng ông ta vẫn còn hưởng lợi. Liên Xô chuyển thông điệp của ông ta cho chúng tôi và cho rằng chúng tôi nên đi đàm phán. Với Tưởng, chúng tôi không đóng cửa để đàm phán.

Khi tôi rời Nam Kinh vào cuối tháng 10 năm 1946, đồng chí Đồng Đổng Tất Vũ (8) rời Nam Kinh vào tháng 1 năm 1947, tôi nói đó là Quốc Dân đảng đã đóng cửa để đàm phán. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng, sẽ là bất lợi nếu các cuộc đàm phán bắt đầu vào tháng 7 năm 1947. Bởi vì, như các ông đã nói, việc cân bằng lực lượng không có lợi cho chúng tôi. Kết quả là, chúng tôi tiếp tục chiến đấu cho đến năm 1949, năm mà chúng tôi có thể bảo đảm chiến thắng một cách quyết định.

Vào lúc đó, Tưởng đã rút lui và kêu Lý Tông Nhân (9) thay mặt ông ta đàm phán. Được thôi! Chúng tôi chấp nhận đàm phán và đưa ra một số nguyên tắc. Trương Trị Trung (10) đẫn đầu phía Quốc Dân đảng. Ông ta đến Bắc Kinh và các cuộc đàm phán diễn ra trong 20 ngày. Chúng tôi đề nghị [một dự thảo với] 8 chương và 24 điều khoản.

Trong khi đó, lực lượng vũ trang của chúng tôi đã sẵn sàng vượt sông Dương Tử. Nếu dự thảo được ký, sẽ không có chuyện gì xảy ra. Nếu không, chúng tôi sẽ vượt sông. Phái đoàn Quốc Dân đảng đồng ý ký vào bản dự thảo, nhưng khi đưa trở lại Nam Kinh, dự thảo đã bị Đại sứ Mỹ từ chối. Vì vậy, Lý [Tông Nhân] đã rút lui và một triệu binh sĩ của chúng tôi vượt sông Dương Tử.

Trong suốt chiến dịch, quân đội dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lâm Bưu đã chiếm Vũ Hán. Có một tiến triển khôi hài: khi các cuộc đàm phán đang diễn ra, Lý Tông Nhân chuyển chính quyền của ông ta đến Quảng Châu, [và] Đại sứ Liên Xô đã đi với ông ta. Tuy nhiên, đồng nhiệm Mỹ vẫn ở lại Nam Kinh. Khi Nam Kinh được giải phóng, ông ta vẫn ở đó. Ông ta nói với một trí thức Trung Quốc rằng, nếu Chính phủ Cộng sản Trung Quốc muốn có quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, thì Hoa Kỳ sẽ không rút Đại sứ quán khỏi Trung Quốc, và thậm chí sẽ là nước đầu tiên công nhận nước Trung Quốc mới và sẵn sàng viện trợ cho Trung Quốc trị giá $5 tỷ đô la. Đại sứ Hoa Kỳ muốn mua chúng tôi, nhưng quân giải phóng không quan tâm, đột kích khu dinh thự [sứ quán] và ông ta đã trốn thoát. Nước Anh thì ngớ ngẩn hơn, gửi một tàu chiến đến bắn vào chúng tôi. Chúng tôi đã kết liễu chiếc tàu này.

Tuy nhiên, ở mức độ nào, chúng tôi vẫn nghĩ rằng Stalin là nhà Marxist Leninist vĩ đại. Sau khi Thượng Hải được giải phóng, Lưu Thiếu Kỳ đã đến Moscow. Stalin đã tự phê bình – một cách ngấm ngầm – hỏi câu hỏi này: “Điện tín của tôi gửi hồi tháng 8 năm 1945 có gây cản trở cuộc chiến tranh giải phóng của các ông không?” Lưu Thiếu Kỳ trả lời “Không” và đã không nói thêm [điều gì] nữa. Có lẽ đồng chí Giang Thanh (11) cũng có mặt tại cuộc họp đó vì bà ta đang ở Moscow để trị bệnh.

Khi nâng cốc chúc mừng, Stalin thậm chí còn nói: “Bây giờ tôi đã quá già. Mối quan ngại của tôi bây giờ là, sau khi tôi chết, các đồng chí này – ông ta chỉ vào Voroshilov, Molotov và những đồng chí khác – sẽ sợ chủ nghĩa đế quốc“. Lý do Stalin nói như vậy là vì ông ta chưa hết lo lắng về bom nguyên tử. Nhưng có lẽ, vấn đề bom nguyên tử đã cho ra một số giải pháp như nó đã có vào thời điểm năm 1949, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc 5 năm [trước], Cách mạng Trung Quốc đã kết thúc, nhưng Hoa Kỳ đã không sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều mà Stalin đã nói bây giờ trở thành sự thật. Đó là để hỗ trợ quan điểm của tôi, rằng các ông càng đến gần chiến thắng, [các ông] sẽ càng bị những người xét lại Xô Viết phản bội cản trở – những người này chắc chắn không thể so sánh với Stalin. Có lẽ tôi hơi cường điệu. Sẽ tốt hơn nếu dự đoán này không thành sự thực. Nhưng tôi dựa trên kinh nghiệm quá khứ để cảnh báo các ông.

Võ Nguyên Giáp: Người ta nói rằng khi quân giải phóng đến sông Dương Tử, Stalin khuyên các ông không nên tiến thêm về phía Nam. Có thật vậy không?

Chu Ân Lai: Quân đội của chúng tôi tấn công Đại Biệt [Sơn] vào giữa năm 1947 và vượt sông Dương Tử vào năm 1949. Đại sứ quán Liên Xô cùng với Chính phủ [Quốc gia] của Lý Tông Nhân đến Quảng Châu. Lúc đó, Tưởng đã ở Ninh Ba. Đại sứ quán Mỹ vẫn ở lại Nam Kinh.

Đại sứ Mỹ ở lại Nam Kinh bởi vì ông ta hiểu rằng Tưởng không thể ngăn chúng tôi. Nhưng Liên Xô đã đi đến Quảng Châu bởi vì tình báo Liên Xô dự đoán rằng quân giải phóng không thể vượt sông Dương Tử. Theo họ, nếu chúng tôi làm như thế, Mỹ sẽ can thiệp, và sử dụng bom nguyên tử. Vì vậy, họ tin rằng sông Dương Tử cuối cùng sẽ là đường phân chia: miền Bắc sẽ do ĐCS Trung Quốc kiểm soát và miền Nam do Quốc Dân đảng. Mỹ thì nghĩ khác: nếu họ hỗ trợ Tưởng, tình hình sẽ không khác hơn. Nếu họ can thiệp, họ sẽ có thêm một gánh nặng khi các vấn đề châu Âu đã không được giải quyết.
….

Chu Ân Lai: Bây giờ tôi chuyển sang vấn đề thứ hai. Các ông đã nghe nói về những sự cố gần đây ở Battambang. Người ta nói rằng điều này là do các phần tử đỏ (Khơ me Đỏ?) [lực lượng Campuchia] gây ra. Tuy nhiên, có lẽ nó đã được gây ra bởi các lực lượng do Mỹ hậu thuẫn với mục đích chia rẽ các lực lượng của chúng ta (12).

Phạm Văn Đồng: Có thể lắm. Khu vực này dưới sự ảnh hưởng của nhóm Sơn Ngọc Thành (13) đến từ Thái Lan.

Trần Nghị: Không phải dưới sự ảnh hưởng của Đảng Campuchia?

Phạm Văn Đồng: Liên quan đến Đảng Campuchia, chúng tôi không thể nói liệu họ có bất kỳ vai trò nào [trong sự cố này] hay không.

Chu Ân Lai: Có nghi ngờ nào về vũ khí chúng tôi gửi cho các ông qua đường Campuchia đã được Đảng Campuchia phân phát cho người Trung Quốc [sống ở Campuchia] hay không?

Phạm Văn Đồng: Không, có lẽ đây là vũ khí cũ. Nhưng chúng tôi không chắc lắm. Khi chúng tôi trở về Hà Nội, chúng tôi sẽ hỏi và sau đó thông báo cho các ông về điều này.

Chu Ân Lai: Ngày 30 tháng 9, Douc Rasy, Phó Thủ tướng Campuchia nói rằng, Lon Nol có thể cải tổ nội các của ông ta. Sihanouk đã từng nói rằng Lon Nol nên mời một số phần tử đỏ (Khơ me Đỏ?) vào nội các, theo đó Chau Seng (14) sẽ được bổ nhiệm làm phó thủ tướng phụ trách tài chính, So Nem (15) sẽ thay thế Douc Rasy và sẽ là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch. Có lẽ So Nem thật sự là một người tả khuynh, vì vậy ông ta đã bị từ chối. Chau Seng thuộc phe Sihanouk. Tuy nhiên, ông ta được cho là tả khuynh. Ông ta cũng nói rằng, nội các Lon Nol phải được cải tổ. Ông ta đề nghị một danh sách các ứng cử viên nhưng Lon Nol không đồng ý. Thông tin này do Meyer (16) tiết lộ. Nếu nội các Lon Nol sụp đổ, Sihanouk sẽ mời Penn Nouth (17) là người trung lập, để thành lập chính phủ.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 1967, Quốc hội Campuchia đã tổ chức một phiên họp khẩn cấp. Một nghị quyết cho phép Sihanouk có đặc quyền đã được thông qua sau các cuộc tranh luận nảy lửa. Một số người đã tổ chức biểu tình ở trước Cung điện Hoàng gia. Sau đó họ được mời vào bên trong cung điện và đã được hoàng hậu đón tiếp. Sihanouk công bố nghị quyết Quốc hội và nói rằng ông ấy đã được xác định là người trung lập, chống cả những người cánh tả lẫn cánh hữu.

Đại sứ quán của chúng tôi đi đến kết luận rằng ông ta chủ yếu chống những người cánh tả. Nhưng tại sao ông ta bổ nhiệm Penn Nouth để lập chính phủ? Có một số mâu thuẫn ở đây. Sau đó, hoàng hậu kêu gọi người dân đoàn kết chống lại kẻ thù. Tại tỉnh Kamdan, đã có truyền đơn chống lại Khimsamthan người có thể là cánh tả. Và tại Kompong Chom và Stungstreng, đã có các cuộc biểu tình ủng hộ chính sách Sihanouk chống lại những người cánh tả.

Tóm lại, tình hình vẫn đang thay đổi sau sự kiện Battambang. Ở Campuchia, có hai nội các: một nội các chính thức và một nội các vô hình. Nội các vô hình đã viết: “Đất nước chúng ta đang bị đe dọa. Việt Minh đang mở mặt trận ở Battambang. Chúng ta phải đối phó với kẻ thù ở hai mặt trận: chống lại người Khmer cấp tiến và chống lại các phần tử Đỏ (Khơ me Đỏ?). Trong quá khứ, Chính phủ Campuchia chỉ chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ và bây giờ còn có đế quốc Cộng sản. Thái độ của chúng ta đối với những người Cộng sản luôn đúng. Vậy tại sao bây giờ họ lại tấn công chúng ta?

Tại sao Campuchia có thái độ như thế đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam? Lý do mà tôi thấy đó là: Mặt trận Dân tộc GPMN cố gắng để kéo quân Mỹ đến biên giới Campuchia, làm cho lính Campuchia bắn vào họ (lính Mỹ), do đó làm cho Campuchia tham gia vào cuộc chiến. Mặt trận Dân tộc GPMN cố tình ra lệnh cho hơn 2.000 người đến Campuchia tị nạn. Có 7 bác sĩ hoạt động trong số những người này, để chăm sóc y tế và tác động đến người Campuchia.

Lon Nol bị những người cánh tả chỉ trích và ông ta cũng không hài lòng. Lon Nol nói rằng vì tình hình nghiêm trọng, ông ta ngưng giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, ông ta không đề cập vũ khí đã đến Campuchia. Ông ta cũng ngưng vận chuyển gạo. Ngoài ra, Lon Nol ra lệnh kiểm soát chặt chẽ về buôn lậu biên giới để đe dọa Mặt trận Giải phóng miền Nam. Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính hình thức, thực chất không có gì quan trọng.

Võ Nguyên Giáp: Một số trường hợp xảy ra gần đây ở khu vực biên giới giữa miền Nam Việt Nam và Campuchia. Gồm có: một cuộc tấn công do một tiểu đoàn Mỹ vượt biên giới. Lực lượng Quân Giải phóng của chúng tôi đã giúp các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Campuchia chống trả lại. Các tiểu đoàn Mỹ đã phải rút lui. Trong Chiến dịch Junction City của Mỹ, thường dân và quân đội Việt Nam di tản sang Campuchia.

Phạm Văn Đồng: Một số bác sĩ y tế Việt Nam đến đó để điều trị cho người dân [Campuchia]. Tuy nhiên, chúng tôi phải rất cẩn thận về vấn đề này.

Chu Ân Lai: Đúng vậy. Bởi vì hiểu lầm có thể bắt nguồn từ những vấn đề nhỏ. Theo các nguồn tin của chúng tôi, những người đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, với chỉ thị từ Mặt trận, gặp gỡ đại diện của phe “nhân dân” ở Campuchia (Ghi chú của biên tập: Khmer Đỏ, do Pol Pot lãnh đạo) và trao đổi ý kiến ​​với họ về tình hình ở Campuchia. Bất đồng chủ yếu về chính sách đối phó với Lon Nol. Chúng ta chinh phục tình cảm của Lon Nol, nhưng họ phản đối ông ta. Đấu tranh có thể được gia tăng, nhưng không cần thiết tiến hành đấu tranh vũ trang ở Campuchia. Vào lúc này, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là chiến thắng.

Nếu các khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia bị phong tỏa, các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam sẽ phải đối mặt với khó khăn, [và] lúc đó lực lượng cách mạng Campuchia sẽ không tiến lên. Cuộc đấu tranh của Việt Nam là vì lợi ích chung của các dân tộc Đông Dương và Đông Nam Á, và chiến thắng của cuộc đấu tranh này mang tính quyết định. Trong trường hợp này, đấu tranh của Campuchia, thậm chí đấu tranh vũ trang, hạn chế các mục tiêu. Vì vậy, ngay cả trong trường hợp có được chiến thắng, chiến thắng đó cũng bị hạn chế, về bản chất không dứt khoát, chưa nói đến việc những chiến thắng đó có thể bị mất dễ dàng. Vì vậy, về vấn đề này, phải biết làm thế nào để đặt lợi ích tổng thể lên trên những hạn chế.

Tuy nhiên, nếu cuộc đấu tranh này khởi đầu từ người dân, thì câu chuyện sẽ khác đi. Trong trường hợp đó, cuộc đấu tranh này không thể chống lại được, bởi vì tự nhiên người dân sẽ đứng lên chống lại áp bức. Họ sẽ phải trải qua đàn áp, nhưng họ cũng sẽ học những bài học. Công việc của một đảng cách mạng là lãnh đạo cuộc đấu tranh. Tóm lại, trong trường hợp cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Việt Nam thành công, có hy vọng cho cuộc đấu tranh ở Campuchia. Lý luận này nên được thể hiện rõ ràng cho phe “nhân dân” ở Campuchia.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi thường cố gắp thuyết phục họ. Và chúng ta phải tiếp tục làm như vậy.

Chu Ân Lai: Đúng vậy, như mỗi bên đều có sự độc lập của nó.

Võ Nguyên Giáp: Nhưng trước khi họ đồng ý với chúng tôi.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi vẫn không biết rõ, ở mức độ nào thì cuộc đấu tranh được tổ chức, và ở mức độ nào thì bị khiêu khích bởi kẻ thù.

Võ Nguyên Giáp: Các đồng chí của chúng tôi ở miền Nam đã gửi người đi nói chuyện với phe “nhân dân”.

Phạm Văn Đồng: Thông tin Mặt trận Dân tộc Giải phóng liên lạc với phe “nhân dân” là đúng, bởi vì chúng tôi yêu cầu Trung ương Cục miền Nam liên hệ trực tiếp với phe này.

Chu Ân Lai: Đồng chí Nguyễn Thương (18) nói rằng, cần phát triển quan hệ tốt đẹp với Campuchia. Tôi thấy hai khả năng. Một là, Sihanouk sử dụng tình hình này để gây áp lực lên các lực lượng cách mạng Campuchia nhằm cân bằng các lực lượng cánh tả và cánh hữu. Đây là chiến thuật mà ông ấy thường sử dụng đến. Hai là, cho thấy chính sách trung lập của ông ta: tất cả các lực lượng ở Campuchia, dù là thân Trung Quốc và thân Việt Nam hay thân Mỹ, đều do ông ta kiểm soát. Nói chung, như tôi đã nói với các ông trước đây, chúng ta phải chinh phục tình cảm của ông ấy, đồng thời sẵn sàng cho việc cung cấp hàng hoá qua ngả Campuchia khi tình hình cho phép. Do đó cần phải duy trì liên lạc thường xuyên với Tổng Tham mưu Trung Quốc và Bộ Giao thông Vận tải và Truyền thông.

Ghi chú:

1. Tống Tử Văn: là em vợ của Tưởng Giới Thạch và là Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Trung hoa Dân quốc.

2. Lục Định Nhất: là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị ĐCS Trung Quốc, ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng, Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền Trung ương ĐCS TQ, và Phó Thủ tướng Trung Quốc cho đến khi bị thanh trừng hồi đầu năm 1966.

3. Vương Nhược Phi: là ủy viên Bộ Chính trị ĐCS TQ, đã chết trong một tai nạn máy bay năm 1946.

4. Hồ Tông Nam: là một trong những vị tướng hàng đầu của Quốc Dân đảng.
5. A.Y. Orlov (? -1949): còn có tên là Zhelepin và Terebin, viên chức tình báo quân đội Xô Viết, đã từng phục vụ như người liên lạc với lãnh đạo ĐCSTQ ở Úc Nam và sau đó ở miền bắc Sơn Tây và Hà Bắc.

6. Lưu Bá Thừa: là một trong những người chỉ huy quân sự quan trọng nhất của ĐCSTQ trong nội chiến Trung Quốc 1946-1949.

7. Tống Khánh Linh: là vợ của Tôn Trung Sơn và là chị vợ của Tưởng Giới Thạch. Bà là thành viên duy nhất trong gia đình họ Tống ủng hộ Cộng sản.

8. Đổng Tất Vũ: trong thập niên 1940, là ủy viên Bộ Chính trị và là Phó Tổng Bí thư Văn phòng phía Nam của ĐCSTQ, đứng hàng thứ hai sau Chu Ân Lai.

9. Lý Tông Nhân: quyền tổng thống của chính phủ Trung Hoa Dân quốc năm 1949 sau khi Tưởng Giới Thạch từ chức của vào tháng Giêng năm đó.

10. Trương Trị Trung: là trưởng phái đoàn đại diện cho Chính phủ Quốc gia tại các cuộc đàm phán hòa bình với Trung Cộng vào mùa Xuân năm 1949.

11. Giang Thanh: người vợ thứ ba của Mao Trạch Đông(vợ thứ tư, nếu tính luôn bà La Thị do cha mẹ Mao cưới ở quê nhà, nhưng không sống chung), đang ở Moscow để chữa bệnh hồi mùa Hè năm 1949.

12. Tham khảo “cuộc nổi dậy Samlaut” đầu năm 1967 ở tỉnh miền Tây Battambang, được nhắm tới chống lại chủ trương của Lon Nol, lúc đó là thống đốc tỉnh, thu mua lúa gạo với giá rất thấp so với giá thị trường.

13. Sơn Ngọc Thành: lãnh đạo phong trào quốc gia nhỏ ở Campuchia hồi thập niên 1930, giữ chức Thủ tướng trong một thời gian ngắn từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1945, chống lại Thái tử Sihanouk trong thập niên 1960, và làm thủ tướng một lần nữa dưới thời Lon Nol từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1972.

14. Chau Seng: chính trị gia cánh tả Campuchia.

15. Sơn Ngọc Minh (Achar Mean) (1920-1972), một tu sĩ Phật giáo Campuchia, bút danh của ông được lấy từ hai người anh hùng của ông là Sơn Ngọc Thành và Hồ Chí Minh khi ông tham gia cuộc đấu tranh chống Pháp. Chủ tịch Mặt trận Issarak Khmer hồi thập niên 1950. Sau Hiệp định Geneva năm 1954, ông và 500 người Campuchia khác sống lưu vong ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều người trong số họ đã trở lại chiến đấu chống lại Khmer Đỏ năm 1971-72, và biến mất ngay sau đó. Tin đồn ở Việt Nam là Sơn Ngọc Minh đã bị Ieng Sary đầu độc chết tại Bắc Kinh.

16. Charles Meyer: một cố vấn thân cận của Sihanouk.

17. Penn Nouth (1906 – 1985): là cố vấn chính trị thân cận nhất của Sihanouk, làm thủ tướng 1948-1949, 1952-1955, 1958, 1961-1962, và 1967-1969. Ông cũng đứng đầu Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia, thành lập tại Bắc Kinh hồi tháng 5 năm 1970 và chào đón Sihanouk khi ông ta trở về Campuchia năm 1975.

18. Nguyễn Thượng: hành nghề ngoại giao và luật sư, sau khi làm đại sứ ở Guinea, trở thành đại diện Bắc Việt ở Campuchia vào năm 1966, và là đại sứ khi Bắc Việt công nhận Campuchia vào tháng 8 năm 1967. Phục vụ cho đến 1975 (từ năm 1970 với Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia – GRUNK – của Sihanouk). Sau đó làm Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam (đến năm 1989).

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

19. Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

10-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông giải quyết vấn đề khó khăn của Trung Quốc – Hồng vệ binh.

Chu Ân Lai: Đa số Hồng vệ binh Trung Quốc đã vượt biên giới vào Việt Nam, là tốt. Họ đã đến Việt Nam bởi vì họ muốn chiến đấu chống Mỹ. Nhưng họ đã không tôn trọng các quy tắc của hai nước chúng ta, nên gây một số chuyện phức tạp. Chúng tôi xin lỗi các ông về vấn đề này.

Mao Trạch Đông: Một số Hồng vệ binh không biết biên giới quốc gia có nghĩa là gì. Trong số những người đến Việt Nam, hầu hết đến từ Giang Tây, một số người đến từ Vân Nam. Các ông không cần phải đề phòng họ. Chỉ cần giải thích với họ và sau đó giao họ lại cho chúng tôi.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

18. Thảo luận giữa Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai với Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp

10-04-1967

Khi xem xét viễn cảnh cuộc chiến, chúng ta nên có hai hoặc ba khả năng. Một khả năng là cuộc chiến sẽ tiếp tục và mở rộng. Luật của chiến tranh thường không do ý muốn của người dân quyết định, không phải do ý muốn chúng ta, cũng không theo ý muốn của kẻ thù. Chiến tranh có luật lệ riêng của nó. Ngay cả khi kẻ thù muốn chấm dứt chiến tranh cũng không thể được. Do đó, vì lợi ích tương lai, chúng ta phải chuẩn bị tiếp tục cuộc chiến và chuẩn bị mở rộng chiến tranh.

Một khả năng khác là kẻ thù sẽ phong tỏa bờ biển. Nếu kẻ thù tiến hành phong tỏa toàn bộ, thì rất có thể họ có ý định mở rộng chiến sự vào một cuộc chiến tranh tổng lực. Nếu kẻ thù chỉ muốn buộc các ông thỏa hiệp bằng cách phong tỏa bờ biển của các ông và nếu các ông từ chối thỏa hiệp, thì kẻ thù sẽ làm gì?

Kẻ thù phải có một kế hoạch tiếp theo. Việc phong tỏa toàn bộ bờ biển sẽ không là một vấn đề đơn giản. Sẽ liên quan đến việc triển khai nhiều hạm đội. Sẽ là một hoạt động lớn. Sẽ gây căng thẳng đến mối quan hệ của kẻ thù với các nước khác.

Khả năng thứ ba là điều mà hai ông vừa đề cập đến: thời điểm quan trọng sẽ là mùa khô năm tới. Các ông có thể đánh bại kẻ thù, buộc họ phải thừa nhận sự thất bại và rút khỏi Việt Nam. Về khả năng chiến tranh không kết thúc nhưng cũng không mở rộng mà chỉ đơn giản là tiếp diễn, điều đó không thể xảy ra được. Cuộc chiến tranh chắc chắn sẽ kết thúc và vấn đề là khi nào. Cuộc chiến không thể nào cứ tiếp diễn mãi mãi mà không có kết quả.

Liên quan đến vấn đề đấu tranh chính trị, rõ ràng là đấu tranh chính trị nên được thực hiện bất cứ lúc nào. Chiến tranh là hình thức cao nhất của sự phát triển đấu tranh chính trị. Không thể có chiến tranh mà không liên quan đến đấu tranh chính trị. Những việc như tăng cường tuyên truyền quốc tế, chiến thắng sự cảm thông, làm suy yếu và chia rẽ kẻ thù và khai thác các mâu thuẫn giữa kẻ thù, tất cả thuộc loại đấu tranh chính trị. Các ông đã làm được những điều này trong quá khứ và các ông phải tiếp tục làm như vậy trong tương lai.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

17. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 10-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

 10-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai thảo luận việc mở rộng chiến tranh Việt Nam, cũng như phát triển mặt trận mới ở Campuchia; cũng có một cuộc thảo luận về Hoàng thân Sihanouk và Lon Nol.

Chu Ân Lai: … Về việc vận chuyển hàng quá cảnh, thỏa thuận hạn ngạch là 10.000 tấn một tháng. Bây giờ, họ muốn tăng lên 30 ngàn. Tuy nhiên, họ không đề cập đến mặt hàng cụ thể nào, nên chúng tôi không muốn trả lời đề nghị một cách rõ ràng… Về các mặt hàng quân sự của Liên Xô, Liên Xô nên thông báo trước cho Việt Nam, và Việt Nam sẽ xem xét liệu lợi ích có phù hợp và hiệu quả hay không. Có nghĩa là các ông sẽ không lấy hết tất cả mọi thứ. Lúc đó, các ông sẽ thông báo cho chúng tôi [số lượng]. Cuối cùng, chúng tôi sẽ phải kiểm tra. Nếu đúng, chúng tôi sẽ tăng hạn ngạch.

Hiện cảng Hải Phòng không bị phong tỏa. Do đó, việc sử dụng các cảng của Trung Quốc chưa được xét đến. Liên Xô đã từng nói rằng, Hoa Kỳ sẽ không tấn công tàu của Liên Xô. Tất nhiên, trong trường hợp cảng Hải Phòng bị phong tỏa, và không còn có cảng nào khác có thể cập bến ở Việt Nam, các chuyến hàng nước ngoài đến Việt Nam sẽ phải được vận chuyển qua các cảng của Trung Quốc. Chúng tôi có một thỏa thuận cho dự phòng này. Về ích lợi của các cảng Trung Quốc đối với hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam, chúng tôi sẽ cân nhắc tình hình và hoàn cảnh thực tế và sau đó thương lượng một thỏa thuận khác. Liên Xô muốn vào các cảng của Trung Quốc không chỉ vì các lô hàng viện trợ cho Việt Nam, mà còn có các động cơ khác sau này.

……

Chu Ân Lai: Có một mặt trận khác là Campuchia. Campuchia thì gắn liền với nước Pháp như Lào và miền Nam Việt Nam gắn với Mỹ. Pháp đã xác định không bỏ mặc Campuchia. Đôi khi Sihanouk chửi chúng tôi vì bực tức, điều đó dễ hiểu. Chúng tôi phải giành cho được sự cảm thông của ông ta, nhưng cùng lúc, chúng ta phải hiểu bản chất của ông ta. Mối liên hệ như thế này: bởi vì Pháp sẽ không bỏ mặc Campuchia, thì Campuchia cũng sẽ không bỏ mặc chúng ta. Nếu Campuchia làm như thế, sẽ mâu thuẫn với chính phủ liên minh ở miền Nam Việt Nam, trong đó phe thân Pháp sẽ được mời dự phần. Và nếu quan hệ Campuchia với Trung Quốc xấu đi, ảnh hưởng của Pháp ở vùng Viễn Đông sẽ tiếp tục giảm, do đó vị thế của Pháp trong quan hệ với Mỹ bị suy yếu. Khả năng để Mỹ để mở một mặt trận khác ở Campuchia là không lớn. Vì vậy, gây áp lực lên Campuchia có thể làm cho họ đồng ý với các chính sách của chúng ta.

Gần đây, Thủ tướng Úc, [Harold Holt], thăm Campuchia. Ông ấy hỏi Sihanouk rằng Campuchia có giúp Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam hay không. Sihanouk không hoàn toàn phủ nhận điều [này], nói rằng ông ấy giúp một chút trong vấn đề vận chuyển. Tôi biết Sihanouk hơn 10 năm nay và thấy rằng ông ta khôn hơn Sukarno (1). Có lẽ Sukarno sợ phong trào nhân dân, nhưng Sihanouk thì không sợ.

Khả năng giành được sự cảm thông của Sihanouk thì rất tốt. Tuy nhiên, cùng lúc chúng ta phải cân nhắc khả năng phong tỏa. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng việc vận chuyển trang thiết bị trong mùa mưa này không chỉ cho năm nay, mà nên vận chuyển cho nhu cầu năm tới. Chúng tôi luôn luôn khai thác các cơ hội khi có sẵn.

Võ Nguyên Giáp: Hiện Mỹ muốn sử dụng phe thân Mỹ tại Campuchia để tiến hành phá hoại và  đảo chánh. Ông có ý kiến gì ​​về vấn đề này?

Chu Ân Lai: Chúng ta không loại trừ khả năng đảo chính. Sihanouk cũng giống như Sukarno đến mức ông ta trấn áp tất cả các mâu thuẫn để nắm giữ quyền lực. Tuy nhiên, ông ta không giống Ne Win (2) người kiểm soát các lực lượng vũ trang. Cùng lúc, Ne Win ngày càng quan trọng đối với các phe phái ở Miến Điện, và vì thế càng không được lòng dân. Tôi đã nói chuyện với ông ta nhiều lần về chiến lược cầm quyền, khuyên ông ấy giới hạn số đối thủ. Những gì tôi biết về ông ta qua U Thant (3) đó là ông ta dễ lĩnh hội từ người Mỹ, nhưng người Anh và người Pháp thì ở một mức độ thấp hơn. Ông ấy cũng duy trì quan hệ với Trung Quốc và Liên Xô.

Phạm Văn Đồng: Còn tình trạng nội chiến ở Miến Điện?

Chu Ân Lai: Các phong trào cách mạng ở đó không phát triển nhanh và có một số thay đổi trong chính sách của Đảng. Điều kiện và tình hình ở đó thì tốt, nhưng tôi không hiểu tại sao cuộc cách mạng đã không phát triển.

Phạm Văn Đồng: Ông nghĩ sao về Lon Nol? (4)

Chu Ân Lai: Ông ta không đáng tin cậy.

Phạm Văn Đồng: Ông ta đã dùng những lời lẽ tốt đẹp để nói về Trung Quốc với chúng tôi.

Chu Ân Lai: Ông ta cũng đã nói như thế với chúng tôi. Ông ta cũng nói rằng ông ta có mang dòng máu Trung Quốc. Phoumi Nousavan (5) cũng nói rằng ông ta có dòng máu Trung Quốc. Nhưng máu của họ là máu phong kiến, tư bản.

Trần Nghị: Lon Nol là người ủng hộ Mỹ. Sihanouk cũng biết điều này.

Chu Ân Lai: Một lần, Lon Nol đến thăm Trung Quốc và ông ta để lại một số ấn tượng. Nếu chúng ta chi tiền cho ông ta, ông ta có thể bị lợi dụng một thời gian. Mẹ của Sihanouk cũng đang làm chính trị, cái cách mà một số hoàng hậu Trung Quốc đã làm. Hai mẹ con đối nghịch với nhau. Nhưng họ cũng lợi dụng lẫn nhau. Bất lợi của Sihanouk đó là, không giống như Ne Win, ông ta không kiểm soát các lực lượng vũ trang.

Chu Ân Lai: Theo như đánh giá của chúng tôi về triển vọng của cuộc chiến, chúng tôi thực sự cần xem xét hai hoặc ba khả năng. Trước tiên, cuộc chiến tranh có thể tiếp tục và thậm chí có thể mở rộng hơn nữa. Nguyên tắc của chiến tranh không thể quyết định bởi lòng người, không phải bởi kẻ thù, cũng không phải bởi chúng ta. Chiến tranh có nguyên tắc riêng của nó. Ngay cả khi kẻ thù muốn dừng lại, cũng rất khó để cho họ dừng. Vì vậy, khi chúng tôi đánh giá triển vọng của cuộc chiến, chúng ta nên chuẩn bị cho việc tiếp tục và mở rộng hơn nữa.

Một khả năng khác là kẻ thù có thể phong tỏa bờ biển. Nếu ông ta bắt đầu phong tỏa toàn bộ, có nghĩa là đang chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh, một cuộc chiến toàn diện. Nhưng nếu kẻ thù sử dụng một cuộc phong tỏa để buộc các ông phải thỏa hiệp và nếu các ông từ chối thỏa hiệp, thi ông ta sẽ làm gì? Ông ta phải làm một cái gì đó như là bám sát. Không đơn giản cho ông ta tiến hành phong tỏa toàn bộ dọc bờ biển, bởi điều này cần triển khai nhiều tàu. Hành động này rất lớn, và sẽ gây nhiều căng thẳng trong quan hệ của ông ta với các nước khác.

Khả năng thứ ba, như hai ông đã đề cập, đó là mùa khô năm tới sẽ là thời điểm quan trọng, và có thể đánh bại đối phương, buộc ông ta phải nhận lấy sự thất bại của mình và rút khỏi Việt Nam. Có thể nào cuộc chiến sẽ không kết thúc, cũng không mở rộng, mà  sẽ tiếp tục như hiện nay? Điều này không thể. Sớm hay muộn, cuộc chiến tranh sẽ kết thúc, chỉ là vấn đề thời gian. Không thể nào cuộc chiến tranh sẽ được kéo dài như thế này, không thắng cũng không bại (nguyên văn: không chết cũng không sống).

Đối với câu hỏi về đấu tranh chính trị, không có gì nghi ngờ về đấu tranh chính trị nên tiếp tục trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Chiến tranh là sự tiếp tục về chính trị dưới hình thức cao nhất, do vậy, không thể tiến hành cuộc chiến tranh mà không tiến hành đấu tranh chính trị. Để tăng cường tuyên truyền quốc tế, để chiến thắng sự cảm thông, để làm suy yếu và chia rẽ kẻ thù, và để tận dụng sự sa sút của kẻ thù, là tất cả các hình thức khác nhau về đấu tranh chính trị. Các ông đã làm điều này trong quá khứ. Các ông nên tiếp tục làm điều này trong tương lai.

Ghi chú:

1. Sukarno: (1901-1970) Chủ tịch nước Cộng hòa Indonesia 1945-1967. Bị mất quyền vào tay Tổng Suharto trong một cuộc đảo chính quân sự hồi tháng 10 năm 1965.

2. Ne Win: (1911-2002) tướng Miến Điện, người đứng đầu nước Miến Điện (Myanmar) từ năm 1962-1981.

3. U Thant: (1909-1974) Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc năm 1962-1971.

4. Lon Nol: (1913-1985) Tướng trong Quân đội Campuchia, Thủ tướng từ năm 1966 đến tháng 4 năm 1967. Trở lại nắm quyền trong chính phủ hồi tháng 4 năm 1968, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng và sau đó là quyền Thủ tướng. Bổ nhiệm làm thủ tướng vào tháng 8 năm 1969. Nắm quyền trong một cuộc đảo chính vào ngày 18 tháng 3 năm 1970, trong khi Sihanouk ở nước ngoài. Lon Nol là Tổng thống Cộng hòa Khmer 1972-1975.

5. Phoumi Nousavan: tướng Lào, một người mạnh mẽ, thuộc cánh hữu trong chính phủ từ 1960-1965.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

16. Ba cuộc thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp 07-04-1967

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (1)

07-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai nhận xét về tính cách quân sự của Mỹ.

Chu Ân Lai: Kinh nghiệm và truyền thống Mỹ dựa trên cuộc chiến giành độc lập, mà họ đã chiến đấu 190 năm trước. Cũng có cuộc nội chiến cách nay gần 100 năm. Suốt thời Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, họ đạt nhiều [chiến thắng] ở giai đoạn cuối. Trong Đệ nhị Thế chiến, Hoa Kỳ đã đổ bộ [vào châu Âu] vào lúc Hitler đã suy yếu đáng kể. Họ sử dụng nhiều pháo binh, như thể họ đang tiến hành tập trận. Người chỉ huy ở mặt trận phía Tây lúc đó là Eisenhower, và tham mưu trưởng Quân đội Hoa Kỳ là [tướng George C.] Marshall. Marshall rất tự hào về kế hoạch đổ bộ, [tài liệu] dài hàng trăm trang. Có lần tôi hỏi ông ta đã đọc bản kế hoạch đó chưa. Ông ta nói rằng ông ta chỉ đọc đề cương. Mỗi phần [đề cương], ông ta chỉ đọc phần có liên quan đến ông ta.

Ghi chú:

1. Võ Nguyên Giáp (1912 -) là người thành lập đơn vị đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam vào năm 1944 và giữ chức Tổng Tư lệnh trong suốt chiến tranh Đông Dương. Suốt thập niên 1960 và gần suốt thập niên 1970 ông là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, và Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Văn Tiến Dũng được cho là đã thay thế ông làm Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Tư lệnh năm 1980, nhưng theo từ điển quân đội, xuất bản năm 1996 tại Hà Nội nói rằng, ông Dũng đã thay thế [ông Giáp] từ đầu năm 1978. Nếu điều này chính xác, thì ông Giáp không chịu trách nhiệm về quyết định xâm chiếm Campuchia, hoặc bảo vệ Việt Nam chống lại cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979. Ông Giáp vẫn còn trong Bộ Chính trị Đảng CSVN cho đến năm 1982 và còn chức ủy viên Trung ương Đảng cho đến năm 1991.

2. Đây là cuộc họp thứ ba giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam. Trong cuộc họp này, Võ Nguyên Giáp đã mô tả tình hình quân sự ở Việt Nam và mục tiêu chiến lược của Mỹ. Hai cuộc họp đầu tiên được tổ chức từ 11:30 sáng (không rõ kết thúc lúc mấy giờ) và từ 3:30-06:30 chiều ngày 29 tháng 3 năm 1967. Phái đoàn Việt Nam đã đi thăm Liên Xô và sau đó trở về Bắc Kinh.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

———-

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (2)

07-04-1967

Mô tả: Chu Ân Lai củng cố cam kết của ông ta và của Trung Quốc đối với cuộc chiến tại Việt Nam, mặc dù ông ta gần bảy mươi tuổi.

Phạm Văn Đồng: Một số chiến lược chúng tôi đang áp dụng ở chiến trường miền Nam Việt Nam là làm theo những điều các ông đề nghị với chúng tôi trong quá khứ. Điều này cho thấy chiến lược quân sự của chúng tôi, cũng như của các ông, là đúng đắn, và cũng có những diễn biến mới.

Chu Ân Lai: Không chỉ có các chiến lược của các ông có những diễn biến mới, mà còn có những sáng tạo mới. Những người đến muộn trở thành người tới trước. Đây là điều Chủ tịch đã nói. Tôi viết cho các ông vài lời: những người đến muộn trở thành người đến đầu tiên… Chúng tôi đã không đánh một cuộc chiến nào trong suốt 14 năm. Cả ba chúng tôi đã già rồi. Tôi gần bảy mươi tuổi rồi. Đồng chí Diệp Kiếm Anh (2) bảy mươi tuổi rồi. Đồng chí Trần Nghị thì sáu mươi bảy tuổi. Chúng tôi vẫn muốn đánh, nhưng chúng tôi không còn nhiều thời gian.

Diệp Kiếm Anh: Đó là quy luật của tự nhiên.

Chu Ân Lai: Mặc dù tôi đã già, nhưng tham vọng của tôi vẫn còn đó. Nếu cuộc chiến ở miền Nam không kết thúc trong năm tới, tôi sẽ đến thăm các ông và quan sát xung quanh.

Diệp Kiếm Anh: Con ngựa già ở trong chuồng vẫn mơ đến những thành tích anh hùng; trái tim của một người anh hùng lúc tuổi già của ông ấy kiên cường hơn bao giờ hết.

Chu Ân Lai: Chủ tịch Mao đã trích dẫn những [lời này] từ một bài thơ của Tào Tháo (3) trong một bức thư gửi cho đồng chí Vương Quan Lan (4). Một nhân vật lịch sử trong thời kỳ phong kiến ​​vẫn có khát vọng của mình, còn chúng ta, những người vô sản, thì sao?

Ghi chú:

1. Đây là cuộc họp thứ tư giữa phái đoàn Trung Quốc và Việt Nam. Võ Nguyên Giáp bắt đầu cuộc họp bằng cách tiếp tục giới thiệu về tình hình quân sự ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam và chiến lược của Việt Nam.

2. Diệp Kiếm Anh: là phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương ĐCS Trung Quốc và là ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSTQ.

3. Tào Tháo: là một chính trị gia và là lãnh chúa thời Tam quốc của Trung Quốc (thế kỷ thứ 2-3).

4. Vương Quan Lan: là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phó GĐ Sở Nông thôn? (Deputy Head of the Rural Affairs Department) thuộc Trung ương ĐCS TQ. Ông bị bệnh tật kinh niên hồi thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, và Mao đã viết một lá thư khuyên ông ta nên kiên nhẫn trong việc đối phó với bệnh tật của mình.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

———–

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

07-04-1967

Mô tả: Đề nghị của Liên Xô gia tăng viện trợ cho Việt Nam qua ngả Trung Quốc.

Phạm Văn Đồng: Các đề nghị của [Liên Xô] là: (1) Trung Quốc tăng hạn ngạch cho các lô hàng viện trợ của Liên Xô giúp [Việt Nam] qua ngả Trung Quốc từ 10.000-30.000 tấn một tháng. Nếu cần, Liên Xô sẽ gửi một số đầu máy xe lửa tới Trung Quốc. (2) Trung Quốc dành riêng 2 hoặc 3 cảng ở miền Nam để giao hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Nếu cần nhiều thiết bị hơn cho các cảng này, Liên Xô sẽ trả tất cả chi phí (*).

(*) Chu Ân Lai có trả lời vấn đề này trong buổi thảo luận ngày 10-04-1967.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

15. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Hoàng Tùng ngày 23-08-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng và Hoàng Tùng

23-08-1966

Mô tả: Chu Ân Lai đề nghị gửi thêm quân nhân vào Việt Nam, ông ta cũng chỉ trích báo chí Việt Nam viết về các cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc trong lịch sử.

Chu Ân Lai: Còn về vấn đề thực tế báo chí Việt Nam thời gian gần đây đã đưa một số tài liệu về các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến ​​Trung Quốc chống lại Việt Nam thì sao?

Hoàng Tùng: Không có tài liệu báo chí nào như thế. Tuy nhiên, một số viện nghiên cứu đang làm nghiên cứu về chủ đề lịch sử đó.

Chu Ân Lai: Nhưng các ông đang nghiên cứu vấn đề này trong khi các ông đang tranh đấu chống lại Hoa Kỳ. [Các ông muốn] ám chỉ cái gì?

Chu Ân Lai: Chúng ta nên tận dụng con đường bộ cũng như tuyến đường biển qua ngả Campuchia. Tuy nhiên, tốt nhất là đường mòn Hồ Chí Minh, con đường chạy qua Lào vào miền Nam Việt Nam. Và chúng ta cũng nên tìm những con đường khác. Chúng tôi đồng ý điều mà các ông yêu cầu [liên quan tới] quân tiếp viện của chúng tôi về phòng không, để bảo vệ đường sắt, đường bộ của chúng tôi, và sự giúp đỡ của chúng tôi để xây dựng các con đường giao thông. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng có những hạn chế về điều đó. Lực lượng này không phải là quân tình nguyện chiến đấu của chúng tôi. Họ là lực lượng hậu cần. Do đó, chúng ta có thể từ chối yêu cầu của một số nước gửi quân tình nguyện đến Việt Nam, [nói] rằng các tình nguyện Trung Quốc đã có mặt ở Việt Nam. Nếu nói rằng đã có quân tình nguyện Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam, thì Cuba, Algeria, và Liên Xô, vv…có thể yêu cầu phải có quân tình nguyện của họ tại Việt Nam.

Chu Ân Lai: … chiến lược đã được xác định: tiến hành một cuộc chiến kéo dài ở miền Nam, ngăn chặn các cuộc chiến mở rộng ra miền Bắc và sang Trung Quốc … ý kiến cơ bản của tôi là chúng ta nên kiên nhẫn. Kiên nhẫn đồng nghĩa với chiến thắng. Kiên nhẫn có thể gây nhiều khó khăn hơn, đau khổ hơn cho các ông. Tuy nhiên, trời, đất sẽ không sụp đổ và con người không thể bị tận diệt hoàn toàn. Vì vậy, kiên nhẫn có thể được đền bù bằng chiến thắng, làm thay đổi lịch sử, khuyến khích các nước châu Á, châu Phi, và châu Mỹ Latinh, và làm giảm tầm quan trọng của đế quốc Mỹ.

Chúng tôi đề nghị gửi một số nhân viên quân sự Trung Quốc phục vụ trong đội ngũ cán bộ chỉ huy, hậu cần, hóa học, kỹ thuật, các lực lượng huấn luyện chính trị, tổng số sẽ là 100 người, được tổ chức thành 4 hoặc 5 nhóm, đến miền Nam Việt Nam. Họ có thể đi xa tới tỉnh [Bình] Trị Thiên, Tây Nguyên, các vùng ngoại ô Sài Gòn, hoặc tới trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ghi chú:

1. Hoàng Tùng (1920-2010), Giám đốc Nhà Xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Là Tổng Biên tập báo Nhân Dân (People’s Daily) từ năm 1951-1982 (có nguồn ghi từ năm 1954-1982: ND), từ năm 1960 là Phó và sau này là Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đảng Lao Động VN. Nghỉ hưu vào cuối thập niên 1980.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

14. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh 13-04-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Khang Sinh, Lê Duẩn và Nguyễn Duy Trinh

13-04-1966

Mô tả: Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam, trong khi chỉ ra [những điểm] có vẻ ngờ vực từ phía Việt Nam; Việt Nam dựa vào sự hỗ trợ của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình: Các ông đã nói về sự thật cũng như đề cập đến sự công bằng. Vậy các ông vẫn còn sợ cái gì? Tại sao các ông lại sợ không làm vừa lòng Liên Xô, vậy còn Trung Quốc thì sao? Tôi muốn nói thẳng với các ông những điều hiện tại tôi cảm nhận: các đồng chí Việt Nam có những suy nghĩ khác về phương pháp giúp đỡ của chúng tôi, nhưng mà các ông chưa nói với chúng tôi.

Tôi nhớ đồng chí Mao phê bình chúng tôi, các viên chức Trung Quốc tham dự buổi nói chuyện giữa đồng chí Mao Trạch Đông và đồng chí Lê Duẩn tại Beidaihe (2) –  về việc “quá nhiệt tình” đối với đòi hỏi của Việt Nam. Bây giờ chúng tôi thấy đồng chí Mao nhìn xa trông rộng.

Lê Duẩn: Bây giờ, khi các ông nói lại điều này lần nữa, chúng tôi đã rõ. Tại thời điểm đó tôi không hiểu những gì đồng chí Mao nói bởi vì thông dịch quá tệ.

Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi hiểu rằng đồng chí Mao phê bình chúng tôi, đó là đồng chí Chu Ân Lai, tôi và những người khác. Dĩ nhiên, không có nghĩa là đồng chí Mao không làm hết sức mình để giúp đỡ Việt Nam. Với các ông đã quá rõ là chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông bởi vì nằm trong khả năng của chúng tôi.

Bây giờ, có vẻ như đồng chí Mao Trạch Đông nhìn xa trông rộng trong vấn đề này. Trong những năm gần đây, chúng tôi có kinh nghiệm trong các mối quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Sự thật là sự quá nhiệt tình của chúng tôi đã gây nghi ngờ cho các đồng chí Việt Nam? Hiện chúng tôi có 130.000 người đang ở nước các ông. Việc xây dựng [căn cứ] quân sự ở Đông Bắc cũng như xây dựng tuyến đường sắt là các dự án mà chúng tôi đề xuất, và hơn nữa, chúng tôi đã gửi hàng chục ngàn quân lính tới biên giới.

Chúng tôi cũng đã thảo luận khả năng chiến đấu chung bất cứ khi nào cuộc chiến bùng nổ. Các ông có nghi ngờ chúng tôi vì chúng tôi quá nhiệt tình hay không? Người Trung Quốc có muốn kiểm soát Việt Nam hay không? Chúng tôi muốn nói thẳng cho các ông biết rằng chúng tôi không hề có ý định đó. Ở đây, chúng tôi không cần bất kỳ cuộc đàm phán ngoại giao nào. Nếu chúng tôi mắc phải sai lầm đã làm cho các ông nghi ngờ, có nghĩa là đồng chí Mao thật sự nhìn xa trông rộng.

Hơn nữa, hiện nay nhiều người làm cho Trung Quốc bị mang tiếng: Khrushchev (*) là người theo chủ nghĩa xét lại, và Trung Quốc thì theo chủ nghĩa giáo điều và mạo hiểm.

Vì vậy, chúng tôi hy vọng trong vấn đề này, nếu các ông có bất kỳ vấn đề gì, làm ơn nói thẳng cho chúng tôi biết. Thái độ của chúng tôi cho đến nay và từ bây giờ sẽ là: các ông đang ở tiền tuyến còn chúng tôi đang ở hậu phương. Chúng tôi đáp ứng mọi yêu cầu của các ông trong khả năng của chúng tôi. Nhưng chúng ta không nên có quá nhiều nhiệt tình.

Việc xây dựng các đảo phía Đông Bắc đã hoàn thành. Hai bên đã thảo luận việc xây dựng dọc bờ biển sẽ do những người lính trong quân đội của chúng tôi thực hiện. Gần đây, đồng chí Văn Tiến Dũng (3) đề nghị sau khi hoàn thành việc xây dựng ở phía Đông Bắc, binh lính của chúng tôi sẽ giúp các ông xây dựng các địa điểm pháo binh ở vùng trung tâm đồng bằng. Chúng tôi vẫn chưa trả lời. Bây giờ tôi đặt một câu hỏi để các ông cân nhắc: các ông có cần những người lính trong quân đội chúng tôi làm điều đó hay không?

Chu Ân Lai: [Đề nghị về] việc xây dựng 45 địa điểm pháo binh gần các vị trí tên lửa của Liên Xô.
Đặng Tiểu Bình: Chúng tôi không biết liệu có tốt cho mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước hay không khi chúng tôi đã gửi 100.000 quân đến Việt Nam. Cá nhân, tôi nghĩ sẽ tốt hơn cho những người lính trong quân đội của chúng tôi trở về nhà ngay sau khi họ hoàn thành công việc. Về vấn đề này, chúng tôi không có bất kỳ ý định xấu nào, nhưng kết quả không phải là điều mà cả hai nước muốn.

Cách đây không lâu, có một chuyện đã xảy ra mà chúng tôi nghĩ không phải là ngẫu nhiên: Trên đường đến Hòn Gai để lấy than đá, một con tàu Trung Quốc đã không được phép cập cảng. Nó đã ở ngoài khơi 4 ngày. Yêu cầu để gọi vào bờ bị từ chối. Con tàu này đang thi hành nhiệm vụ theo một thỏa thuận thương mại, không phải là một tàu chiến.

Lê Duẩn: Chúng tôi không biết điều này.

Đặng Tiểu Bình: Bộ ngoại giao của chúng tôi đã gửi một thư báo cho các ông, nhưng chính phủ Việt Nam vẫn chưa trả lời. Những chuyện như thế này chưa từng xảy ra trong 10 năm qua.

Chu Ân Lai: Ngay cả tàu Trung Quốc yêu cầu được vào cảng Việt Nam trốn máy bay Mỹ, để được cung cấp nước ngọt và gọi điện thoại cũng bị từ chối. Một trong những cán bộ của chúng tôi, người phụ trách việc mua bán với nước ngoài, sau đó đã thảo luận với các nhà chức trách ở cảng nhiều lần, và sau đó con tàu mới có thể vào cảng của các ông. Các đồng chí phụ trách cảng Cẩm Phả thậm chí nói: đây là chủ quyền của chúng tôi, các ông chỉ có thể vào khi được phép. Khi đó, chúng tôi nói rằng tất cả các tàu và máy bay của Việt Nam có thể vào các cảng và sân bay của Trung Quốc bất cứ lúc nào nếu bị máy bay Mỹ truy đuổi.

Đặng Tiểu Bình: Bây giờ, tôi muốn nói về một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa hai đảng và hai nước. Trong số 100.000 lính Trung Quốc, những người hiện đang ở nước các ông, có thể có người nào đó làm sai. Và về phía các ông, cũng có thể có những người muốn sử dụng những sự cố này để gây chia rẽ giữa hai đảng và hai nước.

Chúng ta nên thẳng thắn nói về vấn đề này bây giờ bởi vì điều này không chỉ là mảng tối, mà còn gây thiệt hại cho quan hệ của chúng ta. Nó không chỉ là những vấn đề liên quan đến sự đánh giá của chúng tôi về sự trợ giúp của Liên Xô. Các ông có nghi ngờ Trung Quốc giúp Việt Nam vì mục đích riêng? Chúng tôi hy vọng rằng các ông có thể nói trực tiếp cho chúng tôi biết nếu các ông muốn chúng tôi giúp đỡ. Vấn đề sẽ được giải quyết dễ dàng. Chúng tôi sẽ rút quân ngay lập tức. Chúng tôi có rất nhiều điều cần làm ở Trung Quốc. Và những người lính trong quân đội đóng quân dọc theo biên giới sẽ được lệnh quay trở về đại lục (4).

Lê Duẩn: Tôi xin trình bày một số ý. Khó khăn là sự phán đoán của chúng ta khác nhau. Theo kinh nghiệm trong Đảng của chúng tôi cho thấy, cần có thời gian để làm cho các ý kiến khác nhau đi đến sự đồng thuận.

Chúng ta không nói chuyện công khai về các ý kiến khác nhau giữa chúng ta. Chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Liên Xô cho Việt Nam một phần là chân thành, cho nên chúng tôi không hỏi liệu Liên Xô sẽ bán đứng Việt Nam, cũng như chúng tôi không nói Liên Xô vu cáo Trung Quốc trong vấn đề vận chuyển viện trợ của Liên Xô. Bởi vì chúng tôi biết rằng nếu chúng tôi nói điều này, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn. Đó là do hoàn cảnh của chúng tôi.

Vấn đề chính là đánh giá Liên Xô như thế nào. Các ông đang nói Liên Xô đang bán đứng Việt Nam, nhưng chúng tôi không nghĩ như vậy. Tất cả các vấn đề khác bắt nguồn từ sự phán đoán này. Liên quan đến sự trợ giúp của Trung Quốc cho Việt Nam, chúng tôi hiểu rất rõ và chúng tôi không có bất kỳ mối quan ngại về điều đó. Bây giờ đang có hơn 100.000 quân lính của quân đội Trung Quốc tại Việt Nam, nhưng chúng tôi nghĩ rằng bất cứ khi nào có chuyện nghiêm trọng xảy ra, có thể cần hơn 500.000 lính. Đây là sự hỗ trợ từ một đất nước anh em.

Chúng tôi nghĩ rằng là một đất nước xã hội chủ nghĩa anh em, các ông có thể làm điều đó, các ông có thể giúp chúng tôi như thế. Tôi đã có một cuộc tranh cãi với Khrushchev về một vấn đề tương tự. Khrushchev nói rằng người Việt Nam ủng hộ Trung Quốc sở hữu bom nguyên tử để Trung Quốc có thể tấn công Liên Xô. Tôi nói rằng điều đó không đúng sự thật, Trung Quốc sẽ không bao giờ tấn công Liên Xô.

Hôm nay, tôi nói rằng sự đánh giá của một đất nước xã hội chủ nghĩa đối với một đất nước xã hội chủ nghĩa khác phải dựa trên chủ nghĩa quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp của chúng tôi, [nếu] cuộc cách mạng Trung Quốc không thành công, thì cách mạng Việt Nam khó có thể thành công. Chúng tôi cần sự hỗ trợ từ tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng chúng tôi chắc rằng sự hỗ trợ của Trung Quốc là trực tiếp và rộng rãi nhất.

Như các ông đã nói, mỗi quốc gia nên tự bảo vệ mình nhưng họ cũng nên dựa vào sự trợ giúp quốc tế. Vì vậy, chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng sự nhiệt tình của các ông có thể gây nguy hại trong bất kỳ tình huống nào. Ngược lại, các ông càng nhiệt tình sẽ càng có lợi cho chúng tôi. Sự giúp đỡ nhiệt tình của các ông có thể giúp chúng tôi đỡ hy sinh 2-3 triệu người. Đây là một vấn đề quan trọng. Chúng tôi đánh giá cao sự nhiệt tình của các ông. Một đất nước nhỏ như Việt Nam rất cần sự trợ giúp quốc tế. Sự trợ giúp này tiết kiệm cho chúng tôi rất nhiều xương máu.

Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tồn tại không chỉ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ mà còn trong tương lai lâu dài ở phía trước. Ngay cả khi Trung Quốc không giúp chúng tôi nhiều, chúng tôi vẫn muốn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc, vì điều này bảo đảm cho sự sống còn của đất nước chúng tôi.

Đối với Liên Xô, chúng tôi vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với họ. Nhưng chúng tôi cũng chỉ trích Liên Xô nếu họ tiếp nhận những lời chỉ trích của chúng tôi.

Trong quan hệ giữa hai đảng chúng ta, chúng tôi cảm thấy tốt hơn khi có nhiều sự đồng thuận và chúng tôi lo ngại nhiều hơn khi có ít sự đồng thuận. Chúng tôi quan tâm không chỉ về sự trợ giúp của các ông mà còn quan tâm đến một vấn đề quan trọng hơn, đó là quan hệ giữa hai nước. Ủy ban Thường vụ Trung ương Đảng của chúng tôi luôn luôn nghĩ đến việc làm thế nào để tăng cường quan hệ hữu nghị giữa hai đảng và hai nước.

Về sự cố tàu Trung Quốc gặp khó khăn khi vào cảng Việt Nam, tôi không biết vấn đề này. Chúng tôi không quan tâm đến 130.000 quân lính của các ông ở đất nước chúng tôi, thì tại sao chúng tôi lại quan tâm đến một con tàu? Nếu đó là sai lầm của người phụ trách cảng, người này cũng có thể là một viên chức tiêu cực cố gây kích động. Hoặc sai lầm của người này có thể được những kẻ khiêu khích khác sử dụng. Đó là một sai lầm cá nhân. Điều chúng tôi nghĩ về Trung Quốc không bao giờ thay đổi.

Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi cần phải có một nghĩa vụ đối với các ông và đối với phong trào Cộng sản quốc tế. Chúng tôi tiếp tục đấu tranh chống Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng. Chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản. Vì lợi ích của phong trào cộng sản quốc tế và tinh thần quốc tế, chẳng có vấn đề gì nếu quá trình phát triển xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Việt Nam kéo dài trong 30-40 năm.

Tôi muốn nói thêm một số ý kiến riêng của tôi. Hiện nay, có một phong trào cải cách tương đối mạnh mẽ trên thế giới, không chỉ ở Tây Âu mà còn ở Đông Âu và Liên Xô. Nhiều quốc gia áp dụng một trong hai con đường: chủ nghĩa cải cách hay chủ nghĩa phát xít, là những nước bị giai cấp tư sản cai trị. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nên có một số nước cách mạng như Trung Quốc để đối phó với các nước cải cách, chỉ trích họ, và đồng thời hợp tác với họ, để đưa họ vào con đường cách mạng.

Họ là những nhà cải cách, do đó một mặt, họ phản cách mạng, đó là lý do tại sao chúng ta nên phê bình họ. Nhưng mặt khác, họ chống đế quốc, đó là lý do tại sao chúng ta có thể hợp tác với họ. Trong lịch sử cách mạng Trung Quốc, các ông đã làm điều tương tự. Đồng chí Mao Trạch Đông đã cùng với Tưởng Giới Thạch thành lập Mặt trận Thống nhất chống Nhật.

Vì vậy, ý kiến cá nhân tôi là, Trung Quốc, trong khi giữ nguyên các biểu ngữ cách mạng, nên hợp tác với các quốc gia cải cách để giúp họ thực hiện cuộc cách mạng. Đây là phán đoán cũng như chính sách của chúng tôi. Điều này không nhất thiết đúng, nhưng đó là cam kết chân thành của chúng tôi với cách mạng. Dĩ nhiên, vấn đề này rất phức tạp. Như các ông đã nói rằng, ngay cả trong một đảng cũng có ba thành phần: hữu khuynh, trung dung và tả khuynh, nên tình hình nằm trong một phong trào cộng sản lớn.
Sự khác biệt trong phán đoán mang lại những khó khăn, cần có thời gian để giải quyết. Cần có thêm nhiều mối liên hệ để đạt được sự đồng thuận về nhận thức.

Mối quan tâm của chúng tôi không phải là Trung Quốc đang cố gắng kiểm soát Việt Nam. Nếu Trung Quốc không phải là một đất nước xã hội chủ nghĩa thì chúng tôi thực sự quan ngại. [Chúng tôi tin rằng] các đồng chí Trung Quốc đến để giúp chúng tôi là vì chủ nghĩa quốc tế vô sản.

……….

Đặng Tiểu Bình: Câu hỏi về “sự nhiệt tình”, làm ơn hiểu thêm yêu cầu của Mao Chủ tịch muốn nói đến thực tế mối quan hệ giữa hai nước và hai đảng không đơn giản. Mối quan hệ giữa các đồng chí cũng không đơn giản.

Ghi chú:

1. Khang Sinh: lúc đó là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản và là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong giai đoạn đầu Cách mạng Văn hóa, ông ta sớm trở thành Ủy viên Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc và là cố vấn cho “Nhóm Cách mạng Văn hóa,” cơ quan hàng đầu trong cuộc Cách mạng Văn hóa.

2. Beidaihe: là một nơi tham quan ven biển phía Đông Bắc của Bắc Kinh, nơi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thường xuyên nghỉ mát và có các cuộc họp quan trọng trong mùa hè.

3. Văn Tiến Dũng (1917 -) (**) là nhân vật lãnh đạo thứ hai trong quân đội Bắc Việt, sau tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1953-1978, chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1974-1975. Ông còn là ủy viên Bộ chính trị từ năm 1972-86, Phó Bộ trưởng cho đến khi trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam từ năm 1978-1980. Nghỉ hưu năm 1986.

4. Trong một cuộc trò chuyện riêng cùng ngày, Chu Ân Lai nói: “Sau khi Kosygin (***) đến thăm Việt Nam và hứa sẽ giúp đỡ Việt Nam, chúng tôi có những bất đồng mới với Liên Xô về yêu cầu của họ sử dụng hai sân bay của chúng tôi và đề nghị của họ vận chuyển vũ khí tới Việt Nam. Các ông ca ngợi Liên Xô giúp viện trợ rất nhiều cho các ông thì được. Nhưng mà các ông đề cập điều đó cùng với viện trợ của Trung Quốc là một sự xúc phạm đến chúng tôi“. Đặng Tiểu Bình nói thêm, “Vì vậy, từ bây giờ, các ông không nên nhắc đến sự viện trợ của Trung Quốc chung với sự viện trợ của Liên Xô“.

———-

Ghi chú của người dịch:

(*) Khrushchev: tức Nikita Sergeyevich Khrushchyov, là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, kế vị Stalin sau khi Stalin mất năm 1953. Khrushchev cũng giữ chức thủ tướng cùng với chức TBT từ năm 1958-1964. Đến năm 1964 Khrushchev bị chính những người đồng chí của mình hạ bệ, kể từ đó cho đến những năm còn lại của cuộc đời, Khrushchev luôn bị cơ quan tình báo KGB giám sát chặt chẽ.

(**) Bài nói chuyện này có từ năm 1966, lúc đó Văn Tiến Dũng còn sống, do đó người ghi chú bản chính không ghi năm mất của Văn Tiến Dũng là 2002.

(***) Kosygin: tức Aleksei Nikolayevich Kosygin là Thủ tướng Liên Xô từ năm 1964-1980, dưới thời Tổng bí thư Leonid Brezhnev.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

13. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn 23-03-1966

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Lê Duẩn

23-03-1966

Mô tả: Chu Ân Lai cảnh báo Lê Duẩn, chống lại sự giúp đỡ của Liên Xô.

Chu Ân Lai: Hiện nay, người dân Việt Nam đang đi đầu trong cuộc đấu tranh chống Mỹ. Máu của nhân dân Việt Nam đã đổ ra cho cách mạng Việt Nam cũng như cho công cuộc cách mạng thế giới. Việt Nam là nước đi đầu, đại diện cho công cuộc cách mạng của nhân dân trên thế giới.


Chu Ân Lai: Đã có một số thay đổi đáng kể từ năm ngoái khi miền Bắc Việt Nam bắt đầu các cuộc đàm phán với Mỹ. Chúng tôi nên nói thẳng cho ông biết rằng những thay đổi bắt đầu từ khi lãnh đạo mới của Xô Viết lên nắm quyền, đặc biệt là sau chuyến thăm của Kosygin tới Vietnam (2). Sau khi Kosygin từ Hà Nội trở về, Liên Xô sử dụng viện trợ của họ cho Việt Nam để lấy lòng tin của các ông một cách gian dối. Mục đích của họ là làm cho mối quan hệ Việt – Trung gặp trở ngại, để chia rẽ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm tiếp tục kiểm soát Việt Nam để cải thiện mối quan hệ của họ với Mỹ và cản trở cuộc đấu tranh và công cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Chu Ân Lai: Có nhiều tranh cãi liên quan đến các yêu cầu của Việt Nam về các phi công tình nguyện viên từ các nước xã hội chủ nghĩa. Các ông sẽ gặp rắc rối. Liên Xô có thể tiết lộ bí mật cho kẻ thù. Do đó chúng tôi nghĩ rằng các hoạt động chung giữa những người tình nguyện là không thể được. Hơn nữa, ngay cả khi những người tình nguyện này chịu nghe theo lệnh của các ông, những người Xô-viết sẽ luôn có ý kiến ​​trái ngược nhau. Cái lợi mà các ông nhận được từ các phi công Liên Xô không đủ đền bù thiệt hại do họ gây ra.

Chu Ân Lai: Liên quan đến việc thành lập mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, chúng tôi muốn các mối liên hệ song phương hoặc đa phương. Điều đó tốt bởi vì chúng ta có thể thảo luận chi tiết. Chúng tôi cho rằng việc phản đối Mỹ nhất thiết phải đi đôi với việc chống chủ nghĩa xét lại. Hai điều này không thể tách rời nhau. Nếu không, không thể giáo dục mọi người.

Ghi chú:

1. Phái đoàn Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, viếng thăm Trung Quốc từ ngày 22 đến ngày 25 tháng 3 năm 1966.

2. Thủ tướng Liên xô, Aleksei Kosygin, viếng thăm Việt Nam từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 2 năm 1965.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

12. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị 19-12-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị

19-12-1965

Mô tả: Chu Ân Lai đề nghị bốn điểm cần thiết để nâng cao lợi thế của Việt Nam và Trung Quốc trong các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ.

Chu Ân Lai: 1. Chúng tôi không chống lại ý kiến khi chiến tranh đạt đến thời điểm nhất định, cần có các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, vấn đề là thời gian chưa chín muồi.

2. Chúng tôi đồng ý rằng, đấu tranh quân sự hiện nay là vấn đề chính và nên kết hợp với đấu tranh chính trị. Chúng tôi cũng đồng ý rằng trong đấu tranh chính trị, chúng ta nên đưa ra các điều kiện cần thiết. Nhưng các điều kiện của chúng ta nên xác thực và từ một lập trường cao. Chúng ta không nên đưa ra điều kiện, gây khó khăn cho chính chúng ta, cho sự đoàn kết nội bộ của chúng ta và cho cuộc đấu tranh. Có nghĩa là chúng ta không nên đề nghị chấm dứt vô điều kiện việc đánh bom miền Bắc và chấm dứt vi phạm an ninh và chủ quyền miền Bắc Việt Nam làm điều kiện.

Sách “Sự thật về quan hệ VN-TQ trong 30 năm qua“, do NXB Sự Thật phát hành năm 1979, có nhắc đến việc TQ ngăn cản VN thương lượng với Mỹ.

3. Chúng tôi biết rằng miền Nam và miền Bắc đoàn kết một lòng và chúng tôi tin rằng Đảng Lao Động Việt Nam đang dẫn dắt cả nước Việt Nam trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhưng khi các ông ra điều kiện mới, người Việt cũng như người dân thế giới có thể nghĩ rằng các ông giải quyết vấn đề của miền Bắc và miền Nam theo cách riêng. Vì vậy, họ không thể hiểu được.

4. Các đồng chí Việt Nam nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận các điều kiện mới. Rất nguy hiểm [vì] suy nghĩ như thế. Tình hình sẽ ra sao nếu họ chấp nhận? Nếu họ chấp nhận, chúng ta sẽ ở vị trí thụ động, và điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến công cuộc đấu tranh và tình đoàn kết của chúng ta. Nếu chúng ta đưa ra các điều kiện khó thì họ sẽ không chấp nhận. Nhưng vì điều kiện của các ông không khó, họ có thể chấp nhận. Chúng tôi thành thật hy vọng đảng và chính phủ Việt Nam sẽ suy nghĩ thêm về vấn đề này. Nếu không, các ông có thể rơi vào cái bẫy của đế quốc Mỹ, của những người theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và chư  hầu (1).

Trần Nghị: Sẽ rất tốt nếu các ông không đưa ra điều kiện ngừng ném bom. Bốn điểm là đủ. Chúng tôi nghĩ rằng điều kiện ngưng ném bom miền Bắc Việt Nam sẽ làm cho vấn đề phức tạp hơn. Đây là điểm chúng tôi không đồng ý. Chúng tôi đề nghị các ông nên cân nhắc thêm về vấn đề này.

Ghi chú:
1. Ngày 20 tháng 12, 1965, Chu Ân Lai nói với Trần Văn Thanh, Trưởng đoàn đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (NLF) ở Bắc Kinh: “Đề nghị ‘đàm phán vô điều kiện’ của Mỹ, trên thực tế là có điều kiện, đó là, người dân ở miền Nam Việt Nam nên bỏ vũ khí xuống và ngưng các hoạt động kháng chiến, và người dân ở miền Bắc Việt Nam nên từ bỏ việc hỗ trợ cho đồng bào miền Nam. Hoa Kỳ, hiện bị sa vào vũng lầy chiến tranh Việt Nam, đang nuôi một âm mưu mở rộng chiến tranh, và có thể họ sẽ đưa cuộc chiến tranh xâm lược vào tất cả các nước Đông Dương, thậm chí vào Trung Quốc. Người dân Trung Quốc nên chuẩn bị. Nếu Mỹ khăng khăng ngoan cố đi theo con đường mở rộng chiến tranh và do đó đụng độ với người dân Trung Quốc, dân Trung Quốc sẽ đối mặt và chấp nhận nó, và sẽ chiến đấu chống lại cuộc chiến cho đến khi kết thúc”.

Ghi chú của người dịch: Bài này mặc dù không ghi phía VN trong cuộc thảo luận, mà chỉ ghi thảo luận giữa Chu Ân Lai và Trần Nghị, nhưng đọc nội dung thảo luận, có người của phía VN trong đó.

Ảnh chụp trang sách “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh tị nạn, bài học lịch sử”, tập I, của GS Lê Xuân Khoa.

Sách “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh tị nạn, bài học lịch sử”, của GS Lê Xuân Khoa, tập I, trang 352, có đoạn:

Ngày 16 tháng Giêng, Đặc sứ Jerzy Michalowski từ Hà Nội trở về Ba Lan than phiền với Đại sứ Anh về ‘mấy anh Trung Quốc trời đánh đó’, ngụ ý rằng, nếu không bị Trung Quốc can thiệp thì cuộc hòa đàm đã có thể bắt đầu. McNamara dẫn chứng một tài liệu Trung Quốc cho thấy rằng chỉ mấy ngày trước khi Hoa Kỳ ngưng oanh tac, Chu Ân Lai khuyến cáo Nguyễn Duy Trinh là không nên đòi Mỹ ngưng ném bom vô điều kiện vì nếu Mỹ chấp nhận thì ‘sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc chiến đấu và tình đoàn kết của chúng ta’.

Họ Chu nhắc nhở Đảng Cộng sản Việt Nam phải đòi điều kiện thật khó để Mỹ không thể chấp nhận, ‘nếu không, các đồng chí sẽ rơi vào bẫy của đế quốc Mỹ, của bọn xét lại hiện đại (tức Liên Xô) và chư hầu’. Ngày hôm sau, Chu Ân Lai cũng căn dặn Trần Văn Thanh, Trưởng đoàn đại diện MTGPMN ở Bắc Kinh, về những lỗi lầm tai hại nếu hòa đàm với Mỹ. Dù có những bằng chứng như vậy, McNamara vẫn không chắc là Trung Quốc phá đám mà chỉ quả quyết rằng ‘Washington đã hoàn toàn hiểu sai những quan hệ phức tạp và khó khăn của Hà Nội đối với Trung Quốc’.”

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Phản hồi đã bị khóa

11. Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh 18-12-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh

18-12-1965

Mô tả: Chu Ân Lai và Trần Nghị đưa ra chiến thuật đàm phán với Hoa Kỳ.

Chu Ân Lai: Tôi không biết lập trường của Hoa Kỳ về các vấn đề khác. Nhưng đối với đàm phán về vấn đề Việt Nam hay Trung Quốc, thậm chí họ sẽ đến Hà Nội hoặc Bắc Kinh nếu chúng ta đề nghị [điều đó]. Tương tự như vậy, nếu chúng ta chỉ gợi ý chúng ta muốn nói chuyện với Hoa Kỳ về vấn đề Đài Loan, họ sẽ đến ngay lập tức.

Trần Nghị: Chúng ta có thể gợi ý rằng chúng ta có thể đàm phán về vấn đề miền Nam Việt Nam và có thể đồng ý sự hiện diện của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Chu Ân Lai: Không, không phải như thế. Chúng ta có thể thoả thuận đặt vấn đề miền Nam qua một bên, và họ sẽ đến ngay lập tức. Chỉ cần ông đồng ý liên lạc, họ sẽ đến. Nếu các điều kiện chúng ta đề xuất vì lý do nào đó ít thuận lợi cho chúng ta, họ sẽ đến nhanh hơn (1).

Ghi chú:

1. Ngày 28 tháng 12, Hoa Kỳ phát động cái gọi là một “cuộc tấn công hòa bình“, bị Bộ Ngoại giao Bắc Việt tố cáo như là một sự lừa dối có quy mô lớn.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

10. Thảo luận giữa Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh 17-12-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Trần Nghị và Nguyễn Duy Trinh

17-12-1965

Mô tả: Trần Nghị ủng hộ việc sử dụng đàm phán song song với chiến đấu.

Trần Nghị: Chúng tôi hoàn toàn hiểu rằng các ông quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng và để vạch trần bộ mặt thật của kẻ thù. Cá nhân tôi nghĩ rằng chính sách này là đúng đắn và tôi đồng ý với các ông.

Trong lịch sử của cuộc cách mạng Trung Quốc, cũng như trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, chiến đấu trong khi đàm phán đã diễn ra trong một giai đoạn nào đó. Chúng ta chiến đấu chống kẻ thù và khi chúng ta đạt được các giai đoạn nhất định, chúng ta bắt đầu đàm phán. Mục đích là để vạch mặt kẻ thù. Đúng vậy. Cho đến giờ, chúng tôi cho rằng cuộc chiến Việt Nam cuối cùng sẽ giành chiến thắng và một kết cục hòa bình. Hai đảng chúng ta thống nhất rằng, không có dấu hiệu nào cho thấy Hoa Kỳ muốn có hòa bình. Họ chỉ muốn mở các cuộc đàm phán để đánh lừa dư luận. Chúng ta cũng mở cuộc đấu tranh chính trị để vạch mặt họ. Nếu họ muốn đàm phán, lúc đó chúng ta sẽ nói chuyện. Đây là ý kiến ​​cá nhân của tôi.

Ghi chú:

1. Nguyễn Duy Trinh (1910-1985), là lãnh đạo Đảng CS Đông Dương/ Đảng Lao Động VN liên khu 5 (khu vực phía Nam miền Trung, Việt Nam) thời Chiến tranh Đông Dương. Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Bắc Việt cho đến năm 1965, Bộ trưởng Ngoại giao và Ủy viên Bộ Chính trị từ năm 1965-1979 (có nguồn ghi đến năm 1982).

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

9. Mao Trạch Đông nói chuyện với đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 20-10-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Mao Trạch Đông nói chuyện với đoàn đại biểu của Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH

20-10-1965

Các ông đang đánh một trận đánh tuyệt vời. Cả hai miền Nam – Bắc đang chiến đấu anh dũng. Người dân trên toàn thế giới, gồm những người đã thức tỉnh và những người chưa thức tỉnh, đang hỗ trợ các ông. Thế giới hiện nay không phải là một thế giới hòa bình. Không phải người Việt Nam đang xâm lược Hoa Kỳ, cũng không phải người Trung Quốc đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống lại Mỹ.

Cách nay không lâu, báo Nhật, Asahi Shimbun và Yomiuri Shimbun đã đăng tải một số tin tức của phóng viên Nhật từ miền Nam, Việt Nam. Báo chí Mỹ mô tả những bài báo này không công bằng, nên gây ra một cuộc tranh luận. Tôi không đề cập đến báo Cộng sản Nhật Bản, tờ Akahata. Tôi đang nói về những tờ báo tư sản Nhật. Điều này cho thấy phương tiện truyền thông không ủng hộ Hoa Kỳ. Gần đây, các cuộc biểu tình của người Mỹ chống lại chính sách Việt Nam của chính phủ Mỹ đã phát triển. Lúc này, chủ yếu là trí thức Mỹ đang gây rắc rối.

Nhưng tất cả những điều này là các điều kiện bên ngoài. Thực ra, trận đánh mà các ông đang đánh sẽ giải quyết vấn đề. Dĩ nhiên, các ông có thể tiến hành đàm phán. Trong quá khứ, các ông đã tổ chức các cuộc đàm phán ở Geneva. Nhưng Mỹ đã không tôn trọng lời hứa sau các cuộc đàm phán.

Chúng tôi đã có các cuộc đàm phán với cả Tưởng Giới Thạch và Hoa Kỳ. Ông Rusk (*) nói rằng Hoa Kỳ đàm phán với Trung Quốc nhiều nhất. Nhưng chúng tôi bám sát vào một điểm: Hoa Kỳ phải rút khỏi Đài Loan, và sau đó tất cả các vấn đề khác có thể giải quyết dễ dàng. Hoa Kỳ không chấp nhận điểm này. Trung Quốc và Hoa Kỳ đã điều đình trong mười năm và chúng tôi vẫn lặp lại những lời nói cũ. Chúng tôi sẽ không từ bỏ quan điểm đó. Một lần, Hoa Kỳ muốn trao đổi phái đoàn báo chí với chúng tôi. Họ lập luận rằng, khi chúng ta bắt đầu từ các vấn đề nhỏ, chúng ta có thể giải quyết những vấn đề lớn tốt hơn sau này. Chúng tôi lập luận rằng chỉ có cách bắt đầu bằng các vấn đề quan trọng, các vấn đề nhỏ có thể giải quyết dễ dàng.

Các ông đã rút các lực lượng vũ trang ra khỏi miền Nam theo quy định của Hiệp định Geneva. Kết quả là, kẻ thù bắt đầu giết người ở miền Nam, và các ông đã trở lại đấu tranh vũ trang. Lúc đầu các ông ưu tiên đấu tranh chính trị, bổ sung bằng đấu tranh vũ trang. Chúng tôi hỗ trợ các ông. Trong giai đoạn hai, khi các ông tiến hành đấu tranh chính trị song song với đấu tranh vũ trang, một lần nữa chúng tôi hỗ trợ các ông. Trong giai đoạn ba, khi các ông ưu tiên đấu tranh vũ trang, bổ sung bằng đấu tranh chính trị, chúng tôi vẫn hỗ trợ các ông. Quan điểm của tôi, kẻ thù đang dần dần leo thang chiến tranh, các ông cũng vậy.

Trong 2-3 năm kế tiếp, các ông có thể gặp khó khăn. Nhưng cũng khó có thể nói, có thể không như thế. Chúng ta cần cân nhắc khả năng này. Miễn là các ông chuẩn bị mọi thứ, ngay cả khi tình huống khó khăn nhất xảy ra, các ông sẽ không thấy nó đi quá xa những cân nhắc ban đầu của các ông. Lập luận như thế có tốt không? Do đó, có hai điểm quan trọng: thứ nhất là cố gắng để có được tình hình thuận lợi nhất, và thứ hai là chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất.

Các ông có thể tham khảo kinh nghiệm của Angiêri. Có thể trong năm thứ tư hoặc thứ năm trong cuộc chiến của họ, một số nhà lãnh đạo Angiêri bắt đầu lo lắng. Lúc đó, Thủ tướng Arbas của họ đến nói chuyện với chúng tôi. Họ nói rằng, dân số Angêri mười triệu người, rất ít. Một triệu người đã chết. Trong khi kẻ thù có một đội quân 800.000 lính, các lực lượng thường xuyên của họ (Angiêri) chỉ khoảng 30.000 đến 40.000 lính. Thêm các du kích quân, tổng cộng lực lượng của họ chưa tới 100.000 quân.

Lúc đó, tôi nói với họ rằng kẻ thù sắp bị đánh bại và rằng dân số của họ sẽ tăng lên. Sau đó, sau các cuộc đàm phán, Pháp bắt đầu rút quân. Bây giờ họ đã hoàn thành việc rút quân, chỉ để lại một vài căn cứ hải quân nhỏ. Cách mạng Angiêri là một cuộc cách mạng dân chủ quốc gia do giai cấp tư sản lãnh đạo. Hai đảng của chúng ta là cộng sản. Về việc huy động quần chúng và thực hiện chiến tranh nhân dân, hai đảng chúng ta khác với Algêri.

Tôi đã nói chuyện về chiến tranh nhân dân trong bài viết của tôi. Một số tuyên bố đề cập đến các vấn đề cụ thể hồi 10-20 năm trước. Bây giờ, các ông đương đầu với một số điều kiện mới. Nhiều phương pháp của các ông khác với phương pháp của chúng tôi trong quá khứ. Chúng ta nên có sự khác biệt. Dần dần chúng ta cũng được học về chiến tranh. Lúc đầu chúng tôi bị thua. Chúng tôi đã không thực hiện một cách trôi chảy như các ông thực hiện.

Tôi không chú ý đến những vấn đề mà các ông đã đàm phán với Hoa Kỳ. Tôi chỉ chú ý đến việc các ông đánh đuổi Mỹ như thế nào. Các ông có thể đàm phán ở một thời điểm nhất định, nhưng các ông không nên hạ mình. Các ông nên lên giọng hơn một chút. Hãy chuẩn bị, đối phương có thể đánh lừa các ông.

Chúng tôi sẽ hỗ trợ các ông cho đến thắng lợi cuối cùng. Sự tự tin trong chiến thắng đến từ đấu tranh mà các ông đã hoàn thành và từ cuộc đấu tranh các ông đã thực hiện. Ví dụ, một kinh nghiệm chúng tôi có được rằng người Mỹ có thể bị đánh. Chúng tôi có được kinh nghiệm này chỉ sau khi đánh nhau với người Mỹ. Người Mỹ có thể bị đánh và có thể bị bại. Chúng ta phải phá hủy huyền thoại rằng người Mỹ không thể bị đánh và không thể bị bại trận. Hai đảng chúng ta có nhiều kinh nghiệm. Cả hai nước chúng ta đã chiến đấu với Nhật Bản. Các ông cũng đã chiến đấu chống Pháp. Hiện các ông đang chiến đấu chống Mỹ.

Người Mỹ đã huấn luyện và dạy người Việt Nam. Họ đã dạy chúng ta và người dân trên toàn thế giới. Theo tôi, có người Mỹ cũng tốt. Một nhà giáo dục như thế thì không thể thiếu. Để đánh bại Mỹ, chúng ta phải học hỏi từ những người Mỹ. Các tác phẩm của Marx không dạy chúng ta chiến đấu chống Mỹ như thế nào. Sách vở của Lenin cũng không viết về cách chiến đấu chống Mỹ. Chủ yếu chúng ta học từ những người Mỹ.

Nhân dân Trung Quốc và nhân dân trên toàn thế giới hỗ trợ các ông. Càng có nhiều bạn, thì càng tốt hơn cho các ông.

Nguồn: Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung tâm Nghiên cứu Tài liệu Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Zedong Waijiao wenxuan – Tuyển tập các tác phẩm ngoại giao của Mao Trạch Đông (Beijing: Central Documentary Press and World Knowledge Press 1994), trang 570 -573.

Đoàn đại biểu Việt Nam do Phạm Văn Đồng dẫn đầu.

Ghi chú của người dịch:

(*) Rusk: tức David Dean Rusk, Ngoại trưởng Mỹ nhiệm kỳ 1961-1969, dưới thời tổng thống Kennedy và Johnson.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

8. Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng 09-10-1965

Posted by adminbasam on 30/04/2011

CWIHP

Thảo luận giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng

09-10-1965

Mô tả: Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng rằng [ông ta] không hỗ trợ ý kiến về các tình nguyện viên Liên Xô đến Việt Nam và thảo luận về sự tham gia của Campuchia trong chiến tranh.

Chu Ân Lai: … Trong thời kỳ Khrushchev nắm quyền, Liên Xô không thể chia rẽ chúng ta vì Khrushchev đã không giúp các ông nhiều. Bây giờ Liên Xô đang giúp các ông. Nhưng sự giúp đỡ của họ không phải thật lòng. Mỹ rất thích điều này. Tôi muốn nói cho ông biết ý kiến ​​của tôi. Tốt hơn là không cần sự trợ giúp của Liên Xô. Đây có thể là ý kiến của những người cánh tả quá khích. Tuy nhiên, đó là ý của tôi, không phải của Trung ương ĐCS Trung Quốc.

… Bây giờ, vấn đề các tình nguyện viên quốc tế đến Việt Nam sẽ rất phức tạp. Nhưng như ông đã đề cập đến vấn đề này, chúng ta sẽ thảo luận và lúc đó ông có thể đưa ra quyết định của mình.

Như ông hỏi ý kiến ​​của tôi, tôi muốn nói với ông một điều sau đây: Tôi không ủng hộ ý kiến về các tình nguyện viên của Liên Xô đến Việt Nam, tôi cũng không [ủng hộ] sự viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Tôi nghĩ không có viện trợ thì tốt hơn. Đó là ý kiến ​​của riêng tôi, không phải ý kiến ​​của Trung ương Đảng. Đồng chí Bành Chân và La Thụy Khanh (2) có mặt ở đây hôm nay cũng đồng ý với tôi.

[Đối với] Việt Nam, chúng tôi luôn muốn giúp đỡ. Trong tâm trí của chúng tôi, suy nghĩ của chúng tôi, chúng tôi không bao giờ nghĩ đến việc bán đứng Việt Nam. Nhưng chúng tôi luôn sợ những người theo chủ nghĩa xét lại đứng giữa chúng ta (3).

Chu Ân Lai: … chiến tranh đã mở rộng ra ở miền Bắc Việt Nam. Do đó, Lào và Campuchia không thể không tham gia. Sihanouk hiểu điều đó. Khi chúng tôi đang đi tham quan ở Dương Tử, tôi hỏi ông ấy, làm thế nào đối phó với tình trạng này và liệu ông ấy có cần vũ khí hay không. Hiện nay, Trung Quốc đã cung cấp cho Campuchia 28.000 khẩu súng. Sihanouk nói với tôi rằng số lượng này đủ để trang bị cho các lực lượng thường xuyên và cấp tỉnh của Campuchia và rằng tất cả vũ khí của Mỹ đã được thay thế.

Tôi cũng hỏi ông ta xem liệu ông ta có cần thêm vũ khí không. Sihanouk trả lời rằng, bởi vì ông ấy không có đủ khả năng để gia tăng số quân, các loại vũ khí này đã đủ. Ông ấy chỉ yêu cầu máy bay chống pháo và vũ khí chống tăng.

Đó là những gì ông ấy trả lời câu hỏi của tôi về vũ khí. Ông ấy cũng nói thêm rằng nếu chiến tranh bùng nổ, ông ấy sẽ rời khỏi Phnom Penh, đến các vùng nông thôn, nơi ông ấy đã xây dựng các căn cứ. Năm ngoái, Chủ tịch Lưu [Thiếu Kỳ] nói với Sihanouk: “đánh nhau quy mô lớn ở nước ông không bằng [đánh nhau] ở biên giới của chúng tôi“. Nếu Hoa Kỳ tấn công dọc biên giới Trung Quốc, Trung Quốc sẽ đưa các lực lượng tới đó, do vậy, làm giảm gánh nặng cho Campuchia. Bây giờ Sihanouk đã hiểu và chuẩn bị để về nông thôn và để lấy lại các vùng thành thị khi có điều kiện thuận lợi. Đó là những gì ông ấy nghĩ. Tuy nhiên, liệu các cán bộ của ông ta có thể thực hiện chính sách này hay không, lại là chuyện khác.

Những thay đổi về tình hình này cho thấy rằng, Sihanouk đã chuẩn bị để hành động trong trường hợp có một cuộc xâm lược của Mỹ. Hiện nay, Sihanouk hỗ trợ mạnh mẽ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bởi vì ông ta biết rằng các ông càng chiến đấu chống Mỹ thì dân Campuchia càng bớt gặp khó khăn hơn. Hơn nữa, Sihanouk hiểu rằng ông ta cần Trung Quốc. Nhưng cùng lúc, Sihanouk không muốn đứng về phía bên nào, bởi vì ông ta sợ mất sự hỗ trợ của Pháp, làm mất vị trí trung lập của ông ta. Ít ra, những gì ông ta nói, cho thấy, ông ta có vẻ suy nghĩ và hiểu được tính logic của chiến tranh: nếu Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh tới Bắc Việt, thì Hoa Kỳ sẽ mở rộng khắp nơi Đông Dương (4).

Ghi chú:

1. Phạm Văn Đồng nói chuyện với Chu Ân Lai tại Bắc Kinh trước khi đi thăm Moscow. Đây là cuộc họp thứ ba của phái đoàn Việt Nam tại Bắc Kinh.

2. La Thụy Khanh là Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng và là Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho đến khi bị thanh trừng vào tháng 12 năm 1965.

3. Trong cuộc hội đàm tổ chức tại Quảng Đông, ngày 8 tháng 11 năm 1965, Chu Ân Lai nói với Hồ Chí Minh rằng, “Mục đích của Liên Xô viện trợ cho Việt Nam là: (a) để cô lập Trung Quốc (b) cải thiện quan hệ Xô-Mỹ, (c) tiến hành các hoạt động lật đổ cũng như hành vi phá hoại, gây khó khăn cho Trung Quốc, và cũng có thể cho Việt Nam”.

4. Buổi nói chuyện này được xem như mối quan hệ tam giác giữa ĐCS Trung Quốc, Việt Nam, và Campuchia. Pol Pot (1923-1998) trở thành Tổng Bí thư Đảng Lao động Campuchia hồi năm 1963 (sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Campuchia, và nói chung được gọi là Khơ-me đỏ), đã đến Hà Nội vào tháng 6 năm 1965 và đi đến Bắc Kinh vào cuối năm 1965. Ông ta đã gặp các nhà lãnh đạo đảng lỗi lạc của hai nước. Các bất đồng nghiêm trọng đã nảy sinh giữa ông ta và Lê Duẩn ở Hà Nội: Xem thên Thomas Engelbert và Christopher E. Goscha, “Falling Out Of Touch: Một nghiên cứu chính sách Cộng sản Việt Nam về một phong trào Cộng sản Campuchia đang trỗi dậy, 1930-1975” (Clayton, Victoria, Australia: Đại học Monash , 1995); và David Chandler, “Brother Number One: Tiểu sử chính trị của Pol Pot” (Boulder, CO: Westview, 1992), trang 73-77.

Trong giai đoạn này, Pol Pot muốn đấu tranh vũ trang ở Campuchia, nhưng tại thời điểm này cả Việt Nam và Trung Quốc luôn muốn tránh bất kỳ cuộc đấu tranh nào chống lại Sihanouk. Họ muốn thấy Sihanouk tiếp tục chính sách trung lập của ông ta hơn, và nếu Hoa Kỳ can thiệp vào Campuchia, họ hy vọng rằng Sihanouk và những người cộng sản Campuchia sẽ tham gia lực lượng.

Ngọc Thu dịch từ: Wilson Center

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

TRẬN SUỐI TRE – VIỆT NAM

Posted by adminbasam on 30/04/2011

The Washington Times

TRẬN SUỐI TRE – VIỆT NAM (ký ức chiến tranh của Mario Salazar)

28-04-2011

Tác giả: Mario Salazar

Người dịch: Phạm Anh Tuấn

MONTGOMERY VILLAGE, tiểu bang Maryland – ngày 21 tháng 3 năm 2011 – đúng ngày này cách đây 44 năm, vào ngày 21 tháng 3 năm 1967 tại khu vực làng Suối Tre thuộc Chiến khu C ở tây bắc Sài Sòn có trận giao tranh. Đó là trận đánh diễn ra trong một ngày tại Việt Nam đã gây cho phía địch số người chết nhiều nhất. Vào giữa trưa ngày 21, chúng tôi đã gom được 647 xác chết của phía địch rồi đặt trong hai hố chôn tập thể rất to được đào bằng xe tăng lắp thêm lưỡi máy xúc. Tôi nhớ lúc ấy đang ăn bữa trưa là hộp khẩu phần C nguội tanh, hai chân tôi buông thõng xuống một trong hai chiếc hố đó. Chưa kịp ăn xong tôi đã phải bỏ đi chỗ khác vì mùi bốc lên từ dưới hố không thể chịu nổi và có người đã vứt mẩu thuốc lá đang hút xuống dưới hố làm cho quần áo của một xác chết bắt lửa bốc mùi khói rất khói chịu. Nghe có vẻ như tôi đã không còn cảm xúc gì cả? Không phải vậy; đó là một trong những điều thực tế xảy ra trong chiến đấu mà ta phải thích nghi hoặc buộc phải chấp nhận.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Việt | Tagged: , | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: