BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Bảy 9th, 2009

NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

Posted by adminbasam trên 09/07/2009

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI HOA TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT

TRIỂN CÁC ĐÔ THỊ Ở TRUNG VÀ NAM BỘ VIỆT NAM (THẾ KỈ

XVII-XIX)

ThS. Tống Thị Quỳnh Hương *

Đại học Sư phạm Hà Nội

 

Đặt vấn đề Người Trung Hoa đến Việt Nam khá sớm, ít nhất cũng vào khoảng đầu Công nguyên. Trải qua nhiều thế kỉ, người Hoa đã xuất hiện trên khắp ba miền của nước ta, tuy nhiên, những người Hoa di cư đến miền Bắc chủ yếu là quan lại và binh lính của các đội quân xâm lược nhiều hơn là thương nhân đến buôn bán (ngoại trừ một bộ phận người Hoa ở Phố Hiến, Thăng Long), do vậy ở miền Bắc nước ta, những cộng đồng người Hoa thường nhỏ lẻ, không có quy mô lớn và tiêu biểu như ở miền Trung và miền Nam. Cũng như người Hoa ở các nước Đông Nam Á khác, người Hoa đến Việt Nam trải qua một quá trình sinh sống và buôn bán lâu dài, họ đã lập nên những làng, những phố của mình, hình thành nên những cộng đồng người Hoa ổn định và phát triển, trở thành một bộ phận cư dân của cộng đồng dân tộc Việt. Trong khoảng từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX, cùng với sự hình thành các cộng đồng người Hoa, ở miền Trung và Nam Việt Nam cũng đã xuất hiện nhiều đô thị, trung tâm thương mại rất sầm uất với vai trò nổi bật của các Hoa thương. Những đô thị này đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều thế kỉ. Một số đô thị như: Thanh Hà, Bao Vinh, Cù Lao Phố, Hội An, Chợ Lớn… đã trở thành những trung tâm buôn bán, trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực và quốc tế.

1. Bối cảnh định cư của người Hoa ở Việt Nam thế kỉ XVII – XIX

Thế kỉ XV, sau thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của nhà Minh, nhà Lê sơ được thành lập, quốc gia Đại Việt trở thành một vương quốc cường thịnh ở Đông Nam Á. Nền kinh tế hàng hóa phát triển tạo điều kiện để có thể phát triển một nền thương mại toàn diện. Thuyền bè các nước láng giềng vẫn thường xuyên qua lại trao đổi ở các cảng Vân Đồn, Vạn Ninh (thuộc Quảng Ninh), Càn Hải, Hội Thống (thuộc Nghệ An)… Tuy nhiên, để giữ vững an ninh, nhà nước đặt các trạm kiểm soát ở cảng khẩu để kiểm soát chặt chẽ những thương nhân nước ngoài ra vào buôn bán ở nước ta 1, bởi vậy những mối quan hệ thương mại với Trung Hoa và các nước trong khu vực có phần bị hạn chế. Năm 1527, triều Mạc (1527 – 1592) thay thế triều Lê, tuy không giữ được sự ổn định và thống nhất đất nước, nhưng chính sách kinh tế nhất là chính sách đối với thương nghiệp của nhà Mạc tỏ ra cởi mở hơn triều Lê. Nhưng cũng từ giữa thế kỉ XVI, nhà Minh chuyển từ việc kiểm soát chặt chẽ ngoại thương bằng chính sách “Hải cấm” sang nới lỏng ngoại thương thì Việt Nam lúc này lại lâm vào tình trạng chia cắt kéo dài cho đến tận cuối thế kỉ XVIII. Khởi đầu là sự tái lập triều Lê (1532) dẫn đến cuộc chiến tranh Lê- Mạc (1539-1592), tiếp theo là thời kì phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài, biểu hiện là cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn kéo dài (1627 – 1672). Trong những thời kì nội chiến đất nước chia cắt gây nhiều tổn hại cho nhân dân, nhưng cũng chính trong nhu cầu cạnh tranh gây dựng lực lượng, các chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài đều phải chăm lo phát triển kinh tế, tranh thủ sự hỗ trợ của ngoại thương. Trong thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài thì thái độ mỗi bên đối với hoạt động ngoại thương có khác nhau, đặc biệt là đối với Hoa thương. Đàng Ngoài của họ Trịnh có phần dè dặt và thận trọng đối với hoạt động buôn bán của Hoa thương, chính quyền Trịnh tìm cách tách Hoa thương khỏi người Việt. Nhưng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại có thái độ hoàn toàn khác, họ hiểu rằng cần phải có buôn bán nếu Đàng Trong muốn tồn tại lâu dài. Chính vì thế, người Nhật và người Hoa không những được tạo điều kiện thuận lợi cho sinh sống và buôn bán ở Đàng Trong mà còn được tham gia vào bộ máy chính quyền ở đây.

Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ XVII trở đi, những kiều dân Trung Hoa được phép định cư ở những trung tâm kinh tế, đô thị, hải cảng của Việt Nam, đặc biệt là những vùng đất thuộc miền Trung và Nam Bộ ngày nay. Do đó, trong thời gian này, các cộng đồng người Hoa đã dần hình thành nên những phố chợ, trung tâm kinh tế tại nhiều nơi như Phố Hiến, Hội An, Chợ Lớn, Gia Định, Hà Tiên…Sự nhập cư ồ ạt của người Hoa và sự hình thành các cộng đồng của họ như một thực thể dân cư tương đối ổn định trong cơ cấu dân cư- dân tộc Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ XVII, một phần là kết quả của chính sách đón tiếp “nồng hậu” của chúa Nguyễn và sau đó là triều Nguyễn đối với những di dân người Trung Hoa 2. Người Trung Hoa không những được phép cư trú vĩnh viễn tại Việt Nam mà họ còn nhận được rất nhiều ưu đãi từ phía chúa Nguyễn (1592 – 1771) và sau đó là triều đình Nguyễn (1802 – 1945) như được hưởng quyền công dân như người Việt Nam (nếu có nguyện vọng sinh sống lâu dài), không phải làm nghĩa vụ quân dịch và lao động công ích, được trao quyền thu thuế đối với những người giỏi nghề buôn bán và giao dịch, họ còn được hưởng nhiều chính sách ưu đãi khác trong lĩnh vực kinh tế…Nhà Nguyễn cũng cho phép người Hoa được lập nên những Bang hội truyền thống của họ. Tổ chức đồng hương (Bang) của người Hoa đầu tiên được thành lập ở Việt Nam vào năm 1787. Vào năm 1814, dưới thời vua Gia Long (1802 – 1819), tổ chức Bang được chính thức hóa về mặt pháp lý. Bang được thành lập dựa trên cơ sở đồng hương, đồng phương ngữ, nhằm mục đích bảo vệ sự an toàn tính mạng, của cải vật chất của người Trung Hoa di cư trên đất khách quê người. Mặt khác, thông qua các Bang, nhà Nguyễn có thể quản lý việc làm ăn, sinh hoạt và đi lại của người Hoa một cách dễ dàng hơn 3. Nhờ những chính sách của triều Nguyễn, rất nhiều người Trung Hoa di cư đã tạo dựng được cơ nghiệp một cách vững chắc ở Việt Nam. Điều này đã thu hút thêm những làn sóng di cư mới của người Hoa đến nước ta, công việc buôn bán phát đạt của người Hoa đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên những trung tâm buôn bán, những đô thị sầm uất ở những nơi họ sinh sống.

2. Vai trò của người Hoa với việc hình thành và phát triển các đô thị ở Trung và Nam Bộ Việt Nam (Thế kỉ XVII- XIX)

2.1. Phố cảng Thanh Hà ở Thuận Hóa

Phố Thanh Hà lập ra năm nào, không có tư liệu ghi chép. Nhưng có lẽ là trong khoảng thời gian từ 1636 đến 1687, khi phủ Chúa Nguyễn rời về Kim Long, Chúa bèn cho phép tiên hiền trong làng kiến thiết khu chợ, tức phố Thanh Hà. Có thể niên đại thành lập phố Thanh Hà là khoảng vài năm sau khi chúa Nguyễn rời phủ đến Kim Long “Kim Long là miền đất văn hóa ở gần kề ngôi chùa cổ kính nổi tiếng. Từ trạm trung chuyển cuối cùng này, chỉ cách trung tâm Huế ngày nay 3 Km- cái bàn đạp để việc nhích tới Phú Xuân vào năm 1687 đã được tạo ra cho đất thủ phủ được gần miền đất kinh tế Bao Vinh, Thanh Hà hơn…”4. Phố cảng Thanh Hà ra đời từ một làng quê, nhưng với vị trí thuận lợi, trên bến dưới thuyền, cư dân sẵn có truyền thống buôn bán, Thanh Hà đã trở thành nơi hội tụ hàng hóa của nhân dân các vùng lân cận. Người Hoa đến Thanh Hà đã góp phần không nhỏ vào sự phồn thịnh của thương cảng này. Thanh Hà nhanh chóng trở thành một thương cảng lớn nhất thời Kim Long – Phú Xuân. Thanh Hà là địa chỉ thương mại hấp dẫn của thương khách nhiều nước, trước hết là thương nhân Trung Quốc, Nhật Bản của châu Á, của các nước phương Tây như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp…5

Trong thời kỳ thịnh đạt, phố Thanh Hà phần lớn nằm trong tay Hoa thương nên gọi là “Đại Minh khách phố”. Về mặt hành chính, buổi đầu phố Thanh Hà trực thuộc phố Hội An ở Quảng Nam, đến thời Tây Sơn (1786 – 1801) mới tách riêng thành một đơn vị hành chính độc lập với tên gọi “Minh Hương xã Thanh Hà phố”. Vào đầu triều Nguyễn đặt làm “Thanh Hà – chợ Dinh nhị phố Minh Hương xã”6.

Đầu tiên, Thanh Hà phố chỉ rộng 1 mẫu 5 thước 4 tấc (mẫu ta), đến năm 1669 mở rộng lên 7 mẫu 5 sào 8 thước 2 tấc. Về sau thương nhân người Hoa mua thêm trên bờ sông 4 mẫu 1 sào 3 thước để cất phố buôn bán, cụ thể là: Năm 1685, Hoa thương đã xây dựng Thiên Hậu cung (còn gọi là chùa Bà) ngay trên điểm cư trú buôn bán đầu tiên của mình để làm nơi tế tự chung cho Hoa kiều và cũng là mốc giới phía Bắc của phố Thanh Hà. Tại điểm tận cùng phía Nam của phố, người Hoa mua đất của làng Địa Linh để lập phố và xây dựng đền thờ Quan Thánh (còn gọi là chùa Ông) để làm đền thờ chung, đồng thời đây cũng là mốc giới giữa phố Thanh Hà và làng Địa Linh. Phố xá ban đầu chỉ là một dãy nhà tranh, sau thành hai dãy song song nhau dọc theo bờ sông. Đến khoảng thời gian trước hoặc sau năm 1770, Hoa thương đã được chúa Nguyễn cho phép xây dựng phố bằng gạch và lợp ngói để phòng hỏa hoạn. Một người Pháp là Pierre Poivre khi đến Thuận Hóa đã từng trú ngụ trong một gian phố gạch ấy. Ông cho rằng cách bày trí nhà cửa giống hệt Trung Hoa, giữa hai dãy phố có con đường rải đá, cư dân buôn bán sầm uất “Vào mùa mưa, các đường phố chật hẹp, lầy lội, chỉ có phố hay khu Trung Hoa có một lối đi rộng và lát gạch. Dọc hai bên đường người ta dựng lên những nhà gạch lợp ngói khá sung túc”. Phố bao gồm những cửa hàng, cửa hiệu, các đại lý xuất nhập khẩu và những nhà cho thuê dành cho thương khách ở xa, chủ yếu là thương nhân Trung Quốc mới đến.

Đầu thế kỉ XX, Morineau đến khảo sát Thanh Hà, căn cứ trên dấu tích còn lại, tác giả đã khôi phục khu phố như sau: “Những làng của người Hoa lai Việt, một số sắp thành hàng trên bờ sông, đó là những túp lều tranh dựng trên những bộ cọc nhà sàn. Một số khác là cửa hàng giàu có xây gạch và lợp ngói chiếm phía Bắc con đường mòn hoặc đường phố thành một dãy phố chạy dài đến tận các đồng lúa. Đất phố mà trên đó gồm các công trình kiến trúc xây dựng rộng rãi từ đền thờ Quan Công dựng lên khi làng Minh Hương mới thành lập đến tận đường mòn Thanh Hà, nơi vị trí bây giờ ở cầu một nhịp. Đó là các dòng chảy đổ vào các ruộng lúa trên con đường mòn cũ”

Năm 1789, theo số liệu từ một tờ đơn bẩm quan của Hương Lệ xã Minh Hương thì dân số Thanh Hà phố lúc này là 792 dân nội tịch. Trải qua nhiều biến động của chiến tranh, đến năm này còn lại số dân đó, chứng tỏ trước đây phố Thanh Hà còn đông hơn. Thanh Hà khi đó đã trở thành một đầu mối giao thương quan trọng của vùng Thuận Hóa “Khách buôn Quảng Đông có người họ Trần, quen mua bán. Hắn nói rằng từ phủ Quảng Châu, do đường biển đến trấn Thuận Hóa, được gió thuận thì chỉ ba ngày ba đêm, vào cửa Eo, đến phố Thanh Hà ở Phú Xuân…”8, “Đấy là hàng đến. Còn hàng đi. Cũng tập kết ở Thanh Hà, đặc biệt là những thổ sản xứ Huế: hồ tiêu và cam…”9. Cảnh buôn bán nhộn nhịp ở phố cảng Thanh Hà vào giữa thế kỉ XVIII đã được Jean Koffler ghi nhận: “Hàng năm có khoảng 80 chiếc thuyền Hoa thương từ các tỉnh đến đó, chắc chắn chứng tỏ rằng ở đây có nền kinh doanh phồn thịnh”10 Khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, do sự bồi lấp của sông Hương, thương thuyền lớn không thể cập bến Thanh Hà phố được nữa. Người Hoa dời về Bao Vinh làm ăn. Thanh Hà phố dần dần rơi vào quên lãng. Phố cảng Bao Vinh từ đầu triều Nguyễn đã thay thế vị trí của trung tâm phố cảng Thanh Hà.

2.2. Đô thị Hội An Đô thị Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách Đà Nẵng 26 km về phía Đông Nam, là một thương cảng lớn nhất của Việt Nam trong các thế kỉ XVI – XVIII. Thương cảng Hội An ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVI và phát triển mạnh trong thế kỉ XVII, XVIII. Khác với Phố Hiến, hầu như toàn bộ hoạt động buôn bán ở Hội An đều nằm trong tay các thương nhân nước ngoài, đặc biệt là các thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản.

Những biến động trong nội địa Trung Quốc vào giữa thế kỉ XVII (nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh giành được quyền thống trị – 1644) làm cho người Hoa qua Hội An ngày càng đông, vì Hội An nằm ở một vị trí thuận lợi trên đường biển quốc tế, không quá gần biên giới Trung Quốc như các tỉnh phía Bắc Việt Nam, nhưng cũng không quá xa như các nước Nam Dương, Mã Lai, lại nằm trong khu vực có tài nguyên phong phú, nên có sức hút nhất định đối với số dân di cư này. Hơn nữa, Quảng Nam là trấn giàu nhất trong xứ, phần nhiều sản vật quý đều do đất ấy sản xuất ra, lại ở gần Chiêm Thành, Quy Nhơn, nên dễ tập hợp những sản vật mà thuyền buôn ngoại quốc cần dùng. Thêm vào đó là lý do chính trị: nước ta đã có giao thương với Trung Quốc từ thời Tiền Lê, Lý, Trần, Lê sơ. Vì sợ người ngoại quốc giả mạo thương nhân để do thám, nên triều nào cũng chỉ cho phép họ tụ hợp lại những nơi nhất định, gọi là các “bạc dịch trường” để buôn bán và cấm cho họ đến kinh đô. Đời Lý đã lập bạc dịch trường ở Vân Đồn, tàu thuyền ngoại quốc đến buôn bán cũng chỉ được vào hải cảng ấy và thương khách cư trú tại đó. Đến thời Lê Thái Tổ chỉ định thêm mấy nơi nữa ngoài Vân Đồn cho thương khách làm nơi cư trú, nhưng cấm người Trung Quốc ra vào Thăng Long. Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh, ngoài Vân Đồn, chúa Trịnh còn cho thương khách tập trung ở Phố Hiến, cho họ lập phố xá để tiện việc kiểm soát, và vẫn cấm họ ra vào Thăng Long. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đối với Hoa thương và thương khách ngoại quốc cũng áp dụng chính sách ngăn ngừa như các triều đại trước. Do đó, Hội An, nằm ở xa Phú Xuân, được chọn làm nơi tập trung của thương khách, cũng như Vân Đồn, Phố Hiến ở Đàng Ngoài ở xa Thăng Long11.

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí”, mục tỉnh Quảng Nam đã viết về Hội An như sau: “Phố Hội An ở hai bên bờ sông lớn phía nam xã Hội An và Minh Hương, nhà ngói liên tiếp độ hai dặm, người Tàu cư trú có 5 bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng, đều buôn bán hàng Tàu, trong có đình chợ, hội quán, khách buôn tụ tập. Phía nam có đầm Trà Nhiêu làm chỗ cho ghe thuyền nam bắc đến đậu, cũng là chỗ đại đô hội vậy”. Một giáo sĩ dòng Tên người Ý là Cristoforo Borri đã sống ở Đàng Trong từ 1618 đến 1622 cũng đã viết khá rõ về Hội An như sau: “Hải cảng đẹp nhất, tất cả người ngoại quốc đều tới đó và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng…Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Hoa chọn một địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố cho tiện việc buôn bán…Thành phố này gọi là Faifo, thành phố này khá lớn và chia làm hai khu vực, một dành cho người Hoa và một dành cho người Nhật, mỗi bên có quan cai trị riêng, người Hoa theo tục lệ Trung Quốc, người Nhật theo tục lệ Nhật Bản”12 và “…Người Trung Quốc và người Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên này, năm nào cũng mở và kéo dài trong vòng 4 tháng. Người Nhật thường đem lại 4,5 vạn nén bạc, người Trung Quốc thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ. Do chợ này, quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc cũng được nhiều lợi ích”13. Nói “hai thành phố”, nhưng thực ra chỉ là hai khu kiều dân. Khu kiều dân Nhật đông hơn, có ảnh hưởng lớn hơn. Nhưng từ năm 1614, sau khi Nhật hoàng Daifusama ra lệnh trục xuất các giáo sĩ ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản thì những người Nhật theo đạo Thiên Chúa bắt đầu đến Đàng Trong ngày càng đông. Để ngăn chặn làn sóng người Nhật di cư đó, Nhật hoàng công bố lệnh sẽ xử tử những người trốn ra nước ngoài. Sau vụ giết đạo ở Nagasaki (1640), nước Nhật hoàn toàn đóng cửa với bên ngoài. Từ đó, khu kiều dân Nhật ở Hội An bị cắt đứt với nước mẹ, cứ tàn lụi dần, trong khi đó, khu kiều dân Trung Quốc thì vẫn tiếp tục gia tăng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động thương mại ở Hội An. Do đó, những hoạt động buôn bán của Hoa thương ngày càng tỏ ra chiếm ưu thế ở khu vực này. Họ đã tiến về phía Đông cầu Nhật Bản, mua 14,5 mẫu đất của các làng Hội An, Cẩm Phô, Cổ Trai, lập nên làng Minh Hương và mở rộng khu phố để kinh doanh.

Đến cuối thế kỉ XVII (năm 1695), một tàu buôn người Anh cập bến Hội An, T.Bowyear đã ghi lại: “Hải cảng chỉ có một phố lớn nằm bên bờ sông. Hai bên có hai dãy nhà chừng một trăm nóc, toàn là người Trung Hoa ở”. Cũng năm đó, Thích Đại Sán đến Hội An không còn thấy bóng dáng của Phố Nhật trước đây nữa, mà chỉ thấy: “Hội An là một mã đầu lớn, nơi tập hợp của thương khách các nước; thẳng bờ sông một con đường dài 3, 4 dặm gọi là Đại Đường Nhai, hai bên là phố ở liền khít rịt. Chủ phố thảy là người Phúc Kiến vẫn còn ăn mặc theo lối Tiền Triều (nhà Minh). Phần đông phụ nữ coi việc mua bán. Những khách trú ở đây hay cưới vợ bản xứ cho tiện việc thương mãi…”14và “Quốc vương nói: các năm trước, thuyền ngoại thương đến buôn một năm chừng 5, 6 chiếc, năm nay số ấy lên đến 16, 17 chiếc, nhờ đó trong nước tiêu dùng được dư dã”15. Theo Pierre Poivre, một lái buôn phương Tây nhiều lần đến Hội An, thì vào thời phồn thịnh nhất của thương cảng này (giữa thế kỉ XVII), số người Hoa ở đây đạt con số kỉ lục là 6000 người “Ở Cochinchine (Đàng Trong) có nhiều cảng. Quan trọng nhất là hải cảng nà người Bồ Đào Nha gọi là Faifo và người Cochinchine gọi là Loja…Cảng sâu và an toàn, đặc biệt thuận lợi cho thương nhân, vì tàu có thể cập bến ngay trước sở thương chính. Faifo là hải cảng năng động nhất của xứ Cochinchine. Ở đấy có khoảng 6000 người Trung Hoa và là những thương nhân cỡ lớn. Họ lấy vợ bản xứ và nộp thuế cho nhà vua…” (trích “Hồi kí về xứ Cochinchine” của Pierre Poivre)16.

Lê Quý Đôn trong sách “Phủ biên tạp lục” hoàn thành năm 1776, đã viết về trung tâm thương nghiệp Hội An như sau: “Ở nơi đây (tức phố Hội An), vì các vị khách buôn Trung Quốc đều tới mua hàng đưa về Tàu, nên buổi trước hàng hóa rất nhiều, dầu có một trăm chiếc thuyền lớn chuyên chở hàng hóa trong một lúc không thể chở hết được”, “Các hàng hóa đều bán rất chạy, không có món hàng nào bị ế và ứ đọng cả. Bao nhiêu những hàng hóa mà y (nhà buôn Trung Hoa) đưa sang đây như sa, đoạn, gấm vóc ngũ sắc, vải tấm, trăm thứ thuốc bắc, giấy vàng, giấy bạc, dây vàng, dây bạc, các sắc dầu thơm, các hạng chỉ liệu (giấy), các sắc dây tơ, các màu thuốc nhuộm, các sắc quần, áo, giầy, giép, nhung, lược, kính hay gương pha lê, giấy, bút, mực, kim, khuy, cúc áo, bàn ghế, sa sao, đồ ăn uống thì có trầu lá, cam, lê, chanh, táo, bánh thị, bánh mì, miến, mì, nước mắm, dầu trám, đậu tương, đậu hủ, vôi, men, rượu, gừng, mộc nhĩ, hương tín (nấm hương),v.v…kẻ có người không, cùng nhau đổi chác, không ai là không thỏa được sở thích”17. Như vậy, qua những ghi chép của Lê Quý Đôn, có thể thấy việc buôn bán của các thương nhân người Hoa ở Hội An rất phát đạt và thuận lợi. Cũng theo ghi chép của Lê Quí Đôn thì các nhà buôn Trung Hoa ở Hội An thường mua đồng thau và các vật dụng bằng đồng từ các tàu buôn của người châu Âu và bán lại tại phố chợ Minh Hương18. Một nguồn thư tịch cổ khác cho biết vào thế kỉ XVIII, hầu như toàn bộ sản phẩm khai thác ở các mỏ vàng thuộc khu vực miền Trung của Việt Nam chủ yếu dành để xuất khẩu và thông qua trung gian, môi giới người Trung Hoa ở Hội An. Các thuyền buôn Trung Hoa thường đến Hội An vào mùa xuân, mang đến đây những vật phẩm như vũ khí, tơ lụa, trà, đồ gốm sứ, giấy quấn hương và các vật phẩm làm nghi lễ thờ cúng…Những mặt hàng này luôn là nhu cầu của thị trường Việt Nam lúc đó.

Ngoài Hội An, từ đầu thế kỉ XVII, người Trung Hoa cũng đến buôn bán ở Tân Châu (Quy Nhơn) và Đề-gi (cũng thuộc phủ Quy Nhơn) nhưng chỉ một số ít. Trong công việc kiểm soát ngoại thương, thu thuế thương thuyền, cứu giúp những thuyền ngoại quốc bị bão trôi giạt đến, các Chúa Nguyễn đã đặt ở Hội An một cơ quan gọi là Tàu vụ ty, trong đó có nhiều chức quan. Người Trung Quốc và người Minh Hương vốn có nhiều tri thức và kinh nghiệm về ngoại thương hơn người Việt, nên thường được Chúa giao phó giữ các chức quan ấy. Ngoài dân các xã Minh Hương có nhiệm vụ xem xét cân lượng, định giá hàng các tàu buôn và làm thông ngôn cho các tàu Trung Quốc và ngoại quốc. Công việc ấy cũng là sưu dịch rồi nên dân Minh Hương được miễn các thứ sưu dịch, sưu sai, quét chợ và tuần đò. Ước tính số tiền thu thuế do Tàu vụ ty thu được là không dưới 1 vạn quan, nhiều là hơn 3 vạn quan. Số thuế thu được ấy mỗi năm đem nạp vào kho 6 phần, còn 4 phần thì chia cho quan, lại, quân, dân đã phụ trách các công việc19. Bên cạnh đó, để xúc tiến các công việc kinh doanh của mình một cách thuận lợi, các nhà buôn Trung Hoa tại Hội An đã lập nên các Hội đoàn như “Hội xúc tiến thương mại đường biển” (thành lập năm 1715). Chức năng chính của Hội là ủng hộ về vật chất và tinh thần, khuyến khích mở rộng các hoạt động buôn bán tư nhân của các nhà buôn Trung Hoa trên đất Việt Nam. Như vậy, chính những hoạt động buôn bán của người Hoa đã góp phần làm cho Hội An trở thành một trung tâm thương nghiệp phồn thịnh và là trung tâm ngoại thương của cả Đàng Trong khi ấy.

2.3. Nông Nại Đại Phố (hay Cù Lao Phố) Khi đến Đàng Trong, nhóm di dân do Trần Thượng Xuyên lãnh đạo đã sớm phát hiện ra ưu thế của Cù Lao Phố và tập trung Hoa thương đến đây sinh sống và buôn bán. Cù Lao Phố vốn là một bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai), trải dài trên 7 dặm, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài. Tuy nằm cách xa biển, nhưng lại là nơi sông sâu, nước chảy, có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, xuống tận phía Nam, ra cửa Cần Giờ, và có thể sang tận Cao Miên. Bởi vậy, phần lớn Hoa thương đã chuyển từ vùng đất định cư ban đầu là Bàn Lăng (Biên Hòa) về Cù Lao Phố. Sau đó, họ phát hoang, dựng nhà, lập bến, mở đường, xây dựng phố chợ. Chỉ trong vài thập niên, đến đầu thế kỉ XVIII, những di dân người Hoa đã biến Cù Lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn thu hút thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa và các nước phương Tây.

Nông Nại Đại Phố nằm giữa cù lao trên sông Đồng Nai, đã được Trịnh Hoài Đức miêu tả trong “Gia Định thành thông chí” như sau: “Ở đầu phía Tây bãi là Đại Phố. Khi mới khai thác, tướng quân Trần Thượng Xuyên chiêu tập lái buôn người Trung Quốc lập ra phố xá, nhà ngói, tường vôi, lầu cao chót vót, quán mấy tầng rực rỡ bên sông dưới ánh mặt trời, liên tục năm dặm mở ra ba đường phố. Phố lớn lát đường đá trắng, phố ngang lát đường đá ong, phố nhỏ lát đường đá xanh, bằng phẳng như đá mài. Khách buôn tụ tập đông, thuyền biển, thuyền sông, tránh gió bỏ neo, lớn nhỏ sát nhau, là một nơi đô hội…”20. Tuy nhiên, sự thịnh vượng của Cù Lao Phố chỉ kéo dài đến nửa đầu thế kỉ XVIII thì bắt đầu đi xuống, vì nhiều nguyên nhân song chủ yếu do sự tàn phá của chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Cù Lao Phố từ khi hình thành và phát triển cho đến khi bị tàn phá, đã tồn tại được 97 năm (1679 – 1776).

2.4. Đất Hà Tiên của họ Mạc

“Hà Tiên nguyên đất của Chân Lạp, tục xưng là Mang Khảm, tiếng Tàu gọi là Phương Thành, khi ban đầu Mạc Cửu – người xã Lê Quách, huyện Khang Hải, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông nước Đại Minh, vào năm niên hiệu Khang Hy thứ 19 (1680) đời Đại Thanh, nhà Minh mất, ông Cửu không phục chánh sách nhà Thanh để tóc dài, qua Nam Vang nước Cao Miên…”21. Tuy nhiên, trong “Mạc thị gia phả” lại viết rằng: “…Cuối đời nhà Minh, đất Trung Quốc đại loạn, Mạc Thái Công húy Cửu, người Lôi Châu, sinh ngày mùng 8 tháng 5 năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Lịch nhà Minh năm thứ chín (tức là năm 1655), do không chịu được sự nhiễu loạn của giặc Hồ, bèn vượt biển đi về phương Nam, trú ngụ ở Chân Lạp. Sự kiện này xảy ra vào năm Tân Hợi (tức là năm 1671). Năm đó Mạc Thái Công 17 tuổi. Thái Công được Quốc Vương Chân Lạp sủng ái và tin dùng, các việc buôn bán đều ủy thác cho Mạc Thái Công trông coi hết…”22. Như vậy, Mạc Cửu ra đi và đến Chân Lạp năm nào, bắt đầu xây dựng vùng đất Hà Tiên vào năm nào vẫn chưa có sự thống nhất. Tuy nhiên, chắc chắn là Mạc Cửu ra đi khi nhà Thanh đã lên nắm quyền thống trị ở Trung Hoa.

Sau khi đến Chân Lạp, Mạc Cửu đã xin Quốc Vương Chân Lạp cho ra trấn thủ ở đất Mang Khảm, “Lúc bấy giờ, Quốc Vương (Chân Lạp) nghe tâu rằng, nếu được ra Mang Khảm, Thái Công sẽ lo chiêu tập người buôn kẻ bán khắp bốn phương, thu lợi cho quốc gia không phải là nhỏ, bèn vui vẻ chuẩn y ngay, lại còn phong cho Thái Công làm Ốc nha. Thái Công ngày đêm lo chiêu tập người ở khắp hải ngoại đến buôn bán, tàu thuyền ra vào rất nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày một lừng lẫy”23.

Năm Mậu Tí (1708), đời vua Hiếu Tông Hiếu Minh Hoàng đế (Nguyễn Phúc Chu) sắc cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên, phong tước Cửu Ngọc hầu. Mạc Cửu đã lập dinh trại đồn trú ở đất Phương Thành, nhân dân quy tụ ngày càng đông đảo 24.

Năm Ất Mão (1735), Tổng binh trấn Hà Tiên là Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ (còn gọi là Mạc Thiên Tích) kế cha là Đô đốc trấn Hà Tiên. Lúc đó, Hà Tiên đã bắt đầu phồn thịnh, nên Chúa đã cho Thiên Tứ quyền hạn rộng rãi hơn: được cấp cho ba chiếc thuyền Long bài miễn thuế để thông thương với hải ngoại, được phép đúc tiền. Thiên Tứ là một vị Nho học, giỏi thơ văn, có nhiều tài năng. Thiên Tứ đã cho xây dựng thành lũy, lập quân ngũ, đặt nha thuộc, khuếch trương phố, chợ, tàu thuyền buôn bán ngoại quốc tới lui càng đông, ông cũng cho thuyền sang mậu dịch với Nhật Bản. Thiên Tứ lại vời những người văn học Việt, Hoa để lập ra nơi để cùng nhau giảng bàn học vấn, xướng họa thơ văn, gọi là Chiêu Anh Các, lễ giáo Trung Quốc dần dần thấm nhuần vào nhân dân đất này 25.

Viết về vùng đất Hà Tiên, sách Văn Hiến Thông Khảo đời Thanh (1747) có ghi chép như sau: “…Cảng Khẩu quốc là một xứ miền Tây Nam Hải, ở giữa An Nam và Xiêm La…Vua đương thời tên là Thiên Tứ (Mạc Thiên Tứ – con của Mạc Cửu). Lịch sử truyền ngôi chưa rõ. Xứ ấy có núi cao nhưng lãnh thổ chỉ vài trăm dặm. Thành lũy làm bằng cây. Nhà cửa không khác gì với Trung Quốc. Từ nhà của vương đến dân thường tất cả đều làm bằng gạch ngói. Trong cách ăn mặc họ bắt chước theo triều đại trước (triều Minh). Vương búi tóc bọc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiễu, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sừng, mang hia. Dân chúng mặc áo cổ cao, tay rộng…phong tục thì trọng văn, thích thơ ca. Trong xứ có miếu thờ Khổng Tử, từ vương đến nhà dân ai cũng thờ kính. Có một nhà nghĩa học dạy những thanh niên ưu tú mà nhà nghèo không có tiền ăn học. Những người Trung Hoa sang mà có khả năng thì được mời vào dạy học…”26. Hà Tiên đã nhiều lần bị chiến tranh tàn phá, thiệt hại nặng nhất là trận đánh phá của quân Xiêm năm 1771. Quang cảnh Hà Tiên mà Trịnh Hoài Đức ghi lại trong “Gia Định thành thông chí” là đất Hà Tiên thời Gia Long đã được khôi phục và tu bổ với đền Quan Thánh bên phải, chùa Tam Bảo ở phía sau, chợ trấn ở phía Đông, miếu Hội Đồng ở phía Bắc. Hà Tiên được coi là nơi hội tụ của các văn nhân Trung Quốc đến từ Phúc Kiến, Quảng Đông, cũng là nơi việc giao dịch buôn bán với Nhật Bản và Trung Quốc sớm phát triển, là trung tâm của mối quan hệ ngoại giao Xiêm – Cao Miên- Đàng Trong. Năm 1676, nước Xiêm bị Miến Điện đánh chiếm, con vua Xiêm là Chiêu Thúy chạy sang nương náu ở Hà Tiên. Các cuộc xung đột giữa Đàng Trong với Cao Miên cũng được Mạc Thiên Tứ dàn xếp với kết quả là Cao Miên cắt đất để tạ lỗi Chúa Nguyễn hoặc tạ ơn vùng đất Hà Tiên đã giúp ông dựng nghiệp lớn. Có thể thấy, Hà Tiên là vùng đất được khai phá và phát triển mạnh mẽ, trong đó người Hoa có vai trò rất quan trọng. Cộng đồng người Hoa ở đây đã được hình thành từ khoảng nửa sau thế kỉ XVII. Hà Tiên đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một trung tâm kinh tế và văn hóa nổi bật ở vùng nam Đông Dương. Cộng đồng người Hoa ở Hà Tiên độc lập nhưng không biệt lập, khép kín. Trong quá trình phát triển của mình, họ đã dần dần hội nhập vào Việt Nam về mọi phương diện.

2.5. Khu vực Chợ Lớn

Chợ Lớn cũng là khu vực sớm được những người dân Trung Hoa chọn làm nơi lập nghiệp. Thị trấn Chợ Lớn cách Sài Gòn 5 km về phía Tây Nam do người Hoa lập ra năm 1778, Chợ Lớn thường được gọi là chợ người Hoa, người đương thời còn gọi là Chợ Sài Gòn. Lê Văn Duyệt sau khi được bổ nhiệm làm Tổng trấn Gia Định đặt tên cho chợ người Hoa này là Chợ Lớn. Năm 1782, thị tứ này bị quân Tây Sơn tàn phá nặng nề. Sau khi vua Gia Long lên ngôi (1802 – 1820), Chợ Lớn bắt đầu phát triển một cách nhanh chóng. Ngoài việc buôn bán lúa gạo và các nông sản khác, Hoa thương ở đây đã làm chủ việc phân phối các mặt hàng nhu yếu phẩm tiêu dùng hàng ngày do các nhà buôn từ Trung Quốc, các nước trong khu vực Đông Nam Á và từ châu Âu chuyển tới. Trước thời điểm thực dân Pháp thiết lập chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ, ở thị trấn này đã có tới 500 ngôi nhà, có 2 kênh đào, 5 cái cầu (trong đó có 1 cầu làm bằng sắt), có nhiều kho hàng và các xưởng đóng thuyền. Hoạt động buôn bán của họ ở đấy tấp nập suốt ngày đêm 27.

Nơi đây “phố xá liên tiếp sát mái nhau, người Tàu và người ta ở chung lẫn lộn dài độ 3 dặm. Hàng hóa trong các phố bày bán có: gấm, đoạn, đồ sứ, giấy má, châu báu…Những hóa vật ở Nam Bắc theo đường sông đường biển chở đến không thiếu món nào. Đầu phía Bắc đường phố lớn có miếu Quan Thánh và 3 hội quán: Phúc Châu, Quảng Đông và Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu, phía tây đường lớn có miếu Thiên Hậu, gần phía tây có hội quán Ôn Lăng…ấy là một thị phố lớn và đô hội náo nhiệt”28. Đặc biệt, từ cuối thế kỉ XVIII, nhiều người Hoa bỏ đất Biên Hòa về Chợ Lớn sinh sống, làm cho dân cư khu vực này đông đúc hơn và phố thị ngày càng sầm uất. Chợ Lớn trở thành đầu mối cung cấp hàng hóa cho cả khu vực mà hầu hết những nhà buôn lớn là người Hoa. Người Hoa ở Chợ Lớn đã bước đầu thành lập nên các Bang, Hội của mình để quản lý việc buôn bán và tương trợ lẫn nhau trong quá trình định cư tại khu vực này.

Khu vực Chợ Lớn bao gồm nhiều thôn, xã, trong đó có xã Minh Hương. Chợ Lớn trước nằm trong địa hạt tổng Tân Long, sau là huyện Tân Long. Xã Minh Hương được thành lập từ năm 1698, cùng với nhiều thôn, xã khác của tổng Tân Long. Dân trong xã Minh Hương là những người Hoa đã nhập quốc tịch Việt, đa số làm nghề buôn bán chứ không có ruộng nương cày cấy nên phải đóng thuế theo quy chế “biệt nạp”. Năm 1771, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân đánh phá Hà Tiên, dân Hà Tiên không buôn bán được nữa, một số người Việt gốc Hoa ở đây đã phải chạy về Chợ Lớn để tá túc. Năm 1778, dân xã Thanh Hà gần như bỏ hẳn Cù Lao Phố gần Biên Hòa về Chợ Lớn trú ngụ. Từ đó, Chợ Lớn trở thành trung tâm tụ hội khá đông người Minh Hương. Những người Minh Hương ở đây chủ yếu làm dịch vụ xay xát, xuất cảng lúa gạo và các loại nông phẩm khác, đồng thời cung cấp nhu yếu phẩm xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng đang trên đà phát triển mạnh. Từ năm 1778, lưu dân đến quá đông, nhờ đào kinh Bảo Định, Rạch Cát, sau này thêm kinh Tàu Hủ nên việc vận chuyển hàng hóa trở nên dễ dàng hơn. Kinh Tàu Hủ (hay Kinh Chợ Lớn) được khởi công đào năm 1819, là đường thủy vận nối liền Sài Gòn-Chợ Lớn với các sông ngòi tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi đây người Hoa vận chuyển hàng nhập cảng hay nội địa về bán cho cư dân lục tỉnh Nam Kì, sau đó mua lúa gạo, gia cầm và nông phẩm khác về bán lại. Hai bên bờ kinh sinh hoạt của người Hoa rất tấp nập 29.

Trên bản đồ thành phố Sài Gòn năm 1795, địa bàn Chợ Lớn đã được mệnh danh là Bazar Chinois (chợ Trung Hoa, hay còn gọi là Phố Khách). Năm 1819, Huỳnh Công Lý cho đào sông An Thông để cho Chợ Lớn trở thành nơi “tấp nập, đô hội”. Sau đó, người Minh Hương đã góp sức xây thêm kè, lát thêm cầu tàu bằng đá, tạo thành một bến cảng lớn rất sầm uất. Năm 1822, một nhà ngoại giao cũng là một nhà khoa học người Anh Finlayson đến Sài Gòn đã đánh giá rằng mỗi cái trong hai thị trấn Bến Nghé (tức Sài Gòn sau này) và Sài Gòn (tức Chợ Lớn bây giờ) đều to lớn bằng kinh đô Bangkok của nước Xiêm. Ông mô tả “Nhà cửa rộng lớn, thích hợp với phong thổ. Mái lợp ngói. Cột điều mộc. Vách thì trét đất sét lên sườn tre rồi tô hồ lên. Nhiều nhà cao tầng, sàn bằng ván, xếp hàng dọc theo bờ kênh, bờ sông hay dọc theo đường cái rộng quang đãng. Phố xá ngay hàng thẳng lối hơn là ở nhiều kinh thành Châu Âu”30.

Trịnh Hoài Đức đã miêu tả trong “Gia Định thành thông chí” về Phố Chợ Lớn như sau: “Cách phía nam trấn 12 dặm, nằm hai bên quan lộ là thành phố lớn, ba đường xuyên thẳng giáp bến sông, một con đường chạy ngang ở giữa và một con đường dọc theo bờ sông. Phố xá liên tiếp liền mái nhau, người Tàu và người ta ở chung lẫn lộn, dài độ 3 dặm. Hàng hóa trong các phố bày bán có: gấm đoạn, đồ sứ, giấy mực, châu báu, sách vở, thuốc thang, trà bột…Những món hàng ở Nam Bắc theo đường sông đường biển chở đến không thiếu món nào…Phía đông đường lớn, giữa có phố chợ Bình An đủ sản vật quý báu ở núi ở biển và thổ sản các nơi, ban đêm còn thắp đèn mua bán”31. Không chỉ là trung tâm buôn bán sầm uất trong nước, Chợ Lớn cũng mở rộng hoạt động buôn bán với nhiều nước trong khu vực. Các thương nhân người Hoa ở Chợ Lớn thường xuyên giao lưu buôn bán với thương nhân Campuchia, lại thêm chính sách đón nhận tàu buôn nước ngoài thời Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định làm cho các hoạt động buôn bán và sản xuất ở Chợ Lớn càng thêm phát triển. Vì vậy, đến nay người Hoa ở Chợ Lớn vẫn tổ chức cúng bái rất linh đình vào dịp lễ giỗ của Lê Văn Duyệt và coi ông là vị thần tài của Sài Gòn.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam kỳ và bắt tay vào cai trị thì tình hình cơ cấu, tổ chức của người Hoa ở Chợ Lớn cũng biến động theo. Năm 1865, Pháp cho thành lập một hội đồng quản hạt tại Chợ Lớn gồm 5 người Việt Nam, 15 người Hoa và 5 người Minh Hương. Hội đồng này có nhiệm vụ tiếp đón người Hoa di cư và thu thuế cư trú. Mỗi Hoa kiều nhập cư vào Việt Nam buộc phải gia nhập một trong bảy bang đã có từ thời Nguyễn (đó là các bang Phúc Kiến, Phúc Châu, Triều Châu, Quảng Châu, Quế Châu, Lôi Châu, Hải Nam). Lúc này, Hội đồng quản hạt được coi là một đơn vị chính quyền tương đối độc lập với chính quyền trung ương, nó được phép ban hành những luật lệ riêng và không phải thông qua chính quyền thuộc địa như quản lý kiều dân, giá bán gạo, định mức xuất nhập cảng…Sau khi hoàn tất việc chiếm đóng Việt Nam (1884) và muốn giữ quan hệ ngoại giao tốt với Trung Hoa, chính quyền thuộc địa Pháp công nhận những người Hoa sống tại Việt Nam là công dân Trung Hoa, xác nhận sự bình đẳng của người Hoa với người Việt về nhiều phương diện, cả về tính mạng và tài sản, cho phép người Hoa đi lại tự do và được thành lập những cơ sở kinh doanh trên khắp lãnh thổ Nam Bộ. Tại Chợ Lớn, người Hoa cư ngụ trong mỗi phố được quyền thành lập một đại bang để quản lý những vấn đề nội bộ của người Hoa32. Khu vực Chợ Lớn hiện nay tuy đã có nhiều thay đổi so với trước đây, nhưng vẫn là một trong những trung tâm buôn bán phồn thịnh không chỉ của người Hoa mà còn có cả người Việt Nam, đồng thời nó cũng là một trung tâm kinh tế không thể thiếu của thành phố năng động bậc nhất Đông Nam Á là Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận Như vậy, sự có mặt của các thương nhân người Hoa trên một dải đất dài từ miền Trung đến miền Nam Việt Nam trong nhiều thế kỉ, đặc biệt là khoảng thời gian từ thế kỉ XVII đến XIX đã để lại những dấu ấn sâu sắc với các đô thị phát triển sầm uất. Các cộng đồng người Hoa không chỉ có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hình thành những đô thị ở khu vực này mà những hoạt động kinh tế của họ còn góp phần đưa các đô thị đó trở thành những trung tâm thương mại sầm uất và thịnh vượng trong suốt ba thế kỉ. Thanh Hà, Hội An, Cù Lao Phố, Hà Tiên, Chợ Lớn…là những đô thị trong đó vai trò, đóng góp của người Hoa được thể hiện rõ nét trong quá trình hình thành và phát triển, tuy nhiên những hoạt động thương mại của người Hoa còn vượt ra ngoài những đô thị đó và góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế nước ta ở khu vực Đàng Trong. Trong số những đô thị còn lại đến ngày nay, chỉ có Chợ Lớn vẫn phát huy được vị trí của một trung tâm thương mại lớn ở một thành phố năng động bậc nhất Đông Nam Á và hàng ngày vẫn hòa vào sự phát triển chung của đất nước trong thời kì hội nhập và phát triển.

————

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

——–

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Bang, Phố cảng Thanh Hà – Bao Vinh trung tâm thương mại Phú Xuân – Huế thế kỉ XVII – XVIII – XIX, Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 2006.

2. Đỗ Bang, Quan hệ và phương thức buôn bán giữa Hội An với trong nước, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Hội An, Nxb Khoa học xã hội, 1991.

3. Dinh Đức Hầu Vũ Thế Dinh, Nguyễn Khắc Thuần dịch, Mạc thị gia phả, Nxb Giáo dục, 2005.

4. Huỳnh Ngọc Đáng, Chính sách của chính quyền Đàng Trong đối với người Hoa (từ năm 1600 đến năm 1777), Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.

5. Nguyễn Đình Đầu, Quá trình hình thành và phát triển phố cổ Hội An, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.

6. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.

7. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Tập hạ, Nha văn hóa Phủ quốc Vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn, 1972.

8. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Tập trung, Nha văn hóa Phủ quốc Vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn, 1972.

9. Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

10. Nguyễn Văn Huy, Người Hoa tại Việt Nam, Nxb NBC, Paris, 1973.

11. Trần Khánh, Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, Nxb Đà Nẵng, 1992.

12. Trần Khánh, Chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam đối với dân Trung Hoa di cư, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2000.

13. Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558-1777, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969.

14. Thạch Phương, Sự hình thành cộng đồng người Hoa di cư thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII-XVIII, Kỷ yếu Hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ – Những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII- XIX, 2002.

15. Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại- những sử liệu mới, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

16. Trương Hữu Quýnh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, 1998. 17. Nguyễn Cẩm Thúy (CB), Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỉ XVII đến năm 1945), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.

18. Viện Sử học, Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội, 1989.

———-

 

1 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 1, NxbB Giáo dục, H.1998, tr.330

2 Trần Khánh, Chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam đối với dân Trung Hoa di cư, Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, 2000, Tr.69.

3 Trần Khánh, Chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam…., Bđd, tr.70

4 Viện Sử học, Đô thị cổ Việt Nam, Hà Nội, 1989, Tr.307

5 Đỗ Bang, Phố cảng Thanh Hà – Bao Vinh trung tâm thương mại Phú Xuân – Huế thế kỉ XVII – XVIII – XIX, Nghiên cứu Lịch sử, số 5, 2006, Tr.4

6 Đỗ Bang, Phố cảng Thanh Hà – Bao Vinh trung tâm thương mại Phú Xuân – Huế thế kỉ XVII – XVIII – XIX, Bđd, tr.4

7 Đỗ Bang, Bđd, tr.5

8Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.234

9 Lê Quý Đôn, Sđd, tr.234

10 Đỗ Bang, Bđd, tr.7

11 Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, Tr.530

12 Nguyễn Đình Đầu, Quá trình hình thành và phát triển phố cổ Hội An, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.180

13 Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, tr.530

14 Đỗ Bang, Quan hệ và phương thức buôn bán giữa Hội An với trong nước, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về Hội An, Nxb Khoa học xã hội, 1991, tr.233 – 234

15 Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, tr.r.537

16 Nguyễn Phan Quang, Việt Nam cận đại – những sử liệu mới, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998,Tr.139 17 Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Sđd, tr.235

18 Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Sđd, tr.326

19 Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, tr..538 – 539

20 Thạch Phương, Sự hình thành cộng đồng người Hoa di cư thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII – XVIII, Kỷ yếu Hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ – Những vấn đề lịch sử thế kỉ XVII – XIX, 2002, Tr.391

21 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, tập Trung, Nha văn hóa Phủ quốc Vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.79

22 Dinh Đức Hầu Vũ Thế Dinh, Nguyễn Khắc Thuần dịch, Mạc thị gia phả, Nxb Giáo dục, 2005, tr.14

23 Dinh Đức Hầu Vũ Thế Dinh, Nguyễn Khắc Thuần dịch, Mạc thị gia phả, Sđd, tr.15

24 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Sđd, tr.80

25 Phan Khoang, Việt sử: Xứ Đàng Trong 1558 – 1777, Sđd, tr.435

26 Huỳnh Ngọc Đáng, Chính sách của chính quyền Đàng Trong đối với người Hoa (từ năm 1600 đến năm 1777), Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr.42

27 Trần Khánh, Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, Nxb Đà Nẵng, 1992, Tr.46 28 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, tập Hạ, Nha văn hóa Phủ quốc Vụ khanh đặc trách xuất bản, Sài Gòn, 1972, Tr.98 – 99

29 Nguyễn Văn Huy, Người Hoa tại Việt Nam, Nxb NBC, Paris, 1973

30 Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Tr.244

31 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tập Hạ, Sđd, tr.96 – 99

32 Nguyễn Cẩm Thúy (CB), Định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ (từ thế kỉ XVII đến năm 1945), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr.23 14

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Lịch sử, Trung Quốc | Thẻ: , , , | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: