BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Chính sách của Trung Quốc làm Việt Nam lo âu

Posted by adminbasam on 13/06/2009

ASIA TIMES

Chính sách bành trướng của Trung Quốc khuấy động mối lo âu ở Việt Nam

Trần Lê Anh

Ngày 12-6-2009

 

Nếu như có một nhu cầu cần biết về sự đồng thuận trong người Việt Nam ở khắp mọi nơi từ trong nước cho tới ngoài nước, thì chắc chắn phải là thái độ bực bội đối với Trung Quốc. Tâm lý của người Việt Nam về vấn đề an ninh quốc gia từ thời xa xưa đã là như vậy về sự cảnh giác với Trung Quốc.

Mặc dù lòng kiêu hãnh của Việt Nam trong việc đánh thắng các cuộc xâm lăng của ngoại bang luôn luôn cao độ, song lịch sử 1.000 năm bị Trung Quốc đô hộ của đất nước này đã đủ đau thương để trở thành một điều ghi khắc khôn nguôi. Và ba sự kiện đang diễn tiến hiện nay dường như củng cố thêm cho điều này một mức độ đáng kể.

Thứ nhất, trong ít tháng qua, sự phản đối kịch liệt của công luận Việt Nam trước sự dính líu của Trung Quốc vào kế hoạch khai thác bauxite của Việt Nam trên vùng Cao nguyên Trung phần đã gây nên ấn tượng sâu sắc. Bản danh sách về những ý định lươn lẹo gán cho Trung Quốc cứ dài ra, từ việc xuất khẩu những sản phẩm làm ảnh hưởng xấu tới môi trường cho tới sự gây nguy hiểm tới an ninh quốc gia của Việt Nam. Hiện tượng này là chưa từng xảy ra và cho thấy một sự trái ngược ngày càng tăng giữa công chúng Việt Nam với chính quyền (VN) đối với những hoạt động đầu tư của Trung Quốc.

Một cái nhìn chớp nhoáng về cách mà các công ty của Trung Quốc đang tiến hành những dự án lớn hơn ở Việt Nam có thể cung cấp một lời giải thích hợp lý cho tình cảm này. Khi việc xây dựng những khu mỏ, nhà máy điện, xi măng, hoá chất lớn tại Việt Nam, thay vì thuê mướn nhân công tại địa phương, thì các công ty Trung Quốc lại thường đem công nhân của họ theo.

Hầu hết những công nhân nầy đều là những nhân công không lành nghề. Những nhân công nầy không thể làm việc hợp pháp tại Việt Nam theo những quy định về lao động ở nước này. Những bài báo gần đây trên phương tiện truyền thông Việt Nam đã cho thấy một làn sóng nhập cư của nhân công Trung Quốc đang được đưa vào các dự án được Trung Quốc thực hiện ở đây, với một số nơi đang có tới hơn 2.000 công nhân ở mỗi nơi. Từ quan điểm của công chúng Việt Nam, việc này không thể làm hài lòng   về tình trạng việc làm trong nước và gây nên khó khăn tiềm tàng cho dân chúng và an ninh quốc gia.

Hơn nữa, theo những người Việt Nam chỉ trích đã chỉ rõ ra, việc đưa vào những công nghệ cũ kỹ và kém thân thiện với môi trường của các công ty Trung Quốc để thực hiện nhiều dự án đó đã gây nên một mối quan ngại rằng Việt Nam đang trở thành một bãi thải cho rác công nghiệp. Về khía cạnh này, sự kiện thực tế rằng các công ty Trung Quốc thắng thầu ngày càng nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực quan trọng trên khắp đất nước Việt Nam đã không thể giúp gì được hơn ngoài việc làm gia tăng thêm mối lo ngại đó.

Thứ hai, mối quan hệ kinh tế toàn diện của Việt Nam với Trung Quốc đã sinh ra những mức độ căng thẳng nào đó lên nền kinh tế của Việt Nam. Đất nước này phải đối mặt với một tình trạng thâm hụt thương mai đều đặn hàng năm với Trung Quốc kể từ năm 2001. Với con số cực kỳ cao vào năm 2008 là hơn 11 tỉ đô la, chiếm khoảng 12% tổng sản phẩm quốc nội GDP.

Mức thâm hụt thương mại to lớn này không chỉ tạo nên sức ép tiêu cực lên cán cân thanh toán (tiền bạc) của Việt Nam mà còn đăt nên những thách thức cam go về cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi nhiều sản phẩm nhập khẩu của Trung Quốc có thể được sản xuất ở trong nội địa Việt Nam.

Hiện nay, không cần phải có nhiều cố gắng để phát hiện ra rằng các thứ hàng hóa rẻ tiền cực độ của Trung Quốc đang tràn ngập thị trường trên khắp đất nước Việt Nam. Nếu điều này xảy ra tại những nước như Hoa Kỳ hay Ấn Độ, thì người ta sẽ được thấy những cuộc điều tra chống bán phá giá và những hệ quả xấu của nó nổi lên như nấm từ cả hai phe cánh tả và cánh hữu. Thế nhưng, chính phủ Việt Nam, do những khả năng về  pháp luật và những lý do chính trị, đã không dám nói ra mối quan ngại đang gia tăng trong cộng đồng doanh nghiệp trong nước của mình.

Thêm vào đó, những vấn đề xuất phát từ việc buôn lậu các hàng hóa Trung Quốc, (từ  gà vịt cho tới đồ chơi trẻ em), vào Việt Nam cũng rất quan trọng, tác động không chỉ sự thiệt hại kinh tế mà còn là một mối đe doạ đến sức khỏe khi những thứ này phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ Việt Nam. Mặc dù đây là một vấn nạn kéo dài từ lâu, truyền thông Việt Nam mới đây đã và đang rung lên hồi chuông cảnh báo về tràn ngập số lượng khổng lồ của các hàng hóa buôn lậu khi mà các doanh nghiệp Trung Quốc cố thoát khỏi tình trạng tồn đọng hàng hóa trong kho vào thời kỳ có cuộc suy thoái kinh tế hiện nay.

Thứ ba, những yêu sách chủ quyền lãnh thổ chồng lấn nhau trên vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong vùng Biển Nam Trung Hoa (được Việt Nam gọi là Biển Đông) đã và đang gia tăng cường độ. Chính phủ Việt Nam đã cố kiềm chế làn sóng phản đối dữ dội của công chúng chống lại những yêu sách quả quyết về chủ quyền của Trung Quốc đối với những hòn đảo này vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008 nhằm tránh những mối căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Tuy nhiên, đối diện với thái độ quả quyết ngày càng tăng của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam giờ đây đang khuyến khích công chúng nghiên cứu và hiểu biết những bằng chứng lịch sử và pháp luật để hổ trợ giúp đỡ cho những yêu sách chủ quyền lãnh thổ  của mính. Điều này có thể được xem như là một bước tiến có tính chất khẳng định của chính phủ Việt Nam bởi lẽ sức mạnh lớn nhất của đất nước này nằm trong ý chí của dân chúng được chứng minh qua suốt chiều dài lịch sử của quốc gia nầy.

Để làm sáng tỏ cuộc tranh luận, việc tập trung lực lượng quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông, ví dụ như căn cứ tàu ngầm hạt nhân bí mật đã được báo chí đưa tin trên Đảo Hải Nam, đã gây nên mối lo trong nhiều tầng lớp dân chúng Việt Nam. Về điểm này, thỏa thuận mới được thông báo gần đây của Việt Nam để mua sáu chiếc tàu ngầm trị giá 1,8 tỉ đô la từ Nga có thể được xem như là một phản ứng đối với sự phát triển lực lượng quân sự của Trung Quốc. Tuy nhiên, vì nguồn tài nguyên kinh tế bị giới hạn, Việt Nam không muốn tham gia vào bất cứ cuộc chạy đua vũ trang nào với Trung Quốc. Song cùng lúc ấy, Việt Nam cũng không thể đơn giản là ngồi yên và nhìn Trung Quốc tiếp tục chuyển quân vào trong vùng Biển Đông.

Nhưng vẫn có hy vọng cho  chính quyền Việt Nam để giải quyết những vấn đề này theo hướng đôi bên cùng có lợi và giữ ổn định trong khu vực. Trước hết và quan trọng nhất, là những mối quan ngại của công luận Việt Nam không thể nào bị (chính quyền) đánh giá quá thấp mà cần phải được tính đến. Về phương diện này, dù là được chính phủ Việt Nam tán đồng, các công ty Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam cần phải biết một cách chính xác về những tác động của môi trường và chính trị về các dự án của họ và phải giải quyết một cách thành thật những ảnh hưởng nầy sao cho  phù hợp với các tiêu chuẩn và quy tắc của thương mại quốc tế đã thừa nhận. Đó là lợi ích lâu dài của họ để có được sự tín nhiệm của dân chúng Việt Nam bằng việc thể hiện là những nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm. Về điểm này, việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài của người Nhật có thể là một ví dụ tốt cho họ để noi theo.

Thêm vào đó, kiểu cách Trung Quốc gửi công nhân ra làm việc trong các dự án của họ ở nước ngoài mang tích chất không chính đáng về chính trị và có khả năng châm ngòi cho những nỗi oán giận không cần thiết, và việc nầy sẽ làm phức tạp thêm nữa những mối quan hệ ngoại giao song phương. Chấm dứt thói quen này sẽ là một bước đi khôn ngoan đầu tiên để làm thay đổi ngược lại những tình cảm tiêu cực trong công chúng Việt Nam.

Trong bối cảnh rộng lớn hơn của các mối quan hệ kinh tế, vấn đề cân bằng thương mại và vấn nạn buôn lậu cần phải được giải quyết để giảm bớt căng thẳng cho nền kinh tế Việt Nam. Thương mại là một công cụ ngoại giao rất quan trọng để cổ vỏ  tình bạn và hòa bình có ý nghĩa; và Trung Quốc đang ở vị thế để thực hiện việc đó nếu như Trung Quốc thành thật qua những lời tuyên bố “phát triển trong hòa bình” của họ. Đối với ba cường quốc riêng rẽ – Trung Quốc, Nhật, và Hoa Kỳ – mà Việt Nam coi là quan trọng nhất trong việc hướng tới chính sách đối ngoại của họ, thì Việt Nam thích những thặng dư thương mại có được với hai quốc gia sau (Mỹ và Nhật). Trung Quốc có thể thể hiện được thiện chí ngoại giao đáng kể đối với người dân Việt nam bình thường nếu như họ theo gương Mỹ và Nhật trong khía cạnh nầy.

Với sự lưu tâm tới vấn đề gai góc nhất, bất cứ giải pháp nào cho tranh chấp lãnh thổ trên biển cũng cần đạt được trong một thái độ rõ ràng minh bạch và phù hợp với những nguyên tắc quốc tế đã được công nhận. Cách Trung Quốc tiếp cận vấn đề này như thế nào sẽ là một thử thách có mức độ cao nhất cho lập trường “phát triển một cách hòa bình” đã được họ cam kết của họ. Trong khi đó, không nên có bất cứ hành động sử dụng vũ lực chết người nào (của bất cứ bên nào) để chống lại những ngư dân bình thường trên vùng biển đang tranh chấp. Họ không có khả năng tự vệ và họ cần phải được cư xử như vậy.

Với bất cứ đánh giá nào, một số người có thể biện luận rằng những lối tiếp cận nói trên đối với ba bước phát triển được xác định hiện thời đều gợi lên sự ảo tưởng. Song thật khó mà thấy được làm sao mà những mối quan hệ và sự ổn định hai bên cùng có lợi sẽ được nuôi dưỡng nếu như những bước tiếp cận đó vị bỏ qua. Với tư cách là một cường quốc đang lớn mạnh trên vũ đài thế giới với những ảnh hưởng kinh tế và chính trị tiềm tàng khắp các lục địa, Trung Quốc có mọi mối quan tâm cốt để thể hiện với thế giới rằng sự lớn mạnh của họ quả thực là có tính chất hòa bình. Trung Quốc có thể làm như vậy bằng cách bày tỏ trước những cử chỉ chân thành rộng lượng của họ đối với Việt Nam.

Mặc dù luôn cảnh giác như thường lệ, người Việt Nam đủ tinh khôn để tiếp nhận  những cử chỉ này vì lợi ích hòa bình và phát triển kinh tế trong khi tiếp tục tăng cường và củng cố bản chất và đặc tính quốc gia khó khăn mới có được của họ.

Ông Trần Lê Anh là một giáo sư của trường đại học Lasell (Hoa Kỳ), nơi ông giảng dạy kinh tế học và quản lý.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Mời bạn đọc bài nầy để tham khảo:

http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/30/30

————————————————-

 

ASIA TIMES

China’s rise stirs Vietnam’s anxiety

By Anh Le Tran

Jun 12, 2009

If there was a need to identify a consensus among Vietnamese across the spectrum from domestic to overseas, it must be the uneasy feeling towards China. The Vietnamese mentality regarding national security from time immemorial has been that of vigilance on China.

Although Vietnamese pride for fighting off foreign invasions always runs high, the country’s history of 1,000-year Chinese domination is painful enough to be a relentless reminder. And three current developments seem to reinforce it to a significant extent.

First, over the past few months, the Vietnamese public outcry against Chinese involvement in Vietnam’s bauxite mining plan in the Central Highlands has been dramatic. The list of accused Chinese elusive intentions is long, ranging from exporting environmental degradation to compromising Vietnam’s national security. This phenomenon is unprecedented and shows an increasing contrast between the Vietnamese populace and government towards Chinese investments.

A quick look at the way Chinese companies carry out their bigger projects in Vietnam may provide a reasonable explanation for this sentiment. When constructing huge electric, cement, chemical and mining plants in Vietnam, instead of hiring locally, Chinese companies usually brought their own workers with them.

Most of them are unskilled laborers, who currently cannot legally work in Vietnam according to the country’s labor regulations. Recent reports by popular Vietnamese media have shown an influx of Chinese laborers into Chinese-implemented projects, with some sites having in excess of 2,000 workers each. From the Vietnamese public’s perspective, this is both undesirable for local employment and potentially difficult for public and national security.

Moreover, as pointed out by Vietnamese critics, the transfer of older and less environmentally-friendly technologies from China to carry out many of those projects does create a fear that Vietnam is becoming a dumping ground for industrial waste. In this regard, the fact that Chinese companies have increasingly won bids for big projects in key sectors across Vietnam cannot help but reinforce that fear.

Second, Vietnam’s overall economic relationship with China has produced certain levels of stress on the Vietnamese economy. The country has faced a consistent annual trade deficit with China since 2001. The number for 2008 was shockingly high at more than US$11 billion, which is around 12% of Vietnam’s gross domestic product.

This huge trade deficit has not only put negative pressure on Vietnam’s current account balance but also placed competing Vietnamese businesses in hardship since many of the Chinese imports could be produced domestically.

Currently, it does not take much effort to find out that ultra-cheap Chinese goods are flooding the Vietnamese market nationwide. If this were to happen in countries such as the US or India, one would see anti-dumping and counterveiling investigations mushrooming left and right. But the Vietnamese government, due to legal capacity and political reasons, has not ventured to address the growing concern of its domestic business community.

In addition, problems stemming from the smuggling of Chinese goods, ranging from poultry to toys, into Vietnam are also significant, imposing not only an economic cost but also a health threat as the items are largely outside the reach of the Vietnamese government. Although this is a long-standing problem, Vietnamese media has recently rung an alarm bell on the potential massive influx of smuggled goods as Chinese businesses try to rid themselves of inventory build up during the current economic slump.

Third, overlapping territorial claims over the Paracel and Spratly islands in the South China Sea (referred to as the East Sea by Vietnam) have intensified. The Vietnamese government tried to contain public outcry against Chinese assertive claims over the islands in late 2007 and early 2008 in order to prevent diplomatic tension between the two countries. However, in the face of China’s increasing assertiveness, the Vietnamese government now encourages the public to research and understand historical and legal evidence to bolster its territorial claims. This can be seen as a very assertive move by the government of Vietnam since the country’s greatest strength lies in the will of its people as manifested throughout the country’s history.

In light of the dispute, China’s military build up in the South China Sea, such as the reported secret nuclear submarine base on Hainan Island, has created anxiety in many Vietnamese circles. In this regard, Vietnam’s recently reported deal to buy six submarines amounting to US$1.8 billion from Russia may be viewed as a reaction to the Chinese development. However, given its limited economic resources, Vietnam certainly does not want to engage in any potential arms race with China. But at the same time it cannot simply sit still and watch China continue to make bold military moves in the sea.

But there is still hope for Vietnam to address these issues in the direction of mutual benefits and regional stability. First and foremost, the concerns of the Vietnamese public cannot be underestimated and should be taken into account. In this respect, regardless of being approved by the Vietnamese government, Chinese companies investing in Vietnam should be acutely aware of the environmental and political impacts of their projects and faithfully address them in accordance with accepted international business standards and norms. It is in their long-term interest to earn the goodwill of the Vietnamese people by being responsible foreign investors. In this regard, Japanese foreign direct investment in Vietnam can be a good example for them to follow.

In addition, the Chinese model of sending workers to work on its projects is politically unsound and has the potential to spark unnecessary resentment that will further complicate bilateral diplomatic relations. Stopping this practice would be a good first step to reverse the negative sentiments of the Vietnamese populace.

In the larger context of economic relations, the trade balance and the problem of smuggling must be addressed to reduce stress on the Vietnamese economy. Trade is a very important diplomatic tool to promote meaningful friendship and peace; and China is in position to do that if it is true to its “peaceful rise” claims. Of the three individual powers – China, Japan, and the US – that Vietnam considers most important in its foreign policy approach, it enjoys significant trade surpluses with the latter two. China can show significant diplomatic goodwill towards the ordinary Vietnamese people if it joins America and Japan in this regard.

With respect to the thorniest issue, any solution to the territorial dispute in the sea should be reached in a transparent manner and in accordance with accepted international principles. How China approaches this problem will be the utmost test of its adopted “peaceful development” stance. Meanwhile, there must not be any use of deadly force (on any side) against ordinary fishermen in the disputed area. They are defenseless and must be treated as such.

At any rate, some may argue that it is wishful thinking to suggest the above approaches to the three current developments identified. But it is hard to see how beneficial bilateral relations and stability would be fostered if they were to be ignored. As a rising power on the world stage with potential economic and political influences throughout the continents, China has every interest to materially show the world that its rise is indeed peaceful. It can do that by showing first its sincerely good gestures towards Vietnam.

Although being on vigilance as usual, the Vietnamese are astute enough to embrace those gestures for the sake of peace and economic development while continuing to reinforce their hard-earned national identity.

Anh Le Tran is a professor at Lasell College (the United States), where he teaches economics and management.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

About these ads

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: