BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

435. Đem những đồng đô-la chiến tranh về nước bằng cách đóng cửa các căn cứ quân sự

Posted by adminbasam trên 02/04/2011

Foreign Policy in Focus

Đem những đồng đô-la chiến tranh về nước bằng cách đóng cửa các căn cứ quân sự

Christine Ahn và Sukjong Hong

Ngày 31-3-2011

1Vào năm thứ tám cuộc xâm lăng của Mỹ vào Iraq, các máy bay chiến đấu Hoa Kỳ lại đã cất cánh để bắt đầu một hành động quân sự khác – chuyến này là ở Libya. Một cuộc thăm dò dư luận mới đây của Viện Gallup cho thấy chỉ 47 phần trăm người Mỹ đồng tình với hành động quân sự ở Libya, mức ủng hộ thấp nhất trong vòng 40 năm đối với vấn đề can thiệp quân sự. Cùng lúc, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama gửi Hạ Viện Mỹ một đề nghị ngân sách trong đó có 1,2 nghìn tỷ USD chi tiêu cho quân sự và an ninh. Rõ ràng là người Mỹ đang e ngại chiến tranh, nhất là vào lúc khủng hoảng kinh tế, với những đe dọa cắt việc làm, cắt các chương trình y tế, và cắt trợ cấp hưu trí, toàn những thứ phần lớn các gia đình đều cần đến để mà tồn tại.

Tin tức khiến mọi người hy vọng là một phong trào từ cơ sở của những con người bình thường trên khắp các thành phố lớn nhỏ của nước Mỹ phát động chiến dịch những Ưu Tiên Mới (“the New Priorities Campaign”) tập hợp với nhau và đưa ra đòi hỏi “đưa quân đội và các đồng đô-la chiến tranh về nước” bằng cách cắt chi tiêu quốc phòng thay vì cắt phúc lợi, cắt công ăn việc làm và các dịch vụ cơ bản của nhà nước. Các hành động trên khắp thế giới cũng được đề ra cho Ngày Toàn cầu Hành động vào 12 tháng Tư này đối với việc Chi tiêu cho quân sự (Global Day of Action on Military Spending) để làm sáng tỏ những khoản chi tiêu quá to lớn cho quân sự của các chính phủ trên toàn thế giới. Trung tâm điểm của những hoạt động này thế nào cũng phải là các yêu cầu đóng cửa hơn một nghìn căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại hơn 46 quốc gia.

Các căn cứ quân sự là những cơ chế cho thấy rõ nhất cái động lực của Hoa Kỳ định duy trì bá quyền quân sự toàn cấu. Thế nhưng, với hầu hết người Mỹ, các căn cứ quân sự là những thứ ở xa khuất mắt và nằm ngoài những điều bàn tán tranh luận trên khắp cả nước về chiến tranh. Nhiều người chẳng biết tí gì hết về cái dấu chân to khủng khiếp của các cơ sở quân sự của Hoa Kỳ trên khắp thế giới và cung cách chúng phá hoại cuộc sống và các khát vọng của người dân (địa phương) sống trực tiếp dưới cái bóng che của chúng. Chấm dứt các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ là điều căn bản, nhưng đóng cửa các căn cứ quân sự còn là điều vô cùng quan trọng hơn nữa để đập tan tành chủ nghĩa quân phiệt và bá quyền toàn cầu của Hoa Kỳ.

Trên đảo Cheju ngoài khơi Hàn Quốc, những người dân làng đang đấu tranh để ngăn chặn việc xây dựng một căn cứ hải quân Nam Triều Tiên định để cho quân đội Hoa Kỳ sử dụng. Năm 2009, một người trong chúng tôi đã ra đó và cho tới bây giờ vẫn còn như nhìn thấy rõ những lá cờ vàng rách tả tơi nằm dọc các cột bờ rào các ngôi nhà, tượng trưng cho quyết tâm của phong trào đòi chấm dứt xây dựng căn cứ này. Đi bộ dọc theo bờ biển đầy đá tảng nguy hiểm sát bên ngoài ngôi làng yên bình này của nông dân và ngư dân, thấy rõ rằng đảo Cheju và những nơi khác có các căn cứ quân sự Mỹ ở Triều Tiên đã mang đi biết bao nhiêu tiền bạc của cải của nhân dân và của tương lai toàn vùng này.

Chi tiền khổng lồ

Hầu hết các con số được đem dùng để ước lượng việc chi tiêu cho các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ đều không kể tới cái hệ thống căn cứ Hoa Kỳ trên toàn thế giới, nguồn gốc và cơ sở vật chất làm đẻ ra các xung đột quân sự hiện thời. Bản báo cáo về cơ cấu các căn cứ quân sự năm 2010 của Lầu Năm góc chẳng hạn lên danh sách 662 căn cứ quân sự ở nước ngoài nhưng lại không kể tới 411 căn cứ quân sự ở Afghanistan, 88 căn cứ đang còn lại tại Iraq, hoặc những địa điểm ở Qatar và ở các quốc gia khác nơi đó nhân viên quân sự Hoa Kỳ vẫn còn đóng lại. Theo thứ trưởng quốc phòng Mỹ Dorothy Robyn, năm 2010, cái giá mà người đóng thuế Mỹ phải trả để duy trì và xây dựng tất cả các căn cứ quân sự Hoa Kỳ là 41,6 tỉ USD.

Trong số 662 căn cứ quân sự ở nước ngoài đó, có hơn 70 khu vực có lắp đặt thiết bị và căn cứ quân sự Hoa Kỳ cùng 28.500 lính Mỹ đang đóng ở Nam Triều Tiên. Ted Galen Carpenter và Doug Bandow của Viện Cato ước lượng rằng chi phí cho các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Triều Tiên “có thể vào khoảng từ 15 tới 20 tỉ USD mỗi năm.” Mặc dù Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã thỏa thuận cắt giảm và củng cố ổn định số căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Nam Triều Tiên, các căn cứ khác cùng các khu vực huấn luyện — trong đó kể cả căn cứ không quân Osan ở Pyeongtaek — vẫn đang mở rộng làm dời chuyển hàng nghìn dân làng và phá hủy việc sản xuất và đất trang trại hạn chế của Nam Triều Tiên. ­

Các thỏa thuận quy định trách nhiệm cho việc tái sắp xếp căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Triều Tiên minh họa tính bất bình đẳng thấy rất rõ tại các quốc gia cho Hoa Kỳ đóng căn cứ. Theo các hiệp ước về các biện pháp đặc biệt và tái sắp xếp các căn cứ, Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đồng ý chia sẻ gánh nặng chi tiêu khi di chuyển các căn cứ quân sự Hoa Kỳ, và Nam Triều Tiên phải chi trả hơn nửa chi phí đó. Năm 2008, Nam Triều Tiên đã chi 741,4 triệu USD khiến cho người Nam Triều Tiên giận dữ vì phải trả phần lớn hóa đơn di chuyển và tiền làm sạch 60 năm ô nhiễm môi trường. Tại một số căn cứ quân sự “trả lại” cho Nam Triều Tiên, mức độ ô nhiễm cao gấp hơn 100 lần mức quy định của luật pháp Triều Tiên. Làm sạch các địa điểm đó đòi hỏi nhiều năm giải độc mà công dân Nam Triều Tiên phải chi trả ở mức rất lớn, ấy là chưa kể những hệ quả về y tế và sinh thái tới các thế hệ mai sau.

Hơn nữa, sự hiện diện các căn cứ quân sự và lính Mỹ là sự mở rộng can thiệp của Hoa Kỳ ở Nam Triều Tiên. Trong lịch sử, quân đội Hoa Kỳ đem lại tính chính danh, sự viện trợ kinh tế và che chở cho các chế độ độc tài để chúng duy trì được quyền lực bằng sức mạnh tàn bạo. Ngày nay, các chính phủ Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên kiểm soát và thủ tiêu sự đối kháng bằng hệ thống cắc căn cứ, nhất là ở Pyeongtaek và Osan, là những nơi có các tiền đồn lớn của tình báo quân sự Hoa Kỳ hoạt động cho cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (U.S. National Security Agency, NSA). Khi tiến hành nghiên cứu để viết cuốn sách Spies for Hire (“Gián điệp cho thuê”) về tư nhân hóa tình báo Hoa Kỳ, Tim Shorrock tìm ra được những chứng cứ ghê tởm của việc nghe lén các hoạt động dân sự của Triều Tiên tiến hành bởi các căn cứ quân sự Hoa Kỳ đóng tại đó. Mặc dù mục tiêu cơ bản của hoạt động kiểm soát là Bắc Triều Tiên, song tình báo Hoa Kỳ cũng kiểm soát cả Trung Hoa và Việt Nam từ các căn cứ quân sự Mỹ. Điều làm cho Shorrock lo ngại là kể từ vụ (khủng bố) 11 tháng 9, định nghĩa về “đe dọa” đã được mở rộng tới cả mọi hoạt động nào tỏ ra nghi ngờ hoặc thách thức các quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc ông khám phá thấy quân đội Hoa Kỳ ở Triều Tiên ngoắc ngoặc với cảnh sát Triều Tiên để kiểm soát các hoạt động chống căn cứ quân sự là “một khẳng định thẳng thắn đến độ kinh ngạc rằng phong trào chống căn cứ quân sự Mỹ đã bị kiểm soát chặt và rất có thể còn bị kiểm soát hơn cả Al Qaeda – cơ bản đó là coi phong trào ấy cũng hệt như bọn khủng bố.” Nhưng không chỉ có các phong trào chống căn cứ quân sự đâu. Gần đây nhất, những cuộc phản đối Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ-Triều Tiên cũng bị coi là chống đối lại các lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở Triều Tiên.

Chống lại các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Triều Tiên

Do có sự đối kháng mãnh liệt các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở khắp vành đai châu Á – Thái Bình dương, Hoa Kỳ càng trở nên khôn khéo trong việc cắt giảm dấu vết về quân sự của họ ở các vùng nơi đó sự hiện diện của Mỹ bị phản đối về chính trị. Thay vì lập căn cứ hoàn toàn Mỹ, giới quân sự Hoa Kỳ đã tìm cái vỏ che là giới quân sự Nam Triều Tiên khi xây dựng căn cứ Hải quân mới ở Cheju, một hòn đảo nằm ở bờ biển phía Nam của Nam Triều Tiên.

Nhân dân đảo Cheju nổi tiếng vì đối kháng mãnh liệt sự chia cắt và chiếm đóng Triều Tiên của quân đội Hoa Kỳ thời kỳ sau Thế chiến II. Do sự đối kháng của họ mà nhân dân đảo Cheju phải trả giá đắt. Sau cuộc nổi dậy ngày 3 tháng 4 năm 1948, quân lực chính phỉ Nam Triều Tiên đã giết hơn 30 nghìn người – cứ mười người dân đảo đó thì có hơn một người bị giết – chỉ vì họ đã chống lại cuộc tuyển cử riêng rẽ giữa hai miền Nam và Bắc và chống lại việc quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng nửa phía Nam của Triều Tiên. Trong một cử chỉ xin lỗi được chờ đợi từ lâu, vào năm 2005, cựu tổng thống Roh Moo-Hyun đã đặt tên cho đảo Cheju là “Đảo Hòa Bình”.

Đảo Cheju được UNESCO công nhận là Di sản thế giới và là vùng được Cơ quan Di sản Văn hóa Quốc gia đặt là vùng được quốc gia bảo vệ. Đường dọc bờ biển Joongduk nằm sát làng Gangjeong là nơi sinh thái biển hiếm hoi, có cả loại san hô mềm, và đó cũng là nơi cư trú theo mùa của loài cá heo di trú suốt mùa hè từ Alaska qua Thái Bình Dương.

Năm 2002, Seoul công bố các kế hoạch xây dựng căn cứ Hải quân tại Cheju. Sau khi có hai làng chống đối lại kế hoạch đó, làng Gangjeong trở thành mục tiêu thứ ba của chính phủ. Năm 2007, 94 phần trăm số phiếu của Hội đồng nhân dân làng Gangjeong chống lại các kế hoạch xây dựng căn cứ. Thế là chính phủ bắt đầu gây áp lực lên các cư dân ở đây. Chừng 1.500 nông dân và ngư dân sống ở làng Gangjeong, trong đó có cả những người mò ngọc trai huyền thoại ở Haenye — những phụ nữ kiếm sống ở biển sâu độ tuổi 50 và già hơn thế. Có những người dân làng trong đó có cả những người mò lặn tìm ngọc trai ở Haenye đã bán trang trại của họ cho quân đội vì áp lực của chính phủ Nam Triều Tiên. Theo Sung-Hee Choi, một nhà hoạt động xã hội theo đường lối hòa bình và người viết blog Nam Triều Tiên, nhiều dân làng đã ký hợp đồng bán đất đó bây giờ đã hối tiếc vì quyết định của họ. Tuy nhiên, người ta báo cho họ biết rằng nếu họ đổi ý họ sẽ phải hoàn trả tiền cộng với tiền lãi. Song rất nhiều gia đình vẫn chống đối lại việc xây dựng căn cứ Hải quân.

Tháng Năm 2009, chính phủ Nam Triều Tiên duyệt y việc xây dựng căn cứ Hải quân của liên quân Hoa Kỳ-Nam Triều Tiên. Quân đội bắt đầu nạo vét bờ biển Joongduk để thuận tiện cho tàu chiến vào. Nếu công việc xây dựng được tiếp tục, nó sẽ không chỉ tàn phá các đảo san hô hiếm quý và các hệ sinh thái xung quanh, nó sẽ giết chết toàn bộ nền công nghiệp cá của vùng này và xua đuổi những người trồng quất của làng Gangjeong do đất của họ bị tịch thu vì nằm trong phạm vi xây dựng căn cứ Hải quân.

Dân làng Gangjeong đã kiện nhiều lần mà không thành công. Ngày 15 tháng mười hai 2010, một phiên tòa ở Cheju tuyên rằng căn cứ Hải quân không vi phạm các quyền của dân làng, bất kể là sự phá hoại được thấy rõ đối với việc trồng quất và việc khu cư trú san hô mềm ở đó là nơi cho dân làng kiếm cá. Dân làng Gangjeong đa sử dụng mọi phương tiện dân chủ để chặn đứng việc xây dựng căn cứ, nhưng chính phủ Nam Triều Tiên hoàn toàn không đáp lại. Đến dịp lễ Thiên chúa Giáng sinh, chừng 500 người ủng hộ đã cùng với hàng chục dân làng bít kín đường đi của những xe tải xi măng của Hải quân chở đến để rải bê tông lên trên các thảm san hô nằm dọc thềm bờ biển.

Những gì đang xây dựng ở Cheju vẻ ngoài nom như là một căn cứ hải quân của Nam Triều Tiên, thế nhưng tất cả đều nhằm cho quân đội Mỹ sử dụng. Điều này được khẳng định khi người Mỹ nhiều lần gọi điện tới sứ quán Nam Triều Tiên hối thúc đóng cửa căn cứ, và được sứ quán Nam Triều Tiên đáp lại rằng, “Gọi cho chính phủ Mỹ của các ông ấy, vì họ đang ép chúng tôi xây dựng căn cứ này.” Dân làng hiện thời đang chiếm lấy toàn khu vực, bắt ngừng công việc của những cần cẩu xây dựng đang nạo vét dọc bờ biển, mặc cho phải đối mặt với cảnh sát chống bạo động.

Không vì an ninh của Triều Tiên

Khi số rất đông người Mỹ biết được cái cách thức các căn cứ quân sự Hoa Kỳ đang vi phạm chủ quyền quốc gia và các quyền con người của nhân dân Triều Tiên, thì hầu hết họ đều đồng ý rằng lúc này hơn lúc nào hết là lúc rút quân đội về. Nhưng nhiều người lại nêu câu hỏi, vậy chuyện Bắc Triều Tiên đe dọa bom nguyên tử thì tính sao đây — ai sẽ bảo vệ nhân dân Triều Tiên khi đó?

Dù cho giới quân sự Hoa Kỳ từ lâu vẫn tuyên bố họ có mặt ở Nam Triều Tiên là để bảo vệ dân thường, Nam Triều Tiên vẫn trải nghiệm cảnh hành vi (xấu) của quân đội Hoa Kỳ không bị trừng phạt ngay trên lãnh thổ của họ. Các tổ chức đã cung cấp cả ngàn tài liệu về các tội phạm của binh lính Mỹ đối với người Nam Triều Tiên. Từ năm 1988 đến năm 1996, quân đội Hoa Kỳ phạm trung bình hai tội hình sự mỗi ngày, từ tội nhỏ đến tội lớn. Tần suất tội phạm của binh lính Hoa Kỳ cho thấy rõ hành động đó của binh lính Mỹ ở Nam Triều Tiên đều không bị trừng phạt — và cũng giống như ở nhiều nước khác đang cho Mỹ đóng quân, các Hiệp nghị về Quân phong quân kỷ đều rành rành cho thấy lính Mỹ bao giờ cũng được nương tay. Ngoài ra, trái ngược hẳn với những dự báo nhằm gieo rắc nỗi sợ hat nhân của Bắc Triều Tiên, “Hầu hết các chỉ số kinh tế và quân sự đều cho thấy rằng hầu hết các mặt sức mạnh Nam Triều Tiên bao giờ cũng hơn Bắc Triều Tiên,” Jae-Jung Suh viết.

Nhưng có lẽ ngày nay điều gì còn xác đáng hơn là mối liên minh quân sự giữa Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên, ấy là việc liên minh trong khu vực còn lớn hơn nữa đang được Hoa Kỳ tổ chức để đáp trả mối đe dọa quân sự và kinh tế từ một nước Trung Hoa ngày càng lớn mạnh trước mắt mọi người. Một chỉ số chủ chốt về điều này là cách thức thay đổi liên minh cùng phòng vệ giữa Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên. Theo hiệp nghị “Mềm dẻo Chiến lược” (“Strategic Flexibility”) ký năm 2009 giữa các tổng thống Obama và Lee, việc bảo vệ Nam Triều Tiên được trao trả lại cho Seoul, để cho Hoa Kỳ triển khai sức mạnh của họ bên ngoài Triều Tiên. Theo giàn xếp mới, Nam Triều Tiên sẽ không chỉ bị dùng như là cái trục xe triển khai nhanh phục vụ cho các mục tiêu quân sự của Hoa Kỳ ở bất kỳ nơi nào khác, mà quân đội Nam Triều Tiên cũng sẽ bị triển khai để phục vụ cho những cuộc triển khai quân sự của Hoa Kỳ bên ngoài biên giới Triều Tiên.

Việc dàn trận lại và củng cố các căn cứ quân sự Hoa Kỳ cũng cho ta thấy nhiều điều. Nhiều căn cứ Hoa Kỳ lớn hơn dọc bờ biển phía Tây của Triều Tiên đã được di chuyển xa hơn Khu Phi quân sự tới những vị trí lùi xa hơn về phía Nam. Hệ thống các căn cứ này là một phần của lá chắn phòng thủ mới bằng tên lửa được chĩa nhiều hơn vào Trung Hoa hơn là vào Bắc Triều Tiên. Xét chung trong toàn khu vực, những bành trướng căn cứ quân sự Hoa Kỳ đang diễn ra tại Nhật Bản, Okinawa, Guam, Úc, và ở những địa điểm chủ chốt khác nữa trên sân chơi châu Á – Thái Bình Dương tạo thành một vành đai hữu hiệu bao vây Trung Hoa và Nga. Hoa Kỳ, Nam Triều Tiên và Nhật Bản đã củng cố mạnh mẽ liên minh ba bên của mình, mà kết quả là những trò chơi chiến tranh với cường độ càng cao hơn và càng dầy đặc hơn giữa ba quốc gia, trong đó phải kể đến các cuộc tập trận chung hàng năm Hàn Quốc – Hoa Kỳ huy động tới 13 nghìn quân Mỹ và một tàu sân bay chạy bằng năng lượng nguyên tử.

Trong cuộc phỏng vấn năm 2007, nguyên tư lệnh Hoa Kỳ ở Triều Tiên, tướng B.B. Bell đã giải thích lý do vì sao Nam Triều Tiên lại có tầm quan trọng sống còn đến thế đối với Hoa Kỳ khi ông nói, “Hai mưoi lăm phần trăm dòng chảy thương mại toàn thế giới đi qua vùng Tây-Bắc châu Á. Dù đó là của Triều Tiên, Nhật Bản hoặc Trung Hoa, nếu anh đang buôn bán trên thế giới, thì một trong bốn thứ bất kỳ anh đang buôn bán, tính bằng hàng hóa hoặc tính bằng giá trị đô-la, thì đều đi ngang vùng này.” Bản thân Triều Tiên là đối tác thương mại xếp hàng thứ bảy của Hoa Kỳ. Bell còn giải thích thêm nữa về nhu cầu phải có cam kết quân sự của Hoa Kỳ ở Đông-Bắc châu Á, “vì lý do là các nguồn lực tự nhiên, các đường giao thương, và các sản phẩm chúng ta sẽ đem đi giao hàng ở khắp thế giới.”

Nhưng ngoài chuyện bảo vệ các con tàu chở hàng còn có động cơ khác đối với chiến lược lập căn cứ quân sự của Hoa Kỳ — các căn cứ quân sự Hoa Kỳ có mặt ở đó là để bao vây Trung Hoa. Trong tất cả các căn cứ quân sự Hoa Kỳ, Nam Triều Tiên là điểm gần Bắc Kinh nhất, là một địa điểm chiến lược để thu thập tin tình báo, và là một điểm mấu chốt để có thể cự địch lại Trung Hoa. Dự án Thế kỷ Mỹ mới (“New American Century”) phát biểu rõ ra rằng: “Nâng cao sức mạnh quân sự Hoa Kỳ ở Đông Á là điểm mấu chốt để khuôn xử với sự lớn mạnh của Trung Hoa đang muốn đạt tới thể chế cường quốc.”

Chiến lược lớn hơn này đối với khu vực cũng lý giải vì sao Hoa Kỳ gây áp lực lên Nam Triều Tiên để họ xây dựng căn cứ Hải quân ở Cheju. Bruce Gagnon thuộc tổ chức Hệ thống Toàn cầu chống Vũ khí và Sức mạnh Hạt nhân trong Vũ trụ (“Global Network Against Weapons and Nuclear Power in Space”) giải thích vì sao các làng ở Cheju đang bị phá bỏ đi để thích nghi với việc bành trướng căn cứ quân sự Hoa Kỳ: “Trung Hoa nhập khẩu 80 phần trăm dầu mỏ chuyên chở bằng các con tàu và một căn cứ Hải quân ở Cheju sẽ khiến Hoa Kỳ có khả năng “kiểm soát” con đường chuyên chở huyết mạch này trên biển Hoàng Hải. Khi cuộc suy thoái kinh tế Mỹ không còn là điều để đáng lo nếu so sánh với Trung Hoa nữa, Lầu Nưm góc bắt đầu một chiến lược tuyên ngôn rằng, nếu chúng ta có thể kiểm soát được cảnh suy thoái cung ứng dầu mỏ, thì khi đó chúng ta có thể nắm trong tay những thứ chủ chốt của cỗ máy kinh tế toàn cầu.” Năm nay Trung Hoa vượt Hoa Kỳ về tiêu thụ năng lượng. Như Michael Klare nói, “Những quyết định của Trung Hoa về các lựa chọn năng lượng sẽ quyết định mạnh mẽ liệu nước này và Hoa Kỳ có tránh được việc họ bị cuốn vào một cuộc chiến toàn cầu về dầu mỏ nhập khẩu không, và liệu thế giới có tránh được đại họa biến đổi khí hậu hay không.”

Với các căn cứ quân sự bao quanh Trung Hoa, giới quân sự Hoa Kỳ có khả năng ngăn ngừa sự hiện diện của một Trung Hoa đang lớn mạnh và kiểm soát được nhu cầu ngày càng gia tăng về năng lượng của Trung Hoa. Nam Triều Tiên biết rõ thực tại này. Trong cuộc thăm viếng gần đây tới Pyeongtaek, khi được Bruce Gagnon hỏi Trung Tâm Hòa bình Pyongtaek, một tổ chức có cơ sở ở Nam Triều Tiên, rằng Hoa Kỳ hướng mũi nhọn quân sự vào đâu, những đại diện của Trung tâm này đáp đó là “Nga và Trung Hoa. Nga có những nguồn cung cấp khí tự nhiên to lớn. Đó gần như là những cuộc chiến tranh về năng lượng.”

Đóng cửa các căn cứ quân sự Hoa Kỳ và cắt giảm chi phí quân sự

Khi có những nỗ lực từ cơ sở tại Hoa Kỳ đòi thay đổi việc cung cấp tiền bạc từ ngân sách quân sự sang các cộng đồng của chúng ta, thì chúng ta phải nhớ tới những cuộc đấu tranh mạnh mẽ của các nhóm ở nước ngoài đang chống đối trực tiếp ở nơi đang đặt căn cứ quân sự Hoa Kỳ. Dù đó là ở Okinawa, Guam, hoặc Triều Tiên, những người dân sống ở đó đều đang hàng ngày đấu tranh đòi dừng các công trình xây dựng hoặc mở rộng thêm các căn cứ quân sự Hoa Kỳ. Không riêng gì những cuộc tập trận chung Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên làm thất tán những đồng đô-la của công chúng vô cùng cần thiết cho cả hai quốc gia, chúng còn làm cho hai nước Triều Tiên càng xa cách nhau thêm trước lời hứa hẹn hòa hợp và thống nhất. Các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Triều Tiên chẳng còn cần thiết bao nhiêu nữa. Vấn đề thực sự đặt ra là cách thức các căn cứ này chỉ đang phục vụ cho việc duy trì sự căng thẳng cao trên bán đảo Triều Tiên cũng như trong toàn khu vực.

Thay vì chấp nhận sự bế tắc kinh niên đang không ngừng đe dọa bùng nổ thành chiến tranh, tại Hoa Kỳ, một phong trào sâu rộng kêu gọi chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, đoàn kết với các nhóm tại Nam Triều Tiên đã từ lâu cùng nhau cùng đòi hỏi điều đó. Việc ký Hòa ước là bước đi đầu tiên đi tới giải trừ quân sự không chỉ ở bán đảo Triều Tiên mà ở cả vùng châu Á – Tháio Bình Dương, và mở đường đi tới sự tự quyết định cuộc thống nhất hai nước Triều Tiên.

Đem những đồng đô-la chiến tranh về nước liên quan không chỉ tới những cuộc chiến tranh nóng, mà cũng liên quan tới hệ thống các căn cứ quân sự tạo ra chiến tranh và việc tạo dựng một thứ Hoa Kỳ đế chế đủ sức ngăn chặn sự tiến triển dân chủ và phát triển của các xã hội muốn được sống công bằng hơn.

Rất có thể, ít ai nói được hết tầm quan trọng của cuộc đấu tranh này tốt hơn là những người từng bảo vệ các quyền của họ đối với đất đai và sinh mệnh của họ chống lại các quyền lợi của giới quân sự Hoa Kỳ. Từ năm 2004 tới năm 2007, trong gần 1000 ngày, dân làng Pyongtaek ở Nam Triều Tiên đã thắp nến nguyện cầu chấm dứt việc mở rộng căn cứ quân sự Hoa Kỳ Camp Humphreys. Khi được Bộ trường quốc phòng Nam Triều Tiên hỏi về giá đất của ông ta, người lãnh đạo dân làng Pyongtaek là ông Kim Ji Tae đáp lại rằng, “Giá có thể cao không thể ngờ nổi. Trong cái giá đất đó có từng hạt lúa mọc ở đây và thu hái ở đây. Trong cái giá đất đó cũng có cả những cố công cố sức của chúng tôi cùng với cả cuộc đời chúng tôi sinh sống ở đây, cả những tiếng thở dài, những giọt nước mắt cùng những tiếng cười nữa. Trong giá đất đó còn phải có cả những ngôi sao đã chứng kiến những nỗi buồn vui của chúng tôi, còn có cả gió nữa, gió làm khô những giọt lệ của chúng tôi. Nếu tất cả những thứ đó được thêm vào giá đất, khi đó tôi sẽ ra giá với ông.”

Chúng ta cần phải đòi không chi tiêu nữa cho các căn cứ quân sự và cho các trò chơi chiến tranh của Hoa Kỳ, và chúng ta nhập cuộc đấu tranh của nhân dân toàn cầu này vào vơi cuộc đấu tranh vì hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ.

Christine Ahn là giám đốc điều hành Viện Chính sách của Triều Tiên (Korea Policy Institute) và phụ trách mục Chính sách Đối ngoại của trang mạng Focus. Sukjong Hong là thành viên tổ chức Nodutdol vì sự phát triển cộng đồng Triều Tiên và là người viết bài cho Focus.

Người dịch: Đại Phúc

o

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2011, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
%d bloggers like this: