BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Sáu, 2009

TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

Posted by adminbasam trên 30/06/2009

TUẦN TRA, KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ: 1802 – 1858

ThS. Lê Tiến Công *

Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam

 

Đặt vấn đề

Trong định hướng phát triển vùng của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định: “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”1. Điều đó cho thấy vị thế quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.

Trong lịch sử dân tộc, biển luôn có một vị thế quan trọng đối các triều đại phong kiến, điều đó thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế và an ninh quốc phòng. Vào thời Nguyễn, nhận thức về vị thế của biển và mối lo ngại về việc có thể bị tấn công từ phía biển nên các vua Nguyễn ngoài việc bố phòng cẩn mật tại bờ biển thì việc thực thi chủ quyền trên biển cũng thường xuyên được tiến hành bằng nhiều hoạt động cụ thể, đáng chú ý là công tác tuần tra và kiểm soát vùng biển. Như lời dụ của vua Gia Long: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó thực là đạo giữ nước yên dân”2.

1. Công tác tuần tra vùng biển

Tuần tra là hoạt động quan trọng trong bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển, thể hiện qua các hoạt động tuần tra, kiểm soát giữ yên vùng biển. Với việc tổ chức, trang bị và huấn luyện quân thủy theo hướng thủy quân biển, nhà Nguyễn có điều kiện để thực hiện tuần tra, gìn giữ vùng biển dài rộng.

Cái lợi của tuần tra mặt biển được vua Minh Mạng chỉ rõ: “đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không dám gây sự. Thế có phải là một việc mà được ba điều lợi không”3. Một trong những cái lợi trực tiếp là bảo vệ vận tải biển, vốn được sử dụng rất nhiều trong việc vận chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về kinh đô. Tháng 8-1810, vua Gia Long định lại 4 điều về việc vận tải biển, trong đó có nói: “việc vận tải cứ mỗi năm một lần, thượng tuần tháng Tư thì ra biển. Quan sở tại trước ngày ra khơi, tư ngay cho các trấn thủ các địa phương, ngày đêm đi tuần ở biển; thuyền chở đi qua, có cần giúp đỡ gì, tức thì chiếu cố và khám làm chứng, đem việc tâu lên”3.

Việc tuần tra, kiểm soát vùng biển nói chung được giao cho đội quân chính qui, song ở các địa phương thường được giao quyền chủ động. Các tỉnh lấy dân địa phương (dân ngoại tịch) rồi lập thành các đội tuần tra, như tháng 7-1803, “lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa. Sai thuộc nội Cai cơ Võ Văn Đức quản giữ ba đạo Cần Giờ, Vũng Tàu và Đồng Tranh”. Võ Văn Đức tâu rằng: “Cần Giờ trước có quân ba đội Bình Hải, gần đây trốn đi gần hết. Xin hạ lệnh cho Cai đội Tiền thủy là Bùi Văn Hạnh mộ dân ngoại tịch lập làm đội Bình Hải cho lệ theo để sai khiến”. Vua y cho 4. Bản dụ thời Minh Mạng qui định “các tỉnh có hải phận, đều đóng hai, ba chiếc thuyền nhanh nhẹ, và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám”5. Rõ ràng quân địa phương đóng vai trò quan trọng, là “tai mắt” của triều đình trong việc nắm bắt thông tin, tuần thám trên biển.

Dưới thời Nguyễn, cướp biển người Hoa hoạt động nhiều trên vùng biển Việt Nam. Chúng là mối lo ngại thường xuyên trên biển đối với thuyền buôn và cũng là thách thức đối với chính quyền. Thuyền cướp biển thường “dị dạng”, lẫn lộn với thuyền buôn và thuyền đánh cá, để phân biệt thuyền cướp biển với thuyền buôn, thuyền của nhà nước (thuyền tuần tiễu, thuyền công sai), Minh Mạng năm thứ 9 (1828) qui định việc thấy “thuyền giặc” thì treo cờ bắn súng để phân biệt, “nếu không có cờ, tức là thuyền của giặc, phải nhanh chóng đuổi, đánh, không được lầm lỡ”6. Cũng có khi vì phần thưởng mà cố tình bắn giết tàu buôn như sự kiện đáng tiếc dưới thời Tự Đức. Trước đó, năm 1829, “trấn Bình Hoà bắt được 6 chiếc thuyền dị dạng của nước Thanh. Xét ra không có hình trạng phạm pháp rõ ràng, đều tha cho về nơi cũ. Nhưng bảo trước mặt cho bọn ấy rằng: từ nay về sau không được qua hải phận mà đi lại trên mặt bể. Nếu dám trái lệnh phạm cấm, lại bắt được lần nữa, thì ắt theo luật lệ “đậu trên bể” mà trị tội nặng không tha”7.

Để việc nhìn ngắm trên biển được chính xác, năm 1829 vua Minh Mạng ban chỉ dụ phân cấp kính thiên lý cho các tỉnh có vùng biển, đồn biển và thuyền tuần tiễu bởi “vùng biển mênh mông, chỉ có kính thiên lý có thể trông xa được”8. Thuyền tuần biển với nhiều loại, như các loại chuyên dụng của nhà nước hay thuyền của địa phương, thậm chí có khi dùng thuyền đánh cá nên công hiệu thấp, năm 1838, vua cho làm thuyền khỏa đồng (bọc đồng) để đi tuần, “thuyền ấy dài 4 trượng, 4 thước, 1 tấc, ngang 1 trượng, 4 tấc, có sàn ngồi để đánh nhau. Các tỉnh dọc theo bờ bể thời làm theo hình dáng thuyền “đại dịch”, mỗi tỉnh 2 chiếc mà tỉnh nào mặt bể rộng mông mênh thời làm ba bốn chiếc đều gọi là thuyền “tuần dương”9.

Năm 1834, Minh Mạng tiếp tục ban dụ: “các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở các địa phương ven biển, đều nên xét các đảo ở hải phận trong hạt hiện có dân cư, thì điều sức cho dân ở tỉnh ấy đem thuyền đánh cá nhanh chóng sửa chữa, cho được nhanh nhẹn. Nơi dân số nhiều thì làm 2, 3 chiếc. Mỗi chiếc có thể ngồi được trên dưới 20 người. Về phí tổn sửa chữa hết bao nhiêu, thì nhà nước cấp tiền. Lại liệu cấp cho dáo dài, súng trường, thuốc đạn, giao cho dân ấy nhận lĩnh, để dùng đi tuần thám. Khi gặp giặc biển, thì một mặt cùng nhau chống đánh, một mặt chạy báo, cho khỏi bị chậm trễ không kịp việc”10.

Minh Mạng ban dụ: “Từ Quảng Trị trở ra Bắc, từ Quảng Nam trở vào Nam đều nhanh chóng phái 3, 4 chiếc thuyền binh theo hạt biển đi tuần xét. Một khi gặp thuyền dị dạng của nước Thanh, hoặc trong thuyền hiện có súng ống, khí giới, cho đến đồ vật hàng năm bị cướp, và tình hình đáng ngờ, nguyên do phức tạp, thì lập tức giải trình về trấn ấy. Một mặt tâu lên, một mặt xét rõ, xử tội nặng thêm bậc, tâu lên. Những thuyền binh được phái đi, cũng nên hết lòng dạy bảo nghiêm ngặt, không được nhân việc mượn cớ quấy rối thuyền buôn”11.

Công tác tuần tra được tiến hành theo chu kỳ nhất định, tùy thuộc vào thời gian có nhiều thuyền buôn và thuyền công sai đi lại nhiều hay ít. Như bản dụ năm 1835: “mỗi khi mùa hè đến kỳ vận tải thì do Đề đốc Thừa Thiên liệu đem theo biền binh thuộc phủ và đem theo biền binh ở đồn biển cùng ra biển, căn cứ theo hải phận qua lại cùng tuần thám bảo vệ. Nếu kỳ nào đoàn thuyền đi vận tải số nhiều, thì cho tư bộ sức thêm thuyền binh, cùng đi do thám. . . Những thuyền binh hàng năm phái đi, cho cứ vào tháng 3 bắt đầu, tháng 7 thì thôi. Điều này ghi làm lệ”12. Binh thuyền phái đi cũng luân phiên thay đổi 3 tháng một lần bởi “phái đi lâu ngày, có phần nhọc mệt, nay chuẩn cho các viên quản vệ đang tại ngũ ở nguyên mà quản suất, còn các viên quản suất dư dả cho đến quân lính, cứ 3 tháng phải chiếu số thay đổi, để cho kẻ làm người nghỉ được đồng đều”13. Tuy nhiên cũng tùy theo từng điều kiện cụ thể mà có thể tiến hành sớm hoặc muộn hơn có khi tháng Giêng, tháng Hai đã phải tiến hành tuần thám như bản dụ năm 1838 cho biết: “trước đây trẫm đã giáng lời dụ hàng năm binh thuyền đi tuần ngoài bể, cứ tháng Hai ra đi. Nay tháng Giêng trời đã sáng tỏ mà đường đi thuận tiện, chính là thời kỳ thuyền buôn đi về, thời nên phái đi tuần tiễu ngay để yên vùng bể”14. Đặc biệt ở các vùng biển có nhiều hải tặc thì không kể mùa nào bởi “tấn thủ sở tại vốn có trách nhiệm tuần phòng”. . .15.

Về cách thức tác chiến và trang bị vũ khí, năm 1835, ban dụ: “thuyền của giặc ấy phần nhiều là nhanh nhẹn, chạy giỏi. Chiến đấu với nó, nếu là hơi xa, thì phải dùng đại bác, chỉ định vào mái chèo, bánh lái của thuyền giặc mà bắn tan, gần thì dùng câu liêm giật đứt giây buộc lái, làm cho thuyền đổ nghiêng không chạy được, thì tự khắc bị ta bắt được… Vậy truyền chỉ cho các địa phương ven biển miền trong, miền ngoài, phàm có thuyền binh đi tuần biển đánh giặc, cũng đều theo như thế mà làm 16.

Thuyền cướp biển thường đi thành đoàn, có tổ chức và được trang bị khá tốt, có khi chống lại thuyền tuần tra. Như năm 1836, tỉnh Khánh Hoà tâu rằng: “thuyền đi tuần gặp 1 chiếc thuyền giặc, 2 bên màu đen, hai má trước mũi màu đỏ, sau lái và ván giữa 2 bên vẽ hình đầu rồng, lại có 2 lỗ châu mai, đều đặt đại bác, dám bắn súng chống cự với thuyền của quan quân”. Minh Mạng liền cho phái nhiều binh thuyền và “thông sức cho thuyền binh ở kinh và ngoài các tỉnh phái đi đều lưu tâm tìm bắt ở các đảo”17.

Đối với các địa phương quan trọng như Thừa Thiên và Quảng Nam, Minh Mạng năm thứ 17 (1836), ban dụ: “điều phái binh thuyền ngày đêm lưu tâm đi tuần thám. Nếu có giặc biển lẻn lút nổi lên, thì một mặt đuổi bắt, một mặt chạy báo cho quan địa phương, lập tức phi sớ vào tâu, để tiện bằng cứ vào đấy, mà điều khiển. Còn như một khoản đi tuần, đồn biển Thuận An và các đồn biển giáp hạt với nhau, lên liệu định chương trình thế nào, cho bộ Binh bàn kỹ tâu lên 18. Bộ Binh bàn định, cho rằng: “đồn biển Thuận An ở Thừa Thiên và các đồn biển Tư Hiền, Chu Mãi, cảnh Dương ở phía nam đến đồn biển Đà Nẵng ở Quảng Nam; từ đồn biển Thuận An đến đồn biển Việt Yên ở Quảng Trị ở phía bắc, cộng 6 đồn biển. Trừ đồn biển Thuận An hiện tại biền binh 143 tên, đồn biển Tư Hiền hiện tại dân lệ thuộc 64 tên, đủ để sai phái ra, còn lại 2 đồn Chu Mãi, Cảnh Dương nguyên số ít ỏi, vốn dân lệ thuộc dồn cộng được 9 tên, đồn biển Đà Nẵng 3 tên, đồn biển Việt Yên 17 tên, xin cho địa phương ấy liệu trích dân quen thuộc nghề dưới nước ở các đồn biển xung quanh, cộng với số dân nguyên lệ thuộc của các đồn biển, cho vừa đủ số, mỗi đồn biển 50 tên. Và miễn việc sai phái vặt cả năm, cho bọn ấy được theo vào đồn biển đó, chuyên sức đi tuần thám.

Về số tàu thuyền cần dùng, thì mỗi đồn biển cần 2 chiếc thuyền Ô, 3 chiếc thuyền nhanh, nhẹ chia chạy lần lượt đi tuần thám. Các đồn biển ấy đều căn cứ vào số binh dân, phu thuyền hiện tại mà chia làm hai toán, mỗi toán một chiếc thuyền Ô, 15 tên binh phu; súng ống, khí giới đem theo, một chiếc thuyền nhanh nhẹ, 15 tên binh phu. Ra biển xét theo hải phận của đồn biển mình: trở vào phía nam giáp với đồn biển nào, trở ra phía bắc giáp với đồn biển nào, qua lại tuần tra, đủ một ngày đêm trở lại đồn biển. Toán khác tuần tra, như thế luân chuyển thay đổi nhau, cốt được liên tục. Phàm đến nơi giáp giới, là nơi người đi tuần biển của hai đồn biển giặp nhau thì hai bên nên biên ký có nhau làm bằng, để phòng khi tra xét. Lại lồng đèn ở thuyền Ô đều viết to hai chữ tên đồn biển, ban đêm treo lên làm hiệu. Ở hải phận đồn biển nào trong khi du tuần, gặp giặc biển hoặc quả là thuyền dị dạng, cần phải vây bắt, thì bắn 3 tiếng đại bác, ban đêm thì bắn 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Thuyền Ô liền khẩn cấp tiến lên chặn bắt, thuyền nhanh nhẹ lập tức theo sự thuận tiện, tới báo cho quan địa phương làm bằng. Một mặt phái thêm thuyền binh đuổi bắt, một mặt chuyển báo cho các đồn biển giáp giới đều lập tức khẩn cấp hội lại cùng đánh. Đồn biển nào đi tuần sơ suất, không đến đầu đến cuối, không có chữ biên ký nơi giáp giới và gián đoạn không liên tục, hoặc đến nỗi bọn giặc được nhân sơ hở lén lút nổi lên, hoặc đụng gặp thuyền giặc mà không lập tức chạy báo, để đến nỗi chậm trễ lỡ việc cùng là đã phát tin báo hiệu, mà đồn biển ở giáp giới không lập tức đến hội, thì đều cho địa phương ấy tâu hạch nghiêm ngặt, sẽ trị tội theo mức nặng.

Lại người đi tuần biển của các đồn biển giặp nhau thì trong giấy biên ký nên ghi rõ những chữ; ngày tháng, giờ nào, đến đâu, nơi giáp giới hoặc cuối nơi giáp giới gặp thuyền đi tuần của đồn biển nào? Đến cuối mỗi tháng, viên đồn biển ấy đem tất cả những giấy biên từng ngày đóng thành một tập là bao nhiêu tờ, bẩm lên, do quan địa phương trình nộp. Quan địa phương sẽ xét trong tháng, trừ ngày nào đúng là có gió mưa, không thể đi được, còn những ngày nếu có đồn biển nào, ngày nào không biên ký, không liên tục với nhau, thì lập tức tra xét. Còn nếu cứ theo mức bình thường, liên tục không gián đoạn, thì cứ mỗi tháng 3 kỳ, tư vào bộ để lưu trữ 19.

Với những qui định tuần thám trên cho thấy sự chặt chẽ của nó. Vua Minh Mạng cho rằng: “theo lời bàn thì ngày đêm luôn luôn đi lại như dệt cửi trên mặt biển xông pha sóng gió, thật là đòi hỏi người ta làm điều rất khó, lòng trẫm thực là không nỡ. Nhưng bờ biển là nơi quan trọng, không thể không chú ý. Vậy cho chuẩn định: hàng năm những tháng từ mùa Xuân đến mùa Thu, chính là khi thuyền công đi vận tải và thuyền buôn qua lại, thì cho theo như lời bàn mà làm. Còn không phải những tháng ấy, thì cho những viên đồn biển trích lấy 1, 2 chiếc thuyền của dân đánh cá, số phu hoặc trên dưới 5, 3 người, đủ dùng để kéo buồm, bẻ lái cũng được. Trừ ngày nào nhân có gió mưa đi ra không tiện, còn mỗi ngày ra cửa đi lại tuần tra, cốt cho được đều đến những nơi giáp giới. Khi gặp việc quan trọng, khẩn cấp thì lập tức chạy báo, để cho việc tuần phòng ngoài bể được nghiêm. Quan địa phương ấy cần phải thường nhắc rõ, không được để cho lâu ngày sinh ra trễ nãi, thì phạm lỗi không nhỏ. Còn những điều khác thì cho y theo lời bàn”20. Xét ra nhà nước đã có nhiều cố gắng trong tuần tra kiểm soát vùng biển nhưng vẫn gần như bất lực với nạn cướp biển. Nguyên nhân của tình trạng trên được thừa nhận là: “Riêng một dải bờ biển kéo dài, gần đây có giặc biển lẻn lút nổi lên, cướp bóc người buôn. Không phải kể một lần mà đủ, đã luôn luôn nghiêm sức cho bọn bộ biền do Kinh phái, tỉnh phái, phải lưu tâm bắt dò. Nhưng nhiều lần căn cứ vào tin báo về sự trạng đánh dẹp, thì chỉ có báo là: khi đến gặp giặc, bắn chết 1, 2 tên và cướp lại thuyền buôn mà thôi. Chưa bắt được bọn giặc kết án, nên nó còn dám lảng vảng đi đánh cướp. Xét về nguyên do, đều là vì các viên đi tuần thám e ngại sóng gió, dù có đi dò bắt, rốt cuộc cũng là không có thực dụng. Lại một lẽ nữa là nếu thuyền công phái đi là loại thuyền bọc đồng nhiều dây, thì bọn giặc trông thấy ắt trốn xa từ trước. Nếu phái thuyền hiệu chữ Bình, chữ Định thì chất thuyền qúa nặng, không thể chạy nhanh chóng bắt giặc được. Các thuyền Ô, Lê lại qúa bé nhỏ, chỉ lợi đánh ở sông, đường biển sóng gió gặp giặc không đuổi được đến cùng. Nay cho bộ Binh bàn bạc, đóng thuyền đi tuần, về qui cách không cần lớn quá như thuyền hiệu, cũng không nhỏ qúa như thuyền Ô, thuyền Lê. Cốt cho vừa phải giữa hai loại ấy, lại được nhanh nhẹ tiện lợi, khiến cho sức thuyền có thể giúp cho sức binh. Nếu gặp giặc thì có thể ra biển đuổi cho đến cùng, kỳ bắt được mới thôi. Rồi đem kiểu mẫu trình vua xem, để đợi chỉ tuân làm. Hai khoản kể trên trách cứ vào hai bộ. Nếu chương trình ban ra mà có điều không chu đáo, đến nỗi bộ biền còn được mượn cớ đun đẩy, không chịu hết lòng bắt giặc, thì cứ bộ Binh mà hỏi tội. Nếu đóng thuyền đi tuần đem thí nghiệm mà không được nhanh nhẹ, tiện lợi thì cứ bộ Công mà hỏi tội. Nếu chương trình đã rõ ràng, kiểu thuyền đã tiện lợi, mà các viên tỉnh không biết sắm sửa khí giới cho thuyền binh, đôn đốc nghiêm ngặt các viên biền binh phái đi, để rút cuộc không có công trạng thực tế, thì cứ quan địa phương mà hỏi tội. Nếu quan địa phương đã sắm sửa dụng cụ chiến đấu cho thuyền quân đầy đủ, tất cả bọn bộ biền phái đi cũng đã dạy bảo dặn dò, mà bọn bộ biền vẫn e ngại khó nhọc, tuần thám bất lực, gặp giặc vẫn không bắt được, thì rõ ràng là hèn kém, dù trăm miệng cũng không chối được. Quân pháp nhà nước rất nghiêm. Đến khi ấy trẫm chỉ giữ pháp luật mà làm việc, dứt khoát không rộng giảm nhẹ một chút nào”.

Sau đó bộ Binh nghiên cứu, được vua Minh Mạng chuẩn y: “Bình Thuận trở ra bắc đến các đồn biển ở ven biển Quảng Yên, phàm những nơi hai đồn biển tiếp giáp nhau thì đều dựng cột mốc trên bờ biển, ghi rõ phía nam thì thuộc về đồn biển này, phía bắc thì thuộc đồn biển kia. Lại nơi hải phận hai tỉnh tiếp giáp nhau cũng nên hội đồng ra cột mốc rõ ràng, hàng năm cứ tháng giữa xuân đến tháng giữa thu, thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái đều nên trước kỳ chuẩn bị các hạng súng qúa sơn, thần công và súng trường, cùng thuốc đạn, giáo dài, mác sắt, câu liêm, ống phun lửa, cầu đinh lửa, pháo thăng thiên, cho đến quả đá, kim từ thạch, phàm tất cả dụng cụ thủy chiến. Lại đem theo một chiếc kính Thiên lý để phòng khi đi thuyền nhìn ngắm. Bộ biền Kinh phái thì được lĩnh 3, 4 tháng lương thực. Bộ biền tỉnh phái cũng được lĩnh 1, 2 tháng lương thực, đều tùy tiện chia tải để đủ quan dùng. Thuyền đi tuần của các đồn biển thì xét theo hải phận của các đồn biển mà qua lại tuần thám. Mỗi khi đi tuần phải qua chỗ cột mốc giáp nhau mới được trở về. Thuyền đi tuần của tỉnh phái, thì xét theo hải phận của tỉnh mà tuần thám. Khi đi thuyền thì phía nam cần phải đến chỗ cây cột mốc ghi địa giới tỉnh, phía bắc cũng cần đến chỗ cây cột mốc ghi địa giới tỉnh, tổ chức qua lại, chắp nỗi những quãng thuyền di tuần của các đồn biển mà đôn đốc họ. Nếu thuyền đi tuần ở hải phận đồn biển nào mà sơ suất bỏ trỗng, thì lập tức bẩm tỉnh nghiêm hạch để trừng phạt. Thuyền đi tuần do Kinh phái thì có hai đoàn Nam và Bắc. Mỗi đoàn phái đi đến 4, 5 chiếc, chia làm 2 chuyến, mỗi chuyến cách nhau 3, 5 ngày, đại khái chuyến trước đến giữa hải phận, thì chuyến sau mới từ đầu hải phận ra đi, chuyến sau đến giữa hải phận thì chuyến trước mới từ cuối hải phận trở lại. Lần lược qua lại trong khoảng thuyền đi tuần của hải phận tỉnh và hải phận các đồn biển mà đôn đốc tất cả. Đi qua tỉnh mà không thấy thuyền tuần tra của tỉnh, thì lập tức báo cho tỉnh để tham hạch trừng phạt. Thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, ngày nào hiện đi qua hải phận của đồn biển nào, đều phải lấy chữ biên ký của đồn biển ấy để phòng khi tra xét. Trừ những ngày sóng gió thuyền không thể đi được, còn các thuyền ấy đều phải đi chóng về chóng, không được tự tiện chần chừ đỗ lại ở chỗ nào. Khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt. Ban ngày thì bắn 3 phát đại bác, ban đêm cũng bắn 3 phát đại bác và bắn 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Phàm xa gần nghe thấy thì lập tức khẩn cấp tiếp viện. Nếu thuyền giặc nhân gió bỏ chạy thì lấy thuyền nhanh nhẹ mà đuổi theo”21.

Các vua Nguyễn đặc biệt quan tâm tới việc vây bắt bằng được thuyền cướp biển để trị tội. Qui định: “Nếu bắt được thuyền giặc hạng lớn như lần ấy đã gặp thì định thưởng 1000 quan tiền. Nếu bắt được thuyền hạng kém thì cho thưởng 500 quan tiền để chia đều, tỏ sự khuyến khích. Nếu là thuyền buôn chở đầy hàng hóa đi buôn bán, thì không được mượn cớ quấy nhiễu, sẽ can tội nặng22. Ngược lại nếu để giặc biển tiếp tục quấy phá, đánh cướp thì sẽ trị tội rất nặng. Chúng ta dễ nhận thấy điều đó ở cuối mỗi chỉ dụ ban ra: “Không được xem là đã có thuyền binh mà có chút đun đẩy. Nếu một khi có giặc biển lẻn lút nổi lên, thì lập tức đem bộ biền của tỉnh ấy phái đi theo mức nặng mà trị tội”. Tuy nhiên trên thực tế, chống cướp biển gặp nhiều khó khăn nên việc xét tội cũng không phải dễ, bởi “giặc nổi lên trên mặt biển, số lần có nhiều ít không giống nhau, mà tình hình các viên biền đi tuần thám gặp giặc cũng khác”23.

Về sau bộ Binh bàn định, được chuẩn y: “hải phận nào giặc nổi lên một lần mà viên tấn thủ và bộ biền hoặc sơ suất không nghe biết, hoặc là xét bắt không nhanh, để đến nỗi bọn giặc chạy thoát được thì đem viên thủ ngự ở hải phận sở tại giáng 4 cấp; quản vệ, quản cơ do tỉnh phái đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng 1 cấp. Nếu đi tại đấy không có quản vệ, quản cơ, mà suất đội là người chuyên trách thì điều giáng 2 cấp. Còn như thuyền binh Kinh phái đi qua ở hạt ấy mà không biết đánh dẹp thì quản vệ cũng đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng 1 cấp. Nếu đã đi qua hạt khác, mà đối với nơi giặc cướp xảy ra, tính về đường biển xa cách, không thể nhìn ngó đến được thì được miễn bàn. Nếu xét ra có chậm trễ ở chỗ nào mà đến nỗi tuần phòng sơ hở thì lập tức trị về tội chậm trễ. Lại như Đề đốc, Phủ doãn, Phủ thừa ở Thừa Thiên, Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát lãnh binh ở các tỉnh ai là người ra biển đi tuần xét, mà có giặc nổi lên thì đều giáng 2 cấp. Còn các viên ở lỵ sở cũng đều giáng 1 cấp để tỏ sự phận biệt. Nếu giặc nổi lên ở hải phận hai đồn biển tiếp giáp nhau, thì xét về hai viên tấn thủ đều giáng 2 cấp, bộ biền do tỉnh phái đi cũng đều giáng 2 cấp. Viên tỉnh lại đều được nghĩ xử giảm một bậc. Các viên nhân đáng giáng cấp kể trên, đều cho lưu chức. Nếu lại có giặc nổi lên, chồng chất đến 2 lần hoặc 3, 4 lần thì một lần đều theo như thế mà xử trí. Ai có cấp kỷ (có thành tích đã được cấp kỷ lục) thì cho được xét trừ. Nếu không có cấp kỷ để khả dĩ trừ được mà kê hết số cấp bị giáng qúa nhiều thì nghi giáng lưu chức để xem công hiệu ngày sau. Đợi khi xong việc tuần thám, có thực trạng cố gắng hay không, lại sẽ tâu rõ để làm việc. Những khoản xử trị trên đây là chỉ về người sơ suất, lười biếng mà nói. Nếu có người ngay khi giặc nổi lên mà hết lòng đuổi bắt, cũng không bắt được bọn giặc kết án, nhưng cũng cứu được thuyền buôn không bị mất gì thì cũng miễn bàn. Nếu thấy giặc mà không chịu đuổi đến cùng, tìm nơi ẩn nấp, và lại có ý thụt lùi, cùng là các khoản nặng về làm lầm lỡ quân cơ, đến khi xét ra sự trạng thế nào thì lập tức theo luật nghị xử [4, 433-434].

Thiệu Trị năm đầu (1841), ban dụ: “một khoản đi tuần biển, trước đã dụ cho Trấn thủ các sở phía nam, phía bắc và các tỉnh phái cho thuyền binh qua lại tuần thám rồi. Nay căn cứ Nghệ An tâu báo, hải phận cửa Quèn thuộc hạt ấy lại có giặc người Thanh nhân sơ hở lẻn lút nổi lên. Thật là quái gở. Nên phái thuyền chiến lập tức đi lùng bắt, cho hết giặc biển. . . trước tiên bắt lấy thuyền giặc kết án, để chờ thưởng hậu. Lại chiếu theo đường biển từ Nam Định đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, qua lại tra xét cho hết giặc biển. Nếu tìm bắt bất lực, để cho bọn giặc ấy lại được đậu trên biển gây việc, thì dứt khoát khó chối được lỗi nặng. Những quan binh phái đi lần này, xét từ Quản vệ trở xuống đều cho thưởng 1 tháng tiền lương. Còn như dự chi tiền lương lĩnh tiếp, cho chiếu theo lệ trước mà làm”24.

Thiệu Trị Năm thứ 2 (1842), dụ rằng: “nay khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền buôn qua lại, nên phải liệu phái thuyền binh đi tuần thám cho nghiêm vùng biển. . . Lại truyền chỉ cho Thừa Thiên đến Bình Thuận, và phía bắc đến tỉnh Quảng Yên, cũng theo chương trình đó, nghiêm sức cho các tấn thủ trong hạt đều phái thuyền binh đi tuần biển, chiếu theo hải phận, làm việc cho đúng đắn, không được nói suông theo lối cũ, đợi đến thời tiết mưa lụt đều sẽ rút về. Những quan binh được phái đi đều thưởng cho nửa tháng tiền lương”25.

Có sự liên kết cùng bắt bọn cướp biển, như bản tâu của Tuần phủ Quảng Ngãi năm 1839: “giặc biển trước đậu ở đảo Chiêm, hiện đã chạy trốn. Nay lại chuyển đến đảo Nam Châm ở tỉnh Quảng Ngãi, lảng vảng trên mặt biển (theo lệnh) đã đôn đốc các thuyền Kinh phái, tỉnh phái chạy đi hội quân cùng đánh. Chính cơ hội này hợp nhiều binh lực, thì tin chắc bọn giặc ắt phải bị bắt. Vậy cho bộ phi tư cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi phái thuyền ở đồn biển đón báo cho các viên biền ngồi ở chiến hạm Viên Uy, Thanh Dương, An Dương, Tỉnh Dương đương tiến về Kinh, phàm khi gặp bọn giặc thì ra sức đánh dẹp, đến thẳng đảo Nam Châm thuộc tỉnh Quảng Ngãi, hội quân cùng đánh, tập hợp bao vây, cốt đem bọn giặc biển bắt hết, bắn hết, kết liễu vụ án, để giúp người đi buôn ngoài biển và mặt biển được yên ổn 26. Lại ban dụ rằng: “Xét ra ngày trước hơn 20 chiếc thuyền giặc chợt đến đảo ấy gây việc, một khi bị chiếc thuyền lớn Thanh Loan đuổi đánh, bắn phá thuyền giặc ấy lật chìm 2 cái, bọn còn lại theo chiều gió chạy trốn. Nay còn dám nhân sơ hở trở lại như thế, cần phải phái thuyền binh hội lại cùng đánh. . . lập tức đem bọn giặc ấy đánh giết thật dữ”27.

Tự Đức năm đầu (1848) ban dụ rằng: “nay khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền buôn qua lại. Nên phái thuyền binh đi tuần thám, cho nghiêm vùng biển… tất cả đều sửa sang thuyền binh, nhận lĩnh khí giới, thuốc đạn, ống phun lửa, vũ khí chiến đấu và kính Thiên lý, đầy đủ. Cho đến đầu tuần tháng 2 từ cửa Thuận An nhân gió ra khơi. Phàm tất cả công việc tuần tra như thoi dệt, cốt mong cho giặc biển yên lặng… Những biền binh Kinh phái thưởng cho tiền lương nửa tháng. Công việc dự chi lĩnh tiếp thì cho đều theo lệ trước mà làm”28. Hai năm sau, ông lại ban dụ: “Một dải đường biển của các hạt từ Quảng Nam trở về phía nam đến tỉnh Biên Hoà cũng khá rộng. Gần đây giặc người Thanh phần nhiều lảng vảng trên mặt biển, nhân sơ hở lẻn lút nổi lên, thường gây ngang trở cho thuyền buôn. Cần phải phái nhiều thuyền binh đi tuần thám, lần lượt đã phái 3 chiếc thuyền đồng Điện Phi, An Hải, Điềm Dương chia đường theo từng hạt mà tuần phòng… Lại truyền chỉ cho Quảng Nam phái nhiều thuyền binh, xét theo hạt mình mà lưu tâm tuần thám. Phàm gặp thuyền dị dạng của người Thanh lảng vảng ở ngoài biển, thì lập tức dũng cảm đuổi theo, trong ngoài vây bắt. Nếu đem thuyền giặc ấy đánh giết không để sót, hoặc bắt chém kết án, thì ắt có thưởng hậu. Nếu coi thường rồi cứ đậu yên, nói suông cho xong việc để cho bọn giặc ấy lại đậu trên biển lẻn lút nổi lên thì ắt trị tội nặng không tha”29.

Ngoài kiểm soát thuyền buôn, thuyền đánh cá và tiễu trừ giặc biển thì một hoạt động đáng chú ý là chú trọng vào đối tượng tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là những tàu có quốc tịch phương Tây như Pháp, Anh. Năm 1830, qui định ở trấn Đà Nẵng: “các thuyền nước ngoài như thuyền của nước Pháp, nước Anh đến đậu ở trấn ấy, thì phải báo trước. Cấm nhân dân ở trấn và nhân dân ở địa phương ấy không được tự tiện riêng tây đi lại dắt díu với họ hoặc đến nỗi gây ra sự việc”30.

Một trong những nguyên nhân tuần tra kém hiệu quả được nhận định qua lời dụ năm 1838, “gần đây giặc bể thường cướp các thuyền buôn đều bởi bọn người đi tuần tiễu sợ hãi sóng gió mà không dám ra xa, để bọn giặc tàu tung hoành cướp chán rồi đi, hơn nữa thuyền nhà vua phái đi như chiếc thuyền khỏa đồng (bọc đồng) và các thuyền hiệu chữ Bình chữ Định đều lớn mà nặng không đi được nhanh, chiếc thuyền Ô, Lê thời lại qúa thấp nhỏ gặp giặc không tiện đuổi xa, vùng bể không được yên tĩnh cũng bởi nguyên nhân kể trên 31. Từ đó, với mong muốn dẹp yên giặc biển, vua Minh Mạng chuẩn: “cho bộ Binh châm chước bàn định, việc tuần tiễu ở ngoài bể nên như thế nào thời định rõ chương trình. Lại chuẩn cho Công bộ suy tính để đóng các thuyền đi tuần như thế nào cho được nhẹ nhàng thuận tiện”. Sau, bộ Binh tâu lên: “từ tỉnh Bình Thuận trở sang đàng bắc tới tỉnh Quảng Yên, những chỗ cửa bể đã có đồn canh đều theo địa phận tuần phòng, còn những nơi hai cửa bể có đồn canh mà hai tỉnh giáp nhau đều do quan tỉnh theo trên bờ để dựng nêu viết rõ phía nam thuộc cửa bể này, phía bắc thuộc cửa bể kia. Chỗ hai tỉnh giáp nhau cũng hội đồng cắm nêu để làm dấu, hàng năm giữa mùa Xuân đến giữa mùa Thu thuyền đi tuần do Kinh đô phái đi đều dự bị chiến cụ và kính Thiên lý. Những thuyền đi tuần ở các cửa bể có đồn canh thời theo địa phận tuần tiễu. Những thuyền đi tuần ở tỉnh phái đi thời cứ hải phận ở tỉnh mình mà đi lại đốc suất. Thuyền đi tuần ở Kinh phải phân hai để luân phiên đi lại, khiến cho nơi hải phận đều liên lạc với nhau.

Một khi gặp thuyền giặc thời tiến lên để đuổi bắt, thuyền giặc chạy thời đem chiếc thuyền kiểu mới nhẹ nhàng để đuổi. Nếu im sóng lặng gió thời đem thuyền Ô- lê hay thuyền khinh khoái để đuổi. Đến thời kỳ đi tuần ngoài bể, thời các địa phương dọc theo bờ bể phải chiểu trong hạt mình những đạo nào bãi nào trước đây giặc người nước Thanh thường ẩn nấp, thời cho lính đi trước để đóng giữ hay là vát lấy chiếc thuyền “đại dịch” để lính chở đi, mà mang theo khí giới giả trang là thuyền buôn tùy chỗ đóng lại, khiến thuyền giặc nhận nhầm là thuyền buôn mà đến ăn cướp, thời lập tức xông ra nã bắt như thế thì giặc bể có thể yên được”32.

Tóm lại công tác tuần tra được tiến hành thường xuyên và liên tục trên biển. Cũng không câu nệ là thuyền nhà nước hay của địa phương, quân chính qui hay dân thường đều sung vào việc tuần tra nếu thấy có hiệu quả; “các viên lần này phái đi tuần thám, nếu có người nhà hoặc thuộc binh, thủ hạ, người nào khỏe mạnh, dũng cảm, bắn giỏi đều nên đem theo để giúp việc sai khiến và chiểu theo lệ lương của binh đinh”33. Và thật không khó để tìm những dẫn chứng về điều này bởi nó là điều hiển nhiên. Sách Thực lục, Hội điển của nhà Nguyễn có rất nhiều những thông tin tuần tra mà chúng ta có thể tham khảo 34.

2. Kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển

Với một bờ biển rộng dài thì việc kiểm soát tàu thuyền ra vào là hoạt động quan trọng, thường xuyên dưới triều Nguyễn. Thuyền công, thuyền tư, thuyền trong nước và thuyền nước ngoài đều phải quan tâm kiểm soát không ngoài mục đích an ninh và kinh tế.

Các cơ quan có liên quan như ty Hành nhân, Tào chính và nha Thương bạc ngoài việc chuyên môn còn có chức năng “quản chế ngoại thương”. Tháng 12-1835, Minh Mạng  sai “cấp đồ nhung phục cho quan Quảng Thủy để dùng mặc khi có sai phái và xét hỏi các tàu buôn ngoại quốc”35. Việc quy định tàu phương Tây chỉ được đến buôn bán ở Đà Nẵng, không được lập cơ sở buôn bán trên đất liền cũng không ngoài mục đích là để dễ bề kiểm soát vùng biển.

Tàu phương Tây đến cảng biển Việt Nam luôn được dành sự quan tâm đặc biệt. Năm Minh Mạng 18 (1837), ban dụ rằng: “trấn Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam là nơi bờ bể quan trọng ở gần Kinh kỳ, tàu thuyền nước ngoài qua lại, quan hệ không phải là nhỏ. Vậy chuẩn định: từ nay phàm tàu thuyền nước ngoài bất kỳ đến khu trấn Đà Nẵng mà đậu nhờ, thì không kể là dấu hiệu nước nào và là kiểu thuyền gì, viên trấn thủ trấn ấy phải tự đến hỏi rõ tình hình. Nếu là việc quan trọng, thì lập tức làm tờ tâu do đường trạm phi ngựa dâng lên, hoặc do lệ tối khẩn phát trạm đưa vào tâu. Còn các công việc tầm thường, cũng lập tức kể đủ duyên do tư vào bộ để chuyển tâu, khiến trẫm sớm được biết hết tình trạng, điều ấy rất là quan trọng. Cần phải hết sức cẩn thận”36.

Ngoài Đà Nẵng là nơi đón tiếp tàu phương Tây, để đề phòng tàu phương Tây có thể đến cửa biển khác khó đối phó, tháng 5 năm 1835, Minh Mạng truyền dụ cho các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định: “từ nay phàm các thuyền của Tây dương đến đỗ ở trấn phận nào thì viên trấn thủ ở cửa biển ấy đem thông ngôn hoặc người nhà Thanh biết tiếng Tây dương đến tại chỗ xét hỏi lý do đến và xem xét hình dáng, màu sơn, cờ hiệu, số người ở trong thuyền nhiều hay ít, thuyền đó là thuyền buôn hay thuyền chiến. Nhất nhất ghi rõ, lập tức báo tỉnh. Nếu thuyền buôn thì theo lệ thường mà làm (tức bảo đến Đà Nẵng- Tg); nếu là tàu chiến thì một mặt phi tấu, một mặt sai phái binh thuyền canh phòng nghiêm ngặt ở trấn phận và phi tư cho tỉnh láng giềng phòng bị. Thuyền ấy đi ngày nào, hoặc vẫn đóng lại làm việc gì, cũng cho phép tiếp tục tâu lên để biết rõ tình trạng”37.

Đề phòng kiểm soát, ngăn chặn sự gian trá, trà trộn, năm Minh Mạng thứ 11 (1830), qui định: “Từ nay về sau, phàm [tàu nước ngoài] đến buôn ở các địa phương, phải có hàng hóa mới cho vào cảng, không cho nói ỷ vào việc đưa thuyền không đến đón khách để ngăn tình tệ gian trá. Ai trái lệnh thì nghiêm trị không tha”38.

Tháng 12 năm 1835 Minh Mạng qui định chặt chẽ việc kiểm soát tàu thuyền phương Tây như: “khi đến đậu phải xét hỏi trong tàu có bao nhiêu người, đăng ký rõ ràng, bẩm lên thượng ty, mới cho lên bờ, mua bán với các cửa hàng chợ búa gần đó, nhưng phải nghiêm việc phòng bị, không cho ở tản mát nhà dân, mua bán xong rồi lại điểm đủ số người, đuổi ra biển không cho một người ở lại”39.

Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), qui định chi tiết về kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến cảng biển Việt Nam như sau: “Thuyền các nước ngoài đến có chạy vào khu trấn, thì trước khi sắp đến hải phận trấn này, phải kéo cờ hiệu lên để tiện ghi nhận. Khi thuyền nước ngoài mới vào trấn đậu lại, tiếp được viên trấn thủ uỷ người đến gạn hỏi, thì phải đem ý kiến tới đấy đáp lại rõ ràng. Nếu có bắn súng mừng thì đài trên thành cũng bắn 3 phát đáp lại. Sau khi thuyền nước ngoài đậu lại, nếu chỉ lấy củi lấy nước thì cho vào lấy ở nơi gần bờ, lấy củi thì phải lấy ở núi Trà Sơn, gánh nước thì phải gánh ở chợ Hàn. Không được di tản vào làng xóm. Một hai ngày lấy xong thì chở đi, không được ở lâu để gây việc. Thuyền nước ngoài nếu muốn lên chợ ở trên bờ, tìm mua thức ăn thì cũng không cấm, nhưng chỉ cho đi trong số 10 người. Không được đi quá nhiều và không được mang theo binh khí, súng trường, lên bờ để bắn càn. Thuyền nước ngoài đến đậu lại để buôn bán, thì khi báo cáo hàng hóa, phải đem cả số người đáp theo trong thuyền và các số súng ống, khí giới là bao nhiêu, khai bẩm minh bạch, do viên tấn thủ kiểm điểm đích thực, ghi chép rõ ràng, kể rõ nguyên do chuyển bẩm và cho lên bờ tùy nơi gần tiện chợ mà buôn bán. Xong việc, lại kiểm soát kỹ lưỡng rồi cho về thuyền. Không được ngầm ở lại trong nhà mọi người. Nếu ai trái lệnh thì lập tức bắt giữ, chiểu theo luật “kẻ nước ngoài vào cõi” mà xử tội chém đầu. Còn người cho bọn ấy ngần ở, thì cũng xét tội như kẻ phạm pháp kia. Những thuyền con đi theo thuyền lớn, nếu nhân có việc mà chạy đến thì chỉ cho đến chỗ bến nơi tấn thủ mà thôi, không được vượt qua.

Thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa trấn không được đi lại riêng với người ta, ngầm thông tin tức và không được cho người ta đến thuyền, để đến nỗi gây ra chuyện”40.

Đối với tàu thuyền trong nước, việc qua lại nơi đò ải, cửa biển, nhà Nguyễn có qui định cụ thể. Ở đây chúng tôi chỉ lược trích những thông tin chủ yếu:

Minh Mạng năm thứ 20 (1839), qui định: “Hai cửa ải Hải Vân, Quảng Bình là nơi quan trọng, gần Kinh kỳ. Từ trước đến nay đặt người trấn thủ, kiểm soát rất nghiêm. Nhưng kẻ trốn tránh hoặc có đi thuyền qua lối khác, đến nỗi cửa ải không thể kiểm soát vào đâu được.

Xét Quảng Bình từ bến đò thôn Động Hải, chuyển ra cửa biển Nhật Lệ, do đường biển vào cửa biển Linh Giang, Quảng Nam từ bến đò Thanh Khê do đường biển đến thẳng bến đò trạm Thừa Phúc phủ Thừa Thiên, hai bến đò ấy vốn không đi qua cửa ải và đồn biển. Từ trước vốn không đặt bến đò ở đấy, chỉ là chủ thuyền xoay kiếm nhiều lợi, mà hành khách cũng cẩu thả tránh sự khó nhọc, đến nỗi kẻ giam manh nhân thế mà được lẻn qua nơi ấy. Nay đều cấm chỉ. Vẫn do hai đồn biển Hải Vân, Nhật Lệ xét hỏi nghiêm ngặt”41.

Tháng 10 năm 1835, vì quan tỉnh tâu báo chậm nên Minh Mạng qui định: “Từ nay, phàm thuyền nước ngoài đến ở vụng Trà Sơn, nếu là thuyền chiến hoặc có sự tình gì khác thì chuẩn cho viên coi tấn phận Đà Nẵng lập tức một mặt tâu lên, một mặt báo tỉnh. Quan tỉnh lại căn cứ vào tin báo, tiếp tục tâu trình. Còn thuyền buôn đến đỗ thì viên coi trấn phận phải hỏi rõ, rồi tâu lên và đệ trình lên cả cái đơn kê hàng hóa ở trong thuyền. Quan tỉnh chỉ căn cứ theo tờ báo cáo của trấn phận mà tư lên bộ để lưu chuyển, không cần phải tâu”42.

Những hoạt động kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển chính là việc trực tiếp tiếp cận để xét hỏi tàu thuyền lúc cập cảng để tùy nghi xử lý, như tháng 12-1836, tàu binh nước Pháp vào đậu tại hòn Mỏ Diều thuộc tỉnh Quảng Nam. Khiến người ra hỏi, họ trả lời rằng: “tàu ở thành Tu Lông, đức quốc trưởng khiến đi thao diễn đàng biển đã hơn 1 năm; nay từ Mã Cao trở về, xin ở lại một vài ngày để lấy củi”. Qua ngày mai, bắn một phát súng lớn rồi chạy đi”43.

Tấu ngày 30-7-1848: Tổng đốc Quảng Nam – Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn, khâm phái Tôn Thất Thường báo cáo về việc xét hỏi chiếc thuyền buôn của người Pháp tên là Y Đóa chở hàng tới xin bán ở Đà Nẵng 44.

Tấu ngày 6-2-1849, bộ Lễ báo cáo về việc, “ngày 31-1 thuyền Pháp vào Đà Nẵng – Quảng Nam, lấy cớ là để tìm kiếm nạn nhân và xin cấp giấy tờ. Quan chức tỉnh đó đã sai Lê Chính Thuỳ và Cai đội Vũ Dũng mang giấy tờ đến cho thuyền ấy, Vũ Dũng đã tự tiện một mình xuống thuyền, nói chuyện với thuyền trưởng và xin sách đạo. Lê Chính Thuỳ phải trách mắng, ngăn cản mới trả lại sách đạo nhưng Vũ Dũng lại ngầm lấy 15 lá cờ của Pháp. Cai đội Vũ Dũng trước đã can tội ngầm theo đạo Gia tô, nay lại coi thường luật pháp, tự do giáo thiệp với người Âu. Xin giao Vũ Dũng cho bộ Binh tra hỏi và xét xử”45.

Trên thực tế hoạt động kiểm soát cũng không tránh khỏi những hạn chế. Có khi quan phụ trách không tâu báo một tàu Pháp vào tránh gió, người phụ trách bị phạt: “lúc ấy tàu Pháp bị gió, ghé vào tránh gió rồi đi không có ý gì. Sao đã cho người ra hỏi lý do rồi mà không tâu lên, chỉ nói qua loa cho xong việc?. Tên Nguyễn Đức Chung làm việc sơ lược, phạt bổng 3 tháng để răn tội” (tấu ngày 3-7-1841) 46 [1, Thiệu Trị, tập 6, 76]

Châu bản cho biết, ngày 27-6-1838, Lãnh binh Quảng Nam và Thủ ngự Đà Nẵng Trương Hữu Xuân tâu: “sáng nay có tàu ngoại quốc đỗ tại hòn Mỏ Diều ở ngoài biển, Trương Hữu Xuân và thơ lại Nguyễn Chiêm Lượng ra xét. Khi có quân binh dụng đầy đủ tại thuyền. Ra hỏi thì không có thông ngôn nên không hiểu tiếng nói. Xét thì đó là thuyền binh, thấy cờ như thuyền của nước Phú Lãng Sa (Pháp), có ba cột buồm, mỗi cột 4 tầng, có chừa cửa súng 52 lỗ. Thuyền dài ước 13 trượng (khoảng 52m), rộng ước 3 trượng, súng đại bác 52 khẩu, súng độ kim 8 khẩu, súng điểu thương 400 cây, gươm đao 100 cây, số người hơn 400. Trong kho, đồ đạc không kiểm được”47.

Ngay lập tức Minh Mạng cử Đào Trí Phú và Lý Văn Phức vào Đà Nẵng xét, phái đoàn này có báo cáo: “Tuân dụ tới Đà Nẵng thương thuyết với thuyền Phú Lãng Sa nhưng chủ thuyền tên Lập Lạc nói đi các nước để thao diễn, không phải đi về quốc sự. Thuyền chỉ đậu lại vài ngày để mua củi, nước, thực phẩm và sửa dây buồm. Chúng tôi có mời lên công quán nhưng họ không lên vì không phải đi việc công, cho nên không dám lên. Phái viên hỏi sao đổi hiệu cờ, chủ thuyền cho biết đã đổi từ lâu, nhiều nước đã biết và xin vài ngày nữa sẽ ra đi”48. Vào thời Thiệu Trị, cũng xảy ra trường hợp tương tự, khi thuyền Pháp nhổ neo ra đi, thủ ngự còn mang lính đi thuyền theo dõi để đề phòng: “Trước đây đinh thuyền Phú Lãng Sa đậu tại dương phần cù lao Mỏ Diều cửa Đà Nẵng. Tôi đã dâng sớ tâu lên. Hôm nay vào khoảng giờ Tỵ, thuyền ấy nhổ neo ra khơi, tôi liền sức Thủ ngự Võ Văn Hóa đem lính lệ đi thuyền theo dõi để đề phòng. Thấy thuyền ấy theo chiều gió đông thẳng ra khơi, đi xa không thấy bóng buồm” (tấu ngày 17-2-1843).

Thời Tự Đức cũng lại như vậy. Bản tấu ngày 19-1-1849 cho biết, “Tuần phủ Bình Định Lê Nguyên Trung báo cáo về việc một chiếc tàu thủy chạy bằng động cơ của một nước Tây Âu vào đậu ở hải phận thuộc cửa biển Thị Nại ngày 18-1. Vì không có thông ngôn nên không hỏi han gì được, khi thông ngôn tới trời đã qúa tối nên lại không tiện đến hỏi. Tới giờ Tuất chiếc tàu đó đã nhổ neo chạy đi rồi. Do đó không biết được chiếc tàu đó là của nước nào, trên tàu có bao nhiêu người”49. Những sự việc trên cho thấy Minh Mạng, Thiệu Trị rồi Tự Đức đã rất quan tâm nhưng cũng cho thấy các thiếu sót: không có thông ngôn túc trực, không biết người Pháp đã thay đổi cờ “từ lâu”, không giám xét hỏi khi trời đã tối, thậm chí họ đến rồi đi mà trấn thủ không biết thông tin gì khác.

Kết luận

1. Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn đã kế thừa những tri thức, kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của các triều đại trước để xây dựng một quốc gia thống nhất, vững mạnh có vị trí trong khu vực. Đặc biệt, khi những cuộc thăm dò của thực dân phương Tây núp dưới danh nghĩa thương mại và truyền giáo ngày một nhiều, lộ rõ ý đồ xâm lược, thì nhu cầu bảo vệ quốc gia từ phía biển được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước yêu cầu và hoàn cảnh lịch sử mới, triều Nguyễn đã nhận thấy cần phải bảo vệ quốc gia không chỉ ở biên giới mà còn phải chú trọng nhiều trong phòng thủ vùng biển, đặc biệt là vùng biển miền Trung, nơi có kinh đô và nhiều cửa biển, địa hình phức tạp, giữ một vị trí quan trọng trên đường hàng hải quốc tế.

2. Với mong muốn giữ yên mặt biển, việc tuần biển rất được quan tâm, thể hiện qua rất nhiều chỉ dụ, phân phái rất nhiều binh thuyền thường xuyên tuần thám mặt biển đến khi nào “trông vào không thấy bờ”; tuần tra liên tục “khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt”… Tuy nhiên tuần tra phát hiện giặc biển thì rất nhiều mà việc đánh dẹp thì không phải bao giờ cũng thu được kết quả tốt đẹp, thậm chí nhiều lúc thể hiện sự bất lực trước một lực lượng cướp biển vừa nhiều, có tổ chức và có phần táo tợn. Để quản lý đất nước có vùng biển dài rộng, lại nhiều cửa biển, nhà Nguyễn đã có nhiều qui định để kiểm soát tàu thuyền ra vào, đặc biệt vào thời đại phải thường xuyên tiếp xúc với các tàu thuyền nước ngoài, nhà Nguyễn đã rất lưu ý đến những tàu phương Tây. Những hoạt động ấy đã góp phần lớn vào việc nắm bắt thông tin, đảo bảo an ninh, quốc phòng và thu thuế.

3. Thay đổi cái nhìn truyền thống và hướng tới việc chú trọng bảo vệ quốc gia là phòng thủ vùng biển, các vua nhà Nguyễn đã thi hành nhiều biện pháp bảo vệ thường xuyên trên vùng biển nói chung và ở miền Trung nói riêng. Tuy còn những hạn chế nhất định song những biện pháp đó đương thời phát huy tác dụng không nhỏ. Nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển, cụ thể là công tác tuần tra, kiểm soát vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn rõ ràng mang nhiều ý nghĩa thực tiễn: thấy được những gì mà triều đại phong kiến này đã làm trong việc bảo vệ vùng biển, đó cũng là góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16.

2. Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

4. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, in lần thứ 2, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005.

5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002.

6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004.

7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, Tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.

8. Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005.

——-

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

——-

 

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2001, tr.182

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử họcNxb Giáo Dục, H.2002, tr.811

3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, H.2004., tr.310

4 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.795

5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, H.2002, tr.566

6 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427

7 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.425

8 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417 6 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.425-426

9 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005, tr.269

10 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.426

11 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.426

12 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427

13 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.310

14 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.266

15 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435

16 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427

17 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432-433

18 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427-428

19 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.428

20 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.428

21 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432

22 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432-433

23 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.433

24 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435-436

25 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.446

26 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437

27 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437

28 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437-438

29 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.438

30 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417

31 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.267

32 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.268

33 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435

34 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417-439

35 Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002, tr.256

36 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417-418

37 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.770

38 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417

39 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.838

40 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.418-419

41 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.421

42 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.796

43 Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, tr.265.

44 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.16

45 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.21

46 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16. Thiệu Trị, tập 25, 30

47 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16, Minh Mạng, tập 64, 30

48 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16, Minh Mạng, tập 71, 106

49 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.20

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Lịch sử | Thẻ: , | Leave a Comment »

Tướng Giáp buộc chính quyền phải lắng nghe

Posted by adminbasam trên 29/06/2009

The New York Times

Người anh hùng thời chiến của Việt Nam đang buộc chính quyền lắng nghe ý kiến

SETH MYDANS

Ngày 28-6-2009

 

Hà Nội, Việt Nam – Vị anh hùng vĩ đại thời chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã đứng lên để bảo vệ quốc gia của ông một lần nữa, lần này là chống lại điều mà ông gọi là một sai lầm lớn nhất của chính phủ — một mỏ khổng lồ được điều hành bởi một công ty Trung Quốc.

Hiện nay vị chỉ huy, 97 tuổi, từng lãnh đạo quốc gia chiến thắng Pháp và Mỹ, đã nổi lên như là một người có tiếng nói mạnh mẽ nhất trong cuộc phản đối rộng rải được nhiều người biết đến.  Việc phản đối này đang thách thức lối làm việc bí mật của các nhà lãnh đạo cộng sản của nước này.

Trong một bước đi bất thường, chính quyền VN đã và đang ghi nhận những lời chỉ trích trong các tuần lễ gần đây và dường như đang đưa ra thái độ đáp ứng, chính quyến cho biết họ sẽ xem xét lại các tác động môi trường và sẽ hoãn lại việc thực hiện dự án.

Dự án này, đã được Bộ Chính Trị của đảng cộng sản quyết định chấp thuận vào cuối năm 2007, kêu gọi đầu tư 15 tỉ đô la từ đây cho đến năm 2025 để khai thác mỏ bauxite – loại khoáng chính làm ra nhôm – mà theo một số đánh giá là khu mỏ có trữ lượng lớn đứng hàng thứ 3 thế giới.

Tập đoàn Chinalco của nhà nước Trung Quốc đã thu xếp cho công nhân của họ và máy móc làm việc tại vùng Tây Nguyên theo hợp đồng với hãng Vinacomin (Tập đoàn Than và Khoáng Sản Việt Nam). Tập đoàn khai mỏ này đang có mục tiêu sản suất 6,6 triệu tấn nhôm trước năm 2015.

Tướng Giáp và những người phản đối khác cho rằng dự án sẽ gây tác hại lên môi trường, phải di dời các tộc người thiểu số và đe doạ an ninh quốc gia với sự hiện diện của một làn sóng công nhân Trung Quốc và  việc sử dụng một món đầu tư rất nhỏ ban đầu để thâu tóm một mối lợi  kinh tế lớn hơn gấp nhiều lần của Trung Quốc.

Cuộc tranh cãi kéo theo một số vấn đề của Việt Nam ngày nay – trong đó có cuộc ganh đua với Trung Quốc trong mô hình phát triển công nghiệp gây tàn phá môi trường, một mối quan hệ liên quan giữa hệ thống nhà nước khép kín và các công dân của mình, và một mối ngờ vực theo linh cảm trong số nhiều người Việt Nam về người láng giềng khổng lồ của họ ở phương bắc.

Trong khi những phác thảo về dự án này đã nổi lên, sự liên minh lỏng lẻo giữa các nhà khoa học, giới trí thức, những nhà hoạt động môi trường, cựu binh chiến tranh và các vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo không được công nhận và các nhóm Thiên chúa giáo đã cùng nhau thách thức những gì mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gọi là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước.” Những tiếng nói của họ đã vang lên mạnh mẽ trong môi trường có khả năng khuyếch tán của các blog chính trị, một tiếng nói mới trong diễn đàn công cộng ở đây.

“Có sự trao đổi qua lại giữa các bên và  các đề nghị cùng nhau hành động trong một vài vấn đề,” theo nhận định của ông Carlyle A. Thayer, một chuyên gia về Việt Nam thuộc Học viện Quốc phòng Úc ở Canbera. “Có nhiều nhóm đã từng thúc đẩy về các chủ đề chính trị và không có kết quả gì thì giờ đây đang quay ra ủng hộ vấn đề bauxite vốn không mang tính chính trị.”

Trừ luận điểm môi trường và kinh tế học, chủ đề từng được loan tải trên khắp các blog và dư luận quần chúng trên đường phố là một mối lo ngại đã ăn sâu bén rễ về Trung Quốc. Việt Nam là một chư hầu của Trung Quốc trong 1.000 năm và đã bị nước này xâm lược năm 1979, và hai nước đã và đang tiếp tục cuộc tranh đấu giành chủ quyền  trên Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa].

Trong một bản kiến nghị gửi tới Quốc Hội vào tháng 4 năm nay, 135 nhà khoa học và trí thức đã phản đối kế hoạch này, họ nói rằng, “Trung Quốc có tiếng tăm rất xấu trên thế giới như một quốc gia đang gây ra nhiều ô nhiễm môi trường và các vấn nạn to lớn nhất.”

Phản ảnh quan điểm của các nhà bảo thủ đang nắm quyền, tổng giám đốc của tập đoàn Vinacomin do nhà nước làm chủ, ông Đoàn văn Kiển, đã bác bỏ ý kiến của các nhà chỉ trích trong một cuộc phỏng vấn, ông nói rằng những người chỉ trích có “các ý kiến khác biệt bởi vì họ không có đầy đủ thông tin.”

Lời phê bình của ông Kiển rõ ràng có ý nghĩa như một lời chỉ trích những người phản đối kế hoạch bauxite, chứ không phải là chỉ trích chính quyền đã giữ kín các thông tin không cho công chúng biết.

Ông Kiển đã nhấn mạnh rằng sự tổn hại môi trường đã được cứu xét đến, rằng dân chúng địa phương sẽ được chăm sóc một cách thích hợp, và rằng Trung Quốc sẽ không chiếm lấy Tây Nguyên. Ông Kiển nói thêm: Việc xây dựng sẽ hoàn tất trong vòng 2 năm và chỉ có một số nhỏ người Trung Quốc sẽ ở lại để điều hành các hoạt động.

Với những sức ép đang diễn ra, chính quyền đã tự mở cửa đón nhận các ý kiến chỉ trích vào tháng 4-2009, bằng việc tổ chức một cuộc hội thảo mà các nhà khoa học và các nhà kinh tế đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ về điều mà một trong những người trong họ đã nói là có thể trở thành “một thảm họa nghiêm trọng”. Trả lời tại cuộc hội thảo này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã trấn an những người chỉ trích rằng chính quyền VN sẽ không khai thác các mỏ bauxite này mà không xem xét tới các tác động lớn hơn và chính quyền sẽ điều chỉnh lại các dự án trong một nỗ lực để bảo vệ môi trường Tây Nguyên.

Hiện nay, chính quyền Việt Nam nói rằng họ sẽ bắt đầu bằng cách khai thác 2 trong số 4 mỏ như kế hoạch, và chính quyền đang đồng ý có một cuộc thảo luận ở Quốc Hội.

“Tôi nghĩ rằng Bộ Chính Trị đang lắng nghe các ý kiến liên quan tới việc xem xét lại dự án bauxite,” ông Nguyễn Trung, cựu đại sứ của VN tại Thái Lan, cho biết. “Chính quyền VN nên tìm một phương pháp khác để khai thác vùng Tây Nguyên. Kế hoạch ấy nên là phát triển bảo vệ môi trường.”

Mức độ của sự uyển chuyển của chính quyền thì không rõ ràng bởi vì các chi tiết về kế hoạch lúc đầu không đưa ra công khai cho dân chúng biết. Nhưng tối thiểu, chính quyền đã và đang thừa nhận rằng ý kiến của dân chúng không thể nào bị coi thường.

“Chính quyền đã và đang rút lui,” ông Thayer cho biết. “Họ đã hiểu ra và chấp thuận các ý kiến của người dân và sẽ thay đổi phương cách để hành xử trong tương lai và họ phải đáp ứng các áp lực của dân chúng. Đối với tôi, điều này mang theo một hy vọng rằng khi cả một hệ thống gồm nhiều thành phần của dân chúng Việt Nam tham gia, chính quyền có thể đã phải xem xét lại các loại liên minh này một cách nghiêm cẩn hơn”

Nhưng, ông Thayer cho biết, “Việt Nam vẫn chưa đạt đến giai đoạn mà ở đó các nhóm độc lập và mọi người trong xã hội có khả năng xem xét một quyết định nào đó của chính quyền và đảo ngược lại quyết định ấy.”

Chính quyền VN có thể đã bác bỏ các ý kiến chỉ trích nếu như Tướng Giáp không lên tiếng, lần đầu tiên vào tháng Giêng và hai lần tiếp sau đó. Tướng Giáp nói rằng dự án bauxite “ sẽ gây ra các hậu quả nghiêm trọng tới môi trường, xã hội và quốc phòng.”

Nhà vận động viên lớn tuổi này đã dường như  tập hợp lại ý kiến của công luận  (ý kiến đó ngược lại với ý kiến ban lãnh đạo của nước), ông kêu gọi các nhà khoa học, các giám đốc và các nhà hoạt động xã hội “đề nghị đảng và nhà nước có một chính sách đúng đắn ở Tây Nguyên”

Tướng Giáp là người bạn thân thiết của cố chủ tịch Hồ Chí Minh. Các nhà lãnh đạo hiện nay kéo dài sự cầm quyền của họ là do từ mối liên hệ của họ với thế hệ tướng Giáp, và vì thế họ đã đáp lại các lá thư của tướng Giáp với sự tôn trọng một cách công khai.

Khi được hỏi cảm tưởng ra sao khi nhận ra ông đang ở phía đối lập với vị tướng vĩ đại này, ông Kiển, tổng giám đốc của Vinacomin, bật ra một chút thái độ bất kiên nhẫn mà các nhà lãnh đạo có lẽ hiện đang nghĩ.

“Tôi không dám phê bình,” ông Kiển nói. “Tướng Giáp là một vị anh hùng của đất nước. Nhưng tôi phải nói với bạn rằng, ông tướng hiện nay gần 100 tuổi rồi. Chúng tôi phải tôn trọng ông  ấy, nhưng hiện giờ chúng tôi đang ở dưới sự lãnh đạo của chính quyền hiện nay và của Đảng Cộng Sản”.

người dịch: Trần Hoàng

—————–

 

The New York Times

War Hero in Vietnam Forces Government to Listen

By SETH MYDANS

Published: June 28, 2009

HANOI, VIETNAM — Vietnam’s great war hero, Gen. Vo Nguyen Giap, has stood up to defend his country once again, this time against what he says would be a huge mistake by the government — a vast mining operation run by a Chinese company.

Now 97, the commander who led his country to victory over both France and the United States has emerged as the most prominent voice in a broad popular protest that is challenging the secretive workings of the country’s Communist leaders.

In an unusual step, the government has taken note of the criticisms in recent weeks and appears to be making at least gestures of response, saying it will review the project’s environmental impact and slow its full implementation.

The project, approved by the Communist Party’s decision-making Politburo in late 2007, calls for an investment of $15 billion by 2025 to exploit reserves of bauxite — the key mineral in making aluminum — that by some estimates are the third largest in the world.

The state-owned Chinese mining group Chinalco has already put workers and equipment to work in the remote Central Highlands under contract to Vinacomin, the Vietnamese mining consortium that is aiming for up to 6.6 million tons of aluminum production by 2015.

General Giap and other opponents say the project will be ruinous to the environment, displace ethnic minority populations and threaten national security with an influx of Chinese workers and economic leverage.

The controversy draws together several issues in today’s Vietnam — its emulation of China’s environmentally destructive model of industrial development, a tentatively evolving relationship between the closed government system and its citizens, and a visceral distrust among many Vietnamese of their big neighbor to the north.

As the outlines of the project have emerged, a loose coalition of scientists, academics, environmentalists, war veterans and the leaders of unofficial Buddhist and Catholic groups have come together to challenge what Prime Minister Nguyen Tan Dung has called “a major policy of the party and the state.” Their voices have been amplified in the echo chamber of political blogs, a new voice in public discourse here.

“There’s cross-fertilization and cross-cutting occurring on some of these issues,” said Carlyle A. Thayer, a specialist on Vietnam at the Australian Defense Force Academy in Canberra. “Groups that pushed a political agenda and got nowhere are now lending support for these things that are not political issues.”

Apart from environmentalism and economics, the theme that runs through the blogs and public opinion on the street is a deep-rooted fear of China. Vietnam was a tributary state of China for 1,000 years and was invaded by China in 1979, and the two countries continue to joust for sovereignty in the South China Sea.

In a petition to the National Assembly in April, 135 scholars and intellectuals opposed the plan, saying, “China has been notorious in the modern world as a country causing the greatest pollution and other problems.”

Reflecting the old school of those in power, the chairman of state-owned Vinacomin, Doan Van Kien, dismissed critics in an interview, saying they have “different opinions because they don’t have enough information.”

The comment clearly was meant as a criticism of the project’s opponents, not of the government that has withheld information from the public.

Mr. Kien insisted that any environmental damage would be contained, that the local population would be adequately cared for and that the Chinese would not be taking over the Central Highlands. Construction will end in two years, he said, and only a small number of Chinese workers will remain to run the operations.

With the pressure on, the government opened itself to its critics in April, convening a seminar at which scientists and economists voiced strong opposition to what one of them said could become a “major disaster.” Responding at the seminar, Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai assured critics that the government would not consider developing the mines without regard to the larger impact and would readjust the projects in an effort to protect the environment.

The government now says it will begin with only two of the four planned mining operations, and it is allowing a debate in the National Assembly.

“I think the Politburo is listening to ideas regarding a review of the bauxite project,” said Nguyen Trung, a former ambassador to Thailand. “The government should find another method of developing the Central Highlands. It should be green development.”

The degree of official flexibility is not clear because details of the original plan have not been made public. But at a minimum, the government has conceded that public sentiment could not be ignored.

“They’ve had to retreat,” said Mr. Thayer. “The government has taken on board and had to react to these pressures. To me, this carries a hope that as the Vietnamese system evolves, it may have to take these kinds of coalitions more seriously.”

But, he said, “Vietnam has not yet reached the stage where independent groups and society can take a government decision and overturn it.”

The government might well have brushed off its critics if General Giap had not spoken up, first in January and twice afterward, saying the project “will cause serious consequences to the environment, society and national defense.”

The old campaigner now appeared to be rallying public opinion against the country’s leadership, calling on scientists, managers and social activists to “suggest to the party and the state to have a sound policy on the bauxite projects in the Central Highlands.”

General Giap is the last living comrade of the country’s founding father, Ho Chi Minh. Current leaders draw their legitimacy from their link to his generation, and they have responded to his statements with careful public deference.

Asked how it felt to find himself on the opposite side from the great general, Mr. Kien, the Vinacomin chairman, let slip a little of the impatience these leaders must be feeling.

“I don’t dare to comment,” he said. “General Giap is a national hero. But I have to tell you, the general is nearly 100 years old. We have to respect him, but now we are under the leadership of the present government and Communist Party.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí, Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Thẻ: | Leave a Comment »

VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

Posted by adminbasam trên 28/06/2009

LỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT NAM-TRUNG QUỐC THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ

TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

GS. Yu Insun Đại học Quốc gia Seoul *

 

1. Lời nói đầu

Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hai nghìn năm trước cận đại không thể lí giải chính xác nếu không gắn với quan hệ về mặt chính trị với Trung Quốc. Chúng ta có thể hiểu về điều này một cách dễ dàng từ quan hệ hai nước được trình bày dưới đây.

Từ cuối thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến nửa đầu thế kỷ thứ X sau CN, Việt Nam chịu sự thống trị trực tiếp của Trung Quốc trong một nghìn năm cho đến khi giành được độc lập. Một nghìn năm này trong lịch sử Việt Nam thường được gọi là “thời kì Bắc thuộc”. Từ sau khi thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc giành độc lập vào nửa đầu thế kỷ thứ X đến trước khi rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào nửa sau thế kỷ XIX, trong một nghìn năm, Việt Nam đã thiết lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc, vừa duy trì quan hệ thân thiện về chính trị vừa đồng thời tiếp nhận văn hóa Trung Quốc trong “trật tự thế giới kiểu Trung Hoa”, theo cách nói của người Trung Quốc. Chúng ta có thể gọi giai đoạn này là “giai đoạn quan hệ triều cống”. Tất nhiên, ở giai đoạn này, Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm lược nhiều lần, nhưng ngay sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược này, triều đình Việt Nam đã gửi ngay sứ giả sang Trung Quốc nhằm nỗ lực khôi phục quan hệ hữu hảo và tránh xung đột.

Nội dung nghiên cứu này lấy trọng tâm là “giai đoạn quan hệ triều cống” mà Việt Nam triều cống Trung Quốc, đặc biệt là dưới triều Nguyễn (1802-1945) được lập nên đầu thế kỷ XIX, nhằm xem xét quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc trên quan điểm của Việt Nam.

Thực tế, nhiều nước phương Tây được biết rằng, quan hệ quốc tế của Đông Á giai đoạn trước cận đại, trước khi tiến lên chủ nghĩa đế quốc, tồn tại trật tự quốc tế được thiết lập bởi quan hệ triều cống giữa Trung Quốc và các nước xung quanh, lấy Trung Quốc làm trung tâm. Quan hệ triều cống, không cần nói cũng có thể thấy, được hình thành trên nền tảng ưu việt về chính trị, văn hóa của Trung Quốc. Các nước xung quanh công nhận tính ưu việt này của Trung Quốc và bằng việc đáp ứng những yêu cầu của Trung Quốc đã tạo nên trật tự thế giới truyền thống lấy Trung Quốc làm trung tâm.

Tuy nhiên, có một vấn đề mà chúng ta không thể bỏ qua, đó là, trật tự thế giới kiểu Trung Hoa, trên phương diện nào đó, chẳng qua chỉ là tư tưởng đơn phương của người Trung Quốc, lấy bản thân mình là trung tâm. Vì để điều đó trở thành “sự thật chính trị mang tính khách quan” thì các nước triều cống phải có cùng suy nghĩ với người Trung Quốc, nhưng trên thực tế lại không như vậy.1 Người Trung Quốc nói rằng, do họ có nền văn hóa ưu việt và sản vật phong phú nên các nước nhỏ xung quanh đã phải tự đến chầu. Nhận định này không phải là không có lí, nhưng trên thực tế điều này có quan hệ mật thiết hơn với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.2 Có thể nói rằng, nếu Trung Quốc yếu đi thì thể chế triều cống đã khó có thể duy trì. Trong trường hợp đó, cái gọi là trật tự thế giới kiểu Trung Hoa chỉ là hư cấu. Xin dẫn ra một ví dụ: trong cuộc chiến Thanh – Pháp năm 1884 – 1885 và cuộc chiến Thanh – Nhật năm 1894, triều đình nhà Thanh bại trận đã phải kí hiệp ước với Pháp và Nhật, biến Việt Nam thành nước bảo hộ của Pháp và công nhận nền độc lập hoàn toàn của Triều Tiên. Mặc dầu vậy, trong Đại Thanh hội điển, bản năm 1899, ghi lại rằng hai nước vẫn là nước triều cống của nhà Thanh3, cho thấy rõ ràng tính hư cấu của trật tự thế giới kiểu Trung Hoa nói trên.

Như vậy, để lí giải tính chất của trật tự thế giới Đông Á giai đoạn trước cận đại, việc khảo sát quan hệ triều cống của Việt Nam đối với Trung Quốc trên thực tế như thế nào, theo tôi, là điều hết sức cần thiết. Thực tế, các vị vua nhà Nguyễn Việt Nam chính thức công nhận mình là nước triều cống của nhà Thanh, xưng là hạ thần, còn ở trong nước thì tự xưng là hoàng đế. Có lúc đi xa hơn, họ coi nhà Thanh là vương triều dị tộc, thậm chí chỉ trích tính di địch của chế độ ấy. Không những thế còn mô phỏng tư tưởng thiên hạ kiểu Trung Quốc, về mặt đối ngoại, với tư cách là nước bá chủ, thống trị các nước nhỏ xung quanh, hình thành nên trật tự thế giới của riêng mình.

Ngay cả với thực tế như vậy, song do có rất nhiều nghiên cứu từ trước đến nay lấy Trung Quốc làm trung tâm,4 nên có không ít khuynh hướng lí giải không đúng về nước bá chủ và nước thuộc địa nói đến trong chế độ triều cống, rằng mối quan hệ này tương tự như quan hệ của nước bá chủ thực dân và nước thuộc địa thực dân trong thời hiện đại. Nội dung nghiên cứu này đề cập đến vấn đề quan hệ triều cống giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XIX, nhưng tôi tin rằng cũng sẽ có ích trong việc lí giải đúng đắn về quan hệ chính trị giữa Hàn Quốc và Trung Quốc ở cùng thời đại với bối cảnh tương đồng.

2. Sự tiếp nhận thể chế triều cống nhà Thanh của triều đình nhà Nguyễn

Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX bắt đầu bằng việc Nguyễn Phúc Ánh dập tắt phong trào Tây Sơn, phong trào nông dân có quy mô lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, năm 1802, lập nên triều Nguyễn. Chỉ đến khi ấy, Việt Nam mới là đất nước có lãnh thổ như chúng ta thấy ngày hôm nay.

Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1428 – 1789) năm 1527 rồi bị đánh đuổi bởi thế lực phù Lê năm 1592, Việt Nam bước ngay vào thời kỳ Nam – Bắc phân tranh của hai nhà họ Trịnh và họ Nguyễn, vốn là hai thế lực lớn của phong trào phù Lê. Tấm màn Nam – Bắc phân tranh này được kéo xuống bởi ba anh em họ Nguyễn, những người đã gây dựng phong trào nông dân ở Tây Sơn, một vùng đất ở Nam trung bộ Việt Nam năm 1771. Người của nhà Nguyễn còn sống sót ở Phú Xuân (nay là Huế), sau vụ thảm sát bởi phong trào nông dân lúc bấy giờ, là Nguyễn Phúc Ánh đã chạy đến vùng Mê Kông lánh nạn và đã bền bỉ xây dựng lực lượng trong suốt hai mươi năm gian khổ. Đến tháng 6 năm 1801, cuối cùng, ông cũng đánh chiếm được thành Phú Xuân là cố đô của tổ tiên. Tháng 6 năm sau ông tiến ra Bắc, chỉ trong vòng một tháng, đến ngày 20 tháng 7, đã hoàn thành việc thống nhất đất nước bằng việc chiếm thành Thăng Long.

Trước khi ra Bắc, tháng 5 năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh đã lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long.5 Gia Long là chỉ từ Gia Định (vùng đất bao gồm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và khu vực lân cận) đến Thăng Long, mang ý nghĩa là toàn bộ Việt Nam.6 Việc lấy niên hiệu này cho thấy ý chí quyết tâm thống nhất đất nước từ trước đó của ông.

Một mặt xưng đế, lập niên hiệu, mặt khác vào tháng 5, Nguyễn Phúc Ánh đã cử Trịnh Hoài Đức làm chánh sứ sang Quảng Đông để cầu nhà Thanh giúp đỡ trong vấn đề Tây Sơn còn chưa giải quyết xong. Khi ấy, Trịnh Hoài Đức đã mang theo quốc thư của Nguyễn Phúc Ánh và vật phẩm, bao gồm cả sắc thư và kim ấn được nhận từ triều Thanh mà Nguyễn Văn Toản của triều đình Tây Sơn bỏ lại khi rút lui, đồng thời giải theo ba hải tặc của nhà Thanh bị bắt làm tù binh. Họ đặt chân đến Quảng Đông vào tháng 7.7 Đây là lần tiếp xúc chính thức đầu tiên giữa triều Nguyễn và triều Thanh.

Nội dung quốc thư gửi lúc bấy giờ được dịch ra tiếng Pháp. Theo nội dung này, Nguyễn Phúc Ánh tự xưng là “Nam Việt quốc vương” (roi du royaume de Nam-Viet).8 Suzuki Chusei cho rằng, dịch là “vương” là sai và có lẽ trong nguyên văn được viết là Nam Việt quốc chúa hay Nam Việt quốc trưởng.9 Vì khi ấy Nguyễn Phúc Ánh chưa chính thức được nhà Thanh sắc phong nên chưa thể xưng là vương, nên tôi nghĩ rằng nhận định của Suzuki Chusei có lí.

Một vấn đề nữa là về quốc hiệu Nam Việt. Việc gọi là Nam Việt bao quát cả vương triều mới An Nam (là cách gọi Việt Nam của Trung Quốc, nói đến khu vực chịu ảnh hưởng của họ Trịnh lúc bấy giờ) và Việt Thường (là lãnh thổ của nhà Nguyễn, bao gồm từ phía Bắc của Huế hiện nay kéo dài tới vùng Nam Bộ) có từ ý nghĩa sẽ thống trị khu vực rộng lớn hơn nhiều so với nhà Trần (1225 – 1400) hay nhà Lê trước đó.10

Thế nhưng, khi Trịnh Hoài Đức đến Quảng Đông, triều đình nhà Thanh không đề cập đến vấn đề quốc hiệu,11 chỉ cho biết rằng họ Nguyễn chưa thống nhất đất nước, cũng không thuộc nước phiên thuộc nên không thể nhận cống vật. Vì vậy, Nguyễn Phúc Ánh lại cử Nguyễn Quang Định với tư cách là sứ cầu phong xin nhà Thanh phong quốc hiệu là Nam Việt và phong vương cho mình. Đối với triều đình nhà Thanh, việc sắc phong không thành vấn đề, nhưng tuyệt đối không thể chấp nhận được tên nước Nam Việt. Lí do là, Nam Việt trùng với tên Nam Việt mà Triệu Đà dựng nước trước đó (B.C. 207~B.C.111), ngầm hiểu là khu vực bao gồm tỉnh Quảng Đông đến tỉnh Quảng Tây nên mang nghĩa không lành. Sau khi bàn bạc, nhà Thanh đổi chỗ hai chữ và đề nghị tên Việt Nam. Bằng việc này, nhà Thanh muốn thể hiện uy quyền là nước bá chủ. Phía nhà Nguyễn hài lòng với cái tên này vì chữ “Việt” của Việt Thường là đất của tổ tiên truyền lại đứng trước, chữ “Nam” đứng sau nên chấp thuận. Vấn đề quốc hiệu đã được giải quyết xong.12

Vấn đề quốc hiệu được giải quyết cũng là lúc quan hệ hữu hảo giữa hai nước được chính thức hóa. Theo Đại Nam thực lục thì từ khi đó (năm 1803), “Lễ bang giao” đã được hình thành.13 Triều đình nhà Thanh ngay lập tức đã cử sứ giả đi tuyên phong. Nguyễn Phúc Ánh đã tiến hành nghi thức tuyên phong tại Hà Nội ngày nay vào tháng 1 năm 1804 và lên ngôi “Việt Nam quốc vương”.14 Mặc dù thủ đô của triều Nguyễn khi đó là Huế nhưng việc sắc phong được tiến hành ở Hà Nội, sau này trở thành thông lệ. Đến thời vua Tự Đức (1848-1883), theo thỉnh cầu của vua Tự Đức, nghi lễ sắc phong được nhà Thanh chấp nhận cho cử hành tại Huế.

Quan hệ giữa triều đình nhà Nguyễn và triều Thanh được giải quyết ổn thỏa, “bang giao” được quy định rằng: Việt Nam phải triều cống hai năm một lần, 4 năm phải cử sứ giả sang chầu một lần hoặc gộp hai lần triều cồng làm một. Điều này cũng giống như đối với triều Tây Sơn.15 Tất nhiên, ngoài sứ thần chính quy, các sứ giả lâm thời phụ trách việc chúc mừng, cầu phong, tạ ân, điếu vấn, v.v… cũng được cử sang. Nhà Thanh đã yêu cầu nhà Nguyễn cử sứ thần và bắt đầu triều cống từ năm 1803. Theo yêu cầu của nhà Thanh, năm 1803 và 1805, sứ tạ ân được thay thế bằng sứ triều cống năm 1804. Nhà Nguyễn đã theo đó mà làm.16 Song có lúc sứ triều cống kiêm luôn sứ tạ ân, khi số lượng sứ giả lâm thời không nhiều do có khi nhà Thanh yêu cầu ngừng cử sứ chúc mừng và sứ điếu vấn. Cho đến năm 1839, năm cuối đời Minh Mạng (1820-1840), do triều cống được quy định thành bốn năm một lần giống như đối với Lưu Cầu và Xiêm La nên con số này càng giảm. Mặt khác, đối với các vật phẩm triều cống, triều Thanh đã cắt giảm rất nhiều cho vương triều Tây Sơn và nhà Nguyễn so với nhà Lê, chỉ bằng nửa giá trị trước đây, nên giá trị vật chất của triều cống càng trở nên mờ nhạt.17

Số lượng sứ giả và giá trị vật phẩm triều cống của nhà Nguyễn với nhà Thanh đã giảm so với thời kì đầu, song quan hệ triều cống bình thường giữa hai nước không thay đổi. Nhưng khi vụ loạn Thái Bình thiên quốc nổ ra (1851-1864), nhà Thanh đã yêu cầu ngừng triều cống và trong vòng mười sáu năm sau đó không có sứ giả nào được cử đi.18 Cụ thể, quan hệ triều cống tạm ngừng sau khi nhà Nguyễn cử sứ giả sang theo quy định vào năm 1852, năm ngay sau vụ loạn xảy ra, đến năm 1868 thì được nối lại.19 Từ sau đó, nhà Nguyễn cử sứ thần sang nhà Thanh bốn lần vào các năm 1870, 1872, 1876 và 1880.20 Sau này, vào năm 1883, giữa lúc nội cung Huế có biến, Hiệp Hòa (7~11/1883) định cử sứ giả sang nhà Thanh cầu phong để củng cố địa vị của mình. Vấn đề là, vùng Đông Kinh lúc bấy giờ bị quân đội Pháp chiếm giữ nên đã không thể sử dụng đường bộ như trước đây. Vì vậy, Hiệp Hòa đã thỉnh cầu nhà Thanh cho đi bằng đường biển và được chấp thuận. Song ngay sau đó ông đã bị quyền thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường hạ độc nên không thực hiện được.21 Sứ giả cuối cùng của nhà Nguyễn sang nhà Thanh là sứ giả sang xin sắc phong cho Kiến Phúc (1883-1884), ngay sau đời vua Hiệp Hòa.22 Tuy nhiên, Kiến Phúc cũng không được sắc phong vì chỉ sau khoảng nửa năm trên ngôi vị đã chết vì bệnh tật. Kết cục, quan hệ triều cống giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh được tiến hành liên tục trong tám mươi năm, từ năm 1803, đã chấm dứt khi Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp theo hiệp ước Pa-tơ-nốt (còn gọi là hiệp ước Huế lần thứ hai hoặc hiệp ước Giáp Thân) ký vào năm 1884.

Vậy, tại sao vua nhà Nguyễn lại công nhận quyền lực của hoàng đế nhà Thanh, tự xưng là hạ thần và duy trì quan hệ triều cống?23 Như tôi đã trình bày ở trên, vì người Trung Quốc cho rằng họ có nền văn hóa ưu việt và sản vật phong phú. Thế nhưng, đứng trên lập trường của Việt Nam thì nhận định này không có căn cứ. Đương nhiên không thể phủ nhận hoàn toàn về mặt văn hóa.

Các vị vua trong đó có vua Gia Long và cả tầng lớp trí thức, đều thích Nho học, nghĩ rằng Trung Quốc là ngọn nguồn của tri thức. Xin đơn cử một dẫn chứng. Vua Gia Long vào buổi chầu sáng thường bàn luận với các quan trong triều về sự tích quân thần đời Hán, Đường và chế độ các triều đại. Sau buổi chầu thì cho xem Minh sử và bàn luận đến khuya.24 Còn việc vua Minh Mạng chú trọng đến việc Nho học hơn bất cứ vị vua nào của nhà Nguyễn thì ai cũng biết.25 Sau đời vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị (1841-1847) cũng coi trọng Nho học và văn sĩ, thậm chí còn tự ra đề thi khoa cử. Cho nên, một trong những nhiệm vụ quan trọng sứ thần khi đi sang nhà Thanh là mang về các thư tịch Trung Quốc, nhất là thư tịch mới phát hành. Điều này có thể thấy qua chỉ dụ của vua Minh Mạng đối với sứ giả đi sứ nhà Thanh năm 1829. Ông yêu cầu tìm mua cổ thi, cổ họa và cổ nhân kỳ thư. Đồng thời, nếu có thể tìm được thực lục của nhà Thanh thì dù chỉ là bản thảo cũng bằng mọi giá phải mua về.26

Việc mua thư tịch Trung Quốc không phải chỉ để làm giàu vốn tri thức. Những thư tịch này còn là tài liệu tham khảo quan trọng của triều đình nhà Nguyễn để xây dựng các chế độ pháp luật hay chế độ chính trị, v.v…. Xin lấy một ví dụ. Vua Gia Long đã biên soạn và ban hành bộ luật Quốc triều luật lệ, được biết đến nhiều hơn với cái tên Hoàng Việt luật lệ vào năm 1815. Bộ luật này tuy nói là tham khảo Hồng Đức luật lệ Đại Thanh điều luật27 nhưng trên thực tế trừ một phần rất nhỏ, nội dung hầu như nguyên mẫu của Đại Thanh luật.

Về mặt văn hóa, nhiệm vụ chính khác của sứ thần đi sứ nhà Thanh là truyền bá nước mình là một nước văn hóa. Vì vậy khi tuyển chọn sứ thần đi sứ nhà Thanh, nhà Nguyễn đề cao tài ngoại giao cũng như tri thức về văn hóa. Chúng ta có thể thấy điều này qua một sắc lệnh mà vua Minh Mạng ban năm 1840.28 Theo vua Minh Mạng, sứ thần đi sứ nhà Thanh phải là người giỏi văn học và ngôn ngữ, nếu là người kém cỏi thì chỉ chuốc lấy sự khinh miệt của nước khác. Bởi vì, những người này không chỉ phải đối đáp thơ văn một cách bình đẳng với các quan lại nhà Thanh mà họ còn phải thi thố văn chương với các sứ thần đến từ Triều Tiên.29 Việc cân nhắc tài văn chương của sứ giả đi sứ Trung Quốc không chỉ ở triều Nguyễn mà các triều đại trước đây cũng thế.30

Mặt khác, các vua nhà Nguyễn cũng lo lắng không biết sứ giả được cử đi sứ nhà Thanh có làm xấu thể diện quốc gia hay không. Năm 1809 và 1817, khi sứ thần đi sứ nhà Thanh chuẩn bị đi, đích thân vua Gia Long đã vời các sứ thần vào và ra nghiêm lệnh rằng, các ngươi phải giữ gìn quốc thể và làm sao cho mối bang giao được vững chắc. Việc chú trọng đến sứ giả bang giao, theo nhận định của Takeda Ryoji, không phải xuất phát từ lòng tôn kính đối với nhà Thanh mà là để không bị chuốc lấy sự ghét bỏ hay khinh miệt của nhà Thanh.31 Những điều sau đây sẽ cho thấy, vua nhà Nguyễn có xu hướng không những không kính trọng nhà Thanh, mà ngược lại còn coi nhà Thanh là di địch.

Nhà Nguyễn đã tự coi mình là nước văn hóa nên nếu nhà Thanh không đối đãi tương xứng thì nhà Nguyễn thể hiện thái độ bất mãn. Năm 1840, Bộ Lễ báo cáo với nhà vua về việc sứ thần đi sứ nhà Thanh năm trước đã bị nhà Thanh xếp hàng sau sứ thần các nước Cao Ly (Triều Tiên), Nam Chưởng (Lào), Xiêm La (Xiêm), Lưu Cầu và hỏi rằng phải đối ứng thế nào. Vua Minh Mạng trả lời rằng, việc này do sơ suất của bộ Lễ nhà Thanh, Cao Ly là nước văn hiến thì đã đành, Nam Chưởng là nước triều cống của chúng ta, Xiêm La và Lưu Cầu là nước Di địch nên không thể như vậy được. Ông nói thêm rằng, sau này còn có chuyện như vậy, các ngươi hãy ra khỏi hàng, thà bị trách phạt còn đỡ hơn. 32 Bởi thế, tôi cho rằng, với vua Minh Mạng, hơn bất cứ vị vua nào của Việt Nam tin rằng Việt Nam là đất nước văn minh thì không có sự sỉ nhục nào lớn hơn thế. Không biết nguyên do vì đâu mà bộ Lễ nhà Thanh đã xếp sứ giả nhà Nguyễn thấp hơn so với Nam Chưởng, nhưng đúng như lời vua Minh Mạng đây rõ ràng là sự nhầm lẫn. Vì theo danh sách các nước phụ thuộc trong Thanh sử cảo, thứ tự các nước được ghi là Triều Tiên, Lưu Cầu, Việt Nam, Miến Điện (Mianma), Xiêm La, Nam Chưởng, v.v… Một sự thật rất thú vị ở đây là, trong Ngoại quốc truyện của Minh sử, thứ tự các nước là Triều Tiên, An Nam (Việt Nam), Nhật Bản, Lưu Cầu, Lã Tống (Phi-lip-pin), v.v… , An Nam được đặt trước Lưu Cầu nhưng nhà Thanh lại đặt Việt Nam sau Lưu Cầu. Điều này khiến tôi nghĩ rằng, quan hệ giữa nhà Thanh và triều đình nhà Nguyễn không gần gũi như chúng ta tưởng.

Điều mà chúng ta phải chú ý ở đây là, phương diện văn hóa nói trên chỉ là một phần của lí do khiến triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh. Lí do quan trọng hơn là nhà Nguyễn muốn duy trì sự an toàn của vương triều bằng cách tránh đối đầu về mặt quân sự và xây dựng quan hệ thân thiện với nhà Thanh. Theo giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Việt Nam đã mười lăm lần bị ngoại quốc xâm lược.33 Trong số 11 lần bị ngoại xâm tính cho đến trước thế kỷ XIX thì trừ lần bị Xiêm xâm lược năm 1785, mười lần còn lại đều là các cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Vì nhà Nguyễn chưa từng bị nhà Thanh xâm lược lần nào, trong khi trước khi lập vương triều đã mười lần Trung Quốc xâm lược Việt Nam, không những thế, trước khi nhà Nguyễn được lập nên khoảng mười năm, năm 1788, nhà Thanh đã xâm lược Việt Nam, nên tôi cho rằng đây là mối lo không nhỏ đối với các vua nhà Nguyễn. Việc Nguyễn Phúc Ánh cử Trịnh Hoài Đức đi sứ trước khi tấn công Hà Nội đã nói lên điều này. Nó xuất phát từ ý đồ ngăn chặn sự can thiệp của nhà Thanh bằng việc thể hiện rõ ràng sẽ triều cống nhà Thanh. Tuy nhiên trên thực tế, nhà Thanh lúc bấy giờ đã bước vào thời kỳ suy thoái nên sau vụ loạn Bạch Liên giáo (1796-1805), v.v… đã không còn sức để can thiệp vào Việt Nam. Đây là lí do khiến triều cống của Nguyễn Phúc Ánh cũng như việc sắc phong ông là Việt Nam quốc vương dễ dàng được chấp thuận.

Vì triều Nguyễn nghĩ rằng nhà Thanh là sự tồn tại mang tính uy hiếp nên các đời vua quan tâm đến tình hình nhà Thanh là điều đương nhiên. Do đó, đã thành thông lệ, khi các sứ thần đi sứ Thanh về nhà vua thường vời ngay vào và hỏi về tình hình nhà Thanh. Tháng 12 năm 1818, ngay khi các sứ thần đi sứ nhà Thanh về, vua Gia Long đã hỏi về tình hình nước Thanh.34 Không cần nói cũng biết vua hỏi để xem những biến động chính trị, xã hội của nhà Thanh có ảnh hưởng đến Việt Nam hay không.

Hơn ai hết, vua Minh Mạng là người luôn quan tâm sâu sắc đến tình hình nhà Thanh và luôn cố gắng để có được những thông tin ấy. Ông đã yêu cầu sứ thần đi sứ nhà Thanh viết Sứ trình nhật ký và phải viết chi tiết những điều mắt thấy tai nghe ở Trung Quốc. Tháng 4 năm 1832, vua Minh Mạng khiển trách ba sứ giả được cử đi đã ghi lại hết sức đại khái về tình hình nhà Thanh không như ý đồ của ông. Ông ra lệnh, sau này các sứ giả phải ghi lại chính xác tình hình nhà nước và dân tình nhà Thanh còn những địa danh, v.v… đã biết thì không cần phải ghi lại.35 Theo Đại Nam thực lục, khi thấy những thông tin mà các sứ thần đi sứ nhà Thanh mang về chưa đủ, tháng 10 cùng năm, ông yêu cầu các quan lại ở Hà Nội mua “kinh sao” (công báo của nhà Thanh) từ các thương nhân nhà Thanh và dâng lên.36 Lúc ấy, trong “kinh sao” không ghi lại vụ tuyết lớn ở Nam Kinh hồi tháng 1 năm đó khiến dân chúng chết cóng nhưng Minh Mạng đã nghe được tin đó và hạ lệnh phải ghi lại ngay, cho thấy ông chú trọng đến việc thu thập tin tức nhà Thanh đến mức nào. Tóm lại, việc triều cống nhà Thanh của triều Nguyễn ngoài việc giảm nhẹ sự uy hiếp của nhà Thanh bằng việc kết thân với nhà Thanh, còn có ý đồ đề phòng sự uy hiếp có thể xảy ra sau này.

Một lí do quan trọng khác mà các đời vua nhà Nguyễn muốn duy trì quan hệ triều cống là muốn xác lập quyền uy về mặt đối nội từ việc được sắc phong bởi vua nhà Thanh. Vì Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc rất lâu nên các đời vua đều nghĩ rằng việc được vua Trung Quốc sắc phong là điều đương nhiên, do đó Nguyễn Phúc Ánh không thể không trọng thị thông lệ đó. Thực ra, việc được sắc phong từ vua Trung Quốc hay không có ảnh hưởng tuyệt đối đến tính hợp pháp và quyền lực của vua Việt Nam. Việc vội vàng sắc phong trước khi thống nhất đất nước của Nguyễn Phúc Ánh ngoài việc muốn loại trừ sự can thiệp của nhà Thanh còn có cả ở lí do trên.

Việc được vua Trung Quốc sắc phong có ý nghĩa quan trọng đến mức nào sẽ được thấy qua các ví dụ sau đây. Sau khi cướp ngôi nhà Lê năm 1527, Mạc Đăng Dung được nhà Minh thừa nhận và chính quyền đó đã duy trì quyền lực trong một thời gian. Sau này dù bị thế lực phù Lê đánh đuổi khỏi Thăng Long năm 1592, Mạc Đăng Dung lập căn cứ ở vùng giáp Trung Quốc là Cao Bằng, được nhà Minh, sau đó là nhà Thanh bảo hộ, tuy chỉ là chính quyền địa phương nhưng đã duy trì được vương quyền nhà Mạc đến năm 1677. Điều này có thể thấy qua việc chính quyền Hồ Quý Ly (1400~1407), do không được nhà Minh công nhận đã sụp đổ nhanh chóng. Mặt khác, khi nhà Mạc cướp ngôi, thế lực muốn khôi phục triều đình họ Lê đã cử sứ giả sang nhà Minh tố cáo sự sai trái của chính quyền nhà Mạc và cầu quân thảo phạt.37 Điều này thực ra xuất phát từ ý đồ xác lập chính quyền hợp pháp của mình về mặt đối nội.

Việc vua Hiệp Hòa của triều Nguyễn định xin nhà Thanh sắc phong nhằm củng cố địa vị của mình như đã được đề cập đến ở trên. Lúc bấy giờ, ông đang rơi vào thế ngàn cân treo sợi tóc. Sau đời vua Tự Đức là đời vua Dục Đức (1883), nhưng vua Dục Đức bị phế chỉ trong ba ngày kể từ khi lên ngôi bởi Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường. Vua Hiệp Hòa được họ lập lên nhưng quyền điều hành lại nằm trong tay của hai người này, còn vua, đã không hề có quyền lực lại còn nằm trong tình trạng có thể bị phế bất cứ lúc nào. Trước tình hình ấy, ông muốn được nhà Thanh sắc phong. Vì Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập hoàn toàn theo điều 2 của hiệp ước Sài Gòn lần thứ hai (tên khác là hiệp ước Giáp Tuất) được kí giữa triều Nguyễn và Pháp năm 1874,38 nên việc ông cử sứ giả cầu phong bị coi là vi phạm hiệp ước. Dù vậy, việc vẫn cử sứ giả cầu phong cho thấy rõ ràng sắc phong có ý nghĩa tượng trưng quan trọng nhường nào.

Mục đích kinh tế cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến triều Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh. Trong bối cảnh lúc bấy giờ, khi mà hoạt động mậu dịch tự do tư nhân nhà Thanh và nhà Nguyễn bị hạn chế không như ngày nay thì chế độ triều cống đã đóng vai trò quan trọng với tư cách là mậu dịch cấp nhà nước thông qua việc qua lại của các sứ thần. Nhà Thanh dù sao cũng cho phép thương nhân của nhà Thanh tham gia vào hoạt động mậu dịch với Việt Nam một cách hạn chế nhưng tuyệt đối không cho phép các thương nhân Việt Nam được sang Trung Quốc. Nhà Nguyễn thì khác với nhà Thanh, ngay từ đầu, triều đình đã cấm dân chúng xuất cảnh vì mục đích cá nhân. Lệnh cấm nghiêm khắc đầu tiên được ban ra có cái tên Luật cấm vận đường bộ và đường thủy vào năm 1816 dưới thời vua Gia Long.39 Sở dĩ có lệnh cấm này là do các vật phẩm cấm xuất khẩu như gạo, muối, vàng, bạc, đồng, sừng trâu, ngà voi, v.v… “chảy” sang Trung Quốc thông qua con đường buôn lậu. Nhà Thanh cũng nghiêm cấm xuất thép, chì, lưu huỳnh, v.v… Trước tình hình này, triều đình nhà Nguyễn không còn cách nào khác phải mua vật phẩm thông qua các sứ thần.

Trước khi các sứ thần chuẩn bị đi sứ, nhà Nguyễn đưa cho danh mục các vật phẩm được vua nhà Thanh ban hoặc các mặt hàng phải mua, và các sứ thần chỉ được phép tuân theo. Một trong những thứ quan trọng trong số các mặt hàng mua từ nhà Thanh là thư tịch đã đề cập ở phần trên. Ngoài ra còn có nhân sâm, dược liệu, trà Tàu, giấy, v.v…. Các sứ thần nếu không mua đầy đủ các mặt hàng triều đình yêu cầu khi về nước sẽ bị xử phạt. Điều này có thể thấy qua việc các sứ thần đi sứ nhà Thanh năm 1830 là Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Đình Tân, Đặng Văn Khải bị cách chức.40 Trước khi đi, họ được lệnh của vua Minh Mạng xin với Bộ Lễ của nhà Thanh rằng, nước chúng tôi ít nhân sâm nên thay cho các vật phẩm vua ban trước đây bằng nhân sâm Quan Đông, đồng thời phải mua thương bích, hoàng tông, hoàng khuê, thanh khuê (các vật phẩm bằng ngọc). Thế nhưng họ làm mất thể diện quốc gia vì nói rằng cần nhân sâm vào việc hiếu dưỡng. Thêm vào đó, tất cả các vật phẩm bằng ngọc họ phải mua đều là thủy tinh. Đó là những lí do khiến họ bị xử phạt. Việc mua nguyên vật liệu không chỉ diễn ra khi sứ thần đi sứ theo định kỳ mà tất nhiên khi sứ giả lâm thời đi sứ cũng vậy. Tháng 12 năm 1847, khi cử sứ thần sang thông báo cho nhà Thanh việc hoàng đế Thiệu Trị qua đời, vua mới lên ngôi là Tự Đức đã đưa danh sách các vật phẩm phải mua như các đồ dùng bằng ngọc, đồ chơi, đồ cổ, đồ sành sứ và các đồ quý hiếm khác. Thế nhưng, một viên quan giám sát đã tâu với vua rằng, vua mới lên ngôi nên cần phải giản dị, hơn nữa sứ thần đi sứ để báo việc tang nên không thể mua xa xỉ phẩm. Vì vậy, việc này đã bị đình lại.41

Có một vấn đề cần đề cập đến ở đây, đó là mậu dịch cấp nhà nước thông qua các sứ thần đi sứ nhà Thanh không phải xuất phát từ lí do Trung Quốc “đất rộng, sản vật nhiều” như suy nghĩ của người Trung Quốc. Theo vua Minh Mạng, hàng hóa được làm ra từ các nơi khác nhau, việc đổi chác các đồ vật mình có lấy đồ vật mình không có từ cổ chí kim là điều đương nhiên.42 Như vậy vua Minh Mạng chỉ coi rằng, nếu hàng hóa có ở Trung Quốc mà không có ở Việt Nam hoặc ngược lại, không có ở Trung Quốc mà có ở Việt Nam thì có thể trao đổi những hàng hóa này cho nhau.

Mọi vật phẩm mà các sứ thần mua về từ nước Thanh được cất giữ tại cơ quan phụ trách việc tiêu dùng và chi trả của hoàng thất. Việc cất giữ này không chỉ để hoàng thất sử dụng. Nhà vua còn dùng những vật quý hiếm này để ban thưởng hoặc tặng quà cho các quan lại, các sứ thần đi sứ nhà Thanh, đôi khi, còn được dùng để bổ sung cho nguồn tài chính địa phương. Xét cho cùng, các vật phẩm này được các đời vua sử dụng như một phương tiện nâng cao quyền lực của mình.43

Tóm lại, triều đình nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh chỉ có lợi. Nhà Thanh coi trọng quan hệ quân thần nhưng đối với nhà Nguyễn, điều đó chỉ mang ý nghĩa hình thức. Các vua nhà Nguyễn về mặt đối nội xưng là vua, lấy niên hiệu, sau đó như chúng ta thấy, đối với các nước láng giềng khác coi mình là nước bá chủ, coi các nước đó là nước thuộc địa, lập ra trật tự thế giới riêng của mình. Xét cho cùng, Việt Nam không phải là nước thuộc địa của nhà Thanh mà là một quốc gia độc lập.

3. Đường lối độc lập tự chủ của nhà Nguyễn

Ở trên, chúng ta đã thấy các vua nhà Nguyễn tiếp nhận thể chế triều cống của nhà Thanh vì các lí do về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v… Dù là lí do gì thì trong trường hợp này, triều Nguyễn với tư cách là nước thuộc địa, những người đứng đầu nhà nước phải xưng là hạ thần đối với vua nhà Thanh. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức bên ngoài, còn thực chất họ nghĩ rằng mình bình đẳng với nhà Thanh.

Các vua nhà Nguyễn và tầng lớp trí thức tôn trọng văn hóa Trung Quốc và cố gắng để mô phỏng những điều đó, nhưng đối với triều Thanh hay người nước Thanh thì không hề có sự tôn trọng của kẻ dưới chút nào. Đó là lí do khiến nhà Nguyễn gọi nhà Thanh là Bắc triều hay Thanh quốc, gọi người nước Thanh là Bắc nhân hoặc Thanh nhân. Ngoài ra, có nhiều khi nhà Nguyễn gọi người Trung Quốc là Đường nhân. Tôi cho rằng, phải chăng đó là vì thái độ miệt thị do nhà Thanh được lập nên bởi dân tộc khác với dân tộc của người Trung Quốc. Chính vì vậy, người Việt Nam tuyệt nhiên không biết đến khái niệm “thiên hạ” hay “thiên tử” kiểu Trung Quốc.44 Mặt khác, vua Gia Long gọi Việt Nam là “Trung Quốc” và áp dụng khái niệm người Trung Quốc truyền thống với nước mình.45

Trong quan hệ với nhà Thanh, triều Nguyễn chính thức sử dụng thuật ngữ “triều cống”, nhưng về mặt đối nội, như tôi đã đề cập đến ở trên, gọi đó là “bang giao”, dùng chữ “như” (如- trong trường hợp này nghĩa là “đi”) trong từ sứ giả đi sứ nước Thanh gọi là “như Thanh sứ”. Bang giao chỉ có nghĩa là quan hệ ngoại giao thuần túy giữa nước này và nước khác, không tồn tại quan niệm trên dưới. Không chỉ đối với quan hệ của mình với nhà Thanh, nhà Nguyễn cũng nhìn quan hệ giữa các triều đại Việt Nam trước đây với Trung Quốc là “bang giao”. Điều này có thể thấy trong Bang giao lục do Lê Thống biên soạn năm 1819.46 Sách này tập hợp bắt đầu từ chiếu thư Hán Vũ đế gửi cho Triệu Đà của Nam Việt đến các loại công văn giữa hai nước, tất nhiên cả thơ văn mà các sứ thần hai nước tặng đáp nhau đến năm 1826.

Thuật ngữ “bang giao” được bắt đầu sử dụng lần đầu tiên vào thời Tây Sơn, đến triều Nguyễn thì hoàn toàn thông dụng. Nhưng tôi cho rằng, việc Lê Thống nhìn quan hệ giữa tất cả các vương triều trước đây với Trung Quốc bằng khái niệm bang giao là chính xác. Bởi vì, các đời vua trước đây kể từ khi Đinh Bộ Lĩnh lập nên triều Đinh (966-980) năm 966, tuy được hoàng đế Trung Quốc sắc phong nhưng trong nước đều xưng là hoàng đế và đều sử dụng niên hiệu riêng giống như trường hợp của triều đình nhà Nguyễn.47 Ngay cả việc lấy quốc hiệu cũng không cần sự công nhận của hoàng đế Trung Quốc. Không những thế, khi cử sứ thần sang Trung Quốc cũng dùng chữ “như” (如 -đi), gọi là như Tống, như Nguyên, như Minh, còn chữ “cống” (貢) thì trong Đại Việt sử ký toàn thư tuyệt nhiên không tìm thấy bất cứ một chữ nào.48 Nếu có từ “nhập cống” (入貢) thì chỉ được dùng trong trường hợp các nước xung quanh Việt Nam như Cham-pa hay Chân Lạp (Cam-pu-chia ngày nay), v.v… cử sứ giả sang Việt Nam.

Tất cả các vị vua và quan lại trước đây đều nghĩ rằng mình bình đẳng với Trung Quốc và không hạ mình. Một nhân vật tiêu biểu trong số đó là Lê Văn Hưu, sử gia nổi tiếng ở nửa sau thế kỉ XIII. Khi quân Mông Cổ xâm lược, ông biên soạn Đại Việt sử ký với vấn đề trọng tâm là nền độc lập của triều đình Việt Nam và tính bình đẳng với Trung Quốc. Ông đã lấy thời điểm bắt đầu lịch sử Việt Nam là Nam Việt của Triệu Đà để viết sử ký. Bởi sau khi thống nhất Trung Hoa, Hán Cao tổ định cử sứ thần sắc phong ngôi vua cho Triệu Đà, Triệu Đà đã cho thấy thái độ bình đẳng bằng câu hỏi “Ta và Hán Cao tổ, ai anh minh hơn?”49. Đồng thời, theo sử gia Lê Văn Hưu, sau khoảng một nghìn năm bị Trung Quốc chi phối, Việt Nam bước vào thời kì độc lập, song không phải từ khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938 rồi tự xưng vương vào năm sau đó, mà là năm 996, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước và lên ngôi vua. Bởi theo ông, Ngô Quyền đã tự xưng vương nên không thể coi đó là nền độc lập thực sự.50

Một ví dụ khác, thường được lấy để minh chứng cho thấy sự bình đẳng của Việt Nam đối với Trung Quốc trong giai đoạn trước cận đại, là “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi viết năm 1427.51 Bài cáo này phân biệt Việt Nam là Nam và Trung Quốc là Bắc và nhấn mạnh rằng, giống như Trung Quốc lập đế quốc ở phía bắc, Việt Nam trước đây cũng lập quốc ở phía nam do nhà vua cai trị. Có thể nói ngắn gọn rằng, Việt Nam là một quốc gia riêng biệt, bình đẳng với Trung Quốc.

Năm Tự Đức thứ 2 (1849), Nguyễn Đăng Khải, một quan lớn của triều lúc bấy giờ, đã dâng sớ lên nhà vua yêu cầu cải thiện quan hệ triều cống với nhà Thanh. Bức sớ có nội dung: Việc nhà vua đi đến Hà Nội để được nhà Thanh sắc phong làm tốn nhiều tiền bạc của dân chúng vào việc đi lại của nhà vua và có liên quan đến thể diện quốc gia nên về sau mong rằng sứ thần nhà Thanh sẽ đến kinh sư (Huế) để làm việc đó.52 Điều này có nghĩa là, dù được sắc phong cũng sẽ ngồi một chỗ để nhận. Có thể nói, kiến nghị của Nguyễn Đăng Khải liên quan mật thiết với không khí bình đẳng của người Việt Nam được đề cập ở trên.

Vì Nguyễn Đăng Khải là kẻ dưới nên có thể thẳng thừng bày tỏ sự bất mãn của mình về quan hệ triều cống bất bình đẳng với nhà Thanh, nhưng đứng trên lập trường của các vị vua thì không thể có sao nói vậy. Nói như vậy, không có nghĩa các vị vua này tiếp nhận thể chế triều cống nhà Thanh và chịu ngồi yên. Điều này có thể thấy qua việc Nguyễn Phúc Ánh không hề hỏi ý kiến nhà Thanh trong việc lấy tước vị hoàng đế và niên hiệu. Tuy nhiên, việc xin nhà Thanh công nhận quốc hiệu là để tránh cái tên An Nam xuất phát từ An Nam đô hộ phủ của nhà Đường đến thời điểm đó. Nhưng nhà Thanh không chấp thuận tên Nam Việt mà nhà Nguyễn yêu cầu, còn nhà Nguyễn vì quan hệ hữu hảo giữa hai nước mà chấp thuận quốc hiệu Việt Nam song có vẻ không thoải mái cho lắm. Bởi đến năm 1812, nhà Nguyễn không thông báo cho nhà Thanh mà lại sửa lại quốc hiệu thành Đại Việt.53

Lúc ấy, cái tên Đại Việt được viết trong Quốc sử di biên với từ “lại”, có lẽ là có liên quan đến việc Nguyễn Phúc Chu là tổ tiên của Nguyễn Phúc Ánh, năm 1709 đã cho đúc ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bảo”.54 Vốn dĩ Đại Việt là tên Đại Cồ Việt do Đinh Bộ Lĩnh đặt, về sau Thánh Tông của triều Lý năm 1054 bỏ chữ “Cồ”, chỉ còn là Đại Việt, và trở thành quốc hiệu của các triều đại sau này. Tên này là tên tự đặt không được Trung Quốc công nhận, do vậy, người Trung Quốc gọi Việt Nam là An Nam.

Đến đời vua Minh Mạng ngay sau đời vua Gia Long, năm 1838, lại đặt tên nước là Đại Nam và quyết định áp dụng từ năm sau đó.55 Lí do là lãnh thổ của triều đình kéo dài tới Nam Hải, hình thành nên đại đế quốc nên phải có tên mới phù hợp hơn. Đồng thời, ông nói rằng, có nhiều tiền lệ lấy quốc hiệu bằng tên đẹp, ví dụ như trường hợp nước Thanh vốn là Mãn Châu sau được đổi thành Đại Thanh. Cách giải thích của ông hết sức logic. Tôi cho rằng, thực ra việc nhà Thanh mà ông không ưa chút nào gọi bằng cái tên Đại Thanh đã gây tác động đến ông và ông đặt tên nước Đại Nam từ tâm lý đối kháng. Năm sau, ông cho làm ấn “Đại Nam thiên tử chi tỉ” bằng ngọc giống như ấn ngọc của vua Trung Quốc và tất nhiên nó được sử dụng vào tất cả các văn bản trong nước, cả các văn bản ngoại giao với nước ngoài khác (trừ nhà Thanh).56 Còn vua Thiệu Trị thì cho làm ấn “Đại Nam hoàng đế chi tỉ” và ra lệnh dùng trong chiếu lệnh.57

Với việc vua Minh Mạng lấy quốc hiệu mới, sau này tất cả các sách được biên soạn theo lệnh vua đều cho vào hai chữ Đại Nam. Ví dụ như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam hội điển sự lệ, v.v… Dù biết nhà Nguyễn sử dụng quốc hiệu Đại Nam thay cho quốc hiệu Việt Nam mà mình cho phép nhưng nhà Thanh làm ngơ, không can thiệp.58 Có khả năng lớn là do triều đình nhà Thanh bại trận trong cuộc chiến tranh Nha phiến và vụ thương thuyền Arrow hoặc do những vấn đề nội bộ như vụ loạn Thái Bình thiên quốc nên không rảnh rang để can thiệp đến Việt Nam. Việc sứ giả không qua lại giữa hai nước trong vòng mười sáu năm loạn Thái Bình thiên quốc là minh chứng cho điều này.

Có lẽ cho dù không phải là do vấn đề đối nội, đối ngoại thì nhà Thanh cũng đã không can dự vào việc của nhà Nguyễn. Không biết có phải do suy thoái nhanh chóng từ cuối thế kỷ XVIII ngay trước khi triều Nguyễn được dựng lên hay không mà nhà Thanh không trọng thị Việt Nam bằng Lưu Cầu như nhà Minh nên thứ tự các nước thuộc địa trong Thanh sử cảo mới như vậy. Thực tế này, có thể thấy qua sứ giả tuyên phong được cử đến hai nước, sứ được gửi đến Lưu Cầu là quan triều đình trung ương, còn sứ được cử đến nhà Nguyễn đều là quan địa phương, án sát sứ của tỉnh Quảng Tây.59 Việc nhà Thanh giao vấn đề nhà Nguyễn cho quan địa phương đã làm cho quan hệ hai nước trở nên xa cách.

Quan hệ xa cách giữa hai nước khiến nhà Thanh không hiểu biết về tình hình Việt Nam. Một ví dụ tiêu biểu là trong giai đoạn chiến tranh Nha phiến, người Trung Quốc truyền nhau tin đồn rằng, năm 1808, Việt Nam đã đại thắng trong cuộc chiến với nước Anh, một cuộc chiến không hề xảy ra. Người Trung Quốc tin chắc vào tin đồn này, không chỉ coi nhẹ quân đội Anh mà còn bàn luận một cách nghiêm trọng rằng nên nhập và dùng quân hạm Việt Nam để đối kháng với hải quân Anh.60 Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Anh được làm sáng tỏ là không xảy ra, nhưng dù sao, việc không hiểu biết về tình hình Việt Nam và không can thiệp vào Việt Nam của nhà Thanh cũng đã giúp nhà Nguyễn đẩy mạnh tính độc lập tự chủ và ý thức bình đẳng vốn có với nhà Thanh.

Như tôi đã trình bày ở trên, vì người Việt Nam tuy tiếp nhận văn hóa Trung Hoa nhưng cũng gây dựng được văn hóa của dân tộc mình, nên họ nghĩ rằng không những bình đẳng đối với dị tộc chi phối đại lục Trung Quốc mà thậm chí nền văn hóa của mình còn ưu việt hơn. Việc nhà Nguyễn còn gọi người Trung Quốc là Đường nhân có thể thấy là cách gọi miệt thị người nhà Thanh. Những ví dụ sau sẽ cho thấy rõ người Việt Nam miệt thị người nhà Thanh như thế nào. Vua Hy Tông của triều Lê (1675-1705), vua trước khi triều Nguyễn được lập nên, vào năm 1696 đã hạ lệnh, tất cả người Trung Quốc vào Việt Nam phải thay đổi từ kiểu tóc, ăn mặc,… theo kiểu Việt Nam. Lí do là vì ngoại hình của họ theo “phong tục Mãn Châu”, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của Việt Nam.61

Ý thức đối kháng cũng như thái độ phê phán của triều Nguyễn với nhà Thanh còn ở mức độ cao hơn. Đến mức các đời vua thường gọi dân chúng của mình là Hán nhân hoặc Hán dân. Họ coi nhà Thanh là di địch và đương nhiên đồng nghĩa với việc chỉ có dân tộc mình là dân tộc văn hóa. Đặc biệt, sự tự hào về văn hóa của vua Minh Mạng rất lớn. Năm 1830, ông nói với các quan rằng, nếu theo Thanh hội điển thì áo mão của quan lại trong triều đình đang theo phong tục man di, khác với trang phục của cổ nhân, nên hạ lệnh không để chuyện bắt chước vô lối đó xảy ra.62 Không những thế, trong văn thơ vua Minh Mạng cũng lấy lòng tự hào để bình thơ của vua Càn Long. Năm 1835, trong khi bình thơ với các quan, vua Minh Mạng nói về thơ của Càn Long rằng, thơ thì nhiều nhưng chỉ tả cảnh, tả tình mà không chau chuốt lời thơ và gọi đó là một khiếm khuyết.63 Dưới thể chế triều cống, việc vua của nước thuộc địa phê phán chế độ Trung Quốc, phê bình thơ của vua là điều không thể tưởng tượng nổi. Sở dĩ vua Minh Mạng có thái độ này là vì các đời vua nhà Nguyễn đều coi thường chế độ, văn hóa nhà Thanh và tự coi chỉ có mình là người kế thừa chân chính của văn hóa Trung Quốc.64

Sự coi thường nhà Thanh của các vua triều Nguyễn có thể thấy có liên quan đến sự suy yếu toàn diện của nhà Thanh. Tháng 4 năm 1840, vua Minh Mạng nói về triển vọng chiến tranh Nha phiến như sau: Sự suy yếu của triều Thanh ta đã biết trước. Năm ngoái, quân Anh đi lại rất lâu giữa các đảo ở vùng bờ biển Quảng Đông nhưng ta không nghe thấy nhà Thanh có đối sách gì, hay cho bất cứ một con tàu nào ra tấn công. Nếu quân Anh lại đến tấn công, nước Thanh sẽ không chống đỡ nổi. Nhà Thanh sẽ luận tội Lâm Tắc Từ và đầu hàng quân Anh.65 Dự đoán của Minh Mạng là chính xác, Lâm Tắc Từ bị cách chức, người kế nhiệm được cử thay. Tôi tin rằng, vua Minh Mạng có thể dự đoán được điều này nhờ có Sứ trình nhật ký được viết bởi các sứ thần đi sứ nhà Thanh và thông tin từ các nguồn khác.

Sự suy yếu của nhà Thanh đến thời vua Tự Đức càng làm cho Việt Nam đẩy mạnh các hành động tự chủ. Không nói đâu xa, ngay ở giai đoạn đầu khi Pháp xâm lược, vua Tự Đức đã không thỉnh cầu bất cứ sự giúp đỡ nào của nhà Thanh. Như đã biết, năm 1858, Pháp bắt đầu xâm lược Trung bộ Việt Nam, năm sau, năm 1859, chiếm tỉnh Gia Định ở Nam Bộ, đến đầu năm 1862 thôn tính cả ba tỉnh miền Đông. Vua Tự Đức không thông báo cho nhà Thanh, tự kí hiệp ước Sài Gòn lần thứ nhất với Pháp (tên khác là hiệp ước Nhâm Tuất) nhượng ba tỉnh này. Pháp càng lấn tới, đến năm 1867, chiếm luôn ba tỉnh miền tây, thực dân hóa toàn bộ vùng đất Nam bộ. Quan hệ giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh từ đầu những năm 50 của thế kỷ XIX đến thời điểm đó, không rõ có phải bởi các sứ giả không qua lại do vụ loạn Thái bình thiên quốc hay không mà cả hai lần Pháp xâm lược, vua Tự Đức đều không hề nghĩ đến việc cầu viện nhà Thanh.

Sự xâm lược của Pháp không dừng lại ở đây. Với mục đích chiếm Bắc bộ, năm 1873, Pháp viện cớ vụ Jean Dupuis cử Francis Garnier sang. Francis Garnier mang theo một số ít binh lính đánh đổ Hà Nội, tiếp đó chiếm các đô thị chính của vùng Đông Kinh như Hưng Yên, Hải Dương và Nam Định, chưa được bao lâu thì tử trận vì sa vào trận địa mai phục. Lúc bấy giờ, do tình hình trong nước nên Pháp không còn đủ lực để mở rộng chiến tranh, sau khi thỏa thuận với triều đình Huế, đã kí hiệp ước Sài Gòn lần thứ hai nói trên. Lúc này, vua Tự Đức đương nhiên cũng không có ý định cầu viện nhà Thanh và thậm chí không thông báo cả nội dung điều ước này. Khác với thời điểm những năm 60 của thế kỷ XIX, lúc bấy giờ, các sứ giả đã lại qua lại nhà Thanh. Tôi cho rằng, thái độ này của nhà Nguyễn có thể có liên quan đến sự bất lực của quân đội nhà Thanh trong việc tiêu diệt lực lượng còn lại của Thái Bình thiên quốc.

Trước vụ Garnier, hai tướng còn sót lại sau khi Thái Bình thiên quốc bị đàn áp là Ngô Côn và Hoàng Sùng Anh kéo theo đồng đảng chạy trốn về phía bắc Đông Kinh, khi ấy nhà Nguyễn đã cầu viện nhà Thanh. Nhưng quân thảo phạt của nhà Thanh không những không trấn áp được bọn họ thậm chí còn làm hại cả nông dân địa phương. Nhà Nguyễn đã phong quan cho Lưu Vĩnh Phúc là bộ hạ của Ngô Côn sau khi Ngô Côn chết, xây dựng chiến lược nhằm tiêu diệt thế lực khác và đã thành công. Qua việc này cho thấy, rõ ràng vua Tự Đức đã nhận thức được rằng, không thể dựa vào nhà Thanh và quyết định tự giải quyết vấn đề. Có thể nói rằng, đây là quyết định đương nhiên khi nhà Nguyễn chỉ công nhận thể chế triều cống của nhà Thanh về mặt hình thức.

Trung Quốc bị chi phối bởi dị tộc là triều Thanh. Khi nhà Nguyễn được sáng lập, quan hệ tự chủ đối với nhà Thanh, do lòng tự hào về văn hóa của người Việt từ sự suy thoái nhanh chóng của nhà Thanh mang lại, không chỉ dừng lại ở đây. Lòng tự hào này đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc tạo nên trật tự thế giới khu biệt với các đế quốc xung quanh. Một học giả Nhật Bản gọi trật tự thế giới này là thế giới quan được sản sinh từ “đế quốc Trung Hoa ở phương Nam”.66 Trật tự thế giới của nhà Nguyễn mô phỏng thể chế triều cống của Trung Quốc nên gọi là “đế quốc Trung Hoa ở phương Nam” là có lí, nhưng cách gọi này làm người ta liên tưởng đến cách thường gọi Việt Nam là “tiểu Trung Hoa” (Little China) đến đầu những năm 50 của thế kỷ XX nên cách gọi này không phù hợp. Vậy dùng thuật ngữ “Trật tự của đế quốc Đại Nam” mà người viết đã sử dụng trước đây thì thế nào?67 Vì dù rằng, việc nhà Nguyễn tiếp nhận chế độ và văn hóa Trung Quốc là thật đi chăng nữa thì Việt Nam cũng là một quốc gia độc lập chứ không phải là một phần của Trung Quốc. Việc vua Minh Mạng hay vua Thiệu Trị sử dụng ấn ngọc có khắc chữ “Đại Nam” trong các văn tự ngoại giao với các nước láng giềng ở trên càng khiến tôi có suy nghĩ như vậy.

Việt Nam đối đãi với các nước nhỏ xung quanh bằng khái niệm Hoa di kiểu Trung Quốc từ khi độc lập với Trung Quốc chưa được bao lâu. Năm 994, người sáng lập nên triều Tiền Lê (980-1009), vua Lê Hoàn đã viện cớ vua Cham-pa vô lễ, từ chối triều cống của vua Cham-pa.68 Trong khi đó vào năm 1012, năm đầu lên ngôi của vua Lý Thái Tổ, có thấy ghi lại rằng, nước Chân Lạp (Cam-pu-chia hiện nay) đã đến triều cống.69 Sau này cũng vậy, các đời vua tiếp tục mang tính ưu việt của chính trị, văn hóa trị vì các nước xung quanh nhưng không mang hình thái thể chế. Tới đời nhà Nguyễn, đặc biệt ở đời vua Minh Mạng, khái niệm trật tự thế giới mới được cụ thể hóa hoàn toàn. Trong Minh Mệnh chính yếu, ghi lại ý niệm chính trị của vua Minh Mạng, có thể thấy lần đầu tiên một mục riêng giải thích về quan hệ với các nước xung quanh là “nhu viễn”. Tiếp đó, trong Đại Nam hội điển sự lệ được phát hành năm 1855, ngoài “bang giao” liên quan đến nhà Thanh, điều khoản “nhu viễn” cũng được ghi riêng.

Khái niệm nhu viễn được sử dụng lần đầu là vào đời vua Gia Long. Năm 1815, vua Gia Long có trong tay mười ba nước là nước triều cống viễn phương. Đó là các nước Hồng Mao (Anh), Vạn Tượng (Viêng-chăn), Nam Chưởng (Luông-pha-băng), Trấn Ninh (cao nguyên ở đông Lào), Miến Điện (Mianma), Phú Lãng Sa (Pháp) và Hỏa Xá quốc, Thủy Xá quốc ở tỉnh Plây cu hiện nay (thuộc cao nguyên Trung bộ Việt Nam), v.v… Tuy nhiên, nếu tính cả Cao Miên (Cam-pu-chia hiện nay) thì thực ra là mười bốn nước. Sở dĩ như vậy là vì có một câu ghi lại rằng, sau khi nhà Nguyễn liệt kê các nước trên, Cao Miên đã dâng bát vàng và gọi vua Gia Long là Thiên Hoàng đế.70 Các nước này đến Việt Nam và dâng cống vật. Giống như các đời vua của Trung Quốc, vua Gia Long cũng tin rằng các nước này cũng ngưỡng mộ đức độ và công nhận quyền uy của mình nên mới như vậy. Có thể lấy kí sự sau trong Quốc sử di biên làm cơ sở củng cố lòng tin này của vua Gia Long: “Trước đức độ và uy thế của vua Minh Mạng, các nước láng giềng như Mianma, Viêng-chăn, Luông-pha-băng, Hỏa Xá quốc,… và đến cả những nước man di của phương Tây như Anh, Pháp mà nhà Thanh và Thái đều khiếp sợ cũng đến thần phục”.71 Tóm lại, điều mà các vua nhà Nguyễn muốn thể hiện chính là tính ưu việt về văn hóa của mình đối với các nước xung quanh. Chẳng hạn, “Cao Miên” là từ mà Trung Quốc gọi Cam-pu-chia, nhà Nguyễn đã sửa thành “Cao Man” và ghi lại trong phần Ngoại quốc liệt truyện trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập.72 Mặt khác, tính ưu việt văn hóa của họ còn được thể hiện bằng trách nhiệm và nghĩa vụ phải giáo hóa man di bằng lễ nghĩa. Chính vì vậy, Hỏa Xá quốc tuy không có chữ viết nhưng phong tục thuần phác nên năm 1834, vua Minh Mạng đặt tên cho tộc trưởng là “Vĩnh Bảo” và địa vị trong thể chế triều cống cũng phong là vua.73

Trật tự đế quốc Đại Nam vì mô phỏng thể chế triều cống của Trung Quốc nên tất nhiên cũng đã đặt ra những quy định tương tự của thể chế ấy đối với các phiên quốc. Cho nên, khi nào, bao giờ phải cử sứ giả triều cống, phải dâng lễ vật gì, sứ giả gồm mấy người, dừng chân ở đâu, v.v… được quy định rất chi tiết. Đáp lại các đoàn triều cống, triều Nguyễn cũng ban các loại vật phẩm tương xứng theo cấp của phiên quốc.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, trật tự đế quốc Đại Nam chỉ là suy nghĩ đơn phương của triều đình nhà Nguyễn, hơn cả chế độ triều cống Trung Quốc. Bởi Việt Nam là nước nhỏ đến mức không thể so sánh với Trung Quốc. Những người đứng đầu nhà Nguyễn nhận thức được điều này và cố gắng nâng cao quyền lực đế quốc bằng việc có được càng nhiều các nước phụ thuộc trong khả năng có thể. Chính vì vậy, họ gọi hai bộ tộc mà bản thân họ cũng không phân biệt được, Thủy Xá và Hỏa Xá74 là quốc gia. Như vậy, có lẽ không sai khi cho rằng vua Gia Long liệt kê các nước Anh, Pháp, cả Mianma là nước triều cống năm 1815 cũng xuất phát từ mạch này. Lúc bấy giờ, thậm chí Mianma chưa hề có bất cứ tiếp xúc nào với nhà Nguyễn cho đến năm 1822-1823. Nhân việc thấy thương thuyền của Việt Nam qua lại năm 1822, năm sau lần đầu tiên Mianma cử sứ giả sang Việt Nam, mục đích là thỉnh cầu nhà Nguyễn đoạn tuyệt ngoại giao với Thái. Thỉnh cầu này xuất phát từ suy nghĩ quan hệ bình đẳng của mình với nhà Nguyễn chứ không phải đứng trên lập trường của nước triều cống.75

Trong Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, v.v…, Thái cũng được phân loại là quốc gia cùng nhóm với Hỏa Xá, Thủy Xá, nhưng đây cũng chỉ là suy nghĩ của nhà Nguyễn. Năm 1809, vua Thái gửi thư sang thông báo phụ hoàng qua đời. Các quan thấy lời lẽ trong thư rất ngạo mạn nên định không nhận, nhưng vua Gia Long nói rằng họ không biết chữ Hán, không hiểu biết nên mới như vậy, thấy rằng mình ưu việt hơn nên cho phép tiếp nhận.76 Trong các bức thư khác của vua Thái gửi đều gọi vua Gia Long là “Việt Nam quốc Phật vương”, tức vua Phật giáo của Việt Nam nhưng ông vẫn nhận mà không có ý kiến gì.77 Xét cho cùng, có thể thấy, vì trên thực tế công nhận Thái là một quốc gia bình đẳng nên Việt Nam nhận thức được rằng, không thể xung đột với nhau chỉ vì hình thức của một bức thư.

Nếu có nước triều cống theo đúng nghĩa ở thời nhà Nguyễn thì chỉ có các nước Viêng-chăn và Luông-pha-băng thuộc Lào và Cam-pu-chia hiện nay. Năm 1807, vua Cam-pu-chia là Ang Chan được vua Gia Long phong là Cao Miên quốc vương, đồng thời vua Gia Long cũng quy định triều cống ba năm một lần.78 Nhưng sau đó, do tranh chấp ngôi vua liên miên, Cam-pu-chia bị chia thành các phe phái. Phe thì dựa vào Thái, phe khác dựa vào Việt Nam nên qua lại triều cống cả hai nước, đến năm 1863 thì rơi vào sự bảo hộ của Pháp. Quốc vương của Viêng-chăn là Chao Anou là nhân vật có tài, muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc của Thái từ bấy đến nay nên đã gây ra cuộc chiến năm 1827 nhưng thất bại thảm hại, phải thỉnh cầu sự giúp đỡ của nhà Nguyễn. Vua Minh Mạng chấp nhận lời thỉnh cầu, cho quân yểm hộ Chao Anou về Viêng-chăn. Chao Anou lại bị Thái gây áp lực phải chạy về Trấn Ninh và bị vua của Trấn Ninh là Chao Noi dẫn độ sang Thái. Vương quốc Luông-pha-băng vốn không có quan hệ gần gũi với với Việt Nam nhưng khi thấy quốc vương Viêng-chăn bị tiêu diệt đã nhận thấy rằng cần có thế lực có thể chống lại Thái, nên năm 1831 và 1833 đã cử sứ giả sang nhà Nguyễn triều cống. Thế nhưng, vẫn không hoàn toàn thoát khỏi phạm vi thế lực của Thái.79

Có thể nói rằng, trật tự đế quốc Đại Nam là trật tự không hoàn chỉnh đến mức không thể so sánh với trật tự thế giới kiểu Trung Hoa. Mặc dầu vậy, điều đáng lưu ý là việc nhà Nguyễn lập nên trật tự thế giới khu biệt của riêng mình có ý nghĩa rất lớn trong việc đối kháng với nhà Thanh.

4. Lời kết

Ngô Sĩ Liên, người biên soạn Đại Việt sử kí toàn thư đã than về việc Lý Phật Tử (Lý Phật Tử lên ngôi sau cái chết của Lý Bôn, người đã gây dựng cuộc khởi nghĩa năm 541 chống lại sự chi phối của Trung Quốc) hàng phục nhà Tùy như sau: “Sự cường nhược của Nam Bắc đều có lúc. Nếu phương Bắc yếu thì ta mạnh, nếu phương Bắc mạnh thì ta yếu, ấy là đại thế thiên hạ.”80

Khác với thời của Lý Phật Tử, khi nhà Nguyễn được lập nên, Việt Nam mạnh và triều Thanh của Trung Quốc yếu. Mặc dù vậy, các vua của vương triều mới vẫn công nhận thể chế triều cống của nhà Thanh và nhận sắc phong của nhà Thanh. Tôi cho rằng, việc nhận sắc phong như vậy là vì nhà Nguyễn đã biết tiền lệ khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, mặc dù lúc ấy nhà Minh suy yếu song vẫn dùng vũ lực can thiệp vào Việt Nam. Cùng lúc ấy, Việt Nam tuy đã lập nên đế quốc thống nhất đầu tiên nhưng trong bối cảnh xã hội còn chưa ổn định, thì việc được nhà Thanh sắc phong để xác lập quyền lực của vua là điều rất quan trọng. Thêm vào đó, một nguyên nhân quan trọng mà tôi đã đề cập đến ở trên là sau khi họ Mạc cướp ngôi, văn hóa kiểu Trung Quốc thoái trào do nội chiến liên miên kéo theo nhu cầu tiêu thụ thư tịch Trung Quốc gia tăng, v.v…

Mặc dầu vậy, nhà Nguyễn không cho thấy thái độ phụ thuộc vào nhà Thanh. Một ví dụ điển hình là sửa tên An Nam do Trung Quốc đặt trước đây thành Việt Nam. Từ đây, vua nhà Nguyễn bước thêm một bước, xác lập tư thế bình đẳng hoàn toàn về mặt đối nội, giống như các vương triều trước đây cũng xưng hoàng đế, lấy niên hiệu, gọi việc cử sứ giả đi Trung Quốc là “đi sứ nhà Thanh”

Ở một ý nghĩa nào đó có thể nói rằng, đến thời nhà Nguyễn, thái độ bình đẳng được thể chế hóa hơn trước đây. Phải chăng có thể đưa ra thực dụ là quan hệ ngoại giao với Trung Quốc lúc đó mới bắt đầu được gọi là bang giao. Ở mặt khác của thể chế hóa, đã áp dụng đồng thời ba vấn đề: sự phát triển văn hóa của nhà Nguyễn, sự suy thoái của nhà Thanh và nhà Thanh là triều đình của dân tộc Mãn Châu.

Với sự suy thoái của nhà Thanh, quan hệ ngoại giao hai nước trở nên xa cách. Một mặt, nhà Nguyễn có những động thái mang tính độc lập tự chủ, mặt khác vì nhà Thanh là triều đình của một dân tộc khác nên nhà Nguyễn có suy nghĩ rằng mình ưu việt về văn hóa. Việc không cầu viện nhà Thanh khi Pháp xâm lược vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX, tự định ra quốc hiệu Đại Nam thay cho tên Việt Nam mà nhà Thanh công nhận, xác lập một trật tự thế giới riêng coi các nước xung quanh là nước lệ thuộc mình đều có liên quan mật thiết với cả ba nguyên nhân chính ở trên.

Tóm lại, ở thế kỷ XIX, Việt Nam công nhận quyền lực của nhà Thanh với tư cách là nước bá chủ thông qua thể chế triều cống nhưng chỉ là tên gọi không hơn, còn trên thực tế là một nước độc lập hoàn toàn. Điều này cũng giống như với trường hợp của Triều Tiên, tuy triều cống cho nhà Thanh nhưng không phải là nước lệ thuộc mà là một nước độc lập. Không ít trường hợp, đôi khi chúng ta bị trói buộc vào hình thức mà phạm phải “sự ngu” không thể nhìn thẳng vào hiện thực. Học giả lịch sử chân chính tuyệt đối không phạm phải “sự ngu” thì mới có thể được người khác tin tưởng.

————–

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

 

1 Benjamin I. Schwartz, “The Chinese Perception of World Order: Past and Present,” in John K. Fairbank ed. The Chinese World Order: Traditional China’s Foreign Relations (Cambridge, Mass: Harvard University Press, 1968), p. 276. 2 Chun Hae Jong, “Khảo sát quan hệ Hàn – Trung thời kỳ nhà Thanh – Về sự biến thiên trong thái độ của nhà Thanh nhìn từ chế độ triều cống” (bản tiếng Hàn Quốc), Đông Dương học, 1 (1971), pp. 235~238; Inokuchi Takashi, “Thử bàn về trật tự thế giới Đông Á truyền thống – Với trọng tâm là sự can thiệp vào Việt Nam của Trung Quốc cuối thế kỷ XVIII” (bản tiếng Nhật) Tạp chí Ngoại giao quốc tế 73-5 (1975), pp. 44~47. 3 John Fairbank and S.Y. Teng, “On the Ch‟ing Tributary System,” in John Fairbank and S.Y. Teng, Ch‟ing Administration: Three Studies (Cambridge, Mass: Harvard University Press, 1960), pp. 182~183.

4 Xin dẫn cuốn Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (bản tiếng Nhật) (Tokyo, 1975) do Yamamoto Tatsuro biên soạn, với tư cách tài liệu nghiên cứu đại diện nhìn chế độ triều cống không lấy Trung Quốc làm trung tâm mà từ lập trường của các nước xung quanh. Luận văn này đã được sự giúp đỡ lớn của nội dung hai phần trong cuốn sách là “Quan hệ ở sơ kì triều Nguyễn với nhà Thanh” của Takeda Ryoji và “Quan hệ ở trung kì triều Nguyễn với nhà Thanh” của Wada Hironori.

5 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 17 (Tokyo: Institute of Cultural and Linguistic Studies, Keio University, 1961~1981), pp. 1a~2a; Quốc sử di biên (Hong Kong: New Asia Research Institute, The Chinese Univertity of Hong Kong, 1965), p. 7. 6 Chữ 龍 (rồng) và chữ 隆 (sự thịnh vượng) trong tiếng Việt đều phát âm là “long”. Thực tế, không lâu sau ông đã đổi Thăng Long (昇龍) thành 昇隆. Quốc sử di biên p. 30.

7 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 11, pp. 4b~5a; Suzuki Chusei, 1966 “Thiết lập quan hệ giữa nhà Thanh và Việt Nam” (bản tiếng Nhật) Tổng luận văn học đại học Ai Chi, tập 33·34, p. 351. 8 Charles B.-Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam (1592-1820) (Paris: Librairie Plon, 1919). Reprinted., (Westmaead, England: Gregg International Publishers, 1972), pp. 375~376. 9 Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> p. 351. 10 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập, quyển 11, p. 2a; Choi Buyng Wook, Southern Vietnam under the Reign of Minh Mang (1820-1841) (Ithaca: Cornell Southeast Asia Program Publications, 2004) p. 131. 11 Có lẽ do tổng đốc Quảng Đông đã sửa hiệu của Nguyễn Phúc Ánh là “Nông Nại quốc trưởng”. Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> tham khảo p. 353. Nông Nại là tên gọi trước đây của phủ Gia Định.

12 Về vấn đề quốc hiệu, Suzuki Chusei đã lập luận rất cụ thể trên cơ sở Thanh thực lục và một tài liệu do Tôn Ngọc Đình, tuần phủ Quảng Tây, người phụ trách việc biên chép của nhà Thanh viết là Diên Lý Đường tập. Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> pp. 353~358. Cf. Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, pp. 1b~2a; Trịnh Hoài Đức soạn, Cấn trai thi tập (Hong Kong: New Asia Research Institute, 1962), p. 132. 13 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 3a. 14 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 3b; Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> p. 358 15 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, p. 4a; Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> p. 358. 16 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 23, pp. 4a~b. 17 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 207, pp. 41b~42a; Suzuki Chusei, <tên bài đã dẫn> p. 358

18 John K. Fairbank, “The Early Treaty System in the Chinese World Order,” John K. Fairbank ed., op. cit., p. 269; Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> p. 566. 19 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 38, pp. 44a~b; Wada Hironori. <tên bài đã dẫn> p. 566, 581. 20 Wada Hironori. <tên bài đã dẫn> p. 581. 21 Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> p. 584~585. 22 Theo Đại Nam thực lục, quan hệ triều cống với nhà Thanh khi vua Kiến Phúc lên ngôi đã bị cắt đứt hoàn toàn, nhưng thông qua các tư liệu của Trung Quốc Wada Hironori nhận định rằng sự thật không phải vậy. Đại Nam thực lục, chính biên, V, quyển 1, pp. 25a~b; Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> pp. 589~590. 23 Khi viết về vấn đề này đã tham khảo luận văn sau của người viết. Yu Insun, 1987, “Quan hệ Trung – Việt và chế độ triều cống – hư và thực” Tạp chí Hội khoa học lịch sử, 114(1987), pp. 107~114.

24 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 43, p 4a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 502. 25 Về vấn đề tiếp nhận văn hóa và chế độ Trung Quốc của vua Minh Mạng, có một nghiên cứu cổ điển trên cơ sở Woodside. Alexander B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1971). 26 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 69, pp. 29b~30a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 499. 27 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 51, pp. 3a~b. 28 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 218, p. 33a; Woodside, op. cit., p. 115. 29 Woodside, ibid., p. 115. 30 Cf. Woodside, ibid, p. 115; O.W. Wolters, “Assertions of Cultural Well-being in Fourteenth-Century Vietnam” (Part One, Journal of Southeast Asian Studies 10-2(1979), p. 436.

31 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 37, p. 11b; quyển 55, pp. 6b~7a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 497. 32 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 220, pp. 8a~b; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> pp. 496~497. 33 Phan Huy Lê, “Tính thống nhất trong đa dạng của lịch sử Việt Nam” của Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Tập I (Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới, 1998), p. 495.

34 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 58, pp. 11a~b; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 498. 35 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 79, pp. 17~18b; Woodside, op. cit., pp. 118~119; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 498. 36 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 85, p. 30a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 499.

37 Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp) (Tokyo: Trung tâm nghiên cứu văn hóa Đông Dương Trường đại học Đông Kinh, 1986), p. 845 38 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 50, p. 8a.

39 Đại Nam thực lục, chính biên, I, quyển 54, p. 9b; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p, 532. 40 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 65, pp. 9b~10a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 498.

41 Đại Nam thực lục, chính biên, IV, quyển 1, pp. 31b~32a. 42 Đại Nam thực lục, chính biên, II, quyển 218, pp. 33a~34a. 43 Woodside, op. cit., p. 267.

44 Woodside, op. cit., p. 19; Choi Byung Wook, op. cit., p. 38. 45 Đại Nam thực lục, chính biên, I, 1968, quyển 26, 22a; quyển 38, 12a; quyển 44, 19a; Woodside, ibid. 18~19; Trúc Điền Long Nhi, 1975, <tên bài đã dẫn> 543. 46 Ecole Française d‟Extrême-Orient, microflilm A. 614 & A. 691/1-2. 47 Ở Việt Nam người cai trị đầu tiên xưng hoàng đế là Triệu Đà. Triệu Đà tự xưng là hoàng đế và xác lập tư thế bình đẳng với nhà Hán của Trung Quốc. Việc Đinh Bộ Lĩnh xưng là hoàng đế noi gương theo trường hợp của Triệu Đà. Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp) (quyển thượng) p. 180. 48 Ví dụ về đi sứ nhà Tống, Nguyên, Minh xin tham khảo tại Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp) (quyển thượng), (quyển trung), pp. 180, 390, 556.

49 Sử ký, quyển 97 (Peking: Trung Hoa thư cục, 1982), p. 2698 50 O.W. Wolters, “Historians and Emperors in Vietnam and China: Comments Arising out of Le Van Huu‟s History, Presented to the Tran Court in 1272,” 1979, Anthony Reid and David Marr eds. Perceptions of the Past in Southeast Asia (Singapore), 73~74; Yu Insun, “Nhận thức về lịch sủ của người Việt Nam giai đoạn trước cận đại: Trọng tâm là Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên,” (bản tiếng Hàn Quốc) Nghiên cứu sử học Đông Dương, số 73 (2001), pp. 179~181. 51 Nguyễn Trãi, Ức Trai tập (quyển thượng) (Saigon, 1972), p. 319; Stephen O‟Harrow, “Nguyen Trai‟s Binh Ngo Dai Cao of 1428: The Development of Vietnamese National Identity,” Journal of Southeast Asian Studies 10-1(1979), pp. 168~169. 52 Từ Diên Húc biên soạn, Việt Nam tập lược, quyển 2 (bản phục chế, không rõ nơi xuất bản, 1877), p. 180a.

53 Quốc sử di biên, p. 81. 54 Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8, pp. 7a~b. 55 Đại Nam thực lục, II, quyển 190, pp. 1a~2a; Đại Nam thực lục, II, quyển 200, pp. 8a~b; Quốc sử di biên, 1965, p. 278. 56 Đại Nam thực lục, II, quyển 200, pp. 16a~b. 57 Đại Nam thực lục, III, quyển 40, pp. 1a~b.

58 Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 495. 59 Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> pp. 554~555. 60 Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> pp. 559~561.

61 Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chính biên, quyển 34, (bản phục chế, Đài Bắc, 1969), pp. 3154~3155; Fujiwara Riichiro, “Vietnamese Dynasties‟ Policies Toward Chinese Immigrants,” Acta Asiatica 18(1970), pp. 52~53. 62 Đại Nam thực lục, II, quyển 70, p. 2a; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> pp. 539~540. 63 Đại Nam thực lục, II, quyển 159, p. 29b; Takeda Ryoji, <tên bài đã dẫn> p. 541. 64 Việc Triều Tiên về mặt đối nội cũng coi thường, không công nhận nhà Thanh là thượng quốc có thể thấy ở qua lễ nghi hoàng thất sử dụng niên hiệu Sùng Trinh của nhà Minh. Lee Sung Kyu, “Bành trướng và thu hẹp của Trung Quốc đế quốc: Ý niệm và thực tế,” (bản tiếng Hàn Quốc) Tạp chí hội khoa học lịch sử, số 186 (2005), pp. 116~117. 65 Đại Nam thực lục, II, quyển 212, p. 33b; Woodside, op. cit., 280; Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> p. 564.

66 Tsuboi Yoshiharu, “Thế giới quan của triều Nguyễn (1802-1945) Việt Nam” (bản tiếng Nhật) Quốc gia học hội tạp chí, 96-9·10(1983), pp. 149~165. 67 Yu Insun, “Việc lập nên triều Nguyễn Việt Nam và trật tự đế quốc „Đại Nam‟,” (tiếng Hàn Quốc) Văn hóa châu Á 10 (1994), pp. 81~87. Nội dung này xin được phát triển cụ thể ở phần dưới. 68 Đại Việt sử ký toàn thư (quyển thượng) p. 194. 69 Ibid., p. 210.

70 Quốc sử di biên p. 88. Cf. Woodside. op. cit., p. 237. 71 Quốc sử di biên p. 312; Wada Hironori, <tên bài đã dẫn> p. 562. 72 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập p. 1a. 73 Ibid., pp. 35a~b. Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ được ghi là Hỏa Xá quốc, Woodside cũng căn cứ vào đây. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Vol. 8 (Huế: Nhà xuất bản Thuận Hoá, 1993), p. 454; Woodside, op. cit., p. 238. 74 Tham khảo Đại Nam thực lục III, quyển 5, pp. 6b~7a và Woodside, ibid., p. 238. Họ chỉ cử sứ giả để giao dịch, hơn nữa trong ngôn ngữ của họ không có từ mang nghĩa triều cống. Tsuboi, <tên bài đã dẫn> p. 159

75 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 33, pp. 2a~3b; Minh Mạng chính yếu quyển 25 (Saigon: Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, 1974), pp. 9a~b; Woodside, ibid., p. 239. 76 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 32, p. 7a; Đại Nam thực lục I, quyển 39, pp. 19a~b; Woodside, ibid., p. 259. 77 Woodside, ibid., p. 259. 78 Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 31, p. 6b; Woodside, ibid., p. 240. 79 D.G.E Hall, A History of South-East Asia, (3rd ed., New York, 1970), p. 453.

80 Đại Việt sử ký toàn thư (bản hiệu hợp) (quyển thượng) p.153

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Lịch sử, Trung Quốc | Thẻ: , , , , , , , , | Leave a Comment »

TQ phản đối Indonesia bắt giữ ngư phủ người Hoa

Posted by adminbasam trên 27/06/2009

Trung Quốc phản đối  Indonesia bắt giữ các ngư phủ người Hoa

The Jakarta Post , Pontianak | Tue, 06/23/2009 7:50 PM

Người dịch Trần Hoàng

 

Chính quyền Trung Quốc đã viết một kháng thư phản đối chính quyền Indonesia về việc bắt giữ các ngư phủ Trung Quốc đang đánh cá trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế ở Biển Đông, thông tấn xã Antara của Indosia đã tường thuật.

Giám đốc cơ quan Khảo Sát Tài Nguyên Biển và Hải Sản Pontianak, ông Bambang Nugroho, đã phát cho biết vào hôm thứ Ba rằng cơ quan của ông đã bắt giữ 8 chiếc tàu và 77 thủy thủ trên các thuyền nầy sau khi phát hiện các tàu Trung Quốc này đã đánh bắt cá dọc theo hải lộ thuộc vùng West Kalimantan của Indonesia.

“Một cách hợp pháp, bất cứ tàu thuyền nào cũng có thế vượt ngang qua miền nầy, nhưng các tàu đó không đươc phép đánh bắt cá trong vùng lãnh hải đó,” ông giám đốc Bambang cho biết.

Ông nói thêm rằng cơ quan của ông đã nhận được kháng thư của Trung Quốc từ một người đến thương lượng của tòa tổng lãnh sự Trung Quốc.

Ông Aji Sularto, Tổng Giám đốc của Sở Khảo sát Tài Nguyên Biển và Hải Sản của Indonesia đã xác nhận (tin ấy) vào tối hơm qua.

Ông Aji  tuyên bố:  “Chúng tôi sẽ theo đuổi các tiến trình luật pháp và phạt các ngư phủ nầy vì sự vi phạm của họ. Chúng tôi sẽ tiếp tục cầm giữ họ ngay cả nếu họ trả tiền bồi thường thiệt hại do họ gây ra.”

http://www.thejakartapost.com/news/2009/06/23/china-protests-arrest-fishermen.html

——————–

 

Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc họp báo phản đối Indonesia

bắt giữ các ngư phủ người Hoa

23-6-2009

Chinatoday

Bắc Kinh – Phát ngôn viên Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Qin Gang đã bác bỏ các bài tường thuật của báo chí và truyền hình Indonesia cho rằng các ngư phủ Trung Quốc đã đột nhập bất hợp pháp vào vùng lãnh hải của indonesia gần quần đảo Nauna.

Trung Quốc đã gởi một kháng thư khẩn cấp tới chính phủ Indonesia về chuyện nước nầy đã tịch thu 8 thuyền đánh cá của người Trung Quốc và bắt giữ trên 70 thủy thủ đoàn  vào ngày 20-6-2009.

Tại cuộc họp báo, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao ông Qin Gang đã bác bỏ các bản tin của truyền thông Indonesia tường thuật rằng các ngư phủ Trung Quốc đã xâm phạm bất hợp pháp vào vùng lãnh hải của Indonesia gần quần đảo Nauna. Ông Qin Gang nói rằng vùng này theo lịch sử đã và đang là một khu vực đánh bắt cá đối với các ngư phủ Trung Quốc. (xem bản đồ để thấy TQ rất ngang ngược tiến sâu về phía nam dành lấn biển)

phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao ông Qin Gang nói rằng, “Chúng tôi rất không hài lòng với chính quyền Indonesia về việc tịch thu các thuyền đánh cá và bắt giữ các ngư phủ Trung Quốc. Chúng tôi đòi hỏi rằng chính quyền Indonesia hãy thả ngay các ngư phủ nầy và trả lại các thuyền đánh cá. ”

————————

 

China protests arrest of fishermen

The Jakarta Post ,  Pontianak   |  Tue, 06/23/2009 7:50 PM  |  National

The Chinese government has filed an official protest against Indonesia over the recent arrest of Chinese fishermen operating in Indonesia’s Exclusive Economic Zone (EEZ) in the South China Sea, state news agency Antara has reported.

Head of the Pontianak Fishery and Ocean Resources Monitoring Agency, Bambang Nugroho, said Tuesday his office had detained the eight vessels and all 77 fishermen on board after they were caught fishing on their way to the office of the West Kalimantan Fishery and Ocean Agency.

“Legally, any ships may cross the zone, but they are not allowed to catch fish in the waters,” Bambang said.

He added that his office had received word of the protest, lodged by China’s consulate mediator. Aji Sularso, general director of the Fishery and Oceanic Resources Monitoring Agency, confirmed the complaint last night.

“We will pursue the legal processes and punish them for their violations. We will continue to detain them even if they pay for compensation,” Aji said. (ewd)

http://www.cctv.com/program/chinatoday/20090626/102826.shtml

—————————-

China protest arrest of fishermen

2009-06-26 10:11 BJT

China has lodged an urgent representation with the Indonesian government over its confiscation of 8 Chinese fishing boats and arrest of over 70 fishermen on June 20.

At a press conference, Ministry of Foreign Affairs spokesperson Qin Gang rejected Indonesian media reports that the Chinese fishermen were trespassing in Indonesian maritime territory around the Nauna Islands archipelago. He said the area has historically been a fishing area for Chinese fishermen.

Chinese Foreign Ministry spokesman Qin Gang said, “We are expressing strong disatisfaction to the Indonesian authorities for confiscating Chinese fishing boats and arresting Chinese fishermen. We demand that the Indonesian government release the fishermen and return the fishing boats as soon as possible.”

Editor: Zhang Ning | Source: CCTV.com

http://www.thejakartapost.com/news/2009/06/23/china-protests-arrest-fishermen.html

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Trung Quốc | Thẻ: , | Leave a Comment »

Trung Quốc tiếp tục cấm ngư phủ Việt Nam đánh cá cho đến ngày 1-8

Posted by adminbasam trên 26/06/2009

YAHOO! NEWS

Ngư dân Việt Nam cho biết việc đánh bắt cá bị ngáng trở bởi các hoạt động tuần tra của Trung Quốc

Ian Timberlake

Ngày 26-6-2009

 

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (AFP) – Bộ Ngoại giao Việt Nam đã loan báo vào đầu tháng Sáu rằng Trung Quốc đã đưa ra một lệnh cấm đánh bắt cá trên một số vùng thuộc Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa] “bao gồm những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam”.

Các ngư dân Việt Nam cho biết họ cố tránh những khu vực đang tranh chấp, nhưng sự tăng cường việc cấm đánh bắt cá ngày càng tăng của Trung Quốc đã làm cho thu nhập của họ rơi vào tình cảnh nguy ngập, trong khi một số ngư phủ bạn bè của họ đã bị bắt giữ tại đảo Hải Nam hoặc lưới và cá tôm đánh bắt bị tịch thu.

Ngư dân người Việt Huỳnh Minh On và các ngư dân khác cho biết họ đã và đang thấy  một lượng ngày càng nhiều tàu thuyền Trung Quốc trong vòng hai tháng qua trên những vùng biển đang tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa [của Việt Nam], và gần Đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Ông On, 50 tuổi, đã kể rằng thu nhập hàng tháng từ chiếc tàu đánh cá của ông gần đây đã rớt nhanh mất một nửa, xuống còn vào khoảng 40 đến 50 triệu đồng (2.222 đến 2.777 đô la).

“Chủ yếu là do người Trung Quốc,” ông On khẳng định trong khi đang ngồi dựa lưng vào mấy đống lưới cá chất bên chiếc tàu của mình ở cảng cá chính ở Đà Nẵng, miền trung Việt Nam.

Các tàu thuyền thông báo cho nhau tình hình qua điện đài “để chúng tôi có thể chạy thoát được” khi phát hiện ra những tàu kiểm soát của Trung Quốc , thế nhưng việc này tốn nhiều thời gian và tiền bạc, ông nói.

Bộ [Ngoại giao Việt Nam] cho biết Trung Quốc đã tăng cường các chuyến tuần tra và thực hiện nhiều cuộc bắt giữ trong những vùng biển, mà một phần trong đó được cơ quan này gọi là Biển Đông.

“Chuyện này ảnh hưởng lớn đến việc kiếm sống của tôi,” theo lời ông Nguyễn Nuôi, 38 tuổi. Người ngư dân này cho biết ông và các bạn chài đã phải chịu mất đi hai phần ba khoản thu nhập do hậu quả của tình hình này.

“Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy tàu thuyền Trung Quốc là tôi phải chạy xa ngay,” ông kể, vì nếu như tàu của ông bị bắt trên vùng biển đang tranh chấp, thì “họ sẽ tịch thu  bánh lái tàu và lưới của chúng tôi”.

Hôm qua thứ Năm, một tuyên bố của bộ ngoại giao đã lặp lại rằng lệnh cấm đó, kéo dài cho tới mùng 1 tháng Tám, là “không thể chấp nhận được” bởi vì lệnh cấm bao gồm cả những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Hôm qua thứ Năm, chúng tôi đã không thể liên lạc được với một ai trong tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để có lời bình luận về vấn đề này.

Một cuộc tranh cãi kéo dài giữa Việt Nam và Trung Quốc gần đây đã và đang leo thang về  chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và một quần đảo nằm tuốt xa về phía nam, quần đảo Trường Sa.

Các ngư dân Việt Nam bị mắc kẹt giữa tình thế tranh chấp nầy.

“Tôi chẳng hiểu các ông lãnh đạo ở trên cao phân chia vùng biển thế nào cả. Chỉ một chuyện độc nhất mà chúng tôi biết là chúng tôi đang đánh cá trên những vùng biển này trong bao nhiêu năm rồi và giờ thì chúng tôi bị cấm, và chúng tôi thấy vùng biển của Việt Nam cứ bị nhỏ dần nhỏ dần đi,” theo lời ông On, ngư dân với 28 năm trong nghề cùng một chiếc tàu cá và một thủy thủy đoàn 10 người.

Một thuyền trưởng khác, ông Phạm Văn Phước, 44 tuổi, cho biết trong năm nay ông đã trông thấy sự gia tăng số lượng các tàu tuần tiễu của Trung Quốc, các tàu nầy tăng cường lệnh cấm của họ bằng cách giăng cờ trắng bất cứ khi nào các tàu thuyền Việt Nam bị họ cho là đang đi vào vùng cấm.

Mặc dù những vùng bị cấm là nơi tập trung cao độ của cá tôm, nhưng ông Phước kể là ông cố tránh những vùng cấm đó. Chẳng có cách gì mà chạy thoát khỏi người Trung Quốc, ông kể, bởi vì tàu của họ lớn hơn và chạy nhanh hơn những chiếc tàu các làm bằng gỗ của người Việt Nam.

Những chiếc tàu Trung Quốc cũng được trang bị súng máy đặt trên mạn và các thủy thủ có loại tiểu liên, các ngư dân Việt Nam kể.

“Nếu họ không có súng thì chúng tôi có thể đánh lại được họ,” ông Đông Ơn, 56 tuổi, vừa cười vừa kể lại, ông mới trở về từ ngoài khơi sau hơn một tuần đánh bắt cá.

“Có nhiều tàu thuyền của cảnh sát biển và tàu kiểm soát đánh cá của Trung Quốc.”

Ông Đông Ơn cho biết ông đã học được kinh nghiệm rất khó khăn để tránh khỏi những phiền phức.

Bốn năm trước, khi ông đang đánh cá ngay vùng phía tây đảo Hải Nam thì có mấy cảnh sát biển Trung Quốc nhảy lên boong tàu và yêu cầu các thủy thủ của ông lái tàu vào đảo Hải Nam, ông kể. Họ đã bắt phải chi ra 80 triệu đồng, nhưng vì không có tiền nên các ngư phủ đã phải gọi điện thoại về nhà để thu xếp nhờ một người bán hàng lưu động mang tiền đến trả, ông kể.

Trong lúc chờ được thả, họ đã phải ở lại dưới tàu của mình trong khoảng một tháng mà không được lên bờ.

“Khi chúng tôi gần hết sạch lương thực thực phẩm thì họ mới cho chúng tôi một ít và luôn luôn có một cảnh sát túc trực để canh không cho chúng tôi lên đảo, hoặc chạy trốn,” ông Ơn kể.

“Kể từ khi chúng tôi bị bắt bốn năm trước tới nay, tôi cố không vi phạm cái lệnh cấm này.”

Ông Đông Ơn không bị bắt lại lần nào nữa nhưng những người bạn chài khác thì lại bị bắt, các ngư dân cho biết.

“Theo tôi biết thì trong 10 ngày qua đã có khoảng 50 thủy thủ của 5 chiếc tàu đã bị bắt,” ông Huỳnh minh On cho biết.

Các thủy thủ khẳng định là họ đã phải chi ra hàng ngàn đô la tiền phạt để bảo đảm việc trả tự do cho thủy thủy đoàn.

Ông Trần Văn Linh, phó chủ tịch hiệp hội đánh bắt cá Đà Nẵng, đã nói rằng từ cuối tháng Năm cho tới giữa tháng Sáu đã có một số tàu đánh cá phải nằm bờ, một phần bởi vì lệnh cấm của Trung Quốc, nhưng một phần cũng vì những lý do khác trong đó có việc giá dầu trên thế giới vừa mới tăng vọt.

Ông không thể cho biết được hiện có bao nhiêu trong tổng số 175 tàu đánh cá xa bờ phải ngưng hoạt động vào thời gian này.

“Thế nhưng sau đó, chúng tôi đã có nhiều cuộc họp  … và đã khuyến khích các ngư phủ ra biển để bảo đảm quyền đánh bắt cá của họ,” ông Linh nói.

“Tôi nghĩ là hiện giờ các ngư dân đang cẩn thận hơn trước,” ông nhận xét.

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————

 

YAHOO! NEWS

Vietnam fishermen say trade hit by Chinese patrols

by Ian Timberlake Ian Timberlake – 1 hr 15 mins ago

DANANG, Vietnam (AFP) – Vietnam’s foreign ministry announced in early June that China had ordered a fishing ban in some areas of the South China Sea “including those under Vietnam’s sovereignty”.

The fishermen say they try to avoid the controversial areas but China’s stepped-up enforcement has put their incomes at risk, while some of their colleagues have allegedly been detained on Hainan or had their nets and fish seized.

Vietnamese fisherman Huynh Minh On and other fishermen say they have seen an increasing number of the Chinese ships over the past two months in disputed waters around the Paracel archipelago, and near China’s Hainan Island.

On, 50, said the monthly earnings of his fishing boat have dropped by about half recently, to around 40 million or 50 million dong (2,222-2,777 dollars).

“It is mainly because of the Chinese,” On says, reclining on bags of fishing nets piled beside his boat at the key fishing port of Danang, in central Vietnam.

Boats radio each other “so we can run away” when Chinese enforcement ships are spotted but this eats up time and money, he said.

The ministry said China had increased its patrols and made more arrests in the areas, part of what it calls the East Sea.

“It greatly affects my business,” said Nguyen Nuoi, 38. The fisherman said he and his colleagues had experienced a two-thirds drop in income as a result.

“Whenever I see the Chinese ships I just run away,” he said, because if his boat is caught in the disputed area, “they will take our gear”.

On Thursday a foreign ministry statement reiterated that the ban, running until August 1, is “unacceptable” because it includes areas under Vietnamese sovereignty.

No one from the Chinese embassy in Hanoi could be reached to comment on the issue Thursday.

A long-standing dispute between Vietnam and China over sovereignty of the Paracels and a more southerly archipelago, the Spratleys, has recently escalated.

Fishermen are caught in the middle.

“I don’t know how the senior officials divide the sea territory. The only thing we know is that we have been fishing in these areas for many years and now we are banned, and we see the sea territory of Vietnam getting smaller and smaller,” said On, a fisherman for 28 years who owns his own boat with a crew of 10.

Another fishing captain, Pham Van Phuoc, 44, said he had seen this year an increasing number of Chinese patrol boats, which enforce their ban by raising white flags whenever Vietnamese vessels are deemed to be encroaching.

Although the banned areas are home to a higher concentration of fish, Phuoc said he tries to avoid them. There is no point trying to outrun the Chinese, he said, because their ships are bigger and faster than the wooden Vietnamese fishing boats.

The Chinese ships are also armed with deck guns and the crews have rifles, Vietnamese fishermen say.

“If they didn’t have guns we would beat them,” laughs Dong On, 56, just returned from more than a week at sea.

“There are a lot of Chinese sea police and fishing control ships.”

Dong On says he learned the hard way to stay out of trouble.

Four years ago he was fishing just west of Hainan when several Chinese police jumped aboard and told his crew to head for the island, he said. They were ordered to pay 80 million dong but without the cash they had to call home to arrange for a travelling salesman to act as the money courier, he said.

Waiting for their release, they spent about one month unable to leave their boat.

“When we almost ran out of our food they would give us some and there was always a policeman to prevent us coming onto the island, or running away,” On said.

“Since we got caught four years ago, I try to obey the law.”

Dong On has not been detained again but others have, the fishermen say.

“As far as I know, over the past 10 days there are about 50 sailors from five vessels that have been caught,” Huynh Minh On said.

Sailors allege thousands of dollars in fines have to be paid to secure a crew’s freedom.

Tran Van Linh, vice-president of the fishermen’s association in Danang, said that from late May until mid-June some fishing boats stayed in port, partly because of the Chinese ban but also for other reasons including a fresh jump in global oil prices.

He could not say how many of Danang’s roughly 175 offshore fishing boats were idle at the time.

“But after that, we had many meetings… and moved to encourage the fishermen to go to the sea to ensure their rights to fishing,” said Linh.

“I think now that the fishermen are more careful than before,” he said.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Trung Quốc | Leave a Comment »

Khu phố mới của người Tàu ở Thủ đô Lào

Posted by adminbasam trên 25/06/2009

ASIA TIMES

Khu phố Hoa Kiều đời mới đang có

những người Lào sống bên lề

Bài của Brian McCartan

Ngày 26-7-2008

VIÊN CHĂN, Lào – Đây là một thành phố cựu thuộc địa của Pháp đang nhanh chóng nhường chỗ cho một ảnh hưởng mới mẻ khi những nhà đầu tư Trung quốc trúng thầu để xây dựng một khu phố vệ tinh mới theo khuôn mẫu của nhiều thị trấn kỹ nghệ thình lình mọc lên trên khắp quê hương của họ. Một dự án liên doanh gây nhiều tranh cãi nhằm xây dựng một khu phố Hoa Kiều tại vùng vành đai phía đông bắc Viên Chăn đã gây lo lắng cho các cư dân Lào ở đây và gợi nên những quan ngại mới về ảnh hưởng ngày càng gia tăng nhanh chóng của Trung Quốc lên nước láng giềng nhỏ bé hơn của họ.

Chính phủ Lào gần đây đã ngưng một kế hoạch cho phép các nhà kinh doanh Trung Quốc xây dựng nhiều cửa hàng, nhà máy, khách sạn và nhà cửa trong một khu vực chưa được phát triển của thành phố này và một số người nói khu đầm lầy That Luang có ý nghĩa quan trọng cho môi trường. Trong kế hoạch phát triển, dự án sẽ bao gồm 1.640 ha, với những tòa nhà chiếm khoảng dưới 1000 mẫu và hai phần ba còn lại của khu vực được dành riêng cho nguồn nước và những công viên giải trí. Việc xây dựng và dọn sạch mặt bằng vẫn chưa được bắt đầu.

“Dự án Phát triển khu Đô thị Mới,” như tên chính phủ đặt cho nó, bao gồm một liên doanh giữa ba công ty của Trung Quốc được quản lý bởi tập đoàn
Đầu tư Hải ngoại Khu Công nghiệp Suzhou và một đối tác Lào. Các điều khoản của bản thỏa thuận lần đầu tiên được loan báo vào tháng 9-2007, cho phép công ty của Trung Quốc quyền khai thác trong 50 năm, có thể gia hạn thêm 25 năm, trong khi đối tác Lào chỉ nắm giữ có 5% cổ phần trong dự án. Dự án sẽ được trao lại cho Lào một khi thời kỳ nhượng quyền kết thúc.

Dự án đã châm ngòi cho sự bất mãn của công luận từ những người dân bình thường bị đàn áp của nước này và đã thúc dục chính quyền đưa ra lời giải thích công khai hiếm hoi về chính sách của mình. Vào tháng Hai, Phó Thủ tướng Thường trực Somsavat Lengsavad đã bênh vực cho các hành động của chính phủ và phủ nhận những tố cáo do báo chí đưa ra, được khích động thêm bởi những tin đồn loang rộng rằng một bản thỏa thuận đã được thực hiện để đem 50.000 người Trung Hoa vào cư trú tại khu đô thị vệ tinh mới, đồng thời ông khẳng định không có những nhượng bộ đặc biệt nào dành cho các công dân Trung Hoa cả.

Ông cho hay thỏa thuận đã được đàm phán trong một cuộc họp với chủ tịch Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) nhằm tìm kiếm một khoản vay trị giá 100 triệu Mỹ kim để xây dựng một vận động trường 20.000 chỗ ngồi và những khu phức hợp thể thao liên quan dùng cho Đại hội Thể thao Đông Nam Á SEA Games vào năm sau được đăng cai tổ chức tại Viên Chăn. Chính phủ hy vọng sự kiện này sẽ khuếch trương nước mình như là một điểm đến cho đầu tư và du lịch.

Vị chủ tịch CDB đã chấp thuận một khoản vay phụ thuộc vào việc Lào sẽ đưa ra một khu đất thích hợp cho một công ty Trung Quốc được hưởng đặc ân để phát triển ở đây. Theo ông Somsavat, công ty Trung Quốc từng phát triển Khu Công nghiệp Suzhou tại tỉnh Giang Tô của Trung Quốc, nay sẽ được phép hưởng lợi từ việc bán các tòa nhà, công xưởng và dinh thự trong khu đô thị vệ tinh này. Lào sẽ được lợi từ việc mở mang khu đô thị mới mà không cần phải tìm kiếm các khoản vay cho việc kiến thiết công trình xây dựng, ông nói.

Trong một cuộc họp báo tiếp theo vào tháng Ba, được tổ chức lần nữa để giải thích về dự án và nhằm lái chệch hướng những chỉ trích vẫn được liên tục đưa ra, thị trưởng Viên Chăn Sinlavong Khoutphaythoune đã nói với các nhà báo rằng có ba lý do chính cho việc mở mang khu đô thị mới. Trước hết, nó phù hợp với chính sách công khai của chính phủ nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên trong nước, bao gồm đất đai, như là nguồn vốn tư bản để phát triển đất nước. Thứ hai, đó là một cách để trả các khoản Trung Quốc đã cấp vốn và xây dựng một sân vận động cho SEA Games. Lý do cuối cùng mà ông đưa ra, thật mỉa mai, là để bảo tồn vùng đầm lầy.

Các tổ chức ví như Quỹ Quốc tế Bảo tồn Động vật Hoang dã [FWW] ước tính khu đầm lầy rộng 20 km2 cung cấp những nguồn lợi thủy sản cho khoảng 3.000 hộ gia đình và 17 làng và giúp phòng chống lũ lụt cho thành phố do nó vận hành như một hồ tự nhiên chứa nước lũ trong mùa mưa. Khả năng bảo hộ cho cuộc sống cư dân mà khu đầm lầy cung cấp được ước tính trị giá 2 triệu Mỹ kim và việc tránh được những thiệt hại do lũ lụt được đánh giá là trên 18 triệu Mỹ kim.

Khu đầm lầy nằm dưới chân một ngọn đồi thấp, mà trên đỉnh đồi có tu viện Phật giáo và là biểu tượng quốc gia nổi tiếng nhất của Lào, That Luang, tương tự như Quốc hội của Lào. Theo ông Yong, người phát ngôn của chính phủ, cách đây chừng 30 năm khu vực này không có người ở, nhà nước đã cho rút bớt nước một phần để hạn chế muỗi và khai hoang lấy đất canh tác.

Khu vực xung quanh đầm lầy giờ đây là một hỗn hợp các nhà ở và các khu buôn bán nhộn nhịp, bao gồm một số chợ bán sản phẩm tươi sống, thực phẩm khô và các hàng hóa khác. Dân chúng sống dọc theo đầm lầy canh tác trên những cánh đồng lúa và rau quả, thu hái những loài thực vật ăn được cũng như các loài cá, cua, ốc trong khu vực. Những điểm đánh bắt thủy sản nằm rải rác dọc theo một con kênh chạy xuyên qua vùng đầm lầy. Một số ít dân cư trong khu vực có những giấy tờ xác nhận quyền sở hữu thích đáng đất đai và yêu cầu đền bù cho việc họ bị di dời đã báo hiệu khả năng gây nên những mối bất đồng.

Khu Manhattan của Lào

Một bức phác hoạ về khu đô thị mới được đề xướng xuất hiện trên báo của Lào đã diễn tả khu vực này trông như một Manhattan hiện đại.

Chính phủ Lào tỏ vẻ tha thiết phát triển khu vực chạy dọc theo các con đường của các khu công nghiệp Trung Quốc mới xây dựng, mà trong đó có khu Suzhou, nơi Tập đoàn Đầu tư Hải ngoại Khu Công nghiệp Suzhou trú đóng. Theo trang web của chính quyền Suzhou, Khu Phát triển Công nghệ Cao Suzhou được thành lập từ năm 1992 đã thu hút lượng đầu tư nước ngoài trị giá hơn 6 tỉ Mỹ kim. Hầu hết các doanh nghiệp được thành lập trong khu vực đều thuộc về ngành công nghệ thông tin, cùng các công ty khác bao gồm phần mềm máy tính, máy móc chính xác và hoá chất.

Việc Lào có thể hoặc cần phải cố nhân đôi những kỳ công thương mại đó hay không thì có lẽ còn phải bàn cãi. Trong khi khu đô thị mới đã lên thời biểu cho việc xây dựng tại khu đầm lầy That Luang là không có vẻ sớm đạt được cái trình độ phát triển kia, điều ấy đưa ra một chỉ dấu về những gì mà chính phủ Lào và các nhà đầu tư Trung Quốc đang nhắm tới. Trong lúc sự mở mang phát triển trên quy mô như vậy có thể đem tới nhiều hoạt động đầu tư và công ăn việc làm cần thiết, vấn đề mà những người coi thường ở dự án này tiếp tục bị chất vấn là tất cả những công nhân ở đây sẽ từ đâu đến ?

Để xây vận động trường cho SEA Games, Tập đoàn Yunnan Construction Engineering Company Group Corporation của Trung Quốc đã đưa vào hàng nghìn công nhân của nước họ do tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng nguồn lao động có tay nghề của Lào. Mặc dù chính phủ Lào đã kịch liệt bác bỏ thông tin rằng hành chục ngàn người Trung Quốc sẽ tới Viên Chăn để định cư trong khu đô thị vệ tinh mới được lên kế hoạch, song bản thân người Lào không có những kỹ năng và đủ nhân lực để tự mình xây dựng khu đô thị. Với trình độ kiến thức hiện tại, nước này cũng không thể có khả năng để vận hành một thành phố công nghệ cao một khi nó được hoàn thiện.

Điều này sẽ hầu như chắc chắn phải có sự nhập cư của hành nghìn công nhân và chuyên gia, đa số có lẽ từ Trung Quốc. Các số liệu của chính phủ Lào ước đoán có 30.000 người Trung Quốc hiện đã sống tại nước này, song hầu hết các nhà phân tích tin rằng con số thực có thể phải lớn hơn gấp mười. Các cửa hàng có sở hữu chủ hoặc được điều hành bởi người Trung Quốc nổi lên khắp miền bắc Lào, trong khi những người Trung Quốc khác sống ổn định tại các làng mạc xa xôi trong vai trò là những quản đốc và công nhân tại các dự án kinh doanh sản phẩm nông nghiệp.

Viên Chăn cũng giống như mọi thành phố ở Đông Nam Á đều có một lượng dân số là người Hoa được thừa nhận như là bộ phận của cộng đồng, cũng đông đảo như những người Việt Nam nhập cư. Giờ đây, nổi lo sợ trong nhiều người dân Viên Chăn là người Trung Quốc không còn đơn thuần là những thương gia và chủ cửa hiệu, song thực sự lại tự mình sở hữu một phần lớn thành phố và khuyến khích hàng nghìn người dân ở nước họ sang định cư và thống trị các hoạt động kinh doanh, xã hội và đời sống văn hóa.

Người phát ngôn chính phủ Lào, ông Yong Chathalangsy, đã hạ nhiệt cho các mối quan ngại đó. Viện dẫn luật đầu tư của Lào, ông nói với tờ Asia Times hay rằng 85% ngành nghề kinh doanh phải do người Lào làm chủ, và rằng quyền ưu tiên là phải dành cho việc tuyển mộ công nhân Lào. “Một số nghề được dành riêng cho người dân chúng tôi,” ông nói mà không cho biết thêm chi tiết. Mặc dù ông lưu ý rằng chính phủ thừa nhận thực tế có một số kỹ năng hiện đang thiếu trong lực lượng lao động của Lào và chính phủ đã chấp nhận cho phép các công ty nước ngoài trong những trường hợp nhất định được đưa vào Lào các lao động có tay nghề. “Chúng tôi cần những người nước ngoài làm trong những ngành nghề mà chúng tôi không thể đáp ứng các đòi hỏi. Chúng tôi sẽ tiếp tục tuyển mộ thêm cho những nhu cầu này.”

Ông thừa nhận rằng có một nan đề về việc công nhân Trung Quốc còn ở lại Lào sau khi hoàn thành các dự án, thực tế đã thể hiện rõ ràng trong trường hợp tại các vùng phía bắc nước này nơi các công ty Trung Quốc giám sát các dự án mở đường mới.

“Chúng tôi phải tăng cường công tác đôn đốc tuân thủ pháp luật để ngăn chặn những người ở lại. Chính phủ sẽ giám sát chặt chẽ hơn, kiểm tra và kiện toàn luật lệ đối với lao động nước ngoài tại đất nước chúng tôi,” ông nói. Ông còn lưu ý rằng 1.800 lao động Trung Quốc được chính phủ cho phép xây dựng khách sạn Don Chan tại Viên Chăn cho hội nghị thượng đỉnh Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á lần thứ 10 năm 2004 đều đã về nước sau khi dự án được hoàn tất.

Trung Quốc bắt đầu nắm vai trò quan trọng hơn tại Lào từ những năm cuối 1990, đoạt cơ hội nảy sinh từ việc ứng cứu cho nền kinh tế Lào tiếp theo sau cơn khủng hoảng tài chính châu Á những năm 1997-98. Đầu tư và viện trợ của Trung Quốc cho Lào từ đó tăng vọt như hỏa tiễn, được tạo thuận lợi qua một loạt thỏa thuận song phương bao quát các lĩnh vực kinh tế, hợp tác kỹ thuật, đầu tư, ngân hàng và phát triển cơ sở hạ tầng. Các thỏa thuận này đã được bổ sung bằng những khoản trợ cấp xuất khẩu và vay không tính lãi.

Vào tháng 11 năm 2000, ông Giang Trạch Dân đã thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên của một vị lãnh đạo nhà nước Trung Quốc tới Lào, như cách tượng trưng để nhấn mạnh cho việc củng cố mối quan hệ của hai nước. Trong việc theo đuổi những lộ trình giao thương mới, những nguồn năng lượng và trao đổi sản phẩm cho nền công nghiệp và dân số ngày càng tăng tại các tỉnh phía nam, Trung Quốc đang tìm tới nước Lào giàu tài nguyên nhằm đáp ứng những đòi hỏi đang tăng nhanh đó. Cho tới tháng 8-2007, Uỷ ban Kế hoạch và Đầu tư Lào đã phê chuẩn 1,1 tỉ Mỹ kim đầu tư trực tiếp của Trung Quốc, làm cho Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai tại đây sau Thái Lan. Năm ngoái, Trung Quốc thậm chí đã đầu tư tới 876 triệu Mỹ kim, so với 3 triệu các khoản chi phí tại nước này năm 1996.

Trung Quốc mới đây còn phê chuẩn khoảng 500 triệu Mỹ kim các khoản trợ cấp và cho vay không tính lãi, hầu hết để giúp ổn định đồng tiền của Lào sau cuộc khủng hoảng tài tính 1997-98. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã tuyên bố trong một chuyến viếng thăm chính thức vào tháng Ba năm nay rằng chính phủ ông sẵn sàng hỗ trợ thậm chí nhiều khoản đầu tư hơn thông qua các doanh nghiệp Trung Quốc tại Lào. Mậu dịch song phương giữa Lào và Trung Quốc đã lên tới 249 triệu Mỹ kim vào năm 2007. Hầu hết các nhà phân tích tin rằng con số thực tế sẽ cao hơn nhiều một khi giao thương không chính thức và buôn lậu được tính đến.

Thay đổi sự bảo trợ

Quan hệ kinh tế đang gia tăng của Lào với Trung Quốc đánh dấu một bước thay đổi từ sự nương tựa trước đây của nước này vào Việt Nam. Mặc dù có những tuyên bố chính thức của Hà Nội và Viên Chăn về việc tiếp tục các mối quan hệ trên tình anh em vững chắc, song nhiều nhà lãnh đạo trẻ hơn của Lào giờ đây đang leo lên những vị trí trung cao cấp trong Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (LPRP) được cho rằng sẽ không tham gia vào những tình cảm tương tự về sự trung thành với nước Việt Nam đang được nắm giữ bởi bộ khung lãnh đạo già cỗi hơn. Những nhà lãnh đạo này lớn lên sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương và không cảm giác hàm ơn đối với Việt Nam về những giúp đỡ của nước này trong thời kỳ cách mạng với đỉnh cao vào năm 1975 khi những người cộng sản giành được chính quyền ở Lào.

Lào là một trường- hợp- nghiên- cứu phân- tích về chiến lược mềm mỏng của Trung Quốc trong khu vực. Tại Viên Chăn, Trung Quốc đã cho xây Cung Văn hóa Quốc gia trị giá 7 triệu Mỹ kim, cấp vốn hoàn toàn để mở Đại lộ Trung tâm dài 13 km dẫn thẳng tới Patouxay trung tâm, hay còn gọi là Vòm Chiến thắng, đài kỷ niệm xây vào năm 2003, và nâng cấp công viên bao quanh đài kỷ niệm này vào năm 2004. Giờ đây các dự án đã trở nên có xu hướng thương mại hơn và cung cấp chỉ dấu về mặt hàng nào sẽ được trưng bày bên trong cửa hàng dành cho khu đầm lầy That Luang.

Ngày 1-8-2007, khu thương mại hiện đại đầu tiên của nước này đã mở cửa tại quận Sikhottabong phía tây Viên Chăn. Tại buổi lễ khai trương, ông Ding Guo Jiang, chủ tịch Công ty San Jiang, nhà đầu tư chính của dự án 6 triệu Mỹ kim này, đã tuyên bố qua trích dẫn của tờ Vientiane Times, “Khu buôn bán của Trung Quốc mới mở này giờ đây thuộc loại chợ lớn nhất cho các sản phẩm của Trung Quốc tại Đông Nam Á và là một điểm tụ tập dành cho các thương nhân Trung Quốc ở thành phố này.”

Dự án này, một cách công khai, nhắm vào thị trường người Hoa kiều và vốn đầu tư của các thương gia Trung Quốc. Với hơn 300 gian hàng trong khu trung tâm thương mại, Ding Guo Jiang lưu ý rằng 200 gian đã được lấp đầy bởi các công ty của Trung Quốc trong khi 100 gian đã được điều hành bởi các người Lào bản địa. Một con số dự đoán 80% lượng hàng hóa trong khu thương mại này là được nhập khẩu từ Trung Quốc.

Khu thương mại này là bộ phận của một dự án lớn hơn được biết đến dưới cái tên Trung tâm Hữu nghị Lào-Trung được Bộ Công nghiệp và Thương mại Lào gọi là “một phần của khuôn khổ hợp tác thương mại và đầu tư giữa chính phủ Lào và chính phủ Trung Quốc”. Dự án rộng 174.000 m2 này được ban cho một điều kiện nhượng quyền hoạt động trong 50 năm và với mức phí được cho rằng vào khoảng 18 triệu Mỹ kim khi hoàn thiện. Theo ông Ding Guo Jiang, người cũng đang là giám đốc điều hành toàn bộ dự án, trung tâm thương mại mới này sẽ bao gồm một khách sạn, nhà nghỉ, công viên, các nhà hàng và một chợ bán thức ăn tươi sống.

Trung tâm Hữu nghị Lào-Trung là trung tâm thương mại thứ ba được thiết lập giữa chính phủ Lào và chính phủ Trung Quốc. Hai cơ sở kia là Trung tâm Thương mại Boten Border và siêu thị Trung Quốc Nong Duang, cũng đều gây ra tranh cãi. Ví dụ, trung tâm thương mại tại Boten ở tỉnh Luang Nam Tha miền bắc Lào chủ yếu gồm có các doanh nghiệp Trung Quốc chuyên bán hàng hóa Trung Quốc cho một loại khách gần như đều là người Trung Hoa. Các chủ doanh nghiệp, chủ cửa hiệu và nhân viên khách sạn đều thuộc tộc người Trung Hoa.

Trong khi đó, các cư dân Lào chính gốc vùng Boten đều bị đẩy tới một khu vực tồi tàn phía dưới xa con đường được Trung Quốc đầu tư xây dựng chạy suốt từ biên giới qua. Cư dân Luang Nam Tha và các nhân viên của tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nước lặng lẽ tố cáo chính phủ đã bán rẻ Boten cho người Trung Quốc, với một số người Lào đoan chắc một cách cay đắng rằng vùng này đã trở thành bộ phận của Trung Quốc.

Có một tình cảm bất mãn ngấm ngầm tương tự về Dự án Phát triển Thành phố Mới trong số những người dân Viên Chăn, kể cả các tầng lớp trung lưu có bản lĩnh đang ngày càng gia tăng. Trong khi họ chỉ tỏ ra quan ngại một cách ôn hòa về sự xâm nhập của Trung Quốc vào khu bắc Lào, thì dự án này đã đem tới bóng ma từ sự thống trị của Trung Quốc ngay trước ngưỡng của nhà họ. Những đồn đại về nạn tham nhũng trong giới chức nhà nước và một thỏa thuận hậu trường cho phép 50.000 người Trung Quốc dời vào sống trong thủ đô đang như đổ thêm dầu vào những phẫn uất trước ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc và về một chính phủ có vẻ đang tiếp tay cho những hành động tồi tệ.

Theo những thông tin từ báo chí Trung Quốc, Bắc Kinh đã đồng ý xoá bỏ phần lớn trong khoản nợ 1,7 tỉ Mỹ kim của Lào vào năm 2003. Điều đó dẫn tới suy đoán rằng dự án phát triển khu đô thị vệ tinh có thể là sự đền đáp lòng tốt cho những cứu trợ tài chính độ lượng của Bắc Kinh. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á, Trung Quốc đã cho vay và tài trợ hàng triệu Mỹ kim cho việc xây dựng, nằm trong số những khoản kiến thiết khác, tuyến đường mới mở từ Boten trên biên giới với Trung Quốc tới Huay Xai nằm trên biên giới Thái Lan. Các khoản cho vay của Trung Quốc cũng được cung cấp nhằm giúp khởi động công ty Lao Telecom Company và Lao Asia Telecom, thiết lập các dự án chính phủ điện tử và mua hai phi cơ tua-bin phản lực cánh quạt MA 60 cho hãng hàng không Lao Aviation.

Một số nhà phân tích cho rằng không phải ai ai trong đảng cộng sản cầm quyền cũng vui lòng về thỏa thuận đó. Bản chất giấu giếm cao độ của nhà nước làm cho vấn đề này hầu như không thể được xác định, song có khả năng là trong ban lãnh đạo có những người không chia sẻ những bổng lộc từ của bố thí của Trung Quốc và họ có thể sẽ không vừa ý với sự thỏa thuận. Theo một nguồn tin thân cận với chính phủ thì sự thoả thuận đã gây nên khó chịu cho nhiều nhân vật nòng cốt của đảng bởi vì họ đã bởi vì họ đã không thuộc nhóm người rất có thế lực chuyên quyết định các chính sách và chỉ khám phá về khu đô thị vệ tinh mới sau khi nó đã được loan báo công khai.

Lẽ dĩ nhiên, nước Lào thông thường hầu như không có điều kiện cho phép những hành động phản kháng. Song sự bất mãn đang sôi sục là đủ lớn để cho chính phủ phải có hành động giải thích công khai hiếm có cho những việc làm của mình vào cả tháng Hai và tháng Ba. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn là nhạy cảm, và nhiều người ở Viên Chăn, cả người Lào lẫn nhân viên người nước ngoài, đều không sẵn lòng thảo luận về chương trình phát triển gây tranh cãi này.

Các nhân viên NGO đã được các giới chức chính phủ nhắc nhở rằng không được ám chỉ dự án như là “thành phố Trung Quốc”. Người phát ngôn của chính phủ, ông Yong, tỏ ra cởi mở hơn về chương trình phát triển. “Đó là một bất động sản và là dự án phát triển công nghiệp được giao cho đối tác Trung Quốc được nhượng quyền kinh doanh, không có gì khác hơn thế.” Đối với ông Yong, tuyên bố này là một sự thừa nhận thực tế về sức mạnh kinh tế đang gia tăng của Trung Quốc. “Đó là điều cơ bản. Một số người không sẵn sàng sống với tình hình mới. Chúng ta giờ đây có những tay chơi mới.”

Brian McCartan là một nhà báo tự do sống ở Chiang Mai.

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Posted in Trung Quốc | Thẻ: , | 1 Comment »

Mở rộng điều tra vụ in tiền polymer(liên quan VN)

Posted by adminbasam trên 23/06/2009

Sydney Morning Herald

Việc điều tra những thỏa thuận in tiền giấy

Nick McKenzie Richard Baker

Ngày 22-6-2009

 

Cảnh sát Liên bang Úc [AFP] đang bắt đầu một cuộc điều tra trên quy mô lớn về những nghi vấn rằng một công ty con của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Úc (Reserve Bank của Úc) đã tham dự vào dịch vụ thương mại sai trái liên quan tới nước ngoài để giành cho được các hợp đồng in tiền giấy.

Hành động của ban kinh tế và tác vụ đặc biệt của Cảnh sát Liên Bang Úc đang diễn ra để khởi đầu cho một cuộc điều tra trên bình diện rộng sau khi có  một cuộc điều tra sơ khởi kéo dài ba tuần của một nhóm nhỏ các nhân viên cảnh sát liên bang.

Ngân hàng Dự Trữ Liên bang đã hỏi ý kiến Cảnh sát Úc vào tháng trước để đánh giá những sự tiết lộ trên tờ báo Herald rằng Secureancy Pty Ltd, một công ty in tiền do Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Uc (RBA ) sở hữu một nửa bị cáo buộc đã chi trả những khoản hoa hồng rất hậu hỉnh cho những thương gia nước ngoài có quan hệ mật thiết và những người nầy đã từng giúp cho họ giành được nhiều hợp đồng.

Một trong số những người nước ngoài này trước đây đã từng bị liên quan vào các cuộc điều tra về tham nhũng trong chính quyền ở châu Phi và châu Á, và một số tiền hoa hồng đã được trả vào những tài khoản không khai báo vì thế chủ nhân của các tài khoản nầy không bị đóng thuế lợi tức trên món tiền gởi ngân hàng hoặc chỉ đóng thuế rất thấp. [1]

Các nhân viên cảnh sát cao cấp ở Canbera đã phê duyệt một kế hoạch tiến-dẫn cần phải làm gì để bắt đầu một cuộc điều tra rộng lớn với nhiều nhân viện đặc vụ được bổ sung và nhiều kinh phí hơn, sau khi các đặc vụ tại Melbourne hoàn tất việc đánh giá thông tin tài chính và thực hiện các cuộc điều tra sơ bộ.

Cảnh Sát Liên Bang Úc đã xác nhận với các nhà báo của tờ báo Herald rằng vụ việc của Securency đã được tiến hành từ một giai đoạn đánh giá cho tới một cuộc điều tra, song đã từ chối bình luận thêm về vụ việc.

Quyết định của Cảnh sát Liên bang Úc để thực hiện một cuộc điều tra trên quy mô rộng lớn sẽ tạo thêm sức ép ngày càng tăng lên Ngân hàng Dự trữ Liên Bang Úc Reserve Bank để ngân hàng nầy phải giải thích xem liệu họ có biết gì về, và có chấp thuận không, về những hoạt động của công ty Securency, là công ty chuyên in ra tiền bằng (loại giấy) polymer đã từng được sử dụng ở Úc, Nigeria và Việt Nam và 23 quốc gia khác.

Cuộc điều tra công ty Securency đã phát hiện ra rằng những người trong nội bộ công ty này đã liên quan tới việc chi trả những khoản tiền hoa hồng cho các đại lý ở nước ngoài với những bối cảnh (câu chuyện) rất đáng ngờ đã làm gia tăng thêm sự phơi bày về các lời tình nghi về các hành động tham nhũng ở công ty Securency này, ví như các vụ lại quả (hối lộ) cho các quan chức nước ngoài.

Securency đã trả 10 triệu đô la tiền hoa hồng (tiền cò) cho một đại lý của họ ở Việt Nam, công ty CFTD.

Đại lý này đã thuê (trong một thời gian ngắn) con trai của thống đốc ngân hàng trung ương Việt Nam, ông thống đốc nầy là người đã ra quyết định sử dụng tiền polymer của Securency.

Cùng với hàng triệu đô la trong tiền hoa hồng  bao gồm một số chi trả vào các tài khoản ngân hàng ở đảo quốc Seychelles (thuộc Ấn Độ dương), Thụy Sĩ và đảo quốc Bahamas, các nhân viên của Securency đã tới Sudan đề thảo luận các thỏa thuận tiềm năng.

Hoa Kỳ đã cấm những thỏa thuận mua bán với quốc gia Sudan này vì những mối liên hệ của chính phủ Sudan với hoạt động khủng bố và những vi phạm nhân quyền. Cuộc điều tra của Cảnh Sát Liên Bang Úc chắc chắn sẽ bao gồm cả việc kiểm tra kỹ lưỡng công ty chị em với Securency là Note Printing Australia (NPA), công ty NPA nầy thuộc sở hữu hoàn toàn của Reserve Bank.

Trái ngược với Securency, Note Printing Australia (NPA) đã ngưng thực hiện việc trả tiền hoa hồng (tiền cò) cho các đại lý của họ ở nước ngoài từ năm 2007 do những quan ngại về đạo đức và liêm chính. Công ty in tiền NPA đã cử hai nhân viên tới Iraq vào năm 1998 để thảo luận về các sản phẩm giấy bạc của họ với chế độ Saddam Hussein, bất chấp những trừng phạt quốc tế cấm có những thỏa thuận tài chính với Iraq.

Cả hai công ty in tiền Securency và NPA đều được lãnh đạo bởi trợ lý thống đốc Reserve Bank, ông Robert Rankin, và Ngân hàng Dự Trử Liên Bang Úc (RBA) có một vai trò trong kiểm tra sổ sách tài chánh của hai công ty này.

Chính phủ Liên bang Úc đã yêu cầu mọi người gởi toàn bộ các nghi vấn về công ty in tiền Securency tới cho Ngân Hàng Dự trử Liên Bang (Reserve Bank).

Lãnh đạo của đảng Xanh, Bob Brown, và tổ chức Minh bạch Quốc tế phi chính phủ chống tham nhũng đã yêu cầu Reserve Bank trả lời các câu hỏi về các hoạt động của Securency.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

[1] Theo luật pháp nước ngoài, số tiền gởi vào ngân hàng của mỗi người đều phải được ngân hàng ấy khai báo với (1) sở thuế của quốc gia của chủ nhân tài khoản ấy, và (2) báo cáo với chủ tài khoản về số tiền gởi, và số tiền lời từ món tiền gởi ấy, mục đích để chủ tài khoản khai thuế thu nhập (lợi tức hàng năm) với sở thuế.

Thời điểm: Vào đầu tháng giêng hàng năm, ngân hàng sẽ gởi một bản báo cáo tóm tắt tới địa chỉ của người chủ tài khoản, VÀ gởi thêm một bản tương tự như thế tới sở thuế. Mẫu báo cáo tóm tắt ấy có tên là  1098 – INT.

Dựa theo mẫu báo cáo 1098-INT, sở thuế và người chủ tài khoản biết được số tiền mà người nầy hiện có trong ngân hàng vào thời điểm ấy là bao nhiêu? tiền lời hàng năm của số tiền ấy được ngân hàng trả cho chủ nhân của tài khoản ấy là bao nhiêu tiền?

Số tiền lời nầy được gọi là lợi tức của người có tài khoản ấy. Dựa trên tiền lời đó, và tiền làm việc hàng năm, chính phủ sẽ đánh thuế bao nhiêu phần trăm vào khoản tiền lời…(ít khỏi trả, nhiều quá thì phải trả).

Để thu hút tiền bạc của các nhà giàu thích trốn thuế, tiền bạc của các viên chức cao cấp tham nhũng, tiền bạc của thương gia chi trả cho nhau bằng tiền mặt để tránh sự dòm ngó của các chính phủ,…Ngân hàng Thụy Sĩ thường không dùng mẫu đơn 1098 Int để báo cho chính phủ biết. Đây là một hình thức che dấu nguồn tài chánh (bất chính, tham nhũng, trốn thuế) mà các ngân hàng Thụy Sĩ bảo vệ các thân chủ và nhờ đó mà các ngân hàng nầy nổi tiếng và sống được hàng trăm năm qua.

Việc làm của ngân hàng Thụy Sĩ và các ngân hàng của các đảo quốc ở Bahamas, Caymans, …là dung chứa tội phạm tham nhũng.

——————-

 

Sydney Morning Herald (Australia)

June 22, 2009 Monday
First Edition

Inquiry into banknote deals

Nick McKenzie and Richard Baker

THE Australian Federal Police is launching a full-scale investigation into allegations that a Reserve Bank of Australia subsidiary engaged in improper business dealings overseas to win banknote printing contracts.

The move by the AFP’s economic and special operations division to begin a full inquiry comes after a three-week preliminary probe by a small team of federal agents.

The AFP was asked by the Reserve last month to assess revelations in the Herald that Securency Pty Ltd a bank-note company half-owned by the RBA had allegedly paid lucrative commissions to shady, well-connected overseas businessmen who helped it win contracts.

Some of these foreign agents have previously been implicated in official corruption inquiries in Africa and Asia, and some commission payments have been paid into tax haven accounts.

Senior police officials in Canberra approved a recommendation to begin a major inquiry with additional agents and resources, after agents in Melbourne finished assessing financial intelligence and conducting preliminary inquiries.

The AFP confirmed to the Herald that the Securency case had progressed from an assessment phase to an investigation, but declined to comment further. The AFP’s decision to commit to a full-scale investigation will add to the growing pressure on the Reserve Bank to explain if it knew of, and approved, the activities of Securency, which makes polymer bank notes used in Australia, Nigeria, Vietnam and 23 other countries.

The investigation into Securency revealed that company insiders were concerned that the payment of commissions to overseas agents with questionable backgrounds increased the company’s exposure to allegations of corrupt practices, such as kickbacks to foreign officials.

Securency paid $10 million in commissions to its agent in Vietnam, CFTD. The agent briefly employed the son of the Vietnam central bank governor who made the decision to use Securency’s plastic notes.

Along with millions of dollars in commissions including some paid to accounts in the Seychelles, Switzerland and the Bahamas Securency officials have travelled to Sudan to discuss potential deals.

The US has banned dealings with Sudan because of its links to terrorism and human rights abuses. The AFP investigation is likely to include scrutiny of Securency’s sister company, Note Printing Australia, which is fully owned by the Reserve Bank.

In contrast to Securency, Note Printing Australia (NPA) stopped making commission payments to its foreign agents in 2007 due to integrity concerns. NPA sent two employees to Iraq in 1998 to discuss its banknote products with the regime of Saddam Hussein, despite international sanctions banning financial dealings with the country.

Securency and NPA are both chaired by the Reserve Bank’s assistant governor, Robert Rankin, and the RBA has a role in auditing both companies.

The Federal Government has referred all questions about Securency to the Reserve Bank.

The Greens leader, Bob Brown, and the anti-corruption NGO Transparency International have demanded the Reserve Bank answer questions about Securency’s operations.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng | Thẻ: , , , | Leave a Comment »

Xe gắn máy động cơ điện kỹ thuật Nano sắp được bán ra ở Việt Nam

Posted by adminbasam trên 22/06/2009

Xe chạy bằng điện hiệu Neue của Texas

Làm thế nào một động cơ điện thuộc loại công nghệ Nano của tiểu bang Texas Hoa kỳ có thể thay đổi bộ mặt đường phố ở Việt  Nam

By Matt Steinglass – GlobalPost

Ngày 21-6-2009

 

HÀ NỘI – Thật là khó khăn để tìm được một nơi nào đó ở Hà Nội mà ở đấy bạn không phải nghe tiếng xe gắn máy.

Thành phố nầy có tới 1,8 triệu con “quái vật” được nuôi bằng xăng, gần như là mỗi hai người dân trong thành phố nầy có một chiếc xe gắn máy.

Xe gắn máy là phương tiện đi lại chính, và là nguồn gốc của hầu hết ô nhiễm không khí chứa chất acid của thành phố nầy.

Một nghiên cứu năm 2006 đã phát hiện là những khách bộ hành ở khu buôn bán Hà Nội đang hít thở những hạt bụi lớn ở mức gần 500 phần triệu (của 1 mm), cao gấp mười lần bản hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới WHO.

Thế nhưng Christian Okonsky, một kỹ sư đến từ Austin, bang Texas, chế được một thiết bị có thể làm thay đổi toàn bộ tình hình đó.

Thiết bị này là một chiếc xe máy chạy điện với một lõi mô tơ bằng hợp chất thuỷ tinh-nano. Kích cỡ của mô tơ này bằng một chiếc đĩa đựng thức ăn, và sức kéo của nó mạnh hơn một động cơ của xe mô tô 600 phân khối.

Công ty của Okonsky, tên là KLD Energy, đang cung cấp loại mô tơ này cho công ty xe máy Việt Nam Sufat và vào cuối năm nay ông Okonsky trông đợi sẽ gây sửng sốt cho Hà Nội bằng một thứ mà người dân ở đây chưa từng thấy trước đây – một chiếc xe ga scooter bằng điện chạy êm ru và sạch sẽ có thể tăng tốc độ từ không cho tới 96 km  một giờ trong vòng chưa tới 10 giây đồng hồ.

Ít nhất, đó là những gì mà chiếc xe kiểu mẫu có thể làm được. Vẫn còn có một vài trở ngại để cải thiện loại xe này.

“Chúng tôi hy vọng làm xong việc hoàn thiện chiếc xe nầy vào cuối năm,” ông Okonsky cho biết vào tháng Năm 2009, khi ông đang ngồi kế bên chiếc xe kiểu mẫu của ông trên vỉa hè, trước cửa văn phòng tại Hà Nội của công ty KLD. “Công nghệ của chúng tôi đang trong bước phát triển.”

Chiếc xe mẫu nầy, mà viên kỹ sư trưởng của KLD Hector Moya vừa mới tháo dỡ ra từ một kiện hàng được gửi đường hàng không từ Hoa Kỳ, đã không chạy được. Okonsky và Moya đang sờ mó để điều chỉnh sửa chửa chiếc xe trong nửa giờ qua.

Nhưng hóa ra là vấn nạn nầy thật là đơn giản – Nhưng hóa ra là vấn nạn nầy thật là đơn giản – bộ phận kiểm soát và điều chỉnh (động cơ) bên trong có mạch vi tính có chứa một chương trình (phần mềm); chương trình nầy cần phải được khởi động lại. Thế rồi sau đó, chiếc xe vận hành tuyệt vời trong mấy ngày liền. Nhưng đến cuối tuần thì bình điện của xe đã bị cháy. (Mời các bạn xem thêm phần comment)

Những việc nói trên là những cơ nguy việc vận hành với thứ công nghệ mới. Nếu như những vấn nạn của bước ban đầu có thể được giải quyết, thì chiếc xe máy điện của KLD, được sản xuất dưới nhãn hiệu “Neue,” có  khả năng ghi lại một dấu tích chính để cải thiện cho bầu không khí ô nhiễm và phát ra khí carbon ở Việt Nam – và còn đi xa hơn nữa.

Okonsky đã chọn Việt Nam làm nơi trình diễn lần đầu tiên công nghệ này vì đất nước này có tỉ lệ cao nhất trên thế giới về số xe máy trên đầu người: 22 triệu xe trong một số dân 85 triệu.

Nếu như những chiếc xe tay ga của Sufat đạt được thành công ở Việt Nam, thì công ty KLD sẽ mở rộng công nghệ này tới các quốc gia đam mê xe máy khác, như Malaysia, Đài Loan và Ấn Độ.

Những chiếc xe máy chạy điện như thế không phải là mới mẻ ở Việt Nam. “Chúng đã được bán ở Việt Nam trong một thời gian dài,” Trần Thế Loan, phó trưởng Ban Kiểm soát Ô nhiễm của Việt Nam cho biết. “Nhưng chúng không có khả năng thâm nhập thị trường.”

Lý do là những chiếc xe chạy điện hiện thời rất yếu không hợp với sở thích của người Việt Nam. Hầu hết chúng được sản xuất tại Trung Quốc, nơi mà nền công nghiệp nầy đạt được thành công sau khi các thành phố như Bắc Kinh và Thượng Hải cấm xe máy chạy xăng vào những năm 1990.

Những chiếc xe gắn máy chạy điện của Trung Quốc có thể chạy liên tục với tốc độ 48 km một giờ, và có thể chạy khoảng đường dài 88 km giữa hai lần sạc bình điện. Vào năm ngoái, dân Trung Quốc đã mua 30 triệu chiếc xe loại này.

Thế nhưng người Việt Nam sử dụng những chiếc xe máy của họ như là một chiếc xe hơi gia đình. Các cư dân thành thị thường đèo ba hoặc bốn người trên một chiếc xe; Còn những người nông dân sử dụng xe gắn máy của họ để chở gà, lợn, và những chiếc tủ lạnh. Và các thanh thiếu niên thích đua xe máy với tốc độ 96 km một giờ.

“Những chiếc xe máy chạy điện không được ưa chuộng ở Việt Nam do, trước hết, chúng chạy quá chậm so với xe chạy xăng,” một người chạy xe ôm ở Hà Nội tên là Dương Văn Hướng cho biết. “Thứ hai, giá quá cao. Thứ ba, bình điện không dùng được lâu. Chỉ những người già mới dùng loại này.”

Ông Hướng cũng không thích một trong chính những điều mà không  một người Việt Nam ưa thích những chiếc xe điện này: xe chạy rất êm không gây tiếng ồn.

“Động cơ điện không gây ra tiếng ồn nào, cho nên nó không thu hút sự chú ý của những người lái xe khác,” ông Hướng nói. “Điều đó rất dễ xảy ra tai nạn.”

Nhà thiết kế đồ hoạ Nguyễn Thắng Trung, 27 tuổi, đã cho biết vấn đề ở chỗ là mẫu thiết kế vụng về của loạt xe điện hiện thời. “Nếu như các nhà sản xuất phát triển nhiều mẫu xe hơn và hình dáng chúng thích hợp hơn cho giới trẻ, và giá cả hợp lý, điều đó sẽ rất tốt,” anh Trung nói.

Những chiếc xe máy mà Sufat và KLD sản xuất có thể giải quyết được tất cả những vấn đề này. Okonsky muốn chế tạo những chiếc bình điện cho loại xe mới này dễ lấy ra lắp vào, nên chúng có thể nạp điện được ở chỗ làm việc, hoặc đổi lấy một bình điện  đã nạp điện đầy tại các trạm bán xăng.

Công ty đang hướng tới những mẫu thiết kế trang nhã, mà mẫu ấy gây chú ý tới sự thiếu vắng của một động cơ nổ. Thậm chí vấn đề tiếng động có thể không là quan trọng nữa: (vì) động cơ của xe Neue phát ra một tiếng vo vo rất mạnh mẽ khi nó tăng tốc.

Tuy nhiên, sự khác biệt chính là những động cơ điện của KLD hoàn toàn mạnh mẽ hơn nhiều so với những động cơ trên những chiếc xe điện truyền thống, bởi vì chúng sử dụng một công nghệ khác biệt.

Những động cơ điện hoạt động do sự thay đổi xen kẽ sự phân cực (bắc/nam) của vài chiếc nam châm, khi thì bắc, khi thì nam, luân phiên nhau qua lại như thế, gây cho bộ phận quạt quay tròn.

Hầu hết các vật liệu đều sinh ra sức nóng (nhiệt năng) mỗi khi có sự thay đổi điện cực, và nếu tần số của sự thay đổi luân phiên nầy tăng lên quá cao, thì động cơ sẽ bị quá nóng (sẽ gây chết máy.)

Thế nhưng vật liệu tinh thể bằng-nano trong lõi động cơ KLD này hiếm khi nóng lên khi có sự thay đổi cực nam châm. Điều đó có nghĩa là động cơ KLD có thể chuyển đổi cực nhanh hơn nhiều, sinh ra nhiều sức  mạnh hơn.

Động cơ KLD rất mạnh và rất nhỏ quá đến nổi nó không cần một hệ thống truyền lực, hay hộp số. Một cách đơn giản, động cơ nầy được lắp vào bánh xe sau của chiếc xe máy, để nó quay tròn một cách trực tiếp, giống như đạp một chiếc xe đạp một bánh.

Bỏ được hệ thống truyền lực làm tiết kiệm năng lượng và cải thiện được độ tin cậy – vì có ít bộ phận bị hư hỏng.

Những chiếc xe mới này dự kiến sẽ được bán với giá giữa 1.500 tới 2.000 đô la Mỹ. Đó là cái giá hợp lý trên thị trường Việt Nam; một chiếc xe máy Honda hiệu Future chạy xăng trung bình được bán với giá 1.700 đô la, trong khi nhiều chiếc xe máy thời trang hơn, ví như Piaggio, Honda SH, được bán với giá 4.000 đô la hoặc hơn.

Thế nhưng mọi thứ còn phụ thuộc vào việc người tiêu dùng hiểu biết xe máy của Việt Nam sẽ phản ứng ra sao trước những loại xe máy tay ga chạy điện đời mới này. Hầu hết người Việt từng nghe về chiếc xe này đều giữ một thái độ chờ đợi để được tận mắt chứng kiến.

“Phản ứng chủ yếu theo tôi nghĩ là cũng tương tự như phản ứng của nhiều người ở Hoa Kỳ có, với một mức độ nào đó, nghĩa là: Chiếc xe loại nầy có khả năng tồn tại được không, và nó không thực sự làm thay đổi lối sống của họ, thì họ vui vẻ chấp nhận nó,” ông Okonsky nói. “Nếu họ có thể nạp điện (một cách dễ dàng) và có thể làm những việc tương tự mà họ đang làm hiện nay với những chiếc xe gắn máy chạy xăng của họ, và giá cả tương tự, thì họ vui vẻ dùng nó.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

——————————————–

 

GlobalPost

All-electric, all-Texas

By Matt Steinglass – GlobalPost

Published: June 21, 2009 11:04 ET
Updated: June 21, 2009 22:52 ET

HANOI — It’s hard to find a place in Hanoi where you don’t hear motorbikes.

The city has 1.8 million of the gasoline-powered beasts, roughly one for every two inhabitants. They are the dominant mode of transit, and the source of most of the city’s caustic air pollution. A 2006 study found pedestrians in downtown Hanoi breathe particulate matter levels of almost 500 parts per million, ten times higher than WHO guidelines.

But Christian Okonsky, an engineer from Austin, Texas, has a device that could change all that.

The device is an electric motor with a nano-crystalline core. It is the size of a casserole dish, and more powerful than a 600cc motorcycle engine. Okonsky’s company, KLD Energy, is supplying the motor to the Vietnamese motorbike company Sufat and by the end of the year he expects to startle Hanoi with something it has never seen before — a clean, quiet electric scooter that can accelerate from zero to 60 miles per hour in under 10 seconds.

At least, that’s what the prototype can do. There are still a few kinks to work out.

“We’re hoping to have it done by the end of the year,” Okonsky said in May, sitting next to his prototype on the sidewalk in front of KLD’s Hanoi office. “Our technology is on pace.”

The prototype, which KLD’s lead engineer, Hector Moya, had just unpacked from a crate air-freighted from the U.S., was not working. Okonsky and Moya had been fiddling with it for half an hour.

As it turned out the problem was simple — the software on the computerized motor controller had to be rebooted. After that, the bike ran perfectly for several days. But by the end of the week, its battery had burnt out.

Such are the perils of working with new technology. If the teething problems can be solved, KLD’s electric motor, produced under the trademark name “Neue,” could make a major dent in air pollution and carbon emissions in Vietnam — and beyond.

Okonsky picked Vietnam to debut the technology because it has the world’s highest ratio of motorbikes per person: 22 million motorbikes in a population of 85 million. If Sufat’s electric scooters take off in Vietnam, KLD will spread the technology to other motorbike-crazy countries, like Malaysia, Taiwan and India.

Electric motorbikes, as such, aren’t new to Vietnam. “They have been sold in Vietnam for a long time,” said Tran The Loan, deputy director of Vietnam’s Department for Pollution Control. “But they have not been be able to penetrate the market.”

The reason is that current electric motorbikes are underpowered for Vietnamese tastes. Most are made in China, where the industry took off after major cities like Beijing and Shanghai banned gas-powered motorbikes in the 1990s. Chinese electric scooters can do a solid 30 miles per hour, and can go up to 55 miles between recharges. Last year Chinese bought 30 million of them.

But Vietnamese use their motorbikes as the equivalent of a family car. Urban residents routinely ride three or four to a bike; farmers use their motorbikes to haul chickens, pigs, and refrigerators. And teenagers like to drag-race them at 60 miles per hour.

“Electric motorbikes are unpopular in Vietnam because, first of all, they’re much slower than gas engines,” said Hanoi motorbike taxi driver Duong Van Huong, 40. “Second, the price is too high. Third, the batteries don’t last long. Only old people use them.”

Huong also dislikes one of the very things non-Vietnamese like about the electric scooters: the quiet.

“The motor doesn’t make any noise, so it doesn’t attract attention from other drivers,” Huong said. “It’s easy to get into traffic accidents.”

Graphic designer Nguyen Thang Trung, 27, said the problem was the ungainly designs of the current crop of electric motorbikes. “If manufacturers develop more designs and forms suitable suitable for young people, and the price is reasonable, it will be good,” Trung said.

The bikes Sufat and KLD make could solve all of these problems. Okonsky wants to make the new bikes’ batteries easily removable, so they can be recharged at work, or exchanged for fully loaded ones at gas stations. The company is coming up with elegant designs that accentuate the absence of a combustion motor. Even the noise issue may not be relevant: the Neue motor generates a powerful whirr when it revs up.

The main difference, though, is that KLD’s electric motors are simply much stronger than those on traditional electric scooters, because they use a different technology. Electric motors work by alternating the polarity of several magnets back and forth, causing a rotor to spin. Most materials release heat each time their polarity shifts, and if the frequency of alternation goes too high, the motor will overheat.

But the nano-crystalline material at the core of a KLD motor scarcely heats up when its polarity shifts. That means the motor can alternate much faster, generating more power. The KLD motor is so strong and so small that it doesn’t need a drivetrain, or gears. It is simply built into the motorbike’s rear wheel, which it turns directly, like pedaling a unicycle. Eliminating the drivetrain saves energy and improves reliability — there are fewer parts to break down.

The new bikes are slated to sell for between $1,500 and $2,000 U.S. dollars. That’s a reasonable price in the Vietnamese market; a mid-range Honda Future gas-powered bike sells for $1,700, while more chic bikes, such as the Piaggio Honda SH, sell for $4,000 or more.

But everything will depend on how Vietnam’s motorbike-savvy consumers react to the new electric scooters. Most Vietnamese who’ve heard about the bikes have taken a wait-and-see attitude.

“The main reaction is I think the same reaction that a lot of people in the U.S. have at some level, which is: if it’s viable, and it doesn’t really change their lifestyle, they’re happy to do it,” Okonsky said. “If they can recharge (easily) and can do the same things that they currently do with their gas scooters, and the cost is similar, they’re happy to do it.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Ý kiến của Giám Đốc Hiệp Hội Báo chí ĐNA…

Posted by adminbasam trên 21/06/2009

Asia Times Online 

Chính Quyền Việt Nam bắt giữ một người hay chõ mũi vào chuyện của kẻ khác

Roby Alampay

20-6- 2009

Người dịch : Trần Hoàng

 

Băng Cốc, Thái Lan – Trên bề mặt, chẳng có gì mới mẻ về cuộc bắt bớ một luật sư nổi tiếng của chính quyền Việt Nam hôm 13-6 vì các tội trạng luôn luôn thuộc về tuyên truyền chống lại nhà nước. Lê Công Định được giáo dục ở Mỹ – ông ta có một bằng cao học luật của Viện Đại Học Tulane (tiểu bang Louisiana) – và tham gia vào nhóm các luật sư quốc tế và các luật sư bênh vực cho nhân quyền và dân chủ.

Điều dễ hiểu nhất trong việc bắt giữ ông Định là dựa vào sự quan sát bình thường cho thấy rằng chính phủ Viêt nam đã quyết định và thực hiện việc bắt giữ (người) thêm lần nữa. Chính phủ đã và đang bắt giữ một người chịu ảnh hưởng của phương Tây đang đi rao giảng sự thay đổi. Việc bắt giữ ông Định là cọng thêm vào một danh sách của một nhóm 30 người bất đồng chính kiến, bao gồm các nghệ sĩ, các nhà hoạt động cho tôn giáo, các nhà văn mà Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế nói rằng những người nầy đã và đang nhận được những bản án tù lâu năm kể từ năm 2006.

Tuy nhiên, điều quan tâm của quốc tế và bên trong nước về việc bắt ông Định thì ở trên một mức độ khác. Việc bắt giữ một nhân vật thường hay phát biểu thẳng thắn thì không phải là chuyện mới lạ gì. Những lời buộc tội chống lại ông Lê Công Định đang gây  khó khăn cho chính quyền vì một lý do liên quan đặc biệt tới thế đứng của ông ta trong xã hội Việt Nam, vị thế ấy là: ông Định không phải là một nhà bất đồng chính kiến.

Ông Định chỉ mới 41 tuổi và đã thành công, với việc hành nghề luật sư đang phát triển mạnh và lập gia đình với một hoa hậu, Ông Định có thể được xem như là một thành phần của nhóm cầm quyền. (vậy thì) Điều gì đã và đang làm ông tách xa (khỏi nhóm cầm quyền) thì không liên quan nhiều tới việc bênh vực công khai của ông ta dành cho sự đổi mới và cải cách, mà chính là niềm tin của ông ta vào các nguyên lý đã lựa chọn. Chính các nguyên lý tương tự đó đang làm cho những lời buộc tội chống lại ông ta không còn ý nghĩa nữa.

Ông Định đã và đang bênh vực rất nhiều cho dân chủ, và các quyền của người Việt Nam. Ông đã và đang đứng bên trong các giới hạn thuộc quyền của ông với tư cách là một luật sư ở Việt Nam. Khi ông biện hộ cho các blogger, các nhà văn và các nhà hoạt động nhân quyền, ông Định không viết hay dựa vào các quan điểm bên ngoài Việt Nam hay tổ chức các cuộc vận động bên trong nước.

Ông Định được biết đến vì lối nói chuyện đơn giản và rõ ràng của một luật sư, ông bàn cãi và thảo luận thuần túy từ những gì ở trong hiến pháp của Việt Nam. Sự biện hộ và bênh vực của ông là tuân thủ theo luật pháp.  Ông chỉ rõ rằng quyền phát biểu tự do được diễn đạt và được vinh danh một cách hiển nhiên ở trong hiến pháp, cùng với quyền tự do báo chí và tự do thành lập hội đoàn.

Nơi nào mà các nhà bất đồng chính kiến bắt bẻ rằng những bảo đảm hợp pháp dành cho quyền tự do diễn đạt tư tưởng là chỉ có trên danh nghĩa, con người luật sư ở trong ông Định được người ta biết làm việc với hàm ý đó, “ điều đó là hợp lý, tôi đồng ý là vậy, nhưng chúng ta có thể chịu đựng chuyện nầy đến đâu.”  Ông Định đã và đang bảo vệ các thân chủ của ông dựa trên cơ bản hợp lý tương tự mà qua đó các nhà báo và các blogger ở Việt Nam nói rằng sự thay đổi có thể, sẽ, và trên thực tế đang diễn ra rồi, bằng chứng là trên mạng internet.

Làn Sóng của sự Cởi Mở

Mặc cho các hạn chế, sàng lọc tin tức và ngăn chận các trang mạng, sự cởi mở đang phát triển trên mạng internet thì có thể nhìn thấy, nghe thấy, và nhận thấy được ở Việt Nam. Thông qua các blog và các phương thức mạng trực tuyến, những người Việt Nam  đang nói nhiều về các đề tài như tham nhũng, cải cách kinh tế và tôn giáo. Rõ ràng là vẫn còn có những biên giới, nhưng thật là chính xác đối với những ai đang tự họ vượt qua đường biên giới nầy (ý thức hay không có ý thức), ông Định trở nên được người ta biết đến như là một người đại diện cho tập thể ấy và ông là người đáng tin cậy.

Những gì mà các blogger và các nhà văn muốn tin vào internet, ông Định dường như đang cố gắng để chứng minh trong lãnh vực luật pháp. Ghi nhận sự đàn áp đã được hệ thống hóa của đảng Cộng sản đang nắm  quyền hành, sự cam kết của luật sư Định để làm việc từ bên trong hệ thống nầy  có tính chất vô giá và không dễ dàng gì để đạt được.

Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) bênh vực cho các quyền của con người đóng ở Mỹ ghi nhận rằng “hầu hết các tù nhân chính trị và tù nhân các tôn giáo ở Việt Nam không có quyền tiếp xúc với các luật sư độc lập suốt thời gian xử án của họ”. Cùng lúc ấy, “Các luật sư nào khác tìm cách để bảo vệ cho các bị can (hoạt động cho nhân quyền của người Việt Nam và các nhà hoạt động cho tôn giáo) thì lại đối diện với sự hăm dọa và quấy nhiễu (của chính quyền).”

Tổ chức Giám sát Nhân Quyền (HRW) thuật lại trường hợp của “luật sư Bùi Kim Thành, bà ta bị chính quyền cưỡng chế và giam giữ  trong một bệnh viện tâm thần vào năm 2008 và năm 2006 bởi vì hành động bảo vệ của bà dành cho các nông dân tìm kiếm sự bồi thường vì  (nhà nước) tịch thu đất đai của họ” .

Ở mức độ nầy, ông Định không phải là người đầu tiên mà cũng không phải là người duy nhất đối diện với sự quấy nhiễu của chính quyền. Năm 2007, các thân chủ của ông Định là hai nhà luật sư quen biết (LS Đài và LS. Công Nhân), và ông Định đã biện hộ thành công để có được các bản án tù ngắn hơn sau khi hai luật sư nầy đã bị phạt tù trước đó vì tội “Tuyên truyền chống lại nhà nước”.

Ông Định trước đó đã thành công làm nhẹ các bản án tù cho các đồng nghiệp của ông, và đó là một loại chiến thắng có tính chất đạo đức đã hổ trợ cho ông Định. Nhưng đây là phiên tòa đang chờ đợi của chính ông – sự bắt giữ một người khác nổi tiếng nhất ở Việt Nam vì hay chõ mũi vào chuyện của người –  phiên tòa nầy đang nhấn mạnh tới sự thắng hay thua sau cùng (của ông).

Chính quyền Việt Nam cho rằng ông Định “đã lợi dụng công việc của ông ta với tư cách là một luật sư bảo vệ cho một số bọn phản động…để tuyên truyền chống lại chế độ và xuyên tạc luật pháp và hiến pháp của Việt Nam”.

Tổ chức Bảo vệ quyền Tự Do Truyền Thông ở Đông Nam Á (SAMLDN), một tổ chức của các nhà bảo vệ cho ngành truyền thông được độc lập của khu vực này, cho rằng Việt Nam đang hình sự hóa một cách hiệu quả sự bó buộc có tính chất nghề nghiệp của luật sư để biện hộ cho các thân chủ của ông Định. Bằng cách tuyên phạt những lời biện hộ của ông Định dành cho quyền tự do phát biểu ý kiến, bao gồm những ai đã lên tiếng biện hộ bên trong tòa án và bên trong quá trình thưa kiện, (khi làm thế) chính quyền đang quấy nhiễu nguyên cả khối luật gia và làm cho cả nước Việt Nam không còn có được sự bảo vệ nữa.

Không phải chỉ có người Việt Nam sẽ lo lắng. Việt Nam đang nhận lãnh trách nhiệm chủ tịch Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (7 nước) vào năm 2010, đúng vào lúc hiệp hội nầy đang lên lịch làm việc để đưa lên bàn họp lần cuối cùng về một dự án dành cho việc  thành lập một tổ chức về nhân quyền đang thành hình. Vì chưa có một nước nào có thể quyết định chuyện tổ chức nhân quyền đó sẽ là một hội đồng, một ủy hội, một tòa án, hay một bàn làm việc trong một văn phòng nho nhỏ, phương hướng và sự tiến bộ của tổ chức nhân quyền nầy phụ thuộc cao độ vào ước muốn chính trị.

Lối đối xử của chính quyền Việt Nam dành cho ông Định tiên đoán được ý kiến không ưa thích hay sự bất hạnh về khả năng phát triển và tính chất thực dụng của tổ chức nhân quyền ấy. Một số người cho rằng các động lực của việc bắt giữ ông Định có thể không nhất thiết đưa ra tín hiệu về một sự thắt chặt có tính chất trừng phạt trên toàn cả nước VN, mặc dù việc bắt giữ vào tuần nầy ba nhà hoạt động dân chủ bị cáo buộc về việc bí mật hành động để hợp tác với ông Định đang dương cao ngọn cờ đỏ báo động (về chuyện thắt chặt ấy).

Người ta ngờ rằng các tội chống lại ông Định có nguyên nhân chính trị. Đối với mọi người ông Định đã và đang giúp đỡ — cho quyền của những người nông dân, một sự thách thức đối với việc khai thác mỏ, các khẳng định của Việt Nam về các hòn đảo đang tranh chấp với Trung Quốc, và nhiều vấn đề khác nữa – người ta cho rằng ông Định có nhiều kẻ thù ở nhiều lãnh vực.

Mọi việc đều không đổi, tất cả đều do trách nhiệm một phần nào đó của hệ thống luật pháp không được mang ra thi hành chức năng và  lợi dụng làm phương hại tới cả nước Việt Nam – và khu vực nầy—đã làm nhơ nhuốc và tàn hại quyền tự do ngôn luận và làm nhơ bẩn các báo cáo về nhân quyền.

Bất luận trường hợp nào, người Việt Nam sẽ mất đi một người đàn ông, một người đã từng khăng khăng, cố gắng để thúc đẩy cho một sự thay đổi bên trong chế độ. Giờ đây chính ông đang cần có một luật sư, những triển vọng dành cho mọi người mà ông Định đã đứng lên và tranh đấu ở Việt Nam đã trở thành không còn chắc chắn nữa.

Roby Alampay là giám đốc của Hiệp Hội Báo Chí  Đông Nam Á

—————————————————


Vietnam arrests a pragmatist

By Roby Alampay

BANGKOK – On the surface, there is nothing new about Vietnam’s arrest on June 13 of a prominent lawyer for the usual charges of spreading anti-state propaganda. Le Cong Dinh is American-educated – he obtained has a master’s degree in law from Tulane University – and well-networked with international lawyers and human rights and pro-democracy advocates.

The easiest insight into his arrest is the plain observation that Vietnam has gone and done it again. They’ve arrested a Western-influenced change-monger, adding to some 30 deemed dissidents, including artists, religious activists, writers, that Amnesty International says have received long prison sentences since 2006.

The national and international concern over Dinh’s arrest, however, is quite on another level. The attack on a man so vocal is nothing new. The charges against Le Cong Dinh are troubling for a reason peculiar to his standing in Vietnamese society, which is this: he is not a dissident.

Still only 41 and already successful, with a thriving law practice and married to a beauty queen, Dinh may well be considered part of the ruling establishment. What has set him apart is not so much his open advocacy for reform, but his faith in his chosen platform. It is the same platform that makes the charges against him preposterous.

For as much as Dinh has advocated for democracy, and the rights of Vietnamese, he has stayed well within his prescribed boundaries as a lawyer in Vietnam. When he defends bloggers, writers and human-rights activists he does not write from outside Vietnam or organize campaigns from within the country.

He is known for speaking plainly as a lawyer, arguing purely from what is within the Vietnam constitution. His advocacy, if anything, is for the rule of law. He points out that free expression is stated and ostensibly valued in the constitution, along with press freedom and freedom of assembly.

Where dissidents carp that the legal guarantees for free expression are nominal at best, the lawyer in Dinh is known to have worked with the implicit message, “Fair enough, but let’s see how far we can take this.” He has defended clients on the same premise by which journalists and bloggers in Vietnam say that change can, will, and in fact already does, manifest on the Internet.

Tide of openness
Despite restrictions, filtering and the blocking of websites, the growing openness of the Internet is palpable in Vietnam. Through blogs and other online platforms, Vietnamese are more vocal about topics such as corruption, economic reform and religion. Clearly there are still boundaries, but it is precisely for those who find themselves having crossed the line (wittingly or otherwise) that Dinh became known as a collected and confident representative.

What bloggers and writers want to believe about the Internet, Dinh has seemingly tried to prove within the legal sector. Given the ruling Communist Party’s institutionalized suppression, Dinh’s commitment to work from within the system is invaluable and is not easy to come by.

United States-based rights advocacy group Human Rights Watch (HRW) notes that “most political and religious prisoners in Vietnam do not have access to independent legal counsel during their trials”. Meanwhile, “Other lawyers seeking to defend Vietnamese human-rights defenders and religious freedom activists have faced threats and harassment.”

HRW cites the case of “Bui Kim Thanh, who was involuntarily committed to a mental institution in 2008 and 2006 because of her defense of farmers seeking redress for confiscation of their land”.

On this level, Dinh is neither the first nor the only person facing harassment. In 2007, his clients were two fellow lawyers for whom he successfully pleaded shorter sentences after they had also been effectively penalized for “propagandizing against the state”.

That he had managed to at least shorten the prison terms for his colleagues was the kind of moral victory that sustained Dinh. But it is his own pending trial – the arrest of the most famous pragmatist in Vietnam – that underscores what is finally at stake. The government says Dinh “took advantage of his work as a defense lawyer for a number of reactionaries … to propagandize against the regime and distort Vietnam’s constitution and laws”.

The Southeast Asia Media Legal Defense Network, a network of independent media defenders from around the region, says Vietnam is effectively criminalizing the lawyer’s professional obligation to defend his clients. By penalizing his arguments for free expression, including those uttered within the boundaries of the court and in the course of litigation, they are harassing the whole legal sector and leaving the nation defenseless.

It is not just the Vietnamese who should be worried. Vietnam takes over the chairmanship of the Association of Southeast Asian Nations in 2010, just as the body is scheduled to finally table terms of reference for the formation of a still nebulous human-rights body. Because nobody can yet say whether that “body” will ultimately be a council, a committee, a court, or a desk in some cubicle, its direction and momentum are highly dependent on political will.

The Vietnamese government’s treatment of Dinh augurs ill for the viability of the human-rights body. Some say the motives for Dinh’s arrest may not necessarily signal a wider state-sanctioned clampdown, though the arrest this week of three pro-democracy activists accused of colluding with Dinh raises red flags.

There is speculation that the charges against Dinh are politically motivated. For all he has espoused – farmers’ rights, a challenge to mining operations, Vietnam’s claims over disputed islands with China, among others – he is known to have enemies in many arenas. All the same, it all still redounds to a compromised legal system further exploited at the expense of Vietnam’s – and the region’s – already tarnished free speech and human-rights records.

Whatever the case, Vietnamese will lose one man who was stubborn enough to push for change within the system. Now that it is he who needs a lawyer, the prospects for all he has stood and fought for in Vietnam have become all the more dubious.

Roby Alampay is executive director of the Southeast Asian Press Alliance.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Thẻ: , | Leave a Comment »

Hoạt động blog trên khắp thế giới

Posted by adminbasam trên 20/06/2009

BBC NEWS

Hoạt động blog trên khắp thế giới

Trong một ấn bản đặc biệt, tổ chức World Service programme Digital Planet đã lưu ý đến vai trò của hoạt động blog, kiểm duyệt và nhà báo công dân. Trong đó đặc biệt đề cập đến các blogger ở Việt Nam, Cuba và Trung Quốc

Thứ Năm, ngày 18-6-2009

 

“Có khoảng 18 đến 20 triệu người dùng Internet được ghi nhận ở Việt Nam, trong số đó có từ hai tới ba triệu người đang viết  hoặc đọc blog mỗi ngày,” theo ông Nguyễn Giang, trưởng ban Việt Ngữ đài BBC cho biết.

“Việt Nam có một đội quân blogger vẫn trao đổi thông tin và các quan điểm với nhau, và họ thảo luận tất cả mọi loại chủ đề trên mạng trực tuyến từ chuyện trần tục cho tới vấn đề chính trị,” ông nhận xét thêm.

Dân chúng Việt Nam quan hệ với nhau chặt chẽ trên mạng, còn chính phủ thì tỏ ra quan tâm muốn có mạng internet.

“Đóng góp của chính phủ cho sự phát triển Internet là to lớn,” ông Nguyễn đánh giá.

“Internet băng thông rộng phổ biến ở Việt Nam và các quán cafe Internet cung cấp dịch vụ truy cập internet với giá rất rẻ”.

Americo Martins, biên tập viên tại Mỹ của Ban Thế giới đài BBC, đã nói rằng các blog đang trở nên quan trọng tại Cuba bất chấp cơ sở hạ tầng truyền thông nghèo nàn.

“Thật sự các bạn sẽ rất khó khăn mới vào được mạng internet cho hoàn hảo và rất ít người được quyền sử dụng máy tính.

“Tôi tới Cuba năm ngoái và đã rất vất vả để cố lên mạng internet.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nghèo nàn đã làm cho những người Cuba trở nên tinh thông trong việc chế tạo ra những cách đi vòng (qua khó khăn) để giải quyết vấn đề của họ.

“Các sinh viên bán cách truy cập internet của họ cho những người hàng xóm và họ cũng lại làm tương tự đối với các cán bộ nhà nước,” ông Martins cho biết.

“Một số lượng kha khá người Cuba có cách truy cập internet, thường là bằng cách sử dụng những thủ thuật bất hợp pháp và chuyện này đang trở nên phổ biến hơn,” ông nói thêm.

Hoạt động blog cũng đang bùng nổ ở Trung Quốc, nơi mà giờ đây có lượng người sử dụng mạng trực tuyến đông nhất thế giới.

“Đúng hơn một phần tư dân số tham gia vào mạng trực tuyến theo một cách này hay cách khác và khoảng 150 triệu blog hoặc những người dõi theo các nội dung trên blog,” theo lời ông Shirong Chen, biên tập viên ban Trung Quốc của đài BBC.

“Dân chúng không chỉ đang tham gia vào hoạt động blog vì những chuyện cá nhân của họ mà họ còn đưa vào blog những chuyện chính trị, cũng như những nội dung nhạy cảm.

“Bạn có thể tìm được mọi chủ đề và lời khuyên trong thế giới blog Trung Quốc,” ông nói.

Ngăn chặn và kiểm duyệt

Bất chấp tính phổ biến của hoạt động blog, nhiều người sử dụng mạng phải đối mặt với những hạn chế về những điều mà họ có thể đọc và nói được trên mạng trực tuyến.

Trung Quốc đang có những kế hoạch đưa những hệ thống lọc thông tin vào các máy tính cá nhân mới được sản xuất để từ đó sẽ hạn chế việc truy cập vào nội dung khiêu dâm hoặc bạo lực.

Nhiều người nghi ngờ rằng việc này là một cách khác để tránh cho dân chúng không tiếp cận được những nội dung nhạy cảm hoặc nội dung có ý kiến chính trị khác biệt.

“Các nhà chức trách Trung Quốc đã trở nên tinh vi hơn trong việc ngăn chặn các hoạt động trên internet,” ông Chen nhận xét.

“Chính quyền Trung Quốc đặt ra những nhóm người làm việc (trong các ban bộ kiểm duyệt) để đảm bảo rằng nội dung nhạy cảm sẽ không được công bố và giờ đây họ đang yêu cầu những nhà sản xuất máy tính cá nhân cài đặt phần mềm để ngăn chặn việc truy cập vào những trang web nào đó và có khả năng ngăn chận kể cả một số blog nào đó.

“Phần mềm này sẽ có khả năng chặn những địa chỉ trang web cụ thể và các câu văn cụ thể theo cách chúng được viết vào trong mã nguồn.

“Họ không chỉ chặn các thông tin hay yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ internet loại bỏ các thông tin đó ra khỏi mạng trực tuyến, việc mà họ đã làm trong tuần kỷ niệm cuộc tàn sát ở Thiên An Môn, khi người Trung Quốc bắt đầu chặn các mạng xã hội như Twitter, Flickr và một số blog,” ông Chen nói.

“Trên thực tế một blogger đã nhận ra rằng blog của anh ta đã bị chặn bởi những người bạn gửi tin nhắn cho anh và hỏi vì sao họ không đọc được nó.

“Bản thân của các blogger đã trở nên sành sỏi hơn và đang cố tránh những sự kiểm duyệt và tránh các hệ thống lọc kỹ thuật bằng cách sử dụng dấu chấm hoặc dấu nối ở khoảng giữa các câu văn,” anh cho biết thêm. *

“Ở Trung Quốc và Việt Nam quí vị nhìn thấy một hệ thống cố kiểm soát về mặt chính trị những gì được đề cập đến ở đó, thế nhưng dân chúng được vào mạng internet,” ông Martins nói.

“Tại Cuba thì lại có một câu chuyện hoàn toàn khác, bạn nhìn thấy có rất ít người sử dụng blog, điều này làm cho các nhân viên an ninh có lợi thế để biết ít nhiều rằng ai là những người đang sử dụng blog, vì thế nhân viên an ninh đôi khi hăm doạ và hành hung (người sử dụng blog).

“Một số người sử dụng blog bị bắt hoặc các nhân viên an ninh cố làm mất uý tín các blogger bằng cách nói rằng các blogger nhận tiền của Hoa Kỳ (để viết blog).

“Về lý thuyết bạn có thể đưa lên blog mọi thứ và nhiều người làm vậy cho tới khi chính quyền thực sự bắt đầu gây sức ép lên một số người đó,” ông nói.

Blogger nổi tiếng nhất ở Cuba là một phụ nữ được gọi là Yoani Sanchez, từng viết những câu chuyện về cuộc sống hàng ngày của cô trên một trang web có tên là “Generation Y”.
“Bản thân Sanchez không có điều kiện truy cập vào blog, nhưng cô đã gửi thư điện tử (email) các bài viết cho bạn bè ở nước ngoài và chính những người nầy đưa chúng lên blog cho cô bằng tiếng Tây Ban Nha rồi dịch ra vài ngôn ngữ khác,” ông Martin kể.

“Blog cá nhân nầy có sức mạnh ghê gớm ở một xứ sở như Cuba, và cô đã trở thành một nhân vật gây ấn tượng đến người khác bởi vì cô viết về cuộc sống hàng ngày của cô và đó chính là điều chọc tức chính quyền.

“Hoạt động hàng ngày của người Cuba được phơi bày lên cho báo chí thế giới, tình trạng thiếu  lựa chọn của họ (trong nhiều lãnh vực) và thiếu  hàng hóa để mua sắm của họ, cô đã trở thành một người nổi tiếng vì đã phơi bày những điều ấy và phô bày cho thấy đời sống khó khăn hiện tại ở Cuba ra làm sao.”

Cô Sanchaz đã được tạp chí TIME bình chọn năm 2008 như là một trong những người có ảnh hưởng nhất trên thế giới [(mời bấm vào xem blog của cô, nó được TIME bình chọn là một trong 25 blog hàng đầu năm 2009)] mặc cho thực tế rằng cô có ảnh hưởng ở nước ngoài và chỉ nổi tiếng đối với công an, Nhà nước và những thế lực kiểm soát hệ thống internet ở Cuba.

“Chính phủ Việt Nam đã và đang học được nhiều từ Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cách kiểm soát phương tiện truyền thông,” ông Nguyễn nhận xét.

“Chính phủ nước này đã làm ngơ trong 10 năm qua bởi tiền đề mà dựa trên đó để cải cách Việt Nam, chúng tôi chỉ mới mở cửa  về mặt kinh tế.

“Họ thừa nhận rằng công nghệ và internet là một bộ phận của nền kinh tế, cho nên họ bỏ qua việc kiểm soát hoàn toàn internet,” ông cho biết thêm.

Hoạt động blog xuất phát từ Nhà nước

Nhiều blogger chính trị nổi tiếng ở Việt Nam, ví dụ như “ChangeWeNeed” và “Osin”, được mọi người nghĩ rằng họ có những nguồn tin ở cấp cao bên trong chính quyền và những nhân vật cao cấp nầy tiết lộ những vụ bê bối chính trị.

Họ là ai, hoặc có bao nhiêu người đứng đằng sau blog “ChangeWeNeed” vẫn còn là một điều bí mật, thế nhưng họ khẳng định là đã gặp gỡ những nhà lãnh đạo quân sự của Việt Nam.

Blog nổi tiếng khác có tên là “Dòng Sông Xanh”, blog nầy đã chỉ ra tất cả những nhà chính trị và quan chức chính quyền đang lái dụng những chiếc xe hơi đắt tiền.

“Blogger đó đã kể tên nhiều người và chính quyền đã không có bất cứ động thái nào để phủ nhận chuyện này,” ông Nguyễn giải thích.

“Dường như các blogger nầy đang ở chức vụ rất vững vàng trong hệ thống Cộng sản ở Việt Nam và có được quyền để tiếp cận thông tin.

“Nhiều blogger làm việc cho Nhà nước và truy cập internet qua các máy tính của chính chính quyền,” ông cho biết.

Tại Trung Quốc, người dân được khuyến khích viết blog để đồng cảm với chính quyền.

“Những blog này một phần xuất phát những người tin tưởng vào hàng ngũ chính quyền, thế nhưng cũng có những bài báo nói về những người mà nhiệm vụ của họ là để “cấy” các blog vào trong thế giới của các blog, để thúc đẩy chính quyền theo hướng mà họ muốn,” ông Chen phân tích.

“Một số blog tỏ ra khéo léo, song có một số nói thẳng về đường lối của đảng.

“Nhiều bllogger đang sử dụng blog của họ như là một thứ vũ khí chính trị để chiến đấu cho tự do và các quyền của chính họ,” ông nói.

Đời sống hai mặt

Ở Việt Nam, nhiều nhà báo đã và đang trở nên hiểu biết rõ về tiềm năng mạnh mẻ của các blog.

“Vào ban ngày, một số blogger có thể làm việc cho các tờ báo của nhà nước, họ viết  những bài báo có nội dung giống nhau để tán dương chính phủ làm những công việc rất tốt đẹp, thế nhưng vào ban đêm họ viết vào những blog của riêng họ với nội dung hoàn toàn khác,” theo lời ông Nguyễn.

Còn theo ông Martins: “Các blogger đang trở nên có ảnh hưởng nhiều hơn và quí vị  có nhiều nhà báo viết blog từ hệ thống truyền thông truyền thống đã quyết định hoặc là từ bỏ mọi thứ hoặc là hướng tới những cuộc sống hai mặt.”

“Họ đang trở nên có ảnh hưởng hơn bởi vì họ đưa ra một quan điểm khác biệt và thông tin khác biệt, các thứ thông tin và quan điểm mà các phương tiện truyền thông nhà nước không đề cập đến,” ông nhận xét.

Digital Planet là chương trình phát thanh và truyền hình của Ban Thế giới Đài BBC phát vào thứ Ba, 12 giờ 32 phút và phát lại vào 16 giờ 32 phút, 20 giờ 32 phút và vào thứ Tư lúc 0 giời 32 phút giờ GMT. (lấy giờ nầy và + thêm 7 giờ = giờ ở VN)

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

* Thay vì viết Thiên An Môn thì sẽ bị hệ thống kiểm duyệt không cho hiện ra các trang viết về các đề tài ấy, các blogger viết tiếng Trung Quốc vào  hộp search của trang  google.com,  bing.com, hoặc của yahoo.com:

Thiên-An-Môn, hoặc Thiên.An.Môn.

Hai cách nầy đi vòng qua hệ thống kiểm duyệt, nhờ thế họ vẫn đọc được các tin bị cấm đọc.

——————————————

 

BBC NEWS

Blogging all over the world

In a special edition, World Service programme Digital Planet looked at the role of blogging, censorship and citizen journalism in a special edition. In particular it considered bloggers in Vietnam, Cuba and China.

Thursday, 18 June 2009

“There are about 18 to 20 million web users registered in Vietnam, of which two to three million are blogging everyday,” said Giang Nguyen, head of the BBC’s Vietnamese service.

“Vietnam has an army of bloggers that exchange information and views, and they discuss all sorts of topics online from mundane stuff to politics,” he added.

The Vietnamese are well connected and the government is keen on the web.

“The government’s contribution to the internet’s development is huge,” said Mr Nguyen.

“Broadband internet is popular in Vietnam and internet cafes provide very cheap internet access”.

Americo Martins, Americas editor for the BBC’s World Service, said blogs were becoming important in Cuba despite the poor communications infrastructure.

“You really have a hard time getting a decent connection and very few people have access to computers.

“I went to Cuba last year and had a really hard time trying to connect to the internet.

The poor technical infrastructure has made Cubans masters in creating workarounds for their problems.

“Students sell their internet access to their neighbours and they also do the same in public offices,” said Mr Martins.

“A good number of Cubans have access to the internet, usually using illegal tricks and it is becoming more popular,” he added.

Blogging is also booming in China, which now has the biggest net using population in the world.

“Just over one quarter of the population goes online in one form or another and about 150 million blog or follow blogs,” said Shirong Chen, editor of the BBC’s Chinese service.

“People are not only blogging for their personal journeys but they blog on political, sensitive stuff as well.

“You can discover all sorts of topics and tips in the Chinese blogosphere,” he said.

Block and censor

Despite the popularity of blogging, many net users face restrictions on what they can do and say online.

China has plans to put filters on new PCs made that will limit access to pornographic or violent content.

Many suspect that this is another way to keep people away from sensitive or dissenting political material.

“The Chinese authorities have become more sophisticated in their blocking of internet activities,” said Mr Chen.

“The Chinese have teams of people to ensure that the sensitive stuff does not get published and they are now asking PC makers to install software to block access to certain sites that could very well include some blogs.

“The software will probably be able to block specific web addresses and phrases as they will be written into the source code.

“They do not just block stuff or ask the internet service providers to take stuff offline, which they have done during the week of the Tiananmen Square anniversary, the Chinese started to block Twitter, Flickr and some blogs,” said Mr Chen.

“In fact one blogger noticed that his blog was blocked by his friends texting him and asking why they couldn’t read it.

“Bloggers are themselves becoming more sophisticated and are trying to avoid the censors and the technical filters by using dot or a hyphen in-between the phrases,” he added.

“In China and Vietnam you have a system that tries to control politically what is mentioned there but people have access to technology,” said Mr Martins.

“In Cuba it is a completely different story, you have very few people blogging to start with, this gives the security people an advantage of knowing more or less who they are, so they go for physical intimidation sometimes.

“Some of them are arrested or they try to discredit the bloggers by saying they receive money from the US.

“In theory you could blog about anything and lots of people do until the government really starts putting pressure on some of these people,” he said.

The best known blogger in Cuba is a woman called Yoani Sanchez who blogs about her daily life on a website called “Generation Y”.

“Sanchez doesn’t have access to a blog herself but has to e-mail the text to friends abroad and it’s them who publish the blog for her in Spanish and translate it into several different languages,” said Mr Martins.

“This aspect of a personal account is very powerful in a place like Cuba, she became a personality because she blogs about her daily life and that’s what annoys the government.

“The daily routine of Cubans is exposed to the press of the world, their lack of choice and lack of things to buy, she became a celebrity by exposing this and showing how difficult life is in Cuba.”

Ms Sanchez was chosen in 2008 by Time magazine as one of the most influential people in the world, despite the fact that she is influential abroad and is only well known to the police, the State and the forces that control the internet in Cuba.

“The Vietnamese government have learnt a lot from the Chinese Communist Party in how to control the media,” said Mr Nguyen.

“The government has overlooked the past 10 years because the premise of the Vietnamese reform, is that we have just opened up the economy.

“They assume that technology and the internet is part of the economy, so they overlooked the whole control of the internet,” he said.

Blogging from the State

Many popular political bloggers in Vietnam, such as “ChangeWeNeed” and “Osin”, are thought to have high-level sources inside government who leak political scandals.

Who or how many people are behind the “ChangeWeNeed” blog remains a secret but they claim to have met with Vietnamese military leaders.

The other well known blog is called “Green River” which has identified all the politicians and government officials who drive expensive cars.

“That blogger has named everybody and the government has not made any move to deny it,” explained Mr Nguyen.

“It seems they are very well placed in the Communist system in Vietnam and have access to info.

“Many bloggers work for the State and access the internet through the government’s own computers,” he said.

In China, people are encouraged to write blogs sympathetic to the government.

“These blogs partly come from those who do believe in the government line but there are also reports of people whose job it is to plant blogs in the blogosphere, to push the government lines,” said Mr Chen.

“Some of the blogs are subtle, but some give the straightforward party line.

“Many bloggers are using their blogs as a political weapon to fight for their own freedom and rights,” he said.

Double life

In Vietnam, journalists have woken up to the potential of blogs.

“During daylight, some of the bloggers may work on government newspapers, they produce the same articles praising the government for doing very good things but at night they write their blogs which is totally different,” said Mr Nguyen.

Said Mr Martins: “Bloggers are becoming more influential and you have a lot of blog journalists from the traditional media that just decided to either give up everything or lead double lives.”

“They are becoming more influential because they offer a different point of view and information that the traditional media doesn’t provide,” he said.

Digital Planet is broadcast on BBC World Service on Tuesday at 1232 GMT and repeated at 1632 GMT, 2032 GMT and on Wednesday at 0032 GMT.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí, Trung Quốc | Thẻ: , , , | Leave a Comment »

TQ đang học từ sự thất bại của Chinalco

Posted by adminbasam trên 18/06/2009

The Age

Trung Quốc sẽ học được những bài học từ sự thất bại của Chinalco

Shujie Yao

Ngày 18-6-2009

 

Thất bại qua thỏa thuận Chinalco-Rio gây tổn thương sâu sắc cho Trung Quốc

Việc mua hãng khai khoáng OZ Minerals của tập đoàn China Minmetals Corp vào tuần trước chỉ là một chiến thắng nho nhỏ cho Trung Quốc sau nỗi thất vọng từ việc hãng Rio Tinto chối từ Chinalco. Với 1,38 tỉ đô la, thoả thuận OZ Minerals là một miếng nhỏ của khoảng 19,5 tỉ đô là mà Chinalco đã đặt lên bàn thương lượng với Rio Tinto trước kia.

Thế nhưng ý nghĩa của việc mua OZ Minarals không nên được đánh giá thấp. Đó là một sự kích thích mang tính tâm lý quan trọng cho những tham vọng muốn đạt được của Trung Quốc tiếp theo sau cú sụp đổ với Rio Tinto và nó bộc lộ nhiều điều về trạng thái tâm lý muốn củng cố những chính sách bành trướng của nước này trên lãnh thổ Úc và xa hơn nữa.

Tập đoàn Minmetals nhanh chóng học hỏi những bài học từ Chinalco, nên đã tăng thêm giá bỏ thầu của mình cho OZ Minerals là 15% vào thời điểm trước khi có cuộc bỏ phiếu của các cổ đông chủ yếu. Một yếu tố của sự tuyệt vọng nằm phía sau động thái này. Minmetals muốn hoàn toàn chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ không bị mất mặt tới hai lần trong vòng một tháng.

Đó là thứ làm gợi nhớ rằng các tập đoàn khổng lồ do nhà nước Trung Quốc sở hữu không phải là những thực thể thương mại độc lập;  các tập đoàn đó đại diện cho quốc gia và dân chúng của mình. Nếu như Minmetals phải chịu số phận giống với Chinalco, thì nó sẽ nhận được những lời chỉ trích nặng nền trong giới kinh doanh Trung Quốc và giới chính trị và thậm chí cả từ người Trung Quốc bình thường.

Những đường lối hành động của các doanh nghiệp nhà nước bị ràng buộc vào hai mục tiêu phát triển mấu chốt của quốc gia: bảo đảm có được một nguồn cung cấp tài nguyên năng lượng lâu dài, ổn định và chi phí thấp và nâng cao tình trạng quốc tế của Trung Quốc.

Trung Quốc đã và đang đặt ra các tầm nhìn trong việc phát triển những vị trí quán quân quốc gia của riêng mình với các tập đoàn xuyên quốc gia có năng lực cạnh tranh trên bình diện quốc tế. Hơn chục năm trước, phó thủ tướng Trung Quốc Ngô Bang Quốc đã phác thảo những mục tiêu phải đạt được ở hải ngoại, nhấn mạnh tới sự cần thiết đối với Trung Quốc để phát triển miếng đánh trả của riêng mình trước các công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ. “Những cuộc đối đầu về kinh tế quốc tế cho thấy rằng nếu như một quốc gia mà có vài công ty hoặc các nhóm công ty lớn, thì nó sẽ được đảm bảo trong việc duy trì một số cổ phần nào đó của thị trường và một vị trí trong trật tự kinh tế quốc tế,” ông Ngô nhận định vào thời điểm đó.

Đây là những chiến lược đượt đặt ra để điều khiển các mối quan hệ mậu dịch giữa Trung Quốc và Úc. Tình trạng căng thẳng có thể nằm bên dưới các cuộc điều đình trong thời gian ngắn khi các công ty của Úc phải làm việc nhiều rất nhiều để giành lại được sự tin cậy của Trung Quốc. Nhưng trong khi Trung Quốc đã bị tổn thương nặng nề bởi vụ việc Chinalco-Rio Tinto, thì việc ấy sẽ không phải là một vết sẹo vĩnh viễn.

Trung Quốc đang nhận ra rằng họ không thể sống mà thiếu Úc. Thương mại song phương đang gia tăng lên 30% một năm. Các thị trường khác cho những nguồn tài nguyên thiên nhiên như quặng sắt vẫn còn đó, song nếu rút Úc ra khỏi việc giữ mối cân bằng này thì Trung Quốc sẽ phải vật lộn để đảm bảo một nguồn cung cấp thỏa đáng nào đó (ở một nước khác) cho những nhu cầu của mình.

Tương tự, Chính phủ Úc không thể nhìn đời sống mà không có Trung Quốc. Chính phủ đã và đang cố gắng một cách tuyệt vọng để tránh việc thoả thuận mua bán bị thất bại của hãng RioTinto chuyển sang một sự đối đầu về chính trị, phản ánh sự tín nhiệm ngày càng tăng của nước này đối với thương mại của Trung Quốc. Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ ba và là đích đến lớn hàng thứ hai cho xuất khẩu của Úc.

Có sự khác biệt khi việc bỏ thầu của tập đoàn China National Oil Corp cho công ty dầu lửa Unocal đóng tại California năm 2005 bị ngăn chặn. Như là một siêu cường, Hoa Kỳ có khả năng thu hút, chịu đựng được một hậu quả địa chấn với Trung Quốc; người ta nghi ngờ rằng, nước Úc không có khả năng đó.

Vì thế, với việc đầu tư của Trung Quốc vào Úc được bảo đảm chắc chắn, câu hỏi dành cho các công ty Trung Quốc là làm cách nào nới rộng ảnh hưởng của họ và cùng lúc đó tránh được mức độ phản đối mà những lời chào hàng mua bán của Chinalco hướng tới Rio Tinto đã từng tạo nên.

Chinalco đã đánh giá thấp mức độ nhạy cảm trong ván bài của nó ở Rio Tinto và mức độ mãnh liệt về cảm xúc tại Úc đối với nhà khai mỏ này. Chinalco bị coi là đang bay lượn long vòng quanh cái xác chết của Rio Tinto, đang sống trôi nổi dật dờ bằng kiểu trợ giúp tài chính chỉ có thể có ở Trung Quốc, nơi mà các nhà băng và các doanh nghiệp do nhà nước làm chủ và được coi như là những cánh tay (nối dài) của nhà nước.

Bất chấp việc Chinalco đang ghi lại một sự thất bại trong cú đầu tư đầu tiên của mình vào hãng Rio, bốn nhà băng lớn nhất của nhà nước đã xếp hàng để cấp tiền bạc cho cú đầu tư thứ hai đã được lên kế hoạch. Họ đã tính mức lãi suất gần bằng con số không và không đặt ra thời gian cho Chinalco phải trả những khoản nợ này.

Trong lúc hỏa lực tài chính mạnh mẽ đặt các công ty của Trung Quốc vào một vị thế cao, họ cần phải cảnh giác với những mối nguy hiểm đang chận đứng các cuộc thu đọa quyền sở hữu các công ty lớn tại hải ngoại. Họ phải tìm ra một sự cân bằng giữa tham vọng chi tiêu vào lúc này – những cơ hội đã bày ra bởi cơn khủng hoảng tài chính chỉ tới có một lần trong đời – và nhu cầu không ồn ào nổi bật cho một lối tiếp cận đầu tư được tính toán trước, chắc có lẽ là  nên thông qua những liên doanh ít thu hút cơn giận dữ của truyền thông hơn.

Những bản tổng kết thu chi hay thanh khoản của các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc tốt đẹp và mạnh mẻ hơn bất cứ lúc nào khi so sánh với các công ty xuyên quốc gia mà họ hy vọng thâu tóm lấy. Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng trong lúc các nền kinh tế thị trường của các nước phát triển đang co rút lại. Nhưng nếu như Trung Quốc tiếp tục phô trương sự giàu có của mình quá công khai như vậy, họ có nguy cơ phải chịu rủi ro gây rối loạn cho thế giới.

Trung Quốc phải nhận ra mối nghi ngờ sâu xa của các quốc gia, nơi mà Trung Quốc đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình. Mối nghi ngờ đó xuất phát từ tốc độ phát triển của Trung Quốc và những cố gắng không thành của nhiều nước phát triển trong việc nhận ra rằng Trung Quốc là một nhà nước Cộng sản đã cải cách nhiều lắm rồi. Các nhà phê bình miễn cưỡng thừa nhận rằng, trong phạm vi các mối quan hệ quốc tế, Trung Quốc đang tìm kiếm sự hài hòa mà không muốn đối đầu.

Nhiều người tin rằng việc mua bán giữa hai hãng Chinalco-Rio sẽ cho phép Trung Quốc thao túng giá quặng sắt. Điều đó không phải là mối quan ngại chính yếu của Chinalco. Động cơ thúc đẩy thực sự của hãng này là an ninh quốc gia. An ninh quốc gia TQ phụ thuộc vào một nguồn cung cấp quặng sắt bảo đảm, thay vì là các loại khoáng sản với những giá cả thấp nhất.[1]

Các công ty của Trung Quốc cũng cần phải khôn ngoan hơn trước những khác biệt văn hóa và nên học hỏi từ những kinh nghiệm ở hải ngoại. Chinalco đã phạm phải sai lầm trong việc áp dụng văn hóa Trung Hoa truyền thống vào cuộc mua bán nắm quyền sỡ hữu không một chút thương hại theo kiểu phương Tây. Công ty Chinalco đã mong đợi một mức độ tôn trọng cho những gì mà họ coi như là một lời mời chào giá cả hào phóng. Thế nhưng họ đã thất bại trong việc nhận ra rằng các doanh nhân phương Tây đang hòa điệu và chơi một trận đấu rất căng thẳng để có được thỏa thuận tốt nhất.

Trung Quốc sẽ theo dõi hệ quả của việc liên doanh Rio Tinto-BHP Billion với mối quan tâm lớn khi mà họ có thể có một ảnh hưởng lớn lên cách tiếp cận của mình đối với việc đầu tư nhiều hơn tại Úc.

Nếu như các mối quan hệ giữa Rio Tinto và BHP trở nên chua chát, dân chúng sẽ suy xét xem liệu Chinalco có phải là một chọn lựa tốt hơn không, gia tăng sức mạnh cho các công ty Trung Quốc trong các việc mua bán thỏa thuận sau này.

Nếu như việc mua bán thỏa thuận giữa Minmetals-OZ Minerals là tích cực cho cả hai bên, thì điều đó cũng sẽ là một cú làm gia tăng sức mạnh to lớn cho các công ty Trung Quốc đang tìm cách đầu tư vào Úc. Nó sẽ làm giảm bớt những mối lo sợ và những ngộ nhận về Trung Quốc đang liên  tục phô diễn ra trên các phương tiện truyền thông và các sân khấu chính trị. [2]

Trong khi đó, sự sáng suốt trong lựa chọn của rio Tinto có thể bị nghi vấn. Mặc dù những lợi thế thương mại tức thời cho các cổ đông không phải là người Trung Quốc ở Rio Tinto là hiển nhiên, song Chinalco đã mời chào (giá cả) một số phúc lợi lâu dài. Rio Tinto có thể xây dựng một mối quan hệ lâu bền với khách hàng lớn nhất (ý nói là Trung Quốc) cho các sản phẩm của mình thay vì phải cậy nhờ vào địch thủ gần nhất của nó. [3]

Họ đã biết rằng Chinalco đã được đảm bảo để tránh khỏi những rắc rối về tài chính của riêng bản than của công ty, dựa vào sự hỗ trợ tiền bạc của nhà nước TQ.

Liên doanh Rio Tinto và BHP vẫn sẽ không chắc được thông qua và điều này sẽ là một cú đấm khủng khiếp đối với Rio Tinto [4]. Tại Trung Quốc, một câu cách ngôn phổ biến đang được truyền tụng. Rio Tinto có thể “đã nhặt được một hạt mè song đã để mất đi một quả dưa hấu.” [4]

Shujie Yao là giáo sư kinh tế và là hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Trung Quốc Đương đại thuộc Đại học Nottingham.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—–

Lời bình của Trần Hoàng

chú thích [1][2][3][4]

Bạn đọc chắc đã nhìn thấy tên của tác giả và nhận ra quan điểm của ông ta: Đây là một bài phản biện của một giáo sư TQ ở Anh gần như đứng trên lập trường của TQ để cắt nghĩa về các nguyên nhân thất bại và bào chữa cho sự thất bại về việc mua bán với công ty Rio Tinto của Úc. Trong bài nầy, ta thấy các sự kiện có thật chen lẫn với nhiều sự thuyết phục (khá gian trá) của tác giả về việc khuyến khích các công ty nước ngoài ở Úc (và các nước khác) hãy an tâm với các cuộc mua bán với các công ty TQ. Tác giả vờ tránh và bỏ qua tâm lý mua bán của người TQ là: ép giá mua xuống thật thấp khi hàng hóa và sản phẩm có nhiều, và tăng giá bán khi thị trường thiếu hụt. Ai là người VN đều biết rõ người Trung Quốc thi hành các biện pháp nầykhi họ thu mua ở VN đem về TQ hoặc thu mua các sản phẩm nông nghiệp (gạo, đậu, cà phê,) sản phẩm cá, hải sản…để cung cấp cho các mối nhỏ hoặc xuất khẩu.

Tác giả nêu lên các mặt lợi thế nếu làm ăn với Trung Quốc như sau:

_Tác giả cho rằng nếu các công ty nước ngoài liên doanh, hùn vốn với các công ty và tập đoàn lớn của TQ thì họ sẽ có lợi hơn là hùn vốn với các công ty tư bản khác. Lý do là vì các công ty của TQ được nhà nước TQ giúp vốn, nên không sợ thua lỗ, thiếu tiền bạc…Đừng quên rằng thực tế cho thấy nếu liên doanh giữa 1 công ty TQ và 1 công ty của một nước nào đó gặp thua lỗ (do nguyên nhân khách quan hay do chính công ty TQ phá cho sập), thì ngay lập tức, công ty Trung Quốc có chân trong phần hùn ấy sẽ đề nghị mua hết cả hãng để nằm quyền kiểm soát toàn hãng. Chuyện nầy xẩy ra hầu như ở tất cả các nước mà kết quả cuối cùng là công ty TQ thu đoạt nắm hết quyền sở hữu.

_Tác giả cũng cho rằng việc thất bại của Chinalco mua 18% cổ phần của Rio Tinto vì “Nhiều người tin rằng việc mua bán giữa hai hãng Chinalco-Rio sẽ cho phép Trung Quốc thao túng giá quặng sắt. Điều đó không phải là mối quan ngại chính yếu của Chinalco. Động cơ thúc đẩy thực sự của hãng này là an ninh quốc gia. An ninh quốc gia TQ phụ thuộc vào một nguồn cung cấp quặng sắt bảo đảm, thay vì là các loại khoáng sản với những giá cả thấp nhất”. Thực tế diễn ra ở Việt Nam suốt hơn 20 mấy năm qua (kể từ ngày tái quan hệ với TQ năm 1992) là hoàn toàn khác.

Thí dụ: việc mua bán trái vải của các thương gia Trung Quốc (suốt mầy chục năm qua) ở các tỉnh miền Bắc phản ảnh rõ nhất về chế độ đồng lòng ép hạ giá của họ. Hiện nay, báo chí VN đang loan tin: Giá vải tuần trước 16.000/ 1 kg, tuần nầy chỉ còn 8000 đồng/ 1 kg. Thương lái Trung Quốc mua 60% trái vải nên họ quyết định giá cả và ép giá tới mức người nông dân VN không bán thì phải bỏ cho thúi.

Giá 1 kg vải trong nước là 25 xu/ 1 kg, trong khi giá trái vải nửa kg ở nước ngoài là 3-4 đô Mỹ. Hay 1 kg là 8 đô la mà là đồ đông lạnh. Còn nếu mua ở Canada thì được vải tươi từ VN chở qua, Và nếu vải lon (đóng thành đồ hộp) giá 1 lon là 2 đô la, bên trong có chừng 20 trái vải.

Nông dân VN trồng hơn 44 000 hec ta (mẫu) trồng trái vải ở miền Bắc năm nào vào tháng 6  cũng rên siết vì giá trái vải do thương lái TQ hạ giá mua xuống 50% giá tuần trước, giá hạ xuống dưới mức giá vốn. Nếu họ không bán cho thương gia TQ, thì vải bị thúi. Các tỉnh miền Nam cũng không thể mua được vải nầy với số lượng lớn để tiêu thụ mới là ngộ… Nhà nước ta, ủy ban nhân dân tỉnh, đều biết rõ chuyện nầy, nhưng  không hề đưa ra một  chính sách nào, một nghị định nào giúp đỡ nông dân VN, và cũng không đưa ra một biện pháp nào trong suốt gần 18 năm qua để đáp ứng tới độc quyền của thương lái TQ ra giá mua các sản phẩm nông nghiệp của VN ở NGAY trong vùng đất VN.

Tại sao bài nầy quan trọng? Vì thực tế về các việc làm ăn nầy đang diễn ra ở Việt Nam. Có điều là các công ty TQ làm ăn với các công ty Việt Nam thì cứ như khỏe re, múa gậy vườn hoang không cần phải đối đầu với công luận. Vì sao? Vì giới trí thức và giới trẻ VN dù có phản biện, cắt nghĩa hơn thiệt đi thế nào chăng nữa về các hợp đồng, thì các công ty quốc doanh VN cũng không có nghe, vì đàng sau các công ty VN nầy là sự hậu thuẩn nhất trí của “các chính sách lớn của nhà nước”.

————————————————

 

The Age

China will learn its lessons from the Chinalco fiasco

Shujie Yao

June 18, 2009

The failure of the Chinalco-Rio Tinto deal hurt China deeply.

CHINA Minmetals Corp’s purchase of OZ Minerals last week was but a small win for China after the disappointment of Rio Tinto’s rejection of Chinalco. At $1.38 billion, the deal was a fraction of the $19.5 billion Chinalco had taken to the table.

But its significance should not be underestimated. It was an important psychological fillip for China’s acquisition ambitions following the Rio Tinto debacle and it revealed much about the mentality that underpins the country’s expansion policies in Australia and beyond.

Minmetals was quick to learn lessons from Chinalco, raising its bid for OZ Minerals 15 per cent on the eve of a crucial shareholder vote. An element of desperation lay behind this move. Minmetals wanted to be absolutely certain that China would not lose face twice in a month.

It was a reminder that China’s huge state-owned enterprises are not isolated commercial entities; they represent their country and people. If Minmetals had suffered the same fate as Chinalco, it would have come in for heavy criticism in the Chinese business and political world and even from ordinary Chinese.

Policies of state-owned enterprises are tied to two key national development objectives: to secure a long-term, stable and cost-effective supply of energy resources and to raise China’s international status.

China has set its sights on developing its own national champions into internationally competitive transnational corporations. More than a decade ago, China’s vice-premier Wu Bangguo outlined China’s overseas acquisition aims, stressing the need for China to develop its own answer to US multinationals. “International economic confrontations show that if a country has several large companies or groups, it will be assured of maintaining a certain market share and a position in the international economic order,” Mr Wu said at the time.

These are the strategies that are set to govern trade relations between China and Australia. Tension may underlie negotiations in the short term as Australian companies work hard to regain Chinese trust. But while China has been deeply wounded by the Chinalco-Rio Tinto affair, it is not permanently scarred.

China realises it cannot live without Australia. Bilateral trade is increasing by 30 per cent a year. Other markets for natural resources like iron ore exist, but remove Australia from the equation and China will struggle to secure a supply adequate to its needs.

Similarly, the Australian Government cannot contemplate life without China. The Government has been desperate to avoid the failed Rio Tinto deal turning into a political confrontation, reflecting the country’s growing reliance on Chinese trade. China is Australia’s third largest trade partner and second largest export destination.

It was different when China National Offshore Oil Corp’s bid for California-based oil company Unocal in 2005 was blocked. As a superpower, the US can absorb a seismic fallout with China; arguably, Australia can’t.

So with more Chinese investment in Australia assured, the question for Chinese companies is how to extend their influence while avoiding the level of opposition that Chinalco’s advances towards Rio Tinto drew.

Chinalco undervalued the sensitivity of its Rio Tinto play and the intensity of feeling in Australia for the miner. Chinalco was seen to be circling the carcase, buoyed by the kind of financial support only possible in China, where state-owned banks and businesses are seen as arms of the state.

Despite Chinalco recording a loss on its first investment in Rio, four of the biggest state-owned banks lined up to fund the planned second investment. They charged interest close to zero and did not set a time for Chinalco to pay its debts.

While financial fire power puts Chinese companies in a commanding position, they should be alert to the dangers that stalk high-profile overseas acquisitions. They have to find a balance between the desire to spend now — the opportunities presented by the financial crisis only come once in a lifetime — and the need for a more low-key, calculated investment approach, perhaps through joint ventures that attracts less media frenzy.

The balance sheets of China’s big businesses are stronger than they have ever been compared to the transnational corporations they hope to catch. China continues to grow while developed market economies shrink. But if it continues to display its wealth so publicly, it risks unsettling the world.

China has to recognise the deep suspicion with which it is held in those countries where it is seeking to extend its influence. It stems from the speed of China’s development and the failure of much of the developed world to recognise that China is a much-reformed Communist state. Critics are reluctant to accept that, in the sphere of international relations, China seeks harmony not confrontation.

Many believed that the Chinalco-Rio deal would have allowed China to manipulate the iron ore price. This was not Chinalco’s chief concern. Its real motivation was national security, which hinges on a secure supply of iron ore, rather than minerals at rock bottom prices.

Chinese companies should also wise up to cultural differences and learn from experiences overseas. Chinalco made the mistake of applying traditional Chinese culture to ruthless Western-style acquisition deals. It expected a degree of respect for what it considered a generous offer. But it failed to realise that Western businesses are attuned to playing hard ball to get the best deal.

China will be watching the outcome of the Rio Tinto-BHP Billiton joint venture with great interest as it could have a huge impact on its approach to further investment in Australia.

If relations between Rio Tinto and BHP sour, people will speculate whether Chinalco would have been a better option, strengthening the hand of Chinese firms in future deals.

If the Minmetals-OZ Minerals deal turns out to be positive for both sides, this will also be a huge boost for Chinese companies looking to invest in Australia. It would lessen the fears and misunderstandings about China that continually play out in media and political circles.

Meanwhile, the wisdom of Rio Tinto’s choice can be questioned. Although the immediate commercial advantages to Rio Tinto’s non-Chinese shareholders were obvious, Chinalco offered several long-term benefits. Rio Tinto could have built up a long-lasting relationship with the biggest consumer of its products instead of relying on its closest rival.

It knew Chinalco was guaranteed to avoid financial complications of its own, thanks to state backing.

The Rio Tinto and BHP joint venture is still not certain to go through and this would be a terrible blow for Rio Tinto. In China, a popular proverb is doing the rounds. Rio Tinto may have “picked up a sesame seed but lost sight of the water melon”.

Shujie Yao is professor of economics and head of the School of Contemporary Chinese Studies at the University of Nottingham.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc | Thẻ: , | Leave a Comment »

Tự Do báo chí ở Nga (2)

Posted by adminbasam trên 15/06/2009

SPIEGEL

“Không có bài báo nào là đáng phải trả giá bằng cả một sinh mệnh”

(Tiếp theo phần 1-197)

Matthias Schepp, từ Moscow

Ngày 9-6-2009

 

“Lebedev đã trở nên quan tâm tới tờ Novaya khi ông bước vào con đường chính trị,” theo lời của một trong những đồng sự của ông trùm tư bản này từ những ngày ông còn làm cho cơ quan tình báo đối ngoại.

Khi ông nắm được ngân hàng National Reserve Bank vào những năm giữa 1990, Lebedev đã tuyển một số người trong cộng đồng tình báo vào nắm những vị trí giám đốc hàng đầu cho ông.

Người đứng đầu hội đồng quản trị ngân hàng, một người bạn cũ của Lebedev, đã cưới người chị em gái của Anna Politkovskaya, một nhà báo hàng đầu của tờ Novaya Gazeta, cô Anna đã bị bắn chết vào tháng Mười năm 2006. Lebedev đã đưa ra đề nghị cho một khoản tiền thưởng hơn 980.000 đô la cho thông tin đưa tới việc bắt giữ được những kẻ giết người.

Một trong những đồng sự cũ của ông từ thời ông còn làm ở ngành tình báo, người yêu cầu giữ kín danh tính, nhớ lại thời cùng làm việc với Lebedev tại tòa Đại sứ Liên Xô ở London vào những năm cuối 1980. Vào những ngày tháng đó, hầu hết nhà ngoại giao Liên Xô đều mặc những bộ đồng phục rộng thùng thình và đeo những cặp kính mát có gọng sừng. Thế nhưng, Lebedev tự thết đãi mình bằng một cặp kính hiệu Cartier vào ngày sinh nhật của ông, và tiếp đó ông bắt đầu giải thích cho những người khác lý do vì sao lại có chuyện đó.

“Ông ấy vượt xa những người còn lại trong đám chúng tôi, và ông ấy cứ đều đặn đưa ra  nhiều ý tưởng khác nữa,” theo nhận xét một cựu đồng chí của ông trong cơ quan tình báo Liên Xô KGB. Lebedev vẫn có một điểm yếu về tình cảm giành cho thủ đô London, nơi ông đã giành được một tờ báo khác, tờ Evening Standard, vào tháng Một 2009.

Các địch thủ thực sự của ông là ở trong nước, đặc biệt có kẻ thù không độ trời chung với ông là Yuri Luzhkov, thị trưởng Moscow đầy quyền lực. Lebedev từng cho xuất bản một cuốn sách mỏng trong đó ông liệt kê tất cả những lời hứa suông, không bao giờ làm của Luzhkov.

Thế nhưng có một vài lời chỉ trích quá mức được viết về  Luzhkov trên tờ Novaya. Tòa nhà nơi trú ngụ của toà soạn báo, được thuê với mức giá thấp, là thuộc về thành phố. Điều ấy cho thấy rằng Novaya có những hạn chế của nó khi tờ báo phơi bày những những điểm yếu của giới quyền lực.

Tìm kiếm để thay đổi thực tế

Tuy nhiên, không có tờ báo của Nga nào làm cho đời sống của giới quyền thế trên đất nước này khá là không thoải mái giống như tờ báo Novaya. Và không có ai tượng trưng cho cuộc chiến đấu giữa David-và-Goilath có hiệu quả hơn là Elena Milashina. Cô ta chỉ mới 31 tuổi, cao 1m59 – và đã bắt quả tang được chính phủ Nga  nói dối. Bà cũng đã dũng cảm đối diện với một tổng thống Hoa Kỳ.

Sau một buổi lễ trao các giải thưởng để tưởng niệm cho nhà báo bị sát hại Anna Politkovskaya, nhà báo trẻ này đã lợi dụng một buổi tiếp tân do cựu Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush thết đãi để giải thích với tổng thống lý do vì sao bà coi Vladimir Putin là “một kẻ tội phạm.” Bà đã làm vài cuộc nghiên cứu về cuộc khủng hoảng con tin ở Beslan.

Vào tháng Chín năm 2004, lực lượng vũ trang của điện Kremlin đã đột kích tấn công một ngôi trường ở Beslan nơi bị các phần tử khủng bố Chechen chiếm giữ. Thế nhưng Malashna đã tìm ra thông tin gợi lên rằng những kẻ khủng bố đã không kích hoạt quả bom mà chúng đã cài đặt trước đó. Thay vì đó, những đòn tấn công của các tay súng của lực lượng đặc biệt Nga rõ ràng đã châm ngòi cho thảm hoạ. Ngoài 31 kẻ khủng bố, 334 học sinh, cha mẹ, thầy cô giáo và các binh lính đã chết trong vụ Beslan.

Sau vụ chiếc tàu ngầm nguyên tử Kursk bị chìm vào tháng Tám năm 2000, Milashina đã nói chuyện với 53 sĩ quan và chuyên gia, trong đó có 27 đô đốc và thiếu tướng hải quân cùng với hạm đội Nga, cho mãi tới khi, như bà nói, bà “có thể nhắm mắt để hướng dẫn mọi người đi một vòng tham quan chiếc tàu ngầm nguyên tử đó.” Cuối cùng, bà đã có thể chứng minh rằng một số ít trong 118 thuỷ thủ đã bị mắc kẹt trong chiếc tàu ngầm chìm sâu 108m dưới biển vẫn còn sống từ ba tới bốn ngày – chứ không chỉ vài ba giờ, như chính phủ đã khăng khăng trong nỗ lực nhằm bào chữa cho khẳng định của họ rằng một sứ mệnh giải cứu là không thể thực hiện được.

Cô Malashina lúc đó mới 22 tuổi. “Novaya là tờ báo duy nhất mà tôi có thể hành nghề báo thực sự,” hiện giờ, cô ta phát biểu như thế. “Chúng tôi giúp đỡ người dân theo những cách rất đặc biệt.” Các biên tập viên của tờ báo tìm cách thay đổi thực tại, thay vì chỉ mô tả nó.

Vì lý do đó, mà một số nhà báo đôi khi phải từ bỏ vai trò của một nhà quan sát và tự đặt bản thân mình vào trong một phần của những câu chuyện của họ. Đấy là một trong những  chỉ trích về nhà báo đã bị sát hại Anna Politkovskaya, cả ở Nga lẫn tại phương Tây. Bà đã giúp di tản những người già đã về hưu ra khỏi thành phố Grozny đang xảy ra giao tranh và đưa họ tới những ngôi nhà dành cho người đã nghĩ hưu ở Nga.

Bà Politkovskaya không phải là trường hợp đơn lẻ. Đồng nghiệp của bà là Vyacheslav Izmailov, một cựu binh của cuộc chiến Chechen và là một chuyên gia về khu vực Caucasus, đã giúp giải thoát cho 170 con tin từ quân Chechen. Ông đã khám phá ra bằng chứng về vai trò liên quan của Tổng thống chuyên chế Chechen Ramzan Kadyrov với những vụ tra tấn, và ông đang đoan chắc rằng cái dấu vết trong vụ sát hại Politkovskaya đều dẫn tới Kadyrov và đội quân của ông ta.

Thế nhưng bài báo của Izmailov vẫn chưa được đăng, chắc có lẻ bởi vì bằng chứng hổ trợ (cho quan điểm của ông ta) vẫn chưa đủ sức kết luận về chuyện ấy. Bởi có thể, theo như Mutarov nói, “không một bài báo nào là đáng giá bằng một sinh mệnh nào khác.”

Mutarov, Lebedev và Gorbachev tạo nên bộ ba lãnh đạo để bảo vệ cho Novaya trong những thời điểm đen tối, khi tờ báo đã từng gần như đi tới phá sản, hoặc khi những tin đồn không đúng làm lung lay sự tín nhiệm về ban biên tập của tờ báo.

Trong một sai lầm nổi tiếng, tờ báo đã cho đăng một bài về người đứng đầu chương trình hạt nhân của Nga, người nầy dường như đã bị cáo buộc về hành động biển thủ tiền viện trợ quốc tế và tìm cách xin vào làm công dân Hoa Kỳ. Vấn nạn duy nhất là bài báo này không đúng sự thực, đã và đang được thêu dệt và pha chế bởi một ấn phẩm trào phúng bằng tiếng Anh được xuất bản tại Moscow.

Những thất bại như vậy khá là đau đối với bộ ba lãnh đạo bởi vì ba người đàn ông này đã từng biết nhau trong hai chục năm qua. Hai mươi năm trước, Gorbachev vẫn còn là tổng thống và tổng bí thư Đảng Cộng sản. Vào một buổi tối, trong một chuyến viếng thăm London để tham dự một hội nghị thượng đỉnh các nước công nghiệp, nơi ông đang tranh đấu để có một khoản vay hàng tỉ đô la, ông đã phải nghỉ lại tại tòa đại sứ. Mọi người tán dương Gorbachev, người mà theo thể cách điển hình, là đã đề nghị các khách mời có lời phê phán ông. Một viên bí thư sứ quán mảnh khảnh đã đứng dậy và giải thích rằng khoản vay có thể sẽ đưa đất nước vào một cái bẫy nợ nần và có lợi cho những kẻ cho vay hơn là cho nhà nước ở Moscow. Người đàn ông đó là Lebedev.

“Những người còn lại trong chúng tôi đã phải nín thở. Một nhà ngoại giao còn trẻ đang có ý kiến trái ngược với người lãnh đạo nhà nước Liên Xô,” một đồng nghiệp cũ của Lebedev trong KGB kể lại.

Novaya Gazeta đại diện cho một sự tiếp nối của cuộc chạm trán đó. Gorbachev đang sử dụng tờ báo để chiến đấu cho công việc cuộc đời ông, và đảm bảo rằng ít nhất một số dấu vết của chính sách công khai của nhà nước về sự không dấu diếm và bàn bạc thảo luận về các thực tế chính trị và kinh tế cho dân chúng biết[glasnost], sự cởi mở và dân chủ vẫn còn có trong kỷ nguyên của Putin.

Gorbachev, người giành Giải thưởng Hòa bình Nobel, từng biếu tặng 300.000 đô la từ tiền nhuận bút cuốn sách của ông cho các biên tập viên của tờ Novaya để từ đó họ có thể mua sắm các computer (để làm việc). Hôm nay, ông ngồi trong phòng làm việc của mình, một bức tranh chân dung của ông với người vợ quá cố Raisa treo trên tường sau lưng. Bà Raisa cũng đã có một mối quan hệ đặc biệt với tờ báo: trong những năm 1990, bà đã biếu cho ban biên tập tờ báo chiếc điện thoại di động đầu tiên của tờ báo.

Và Lebedev thì thế nào? Ngày nay, ông vẫn còn đang có khả năng đóng vai một phần tử vô chính phủ gây động chạm, như ông đã từng làm một lần nọ (đối với Gobachev) tại Tòa Đại sứ Liên Xô ở London (trong chuyện mượn nợ 1989).

Hiệu đính: Trần Hoàng

————————

 

SPIEGEL

PRESS FREEDOM IN RUSSIA

Part 2: ‘No Story Is Worth another Life’

By Matthias Schepp in Moscow

“Lebedev became interested in Novaya when he went into politics,” says one of the magnate’s colleagues from his days working for the foreign intelligence agency. When he took over the National Reserve Bank in the mid-1990s, Lebedev recruited some of his top managers from the intelligence community. The head of the bank’s administrative board, an old friend of Lebedev, is married to the sister of Anna Politkovskaya, a star reporter for Novaya Gazeta who was shot dead in October 2006. Lebedev offered a reward of more than €700,000 ($980,000) for information leading to the arrest of the murderers.

One of his former colleagues from his days in intelligence, who insists on remaining anonymous, remembers working with Lebedev at the Soviet Embassy in London in the late 1980s. In those days, most Soviet diplomats wore baggy suits and

horn-rimmed glasses. Lebedev, however, treated himself to a pair of Cartier glasses for his birthday, and then proceeded to explain to the others why appearance matters. “He was far ahead of the rest of us, and he was constantly coming up with ideas,” says his former KGB comrade. Lebedev still has a soft spot for London, where he acquired another newspaper, the Evening Standard, in January.

His real rivals are at home, especially his archenemy Yuri Luzhkov, the powerful mayor of Moscow. Lebedev once published a pamphlet in which he listed all of Luzhkov’s broken promises.

But there are few overly critical words written about Luzhkov in Novaya. The building that houses the paper’s editorial offices, for which it pays a low rent, belongs to the city. It appears that even Novaya has its limits when it comes to exposing the foibles of the powerful.

Seeking to Change Reality

Nevertheless, no other Russian newspaper makes life quite as uncomfortable for the country’s power elite. And no one symbolizes this David-and-Goliath struggle more effectively than Elena Milashina. She is 31, a diminutive 1.59 meters (5′2″) in height — and she has already caught the Russian government in a lie. She has also boldly confronted a US president.

After an awards ceremony to commemorate the murdered journalist Anna Politkovskaya, the young journalist took advantage of a reception given by former US President George W. Bush to explain to the president why she considers Vladimir Putin to be “a criminal.” She had done some research on the Beslan hostage crisis.

In September 2004, the Kremlin had its forces storm a school in Beslan that was occupied by Chechen terrorists. But Milashina found information suggesting that the terrorists did not set off the bomb they had installed. Rather, ricochets coming from the guns of the Russian special forces apparently triggered the catastrophe. In addition to 31 terrorists, 334 schoolchildren, parents, teachers and soldiers died in the Beslan incident.

After the sinking of the Kursk nuclear submarine in August 2000, Milashina spoke with 53 officers and experts, including 27 admirals and rear admirals with the Russian fleet, until, as she says, she “could have led a tour through that nuclear submarine with my eyes closed.” In the end, she was able to prove that a few of the 118 sailors trapped in the submarine 108 meters (354 feet) below sea level were alive for three to four days — not just a few hours, as the government had insisted in an effort to justify its claim that a rescue mission was impossible.

Milashina was 22 at the time. “Novaya is the only place where I can truly practice journalism,” she says today. “We help people in very specific ways.” The paper’s editors seek to change reality, instead of merely describing it. For that reason, some of the journalists occasionally abandon the role of observer and make themselves into part of their stories. This was one of the criticisms of slain journalist Anna Politkovskaya, both in Russia and in the West. She evacuated retirees from the embattled city of Grozny and placed them in Russian retirement homes.

Politkovskaya was no isolated case. Her colleague Vyacheslav Izmailov, a veteran of the Chechen war and an expert on the Caucasus region, helped liberate more than 170 hostages from the Chechens. He uncovered evidence linking despotic Chechen President Ramzan Kadyrov to torture, and he is convinced that the trail in Politkovskaya’s murder leads to Kadyrov and his cohorts.

But Izmailov’s story hasn’t been printed yet, perhaps because the supporting evidence is not yet conclusive enough. Of perhaps, as Muratov says, “no story is worth another life.”

Muratov, Lebedev and Gorbachev make up the triumvirate that protected Novaya in bad times, when the newspaper almost went out of business, or when inaccurate reporting shook the credibility of its editorial team. In a famous blunder, the paper ran a story on the head of the Russian nuclear program, who had apparently been accused of embezzling international aid money and seeking US citizenship. The only problem was that the story wasn’t true, having been concocted by a Moscow-based English-language satirical publication.

Such fiascos are all the more painful to the trio because the three men have known each other for the past two decades. Twenty years ago, Gorbachev was still president and the general secretary of the Communist Party. One evening, during a visit to London to attend a summit of industrialized nations, where he was fighting for a loan worth billions, he was unwinding at the embassy. Everyone praised Gorbachev who, in his typical manner, asked the guests for their criticism. A slim embassy secretary stood up and explained that the loan would lead the country into a debt trap and was more beneficial to the lenders than to Moscow. The man was Lebedev.

“The rest of us held our breath. A young diplomat was contradicting the leader of the Soviet Union,” says Lebedev’s former KGB colleague.

Novaya Gazeta represents a continuation of that encounter. Gorbachev uses it to fight for his life’s work, and to ensure that at least some vestige of glasnost, openness and democracy is retained in the Putin era. Gorbachev, a winner of the Nobel Peace Prize, once donated $300,000 (€215,000) from his book royalties to the Novaya editors so that they could buy computers. He sits in his office today, a portrait of his late wife Raisa on the wall behind him. She too had a special relationship with the paper: In the 1990s, she gave the editorial staff its first mobile phone.

And Lebedev? He is still capable of playing the impudent anarchist today, just as he once did at the Soviet Embassy in London.

Translated from the German by Christopher Sultan

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí, Khối XHCN sụp đổ | Thẻ: , | Leave a Comment »

Chính sách của Trung Quốc làm Việt Nam lo âu

Posted by adminbasam trên 13/06/2009

ASIA TIMES

Chính sách bành trướng của Trung Quốc khuấy động mối lo âu ở Việt Nam

Trần Lê Anh

Ngày 12-6-2009

 

Nếu như có một nhu cầu cần biết về sự đồng thuận trong người Việt Nam ở khắp mọi nơi từ trong nước cho tới ngoài nước, thì chắc chắn phải là thái độ bực bội đối với Trung Quốc. Tâm lý của người Việt Nam về vấn đề an ninh quốc gia từ thời xa xưa đã là như vậy về sự cảnh giác với Trung Quốc.

Mặc dù lòng kiêu hãnh của Việt Nam trong việc đánh thắng các cuộc xâm lăng của ngoại bang luôn luôn cao độ, song lịch sử 1.000 năm bị Trung Quốc đô hộ của đất nước này đã đủ đau thương để trở thành một điều ghi khắc khôn nguôi. Và ba sự kiện đang diễn tiến hiện nay dường như củng cố thêm cho điều này một mức độ đáng kể.

Thứ nhất, trong ít tháng qua, sự phản đối kịch liệt của công luận Việt Nam trước sự dính líu của Trung Quốc vào kế hoạch khai thác bauxite của Việt Nam trên vùng Cao nguyên Trung phần đã gây nên ấn tượng sâu sắc. Bản danh sách về những ý định lươn lẹo gán cho Trung Quốc cứ dài ra, từ việc xuất khẩu những sản phẩm làm ảnh hưởng xấu tới môi trường cho tới sự gây nguy hiểm tới an ninh quốc gia của Việt Nam. Hiện tượng này là chưa từng xảy ra và cho thấy một sự trái ngược ngày càng tăng giữa công chúng Việt Nam với chính quyền (VN) đối với những hoạt động đầu tư của Trung Quốc.

Một cái nhìn chớp nhoáng về cách mà các công ty của Trung Quốc đang tiến hành những dự án lớn hơn ở Việt Nam có thể cung cấp một lời giải thích hợp lý cho tình cảm này. Khi việc xây dựng những khu mỏ, nhà máy điện, xi măng, hoá chất lớn tại Việt Nam, thay vì thuê mướn nhân công tại địa phương, thì các công ty Trung Quốc lại thường đem công nhân của họ theo.

Hầu hết những công nhân nầy đều là những nhân công không lành nghề. Những nhân công nầy không thể làm việc hợp pháp tại Việt Nam theo những quy định về lao động ở nước này. Những bài báo gần đây trên phương tiện truyền thông Việt Nam đã cho thấy một làn sóng nhập cư của nhân công Trung Quốc đang được đưa vào các dự án được Trung Quốc thực hiện ở đây, với một số nơi đang có tới hơn 2.000 công nhân ở mỗi nơi. Từ quan điểm của công chúng Việt Nam, việc này không thể làm hài lòng   về tình trạng việc làm trong nước và gây nên khó khăn tiềm tàng cho dân chúng và an ninh quốc gia.

Hơn nữa, theo những người Việt Nam chỉ trích đã chỉ rõ ra, việc đưa vào những công nghệ cũ kỹ và kém thân thiện với môi trường của các công ty Trung Quốc để thực hiện nhiều dự án đó đã gây nên một mối quan ngại rằng Việt Nam đang trở thành một bãi thải cho rác công nghiệp. Về khía cạnh này, sự kiện thực tế rằng các công ty Trung Quốc thắng thầu ngày càng nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực quan trọng trên khắp đất nước Việt Nam đã không thể giúp gì được hơn ngoài việc làm gia tăng thêm mối lo ngại đó.

Thứ hai, mối quan hệ kinh tế toàn diện của Việt Nam với Trung Quốc đã sinh ra những mức độ căng thẳng nào đó lên nền kinh tế của Việt Nam. Đất nước này phải đối mặt với một tình trạng thâm hụt thương mai đều đặn hàng năm với Trung Quốc kể từ năm 2001. Với con số cực kỳ cao vào năm 2008 là hơn 11 tỉ đô la, chiếm khoảng 12% tổng sản phẩm quốc nội GDP.

Mức thâm hụt thương mại to lớn này không chỉ tạo nên sức ép tiêu cực lên cán cân thanh toán (tiền bạc) của Việt Nam mà còn đăt nên những thách thức cam go về cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi nhiều sản phẩm nhập khẩu của Trung Quốc có thể được sản xuất ở trong nội địa Việt Nam.

Hiện nay, không cần phải có nhiều cố gắng để phát hiện ra rằng các thứ hàng hóa rẻ tiền cực độ của Trung Quốc đang tràn ngập thị trường trên khắp đất nước Việt Nam. Nếu điều này xảy ra tại những nước như Hoa Kỳ hay Ấn Độ, thì người ta sẽ được thấy những cuộc điều tra chống bán phá giá và những hệ quả xấu của nó nổi lên như nấm từ cả hai phe cánh tả và cánh hữu. Thế nhưng, chính phủ Việt Nam, do những khả năng về  pháp luật và những lý do chính trị, đã không dám nói ra mối quan ngại đang gia tăng trong cộng đồng doanh nghiệp trong nước của mình.

Thêm vào đó, những vấn đề xuất phát từ việc buôn lậu các hàng hóa Trung Quốc, (từ  gà vịt cho tới đồ chơi trẻ em), vào Việt Nam cũng rất quan trọng, tác động không chỉ sự thiệt hại kinh tế mà còn là một mối đe doạ đến sức khỏe khi những thứ này phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ Việt Nam. Mặc dù đây là một vấn nạn kéo dài từ lâu, truyền thông Việt Nam mới đây đã và đang rung lên hồi chuông cảnh báo về tràn ngập số lượng khổng lồ của các hàng hóa buôn lậu khi mà các doanh nghiệp Trung Quốc cố thoát khỏi tình trạng tồn đọng hàng hóa trong kho vào thời kỳ có cuộc suy thoái kinh tế hiện nay.

Thứ ba, những yêu sách chủ quyền lãnh thổ chồng lấn nhau trên vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong vùng Biển Nam Trung Hoa (được Việt Nam gọi là Biển Đông) đã và đang gia tăng cường độ. Chính phủ Việt Nam đã cố kiềm chế làn sóng phản đối dữ dội của công chúng chống lại những yêu sách quả quyết về chủ quyền của Trung Quốc đối với những hòn đảo này vào cuối năm 2007 và đầu năm 2008 nhằm tránh những mối căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. Tuy nhiên, đối diện với thái độ quả quyết ngày càng tăng của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam giờ đây đang khuyến khích công chúng nghiên cứu và hiểu biết những bằng chứng lịch sử và pháp luật để hổ trợ giúp đỡ cho những yêu sách chủ quyền lãnh thổ  của mính. Điều này có thể được xem như là một bước tiến có tính chất khẳng định của chính phủ Việt Nam bởi lẽ sức mạnh lớn nhất của đất nước này nằm trong ý chí của dân chúng được chứng minh qua suốt chiều dài lịch sử của quốc gia nầy.

Để làm sáng tỏ cuộc tranh luận, việc tập trung lực lượng quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông, ví dụ như căn cứ tàu ngầm hạt nhân bí mật đã được báo chí đưa tin trên Đảo Hải Nam, đã gây nên mối lo trong nhiều tầng lớp dân chúng Việt Nam. Về điểm này, thỏa thuận mới được thông báo gần đây của Việt Nam để mua sáu chiếc tàu ngầm trị giá 1,8 tỉ đô la từ Nga có thể được xem như là một phản ứng đối với sự phát triển lực lượng quân sự của Trung Quốc. Tuy nhiên, vì nguồn tài nguyên kinh tế bị giới hạn, Việt Nam không muốn tham gia vào bất cứ cuộc chạy đua vũ trang nào với Trung Quốc. Song cùng lúc ấy, Việt Nam cũng không thể đơn giản là ngồi yên và nhìn Trung Quốc tiếp tục chuyển quân vào trong vùng Biển Đông.

Nhưng vẫn có hy vọng cho  chính quyền Việt Nam để giải quyết những vấn đề này theo hướng đôi bên cùng có lợi và giữ ổn định trong khu vực. Trước hết và quan trọng nhất, là những mối quan ngại của công luận Việt Nam không thể nào bị (chính quyền) đánh giá quá thấp mà cần phải được tính đến. Về phương diện này, dù là được chính phủ Việt Nam tán đồng, các công ty Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam cần phải biết một cách chính xác về những tác động của môi trường và chính trị về các dự án của họ và phải giải quyết một cách thành thật những ảnh hưởng nầy sao cho  phù hợp với các tiêu chuẩn và quy tắc của thương mại quốc tế đã thừa nhận. Đó là lợi ích lâu dài của họ để có được sự tín nhiệm của dân chúng Việt Nam bằng việc thể hiện là những nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm. Về điểm này, việc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài của người Nhật có thể là một ví dụ tốt cho họ để noi theo.

Thêm vào đó, kiểu cách Trung Quốc gửi công nhân ra làm việc trong các dự án của họ ở nước ngoài mang tích chất không chính đáng về chính trị và có khả năng châm ngòi cho những nỗi oán giận không cần thiết, và việc nầy sẽ làm phức tạp thêm nữa những mối quan hệ ngoại giao song phương. Chấm dứt thói quen này sẽ là một bước đi khôn ngoan đầu tiên để làm thay đổi ngược lại những tình cảm tiêu cực trong công chúng Việt Nam.

Trong bối cảnh rộng lớn hơn của các mối quan hệ kinh tế, vấn đề cân bằng thương mại và vấn nạn buôn lậu cần phải được giải quyết để giảm bớt căng thẳng cho nền kinh tế Việt Nam. Thương mại là một công cụ ngoại giao rất quan trọng để cổ vỏ  tình bạn và hòa bình có ý nghĩa; và Trung Quốc đang ở vị thế để thực hiện việc đó nếu như Trung Quốc thành thật qua những lời tuyên bố “phát triển trong hòa bình” của họ. Đối với ba cường quốc riêng rẽ – Trung Quốc, Nhật, và Hoa Kỳ – mà Việt Nam coi là quan trọng nhất trong việc hướng tới chính sách đối ngoại của họ, thì Việt Nam thích những thặng dư thương mại có được với hai quốc gia sau (Mỹ và Nhật). Trung Quốc có thể thể hiện được thiện chí ngoại giao đáng kể đối với người dân Việt nam bình thường nếu như họ theo gương Mỹ và Nhật trong khía cạnh nầy.

Với sự lưu tâm tới vấn đề gai góc nhất, bất cứ giải pháp nào cho tranh chấp lãnh thổ trên biển cũng cần đạt được trong một thái độ rõ ràng minh bạch và phù hợp với những nguyên tắc quốc tế đã được công nhận. Cách Trung Quốc tiếp cận vấn đề này như thế nào sẽ là một thử thách có mức độ cao nhất cho lập trường “phát triển một cách hòa bình” đã được họ cam kết của họ. Trong khi đó, không nên có bất cứ hành động sử dụng vũ lực chết người nào (của bất cứ bên nào) để chống lại những ngư dân bình thường trên vùng biển đang tranh chấp. Họ không có khả năng tự vệ và họ cần phải được cư xử như vậy.

Với bất cứ đánh giá nào, một số người có thể biện luận rằng những lối tiếp cận nói trên đối với ba bước phát triển được xác định hiện thời đều gợi lên sự ảo tưởng. Song thật khó mà thấy được làm sao mà những mối quan hệ và sự ổn định hai bên cùng có lợi sẽ được nuôi dưỡng nếu như những bước tiếp cận đó vị bỏ qua. Với tư cách là một cường quốc đang lớn mạnh trên vũ đài thế giới với những ảnh hưởng kinh tế và chính trị tiềm tàng khắp các lục địa, Trung Quốc có mọi mối quan tâm cốt để thể hiện với thế giới rằng sự lớn mạnh của họ quả thực là có tính chất hòa bình. Trung Quốc có thể làm như vậy bằng cách bày tỏ trước những cử chỉ chân thành rộng lượng của họ đối với Việt Nam.

Mặc dù luôn cảnh giác như thường lệ, người Việt Nam đủ tinh khôn để tiếp nhận  những cử chỉ này vì lợi ích hòa bình và phát triển kinh tế trong khi tiếp tục tăng cường và củng cố bản chất và đặc tính quốc gia khó khăn mới có được của họ.

Ông Trần Lê Anh là một giáo sư của trường đại học Lasell (Hoa Kỳ), nơi ông giảng dạy kinh tế học và quản lý.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Mời bạn đọc bài nầy để tham khảo:

http://nguoibuongio.multiply.com/journal/item/30/30

————————————————-

 

ASIA TIMES

China’s rise stirs Vietnam’s anxiety

By Anh Le Tran

Jun 12, 2009

If there was a need to identify a consensus among Vietnamese across the spectrum from domestic to overseas, it must be the uneasy feeling towards China. The Vietnamese mentality regarding national security from time immemorial has been that of vigilance on China.

Although Vietnamese pride for fighting off foreign invasions always runs high, the country’s history of 1,000-year Chinese domination is painful enough to be a relentless reminder. And three current developments seem to reinforce it to a significant extent.

First, over the past few months, the Vietnamese public outcry against Chinese involvement in Vietnam’s bauxite mining plan in the Central Highlands has been dramatic. The list of accused Chinese elusive intentions is long, ranging from exporting environmental degradation to compromising Vietnam’s national security. This phenomenon is unprecedented and shows an increasing contrast between the Vietnamese populace and government towards Chinese investments.

A quick look at the way Chinese companies carry out their bigger projects in Vietnam may provide a reasonable explanation for this sentiment. When constructing huge electric, cement, chemical and mining plants in Vietnam, instead of hiring locally, Chinese companies usually brought their own workers with them.

Most of them are unskilled laborers, who currently cannot legally work in Vietnam according to the country’s labor regulations. Recent reports by popular Vietnamese media have shown an influx of Chinese laborers into Chinese-implemented projects, with some sites having in excess of 2,000 workers each. From the Vietnamese public’s perspective, this is both undesirable for local employment and potentially difficult for public and national security.

Moreover, as pointed out by Vietnamese critics, the transfer of older and less environmentally-friendly technologies from China to carry out many of those projects does create a fear that Vietnam is becoming a dumping ground for industrial waste. In this regard, the fact that Chinese companies have increasingly won bids for big projects in key sectors across Vietnam cannot help but reinforce that fear.

Second, Vietnam’s overall economic relationship with China has produced certain levels of stress on the Vietnamese economy. The country has faced a consistent annual trade deficit with China since 2001. The number for 2008 was shockingly high at more than US$11 billion, which is around 12% of Vietnam’s gross domestic product.

This huge trade deficit has not only put negative pressure on Vietnam’s current account balance but also placed competing Vietnamese businesses in hardship since many of the Chinese imports could be produced domestically.

Currently, it does not take much effort to find out that ultra-cheap Chinese goods are flooding the Vietnamese market nationwide. If this were to happen in countries such as the US or India, one would see anti-dumping and counterveiling investigations mushrooming left and right. But the Vietnamese government, due to legal capacity and political reasons, has not ventured to address the growing concern of its domestic business community.

In addition, problems stemming from the smuggling of Chinese goods, ranging from poultry to toys, into Vietnam are also significant, imposing not only an economic cost but also a health threat as the items are largely outside the reach of the Vietnamese government. Although this is a long-standing problem, Vietnamese media has recently rung an alarm bell on the potential massive influx of smuggled goods as Chinese businesses try to rid themselves of inventory build up during the current economic slump.

Third, overlapping territorial claims over the Paracel and Spratly islands in the South China Sea (referred to as the East Sea by Vietnam) have intensified. The Vietnamese government tried to contain public outcry against Chinese assertive claims over the islands in late 2007 and early 2008 in order to prevent diplomatic tension between the two countries. However, in the face of China’s increasing assertiveness, the Vietnamese government now encourages the public to research and understand historical and legal evidence to bolster its territorial claims. This can be seen as a very assertive move by the government of Vietnam since the country’s greatest strength lies in the will of its people as manifested throughout the country’s history.

In light of the dispute, China’s military build up in the South China Sea, such as the reported secret nuclear submarine base on Hainan Island, has created anxiety in many Vietnamese circles. In this regard, Vietnam’s recently reported deal to buy six submarines amounting to US$1.8 billion from Russia may be viewed as a reaction to the Chinese development. However, given its limited economic resources, Vietnam certainly does not want to engage in any potential arms race with China. But at the same time it cannot simply sit still and watch China continue to make bold military moves in the sea.

But there is still hope for Vietnam to address these issues in the direction of mutual benefits and regional stability. First and foremost, the concerns of the Vietnamese public cannot be underestimated and should be taken into account. In this respect, regardless of being approved by the Vietnamese government, Chinese companies investing in Vietnam should be acutely aware of the environmental and political impacts of their projects and faithfully address them in accordance with accepted international business standards and norms. It is in their long-term interest to earn the goodwill of the Vietnamese people by being responsible foreign investors. In this regard, Japanese foreign direct investment in Vietnam can be a good example for them to follow.

In addition, the Chinese model of sending workers to work on its projects is politically unsound and has the potential to spark unnecessary resentment that will further complicate bilateral diplomatic relations. Stopping this practice would be a good first step to reverse the negative sentiments of the Vietnamese populace.

In the larger context of economic relations, the trade balance and the problem of smuggling must be addressed to reduce stress on the Vietnamese economy. Trade is a very important diplomatic tool to promote meaningful friendship and peace; and China is in position to do that if it is true to its “peaceful rise” claims. Of the three individual powers – China, Japan, and the US – that Vietnam considers most important in its foreign policy approach, it enjoys significant trade surpluses with the latter two. China can show significant diplomatic goodwill towards the ordinary Vietnamese people if it joins America and Japan in this regard.

With respect to the thorniest issue, any solution to the territorial dispute in the sea should be reached in a transparent manner and in accordance with accepted international principles. How China approaches this problem will be the utmost test of its adopted “peaceful development” stance. Meanwhile, there must not be any use of deadly force (on any side) against ordinary fishermen in the disputed area. They are defenseless and must be treated as such.

At any rate, some may argue that it is wishful thinking to suggest the above approaches to the three current developments identified. But it is hard to see how beneficial bilateral relations and stability would be fostered if they were to be ignored. As a rising power on the world stage with potential economic and political influences throughout the continents, China has every interest to materially show the world that its rise is indeed peaceful. It can do that by showing first its sincerely good gestures towards Vietnam.

Although being on vigilance as usual, the Vietnamese are astute enough to embrace those gestures for the sake of peace and economic development while continuing to reinforce their hard-earned national identity.

Anh Le Tran is a professor at Lasell College (the United States), where he teaches economics and management.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Biển Đông/TS-HS, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

Mua bán vũ khí ở Châu Á-Cuộc chạy đua vũ trang

Posted by adminbasam trên 12/06/2009

The Star

Mua bán vũ khí – Mặc cho tình trạng kinh tế suy thoái, các nước Mỹ, Nga,

Pháp đang nhắm mục tiêu vào việc bán nhiều vũ khí cho Châu Á

John Rwitch

Thứ Tư, ngày 10-6-2009

 

HÀ NỘI (Reuters) – Nền kinh tế của các nước đang chậm lại và các ngân sách chi tiêu đang bị chỉ trích, thế nhưng tại châu Á và Thái Bình Dương một cú tiêu xài gần như an toàn và không sợ ai chỉ trích là ngân sách dùng cho việc chi tiêu quốc phòng.

Trung Quốc đã và đang dẫn đầu việc chi tiêu (quốc phòng) trong lúc các quốc gia trên khắp khu vực rộng lớn này đã đổ tiền vào các lực lượng quân sự của họ để nâng cấp trang thiết bị, tăng cường khả năng và nới rộng tầm hoạt động trong vùng.

Châu Á xếp hàng thứ hai sau Trung Đông trong nhóm các nước đang phát triển về các vụ nhập khẩu vũ khí.

Cho tới lúc này, các chuyên gia cho biết  cuộc suy thoái kinh tế chỉ tạo ra những dấu ấn lõm sâu chút ít trong các kế hoạch mua sắm của một số quốc gia châu Á, song khu vực này thì chắc chắn vẫn là một trong những thị trường quyến rũ nhất đối với nền công nghiệp quốc phòng toàn cầu đang tăng trưởng phụ thuộc vào xuất khẩu.

Đó là lý do vì sao tại hội chợ hàng không Paris Air Show vào tuần tới các nước Á Châu chắc chắn đang được ve vãn.

“Thành thật mà nói, có nhiều người coi thị trường châu Á như một trong những nơi giàu có nhất”[nguyên văn: El Dorados-xứ sở ở Nam Mỹ, nơi đây các nhà thám hiểm người Tây Ban Nha đã nhìn thấy đường phố được lát bằng vàng], theo nhận xét của chuyên gia về quân sự Richard Bitzinger, một thành viên kỳ cựu của Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratman ở Singapore.

Chi tiêu quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, không kể Nam Á, đã tăng lên hơn 5% trong năm 2008 so với năm trước, đạt 248 tỉ đô la, theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế ở Stockholm (SIPRI).

Theo Ban Nghiên cứu của Quốc hội Hoa Kỳ, châu Á đã là nhân tố chủ yếu cho hơn 40% của những cuộc mua bán vũ khí trên thế giới giữa các năm 2000 và 2007.

Sự túng quẫn kinh tế đã và đang dẫn một số quốc gia châu Á ngắt nhéo bớt các kế hoạch chi tiêu cho quốc phòng của họ. Quân đội Philippines đã đề nghị chính phủ cho phép họ chuyển đổi những khoản tiền được ấn định dành cho việc mua sắm trang thiết bị súng tiểu liên, trực thăng và điện đài để có tiền mua xăng dầu và đạn dược dành cho cuộc tấn công được duy trì liên tục của họ  chống lại phiến quân Hồi giáo ở miền nam.

Thái Lan được tin là đã quyết định trì hoãn  lại việc mua sắm sáu chiếc phản lực cơ Saab Jas-Grinpen của Thụy Điển, vốn đã từng được dự kiến sẽ chuyển giao vào năm 2011, do sự khó khăn tiền bạc  trong nền kinh tế.

Thế nhưng nhìn tổng thể thì ảnh hưởng (kinh tế suy yếu) nầy là có tính chất hạn chế, theo Sam Perlo-Freeman, một nhà nghiên cứu kỳ cựu thuộc SIPRI.

“Từ đó (cuối năm 2007) cho đến nay, tôi không nghĩ là chúng tôi đã nhìn thấy bất cứ sự suy giảm lớn nào trong miền này, giữa những nước xài lớn nhất cho việc chi phí quân sự. Chuyện gì đang xảy ở phía trước sẽ phụ thuộc vào mức độ lâu dài và độ sâu  của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ ra sao,” ông nhận xét.

NGÀY CÀNG NĂNG ĐỘNG

Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã làm vững chắc thêm sự nổi lên của châu Á như là một thị trường chính của việc mua bán vũ khí.

“Nếu quí vị  coi mức tiêu dùng [quốc phòng] tính bằng tỉ lệ phần trăm của tổng sản phẩm quốc nội GDP, thì việc tiêu dùng nầy thực sự đang giảm bớt, chứ không tăng. Nó như thế nầy: khi các nước trở nên giàu có hơn, họ có các lực lượng quốc phòng tinh vi về công nghệ hơn,” Bộ trưởng Quốc phòng New Zealand Wayne Mapp đã nói với hãng Reuters như vậy trong một cuộc gặp thượng đỉnh về quốc phòng tại Singapore tháng trước.

Dầu vậy, rốt cục thì điều đó cũng chỉ là một yếu tố.

Sự thôi thúc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc là một yếu tố quan trọng khác.

Viện nghiên cứu Hòa bình ở Thụy Điển (SIPRI) đang ước đoán rằng Trung Quốc là nước chi tiêu cho quốc phòng lớn hàng thứ hai sau Hoa Kỳ trong năm 2008, các nhà phân tích cho là: khi TQ đầu tư rất nhiều tiền bạc đẩy mạnh chiến dịch hiện đại hóa quân đội một cách sâu rộng, TQ sẽ không muốn tiến hành chậm rãi chuyện nầy đâu.

Bắc Kinh đã mua một đội tàu ngầm loại ít gây tiếng động, những khu trục hạm công nghệ cao, những phản lực cơ chiến đấu loại siêu thanh và gần đây đã công khai thú nhận là họ đang phát triển một hàng không mẫu hạm.

“Hiển nhiên, tất cả các quốc gia trong khu vực nầy sẽ theo dõi những gì mà Trung Quốc đang làm và sự phát triển sức mạnh quân sự của họ cùng với sự hiện đại hóa quân đội của họ có ý định để làm gì. Đối với một số nước, các việc làm của TQ sẽ là một yếu tố mạnh mẻ rõ ràng (nói lên nhiều điều) hơn là những nước khác,” ông Perlo-Freeman nhận xét.

Ví dụ như với Đài Loan, nước có tỉ lệ gia tăng chi tiêu quân sự lớn nhất trong năm 2008, là 22%, theo SIPRI cho biết. Hòn đảo nầy Bắc Kinh coi như là một phần đất của Trung Quốc, và đã chĩa hàng trăm tên lửa vào, là một trong những nước mua  vũ khí lớn nhất của Hoa Kỳ.

Việt Nam đang đặt hàng sáu chiếc tàu ngầm thế hệ Kilo và một đội chiến đấu cơ mới, theo báo chí Nga cho biết. Các chuyên gia cho rằng đó chắc chắn là một phản ứng trực tiếp trước sự mở rộng lực lượng hải quân và sự cải thiện những khả năng hướng về sức mạnh của Trung Quốc.

Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác cùng có những tranh chấp từ lâu đối với những hòn đảo trên Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], khu vực biển nầy cũng chế ngự những tuyến vận tải đường biển chiến lược giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Các nhà phân tích của RAND Corp đã kết luận trong một nghiên cứu thực hiện cho Không lực Hoa Kỳ năm 2008 rằng các đối tác đồng minh về an ninh với Mỹ tại châu Á – cụ thể là Úc, Nhật, Philippines, Singapore, Nam Triều Tiên, và Thái Lan – nói chung đã không hiện đại hoá quân đội của họ do những quan ngại về một tiến trình gọi là “sự cân bằng bên trong.” của Trung Quốc.

Thay vào đó, các nước này tập trung hơn vào “việc cân bằng bên ngoài” – bằng cách đẩy mạnh các quan hệ chặt chẻ về an ninh với Hoa Kỳ và (giữa các quốc gia ấy) với  nhau.

Nhưng tác giả chính của bản nghiên cứu nầy, Evan Medeiros, nói rằng đã có một số thay đổi kể từ khi công bố bản nghiên cứu này, đề tài này tập trung vào những phản ứng trong khu vực đối với Trung Quốc giữa khoảng thời gian từ 1997 và 2007.

“Những gì chúng tôi đã kết luận là trong lúc quân đội Trung Quốc thu đạt được những khả năng mới, thì sự hòa nhập và phối hợp giữa cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài giữa các lực lượng quân sự Á châu có thể thay đổi. Tôi coi cuốn Sách Trắng Quốc phòng của Úc năm 2009 như là bằng chứng của điều đó,” ông nói.

Vào tháng Năm, cuốn Sách Trắng Quốc phòng của Canberra (Úc) đã viết rằng Trung Quốc nên cởi mở, nói rõ hơn về việc phát triển quân đội của họ hoặc sẽ có nguy cơ gây hoang mang cho các nước láng giềng của họ, cuốn sách nầy cảnh báo rằng những mối lo sợ về an ninh đã gây ra bởi một nước Trung Quốc có khả năng hơn (về quân sự) sẽ lan rộng trong những khu vực vượt quá Đài Loan. [1]

Cuốn sách trắng cũng phác thảo những kế hoạch (của Úc). Kế hoạch ấy bao gồm việc mua sắm 12 chiếc tàu ngầm hiện đại mà các chuyên gia cho là có thể cảnh tỉnh Trung Quốc và làm gia tăng tốc độ của việc mua sắm vũ khí trong vùng Tây Thái Bình Dương.

CHẠY ĐUA VŨ TRANG?

Các chuyên gia quốc phòng nói chung đều tránh gọi những gì đang diễn ra tại Á châu là một “cuộc chạy đua vũ trang”.

“Những gì mà quí vị trông thấy trong miền nầy là một phản ứng giữa các chương trình quân sự của một số các quốc gia,” Tim Huxley, giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Á châu (IISS).

Đôi khi cuộc cạnh tranh nầy là hiển nhiên.

Khi Trung Quốc loan báo các kế hoạch vào cuối năm ngoái triển khai những chiếc tàu chiến tới vùng Vịnh Aden để giúp bảo vệ các con tàu qua lại đây khỏi nạn cướp biển, các nhà phân tích về quân sự đã nhìn nhận chuyện ấy như là một bài thi về các khả năng chỉ đạo chiến tranh của hải quân Trung Quốc.

Nhật Bản và Nam Triều Tiên sau đó cũng đã nhanh chóng phái tới vùng đó các tàu chiến của riêng họ.

“Chuyện ấy đã nói lên đặc tính về một yếu tố đua tranh,” theo nhận xét của Christian Le Miere, nhà phân tích ký cựu của IHS Jane’s.

Giữa những năm 2004 và 2007, các thỏa thuận mua bán vũ khí ở châu Á-Thái Bình Dương đã chiếm tới 33% của tất cả các hợp đồng bán vũ khí của Hoa Kỳ, 55% của các hợp đồng bán vũ khí của Nga và 50% của tất cả hợp đồng bán vũ khí của Pháp, theo như một bản báo cáo của Ban Nghiên cứu thuộc Quốc hội Hoa Kỳ.

“Tôi cho là các nước bán vũ khí sẽ vẫn cố gắng đẩy mạnh tất cả những gì mà họ có thể làm (để bán vũ khí) cho miền nầy,” Perlo-Freeman đánh giá.

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————————————-

 

The Star

ARMS TRADE – Asia big sales target despite downturn

By John Ruwitch

Wednesday June 10, 2009

HANOI (Reuters) – Economies are slowing and budgets are under fire but in Asia and the Pacific one nearly bulletproof bet remains defence spending.

China has led the charge as countries across the vast region have poured money into their militaries to upgrade gear, add capabilities and expand their reach.

Asia ranks second after the Middle East in the developing world for arms imports.

Experts say so far the economic downturn has only made minor dents in the procurement plans of some Asian countries, but the region is likely to remain one of the most alluring markets for a global defence industry that is growing dependent on exports.

That’s why at the Paris Air Show next week Asians are likely to be courted.

“There are a lot of people who, quite frankly, see the Asian market as one of the El Dorados,” said military expert Richard Bitzinger, a senior fellow at Singapore’s S.Rajaratman School of International Studies.

Military expenditure in the Asia-Pacific region, not including South Asia, rose more than 5 percent in 2008 compared with the year before to $248 billion, according to the Stockholm International Peace Research Institute (SIPRI).

According to the U.S. Congressional Research Service, Asia accounted for more than 40 percent of world arms transfers between 2000 and 2007.

The economic pinch has led some countries in Asia to tweak their defence spending plans. The Philippine military asked the government for permission to divert money earmarked for rifles, helicopters and radio equipment to fund fuel and bullets for its sustained offensive against Muslim rebels in the south instead.

Thailand has reportedly decided to delay its purchase of six Saab Jas-Gripen fighter jets from Sweden, which were supposed to be delivered in 2011, due to the economic crunch.

But overall the impact had been limited, said Sam Perlo-Freeman, a senior researcher at SIPRI.

“So far, I don’t think we’re seeing any big slowdown in the region amongst the major spenders in military expenditure. What happens further down the line will depend on how long and how deep the economic crisis is going to be,” he said.

INCREASINGLY DYNAMIC

Strong economic growth has underpinned Asia’s emergence as a major arms market.

“If you look at the expenditure as a percentage of GDP, it’s actually been going down, not up. It’s just that as countries become wealthier, they have more technologically sophisticated defence forces,” New Zealand Defence Minister Wayne Mapp told Reuters at a defence summit in Singapore last month.

Ultimately, though, that is just one factor.

China’s modernisation drive is another big one.

SIPRI estimates China was the world’s second biggest defence spender after the United States in 2008, as it ploughed forward in a sweeping military modernisation campaign that analysts say is unlikely to slow down.

Beijing has bought a fleet of quiet submarines, high-tech destroyers, supersonic fighter jets and recently admitted in public it is developing an aircraft carrier.

“Obviously, all countries in the region will be looking at what China’s doing and what their growing military power and modernisation means. To some countries that will be a stronger factor than others,” said Perlo-Freeman.

Taiwan, for instance, had the largest percentage increase in military spending in 2008, at 22 percent, according to SIPRI. The island that Beijing sees as part of China, and has aimed hundreds of missiles at, is one of the United States’ biggest arms buyers.

Vietnam is ordering six Kilo-class submarines and a fleet of new fighters, Russian media reported. Experts say it is likely a direct reaction to China’s naval expansion and improving power projection capabilities.

Vietnam, China and others share long standing disputes over island chains in the South China Sea, which also commands strategic sea lanes between the Indian and Pacific Oceans.

RAND Corp analysts concluded in a 2008 study for the U.S. Air Force that American security partners in Asia — namely Australia, Japan, the Philippines, Singapore, South Korea, and Thailand — were generally not modernising their militaries due to concerns about China’s, a process called “internal balancing.”

Instead, they were more focused on “external balancing” — boosting security ties with the United States and each other.

But the study’s lead author, Evan Medeiros, said there had already been some changes since the release of the study, which focused on regional reactions to China between 1997 and 2007.

“What we concluded is that as China’s military acquires new capabilities, the mix between internal and external balancing among Asian militaries could shift. I see the new 2009 Australian Defense White Paper as evidence of that,” he said.

In May, Canberra’s Defence White Paper said China must be more open about its military expansion or risk alarming neighbours, warning that security jitters caused by a more capable China would extend far beyond Taiwan.

It also outlined procurement plans that include the purchase of 12 advanced new submarines that experts say could alarm China and accelerate arms procurement in the Western Pacific.

ARMS RACE?

Defence experts generally avoid calling what is happening in Asia an “arms race”.

“What you do see in the region is a reaction between the military programmes of certain countries,” said Tim Huxley, executive director in Asia of the International Institute for Strategic Studies (IISS).

Sometimes the competition is obvious.

When China announced plans late last year to deploy ships to the Gulf of Aden to help protect ships from pirates, military analysts saw it as a kind of test of the Chinese navy’s power projection capabilities.

Japan and South Korea sent their own ships quickly after.

“It smacked of having a competitive element,” said Christian Le Miere, senior analyst at IHS Jane’s.

Between 2004 and 2007, Asia-Pacific arms agreements accounted for 33 percent of all the deals done by the United States, 55 percent of those done by Russia and 50 percent of France’s, according to a U.S. Congressional Research Service report.

“I expect the arms sellers will still be trying to push all they can in the region,” Perlo-Freeman said.

(Additional reporting by Nopporn Wong-Anan in Singapore)

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Trung Quốc | Thẻ: , | Leave a Comment »

Khu Đô Thị Mới do Trung Quốc đầu tư và xây dựng ở Lạng Sơn

Posted by adminbasam trên 12/06/2009

Khu Đô Thị Mới  do Trung Quốc đầu tư xây dựng ở phía bắc tỉnh  Lạng Sơn

Hy vọng, trong tương lai gần, VN sẽ có các dự án thành phố mới (hay China Town) mọc lên khắp cả nước.
 
Trần Hoàng

 

Trong khi từ đầu năm 2009 đến nay, cả nước lụi hụi lo chuyện bauxite ở Tây Nguyên, thì ở trên dãi đất cực bắc của tỉnh Lạng Sơn, nhà thầu Trung Quốc đã và đang tiến hành  xây dựng Khu Đô Thị Nam Hoàng I.

“Dự án Khu đô thị Nam Hoàng Đồng I có tổng diện tích 51,1 ha* trên dải đất cực Bắc của thành phố Lạng Sơn đang được lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn tạo điều kiện để triển khai nhanh chóng”.  Ngày 25-8-2008 cả hai phía đã cắt băng khánh thành để tiến hành xây dựng.

Nói 51 ha thì tưởng là nhỏ, nhưng thật ra, thành phố Hoa Kiều ở Lạng Sơn rất đồ sộ; có thể nói là lớn thứ nhì, sau thành phố Hoa Kiều ở Lào. Chúng ta thử tính xem sao. 1 ha là 10.000 mét vuông;  51,1 ha bằng 511.000 mét vuông; tức là bằng một miếng đất có chiều dài 1000 mét, chiều ngang 511 mét; hay tương đương với một khu đất hình chữ nhật, có chiều dài là 1 km và chiều rộng là 0,5 km. Đó chính là khu đô thị mới được xây dựng từ năm 2008, hoàn thành 2013, nhưng vốn được báo cáo là rất ít (500 tỉ đồng) để không phải thông qua Quốc Hội.

Việc xây dựng Khu Đô Thị Mới nầy  “nhằm thực hiện Quyết định số 55 (ngày 28/4/2008) của Thủ tướng CP về phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn và chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn thi hành.

Dự án Khu Đô Thị Mới rộng 511.000 mét vuông nầy do Trung Quốc bỏ tiền ra xây dựng và có một công ty Việt Nam trên giấy tờ là “làm chủ” công trình (nhưng không có tiền và không biết nghề xây dựng).

“Cty cổ phần SX &TM Lạng Sơn do ông Hồ Phi Dũng làm giám đốc cùng 2 công ty liên doanh của Trung Quốc có tên VN là Cty THHH Khai phát Trí nghiệp Hậu Nguyên và Cty HH Thương mại Thành Bá (Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây) đầu tư bằng vốn tự có.

“Dự án được thực hiện trong vòng 5 năm (từ nay đến hết năm 2013) gồm các khu công nghiệp, thương mại lớn, khu nhà ở kiểu mẫu, dịch vụ ẩm thực, vui chơi, giải trí, y tế, giáo dục. Dự án theo xu hướng thiết kế hiện đại gồm 6 khu vực công năng đầy đủ thỏa mãn nhu cầu phát triển của một thành phố lớn, bên cạnh đó có 6 quảng trường theo các chủ đề khác nhau mang sắc thái văn hoá bản địa.”

Ui mèn ơi! Vùng phía bắc ở Lạng Sơn dân Việt Nam nghèo khủng khiếp, bửa đói bửa no, và đa số làm nghề cửu vạn, tức là dùng sức người gánh hàng hóa vượt qua rừng núi để lãnh tiền công…thì lấy đâu ra tiền để vào các khu vui chơi giải trí?

Còn xây dựng “khu thương mại lớn” ở đó chẳng lẻ trong khu thương mại nầy sẽ chưng và bán hàng hóa Việt Nam để cho dân TQ vượt biên giới qua mua? Hay thực chất xây dựng khu thương mại nầy để chưng bày hàng hóa Trung Quốc được chuyển qua theo đường biên giới và người Việt đến mua để tiêu thụ hàng hóa giúp đỡ nền công nghiệp nhẹ TQ?

Và “khu nhà ở kiểu mẫu” thì để dành cho ai ở? Người Việt Nam nào ở vùng cực bắc tỉnh Lạng Sơn có đủ tiền để mua khu nhà kiểu mẫu nếu không phải là …

Trung Quốc xâm chiếm và lấn sâu vào biên giới Lào và biên giới Miến Điện trong suốt 15 năm qua (kể từ 1993) theo đúng như cách thức mà họ đang làm ở Lạng Sơn. Vậy, lẻ nào ta không nhìn thấy cái gương của 2 nước ấy đang bị người TQ di dân qua ở, đồng hóa về văn hóa, ngôn ngữ, và mất đất ở khu vực biên giới phía bắc của hai nước đó?

Khu Đô Thị Mới ở Lạng Sơn do Trung Quốc xây dựng diễn ra đúng y như Trần Hoàng đã cảnh giác vào mùa Hè 2008 trong bài nầy

———————

 

Để viết bài trên, TH ghé thăm hai bạn trong Friend List của TH là Mẹ Nấm® và Tran N và đọc được bài báo gốc dưới đây.

Một đô thị tạo diện mạo mới cho Lạng Sơn

Sáng 25/5 tại xã Hoàng Đồng (thành phố Lạng Sơn), UBND tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ khởi công xây dựng đô thị Nam Hoàng Đồng I.

Dự án là một trong những công trình đầu tư trọng điểm của tỉnh nhằm thực hiện Quyết định số 55 (ngày 28/4/2008) của Thủ tướng CP về phát triển Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng- Lạng Sơn

Lạng Sơn được coi là đầu mối giao thông quan trọng nối liền hai nước Việt- Trung và là hành lang kinh tế quan trọng Nam Ninh (Trung Quốc)- Lạng Sơn- Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh. Chính vì vậy Dự án Khu đô thị Nam Hoàng Đồng I có tổng diện tích 51,1 ha trên dải đất cực Bắc của thành phố Lạng Sơn đang được lãnh đạo tỉnh Lạng Sơn tạo điều kiện để triển khai nhanh chóng.

Dự án cũng nhận được sự đồng thuận của những hộ dân bị ảnh hưởng, đến nay công tác đền bù giải phóng mặt bằng đạt gần 90%, dù mới triển khai từ đầu năm 2008. Ông Hồ Phi Dũng – giám đốc Cty cổ phần SX &TM Lạng Sơn- chủ đầu tư thứ nhất dự án cho biết:

“Căn cứ vào Hiệp thương về vận chuyển và hợp tác kinh tế khu vực sông Mê Công và phương án điều chỉnh quy hoạch biên giới hai nước Việt- Trung, chúng tôi cùng 2 liên doanh của Trung Quốc góp vốn là: Cty THHH Khai phát Trí nghiệp Hậu Nguyên và Cty HH Thương mại Thành Bá (Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây) đầu tư bằng vốn tự có, vốn khác để đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng kỹ thuật hạ tầng cùng các công trình trong khu dự án với mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng VN”.

Được biết, dự án được thực hiện trong vòng 5 năm (từ nay đến hết năm 2013) gồm các khu công nghiệp, thương mại lớn, khu nhà ở kiểu mẫu, dịch vụ ẩm thực, vui chơi, giải trí, y tế, giáo dục. Dự án theo xu hướng thiết kế hiện đại gồm 6 khu vực công năng đầy đủ thỏa mãn nhu cầu phát triển của một thành phố lớn, bên cạnh đó có 6 quảng trường theo các chủ đề khác nhau mang sắc thái văn hoá bản địa.

Ông Nguyễn Văn Bình- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn nhấn mạnh: “Việc mở rộng không gian kiến trúc đô thị theo quy hoạch xây dựng các khu đô thị mới là rất cần thiết, vậy nên dự án Khu đô thị Nam Hoàng Đồng I cần được nhà đầu tư tập trung nguồn tài chính, nhân lực, phương tiện, máy móc, khẩn trương thi công đồng bộ các hạng mục, sớm hoàn thành dự án, khai thác tiềm năng có hiệu quả. Dự án thành công sẽ góp phần đưa tỉnh Lạng Sơn đạt tiêu chí đô thị loại II vào năm 2010.
Read more: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=55791#ixzz0I9ahLe8A&C

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=55791

http://www.invisibleurl.com/browse.php?u=Oi8vd3d3LnhhbHVhbi5jb20vbW9kdWxlcy5waHA%2FbmFtZT1OZXdzJmZpbGU9YXJ0aWNsZSZzaWQ9NTU3OTE%3D&b=5

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

Bauxite: LS Vũ kiện TT Dũng

Posted by adminbasam trên 11/06/2009

.

* Mời xem thêm: + Tòa Hà Nội trả lời Đơn kiện Thủ tướng của TS Cù Huy Hà Vũ;  + Việt Nam: Đảng đối đầu với Nhà hoạt động Pháp lý Cù Huy Hà Vũ.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Thẻ: , | 3 Comments »

Quyền tự do báo chí ở Nga (1)

Posted by adminbasam trên 11/06/2009

SPIEGEL

Tờ báo được yêu thích ở phương Tây, nhưng bị căm ghét tại quê nhà

Các phóng viên của tờ Novaya Gazeta cần có tinh thần mạnh mẽ vững vàng— bốn phóng viên của tờ nhật báo có tòa soạn ở Mát Cơ Va đã bị giết chết. Nhưng tờ báo nầy còn có những người bạn đầy quyền lực, bao gồm cựu TT Mikhail Gorbachev và nhân vật chính trị đầu sỏ trong viện Duma và cũng là một trong những người giàu nhất nước Nga Alexander Lebedev

Matthias Schepp, từ Moscow

Ngày 9-6-2009

 

Olga đã dường như  vừa khiếp sợ vừa lo lắng khi cô lướt những ngón tay qua chiếc phong bì. Người gửi có vẻ là nhân vật quan trọng : “Phủ Tổng thống”. Có phải đây là  thư của điện Kremlin hay không? “Nhưng sao cảm thấy chiếc phong bì là lạ,” theo lời kể của Olga, thư ký của tổng biên tập tờ báo tiếng Nga Novaya Gazeta.

Cuối cùng, khi cômở chiếc bì thư, cô có cảm giác ớn lạnh và sởn gai ốc: những chiếc tai lừa bị cắt đứt.  ”Ở đây người ta cần nhiều can đảm,” cô nói.

Bốn trong số các nhà báo của tờ báo này đã bị sát hại, và một trong số các luật sư của tờ báo đã bị bắn chết giữa ban ngày ban mặt.

Một vài ngày sau vụ những chiếc tai lừa là một miếng thịt vấy máu. Lần này không có địa chỉ người gửi trên phong bì. Và rồi sau đó một người đàn ông lạ mặt đã đề nghị đưa cho tổng biên tập tờ báo một khoản tiền hối lộ.

Khi tờ báo điều tra vụ việc, họ đã phát hiện ra rằng có một nhà hoạt động chính trị với một nhóm được gọi là Nashi đứng đằng sau những hành động bí ẩn.

Nashi, một tổ chức thanh niên được điện Kremlin kiểm soát, trước đó đã tiến hành các cuộc biểu tình  trước cửa văn phòng ban biên tập tờ báo và phát động một chiến dịch chống lại [1] tờ Novaya Gazeta. Một quãng thời gian ngắn sau đó, Tổng thống Dmitry Medvedev đã có một quyết định cho bản báo này một cuộc phỏng vấn.

Tình thế nầy là không rõ ràng. Một mặt, tờ báo, được phát hành ba lần một tuần và có một số ấn phẩm đáng nể là 270.000 bản, là  đối tượng của sự tức giận sôi lên của giới quyền thế ở Moscow. Các giới chức nhiều quyền lực tự nhận ra là bị chỉ trích lập đi lập lại trong các trang báo. Mặt khác, tờ Novaya Gazeta đột ngột  hưởng được sự bảo vệ của các nhân vật thuộc hàng cao cấp nhất trong chính quyền

Vai trò của tờ Novaya Gazeta, chính xác ra là cái gì, tờ báo nầy giờ đây là tờ báo nổi tiếng nhất của Nga ở nước ngoài ? Có phải Novaya đúng như các bạn đọc vẫn gọi nó, là một pháo đài của tiếng nói tự do dân chủ hay không?

Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier, ứng cử viên thủ tướng thuộc Đảng Dân chủ Xã hội hơi thiên tả trong các cuộc bầu cử vào tháng Chín tới tại Đức, đã loan báo những kế hoạch viếng thăm các văn phòng toà soạn báo vào tuần này. Và thậm chí có một cơ hội là Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama có thể ghé qua vào đầu tháng Bảy này.

Bơi cùng lũ cá mập

Ngay trước buổi trưa khi Sergei Sokolov, âm thanh như một viên trung sĩ huấn luyện viên tại một doanh trại quân đội, gào to  “hội họp bàn luận với chủ bút” trong hành lang tòa soạn báo. Trước đó, trong thời gian nghỉ, anh đã gửi một bức bưu ảnh tới các bạn đồng nghiệp với những câu anh viết trong đó “Tôi đang bơi cùng với lũ cá mập”. Chiếc bưu ảnh đã được ghim lên tấm bảng trong tòa soạn báo. Bên cạnh nó, có ai đó viết: “Những con cá mập tội nghiệp.”

Sokolov là nhân vật đứng hàng thứ hai về  mặt tư tưởng trong tòa báo.  Ông chuyển những dòng ý tưởng xuất phát từ tổng biên tập Dmitry Muratov mà không thách thức vai trò quyền lực của tổng biên tập. Khi Muratov  phân phối các ý tưởng bài báo (người nào viết chủ đề gì) tới ban biên tập có 60 thành viên, chuyện ấy nghe như  là một âm mưu triệt hạ chính phủ – hoặc ít nhất cũng là (tìm cách triệt hạ) một vài bộ trưởng trong chính quyền.

Một trong những bài báo của tờ báo này đã tiết lộ rằng một nhà quản trị của ngân hàng thuộc nhà nước, cũng như vài bộ trưởng có ảnh hưởng, đã xây dựng những tòa biệt thự xa xỉ dọc bên sông Moskva – trong một khu bảo tồn thiên nhiên mà trên thực tế đã có một lệnh cấm xây dựng công trình.

Trong một vấn đề mới đây của tờ báo, Roman Shleinov, một trong những ngôi sao của nhóm các nhà báo có tài năng khác thường, dám đương đầu của tờ báo nầy, đã vạch trần một mạng lưới các công ty mà ông khẳng định là họ đại diện cho một mối liên hệ giữa một nhóm băng đảng mafia với những bà con anh em của Thủ tướng Vladimir Putin.

Shleinov cũng đã và đang chỉ trích gay gắt những mưu đồ của hãng năng lượng khổng lồ Gazprom, và ông thậm chí đã miêu tả những vụ bắt cóc và tống tiền những nhà lãnh đạo doanh nghiệp được thực hiện bởi các sĩ quan cơ quan của FSB, cơ quan tình báo trong nước của Nga. Những sự tiết lộ nầy là đáng chú ý, song những phản ứng (của chính quyền) thì sao? Trên thực tế (họ chẳng) coi như không có gì hết.

“Chúng tôi có thể cho đăng một bức ảnh cho thấy Putin đang nhận một va-li tiền mặt. Nhưng không một ai sẽ quan tâm tới điều này,” Roman Shleinov nói. Shleinov (là một Sisyphus) [2], là một người thường làm  những việc khó khăn và có những nổ lực phi thường và không hề biết mệt mỏi trong nghề báo chí điều tra – một Sisyphus phải chịu những áp lực.

Được quyền vào làm trong lãnh vực báo chí không phải là một vấn đề khó ở Nga, không giống như so với Trung Quốc. Mặc dù truyền hình bị nhà nước kiểm soát trên diện rộng, nhưng phạm vi của những quan điểm trên các tờ báo và trên Internet là rộng hơn, lấy ví dụ như ở Đức.

Đất nước Nga đang chịu đựng một loại tai ách khác biệt hoàn toàn: đó là ngay cả những tiết lộ về những vụ tai tiếng nhất, lớn nhất cũng không dẫn tới bất cứ kết quả gì hết. **

Phương tiện truyền thông tự do và có ảnh hưởng phải nên là một thứ công cụ quan trọng trong cuộc chiến đấu với nạn tham nhũng đã trở nên quá mức. Thế nhưng tại nước Nga, phương tiện truyền thông thiếu những sức mạnh cần thiết. Boris Yeltsin,  là tổng thống đầu tiên của Nga, đã bắt bộ tư pháp phải trả lời trong vòng 10 ngày đối với những cáo buộc tham nhũng được báo chí đưa ra. Người kế nhiệm ông là Putin đã nhanh chóng huỷ bỏ mệnh lệnh của Yeltsin ngay sau khi nhận chức.[3]

“Tìm ra ai là kẻ liên quan”

Tổng biên tập Muratov của tờ Novaya Gazeta đang để ý đến một trong những biên tập viên kỳ cựu của ông ta, người nầy vừa nhận được một tin nhắn về một tai nạn kỳ lạ tại Kutuzovssky Prospekt, một con phố dẫn tới điện Kremlin. Một thanh niên 20 tuổi đã đụng chiếc xe Ferrari còn mới tinh của anh ta trong lúc đang lái xe với tốc độ 200 km một giờ. Người cha của gã thanh niên này hình như là một thành viên trong hội đồng quản trị của một nhóm các nhà băng.

Đối với Muratov, câu chuyện còn là một ví dụ khác trong vô vàn các thí dụ của những gì mà ông gọi là “một tầng lớp quyền thế tự đặt mình lên trên luật pháp.”

“Hãy tìm ra kẻ nào liên quan tới vụ này!” ông ra lệnh cho các biên tập viên của mình. “Và tôi sẽ hỏi Lebedev.”

Trong một lúc nào đấy, dường như rằng  Alexander Lebedev, một cựu thành viên của cơ quan tình báo nước ngoài FSB của Liên Xô và làm chủ 30% hãng hàng không quốc gia Aeroflot, là một trong nhiều nguồn tin khác của Muratov (làm việc) bên trong các định chế của nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tay trùm nhà băng lại là cái gì đó như một người cung cấp tiền bạc cho sự hoạt động của tờ báo Novaya Gazeta.

Ông Alexander Lebedev ta đã và đang giúp tờ báo này từ những năm 1990. Vào tháng Sáu năm 2006, ông ta và cựu lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbachev đã giành được một cổ phần chiếm 49% trong tờ Novaya Gazeta, khi tờ báo nầy bên bờ vực của sự  phá sản vào thời điểm đó. Những người làm công trong tòa báo làm chủ phần còn lại, 51% cổ phần của tờ báo.

Lebedev đã mua các cổ phần của những nhân công này với trị giá 2,1 triệu đô la. Kể từ đó, hàng năm ông đã và đang bơm hàng nhiều triệu đô là vào tờ báo đang làm ăn thua lỗ tiền bạc này.

Không một công ty hay người nào mua quảng cáo đăng trên tờ báo; mọi người lo sợ gây ra thái độ tức giận của điện  Kremlin.

“Khi nào mà tôi còn có tiền, là tôi sẽ giúp,” Lebedev nói, trong một phòng tiếp khách sang trọng trong tòa biệt thự lộng lẫy của ông gần Bộ Ngoại giao. Ông đang mặc quần jeans, một chiếc áo khoác ngoài có hoa văn, và đôi giày thể thao đen rất thời trang.

Ông trùm này tán dương “đội quân những nhà báo kỳ lạ, can đảm” của mình.  Ông nói rằng mục tiêu của ông là làm cho tờ báo trở thành “người đi đầu có chính kiến ở Nga”, và ông dẫn ra nhà thơ và là nhà phê bình Osip Mandelstam chuyên chỉ trích Stalin. Ông Lebedev thích được thấy các biên tập viên của mình như là một phần của truyền thống đối lập với “vương triều ở Nga hiện nay”, và bản thân ông là một ngọn đèn đang chiếu sáng nền tự do báo chí.

Thế nhưng các chính trị gia, các nhà quản trị truyền thông và các nhà báo ở Moscow thường có những câu chuyện khác để nói về Lebedev.

Thứ nhất, họ nói rằng nhà quản lý và điều hành doanh nghiệp này, người đã thua trong cuộc tranh cử để trở thành thị trưởng Moscow và Sochi, địa điểm tổ chức Thế vận hội Olympic mùa Đông 2014, muốn giữ tờ báo để cổ võ những tham vọng chính trị của ông ta.

Họ cũng khẳng định rằng, trong cuộc chơi của các chính trị gia quyền lực ở Moscow, ông đã được chọn để giữ cho tờ báo hay gây phiền phức nằm dưới sự kiểm soát nhân danh Putin.

Lebedev và Gorbachev bác bỏ những khẳng định này, cho đó như là “không hợp lý và trái với suy nghĩ thông thường của mọi người.” Hãy nhìn vào các bài báo trên tờ Novaya,” Lebedev lưu ý. Ví dụ, ông nói, tham vụ báo chí (điện kremlin) của Putin, là ông Alexei Gromov, đã  tức giận điên lên khi tờ báo phanh phui những quyền lợi thương mại được cho là của ông Gromov trong hệ thống truyền hình kỹ thuật số.

(Xin mời xem tiếp Phần 2/203)

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

Lời bình của Trần Hoàng:

[2][một nhà vua thời Hy Lạp cổ đại-BS]

[1]Ở nước … Vệ  , nếu có ai phản đối chuyện gì,  là có tụi côn đồ du đảng đi theo cùng công an phường, quận huyện  tới tận nhà người ấy: để ném đá, ném phân, chửi rủa tục tiểu, hăm dọa và đánh đập.

[3] Đây là một hình thức chính phủ coi thường luật pháp; chính phủ độc tài Nga muốn nói rằng: “luật pháp là TAO, tao là luật pháp”. Khi họ vi phạm luật pháp, thì không một cơ quan nào có quyền truy tố và đem họ ra tòa án để phán xét hay bắt giam họ.

Mà suy rộng ra ai cũng thấy: Tất cả các nước nào theo chế độ cộng sản, có  một đảng cai trị, lấy chủ nghĩa Marx Lê nin làm nền tảng, thì các viên chức trong chính phủ từ cao cho đến thấp đều coi thường pháp luật, họ ngồi “ỉa” trên luật pháp và hiến pháp do chính họ đặt ra.

Các chính phủ Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn, nước Vệ… bắt dân chúng tuân theo luật pháp ấy, nhưng bản thân họ, gia đình họ, và các đồng chí trong phe đảng của họ dù phạm tội lớn cở nào, họ cũng không bị truy tố ra tòa chịu hình phạt như dân chúng; các nhân viên trong chính quyền từ cấp quận huyện tỉnh trở lên đều được miễn trừ nếu vi phạm luật pháp. Hoặc họ chỉ chịu một thứ án tù nào đó ngắn hạn, cho có lệ, thí dụ như: tạm thời “chui vô” ở một chỗ ở mới nào đó cho “khuất con mắt trần gian” trong 1, 2 năm. Ở chỗ ở mới nầy, họ  có người hầu kẻ hạ, ăn uống như ở nhà, đánh cờ, đọc báo và chờ thời…để cho dư luận bên ngoài nguôi ngoai đi.  Và sau đó một thời gian, khi dư luận chuyển hướng qua phía khác, các phạm nhân chui ra khỏi ổ, và hiện nguyên hình như cũ, nhưng lần nầy họ làm việc ở một nơi khác, và diễn trò trở lại, nếu tuổi còn chưa tới 65.

——————————————

 

SPIEGEL

PRESS FREEDOM IN RUSSIA

The Newspaper Loved in the West, Hated at Home

By Matthias Schepp in Moscow

06/09/2009

Reporters at Novaya Gazeta need strong nerves — four of the Moscow-based newspaper’s journalists have already been murdered. But the paper has powerful friends, including Mikhail Gorbachev and oligarch Alexander Lebedev.

Olga seemed simultaneously awestruck and wary as she ran her fingers across the envelope. The sender seemed to be important: the “Presidential Administration.” Was it mail from the Kremlin? “But the envelope felt strange,” says Olga, who is secretary to the editor-in-chief of the Russian newspaper Novaya Gazeta.

When she finally opened the envelope, she felt something cold and leathery inside: the severed ears of a donkey. “One needs strong nerves here,” she says. Four of the newspaper’s journalists have already been murdered, and one of its attorneys was shot dead in broad daylight.

The donkey ears were followed a few days later by a bloody piece of meat. This time there was no return address on the envelope. And then a peculiar man offered the editor-in-chief a bribe.

When the paper investigated the matter, it discovered that an activist with a group called Nashi was behind the mysterious acts. Nashi, a Kremlin-controlled youth organization, had previously staged protests in front of the paper’s editorial offices and launched a campaign against Novaya Gazeta. A short time later, President Dmitry Medvedev made a point of giving the paper an interview.

The situation is unclear. On the one hand, the newspaper, which is published three times a week and has a respectable circulation of 270,000, is the object of the wrath of Moscow’s powerful elite, which finds itself repeatedly criticized in its pages. On the other hand, Novaya Gazeta is suddenly enjoying protection from officials at the highest levels of government.

What exactly is the role of Novaya Gazeta, which is now Russia’s best-known newspaper abroad? Is Novaya, as its readers call it, a bastion of democratic free speech? German Foreign Minister Frank-Walter Steinmeier, the center-left Social Democratic Party’s chancellor candidate in Germany’s September elections, has announced plans to visit the editorial offices this week. And there is even a chance that US President Barack Obama could look in on the paper in early July.

Swimming with the Sharks

It is shortly before noon when Sergei Sokolov, sounding like a drill sergeant at a military barracks, yells “editorial conference” into the hallway. Once, while on vacation, he sent a postcard to his colleagues with the words “I’m swimming with sharks” written on it. The postcard was pinned up on the bulletin board in the editorial offices. Next to it, someone wrote: “The poor sharks.”

Sokolov is the ideal second-in-command. He channels the flow of ideas coming from editor-in-chief Dmitry Muratov without challenging his authority. When Muratov distributes story ideas to his 60-member editorial staff, it can sound like a conspiracy to bring down the government — or at least a few cabinet ministers.

One of the newspaper’s articles revealed that an executive with the state-owned bank, as well as influential ministers, had allegedly built luxury villas along the Moskva River — in a nature reserve where there was in fact a ban on construction. In a recent issue of the paper, Roman Shleinov, one of the stars in the paper’s collection of exceptionally talented and daring journalists, exposed a network of companies that he claimed represented a connection between a mafia group and relatives of Prime Minister Vladimir Putin.

Shleinov has also sharply criticized the machinations of energy giant Gazprom, and he has even described the kidnappings and blackmail of business leaders by officers of the FSB, the Russian domestic intelligence agency. The revelations were remarkable, but the reactions? Practically nonexistent.

“We could print a photo that shows Putin accepting a suitcase of cash. No one would be interested,” he says. Shleinov is a Sisyphus of investigative journalism — a Sisyphus under pressure.

Gaining access to the news is not a problem in Russia the way it is in China, for example. Although television is largely state-controlled, the range of opinions in newspapers and on the Internet is broader than, say, in Germany. The country suffers from a completely different sort of affliction: Even the biggest, most scandalous exposés lead to no consequences whatsoever.

Free and influential media ought to be an important tool in fighting excessive corruption. But in Russia the media lack the necessary powers. Boris Yeltsin, as Russia’s first president, compelled the attorney general’s office to respond within 10 days to corruption charges brought by the media. His successor Putin promptly revoked Yeltsin’s order shortly after taking office.

‘Find Out Who’s Involved’

Novaya Gazeta editor-in-chief Muratov is looking at one of his senior editors, who has just received word of a spectacular accident on Kutuzovsky Prospekt, a street that leads to the Kremlin. A 20-year-old has crashed his new Ferrari while traveling at 200 kilometers per hour (125 mph). The father of the young man is apparently a member of the executive board of a group of banks.

For Muratov, the story is yet another example of the excesses of what he calls “an elite that places itself above the law.” “Find out who’s involved!” he tells his editors. “And I’ll ask Lebedev.”

For a moment, it appears that Alexander Lebedev, a former member of the Soviet foreign intelligence service and a 30-percent owner of the national airline Aeroflot, is just another of Muratov’s many sources within the establishment. In truth, however, the banking magnate is something of a cash machine for Novaya Gazeta.

He has supported the paper since the 1990s. In June 2006, he and former Soviet leader Mikhail Gorbachev acquired a 49-percent stake in Novaya Gazeta, which was on the verge of bankruptcy at the time. The employees owned the rest.

Lebedev bought the employees’ shares for about €1.5 million ($2.1 million). Since then, he has injected millions into the money-losing paper every year. No one buys advertising; everyone is fearful of incurring the Kremlin’s wrath. “As long as I have money, I will help,” says Lebedev, in the opulent reception room of his luxurious mansion near the Foreign Ministry. He is wearing jeans, a designer vest and stylish black sneakers.

The magnate praises his “team of fantastic, courageous journalists,” says that his goal is to make the paper the “opinion leader in Russia,” and quotes the poet and Stalin critic Osip Mandelstam. He likes to see his editors as part of this tradition of resistance to the throne, and himself as a shining light of press freedom.

But politicians, media executives and journalists in Moscow often have other things to say about Lebedev. For one, they say that the entrepreneur, who lost bids to become the mayor of Moscow and Sochi, the site of the 2014 Winter Olympics, keeps the paper to promote his political ambitions. They also claim that, in the Moscow game of power politics, he has been chosen to keep the inconvenient newspaper under control on Putin’s behalf.

Lebedev and Gorbachev reject such claims as “absurd.” “Just take a look at the stories in Novaya,” says Lebedev. For example, he says, Putin’s press czar, Alexei Gromov, was furious when the paper disclosed his alleged business interests in digital television.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí | Thẻ: , , | Leave a Comment »

Tự do báo chí ở Nga (1)

Posted by adminbasam trên 09/06/2009

SPIEGEL

Tờ báo được yêu thích ở phương Tây,

nhưng bị căm ghét tại nước nhà (phần 1)

Các phóng viên của tờ Novaya Gazeta cần có những sợ dây thần kinh vững vàng – bốn trong các phóng viên của tờ này thường trú tại Moscow đã bị sát hại. Thế nhưng tờ báo lại có những người bạn quyền lực, trong đó có Mikhail Gorbachev và nhân vật chính trị đầu sỏ Alexander Lebedev.

Matthias Schepp, từ Moscow

Ngày 9-6-2009

Olga tỏ ra vừa khiếp sợ vừa lo lắng khi cô lướt những ngón tay quanh chiếc phong bì. Người gửi có vẻ là nhân vật quyền thế: “Phủ Tổng thống”. Nó có phải là thư gửi từ Kremlin hay không? “Nhưng sao cảm thấy chiếc phong bì là lạ,” theo lời kể của Olga, thư ký của tổng biên tập tờ báo tiếng Nga Novaya Gazeta.

Khi cuối cùng cô mở chiếc bì thư, cô liền có cảm giác ớn lạnh và sởn gai ốc: những chiếc tai lừa. “Ở đây ai đó cũng cần có những sợi dây thần kinh vững vàng,”cô nói. Bốn trong số các nhà báo của tờ báo này đã bị sát hại, và một trong số các luật sư của bản báo đã bị bắn chết giữa ban ngày ban mặt.

Những chiếc tai lừa đã được nối tiếp sau đó ít ngày bằng một mẩu thịt vấy máu. Lần này không có địa chỉ nơi gửi trên phong bì. Và rồi một người đàn ông kỳ dị đã đề nghị với tổng biên tập tờ báo một khoản tiền hối lộ.

Khi tờ báo điều tra vụ việc, họ đã phát hiện ra rằng có một nhà hoạt động chính trị với một nhóm được gọi là Nashi đứng đằng sau những hành động bí ẩn. Nishi, một tổ chức thanh niên được Kremlin kiểm soát, trước đó đã tiến hành các hoạt động phản kháng trước cửa văn phòng ban biên tập tờ báo và phát động một chiến dịch chống lại tờ Novaya Gazeta. Một quãng thời gian ngắn sau đó, Tổng thống Dmitry Medvedev đã có một quyết định cho bản báo này một cuộc phỏng vấn.

Tình hình tỏ ra không rõ ràng. Một mặt, tờ báo, được phát hành ba lần một tuần và có một số ấn phẩm đáng nể là 270.000 bản, là mục tiêu của thái độ tức giận của giới quyền thế ở Moscow, do nhiều lần họ thấy có những bài viết chỉ trích họ trên báo. Mặt khác, tờ Novaya Gazeta bất ngờ đang được hưởng sự bảo vệ từ các quan chức ở những cấp cao nhất trong chính phủ.

Có phải đúng là do vai trò của Novaya Gazeta, giờ đây là tờ báo nổi tiếng nhất của Nga ở nước ngoài hay không? Có phải Novaya đúng như các nhà lãnh đạo vẫn gọi nó, là một pháo đài của tiếng nói tự do dân chủ hay không?  Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier, ứng cử viên thủ tướng thuộc Đảng Dân chủ Xã hội trong các cuộc bầu cử vào tháng Chín tới tại Đức, đã loan báo những kế hoạch viếng thăm các văn phòng toà soạn báo vào tuần này. Và thậm chí có một cơ hội là Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama có thể ghé qua vào đầu tháng Bảy này.

Bơi cùng lũ cá mập

Ngay trước buổi trưa khi Sergei Sokolov, với hiệu lệnh như một viên hạ sĩ quan huấn luyện tại một doanh trại quân đội, anh loan báo “hội nghị xuất bản” trong hành lang tòa soạn báo. Trước đó, trong thời gian nghỉ, anh đã gửi một bức bưu ảnh tới các bạn đồng nghiệp với những câu anh viết trong đó “Tôi đang bơi cùng với lũ cá mập”. Chiếc bưu ảnh đã được ghim lên tấm bảng trong tòa soạn báo. Bên cạnh nó, có ai đó viết: “Những con cá mập tội nghiệp.”

Sokolov là nhà tư tưởng số hai trong ban biên tập. Ông hướng những luồn ý tưởng đến từ tổng biên tập Dmitry Muratov mà không phải thách thức vai trò quyền lực của tổng biên tập. Khi Muratov đưa các ý tưởng cho bài báo tới 60 thành viên ban biên tập, là nó báo hiệu như là một âm mưu hạ bệ chính phủ – hoặc ít nhất cũng là một vài bộ trưởng trong chính quyền.

Một trong những bài báo của tờ báo này đã tiết lộ rằng một nhà quản trị của ngân hàng thuộc nhà nước, cũng như vài bộ trưởng có ảnh hưởng, được viện dẫn đã cho xây dựng những tòa biệt thự xa xỉ dọc bên sông Moskva – tại một khu bảo tồn thiên nhiên mà trên thực tế đã có một lệnh cấm xây dựng công trình. Trong một vấn đề mới đây của tờ báo, Roman Shleinov, một trong những ngôi sao trong một tập hợp các nhà báo có tài năng và táo bạo khác thường của tờ báo, đã bóc trần một mạng lưới các công ty mà ông khẳng định là họ đại diện cho một mối liên hệ giữa một nhóm mafia với những bà con thân thuộc của Thủ tướng Vladimir Putin.

Shleinov cũng đã chỉ trích gay gắt những mưu đồ của hãng năng lượng khổng lồ Gazprom, và ông thậm chí đã miêu tả những vụ bắt cóc và tống tiền những nhà lãnh đạo doanh nghiệp được thực hiện bởi các sĩ quan cơ quan của FSB, cơ quan tình báo trong nước của Nga. Những phát hiện là đáng chú ý, song những phản ứng thì sao? Trên thực tế chẳng có gì.

“Chúng tôi có thể cho đăng một bức ảnh cho thấy Putin đang nhận một va-li tiền mặt. Nhưng không ai quan tâm tới điều này,” ông nói. Ahleinov là một Sisyphus [một nhà vua thời Hy Lạp cổ đại-BS] trong nghề báo chí điều tra – một Sisyphus phải chịu những áp lực.

Có được cách tiếp cận thông tin báo chí không phải là một vấn đề khó ở Nga, ví dụ như so với Trung Quốc. Mặc dù truyền hình bị nhà nước kiểm soát trên diện rộng, nhưng phạm vi của những quan điểm trên các tờ báo và trên Internet là rộng hơn, lấy ví dụ như ở Đức.

Đất nước này phải chịu đựng một loại tai ách khác biệt hoàn toàn: đó là ngay cả những tiết lộ về những vụ tai tiếng nhất, lớn nhất cũng không dẫn tới bất cứ kết quả gì.

Phương tiện truyền thông tự do và có ảnh hưởng nên nó là một thứ công cụ quan trọng trong cuộc chiến đấu với nạn tham nhũng đã trở nên quá mức. Thế nhưng tại nước Nga, phương tiện truyền thông thiếu những sức mạnh cần thiết. Boris Yeltsin, với vai trò là tổng thống đầu tiên của Nga, đã bắt bộ tư pháp phải trả lời trong vòng 10 ngày đối với những cáo buộc tham nhũng được báo chí đưa ra. Người kế nhiệm ông là Putin đã nhanh chóng huỷ bỏ mệnh lệnh của Yeltsin ngay sau khi nhận chức.

“Tìm ra ai là kẻ liên quan”

Tổng biên tập Muratov của tờ Novaya Gazeta đang để ý đến một trong những biên tập viên kỳ cựu của mình, người vừa nhận được một tin nhắn từ một vụ tai nạn kỳ lạ tại Kutuzovssky Prospekt, một con phố dẫn tới điện Kremlin. Một thanh niên 20 tuổi đã đâm hỏng chiếc xe Ferrari còn mới của mình trong lúc đang lao với tốc độ 200 km một giờ. Người cha của gã thanh niên này hình như là một thành viên trong hội đồng quản trị của một nhóm các nhà băng.

Đối với Muratov, câu chuyện còn là một ví dụ về sự thừa mứa những gì mà ông gọi là “một tầng lớp quyền thế tự đặt mình lên trên luật pháp.” “Hãy tìm ra kẻ nào liên quan tới vụ này!” ông ra lệnh cho các biên tập viên của mình. “Và tôi sẽ hỏi Lebedev.”

Trong giây lát, đã cho thấy là Alexander Lebedev, một cựu thành viên của cơ quan tình báo nước ngoài của Liên Xô và làm một chủ sở hữu 30% hãng hàng không quốc gia Aeroflot, chỉ là một trong nhiều nguồn tin của Muratov trong vòng xác minh. Tuy nhiên, trên thực tế, tay trùm nhà băng lại là cái gì đó như một chiếc máy in tiền cho Novaya Gazeta.

Ông ta đã giúp tờ báo này từ những năm 1990. Vào tháng Sáu năm 2006, ông ta và cựu lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbachev đã giành được một cổ phần chiếm 49% trong tờ Novaya Gazeta, khi nó suýt phá sản vào thời điểm đó. Những người làm công trong tòa báo sở hữu phần còn lại.

Lebedev đã mua các cổ phần của những nhân công này với trị giá 2,1 triệu đô la. Kể từ đó, hàng năm ông đã bơm hàng triệu đô là vào tờ báo đang làm ăn thua lỗ này. Không ai mua quảng cáo; mọi người lo sợ phải gánh lấy thái độ tức giận của Kremlin. “Miễn là tôi có tiền, là tôi sẽ giúp,” Lebedev nói, trong một phòng tiếp khách sang trọng của tòa biệt thự lộng lẫy của ông gần Bộ Ngoại giao. Ông đang mặc bộ đồ bò, một chiếc áo lót có hoa văn và đôi giày quần vợt đen hợp thời trang.

Ông trùm này tán dương “đội quân những nhà báo kỳ lạ, can đảm” của mình, khi ông nói rằng mục tiêu của ông là làm cho tờ báo trở thành “người đi đầu có chính kiến ở Nga”, và ông dẫn ra nhà thơ và là nhà phê bình Stalin Osip Mandelstam. Ông thích được thấy các biên tập viên của mình như là bộ phận của truyền thống đối kháng với ngai vàng quyền uy này, và bản thân ông như là một tia sáng chiếu rọi tới nền tự do báo chí.

Thế nhưng các chính trị gia, các nhà quản trị truyền thông và các nhà báo ở Moscow thường có những câu chuyện khác để nói về Lebedev. Thứ nhất, họ nói rằng ông chủ này, người đã mất nhiều nỗ lực để trở thành thị trưởng Moscow và Sochi, địa điểm tổ chức Thế vận hội Olympic mùa Đông 2014, muốn giữ tờ báo để xúc tiến những tham vọng chính trị của ông ta. Họ cũng khẳng định rằng, trong cuộc chơi của các chính trị gia quyền lực ở Moscow, ông đã được chọn để giữ cho tờ báo hay gây phiền phức nằm dưới sự kiểm soát nhân danh Putin.

Lebedev và Gorbachev bác bỏ những khẳng định này, cho nó như là “trò ngớ ngẩn.” Hãy nhìn vào các bài báo trên Novaya,” Lebedev lưu ý. Ví dụ, ông nói, vua báo chí của Putin, Alexei Gromov, đã phải tức giận khi tờ báo phanh phui những lợi ích thương mại được cho là của ông trong hệ thống truyền hình kỹ thuật số.

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ | Thẻ: , , | Leave a Comment »

Chính quyền TQ che giấu sự thật Thiên An Môn

Posted by adminbasam trên 09/06/2009

THE WEEKLY STANDARD

Cuộc thảm sát Thiên An Môn vẫn không được nhiều người tuổi trẻ hay biết

Bắc Kinh đang phạm một sai lầm khi vẫn che giấu sự thật về cuộc thảm sát Thiên An Môn
 
Gordon G. Chang

Ngày 8-6-2009, Tập 014, Ấn bản số 36

 

Năm 1996, Min, lúc đó còn ở độ tuổi giữa 20-30, đã biểu thị mối hoài nghi khi lần đầu tiên cô nghe nói về vụ tàn sát ở Quảng trường Thiên An Môn. Câu chuyện bi kịch nầy đã xuất hiện trong một cuộc chuyện trò vào buổi ăn tối ở thành phố Thượng Hải quê hương của cô cùng Chris, anh bạn trai người Mỹ của cô.

Tôi đã lấy làm ngạc nhiên rằng bất cứ ai đã sống tại một thành phố lớn ở Trung Quốc trong quãng thời gian xảy ra cuộc náo loạn năm 1989 đó và không biết rằng một triệu người dân đã từng tập trung tại quãng trường nầy, trái tim tinh thần của đất nước nầy, rằng  quân đoàn số 27 đã nã đạn vào các đường phố Bắc Kinh vào đêm mùng 3 tháng Sáu, và rằng bộ đội TQ đã tái chiếm được quảng trường nầy trước bình minh sau khi có lẽ đã giết chết 3.000 người. Vào khoảng thời gian ấy, đã có nhiều cuộc biểu tình và các hoạt động dân chủ đã diễn ra trong 371 thành phố ở TQ, tính luôn cả  những cuộc tập trung phản đối rất lớn ở thành phố Thượng Hải của cô Min.

Những ai đã từng sống qua Mùa xuân ở Bắc Kinh vào năm 1989 sẽ không bao giờ quên được niềm vui của việc tụ tập ở  quảng trường và nỗi kinh hoàng khủng khiếp của cuộc đàn áp giết chóc, song chế độ TQ giờ đây vẫn có khả năng giữ kín phần lớn các điều đó. Thế nhưng chỉ một phần ở đất nước này đã bị mang vết sẹo. Đối với giới trẻ Trung Quốc, vụ Thiên An Môn chưa từng bao giờ xảy ra.

Trong 20 năm qua, đảng Cộng sản Trung Quốc đã thường xuyên nói trại đi khi họ phải nhắc tới sự kiện Thiên An Môn, họ ám chỉ một cách tế nhị cuộc tàn sát ấy như là “một biến cố đã xảy ra vào cuối những năm 1980 của thế kỷ trước”, hoặc đơn giản hơn như là “sự việc năm 1989 đó”.

Phần lớn, chính quyền TQ đã có khả năng ngăn chận một cuộc thảo luận công khai về vụ Thiên An Môn ở bên trong nướcTrung Quốc.

Các cuốn sách giáo khoa không nhắc tới nó, thầy cô giáo không dạy về nó, và phương tiện truyền thông nhà nước cố gắng tránh nói tới sự kiện này để không thừa nhận chuyện ấy.

Các diễn đàn chuyện gẫu trên mạng của đại lục đều dọn dẹp sạch hết những gì ám chỉ tới những cuộc giết chóc này, và các công cụ tìm kiếm trên mạng của Trung Quốc đã chặn những bài báo viết về vụ Thiên An Môn.

Các nhân viên kiểm duyệt nhanh chóng xóa đi những số “64″, loại mã mà người Trung Quốc đã thành lập để ám chỉ tới các sự kiện ngày 4 tháng 6.

Tất nhiên, việc xóa bỏ sự kiện lịch sử  có thể không bao giờ thành công hoàn toàn. Ví dụ như vào tháng 6 năm 2007, một tờ báo của thành phố Chengdu phía đông nam nước này đã chạy một đoạn quảng cáo trên mục rao vặt để kỷ niệm cho các bà mẹ của những nạn nhân trong cuộc thảm sát. Thư ký tòa soạn đã chấp nhận đoạn quảng cáo vì bà chưa từng được nghe nói về vụ thảm sát này. Rốt cục, ba biên tập viên đã bị đuổi việc.

Sau cùng, người ta phát hiện ra  và trở nên vỡ mộng với chính phủ của họ, đặc biệt vì họ nhận ra rằng họ có thể biết được sự thật về đất nước họ chỉ từ những người nước ngoài mà thôi.

Và việc thiếu các tin tức về  biến cố Thiên An Môn có thể là gây nguy hiểm cho chế độ nầy hơn là sự thật đầy đủ về chuyện ấy. Bởi vì họ không biết tất cả những gì đã từng xảy ra năm 1989, những người Trung Quốc trẻ tuổi vẫn xem chính phủ của họ không phải là mối đe doạ.

“Điều duy nhất tôi có thể nhớ về ngày 4 tháng Sáu là khi xem truyền hình và nghe nói rằng có cảnh sát chống bạo động đã hy sinh,” Lu Jing, 6 tuổi vào thời điểm xảy ra vụ tàn sát, nói với một phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP như vậy. “Tôi không tin là có bất cứ sinh viên nào đã chết. Về khía cạnh này, Trung Quốc là nước dân chủ bởi vì thế chính quyền Trung Quốc sẽ không làm hại người dân của họ.”

Như người phụ trách cột báo trên tờ New York Times Nicholas Kristof đã lưu ý, là người Trung Quốc không kéo nhau  ra đường khi họ giận dữ. Họ làm vậy khi họ nghĩ là họ có thể gây ra (chuyện ấy) mà không ai phát hiện.

“Chính quyền Trung Quốc luôn gây ra những mức độ của sự sợ hãi nào đó, và nỗi sợ hãi đó giờ đây đang xói mòn và giảm dần rồi,” ông đã viết như vậy vào năm 2003.

Sự xói mòn đó đã phát triển quá mức đến nổi mà bài học quan trọng Đặng Tiểu Bình đã tìm cách để thấm nhuần vào năm 1989 – rằng đảng Cộng sản muốn chọn  bạo lực giết người trên một quy mô to lớn – đã và đang phần lớn mất đi.

Vào đầu tháng này, trong lúc tôi đang chuyện trò với một thương gia nổi tiếng trong văn phòng rộng lớn của ông trên tòa nhà cao tầng ở Thượng Hải, và ông đã thừa nhận về mức độ thay đổi của đất nước Trung Quốc trong 20 năm qua nhiều đến thế nào. “Không còn ai sợ chính phủ nầy chút nào nữa,” ông giải thích với một nụ cười mở rộng.

Và tại sao họ lại có được thái độ như vậy? Có sự thay đổi xã hội không thể tưởng tượng nổi đang xảy ra với tốc độ nhanh chóng. Nước Cộng hòa Nhân dân đang bắt đầu trông giống như, và thậm chí một số  cảm giác, là (đất nước của) một thế giới hiện đại. Nói tóm lại,  đất nước Trung Quốc giờ đây trông ít có vẻ Trung Hoa (hơn ngày xưa), và cũng ít độc đoán hơn.

Sự không thừa nhận về vụ thảm sát 1989 đang góp phần vào nhận thức của một xã hội tự do hơn giữa những con người trẻ tuổi – và hầu hết bọn họ là không kiên định – những thành phần cơ bản của dân số TQ. Họ không biết gì song lại thành đạt và xem nhẹ mọi chuyện.

Trong lúc nền kinh tế chao đảo – và đất nước đã bước vào một giai thời kỳ không hoặc chậm tăng trưởng mà có thể sẽ kéo dài nhiều năm – thế hệ thanh niên được cho là thờ ơ có thể tìm kiếm nguyên nhân cho các hành động chính trị, đúng như lớp trẻ đã làm trong những năm 1980.

Hiện nay, người Trung Quốc trẻ tuổi tin là họ có những quyền và không gian để sử dụng những quyền này, và kết quả là những nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể phải đối mặt với một làn sóng thách thức mới.

Những chính phủ độc đoán, ổn định nhất nói chung là những chính thể có những kẻ cai trị tàn nhẫn nhất. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào được cho là đã tuyên bố với một trong những ủy viên gần gủi nhất ở Bắc Kinh là: “Về mặt chính trị, Bắc Triều Tiên đã và đang thi hành rất đúng.”

Ông Kim Chính Nhật đã có khả năng siết chặt ách kìm kẹp của ông ấy đối với một quốc gia đã bị suy yếu bởi nạn đói triền miên và tình cảnh túng thiếu trên phần lớn đất nước bởi vì những bản án tử hình ở nơi công cộng và các sách lược khác mà những những chuyện nầy đang tiêm nhiễm dần dần nổi sợ bị giết chết và nổi lo sợ bất an  giữa những người Bắc Triều Tiên

Giống như ông Kim, Mao Trạch Đông và ông Đặng Tiểu Bình có khả năng phạm phải những hành động tội ác ghê gớm chống lại những người dân của họ khi nào mà họ cảm thấy cần thiết phải bảo vệ chế độ của họ.

Những người kế vị họ là những nhà kỹ trị và ôn hòa và đặc biệt không phải là những kẻ khát máu. Ôn Gia Bảo, thủ tướng hiện thời, được biết đến như là “thủ tướng mau nước mắt” và là “Cụ Ôn”. Những chiến thuật đàn áp của ông ta  hiện đại hơn và tinh tế hơn so với ông Kim – và không hiệu quả bằng. (bằng chứng là) Có hàng chục ngàn cuộc phản kháng biểu tình mỗi năm ở Trung Quốc còn ở Bắc Triều Tiên thì chỉ vài ba cuộc biểu tình.

Không nghi ngờ gì hết, dịp kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn năm nay chắc chắn sẽ qua đi mà không có lời bình luận chính thức nào [từ phía chính phủ]. Cũng như trong quá khứ, một ít công dân nước này sẽ được trích dẫn trên phương tiện truyền thông phương Tây với lời nói rằng vụ việc là chuyện lịch sử xa xưa, và họ đã “tiến lên phía trước”.

Tuy nhiên những người lãnh đạo đảng Cộng sản, suy đoán từ sự miễn cưỡng của họ trong việc thảo luận về các sụ kiện 20 năm trước, đã không như vậy. Bởi vì họ không thể cởi mở và thành thật, họ không thể tự bảo vệ chính họ trước những con người đang vẫn còn đang nhớ về chuyện quá khứ đó. Và bằng cách ngăn chặn hoạt động tưởng niệm biến cố Mùa Xuân Bắc Kinh, họ đang giải bớt nỗi sợ hãi từng giữ cho cái nhà nước độc đảng này được tồn tại trong quyền lực. Đối với những kẻ chuyên quyền ở Trung Quốc ngày nay, có thể không có câu trả lời đúng đắn về sự kiện Thiên An Môn.

Gordon G. Chang là tác giả của cuốn Triển vọng Sụp đổ của Trung Quốc.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

Lời bình của TH

Cũng ngày 4-6-1989, cách đây 20 năm, người Ba Lan đã tổ chức cuộc bầu cử tự do (161/460 số dân biểu) ở Hạ Viện và bầu cử hoàn toàn tự do 100 thượng nghị sĩ ở Thượng Viện. Công đoàn Đoàn Kết thắng được 160/161 ghế ở hạ viện và 92/100 ghế ở Thượng Viện. Từ một thắng lợi nhỏ nầy (vì đa số ghế ở Hạ Viện vẫn do đảng CS nắm),  mà kết quả là những tháng sau đó, họ đã loại bỏ chế độ độc tài đảng trị, và xây dựng một chế độ dân chủ đầu tiên sau 45 năm sống dưới chế độ cộng sản.

Người Ba Lan đã dũng cảm, chịu đựng biết bao gian khổ, và tập trung dưới sự lãnh đạo của Công Đoàn Đoàn Kết để đấu tranh với chế độc độc tài 9 năm ròng rã. Dưới trướng của Công đoàn Đoàn Kết là 10  triệu người thuộc nhiều thành phần và tôn giáo khác nhau, thuộc nhiều đảng phái khác nhau…nhưng họ biết đặt sang một bên những mục đích khác biệt và tập trung vào mục đích là làm sao loại bỏ chế độ độc tài (do đảng cộng sản Ba Lan cai trị) bằng con đường bầu cử.Người ta gọi đây là cuộc cách mạng nhung.

Ngày nay, Ba Lan trở thành quốc gia giàu có đứng hàng 7 ở Âu Châu và đứng thứ 18 trên thế giới, (sau Nam Hàn, Hòa Lan và Thổ Nhĩ Kỳ). Ba Lan có  GDP 526 tỉ đô la năm 2008 và dân số  38 triệu dân. ( GDP của VN là 70 tỉ đô la và dân số là 86 triệu dân, 2008). GDP là tổng sản phẩm và dịch vụ mà dân chúng của  một nước làm ra trong 1 năm.

————————————————-

 

THE WEEKLY SANDARD

The Unknown Massacre Beijing is making a mistake by suppressing the

truth about Tiananmen.

by Gordon G. Chang

06/08/2009, Volume 014, Issue 36

In 1996, Min, then in her mid-20s, expressed disbelief when she first heard of the massacre in Tiananmen Square. The tragedy had come up in a casual dinner conversation I was having in her hometown of Shanghai with her and Chris, her American boyfriend.

I was taken aback that anyone could have lived in a major city in China during the turmoil of 1989 and not known that a million people had gathered in the spiritual heart of the country, that the vicious 27th Army had shot its way through the streets of Beijing on the night of June 3, and that soldiers had reclaimed the square by morning after perhaps 3,000 had been killed. There were at the time democracy protests and activities in 371 cities in China, including big rallies in Min’s Shanghai.

Those who lived through the Beijing Spring of 1989 will never forget the exhilaration of gathering in the square and the horror of the murderous crackdown, but the regime can for the most part keep them silent. But only a part of the nation has been scarred. For China’s young, Tiananmen never happened.

For 20 years, China’s Communist party has resorted to euphemisms when it has had to talk about Tiananmen, delicately referring to the slaughter as “the event that happened in the late 1980s of last century” or more simply as “that 1989 affair.” For the most part, it has been able to prevent an open discussion of the matter inside China. Textbooks don’t mention it, teachers don’t teach it, and the state media go out of their way to ignore it.

Mainland chat rooms are scrubbed of references to the killings, and Chinese search engines block Tiananmen articles. Censors are quick to delete the number “64,” the code the Chinese have developed for referring to the events of June 4.

The erasure of history can never be completely successful, of course. In June 2007, for instance, a paper in the southwestern city of Chengdu ran a classified ad commemorating the mothers of victims of the massacre. The clerk accepted the ad because she had never heard of the incident. Ultimately, three editors were fired.

Eventually people find out and become disillusioned with their government, especially because they realize they can learn the truth about their country only from foreigners. And ignorance of Tiananmen might be more dangerous to the regime than full knowledge of it. Because they don’t know all that occurred in 1989, younger Chinese view their government as unthreatening.

“The only thing I can remember about June 4 is watching television and hearing that riot police had died,” said Lu Jing, who was six at the time of the massacre, to an Agence France-Presse reporter. “I don’t believe any students died. China in this respect is democratic as China wouldn’t hurt its own people.”

As New York Times columnist Nicholas Kristof has noted, the Chinese don’t take to the streets when they are angry. They do so when they think they can get away with it. “China has always operated to some degree on fear, and that fear is now eroding,” he wrote in 2003.

The erosion has progressed so far that the essential lesson Deng Xiaoping sought to instill in 1989–that the Communist party is willing to resort to deadly violence on a mass scale–has been largely lost.

Earlier this month, I was talking to a prominent businessman in his spacious office in a Shanghai skyscraper, and he acknowledged how much China had changed in the last 20 years. “No one fears the government any more,” he noted with a broad smile.

And why should they? There’s unimaginable societal change happening at speed. The People’s Republic is beginning to take on the look, and even some of the feel, of the modern world. In short, China looks less Chinese, and less authoritarian as well.

Ignorance of 1989 is contributing to the perception of a freer society among the youngest–and most volatile–elements of the population. They have known nothing but prosperity and take it for granted. As the economy stumbles–and the country has entered a period of no or slow growth that could last years—

China’s supposedly apathetic generation could find cause for political activism, just as the young did in the 1980s. Young Chinese believe they have rights and the space to exercise them, and Beijing’s leaders could face a new wave of defiance as a result.

The most stable authoritarian governments are generally the ones with the harshest rulers. Chinese president Hu Jintao is reputed to have said inside one of Beijing’s closed councils: “Politically, North Korea has been consistently correct.” Kim Jong Il has been able to tighten his grip over a state weakened by continual famine and destitution in large part because of public executions and other tactics that instill dread and apprehension among ordinary North Koreans.

Like Kim, Mao Zedong and Deng were capable of great crimes against their people when they felt the need to defend their regime. Their successors are technocratic and bland and not especially bloodthirsty. Wen Jiabao, the current premier, is known as the “crying prime minister” and “Grandpa Wen.” His repressive tactics have been more modern and subtle than Kim’s–and not as effective. There are tens of thousands of protests each year in China and few in North Korea.

The Tiananmen anniversary will undoubtedly pass without official comment this year. As in the past, a few citizens will be quoted in Western media as saying the incident is old history, and they have “moved on.”

Yet Communist party leaders, judging from their reluctance to discuss the events of 20 years ago, have not. Because they cannot be candid, they cannot defend themselves in front of those who remember. And by repressing the memory of the Beijing Spring, they are lessening the fear that has kept the one-party state in power. For Chinese autocrats these days, there may be no right answer on Tiananmen.

Gordon G. Chang is the author of The Coming Collapse of China.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Trung Quốc | Thẻ: | Leave a Comment »

Cuộc thảm sát vẫn không được biết rõ

Posted by adminbasam trên 08/06/2009

THE WEEKLY STANDARD

Cuộc thảm sát vẫn không được biết rõ

Bắc Kinh đang phạm một sai lầm khi vẫn che giấu sự thật về cuộc thảm sát Thiên An Môn

Gordon G. Chang

Ngày 8-6-2009, Tập 014, Ấn bản số 36

Năm 1996, Min, lúc đó còn ở độ tuổi giữa 20-30, đã biểu thị mối hoài nghi khi lần đầu tiên cô nghe nói về vụ tàn sát trên Quảng trường Thiên An Môn. Tấn thảm kịch đã được nêu ra tại một cuộc chuyện trò trong bữa tiệc tối tình cờ mà tôi có được tại thành phố Thượng Hải quê hương của cô cùng cô và bạn trai Chris người Mỹ. Tôi đã phải kinh ngạc là chẳng có ai có thể đã sống tại một thành phố lớn ở Trung Quốc trong quãng thời gian xảy ra cuộc náo loạn năm 1989 đó mà lại không được biết rằng một triệu người dân đã tập trung tại nơi là trái tim tinh thần của đất nước, rằng Đội quân số 27 đã nã đạn theo cách của họ vào suốt các con phố của Bắc Kinh vào đêm mùng 3 tháng Sáu, và rằng binh lính đã dọn dẹp xoá dấu vết tại quảng trường vào sáng hôm sau khi có lẽ đã có 3.000 người đã bị sát hại.

Những con người đó đã sống qua sự kiện Mùa xuân Bắc Kinh năm 1989 sẽ không bao giờ quên được niềm vui khi tập trung tới quảng trường và nỗi kinh hoàng trước cuộc đàn áp tàn bạo, song chế độ này có thể làm được điều đó để cho đa số những con người ấy phải giữ im lặng. Thế nhưng chỉ một phần ở đất nước này vẫn còn trong lòng những vết sẹo. Đối với giới trẻ Trung Quốc, vụ Thiên An Môn chưa từng xảy ra.

Trong 20 năm qua, đảng Cộng sản Trung Quốc đã thường xuyên nói trại đi khi họ phải nhắc tới sự kiện Thiên An Môn, ám chỉ một cách tế nhị cuộc tàn sát như là “sự kiện đã xảy ra trong những năm cuối 1980 của thế kỷ trước” hoặc đơn giản hơn như là “vụ việc năm 1989 đó”. Với phần lớn dân chúng, có thể cần tránh một cuộc thảo luận công khai về vụ việc ở bên trong Trung Quốc. Các cuốn sách giáo khoa không nhắc tới nó, thầy cô giáo không dạy về nó, và phương tiện truyền thông nhà nước tránh nói tới sự kiện này trong cách đưa tin tức của họ. Các diễn đàn chuyện gẫu trên mạng của đại lục đều dọn dẹp những gì liên quan tới những cuộc giết chóc này, và các công cụ tìm kiếm trên mạng của Trung Quốc đã chặn những bài báo viết về vụ Thiên An Môn. Các nhân viên kiểm duyệt nhanh chóng xóa đi những số “64″, loại mã mà người Trung Quốc đã khai triển để ám chỉ tới các sự kiện ngày 4 tháng 6.

Tất nhiên, việc xóa bỏ sự kiện lịch sử  có thể không bao giờ thực hiện được thành công hoàn toàn. Ví dụ như vào tháng 6 năm 2007, một tờ báo của thành phố Chengdu phía đông nam nước này đã chạy một đoạn quảng cáo trên mục rao vặt để kỷ niệm cho các bà mẹ của những nạn nhân trong cuộc thảm sát. Thư ký tòa soạn đã chấp nhận đoạn quảng cáo vì bà chưa từng được nghe nói về vụ thảm sát này. Rốt cục, ba biên tập viên đã bị đuổi việc.

Dần dần người ta tìm ra thông tin về vụ việc và đã trở nên vỡ mộng với chính phủ của mình, đặc biệt vì họ nhận ra là họ có thể biết được sự thật về đất nước mình chỉ từ người nước ngoái mà thôi. Và việc không biết tới sự kiện Thiên An Môn có thể nguy hiểm cho chế độ hơn là biết rõ hoàn toàn. Bởi do không biết tất cả những gì đã xảy ra năm 1989, những người Trung Quốc trẻ tuổi coi chính phủ của họ không phải là mối đe doạ. “Điều duy nhất tôi có thể nhớ về ngày 4 tháng Sáu là khi xem truyền hình và nghe nói rằng có cảnh sát chống bạo động đã hy sinh,” Lu Jing, người tròn 6 tuổi vào thời điểm xảy ra vụ tàn sát cho một phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP biết như vậy. “Tôi không tin là có bất cứ sinh viên nào bị giết. Trung Quốc về khía cạnh này thì dân chủ bởi vì đất nước Trung Quốc không thể làm hại người dân của mình.”

Như người phụ trách cột báo trên tờ New York Times Nicholas Kristof đã lưu ý, là người Trung Quốc không xuống đường khi họ giận dữ. Họ làm như vậy khi họ nghĩ họ có thể tống khứ nỗi giận dữ đó đi. “Đất nước Trung Quốc luôn sống trong những nỗi sợ hãi nào đó, và nỗi sợ hãi đó giờ đây đang bị xói mòn,” ông đã viết như vậy vào năm 2003. Sự xói mòn đó đã phát triển quá mức mà bài học quan trọng Đặng Tiểu Bình đã cố để thấm nhuần năm 1989 – rằng đảng Cộng sản sẵn sàng dùng tới bạo lực chết người trên một quy mô lớn – phần lớn đã mất đi. Vào đầu tháng này, trong cuộc chuyện trò của tôi với một thương gia nổi tiếng tại căn phòng làm việc rộng lớn của ông trên tòa nhà cao tầng ở Thượng Hải, và ông đã thừa nhận về mức độ thay đổi của đất nước Trung Quốc trong 20 năm qua nhiều đến thế nào. “Không còn có ai sợ chính phủ chút nào nữa,” ông giải thích với một nụ cười phóng khoáng.

Và tại sao họ lại có được thái độ như vậy? Có sự thay đổi xã hội không thể tưởng tượng nổi đang xảy ra nhanh chóng. Nước Cộng hòa Nhân dân đang bắt đầu có được cái nhìn, và thậm chí một số người cảm giác được, về thế giới hiện đại. Nói ngắn gọn, thì đất nước Trung Quốc trông ít có vẻ Trung Quốc hơn, và cũng ít độc đoán hơn.

Sự kém hiểu biết về vụ thảm sát 1989 đang góp phần vào nhận thức của một xã hội tự do hơn trong những con người trẻ tuổi – và hầu hết là không kiên định – những thành tố của dân cư. Họ không biết gì song lại thành đạt và chấp nhận như vậy. Trong lúc nền kinh tế chao đảo – và đất nước đã bước vào một giai đoạn không hoặc chậm tăng trưởng mà có thể phải kéo dài nhiều năm – thế hệ được cho là thờ ơ có thể tìm kiếm động cơ cho chủ nghĩa tích cực chính trị, đúng như lớp trẻ đã làm trong những năm 1980. Người Trung Quốc trẻ tuổi tin là họ có những quyền lợi và không gian để sử dụng những quyền này, và những nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể phải đối mặt với một làn sóng thách thức mới như là một hệ quả.

Hầu hết những chính phủ độc đoán ổn định nhất nói chung đều là những chính thể với những kẻ cai trị tàn nhẫn nhất. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào được cho là đã tuyên bố với một trong những nhóm bảo thủ ở Bắc Kinh là: “Về mặt chính trị, Bắc Triều Tiên đúng là trước sau như một.” Ông Kim Chính Nhật đã có thể siết chặt ách kìm kẹp của ông ấy đối với một quốc gia đã bị suy yếu bởi nạn đói triền miên và tình cảnh túng thiếu trên phần lớn đất nước do việc thi hành chính sách nói chung và các sách lược khác dần đần làm cho những người dân Bắc Triều Tiên bình thường phải khiếp sợ và nhận thức ra.

Giống như ông Kim, Mao Trạch Đông và ông Đặng tỏ ra thành thạo với những hành động tội ác ghê gớm chống lại những người dân của mình khi họ cảm thấy cần thiết phải bảo vệ chế độ của họ. Những người kế vị họ là những nhà kỹ trị và ôn hòa và đặc biệt không phải là những kẻ khát máu. Ôn Gia Bảo, thủ tướng hiện thời, được biết đến như là “thủ tướng mau nước mắt” và là “Cụ Ôn”. Những chiến thuật có xu hướng hà khắc của ông hiện đại và tinh tế hơn so với ông Kim – và không hiệu quả bằng. Có hàng chục ngàn người phản kháng mỗi năm ở Trung Quốc còn ở Bắc Triều Tiên thì ít hơn.

Dịp kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn năm nay chắc chắn sẽ qua đi mà không có lời bình luận chính thức nào [từ phía chính phủ]. Cũng như trước đây, một ít công dân nước này sẽ được trích dẫn trên phương tiện truyền thông phương Tây với lời nói rằng vụ việc là chuyện lịch sử xa xưa, và họ đã “tiến lên phía trước”. Tuy nhiên những người lãnh đạo đảng Cộng sản, nhận thấy từ sự miễn cưỡng của họ trong việc thảo luận về các sự kiện 20 năm trước, đã không như vậy. Bởi vì họ không thể vô tư, họ không thể tự bảo vệ chính họ trước những con người đang hồi tưởng lại quá khứ đó. Và việc ngăn chặn hoạt động tưởng niệm Mùa Xuân Bắc Kinh, họ đang giải bớt nỗi sợ hãi từng giữ cho cái nhà nước độc đảng này được tồn tại trong quyền lực. Đối với những kẻ chuyên quyền ở Trung Quốc ngày nay, có thể không có câu trả lời thích hợp về sự kiện Thiên An Môn.

Gordon G. Chang là tác giả của cuốn Triển vọng Sụp đổ của Trung Quốc.

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Trung Quốc | Thẻ: , , , | 1 Comment »

Công nhân VN mắc kẹt tại Czech

Posted by adminbasam trên 07/06/2009

Cuộc khủng hoảng làm những công nhân Việt Nam mắc kẹt vào một tình

thế lửng lơ tại Czech

DAN BILEFSKY

Ngày 5-6-2009

 

PRAGUE – Đối với Triệu Đình Văn, 25 tuổi, chặng đường dài mà hai năm trước đây từ những vùng lúa gạo miền bắc Việt Nam tới một nhà máy hàn xe tải ở miền đông xứ Bohemia đã được tưởng tượng là cung cấp cho anh một đời sống kinh tế khá hơn. Thay vào đó, anh Văn, đứa con của những nông dân nghèo khổ, đang bị thất nghiệp, không có nơi cư ngụ và nợ nần chồng chất trên một vùng đất xa lạ.

Anh Văn cho biết cha mẹ già của anh đã dùng ruộng đất của gia đình ký thác cầm thế chân để vay một khoản tiền 10.000 bảng Anh, tức khoảng 14.000 đô la, chi trả cho một đại lý để có vé máy bay và thị thực nhập cảnh làm việc cho anh.

Thế nhưng chưa đầy một năm sau khi tới Cộng hòa Czech, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm mất đi chỗ làm việc có mức lương 8 bảng Anh một giờ của anh tại Kogel, một nhà máy sản xuất xe tải của Đức, và anh không còn tiếp tục gửi tiền về nhà được nữa. Giờ đây anh lo ngại sẽ phải xin trợ cấp của gia đình để sống qua ngày.

“Trở lại Việt Nam sẽ không có lợi cho tôi,” anh cho biết vào một ngày gần đây, và tự hỏi không biết mình sẽ ở lại đêm nay ở nhà nào. “Tôi mà về nhà với hai bàn tay trắng thì không thể cưới vợ hay xây nhà được. Đó là một sự quá nhục nhã cho tôi.”

Anh Văn là một trong 20.000 công nhân Việt Nam đã tới đây trong năm 2007 *, một phần của làn sóng nhập cư của những người nghèo từ Việt Nam, Trung Quốc, Monggolia và những nước khác được tuyển mộ đưa vào Đông Âu để trở thành những người công nhân thiếu kỹ năng làm việc dành cho các nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ khi đó. Thế nhưng khi các nền kinh tế khắp trong miền nầy bắt đầu co rút lại vào đầu năm nay, hàng ngàn người đã trở thành thất nghiệp và mất hết nhà ở thuê và của cải.

Tại Romania, hàng trăm người Trung Quốc nhập cư đã dựng trại trong thời tiết băng giá ở Bucharest trong nhiều tuần để phản đối các nhà thầu đã ngừng trả lương cho họ.

Các quan chức Czech cho biết họ đang lo sợ tình trạng rối loạn xã hội trong lúc xuất khẩu sút giảm mạnh và nạn thất nghiệp theo các nhà kinh tế cho biết là có thể vọt lên tới 8% vào cuối năm nay, thúc đẩy càng nhiều người Tiệp hơn  đi tìm kiếm những công việc lương thấp mà họ đã từng để dành cho các nhân công người nước ngoài.

Mặc dù hàng ngàn người Việt từng đến nước Tiêp theo những chương trình hợp tác lao động giữa các nước XHCN anh em vào những năm 1970 đã ghi dấu một cách thành công ở đây, song có những mối tranh chấp mâu thuẫn  đang hiện diện. Chính phủ Czech đang hy vọng rằng những người nhập cư thất nghiệp sẽ trở về quê nhà bởi vì họ lo ngại rằng những người di dân bị thất nghiệp có thể làm gia tăng trầm trọng một không khí giận dữ đang sôi sục chống lại những sắc dân thiểu số.

Vào tháng trước, một bé gái cùng cha mẹ người Romani đã bị thiêu cháy một cách dã man sau khi những nghi can là những kẻ cực hữu ném bom xăng vào nhà họ tại thị trấn Vitkov đông bắc nước này. Một số người trong cộng đồng Việt Nam đang lo sợ rằng cả họ nữa cũng có thể là mục tiêu (của những người Tiệp cực hữu hung hăng nầy).

“Người Tiệp không thích chúng tôi, bởi vì chúng tôi trông khác họ,” anh Văn nói và thêm rằng, trước đó anh ta đã từng bị những cư dân ở Chocen, thị trấn nhỏ miền đông xứ Bohemia, xáp tới hỏi han, rồi thét lên, “người Việt Nam, cút về nước đi!” Theo anh, các lao động Việt Nam cũng bị từ chối không cho vào các sàn nhảy và các nhà hàng.

Theo một chính sách được bắt đầu vào tháng Hai, bất cứ người lao động nước ngoài nào bị thất nghiệp muốn về nước thì hội đủ điều kiện để nhận được một vé máy bay một chiều không phải trả tiền hoặc được cấp một vé xe lửa một chiều và hưởng thêm một số tiền mặt là 500 bảng Anh (hay 700 đô la).

Trong hai tháng đầu, khoảng 2000 người Mongolia, Ukrainia và Kazakhstan đã chấp nhận đề nghị này. Song nhiều người Việt như anh Văn, người đang chồng chất trên lưng những món nợ, thì ưa thích ở lại và chờ đợi đến thời thế khả quan hơn.

Ivan Langer, bộ trưởng nội vụ đã đưa ra kế hoạch cho chính sách hồi hương này, đã cho biết là ông lo ngại rằng một lượng công nhân nước ngoài thất nghiệp ước lên tới 12.000 người dễ tổn thương sẽ bị lôi kéo vào tội phạm có tổ chức, hoặc bị khai thác như là lao động nô lệ.

Theo Trung tâm Chống Ma tuý Quốc gia Tiệp, vào năm ngoái cảnh sát đã phá 79 cửa hàng trồng cây cần sa có quy mô lớn, 70 cửa hàng trong số đó được điều hành bởi người Việt Nam. Vào tháng Một, một người đàn ông Việt Nam từ thành phố Brno miền đông nam nước này, bị nghi ngờ buôn bán heroin, đã bị cảnh sát đánh đến chết.

Julie Liên Vrbkova, một chuyên gia người Việt đang làm việc như một phiên dịch tại một số nhà máy sản xuất xe hơi có thuê các công nhân Việt Nam, đã cho biết chị đã bị sốc trước những điều kiện làm việc “như nô lệ”, bao gồm những ngày làm việc với 12 giờ đồng hồ một ngày, suốt khoảng thời gian nầy những công nhân đã bị đánh đập nếu như họ ngưng làm việc.

Bất chấp những căng thẳng gần đây, cộng đồng người Việt tại Cộng hòa Tiệp vẫn là một trong những câu chuyện thành công lâu dài nhất của sắc dân thiểu số ở đây. Nhiều người Việt làm sở hữu chủ những cửa hàng tạp hóa nhỏ phát đạt, nói được tiếng Czech và gửi con cái vào trường học của Czech, nơi chúng thường được đứng đầu lớp trong kết quả học tập.

Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản năm 1989, có thêm hàng ngàn người Việt Nam gia nhập vào những người Việt khác đã tới đây trước vào những năm 1970. Ngày nay, tại Cộng hòa Czech có một lượng người Việt ước tính tới 70.000, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai sau cộng đồng người Ukraina.

Những người đứng đầu trong cộng đồng người Việt tại đây cho biết họ lo ngại rằng tầng lớp những công nhân mới bị trắng tay này sẽ đe doạ gây xáo trộn một nếp sống chung mà họ đã xây dựng nên trong hàng mấy chục năm nay. Trong một cuộc khảo sát vào tháng Tư bởi Stem, một hãng thăm dò dư luận đóng tại Prague, có 66% người Czech nói rằng họ không thích có một người Việt Nam như là một láng giềng của mình.

Linh Nguyễn, 22 tuổi, một người Czech gốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, hiện đang vận động chính phủ để cải thiện các chính sách hoà nhập sắc tộc, đã nói rằng những người Việt siêng năng lao động thích lặng lẽ làm ăn phát đạt, trong khi người Czech thì bằng lòng với việc giả bộ như không có người Việt Nam ở đó. Anh than vãn là trong bốn thập kỷ sau khi những người châu Á nhập cư tới Cộng hòa Czech, chẳng thấy có khuôn mặt Á châu nào xuất hiện trên truyền hình, trong hoạt động văn hóa đại chúng hay trong Quốc hội Tiệp .

Ông Langer, cựu bộ trưởng nội vụ, biện minh rằng Cộng hòa Czech, đã ngưng cho nhập cư trong thời gian diễn ra chiến tranh lạnh, nên đã không được trang bị những điều kiện để đối phó với những người nhập cư mới. “Không giống như ở Pháp hay Đức, dân chúng ở đây vẫn chưa quen nhìn thấy những gương mặt Á châu hay Phi châu trong trường lớp của họ.”

Để cố cải thiện cho việc hòa nhập xã hội, chính phủ Czech mới đây đã đưa ra những quy định mới buộc những người nhập cư nào muốn có được giấy phép kinh doanh thì phải có 120 giờ được học hỏi về đất nước và người Czech; thế nhưng chi phí cho những khóa học này là vào khoảng 200 bảng Anh – là mức phí mà ít người nhập cư với những khoản nợ nần có thể đủ khả năng chi trả.

Jiri Kocourek, một nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về Việt Nam, đã biện luận rằng những ngộ nhận về văn hóa đã làm tình hình thêm xấu hơn bởi vì sự thờ ơ của người Czech. Ví dụ như trong sách ngữ pháp chính thức của Czech không cho phép những âm trong bảng chữ cái tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức như các bằng lái xe chẳng hạn. Điều đó, ông phân tích, đã gây cho các giới chức người Czech những bối rối rất lớn trong việc phân biệt những cá nhân trong một cộng đồng mà nơi ấy hàng ngàn người có chung một họ Nguyễn.

Những mối thách thức tương tự thể hiện rành rành tại Sapa, một khu chợ của người Việt nằm tại vùng ngoại ô Prague, nơi những người di trú mới tới có thể tìm thấy mọi thứ từ những người thợ làm tóc gội đầu người Việt cho tới các công ty bảo hiểm Việt Nam, cũng như một loại công việc của “người trung gian” Việt Nam nói tiếng Tiệp, những người nầy lấy lệ phí từ 20-5000 bảng anh để sắp xếp có được giấy nhập cảnh, hoặc dẫn các người VN tới khám bác sĩ và tham dự các buổi họp phụ huynh học sinh với tính cách như những người đỡ đầu cho học sinh (ấy).

Trần thu Trang, 21 tuổi, một blogger người VN, đã đến Cọng Hòa Tiệp khi mới 13 tuổi – và bây giờ tự gọi tên là Tereza, đặt theo tên của một ngôi sao ca nhạc thính phòng Tiệp – đã cho biết rằng sự xây dựng một thế giới sống song song và tách riêng có ý nghĩa rằng nhiều người VN, bao gồm cả những người đã ở đây hàng mấy chục năm, cũng không thể nào nói được tiếng Tiệp, và đã buộc lòng gọi điện thoại nhò một người trung gian để thông dịch, thậm chí ngay cả khi bị cảnh sát Tiệp ra lệnh tắp xe vào lề đường để hỏi giấy tờ.

Trần Quang Hùng, một giám đốc điều hành chợ Sapa, đã cho biết rằng nhiều người di dân đã đến chợ nầy để tìm kiếm việc làm nhưng không được. Ông Hùng nói rằng ông ta đã đề nghị chính quyền Tiệp xây dựng một trường học dành cho người di dân, nơi đây họ có thể học tiếng Tiệp và trở thành có khả năng làm việc được. Nhưng ông ta nói rằng lời đề nghị của ông đã bị chính phủ bác bỏ.

“Giờ đây nền kinh tế đang xuống thấp, những người Tiệp không muốn những người di dân nầy ở đây. Người Tiệp chỉ muốn những người di dân nầy trở về nước,” ông Hùng phát biểu.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

* Trần Hoàng bình: Thật là một món làm ăn có lợi khủng khiếp mà chỉ có các quan chức nằm trong đường dây làm giấy nhập cảnh hốt được một số tiền 260.000.000 đô la trong năm 2007 thật là êm thắm.

Nếu một  người VN  muốn qua Tiệp làm việc (chừng 10 đô la/ 1 giờ/8 giờ mỗi ngày/5 ngày mỗi tuần), mà phải chi ra 14 ngàn đô, thì với 20.000 người VN  nhập cảnh Tiệp năm 2007, các quan chức nằm trong dường dây nầy đã có được trong tay: 20.000 x 14.000 = 280.000.000 đô la. (trước khi trừ tiền vé may bay ra tạm cho là 1000 đô/ 1 vé. Tính tổng cộng 20.000 người thì vé máy bay cũng chỉ khoảng 20 triệu đô mà thôi).

Dịch vụ xuất khẩu người qua Tiệp kiếm tiền đút túi nhẹ nhàng và êm thắm.  Các quan chức “ta” nên tiếp tục làm như bao nhiêu năm qua.

Không nên khai thác mỏ bauxite,  vì làm cả năm chỉ mới tính trên giấy tờ cũng chỉ thu được 150.000.000 đô, theo ông tổng giám đốc Than Khoáng Sản Kiển cho biết. Nhưng hiện nay, chỉ mới ký hợp đồng mua máy, và máy vẫn chưa lắp đặt được, mà đã bị dư luận phản đối mạnh mẻ suốt hơn 6 tháng qua. So với phi vụ làm ăn xuất khẩu 20.000 người qua Tiệp quá êm thắm. Mà những người nầy qua bển sống, hàng tháng còn gởi về chừng 100-200 đô (hay mỗi năm chừng 1000 đô) vậy là nhà nước có thêm 20 triệu nữa. Nhà nước thu tiền vào mà không mất một giọt mồ hôi (vì chỉ cần in tiền đồng  VN ra, đổi lấy tiền đô ấy là xong).

—————–

 

New York Times

Crisis Strands Vietnamese Workers in a Czech Limbo

By DAN BILEFSKY

Published: June 5, 2009

PRAGUE — For Trieu Dinh Van, 25, the long journey two years ago from the rice paddies of northern Vietnam to a truck-welding factory in eastern Bohemia was supposed to provide an economic life line. Instead Mr. Van, the son of poor, peasant farmers, is jobless, homeless and heavily indebted in a faraway land.

Mr. Van said his elderly parents put up the family farm as collateral for a loan of €10,000, or about $14,000, to pay an agent for his plane ticket and a working visa. But less than a year after he arrived in the Czech Republic, the global financial crisis claimed his €8-an-hour job at Kogel, a German truck manufacturer, and he can no longer send money home. Now he fears he will have to ask his family for a handout to survive.

“It would not be good for me to go back to Vietnam,” he said on a recent day, wondering where he would spend the night. “I would return home with empty hands and couldn’t marry or build a house. That would be a great shame for me.”

Mr. Van is one of 20,000 Vietnamese workers who arrived here in 2007, part of an influx of poor from Vietnam, China, Mongolia and elsewhere who were recruited in Eastern Europe to become low-skilled foot-soldiers for then-booming economies. But when economies across the region began to contract earlier this year, thousands became jobless and dispossessed.

In Romania, hundreds of Chinese migrants camped out in freezing temperatures in Bucharest for several weeks to protest against contractors who had stopped paying them.

Czech officials say they fear social unrest as exports plummet and unemployment, which economists say could hit 8 percent by the end of the year, pushes ever more Czechs to seek the low-wage work they once left to foreign laborers.

Although several thousand Vietnamese who came to Communist Czechoslovakia under fraternal work programs in the 1970s have successfully carved out a niche here, friction remains. The Czech government hopes that jobless migrants will go home because it fears that unemployed migrants could aggravate an already simmering backlash against minorities.

Last month, a Roma child and her parents were severely burned after suspected rightist radicals firebombed their home in the northeast town of Vitkov. Some in the Vietnamese community fear they, too, may be targeted.

“The Czechs don’t like us, because we look different,” said Mr. Van, who added that he had already been accosted in Chocen, the small town in eastern Bohemia where he worked, by local residents shouting, “Vietnamese, go home!” Vietnamese laborers, he said, were also denied access to discos and restaurants.

Under a policy begun in February, any unemployed foreign worker who wants to go home is eligible for a free one-way air or rail fare and €500 in cash. In the first two months, about 2,000 Mongolians, Ukrainians and Kazakhstanis took up the offer. But many Vietnamese like Mr. Van, who are saddled with debts, prefer to stay and wait for better times.

Ivan Langer, who as interior minister devised the return policy, said he worried that an estimated 12,000 jobless foreign workers were vulnerable to being drawn into organized crime, or being exploited as slave labor.

According to the National Anti-Drug Center, the police last year uncovered 79 large-scale marijuana grow-shops, 70 of which were run by Vietnamese. A Vietnamese man from the southeast city of Brno, suspected of heroin dealing, was beaten to death by the police in January.

Julie Lien Vrbkova, a Vietnamese expert who has worked as a translator at several automobile factories employing Vietnamese workers, said she had been shocked by “slave-like” working conditions, including 12-hour days during which workers were beaten if they stopped working.

Despite recent tensions, the Vietnamese community in the Czech Republic is one of Central Europe’s most abiding minority success stories. Many own thriving corner shops, speak Czech and send their children to Czech schools, where they are routinely at the top of their classes.

After the overthrow of communism in 1989, thousands more Vietnamese joined those who had arrived in the 1970s. Today, there are an estimated 70,000 Vietnamese in the Czech Republic, the second-largest foreign community after Ukrainians.

Vietnamese leaders here say they fear that the new class of dispossessed workers threatens to disturb a coexistence they have built over decades. In an April survey by Stem, a Prague-based polling firm, 66 percent of Czechs said they would not like to have a Vietnamese person as a neighbor.

Linh Nguyen, 22, a second-generation Vietnamese Czech, who is campaigning for the government to improve its integration policies, said the hard-working Vietnamese preferred to quietly prosper while the Czechs were content to pretend the Vietnamese were not there. He lamented that four decades after the first Asian migrants arrived in the Czech Republic, there were no Asian faces on television, in Czech popular culture or in Parliament.

Mr. Langer, the former interior minister, argued that the Czech Republic, closed off to immigration during the cold war, was ill-equipped to deal with newcomers. “Unlike in France or Germany, people here are still not used to seeing Asian or African faces in schools.”

To try to improve integration, the Czech government recently introduced new rules forcing immigrants who want to acquire a business license to have 120 hours of introductory Czech; but the lessons cost about €200 — which few indebted migrants can afford.

Jiri Kocourek, a sociologist specializing in Vietnam, argued that cultural misunderstandings had been made worse because of Czech ignorance. For example, official Czech grammar does not allow for the tones of the Vietnamese alphabet to be used on official documents such as drivers’ licenses. That, he said, had caused Czech authorities enormous confusion in distinguishing individuals in a community where thousands share the family name Nguyen.

The challenges of assimilation are evident at Sapa, a sprawling Vietnamese market on the outskirts of Prague, where newly arrived migrants can find everything from Vietnamese hairdressers to Vietnamese insurance companies, as well as a thriving business of Czech-speaking Vietnamese “middlemen,” who for fees ranging from €20 to €5,000 can arrange for visas, take fellow Vietnamese to the doctor and attend parent-teacher meetings as surrogates.

Trang Thu Tran, 21, a Vietnamese blogger who came to the Czech Republic when she was 13 — and now calls herself Tereza, after a Czech soap opera star — said the construction of a separate and parallel world meant that many Vietnamese, including those here for decades, couldn’t speak Czech, and were forced to phone a middleman to translate, even when pulled over in their cars by the Czech police.

Tran Qang Hung, the managing director of Sapa, said many migrants were coming to the market in a vain search for work. He said he had proposed to the Czech government that it build a school for the migrants, where they could study Czech and become more employable. But he said he had been turned down.

“Now that the economy is bad, the Czechs don’t want these people here,” he said. “They only want them to go home.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 


Posted in Kinh tế Việt Nam, Người Việt: cư trú/LĐ ở nước ngoài | Leave a Comment »

Hãng Úc từ chối cho Chinalco của TQ hùn vốn khai mỏ

Posted by adminbasam trên 07/06/2009

ASIA TIMES

Tập đoàn Chinalco bị thất bại đang suy tính lại tương lai

Olivia Chung

Ngày 6-6-2009

 

HONG KONG – Vào cuối tuần này, các nhà quản trị trong hãng sản xuất nhôm lớn nhất Trung Quốc đang chăm chút cho thất bại của họ để cứu vãn khoản đầu tư lớn nhất ở nước ngoài của quốc gia này và mưu tính xem giờ đây sẽ đầu tư vào đâu, sau khi hãng Rio Tinto đã từ chối lời đề nghị trị giá 19,5 tỉ đô la của họ để mua một phần góp vốn vào công ty khai khoáng khổng lồ này của Úc.

Xiong Weiping, chủ tịch Tập đoàn Nhôm Trung Quốc (Chinalco)*, đã nói trong một bản tuyên bố vào hôm qua thứ Sáu rằng công ty này “rất thất vọng” với sự thất bại trong kế hoạch đầu tư của họ.

“Trong những tuần gần đây, Chinalco đã và đang làm việc tích cực để đàm phán với Rio Tinto để có những sửa đổi thích hợp dành cho các danh mục chuyển đổi về sự thỏa thuận mà hai bên mới bước chân vào giai đoạn ban đầu  ngày 12 tháng Hai 2009… nhằm phản ánh rõ hơn bối cảnh thị trường đã thay đổi và những phản hồi từ các cổ đông và các nhà quản lý,” ông Xong nói.

“Chúng tôi tiếp tục tin tưởng vào đề nghị của chúng tôi đại diện cho một cơ hội tạo nên giá trị nổi bật cho tất cả các cổ đông của Rio Tinto và một nền tảng vững chắc cho một quan hệ đối tác chiếm lược lâu dài sẽ thiết lập giữa hai công ty.”

Bản thỏa thuận được ký kết vào tháng Hai đã đảm bảo cho Chinalco một nguồn nguyên liệu thô, đổi lại Chinalco đầu tư 7,2 tỉ đô la  mua những trái phiếu chuyển đổi và (đã có sẵn từ trước) 12,3 tỉ đô la trong các khoản góp vốn vào quặng sắt, đồng và nhôm của Rio Tinto, giúp giảm bớt gánh nợ nặng nề của hãng khai khoáng lớn thứ ba thế giới này. Thỏa thuận đó (nếu được thông qua, không có ai phản đối thì) sẽ tăng gấp đôi phần vốn góp (19,5 tỷ đô la) vào Rio của Chinalco từ 9% lên 18%.

Rio, công ty mang món nợ khoảng 39 tỉ đô la, giờ đây cho biết họ sẽ bán các cổ phần để có được 15,2 tỉ đô la. Hãng khai khoáng đồng hương ở Úc là BHP Billiton cũng đã thỏa thuận trả cho Rio 5,8 tỉ đô la để hình thành một liên doanh khai thác quặng sắt. BHP và Rio có thể dành dụm được hơn 10 tỉ đô la bằng cách kết hợp những tài sản  quặng sắt của họ tại khu vực phía tây Pilbara của nước Úc, theo một bản tuyên bố của hai công ty này cho biết.

Thỏa thuận Chinalco đã bị chỉ trích bởi những người nắm giữ cổ phiếu của Rio, trong đó có nhà đầu tư lớn thứ ba của hãng này, tập đoàn Legal&General Group, vì đã không cho họ tham dự. Nhiều người Úc cũng tỏ ra lo lắng khi nhìn thấy một công ty ngoại quốc, và đặc biệt là nước Trung Quốc do cộng sản cầm quyền lại quản lý công ty này, nắm một phần hùn vốn lớn đến như vậy trong một công ty quan trọng và là kẻ nắm được phần ngoại hối.

Quyết định của ban lãnh đạo Rio cứu Thủ tướng Úc Kevin Rudd khỏi phải có quyết định liệu có cho phép Chinalco tăng phần vốn góp của họ lên như đã được lên kế hoạch hay không. Hội đồng Xét duyệt Đầu tư Nước ngoài của Úc đang chuẩn bị sửa soạn một bản giới thiệu. Nếu như phiếu bầu của ông Rudd đồng ý với bản thỏa thuận, thì ông đã chọc tức nhiều cử tri; nếu như ông Rudd quyết định phản đối lại thì sẽ có nguy cơ phá hủy những thỏa thuận với Bắc Kinh.

Úc đã được hưởng lợi rất lớn từ sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc, và thậm chí giữa tình trạng suy thoái toàn cầu, việc bán các hàng tiêu dùng và các mặt hàng nhu yếu (các khoáng sản, sản phẩm nông nghiệp, năng lượng)  đổ vào Trung Quốc vẫn tăng lên 37% vào năm ngoái.

Trung Quốc là khách hàng hàng đầu về quặng sắt và Rio là nhà cung cấp lớn thứ hai thế giới về mặt hàng này. Một mối quan hệ gần gũi hơn giữa Chinalco và Rio có thể đặt thêm nhiều sức mạnh hơn vào đôi tay của Trung Quốc trong những cuộc thương thảo về giá cả.

Việc suy đoán về tình trạng của thỏa thuận đã tăng cao thêm trong khi thị trường đã thay đổi một cách quan trọng kể từ tháng Hai, với việc các thị trường tín dụng đang lắng dịu và mối quan ngại đang giảm bớt về khả năng thế giới đi tới sụp đổ tài chính hoàn toàn. Giá cổ phiếu trên các thị trường toàn cầu cũng gia tăng kể từ tháng Ba, trong khi nhu cầu về quặng sắt và các mặt hàng tiện nghi khác của nước Úc đã hồi phục, làm khả năng kiểm soát của ban lãnh đạo Rio mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, việc bác bỏ của Rio vào hôm thứ Sáu trước lời đề nghị [của Chinalo] không phải là những tin tức xấu cho Chinalco, theo nhận định ông Mei Xinyu, nhà nghiên cứu kỳ cựu thuộc Viện nghiên cứu Ngoại thương và Hợp tác Kinh tế thuộc Bộ Thương mại.

“Nếu như những điều khoản trong bản thỏa thuận tháng Hai theo kế hoạch của họ liên quan quá nhiều đến những sửa đổi bổ sung, thì sẽ không có lợi cho bên mua là người phải trả một cái giá cao đến vậy,” ông nói. Một khả năng theo lời đồn đoán là Chinalco có thể đồng ý giảm mức cổ phần họ nắm giữ theo đề nghị xuống 15%.

Ông Mei phủ nhận về những chỉ trích của các cổ đông khác rằng họ đã bị loại ra không được dự phần vào bản thỏa thuận.

“Chinalco có thể phải tôn trọng nước Úc và những quyền lợi hợp pháp của các cổ đông khác, song họ có thể không bị buộc phải làm cái công việc từ thiện với hàng chục tỷ đô la bằng cách chấp nhận các cổ đông thay vì là Chinalco để tham dự vào trong vấn đề của 7,2 tỉ đô la trái phiếu chuyển đổi qua tiền mặt,” ông nhận xét.

Mà cũng không có việc sự sụp đổ của bản thỏa thuận làm cho các nhà đầu tư tháo chạy khỏi các cổ phiếu khai mỏ, theo đánh giá của chuyên gia Wang Junqing thuộc công ty chứng khoán Guosen Securities.

“Điều mà các nhà đầu tư đang tìm cách bóc trần tình trạng khai mỏ hiện nay là lo lắng về triển vọng tương lai của ngành công nghiệp này. Ngành khai mỏ có vẻ đang khá thuận lợi khi mà các gói kích thích đang góp phần và giá năng lượng đang tăng lên,” ông nói.

Các cổ phiếu của cả hai công ty của Trung Quốc và Úc đã gia tăng giá cả qua tin tức nầy, trong khoảng bốn tháng xem xét về thành công và thất bại cuối cùng của chúng. Cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải của Chinalco đã tiến sát khoảng 0,7% với giá 12,47 nhân dân tệ sau khi đạt mức 2,18% vào phiên giao dịch buổi sáng. Các cổ phiếu của Rio đã vọt lên 8,4% đạt 72, 49 đô la Úc.

Thất bại về cuộc đấu giá của Chinalco sẽ làm giảm mối nguy của một gánh nặng nợ nần nhiều hơn cho công ty Trung Quốc này trong khi nó cũng xua tan mối lo ngại trong số các nhà đầu tư về khả năng của công ty để quản lý một hãng nước ngoài lớn đến như vậy.

Bất luận cho có những lý do mang tính thương mại nào dành cho sự thất bại này, thì công chúng Trung Quốc cũng lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ quyết định của Úc. Một bạn đọc của tờ China Daily đã viết trên trang web của tờ báo này rằng các mối quan hệ của Úc với Trung Quốc là “mâu thuẫn”.

“Một mặt, thì ông Thủ tướng Kevin Rudd mô tả nước Úc như là “người bạn chân thành” của Trung Quốc; mặt khác, việc từ chối bản thỏa thuận của Rio có vẻ gợi lên điều trái ngược,” bạn đọc có tên là “Lee Kwan” nói.

Trích thuật lại một quảng cáo của người dân tỉnh Perth chống lại công ty Chinalco, mà nhà triệu phú Ian Melrose là một thí dụ, Lee cho biết chính quyền Úc và một số người Úc với các những tình cảm không ưa thích người Trung Quốc đã duy trì một thái độ tiêu cực hướng tới các công ty Trung Quốc đang đầu tư ở úc.

Vào cuối tháng 5, những người Úc phản đối về sự liên kết của Rio Tinto với Chinalco đã sử dụng các hình ảnh về sự đàn áp tại Quãng trường Thiên An Môn trong một đoạn quãng cáo trên truyển hình đang kêu gọi chính quyền Úc hãy ngăn chặn cuộc mua bán qua thỏa thuận nầy.

Một thông tin đăng trên Sina.com.cn, một trang mạng hàng đầu của Trung Quốc, đã nói rằng Trung Quốc đã có thể mua công khố phiếu của chính phủ Mỹ, nhưng không thế mua một mỏ ở Úc – mặc dầu cả hai đều là những việc kinh doanh đang lỗ lả.

Một ý kiến khác cũng trên trang Sina đã chỉ trích lệ phí 195 triệu đô la là quá thấp mà công ty Rio Tinto đã bị buộc phải trả để bồi thường thiệt hại cho Chinalco trong điều kiện việc thỏa thuận mua bán không thực hiện được.

“Chinalco thật là ngu ngốc để đòi hỏi một lệ phí đền  bù quá thấp. Đó là lý do tại sao công ty Rio có thể hủy bỏ hợp đồng với Chinalco mà chỉ quan tâm chút ít”, theo như lời nhận xét nói trên. Và còn có đưa thêm một đoạn khác: Đã đến lúc các công ty Trung Quốc ngưng đổ tiền bạc vào việc tìm kiếm đầu tư ở nước ngoài.

Hiệu đính: Trần Hoàng

* Xin mời bà con xem thêm các bài liên quan: 120:Ý kiến trái ngược về việc TQ mua mỏ bô xít ở Úc; 134:Bô-xít và mối quan hệ nguy hiểm của TT Úc với TQ; 173.Nổi loạn chống người TQ tràn ngập ở Ghi-nê, và các bài về bô-xít VN trên cột Chủ đề/ mục Bô-xít Tây Nguyên.

———–

 

ASIA TIMES

Foiled Chinalco rethinks future

By Olivia Chung
Jun 6, 2009

HONG KONG – Executives of China’s largest aluminum producer this weekend are nurse ing their failure to secure the country’s biggest overseas investment and plotting where to go now, after Rio Tinto rejected their US$19.5 billion proposal to buy an increased stake in the Australian mining giant.

Xiong Weiping, president of Aluminum Corp of China (Chinalco), said in a statement on Friday that the company is “very disappointed” with the failure of its investment plan.

“In recent weeks, Chinalco has been working hard to negotiate with Rio Tinto to make appropriate amendments to the transaction terms of the deal the two sides entered into on February 12 … to better reflect the changed market background and feedback from shareholders and regulators,” Xiong said.

“We continue to believe our proposal presented an outstanding value-creating opportunity for all Rio Tinto shareholders and a strong platform for a long-term strategic partnership would have provided between the two companies.”

The agreement signed in February would have secured for Chinalco a source of raw material in return for investing $7.2 billion in convertible bonds and $12.3 billion in Rio Tinto iron ore, copper and aluminum stakes, helping to reduce the heavy debt load of the world’s third-biggest mining company. The deal would have doubled Chinalco’s Rio stake to 18% from 9%.

Rio, which carries about $39 billion in debt, now says it will sell shares to raise as much as $15.2 billion. Fellow Australian miner BHP Billiton has also agreed to pay Rio $5.8 billion to form an iron ore joint venture. BHP and Rio may save more than $10 billion by combining their iron-ore assets in Australia’s western Pilbara region, according to a statement by the companies.

The Chinalco agreement was criticized by other Rio shareholders, including its third-largest investor, Legal & General Group, for excluding their participation. Many Australians were also concerned at seeing a foreign entity, and particularly one run from communist-ruled China, take such a sizeable stake in an important company and

foreign-exchange earner.

The Rio board’s decision saves Australian Prime Minister Kevin Rudd from having to decide whether to permit Chinalco to increase its stake as planned. Australia’s Foreign Investment Review Board was preparing to make a recommendation. If followed by a Rudd vote for the deal, he would have angered many voters; a decision against would have risked undermining dealings with Beijing.

Australia has benefited hugely from China’s fast economic growth, and even amid the global downturn sales of goods and commodities to China increased 37% last year.

China is the top buyer of iron ore and Rio the world’s second-largest supplier. A closer relationship between Chinalco and Rio could have put more power into the hands of China in price negotiations.

Speculation about the status of the deal intensified as the overall market changed significantly since February, with credit markets easing and concern diminishing that the world was heading for a total financial meltdown. Prices across global share markets have also surged since March, while demand for Australian iron ore and other commodities has picked up, strengthening the hand of the Rio board.

Even so, Rio’s rejection of the proposal on Friday was not bad news to Chinalco, said Mei Xinyu, senior researcher in the Research Institute of Foreign Trade and Economic Cooperation of the Ministry of Commerce.

“If the terms of their planned deal in February involved too many amendments, it would not be good to the buyer who pays such a high price,” he said. One rumored possibility was that Chinalco would agree to reduce its proposed holding to 15%.

Mei rejected criticism by other shareholders that they were being excluded from the agreement.

“Chinalco could respect Australia and other shareholders’ legitimate rights in Rio, but it could not be forced to do charity work with tens of billions of dollars by allowing shareholders other than Chinalco to participate in the matter of the $7.2 billion convertible bond,” he said.

Nor would the collapse of the deal turn investors away from mining shares, said Guosen Securities analyst Wang Junqing.

“What investors seeking exposure to mining are concerned about is the industry’s outlook, which looks pretty good as stimulus packages are kicking in and energy prices are going up,” he said.
Shares of both the Chinese and Australian companies gained on the news, as about four months of speculation over its success or failure came to an end. Chinalco’s Shanghai-listed shares closed up about 0.7% at 12.47 yuan after gaining 2.18% in the morning session. Rio’s shares jumped 8.4% to A$72.49.

The failure of Chinalco’s bid will reduce the risk of a higher debt burden on the Chinese company while also removing concern among investors on the company’s ability to manage such a large overseas company.

Whatever the commercial reasons for the failure, the Chinese public voiced strong criticism of the Australian decision. A reader of China Daily wrote in the paper’s website that Australia’s relations with China were “conflicted”.

“One the one hand, Prime Minister Kevin Rudd has described Australia as China’s ‘true friend’; on the other, Rio’s rejection of the deal seems to suggest the very opposite,” reader “Lee Kwan” said.

Citing an anti-Chinalco advertisement by Perth, Australia-based millionaire Ian Melrose as an example, Lee said the Australian government and some Australians with pervasive Sinophobic sentiments had maintained a negative attitude towards Chinese companies making investments there.

At the end of May, Australian opponents of Chinalco’s link-up with Rio Tinto used footage of the Tiananmen Square crackdown in a television advertisement calling on the Australian government to block the deal.

An Internet posting on Sina.com.cn, a leading Chinese portal, noted that China could buy US bonds but could not buy a mine in Australia – though both were loss-making businesses.

Another Sina posting criticized the low fee of $195 million Rio was obliged to pay Chinalco in the event that the deal did not go ahead.

“It’s stupid to ask for such a low break fee for Chinalco. That’s why Rio can break up with Chinalco with little concern,” it said. It was time Chinese companies stopped pouring money into seeking investment overseas, the post said.

Olivia Chung is a senior Asia Times Online reporter.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Trung Quốc | 1 Comment »

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

Posted by adminbasam trên 06/06/2009

TÁI TẠO CHÍNH PHỦ: CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI

MỚI

TS. Thaveeporn Vasavakul

 

Phong trào hướng tới cải cách chính trị và cải cách hành chính tại khu vực Đông Nam Á đã mở ra hai làn sóng, vào cuối thập niên 1980 với tư cách là một bộ phận của phong trào dân chủ hóa quy mô lớn trong khu vực và vào cuối 1997 do cuộc khủng hoảng tài chính đã bùng phát và lan rộng bên trong khu vực. Đối với Việt Nam, phong trào cải cách chính trị và cải cách hành chính đã được triển khai với tư cách là một bộ phận của nghị trình cải cách đổi mới, là điều mà tự thân nó đã được phê chuẩn tại Đại hội Lần thứ sáu của Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm 1986. Trong năm 1995, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám (Đại hội VII) đã phê chuẩn cải cách hành chính và vào năm 2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ban hành Chương trình Tổng thể Cải cách Hành chính giai đoạn 2001-2010. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ coi chương trình cải cách hành chính là một biện pháp chính sách cần thiết để xây dựng một hệ thống Chính phủ có đủ năng lực phát triển nền kinh tế quốc dân, duy trì công bằng xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, và chuẩn bị để Việt Nam hội nhập cộng đồng khu vực và quốc tế.

Việc chính thức phê chuẩn cải cách hành chính đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với nỗ lực xây dựng thể chế công của Việt Nam xét theo hai phương diện.

Thứ nhất, nó chính thức làm sống lại khái niệm “hành chính công”, lồng ghép vào coi đó là một bộ phận của vốn từ vựng cải cách sự cai trị tổng thể của Việt Nam. Mặc dù rất quen thuộc với hầu hết các nước phát triển và đối với cả Cộng hòa Việt Nam (Nam Việt Nam) trước năm 1975, khái niệm “hành chính công” lại không tồn tại một cách riêng rẽ trong thời kỳ kế hoạch hóa từ trung ương nhưng lại được nhập vào khái niệm nhà nước, mà tự thân nó vẫn thường được đề cập đến là bộ máy quan liêu bao cấp. Sự phục hồi của khái niệm và thực thể “hành chính công” có thể được coi là “tư duy mới” hậu kế hoạch hóa từ trung ương.

Thứ hai, việc phê chuẩn chính thức cải cách hành chính đã mở ra một khả năng cho những khái niệm và vốn từ vựng phát triển mới thâm nhập vào Việt Nam. Những thuật ngữ then chốt thông thường được thấy trong trong các bài viết tiếng Việt về hành chính và cai trị là những thuật ngữ như nhà nước pháp quyền, hành chính quan liêu, quản lý công kiểu mới, các dịch vụ công và cung cấp dịch vụ, bộ đa ngành đa lĩnh vực, cung ứng dịch vụ, lập ngân sách đầu ra, tài chính công, khuôn khổ chi tiêu trung hạn, quản lý dựa trên kết quả, quản lý tác nghiệp, và chế độ thực năng lực, đây là xin đơn cử một số như vậy để làm ví dụ. Những thuật ngữ này đã được dịch sang tiếng Việt với những mức độ sắc thái địa phương khác nhau.

Trong bài viết này, tác giả xen xét cải cách hành chính trong mối liên hệ với “cung cấp dịch vụ”, đặt câu hỏi làm thế nào mà quá trình cải cách đã đưa vào và củng cố vai trò của nền hành chính công trong cung cấp các dịch vụ cho công dân và các nhóm. Ý tưởng cho rằng công chức phải cung cấp các dịch vụ một cách minh bạch và có trách nhiệm cho công dân là một bước chuyển dịch lớn đối với não trạng hành chính quan liêu. Nói chung, mối quan hệ giữa Chính phủ và xã hội tại Việt Nam không phải lúc nào cũng định hướng dịch vụ. Điều này có thể được kiểm chứng bởi một số nhận xét được đưa ra để khắc họa hệ thống hành chính cũng như mối liên hệ của nó với công dân. Có một câu nói phổ biến đánh đồng hành chính là nguồn của sự sách nhiễu, thông qua diễn đạt “hành chính là hành dân là chính”, và theo nghĩa đen có nghĩa là “thực thi công vụ cũng có nghĩa là thực thi sự sáchnhiễu”. Để khám phá cải cách hành chính và quan niệm về dịch vụ công, tác giả xem xét đến hai khía cạnh của chương trình cải cách hành chính có liên quan tới cung cấp dịch vụ.

Khía cạnh thứ nhất là cải cách thủ tục hành chính, và khía cạnh thứ hai là phân cấp từ trung ương xuống địa phương. Cải cách thủ tục hành chính đã được trình bày như một giải pháp để xác định lại mối quan hệ giữa các cơ quan chính quyền và công chúng thông qua việc giảm bớt các yêu cầu rườm rà của chính quyền và giảm bớt thời gian cần thiết. Bước đột phá cơ bản là thay đổi quan niệm của công dân là phải từ xin phép sang quan niệm các quyền đương nhiên được hưởng thông qua đăng ký. Phân cấp dưới một số hình thức được nhắm tới việc xác định lại mối quan hệ thẩm quyền với hệ thống hành chính công sao cho tăng cường tính hiệu lực của việc cung cấp dịch vụ địa phương.

Tác giả lập luận rằng nỗ lực khớp nối hành chính công cùng với dịch vụ cung cấp cho công chúng đã mang lại một số kết quả. Tuy nhiên, khái niệm về dịch vụ công, hay “phục vụ nhân dân”, đã không được địa phương hóa và phổ biến trong số các cơ quan hành chính công. Các lý do là cả những cản ngại văn hóa lẫn thể chế nhận thấy trong bản thân nền hành chính công. Loại lý do thứ nhất có liên quan đến các giả định chung về vai trò của Nhà nước, trong khi loại thứ hai lại liên quan đến các biện pháp cải cách được khớp nối lẫn nhau với mức độ hiệu quả như thế nào để mang lại thay đổi căn bản.

1. Các quan niệm của Việt Nam về hành chính công từ kế hoạch hóa từ trung ương sang đổi mới.

Tác giả đã lập luận trong một bài viết trước rằng các nỗ lực để hiểu được việc chuyển đổi nền hành chính của Việt Nam cần thiết phải bắt đầu từ việc hiểu biết chung về hành chính công dưới chế độ kế hoạch hóa từ trung ương.1 Trong một hệ thống kế hoạch hóa từ trung ương, Đảng-Nhà nước tuân theo các nguyên tắc của kế hoạch hóa từ trung ương – xác định các nhu cầu, phân phối các nguồn lực sản xuất, quyết định các chỉ tiêu sản lượng và các chỉ số hoạt động, và cân đối sản lượng với cung – dựa vào các cơ quan hành chính Nhà nước để huy động nguồn lực và để quản lý tích cực hoạt động của các doanh nghiệp kinh tế và quyết định thu nhập và các điều kiện việc làm.2

Bộ máy hành chính được xây dựng dưới kế hoạch hóa từ trung ương dần dần được chuyển đổi trong thời kỳ đổi mới. Vào giữa thập niên 1990, quan niệm về cải cách hành chính bao gồm cải cách thể chế, cải cách tổ chức và cải cách nền công vụ. Vào đầu những năm 2000, quan niệm đó đã được mở rộng để bao quát tài chính công. Để tăng cường việc thực hiện cải cách từ năm 2006 đến 2010, Nghị quyết 17-NQ/TW ngày 1 tháng 8 năm 2007 của Hội nghị Trung ương Lần thứ 5, sau đó được khẳng định thêm tại Nghị quyết 53 của Chính phủ, khẳng định sự cần thiết cải cách hành chính để tăng cường tính hiệu quả của quản lý Nhà nước. Nghị quyết 17 nhấn mạnh hơn nữa vào việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính cũng như tái cơ cấu tổ chức Chính phủ cùng với các đường lối về phân cấp quản lý, các chủ đề mà tác giả tập trung bàn luận.

2.Đơn giản hóa các dịch vụ thủ tục hành chính

Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính là một trong những lĩnh vực then chốt qua đó phản ánh đúng đắn bản chất của mối quan hệ giữa các cơ quan Chính phủ và xã hội.

Điều đó đã được đặt trong chuyên mục cải cách thể chế, trụ cột thứ nhất của Chương trình Tổng thể Cải cách Hành chính. Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính diễn ra trong các giai đoạn với các văn bản hướng dẫn then chốt như Nghị định 38/Chính phủ (1994), Quyết định 181 (2003), Quyết định 30 (2007), và Quyết định 93 (2007).

Giai đoạn đầu bắt đầu với Nghị quyết 38/Chính phủ ngày 4/5/1994 về các bước hướng tới cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết các yêu cầu của công dân.3 Trong thập niên 1990, bước chuyển biến này đã thiết lập chương trình nghị sự cho cải cách hành chính. Các chương trình thí điểm đã được bắt đầu thực hiện tại nhiều tỉnh, chiếm tới 35 tỉnh tính đến tháng 9 năm 2003.4

Giai đoạn thứ hai được báo hiệu bằng Quyết định 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 đã thể chế hóa mối quan hệ thủ tục hành chính giữa Chính phủ và xã hội thông qua việc sử dụng cơ chế một cửa, thường được nói gọn trong tiếng Anh bằng cụm từ “cửa hàng một điểm dừng”, tại cấp tỉnh, huyện và xã.5 Tại cấp tỉnh, bốn sở bắt buộc phải thành lập sớm dịch vụ một cửa, đó là Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở lao động- Thương binh và Xã hội, Sở tài nguyên và Môi trường, và Sở Xây dựng. Các lĩnh vực thủ tục then chốt được giải quyết là việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với và đất đai, giấy phép xây dựng, các quyết định về đầu tư, đăng ký hộ khẩu, và giấy phép liên quan đến các chính sách xã hội. Tại cấp trung ương, Nghị quyết 01/2004/NQ-CP yêu cầu rằng tất cả các bộ và các cơ quan ngang bộ rà soát và bãi bỏ các thủ tục hành chính không phù hợp khi giải quyết các vấn đề liên quan đến công dân. 6 Một số bộ đã được chọn làm thí điểm, tập trung vào hai loại dịch vụ. Loại dịch vụ thứ nhất là việc giải quyết các vấn đề thủ tục của dịch vụ một cửa. Loại dịch vụ thứ hai là giải quyết kiến nghị thông qua dịch vụ một cửa.

Giai đoạn thứ ba của bước chuyển biến đơn giản hóa thủ tục hành chính là một kế hoạch toàn diện để rà soát lại toàn bộ các thủ tục hành chính trong mọi khía cạnh và lĩnh vực. Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 30/QDD-TTg ngày 10/01/2007 nhằm phê chuẩn dự án đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực của quản lý Nhà nước từ năm 2007 đến năm 2010. Văn phòng Chính phủ được giao nhiệm vụ theo dõi đôn đốc việc thực hiện Quyết định của các cơ quan Chính phủ tại tất cả các cấp. Quyết định 30 tập trung vào bốn lĩnh vực: đơn giản hóa thủ tục hành chính trong từng lĩnh vực quản lý Nhà nước; đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh; đơn giản hóa các mẫu đăng ký, các bản kê khai hành chính được sử dụng cho các hồ sơ thủ tục hành chính; và các cơ chế để tiếp nhận và giải quyết các ý kiến phản hồi và kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về các cơ chế chính sách và các thủ tục không phù hợp.

Giai đoạn thứ tư của cải cách thủ tục hành chính được phản ánh trong việc ban hành Quyết định 93/2007/QDD-TTg ngày 22/6/2007, thay thế Quyết định 181/2003/QDD-TTg. Với 16 điều khoản, văn bản này bao gồm một số lĩnh vực nội dung then chốt. Thứ nhất, văn bản này phác họa khái niệm dịch vụ một cửa liên thông/liên ngành trong khuôn khổ dịch vụ một cửa hiện hành. Mô hình dịch vụ một cửa liên thông/liên ngành này có thể được tổ chức để điều phối các thủ tục theo chiều ngang giữa các cơ quan cùng cấp, hoặc để điều phối các thủ tục theo chiều dọc giữa các cấp hành chính. Thứ hai, Quyết định 93 mở rộng diện bao quát của khái niệm dịch vụ một cửa đối với các cơ quan Chính phủ với một cơ cấu quản lý theo trục dọc như Cục Thuế, Kho bạc Nhà nước và Công an. Thứ ba, Quyết định 93 yêu cầu các cơ quan Nhà nước phân loại các thủ tục thành những thủ tục cần giải quyết ngay lập tức và những thủ tục đòi hỏi có thời gian. Thứ tư, tên gọi chính thức của bộ phận dịch vụ một cửa là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” sẽ được đặt trong văn phòng hành chính và tổ chức của UBND cấp tỉnh, sở, văn phòng UBND cấp quận huyện, và văn phòng UBND cấp xã. Cuối cùng, Quyết định 93 xác định cụ thể những lĩnh vực có thể áp dụng cơ chế dịch vụ một cửa.7

Trong giai đoạn thứ hai của việc thực hiện cải cách hành chính (2006-2010), một bước chuyển biến lớn hướng tới dịch vụ một cửa liên ngành và liên cấp được nhận thấy trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh. Thông tư 02 đã giảm thời gian trong ba lĩnh vực kinh doanh – đăng ký, thuế và đóng dấu phê chuẩn – xuống còn 15 ngày (được chia thành 7 cho việc đăng ký kinh doanh và còn lại là cho các giai đoạn sau). Trong tháng 7 năm 2008, Cục đã cho thấy Thông tư 05 được soạn thảo bởi ba cơ quan Chính phủ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thuế, và Bộ Công an) và qua đó đã giảm được thời gian cần thiết để xử lý một giấy phép bởi ba cơ quan Chính phủ xuống còn 5 ngày. Việc giảm thời gian cần thiết cho việc đăng ký chủ yếu là do giảm về số lượng giấy phép được yêu cầu, việc gộp các giấy phép, cũng như chuẩn hóa các yêu cầu thông tin.8

Các cơ quan Chính phủ và các dịch vụ hành chính

Khái niệm dịch vụ một cửa đã đưa vào quan niệm các cơ quan Chính phủ với tư cách là những người cung cấp dịch vụ hành chính tạo điều kiện cho các hoạt động của công dân và của các nhóm. Quan điểm này thay thế quan niệm về các cơ quan Chính phủ với tư cách là những người kiểm soát bằng quan niệm về họ là những người tạo điều kiện. Tuy nhiên, cơ chế dịch vụ một cửa vẫn còn chưa phục vụ đẩy đủ với tư cách là động lực cho cải cách hệ thống hành chính công mà tự thân nó là điều kiện tiên quyết cho việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Một báo cáo do cơ quan GTZ thực hiện về sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam cũng đã vạch ra 5 lĩnh vực rào cản hành chính cần được chấn chỉnh.9 Lĩnh vực thứ nhất là môi trường điều tiết, liệu môi trường pháp lý, lập quy và hành chính có thuận lợi cho sự khởi nghiệp và sự tăng trưởng của các doanh nghiệp tư nhân hay không. Lĩnh vực thứ hai liên quan đến đất đai và xây dựng nhà máy, trong khi lĩnh vực thứ ba giải quyết sự tiếp cận với tín dụng. Lĩnh vực thứ tư liên quan đến các vấn đề thuế và lĩnh vực cuối cùng là thanh tra của các cơ quan Nhà nước. Để tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ hữu quan sẽ cần phải nhắm tới những lĩnh vực này. Một cuộc phỏng vấn với Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Nội cũng chỉ ra rằng bất chấp những nỗ lực chấn chỉnh nhiều vấn đề về thủ tục, các doanh nghiệp hoạt động tại thủ đô vẫn thấy cần phải cải cách thủ tục nhiều hơn nữa đối với một loạt các cơ quan Chính phủ.10

Có ba hạn chế nói chung của cơ chế dịch vụ một cửa. Thứ nhất tập trung chính của chính sách là đặt vào đầu ra, có nghĩa là, các kết quả của các dịch hành chính như được nhìn nhận theo con số giấy phép đã được cấp đúng thời hạn, giảm khối lượng thời gian cần có để các cơ quan Chính phủ xử lý các hồ sơ, và một mức độ minh bạch nhất định trong việc định giá chi phí. Sự nhấn mạnh vào đầu ra không mới; điều này đã được chấp thuận bởi phong trào quản lý công kiểu mới, là phong trào đã có ảnh hưởng đối với các nguyên tắc tổ chức từ phía khu vực tư nhân. Tuy nhiên, sự nhấn mạnh vào phí đầu ra dựa trên sự hài lòng của khách hàng, như nhiều người lập luận, không nhất thiết mang lại sự thay đổi cơ bản bên trong tự thân các đơn vị hành chính công cung cấp các dịch vụ, phần lớn những đơn vị này vẫn được coi là có sự thỏa hiệp liên quan đến các thủ tục hành chính có nghĩa là các cơ quan Chính phủ phải từ bỏ một phần quyền lực của mình.

Hạn chế thứ hai là về thể chế. Cải cách thủ tục thành công tùy thuộc vào sự cải tiến chất lượng nói chung của khuôn khổ thể chế và pháp lý. Tại Việt Nam, điều này vẫn còn là một lĩnh vực cần được giải quyết. Các lĩnh vực then chốt cần giải quyết là các thủ tục giữa các tiểu đơn vị khác nhau bên trong cơ quan Chính phủ cũng như những đơn vị thuộc các cơ quan Chính phủ khác nhau. Các thủ tục hành chính cồng kềnh xuất phát từ một thực tế là chúng được ban hành bởi các cơ quan khác nhau và dưới các hình thức khác nhau và các cấp độ văn bản khác nhau mà không có sự điều phối đến nơi đến chốn ngay từ đầu. Trong một số trường hợp, các thủ tục cồng kềnh lại được tạo ra bởi việc các cơ quan Chính phủ chỉ xem xét tới sự thuận tiện, các nguồn lực và hạ tầng cơ sở của riêng mình.

Hạn chế thứ ba của dịch vụ một cửa là những bất cập căn bản tự thân của mô hình dịch vụ một cửa. Tại cấp trung ương, sự cần thiết đối với dịch vụ một cửa phải cung cấp các dịch vụ thì lại khác nhau giữa bộ này với bộ khác, do giai đọan thí điểm cho thấy rằng một số bộ lại có nhiều mối quan hệ tiếp xúc với dân hơn những bộ khác. Các nhu cầu của tỉnh đối với dịch vụ một cửa cũng khác nhau giữa tỉnh này với tỉnh khác và giữa các địa phương khác nhau trong cùng một tỉnh. Những tỉnh nào có các hoạt động kinh tế sôi nổi lại yêu cầu một cơ chế dịch vụ một cửa hiệu quả, mà tự thân nó là một động lực cho tăng trưởng hơn nữa. Bên trong bối cảnh phân giao trách nhiệm, cơ chế dịch vụ một cửa tại cấp xã lại trở nên bận rộn hơn.

Trong khi điều quan trọng đối với cải cách thủ tục hành chính là phải định hướng kết quả đầu ra, thì cũng cần thiết phải thiết kế các biện pháp dịch vụ một cửa theo một cách thức như thế nào úo cho dịch vụ một cửa có tác dụng là mũi nhọn duy trì cải cách bên trong mỗi cơ quan chính quyền và giữa các cơ quan chính quyền thông qua đơn giản hóa các thủ tục làm việc của họ. Việc cơ cấu lại quy trình công việc bên trong hệ thống Chính phủ là nền tảng cho việc đơn giản hóa việc cung cấp dịch vụ cho công dân kiêm khách hàng, cũng như đối với việc tăng cường các thái độ đối với Chính phủ với tư cách là người tạo thuận lợi hoặc người tạo khả năng.

3. Phân cấp và Cung cấp Dịch vụ

Những bài viết hiện nay về tổ chức hệ thống chính trị nói chung và hành chính công nói riêng lập luận rằng phân cấp là một mô hình tổ chức thúc đẩy tính tự chủ tại các cấp.11 Tại Việt Nam trong những năm 1990 và 2000, Chương trình Tổng thể Cải cách Hành chính đề xướng phân cấp các trách nhiệm giữa các đơn vị trung ương và địa phương, một bước chuyển biến được phản ánh trong ba chính sách có quan hệ lẫn nhau mặc dù vẫn không được điều phối tốt. Thứ nhất là tổ chức của các bộ theo hướng đa ngành đa lĩnh vực. Thứ hai là phân cấp các trách nhiệm cho cấp địa phương. Cuối cùng, vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, Đảng-Nhà nước cũng đã chú ý đáng kể tới cải cách dân chủ cấp cơ sở. Sau một loạt những sửa đổi, một pháp lệnh về dân chủ cơ sở đã được ban hành năm 2007.

Tổng quan về Cơ cấu lại các Cơ quan Chính phủ.

Tại cấp trung ương, trong nhiệm kỳ thứ 12 của Chính phủ, chủ trương của Đảng-Nhà nước đã hướng tới khái niệm bộ đa ngành đa lĩnh vực đã được kết tinh. Các bộ đã được sát nhập và con số các bộ và cơ quan ngang bộ đã giảm từ 26 xuống còn 22. Để phản ánh bản chất đa ngành đa lĩnh vực của một bộ, thực thể “cục” đã được ban hành với tư cách là một cơ quan Chính phủ cấp dưới bộ. Vai trò của các bộ cũng đã thay đổi; các bộ ngành làm rõ ngân sách tổng thể bên trong chức năng quyền hạn của bộ và chịu trách nhiệm soạn thảo các chiến lược ngành, mà các cấp chính quyền dưới trung ương phải tuân theo trong việc quyết định phân bổ ngân sách.

Tính đến năm 2008, cơ cấu hành chính địa phương bao gồm ba cấp: tỉnh/ thành phố, quận huyện và xã/ phường. Từng cấp tỉnh/thành phố, quận/ huyện và phường/xã đều có một Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. Hệ thống chính quyền địa phương tuân theo khuôn khổ pháp lý của Luật tổ chức HHDND và UBND năm 2003 và các nghị định thi hành. Tiếp theo việc tổ chức lại Chính phủ, Nghị định 13 ngày 4/02/2007 đã giảm bớt số các cơ quan chuyên môn tại cấp tỉnh từ 19-21 xuống còn 18-20 đơn vị trong khi Nghị định 14 cũng đề ngày 4/02/2008 giảm bớt số cơ quan chính quyền tại cấp huyện.

Trong thời kỳ đổi mới, các cơ quan trung ương tập trung vào xác định lại mối quan hệ giữa các cấp trung ương và địa phương theo các tuyến phân cấp quản lý. Về tổng thể, công bằng mà nói rằng có một mức độ phân cấp thẩm quyền nhất định trong lập kế hoạch, lập ngân sách, và nhân sự cho chính quyền cấp tỉnh. Ví dụ, Chính phủ trung ương và Thủ tướng quyết định đối với tất cả mọi khía cạnh của việc lập kế hoạch quốc gia trong khi các tỉnh, dựa vào các kế hoạch tổng thể quốc gia, ngành và khu kinh tế, để xây dựng các kế hoạch chi tiết của địa phương. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phân cấp đáng kể thẩm quyền ra quyết định liên quan đến đầu tư nước ngoài cho cấp tỉnh. Bộ này cũng đã phân giao thẩm quyền ra quyết định đối với đầu tư hạ tầng cơ sở cho cấp tỉnh.

Luật Ngân sách 2002 với một mức độ nhất định cũng đã phân cấp quy trình ngân sách. Các tỉnh được ngân sách. Thẩm quyền phân bổ các nguồn lực thuộc về các HĐND, đồng thời cũng quyết định chuyển bao nhiêu tiền cho cấp huyện. UBND cấp tỉnh có thể định ra một số định mức mà huyện và xã phải tuân theo. Chỉ một số it các quy định được áp đặt cho chính quyền địa phương. Thị trấn và thành phố thuộc tỉnh phải được giao các trách nhiệm đối với xây dựng các trường học công lập, ánh sáng, cấp nước và thoát nước, giao thông đô thị, và hạ tầng cơ sở công cộng khác nữa. Chính quyền địa phương theo quy định phải chi tiêu về giáo dục và đào tạo phù hợp với mưucs độ chi tiêu về những khaonr mục này trong tổng ngân sách Nhà nước. Chính phủ trung ương vẫn giữ thẩm quyền ban hành những sắc thuế mới và điều tiết các mức phí dịch vụ. Tỉnh có thể đi vay những chỉ trên các thị trường trong nước. Các nguồn lực tạo ra được chỉ có thể được sử dụng để tài trợ cho các chi tiêu cơ bản, và chỉ được sử dụng cho các dự án đã được phê chuẩn bởi UBND. Tổng số nợ tồn đọng của một tỉnh không được vượt ba mươi phần trăm ngân sách hành năm của tỉnh. Giới hạn này không bao gồm các khoản nợ dự phòng gắn các khoản nợ của các doanh nghiệp Nhà nước thuộc tỉnh.12

Trong các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tuân theo khuôn khổ chung, phân cấp quản lý cho tới nay tập trung vào công tác biên chế, tuyển dụng cán bộ và côgn chức, bổ nhiệm, bãi nhiệm và thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công chức.

Cuối cùng, cải cách hệ thống hành chính cũng đi đôi với việc thúc đẩy sự tham gia của nhân dân theo chuyên mục dân chủ cơ sở. Khái niệm này không mới; nó đã tồn tại ở Việt Nam trong thời kỳ kế hoạch hóa từ trung ương. Trong thời kỳ đổi mới, nó đã được phục hồi lại năm 1998 với thuật ngữ “cơ sở” đề cập đến các đơn vị công việc trong các cơ quan chính quyền, các đơn vị doanh nghiệp, và các đơn vị hành chính cấp cơ sở. Khía cạnh dân chủ cơ sở liên quan đến cải cách chính quyền địa phương là dân chủ cơ sở tại đon vị chinh squyeenf cấp xã. Sau 5 năm thực hiện, nghị định dân chủ cơ sở đối với các đơn vị hành chính cấp xã đã được sửa đổi năm 2003 và sửa đổi lần nữa năm 2007 và lần này đã được nâng cấp lên thành Pháp lệnh.

Phân cấp được coi là một cơ chế để giúp tăng cường tính tự chủ tại cấp địa phương, một nền tảng để cải tiến cung cấp dịch vụ. Tại Việt Nam, khuôn khổ phân cấp đã được xây dựng nên đã có tác động tích cực nhất định đói với việc khuyến khích các cơ quan chính quyền địa phương để cải tiến các hình thức dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, quá tình này lại không thống nhất do có những khác biệt về các điều kiện địa phương, các hạn chế về thể chế nhất định, và năng lưucj hạn chế của các bên hữu quan địa phương.

Thứ nhất, có các chỉ báo cho thấy rằng các tỉnh và thành phố đã có phản ứng lại với khuôn khổ cải cách mới theo cách khác nhau. Một số tỉnh nhất định đã được hưởng lợi nhiều hơn từ các quy định phân cấp so với các tỉnh khác. Quyền tự do tìm kiếm đầu tư nước ngoài, nói ví dụ, trong khi khuyến khích tính chủ động giữa các tỉnh, lại có khuynh hướng mang lại lợi ích nhiều hơn cho các tỉnh có các điều kiện đầu tư thuận lợi.13 Các tỉnh cũng đã cụ thể hóa khuôn khổ đó theo cách khác nhau, với những biến thiên về việc nhấn mạnh vào các ưu tiên. Trong một báo cáo được soạn thảo cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc, các tác giả lập luận rằng quá trình phân cấp đã phát triển khác nhau tại các tỉnh của Việt Nam. Quảng Ngãi và Long An thể hiện hai mô hình phân cấp về cung cấp dịch vụ nông thôn, các mô hình Nhà nước chủ đạo và thị trường chủ đạo.14 Trong thực tiễn, các chính sách phân cấp được áp dụng khác nhau tại các thành phố và các tỉnh, và với các mức độ thành công khác nhau. Những khác biệt này chịu ảnh hưởng của cả sức ép cam kết lãnh đạo, kinh tế xã hội tại cấp tỉnh lẫn các năng lực địa phương.

Thứ hai, do có sự đa dạng về các điều kiện địa phương, sẽ cần thiết phải có những biến thiên đối với các cụm các cơ quan chính quyền chuyên về kinh tế tại cấp địa phương. Theo truyền thống, chỉ một số ít các cơ quan chính quyền hoạt động với tư cách là các cơ quan quan kinh tế chủ đạo, chủ yếu thuộc các ngành lập kế hoạch và đầu tư và tài chính. Trong thời kỳ đổi mới, những cụm các cơ quan có tiềm năng để thúc đẩy tăng trưởng và dịch vụ đã ra nổi lên, ví dụ bao gồm cả ngành nội vụ, thương mại và công nghiệp (ngành này tự thân đã là sản phẩm của việc sát nhập Bộ Thương mại và Bộ Công nghiệp), ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với một số lớn các tiểu ngành, ngành Ngân hàng, và ngành Du lịch (hiện đã sát nhập với văn hóa và thể thao). Khuôn khổpc hiện tại không cung cấp một quy định hướng dẫn rõ ràng về việc làm thế nào để xây dựng các cụm các cơ quan chính quyền địa phương phù hợp với các điều kiện địa phương.

Thứ ba, phân cấp các trách nhiệm cho tới nay đã giới hạn việc phân giao các trách nhiệm từ trung ương xuống đến cấp tỉnh, chỉ với các trách nhiệm hạn chế được phân giao cho cấp huyện và cấp xã. Tại cấp chính quyền địa phương, hệ thống vẫn hãy tập quyền cao độ. Tỉnh kiểm soát quá trình ra quyết định, và các nguồn lực, chỉ chuyển giao một số ít cáctrachs nhiệm cho huyện, đặc biệt tổ chức các dịch vụ hành chính của mình và việc quản lý các dịch vụ công có thu (giáo dục, chăm sóc y tế, thể thao, và văn hóa). “Phân cấp” không vươn tới hành chính cấp xã. Một cuộc kiểm tra việc thực hiện Chương trình Phát triển Kinh tế Xã hội tại các xã đã gặp phải những khó khăn cực kỳ (vẫn thường được biết đến là Chương trình 135, do chương trình này được phê chuẩn bởi Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 135/1998/QĐ-TTg) cung cấp một cái nhìn sâu vào bản chất tập quyền của hệ thống chính quyền địa phương. Chương trình 135, bắt đầu năm 1998, nhằm mục đích thúc đẩy nền kinh tế thị trường tại các vùng chịu thiệt thòi thông qua xây dựng cơ sở hạ tầng. Chương trình này bao gồm 5 tiểu chương trình: phát triển hạ tầng cơ sở; phát triển hạ tầng cơ sở trung tâm liên xã; lập quy hoạch tái định cư; khuyến nông và khuyến lâm; và đào tạo cán bộ thôn/xã tại các vùng miền núi xa xôi hẻo lánh.15 Đã được áp dụng đối với 1.000 xã và sau đó mở rộng tới 2.362 xã nghèo nhất trong toàn quốc. Kinh phí cấp cho 2.233 xã lấy từcp trung ương, và cho 129 xã của các tỉnh. Tổng đầu tư từ 1999 đến 2004 là gần 430 triệu đô-la Mỹ (6.795 tỷ đồng). Việc kiểm điểm thực hiện Chương trình 135 cho thấy chỉ 16% của 135 xã trực tiếp tham gia vào lập kế hoạch và quản lý kinh phí với tư cách là chủ đầu tư. Tại các xã này, các hộ gia đình và trưởng thôn đã được huy động tham gia vào quản lý và giám sát các kinh phí được phân bổ. Đối với số còn lại của 135 xã, các tỉnh và các huyện vẫn giữ kiểm soát việc quản lý lập kế hoạch và cấp kinh phí.

Thứ tư, mối liên hệ giữa hành pháp và lập pháp vãn còn yếu. Khuôn khổ chính quyền địa phương hiện nay trao cho HĐND trách nhiệm rộng. Trong thực tiễn, tuy nhiên, mối quan hệ của các cơ quan lập pháp địa phương với hành pháp là còn yếu. Thứ nhất, HĐND chỉ được yêu cầu họp hai lần một năm. Thời gian họp hạn chế không cho phép thảo luận chi tiết và xem xét kỹ tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của họ. Hơn nữa, Luật trao cho HĐND thẩm quyền giám sát UBND. Tuy nhiên, UBND lại cũng lại trực thuộc cấp trên và phải nhân nhượng với cả HĐND cũng cấp lẫn UBND cấp trên ngay sát. Trong thực tiễn, khuôn khổ này cũng sẽ khuyến khích UBND tuân theo các mệnh lệnh của cấp trên, và không chú ý tới các nghị quyết của HĐND. Tình hình này đã được chỉ ra trong nhiệm kỳ chính quyền địa phương 1999-2004. Theo báo cáo Chính phủ số 224/Chính phủ-QHQH ngày 13/3/2003 về tổ chức và các hoạt dộng của UBND các cấp từ 1999 đến 2003, các đơn vị hành chính cấp xã đều không tích cực. Các đơn vị này chỉ tổ chức công việc do các cấp trên giao. Điều này cũng đúng với nhiều UBND cấp huyện. Việc thiếu trách nhiệm giải trình đích thực trước HĐND cùng cấp, và sự lệ thuộc UBND cấp trên, đã làm giảm đi tính hiệu quả của các UBND.16

Cuối cùng, việc thực hiện dân chủ cơ sở tại cấp xã hiện vẫn không đồng đều. Một hội nghị quốc gia kiểm điểm việc thực hiện dân chủ cơ sở đã được tổ chức ngày 28 và 29 tháng 9 năm 2004. Số liệu thống kê cho thấy rằng 100% số xã đều đã thực hiện dân chủ cơ sở, nhưng chỉ có 38% thực hiện hiệu quả. Chín mươi bẩy phần trăm các đơn vị hành chính đã thực hiện dân chủ cơ sở nhưng chỉ 29% được đánh giá là hiệu quả, trong khi 88% các doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện dân chủ cơ sở nhưng chỉ 32% được đánh giá là đã thực hiện hiệu quả.17

Tuy nhiên, hội nghị cũng ghi nhận rằng dù ở đâu được thực hiện thì dân chủ cơ sở đã thay đổi phong cách lãnh đạo và quản lý của các cán bộ đảng và các quan chức Chính phủ. Thông qua dân chủ cơ sở, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị và xã hội, và Thanh tra Nhân dân đã xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ hơn với các địa bàn của mình, đóng góp cho việc tăng cường hệ thống chính trị địa phương. Dân chủ cơ sở về lâu dài cũng giúp giảm bớt con số khiếu kiện, đặc biệt các khiếu kiện vượt cấp.

Chính phủ trong Phục vụ

Trên hai mươi năm sau khi đổi mới đã chính thức được phê chuẩn, Đảng-Nhà nước đã xây dựng một loạt các khuôn khổ chính sách đã có đóng góp cho việc chuyển đổi Nhà nước Mác-xít Lê-nin-nít được kế thừa từ thời kỳ kế hoạch hóa từ trung ương. Một nhánh cải cách đã nổi lên tập trung vào hệ thống hành chính công. Cải cách thủ tục hành chính và cải cách hệ thống chính quyền địa phương như đã bàn tới cho thấy một chiến lược hai nhánh để tái tạo một Chính phủ mới định hướng phục vụ.

Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, quan niệm Chính phủ trong phục vụ vẫn hãy còn là công việc đang diễn tiến.Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thôgn qua dịch vụ một cửa yêu cầu có hỗ trợ và điều phối từ cải cách thể chế và cải cách khuôn khổ pháp lý nói chung. Việc phân giao các trách nhiệm hành chính cho địa phương đã đi đôi với việc tăng cường thể chế và sự tham gia của nhân dân nhiều hơn nữa. Nếu không, quá trình này sẽ chỉ làm tăng căng thẳng sự cạnh tranh hành chính để có được nguồn lực. Sự đồng thuận và sự nhượng bộ tại cấp lãnh đạo có thể tạo ra tính ổn định của lãnh đạo, nhưng về lâu dài có thể dẫn đến bất ổn định. Để thúc đẩy dân chủ cơ sở hơn nữa, cải cách hành chính cần tăng cường tính minh bạch trong các thủ tục hành chính và tạo ra các cơ hội đối thoại và những mối liên hệ giữa Chính phủ và công dân của Việt Nam. Điều này có thể được thực hiện thông qua các khuôn khổ hiện hành để chia sẻ thông tin, láy ý kiến nhân dân, nhân dân thảo luận, và thanh tra nhân dân. Việc thực hiện dân chủ cơ sở đến lượt mình sẽ tăng cường quá trình cải cách chính quyền địa phương.

∗ Tác giả nhận bằng tiến sỹ về Chính phủ học tại Viện Đại học Cornell. Hiện chị đang làm việc tại Hà Nội Việt Nam với tư cách là nhà nghiên cứu.

 

** Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo có lẽ chỉ được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

—–
 

1 Xem Thaveeporn Vasavakul, “Chính trị của cải cách hành chính tại Việt Nam thời hậu XHCN”, trong Suiwah Leunged. Đánh giá Việt Nam: Tạo dựng một môi trường đầu tư lành mạnh (Singapore: ISEAS, 1996), trang. 42-68.

2 Về phần thảo luận chi tiết CNXH Nhà nước, xem một số bài viết vi dụ, Neil Harding, “CNXH, Xã hội và Nhà nước Lao động Hữu cơ” trong Neil Harding, cộng sự, Nhà nước trong xã hội XHCN (Oxford: St. Anthony’s College, 1984), trang 1-51; David Stark và Victor Nee, “Hướng tới một Phân tích Thể chế về CNXH Nhà nước” trong Victor Nee và David Stark, và các cộng sự, Nhận xét Các Thể chế Kinh tế của CNXH: Trung quốc và Đông Âu (Stanford: Stanford University Press, 1989), trang 1-31.

3 Những văn bản dưới đây bao gồm Quyết định 181/2003/QDD-TTg về áp dụng tại địa phương dịch vụ một cửa; Chỉ thị số 09/2005/CT-TTg ngày 5/4/2005 về tăng cường cải cách hành chính; Quyết định số 23/2005/QDD-TTg ngày 26/01/2005 về việc thành lập tổ công tác liên ngành để giải quyết các vấn đề và các kiến nghị của doanh nghiệp về thủ tục hành chính; Quyết định số 22/2006/QDD-TTg ngày 24/01/2006 về đánh giá các trách nhiệm giải quyết các vấn đề và các kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp; Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg ngày 07/9/2006 về các nhiệm vụ cấp bách đối với việc chấn chỉnh kỷ cương hành chính trong việc giải quyết các vấn đề của công dân và odanh nghiệp; công văn số 1877/TTg-CCHC ngày 15/11 về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32/2006/CT-TTg; Nghị quyết của cuộc họp Chính phủ tháng 12/2006 số 01/2007/NQ-CP ngày 03/01/2007.

4 Về phần thảo luận cải cách thủ tục hành chính tại Thành phố HCM, xem cuốn sách của Martin Gainsborough có tiêu đề Thay đổi Kinh tế Chính trị của Việt Nam.

5 Bộ Nội vụ, “ Sơ kết 3 năm thực hiện cơ chế “một cửa” theo quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

6 Phần thảo luận về cơ chế một cửa được lấy từ Bộ Nội vụ “Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tổng kết thí điểm thực hiện cơ chế một cửa tại các Bộ” ngày 19/12/2007.

7 Xem “Quyết định 93/2007 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông”,

http//www.sggp.org.vn/caicachhanhchinh/2007/7/108509/).

8 Phỏng vấn với Cục Doanh nghiệp Vừa và Nhỏ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

9 GTZ và Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Nghiên cứu về “Đầu tư trong nước: Từ ý tưởng kinh doanh đến Thực tiễn” Báo cáo Nền tảng, Hà Nội, 2005.

10 Phỏng vấn với Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Nội, tháng 10 năm 2008.

11 Xem ví dụ như James Manor, Kinh tế Chính trị của Phân cấp Dân chủ (Ngân hàng Thế giới, 1999. Robert Bennett, Phân cấp, Chính quyền Địa phương và Thị trường: Hướng tới một Nghị trình Hậu-Phúc lợi (Oxford: Clarendon, 1990); và Đông Á phân cấp: Làm cho Chính quyền Địa phương Hoạt động (Ngân hàng thế giới, 2005).

12 Báo cáo phát triển Việt Nam, 2005 nắm bắt một cách xúc tích tinh thần của Luật Ngân sách 2002.

13 Về tác động của phân cấp đối với đầu tư nước ngoài, xem Vũ Thành Tú Anh, Lê Viết Thái và Võ Tất Thắng, “Các biện pháp khuyến khích đầu tư bổ sung về pháp lý của tỉnh trong bối cảnh phân cấp tại Việt Nam: Cùng được hưởng lợi hay là chạy đua tới đáy?”, Báo cáo của UNDP, tháng 11 năm 2007.

14 Xem báo cáo của ADUKI cho Cơ quan AUSAID với tiêu đề “ Phân cấp tại Việt Nam – Làm việc Hiệu quả tại cấp Tỉnh và cấp Địa phương”, 2003.

15 Mục tiêu của chương trình này là giảm tỷ lệ các hộ nghèo tại các xã khó khăn dưới 25% vào năm 2005, cung cấp đầy đủ nước sạch, tăng tỷ lệ trẻ em độ tuổi đến trường đi học lên trên 70%, tăng cường đào tạo cho người nghèo về sản xuất, kiểm soát các bệnh nguy hiểm và bệnh xã hội, xây dựng các con đường nối với các trung tâm liên xã, và xây dựng các thị trường nông thôn.

16 Vũ Thu, “Về xu hướng phát triển của bộ máy chính quyền địa phương nước ta”, Nhà nước và Pháp luật, số 6 (2004).

17 “Dân chủ hơn trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, DDK, 5-10-2004, p. 1

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Chính trị, Đảng/Nhà nước | Thẻ: , | Leave a Comment »

Việt Nam thiếu hụt ngoại tệ

Posted by adminbasam trên 05/06/2009

Financial Times

Những lo ngại thâm hụt tài chính thử thách khả năng phục hồi của Việt Nam

Tin Johnston

Ngày 4-6-2009

 

Nền kinh tế của Việt Nam đã chứng tỏ là có sức mạnh hơn nhiều người bi quan đã từng tin, song các nhà phân tích đang cảnh báo rằng một số mặt mạnh của nó có thể bị hao mòn do những tình trạng không rõ ràng về tiền tệ và sự thiếu hụt thanh khoản (tiền bạc chi trả) hiện nay.

Hầu hết các nhà phân tích đang tin rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng từ 3 tới 5% trong năm nay, nhưng giá trị của tiền đồng Việt Nam đang tiếp tục trượt dốc.

Trong nhiều tháng qua, tiền đồng đã được trao đổi chính thức ở mức đáy của biên độ cho phép và khi ấy, vào tháng Ba, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nới rộng biên độ từ 3% lên 5% giới hạn cố định cả mức sàn và đáy, thì giá trị của nó đã rơi xuống  mức cực tiểu mới.

Hối suất chính thức của tiền đồng, đã giảm giá trị 9% vào năm ngoái, hiện lại giảm xuống 2% trong sáu tháng đầu năm nay.

Thế nhưng nó lại đã mất 4,1% trên thị trường không chính thức và theo John Shrimpton, một đồng sáng lập và là giám đốc quỹ Dragon Capital tại thành phố Hồ Chí Minh, nói rằng ông sẽ không ngạc nhiên nếu như đã có một sự mất giá hơn nữa là 5%.

Chính phủ, với chỉ 20 tỉ đô la dự trữ ngoại tệ – tương đương chưa đầy 4 tháng giá trị nhập khẩu – đã phải hạn chế biên độ can thiệp, dẫn đến một tình trạng thiếu tiền đô la trên thị trường tự do.

Chính phủ ở Hà Nội không muốn bắt các công ty chuyển đổi tài sản bằng đô la của họ, một giải pháp có thể làm nổ ra một cuộc tháo chạy tiền tệ, song họ đang sử dụng những công cụ nào mà họ có thể nới lỏng vấn đề thanh toán bằng đô la. Ba trong số những ngân hàng lớn nhất Việt Nam – BIDV, Việtinbank và Vietcombank – vào hôm thứ Hai đã cắt giảm mức ký quỹ bằng đô la từ 2% xuống 1,5%: tỉ lệ ký quỹ có kỳ hạn bằng tiền đồng hiện đang ở mức hơn 9%.

Vào tuần trước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết họ sẽ chấp nhận những công khố phiếu gắn với đồng đô la khi thế chấp cho những khoản vay.

Một phần của trong nan đề này là sự mất mát niềm tin – các nhà xuất khẩu đang nắm giữ lợi tức của họ bằng đồng đô la hơn là chuyển đổi sang tiền đồng Việt Nam – thế nhưng có một yếu tố khác là một sự thiếu hụt quyết toán thường kỳ đã trở thành kinh niên lên tới 8,4 tỉ đô la, tức chiếm tới 9,3% tổng sản phẩm quốc nội GDP, trong năm 2008.

Bức tranh kinh tế dường như đã hiện lên sáng hơn vào quý đầu năm nay, song hầu hết của sự cải thiện nầy là nhờ các nhà đầu tư trong nước thanh toán các cổ phần của họ bằng vàng khi giá trên thị trường thế giới của mặt hàng này tăng lên.

Xuất khẩu vàng đã vọt lên tới 2,5 tỉ đô la trong ba tháng đầu năm, tăng tới 1600% (tăng 16 lần) so với cùng kỳ năm ngoái, và các nhà phân tích đang cảnh báo về sự thay đổi này là không chắc sẽ chống đỡ được lâu.

“Việc gia tăng giá trị xuất khẩu sẽ không chống đỡ được khi các nguồn dự trữ vàng đang suy giảm và toàn bộ các xuất khẩu đang trượt dốc xuống tới mức báo động,” theo Prakriti Sofat, một kinh tế gia làm việc cho ngân hàng HSBC, đã nhận định trong một bài nghiên cứu.

Ông Shrimpton cho là một khoản thâm hụt thương mại quan trọng không phải là dị thường đối với một quốc gia đang ở giai đoạn phát triển như Việt Nam và đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), (ở mức tháo khoán tiền bạc là 2,8 tỉ đô la vào năm nay), vào Việt Nam sẽ tiếp tục yếu đi.

Nhưng tình trạng tiếp tục yếu kém của đồng tiền đang gây khó khăn hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam gom góp tiền trên các thị trường và đối với chính phủ khi phải huy động vốn cho kế hoạch kích thích kinh tế 8 tỉ đô la của họ – một số việc như bán trái phiếu, (bán cho ngoại quốc hay bán cho thị trường trong nước)  đã và đang dậm chân tại chỗ (thất bại).

Hiệu đính: Trần Hoàng

————

 

Financial Times

Deficit worries test Vietnam resilience

By Tim Johnston

Published: June 4 2009 20:17 | Last updated: June 4 2009 20:17

Vietnam’s economy has proved to be far more robust than many pessimists believed but analysts are warning that some of its strength could be sap ped by uncertainties about the currency and the current account deficit.

Most analysts believe the economy will grow 3-5 per cent this year but the value of the Vietnamese dong is continuing to slide.

For months, the dong has traded officially at the bottom of its permitted band and when, in March, the State Bank of Vietnam widened the band from 3 per cent to 5 per cent either side of the set point, the value plummeted to the new minimum.

The official exchange rate of the dong, having depreciated by 9 per cent last year, is down 2 per cent in the first six months of this year.

But it has lost 4.1 per cent on the unofficial market and John Shrimpton, a co-founder and director of Dragon Capital in Ho Chi Minh city, says he would not be surprised if there were to be a further 5 per cent fall.

The government, with only $20bn in foreign reserves – the equivalent of fewer than four months of imports – has limited latitude for intervention, resulting in a shortage of dollars on the open market.

The Hanoi administration does not want to force companies to convert their dollar holdings, a measure that would trigger a currency flight, but they are using what tools they can to ease the dollar liquidity problem. Three of Vietnam’s largest banks – BIDV, Vietinbank and Vietcombank – on Monday cut their dollar deposit rates from 2 per cent to 1.5 per cent: dong term deposit rates are running at more than 9 per cent.

Last week, the State Bank of Vietnam said it would accept dollar-denominated bonds as collateral for loans.

Part of the problem is a loss of confidence – exporters are holding their revenue in dollars rather than converting into dong – but another factor is a chronic current account deficit that reached $8.4bn, or 9.3 per cent of gross domestic product, in 2008.

The picture appeared to brighten in the first quarter of this year but most of the improvement was due to domestic investors liquidating their stocks of gold as the world price rose.

Gold exports hit $2.5bn in the first three months, up 1,600 per cent year on year, and analysts warn the shift is unlikely to be sustained.

“The boost to exports is not sustainable as gold stocks are running down and overall exports are going to slip deeper into the red,” Prakriti Sofat, an economist with HSBC, said in a research note.

Mr Shrimpton says a substantial trade deficit is not abnormal for a country at Vietnam’s stage of development and foreign direct investment, at $2.8bn disbursed this year, will take up some of the slack.

But the continuing weakness of the currency is making it harder for Vietnamese businesses to raise money in the markets and for the government to raise funds for its $8bn stimulus plan – a number of bond sales, sovereign and commercial, have fallen flat.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Kỷ niệm 20 năm cuộc thảm sát tại Thiên An Môn

Posted by adminbasam trên 05/06/2009

AP news

Kỷ niệm 20 năm biến cố Thiên An Môn mang lại sự đàn áp mới

By CHRISTOPHER BODEEN

 

Cảnh sát Trung Quốc đã kiểm soát và chận bắt những người bất đồng chính kiến vào hôm thứ Năm, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày đàn áp các nhà hoạt động dân chủ ở Quãng Trường Thiên An Môn. Chính quyền TQ  bỏ qua các lời kêu gọi của bà Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton và vị tổng thống Đài Loan rất thân thiện với Trung Quốc đã nói với Bắc Kinh là hãy đối diện với việc dùng bạo lực vào năm 1989.

Các nhà báo nước ngoài đã bị ngăn cấm đi vào quãng trường lớn rộng nầy khi cảnh sát mặc đồng phục lẫn công an chìm đứng gác trước khu vực đã từng là trung tâm điểm của phong trào được lãnh đạo bởi các sinh viên, và phong trào nầy đã bị đè bẹp bởi quân đội Trung Quốc vào đêm mồng 3 và 4 tháng 6, năm 1989.

Những viên công an kiểm soát các giấy thông hành cũng đã ngăn chận những người quay phim của các đài truyền hinh ngoại quốc không được đi vào quãng trường để tường thuật buổi lễ kéo cờ của Trung Quốc lên, là chuyện  thường xẩy ra hàng ngày. Các công an mặc thường phục với vẻ rất hung hăng đã đối diện với các nhà báo trên những con đường vây quanh quãng trường, chửi thề và hăm dọa dùng hành động bạo lực chống lại các nhà báo.

Các hành động an ninh ngoại lệ nầy xuất hiện sau khi các nhân viên kiểm tra của chính quyền đã đóng các trang mạng internet chia sẽ hình ảnh và các trang mạng xã hội, và chận đứng trang mạng của đài truyền hình CNN.com của Mỹ và các kênh truyền hình khác ở nước ngoài vào mỗi lần mà các đài nầy đưa tin các câu chuyện về Thiên An Môn.

Những nhà bất đồng chinh kiến và các gia đình của các nạn nhân bị đàn áp đã bị quản chế tại gia, hay bị cưỡng bức rời khỏi Bắc Kinh, (đây là) một phần của việc càn quét các nổ lực nhằm ngăn chận các cuộc thảo luận trên mạng trực tuyến hay ngăn chận tổ chức những lễ tưởng niệm về biến cố nầy.

“Chúng tôi đã bị theo dõi 24 giờ mỗi ngày trong một tuần và không thể nào rời khỏi nhà để tỏ lòng thương tiếc. Thật là hoàn toàn vô nhân đạo,” ông Xu Jue đã phát biểu như thế, con trai của ông ta năm ấy 22 tuổi đã bị bộ đội Trung Quốc bắn vào ngực và đã chảy máu cho tới chết vào ngày 4 tháng 6, 1989.

Nhiều công an và xe cảnh sát cũng đậu bên ngoài căn nhà của Wang Yannan, con gái của cố thủ tướng Triệu Tử Dương, tổng bí thư đảng CS Trung quốc đã bị truất phế vì đã có cảm tình với những người biểu tình thiên về dân chủ, theo Trung tâm Tin tức đặt căn cứ ở Hồng Kong của Tổ Chức Nhân Quyền và Dân Chủ. Hiện nay Wang đang lãnh đạo một hãng đấu giá và đã không còn hoạt động chính trị nữa.

Một dấu hiệu thêm nữa về  sự từ chối của chính quyền TQ, người lãnh đạo sinh viên đứng hàng thứ nhì trong danh sách bị truy nã vào hồi 1989 đã bị cưỡng bức quay trở lại Đài Loan vào ngày thứ Năm sau khi  bay tới Ma Cao (một vùng đất của TQ) vào một ngày trước đó trong một toan tính quay trở về thăm quê nhà ở đại lục.

Qua điện thoại, Wu’er Kaisi đã nói với thông tấn xã AP rằng: ông ta bị bắt giữ suốt đêm tại trung tâm giam giữ ở phi trường Macau và đã bị từ chối nhập cảnh vào lục địa vào dịp kỷ niệm Thiên An Môn là một “bi kịch.”

Lãnh tụ sinh viên đứng hàng đầu danh sách bị truy nã là Wang Dan đã bị tù 7 năm và sau đó bị đẩy tới Hoa kỳ năm 1998.

Ở Hoa Thịnh Đốn, Bộ trưởng ngoại giao bà Clinton đã phát biểu vào ngày thứ Tư rằng Trung Quốc (một cường quốc của thế giới vừa mới nổi lên)   “nên xem xét lại các biến cố đen tối trong quá khứ của họ và đưa ra một con số cho công chúng biết về những người đã bị chết, những người bị bắt giữ hay mất tích, cả hai việc nầy là để nhằm nghiên cứu và để làm lành lại vết thương”

Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu khuyến khích Trung Quốc nhấc bỏ việc ngăn cấm bàn bạc về chuyện đàn áp Thiên An Môn. Ông Mã Anh Cửu đã đưa ra một lời phát biểu vào ngày thứ Năm rằng: “Cần phải đối diện với chương lịch sử đau thương. Giả vờ như chuyện ấy không bao giờ xẩy ra thì không phải là một sự lựa chọn (đúng)”.

Phát ngôn viên của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã tấn công vào các lời chỉ trích của bà Clinton như là “một sự can thiệp thô bạo vào chuyện nội bộ của Trung Quốc”

“Chúng tôi khuyên Hoa Kỳ đặt qua một bên thành kiến chính trị của họ và làm lại cho đúng các việc làm sai lầm của họ và giảm bớt chuyện làm gián đoạn hay làm yếu đi các mối quan hệ song phương ” ông Qin đã cho biết trong một lời đáp đứng tới một câu hỏi tại một cuộc họp báo về tin tức vẫn thường được đưa lên kế hoạch.

Ông Qin đã từ chối đưa ra lời chỉ trích về các biện pháp an ninh – hay ngay cả thừa nhận rằng các biện pháp an ninh đang được sử dụng (trong ngày kỷ niệm biến cố Thiên An Môn vào năm nay).

“Hôm nay thì cũng giống như bao nhiêu ngày khác mà thôi, yên ổn,” ông nói thêm.

Bắc kinh chưa bao giờ cho phép có một cuộc điều tra độc lập vào trong các cuộc đàn áp của quân đội dành cho những người biểu tình, trong đó có thể có nhiều ngàn sinh viên, các nhà hoạt động xã hội, và các người dân thường đã bị giết chết. Những người Trung Quốc trẻ tuổi  chỉ biết chút ít về các biến cố nầy.  Họ lớn lên trong một thế hệ mà phần lớn bọn họ đã né tránh chính trị, chỉ ưa thích chủ nghĩa dân tộc, đạt được giàu có và đuổi theo các tham vọng cá nhân.

Nhà cầm quyền TQ đã và đang theo dõi chặt chẻ các nhóm người bất đồng chính kiến trước vụ kỷ niệm năm nay, bằng cách theo dõi chặt chẻ hay quản chế tại gia những tay viết hàng đầu trong nhiều tháng qua.

Ding Zilin, một giáo sư đại học đã về hưu và bênh vực cho các nạn nhân vụ Thiên An Môn đã trả lời qua điện thoại rằng: khoảng 12 công an đã và đang ngăn chặn bà và chồng của bà không được rời khỏi căn hộ (ở khu chung cư) của họ ở Bắc Kinh.

Trái với sự đàn áp ở bên trong lục địa, hàng mấy chục ngàn người đã được người ta dự đoán là sẽ tham dự một cuộc thắp nến tưởng niệm ở Hồng Kông, một thuộc địa cũ của Anh.  Hồng Kông vẫn đang duy trì hệ thống chính quyền riêng của họ và là một xã hội cởi mở kể từ khi chuyển qua sống dưới sự kiểm soát của Trung Quốc vào năm 1997 (khi hợp đồng thuê mướn 99 năm của Anh đã hết hạn ở vùng đất nầy).

Min Lee, thông tín viên của AP tại Hồng Kông đã đóng góp bài báo nầy

Người dịch: Trần Hoàng

 

*Những chàng thanh niên trẻ tuổi Trung Quốc đã chết đi trong ngày 3 và 4 tháng 6, 1989 và một số khác đã bị bắt đi, mất tích, và ở tù … nhưng các ước muốn tự do và lòng can đảm của họ sẽ sống mãi trong tâm hồn của chúng ta.

*Chính Đặng tiểu Bình (Lý Bằng và những người đang cầm quyền TQ hiện nay) là những kẻ ra lệnh đàn áp và quân đội TQ là những kẻ sát nhân đã bắn chết và làm bị thương hàng chục ngàn  thanh niên và sinh viên không có võ trang.

—————–

 

Tiananmen 20th anniversary brings new repression

By CHRISTOPHER BODEEN

BEIJING (AP) — Chinese police aggressively deterred dissent on Thursday’s 20th anniversary of the crackdown on democracy activists in Tiananmen Square, ignoring calls from Hillary Rodham Clinton and even Taiwan’s China-friendly president for Beijing to face up to the 1989 violence.

Foreign journalists were barred from the vast square as uniformed and plainclothes police stood guard across the area which was the epicenter of the student-led movement that was crushed by the military on the night of June 3-4, 1989.

Security officials checking passports also blocked foreign TV camera operators and photographers from entering the square to cover the raising of China’s national flag, which happens at dawn every day. Plain clothes officers aggressively confronted journalists on the streets surrounding the square, cursing and threatening violence against them.

The extraordinary security moves come after government censors shut down social networking and image-sharing Web sites such as Twitter and Flickr, and blacked out CNN and other foreign news channels each time they aired stories about Tiananmen.

Dissidents and families of crackdown victims were confined to their homes or forced to leave Beijing, part of sweeping efforts to prevent online debate or organized commemorations of the anniversary.

“We’ve been under 24-hour surveillance for a week and aren’t able to leave home to mourn. It’s totally inhuman,” said Xu Jue, whose son was 22 when he was shot in the chest by soldiers and bled to death on June 4, 1989.

Officers and police cars were also stationed outside the home of Wang Yannan, the daughter of Zhao Ziyang, the Communist Party leader deposed for sympathizing with the pro-democracy protesters, according to the Hong Kong-based Information Center for Human Rights and Democracy. Wang heads an auction firm and has never been politically active.

In a further sign of the government’s intransigence, the second most-wanted student leader from 1989 was forced to return to Taiwan on Thursday after flying to the Chinese territory of Macau the day before in an attempt to return home.

Wu’er Kaixi, in exile since fleeing China after the crackdown, told The Associated Press by phone he was held overnight at the Macau airport’s detention center and that being denied entry on the Tiananmen anniversary was a “tragedy.”

The student leader who topped the most-wanted list, Wang Dan, was jailed for seven years before being expelled to the United States in 1998.

In Washington, U.S. Secretary of State Clinton said in a statement Wednesday that China, as an emerging global power, “should examine openly the darker events of its past and provide a public accounting of those killed, detained or missing, both to learn and to heal.”

Taiwanese President Ma Ying-jeou urged China to lift the taboo on discussing the crackdown.

“This painful chapter in history must be faced. Pretending it never happened is not an option,” Ma said in a statement issued Thursday.

Chinese Foreign Ministry spokesman attacked Clinton’s comments as a “gross interference in China’s internal affairs.”

“We urge the U.S. to put aside its political prejudice and correct its wrongdoing and refrain from disrupting or undermining bilateral relations,” Qin said in response to a question at a regularly scheduled news briefing.

Qin refused to comment on the security measures — or even acknowledge they were in place.

“Today is like any other day, stable,” he said.

Beijing has never allowed an independent investigation into the military’s crushing of the protests, in which possibly thousands of students, activists and ordinary citizens were killed. Young Chinese know little about the events, having grown up in a generation that has largely eschewed politics in favor of raw nationalism, wealth acquisition, and individual pursuits.

Authorities have been tightening surveillance of China’s dissident community ahead of the anniversary, with some leading writers under close watch or house arrest for months.

Ding Zilin, a retired professor and advocate for Tiananmen victims, said by telephone that a dozen officers have been blocking her and her husband from leaving their Beijing apartment.

In contrast to the repression on the mainland, tens of thousands of people were expected to attend an annual candlelight vigil in the former British colony of Hong Kong, which has maintained its own legal system and open society since reverting to Chinese rule in 1997.

Associated Press writer Min Lee in Hong Kong contributed to this report

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Trung Quốc | Thẻ: | Leave a Comment »

Tuổi trẻ thế hệ hậu Thiên An Môn

Posted by adminbasam trên 04/06/2009

CNN

Tuổi trẻ thế hệ hậu Thiên An Môn của Trung Quốc:

Hờ hững trước thực tế cuộc sống hay đó chỉ là một tấm bình phong?

(The FirstPost)

 

BẮC KINH, Trung Quốc (CNN) – Họ được biết đến như là những đứa trẻ hậu 1980 (hay 8X) hay còn gọi là thế hệ “Thiên An Môn cộng 20″: họ là 200 triệu con người sôi nổi, hiểu biết Web, có ý thức về văn hóa-nhạc pop và kiên quyết thờ ơ với chính trị.

Trong lúc thế giới quan sát ngày kỷ niệm lần thứ 20 cuộc đàn áp đẫm máu trên Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh thì vào hôm thứ Tư, những người ủng hộ cho hoạt động dân chủ ở hải ngoại đang cảm thấy bồi hồi và thương tiếc rằng: sao mà chỉ có một số ít giới trẻ Trung Quốc ngày nay biết hoặc quan tâm về phong trào  do sinh viên lãnh đạo đã bị tàn rụi với cái chết của nhiều trăm người khi những chiếc xe tăng ầm ầm lao qua các đường phố của thủ đô Bắc Kinh và quân đội đã nổ súng.

Thế nhưng sự mất mát trong điều được khái quát ở đây là liệu có phải thái độ thờ ơ với chính trị của (thanh niên) ngày nay là một thực tế hay chỉ là một cái vẻ bên ngoài.

“Chính trị không phải là một trò chơi mà chúng ta muốn chơi hay có thể chơi,” theo lời của “Holly”, một sinh viên đại học 21 tuổi, anh ta cũng như bao nhiêu người khác  được trích dẫn trong bài báo này, đã đồng ý trả lời trong điều kiện nặc danh.

” ‘Chính trị là loại công việc bẩn thỉu nhất; cháu hãy tránh nó xa đến mức mà cháu có thể làm được’, ông của tôi đã bảo vậy,” cô nói thêm. “Cho nên tốt hơn hết là chúng tôi tập trung vào những gì mà chúng tôi đang nắm được, làm chủ được. Trên thực tế là những gì mà mọi người thể hiện ở Trung Quốc ngày hôm nay.”

Quả thực, nếu như thế hệ hôm nay tập trung nhiều vào sự thành đạt của cá nhân, thì đó là vì họ được khấm khá hơn nhiều và những rủi ro trong cuộc sống đã bớt đi rất nhiều so với thế hệ những người đi trước.

Vào thời điểm nổ ra cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn, Trung Quốc biệt lập với thế giới bên ngoài, với tình trạng lạm phát phi mã.

Các sinh viên đã được trông đợi tham gia vào những phong trào quần chúng, thí dụ như Cách mạng Văn hóa được phát động bởi Mao Trạch Đông (lãnh tụ Đảng Cộng sản), nhằm tống khứ những phần tử trưởng giả có khuynh hướng tự do ra khỏi đảng bằng cách huy động lớp trẻ.

Ngày nay, đất nước cộng sản này đang trên một con đường ổn định, có được mức tăng trưởng vô song.

Nền kinh tế TQ, là một trong những nền kinh tế thuộc loại lớn nhất thế giới, đã tăng trưởng với một tỉ lệ trung bình trên 9% năm kể từ năm 1978, khi ấy mức bình quân thu nhập đầu người mỗi năm là 380 nhân dân tệ (55 đô la), theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Thu nhập mỗi đầu người đã vọt lên 6.000 đô la (41.000 nhân dân tệ) năm 2008.

Trung Quốc đã gửi sinh viên tới học tại các trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kỳ nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác ngoại trừ Ấn Độ.

“Sự an toàn của chúng tôi, sự giàu có của chúng tôi tất cả đều nhà chức trách kiểm soát,” theo lời “John,” một chủ nhà hàng 27 tuổi tại Bắc Kinh. “Điều duy nhất mà người dân bình thường có thể làm là làm việc nhiều hơn, chăm chỉ hơn và kiếm được nhiều tiền hơn.”

Holly bổ sung thêm: “Một người Trung Quốc lớn tuổi bảo là ‘Bản năng tự sinh tồn là quy luật tự nhiên đầu tiên.’ Chính trị không trả tiền lương và lợi lộc gì. Chúng tôi phải đi đến bất cứ nơi đâu có trả tiền lương.”

Điều này không nói lên rằng nhiều người trong giới trẻ ngày nay không nhắm tìm kiếm thông tin về cuộc nổi dậy ở Thiên An Môn – nhưng không có hiệu quả (vì tìn tức bị nhà nuốc TQ giấu nhẹm hết).

Những cuốn sách giáo khoa của nhà trường hiếm khi có nhắc lại về  cuộc nổi dậy này. Khi có sách giáo khoa nào thực hiện việc này, các hành động ấy được gắn cho cái nhãn là phản động.

Chính phủ đang cố gắng hết sức để lờ đi cuộc thảm sát, bằng cách gọi cuộc nổi dậy là một “vụ rắc rối chính trị nổ ra vào cuối những năm 1980,” tại một cuộc họp báo của bộ ngoại giao vào tuần trước.

Quảng trường Thiên An Môn – đã từng cháy bỏng trong ký ức chung của mọi người trên thế giới qua hình ảnh và phim video về một người thanh niên vô danh đứng cản đường trước những chiếc xe tăng đang tiến tới – (giờ đây) không còn mang chút dấu ấn gì làm cho người ta nhớ lại sự kiện đã từng xảy ra cách đây 20 năm.

Người dân tụ tập với xem những bức ảnh. Còn trẻ con thì chơi đùa.

Các công dân, e ngại trước quan điểm của nhà nước, họ không sẵn lòng nói về hoạt động này.

“Tôi nhớ khi tôi còn là một đứa trẻ và tôi đã hỏi một câu hỏi,” theo lời “Victoria”, một đại diện tiếp thị 25 tuổi. “Và cha tôi đã bảo, ‘giờ đây, cha không muốn giải thích về chuyện này vì con còn quá nhỏ. Con cần phải học nhiều điều và đọc nhiều sách và con sẽ biết về nó.’

“Một trong những người thầy của tôi kể một vài điều về vụ việc này – nhưng chỉ đúng một câu, thế là xong.”

Chính phủ cũng làm rõ chuyện này rằng bất đồng chính kiến là không được tha thứ. Những người công khai thách thức nhà chức trách đều bị tống vào tù với những bản án nghiêm khắc.

“Những gì đã xảy ra vào lúc đó đã giúp  tôi tự bảo vệ mình và những người thân của mình bằng cách tránh những hy sinh ngu ngốc, đó là điều quan trọng cực kỳ,” Rodney, chuyên gia 25 tuổi, làm việc cho một công ty nước ngoài, tâm sự.

“Bạn có biết không? Điều ngu ngốc nhất là bắt đầu một cuộc đánh nhau với một thằng điên. Bởi vậy, bạn đừng để cho thằng điên đó nhìn thấy bạn. Bạn chỉ có thể ném những hòn đá vào hắn, mà không làm cho hắn biết ai ném.”

Đối với những thanh niên bị vỡ mộng, không còn ảo tưởng với chế độ này, nơi gặp gỡ ngày nay là trên Internet.

Số người tham gia vào mạng trực tuyến của nước này là đông nhất thế giới: 298 triệu người dùng – tương đương với dân số toàn nước Mỹ.

Thay vì dán những tấm áp phích lên tường các khu nhà ở của trường đại học, những người đại diện cho sự đổi thay hôm nay đang gieo các hạt giống trong thế giới blog.

“Bạn muốn nhìn thấy các phong trào tự do phát biểu ý kiến tại Trung Quốc ở đâu không? Hai mươi năm trước, đó là Quảng trường Thiên An Môn. Còn ngày nay, đó là trên Internet,” theo nhận xét của Xiao Qiang thuộc Dự án Internet Trung Quốc tại Đại học Berkely, tiểu bang California, dự án nầy  quan sát sự hiệu quả của mạng internet đối với truyền thông và chính trị Trung Quốc.

“Đúng, Internet là phát minh vĩ đại nhất từ trước tới nay,” theo “Jessica, một sinh viên 28 tuổi mới tốt nghiệp, hiện làm cho một xưởng phim, nhận xét. “Internet giống như sự kết hợp giữa một chiếc máy thời gian và một chiếc máy không gian. Không hoàn toàn giống, nhưng gần như vậy.”

Luật pháp của Trung Quốc cấm sử dụng trang Web để kích động lòng căm thù  và thái độ chia rẻ hoặc cổ võ sự  lật đổ chính quyền. Chính phủ thuê hàng ngàn người  để theo dõi các trang web, để lọc những nội dung không được hoan nghênh.

Những từ khóa như “Thiên An Môn” và “Tây Tạng” đều bị theo dõi. Các trang Web, như trang chia sẻ hình ảnh video YouTube, và các trang web của các hãng tin tức, trong đó có CNN.com. thường trực bị ngăn chặn.

Vào ngày thứ Ba, các nhân viên kiểm duyệt Trung Quốc đã chặn đường truy cập tới trang mini-blog Twitter, cũng như tới trang chia sẻ hình ảnh Flickr và các trang khác.

Trung Quốc cũng đã đóng hơn 6.000 bản tin nhắn trực tuyến liên kết giữa các trường cao đẳng và đại học trước ngày lễ kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn, theo Trung tâm Thông tin vì Nhân quyền và Dân chủ đóng tại Hong Kong cho biết.

“Bạn hãy cho tôi biết. Có phải đó là những hành động mà một chính phủ sẽ thực hiện nếu như hoạt động giữa những người trẻ tuổi đã thực sự chết rồi? “Andrew”, một nhân viên văn phòng 25 tuổi đã hỏi. “Đất nước chúng tôi cũng giống như con vật biểu tượng cho quốc gia của chúng tôi, con gấu trúc. Đất nước nầy thay đổi chậm chạp, nhưng sự đổi thay chắc chắn sẽ tới. Chúng tôi đang tin chắc vào điều đó – song, chỉ tin chắc một cách lặng lẽ thôi.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

————–

 

CNN

China’s youth post-Tiananmen: Apathy a fact or front?

updated 41 minutes ago. 4/6/2009

BEIJING, China (CNN) — They’re known as the “post 1980s” kids or the “Tiananmen-plus-20″ generation: 200 million-strong, Web-savvy, pop-culture-conscious and decidedly apolitical.

As the world observes the 20th anniversary of the bloody crackdown on Beijing’s Tiananmen Square on Wednesday, pro-democracy advocates abroad lament how little Chinese youth today know or care about the student-led movement that ended with the deaths of hundreds when tanks rumbled through the capital’s streets and troops opened fire.

But what is lost in the generalization is whether today’s political apathy is a fact or a front.

“Politics is not a game that we want to play or we can play,” said “Holly,” a 21-year-old college student, who like the rest of the people quoted in this article, agreed to speak on condition of anonymity.

” ‘Politics is the dirtiest kind of business; stay as far as you can from it,’ says my grandfather,” she added. “So, we better focus on something that we are in control of. Practicality is what today’s China is all about.”

Indeed, if the generation today is focused more on individual success, it is because they are much better off and risk losing much more than their predecessors.

At the time of the Tiananmen uprising, China was isolated from the outside world, with skyrocketing inflation. Watch a profile of student leader of the Tiananmen uprising »

Students were expected to participate in mass movements, such as the Cultural Revolution launched by Mao Zedong, the Communist Party chairman, to rid alleged liberal bourgeoisie elements from the party by mobilizing the youth.

Today, the communist country is on a stable path, enjoying unparalleled growth.

The economy, one of the largest in the world, has grown at an average rate of more than 9 percent a year since 1978, when the annual income per capita was 380 yuan ($55), according to the International Monetary Fund. The per capita income soared to 41,000 yuan ($6,000) in 2008.

China sends more students to colleges and universities in the United States than any country other than India.

“Our safety, our wealth are all controlled by the authority,” said “John,” a 27-year-old restaurant owner in Beijing. “The only thing that common people can do is to work hard and earn more money.”

Added Holly: “An old Chinese saying is that ‘Self-preservation is the first law of nature.’ Politics doesn’t pay. We must go to wherever that pays.”

This is not to say that many of today’s youth have not sought out information about the Tiananmen uprising — in vain.

School textbooks barely mention it. When they do, the movement is labeled counterrevolutionary.

The government does its best to ignore the massacre, calling it a “political incident that took place in the late 1980s,” at a foreign ministry news conference last week.

Tiananmen Square — seared into the world’s collective memory through a photograph and video of an unknown man standing in the path of advancing tanks — bears no reminder of the 20-year-old event.

People gather for photographs. Children play.

Citizens, wary of the government’s position, are reluctant to talk about the movement.

“I remember when I was a child and I asked a question,” said “Victoria,” a 25-year-old marketing representative. “And my father said, ‘Now, I don’t want to explain about this because you’re too young. You should learn more stuff and read more books and you will know about it.’

“One of my teachers said something about it — but just one sentence, that’s all.”

The government also makes it clear that dissent is not tolerated. Those who publicly challenged authority have been thrown in jail with harsh sentences.

“What happened then helped me to protect myself and my loved ones from ignorant sacrifices, which are extremely important,” said “Rodney,” a 25-year-old professional who works for a company abroad.

“You know what? The most foolish thing is to start a fight with a mad man. So you don’t let the mad man see you. You just maybe throw stones at him, without letting him know.”

For youths disillusioned with the system, that venue today is the Internet.

The nation’s online population is the world’s largest: 298 million users — about the size of the entire United States.

Instead of plastering posters on college campuses, the agents of change are planting seeds in the blogosphere.

“You want to see where the freedom of expression movements are in China? Twenty years ago, it was on Tiananmen Square. Today it is on the Internet,” said Xiao Qiang of the China Internet Project at the University of California, Berkeley, which looks at the effect of the Web on China’s media and politics.

“Yes, the Internet is the greatest invention ever,” said “Jessica,” a 22-year-old recent graduate who works at a film studio. “It is like the combination of a time machine and a space machine. Not quite, but close enough.”

Chinese law forbids the use of the Web to incite hatred and division or to promote the overthrow of the government. The government employs thousands to monitor sites, filtering for unwelcome content.

Keywords like “Tiananmen” and “Tibet” are tracked. Web sites, such as the video-sharing site YouTube, and media outlets, including CNN.com, are routinely blocked.

On Tuesday, Chinese censors blocked access to the micro-blogging site Twitter, as well as the photo sharing site Flickr and others.

China has also shut down more than 6,000 online message boards affiliated with colleges and universities ahead of the Tiananmen anniversary, the Hong Kong-based Information Center for Human Rights and Democracy said.

“You tell me. Would those be actions a government would take if activism among young people was truly dead?” said “Andrew,” a 25-year-old office worker. “Our country is like our national animal, the panda. It is slow to change, but change will come. We’re making sure of it — but just quietly.”

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

Vờ kêu cứu

Posted by adminbasam trên 03/06/2009

New York Times

Vờ kêu cứu

PHILIP BOWRING

Ngày 2-6-2009

 

HÀ NỘI – Thế giới lại vang lên những lời chỉ trích mang tính nghi thức về những vụ thử vũ khí hạt nhân và tên lửa của Bắc Triều Tiên, thế nhưng các nhận thức của họ về việc này thì khác nhau.

Ở phương Tây, những vụ thử bắn thử phi đạn và vũ khí hạt nhân này được xem như là một mối đe doạ lớn cho việc cắt giảm và hạn chế những vũ khí hạt nhân cũng như gây sự hăm dọa đối với Nam Triều Tiên, Nhật Bản và thậm chí cả Hoa Kỳ.

Ở đa số các nước phương Đông, những vụ này được xem như là một thái đô thô bạo đối với phương Tây và như là một hành động trong nổ lực nhằm đạt được sức mạnh  thành công hơn là một mối đe doạ đối với hòa bình.

Ngược lại, Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], nơi mà các quyền lợi của cường quốc lớn xung đột nhau, đang được nhìn nhận như có tính chất nguy hiểm cực độ hơn.

Cảm giác rất phổ biến tại châu Á thì cũng rất gần giống với cảm giác của Mỹ, Trung Quốc và Nhật, là Bắc Hàn không gây ra nhiều tổn hại thật sự. Ở những quốc gia nhỏ hơn, thì thậm chí còn có một thái độ ưa thích ngấm ngầm đối với hành động thách thức của Bắc Triều Tiên không phải chỉ trước Hoa Kỳ và Nhật mà còn thách thức cả Trung Quốc.

Trong khi với vấn đề phi hạt nhân và vũ khí hủy diệt, quan điểm của châu Á là tại sao lại lo ngại đối với Bắc Triều Tiên trong khi vấn đề bom [hạt nhân] của Pakistan lại không gặp sự phản ứng như vậy? Giống như vấn đề bom [hạt nhân] của Israel, vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên đang được xem như có ý nghĩa là phát triển quân sự mạnh mẻ vì lo sợ bị tấn công và là một dấu hiệu của sự cô lập. Chế độ đó có thể thật kinh khủng, song mục đích duy nhất của nó là sống sót.

Những quan điểm này có thể có chút ngây thơ, thiếu kinh nghiệm, song có thể hiểu được, khi căn cứ rất nhiều vào màn giả vờ kêu cứu quanh vấn đề vũ khí của Bắc Triều Tiên và quá ít khả năng của phương Tây để ngăn chặn được chúng. Tại sao không bỏ qua việc theo đuổi sự chú ý vào Kim [Chính Nhật], mà hướng suy nghĩ vào châu Á có hơn không? Hãy để cho người Trung Quốc giải quyết chuyện Bắc Triều Tiên.

Trung Quốc vừa là người láng giềng gần gũi nhất, vừa là nước (do ngầm định sắp xếp trước và do đang cung cấp viện trợ lương thực và dầu lửa) đã cho phép Bắc Triều Tiên phát triển các loại vũ khí hạt nhân. Và ai là người đang có sự lo sợ hơn từ một nước Triều Tiên thống nhất được trang bị vũ khí hạt nhân và hùng mạnh – Trung Quốc hay Hoa Kỳ?

Trung Quốc đã chăm sóc và nuôi dưỡng mối phiền toái nguy hiểm ngay trên ngưỡng cửa của chính họ và đã trao cho Nhật Bản đưa ra lý lẽ để biện hộ cho việc xây dựng lực lượng phòng thủ của Nhật. Bình Nhưỡng giờ đây là nan đề chính của Trung Quốc.

Nếu như Hoa Kỳ ngưng nghĩ ra những mối đe doạ không có thật rằng họ “sẽ không cho phép” một Bình Nhưỡng có vũ khí nguyên tử, thì phần còn lại của thế giới sẽ nhìn thấy rõ ràng hơn nước Trung Quốc thiển cận đã và đang cố sử dụng Bắc Triều Tiên như là một lá bài để mặc cả với Hoa Kỳ, với mục đích sau cùng là đuổi lực lượng quân sự của Mỹ ra khỏi Hàn Quốc.

Trong khi đó, có tính chất quan trọng hơn cho an ninh Đông Á là sự tái nổi lên của những vụ tranh chấp trên Biển Đông. Mới đây có những tin tức cho thấy rằng Việt Nam đã mua sáu chiếc tàu ngầm và 12 chiến đấu cơ SU-30 của Nga trị giá 2,3 tỉ đô la. Điều này báo hiệu rằng bất chấp nhu cầu phải có những quan hệ kinh tế tốt đẹp với Trung Quốc, Việt Nam không có ý định để cho những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc xảy ra trong tình trạng không bị phản đối.

Cuộc mua bán này là tiếp theo sau hành động quấy nhiễu của Trung Quốc đối với một chiếc tàu của Hải quân Hoa Kỳ ngoài biển Đông vào tháng Ba 2009, vụ việc xuất phát từ một sự bất đồng lâu dài về “Vùng Đặc quyền Kinh tế” của Trung Quốc.

Cũng trong tháng Ba, Tổng thống Philippines Gloria Arroyo đã ký một bộ luật mô tả những tự nhận là có chủ quyền của Philippines trên những phần phía đông của vùng biển này. Mặc dù bộ luật chỉ đơn thuần thiết lập những đường cơ sở cho vuệc cho là có chủ quyền đang hiện hữu này, nhưng nó đã lôi kéo một hành động phản kháng tức thời từ Trung Quốc, nước này đã gửi một số tàu chiến tới vùng biển này.

Tiếp đến là Thủ tướng Malaysia Abdullah Badawi đã thu hút những chỉ trích của Trung Quốc vì việc tái xác nhận những yêu sách chủ quyền của nước này trên Biển Đông bằng việc viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp. Ông cũng đã đi thăm Brunei và thiết lập nên nền tảng cho việc chấm dứt một mối tranh chấp trên biển bằng việc cho phép thăm dò những vùng biển bị Trung Quốc đòi chủ quyền.

Tuy nhiên, điều này chỉ là dấu hiệu của sự hợp tác giữa các thành viên ở Châu á về vấn đề Biển Đông, mặc dầu  họ cần phải hành động phối hợp với nhau, nếu như muốn chống trả lại những đòi hỏi của Bắc Kinh đối với toàn bộ vùng biển trải dài 2.000 km từ đại lục Trung Quốc cho tới các bờ biển của Malaysia và Philippines và tiến gần tới những mỏ dầu của Indonesia.

Năm 2002, các thành viên của Asean đã cùng Trung Quốc ký một Tuyên bố về Ứng xử [trên Biển Đông] nhằm tránh xung đột đối với những vùng mà các quốc gia đều tự cho là có chủ quyền chồng lấn lên nhau và để đẩy mạnh việc thăm dò khoáng sản chung. Tuy nhiên bản tuyên bố nầy đã thành công vào lúc đầu trong việc giảm bớt những căng thẳng, chứ không có sự tham gia thăm dò chung đã xẩy ra và khối Asean vẫn tiếp tục chia rẽ.

Không có thành viên nào của khối Á Châu đề nghị hổ trợ Việt Nam trong việc đối đầu với những mối đe doạ của Trung Quốc chống lại việc thăm dò dầu lửa ngoài khơi của nước này, và cũng không có quốc gia nào bày tỏ ước muốn đứng lên đại diện cho một mặt trận hợp nhất đối chọi với Trung Quốc.

Đối với Trung Quốc, vấn đề ở đây không phải chủ yếu là dầu lửa – chất trầm tích nầy có thể có giá trị lớn đối với các nước nhỏ, nhưng có tính chất giới hạn (không đáng dính mép) đối với nhu cầu của TQ.

Tầm quan trọng chủ yếu của Biển Đông là có tính chất chiến lược, vì thế nhiều người coi đó như là địa điểm cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ và các đồng minh Châu Á của Mỹ – bao gồm cả kẻ thù cũ là Việt Nam.

Cuộc tranh đấu để ngăn chặn Biển Đông trở thành một cái hồ của Trung Quốc sẽ gia tăng cường đô thêm nếu như Trung Quốc vô hiệu hóa được Đài Loan, kẻ xoạc cẳng ngáng ngay cửa ngõ phía bắc của họ.

Vì thế, trong khi những dòng tít lớn hàng đầu trên các báo đang la toáng lên về “những vũ khí Hạt nhân của BTT”[Bắc Triều Tiên], thì cuộc tranh đấu có ý nghĩa chiến lược lớn hơn đang phát triển dần dần tới phía nam.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—————-

 

New York Times

Crying Wolf

By PHILIP BOWRING

Published: June 2, 2009

HANOI — The world resounded with ritual condemnations of North Korea’s nuclear and missile tests, but perceptions of them differ.

In the West, they are seen as a major threat to non proliferation as well as to South Korea, Japan and even the United States. In much of the East they are seen more as a rude gesture toward the West and as a move in a succession power-play than as a threat to peace.

By contrast, the South China Sea, where major-power interests do collide, is perceived as ultimately more dangerous.

The prevailing sense in Asia is that with the U.S., China and Japan roughly in agreement, not much real damage can be done by North Korea. In smaller countries, there is even a sneaking admiration for the North’s defiance not just of the U.S. and Japan but also of China.

As for nonproliferation, the Asian attitude is why worry about North Korea when Pakistan’s bomb met no such reaction? Like Israel’s bomb, North Korea’s is seen a means of deterrence and a symbol of isolation. The regime may be appalling, but its only goal is survival.

These views may be a bit naïve, but they are understandable, given so many cries of “wolf” over North Korean arms and so little ability in the West to stop them. Why not ignore the attention-seeking Kim, goes the Asian thinking? Let the Chinese handle it.

China is both the closest neighbor and the one country which has, by default and by providing food and oil aid, enabled North Korea to develop nuclear weapons. And who has more to fear from a nuclear-armed and potentially united Korea — China or the United States?

China has fostered a dangerous nuisance on its own doorstep and given Japan justification to build its defenses. Pyongyang is now primarily China’s problem.

If the U.S. would cease make ing hollow threats that it “won’t allow” a nuclear Pyongyang, the rest of the world would see more clearly how short-sighted China has been in trying to use North Korea as a bargaining chip with the U.S., with the eventual aim of getting American forces out of Korea.

Meanwhile, more significant for longer-term East Asian security is the resurgence of disputes over the South China Sea. Recently there was the news that Vietnam is to buy six submarines and 12 SU-30 fighters from Russia for $2.3 billion. This signaled that despite its need for good economic relations with China, Vietnam does not intend to let China’s sea claims go unchallenged.

The sale followed the Chinese harassment of a U.S. Navy vessel off the China coast in March, which stemmed from a long-standing disagreement over China’s “Exclusive Economic Zone.”

Also in March, President Gloria Arroyo of the Philippines signed a law delineating Philippine claims in the eastern parts of the sea. Though the law merely established baselines for existing claims, it drew an immediate rebuff from China, which sent vessels to the area.

Then Malaysian Prime Minister Abdullah Badawi drew Chinese criticism for reaffirming his country’s claims in the South China Sea by visiting a disputed island. He also visited Brunei and laid the foundation for ending a seabed dispute which would enable exploration in areas claimed by China.

However, this was the only sign of cooperation between the Asean members over the South China Sea, although they need to act in concert if they are to counter Beijing’s claim to the whole sea, stretching 2,000 kilometers from China’s mainland to the coasts of Malaysia and the Philippines and close to Indonesian gas fields.

In 2002, Asean members signed a Declaration of Conduct with China to avoid conflict over overlapping claims and to promote joint exploration. Though the declaration initially succeeded in reducing tensions, no joint exploration has occurred and Asean has remained divided.

No Asean members offered support to Vietnam in the face of Chinese threats against its offshore exploration, and none has shown willingness to present a united front to China.

For China, the issue is not primarily hydrocarbons — the deposits are valuable to smaller countries but marginal to China’s needs. The sea’s primary importance is strategic, so many see it as locus of competition between China and the U.S. and its Asian allies — including old enemy Vietnam.

The struggle to prevent the sea from becoming a Chinese lake will intensify if China neutralizes Taiwan, which straddles its northern entrances.

So while the headlines scream “NK Nukes,” the bigger strategic struggle is evolving to the south.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »

Năm Hữu Nghị trở thành Năm Cãi Vã Việt-Trung

Posted by adminbasam trên 01/06/2009

The Straits Times

Năm Hữu nghị Việt-Trung đang trở thành năm cãi vã nhau

Ian Storey, viết riêng cho The Straits Times

Ngày 26-5-2009

 

Để kỷ niệm năm thứ 60 về thiết lập  quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai nước đã và đang chuẩn bị kế hoạch lấy năm 2010 là “Năm của tình Hữu nghị”.

Thế nhưng nếu như đừng để ý gì đến những bước phát triển trong mối quan hệ mới đây, thì tình bằng hữu chắc chắn gần như không có được bao nhiêu.

Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hóa các quan hệ vào năm 1991 sau gần hai thập kỷ đối nghịch, và các mối quan hệ song phương đã được cải thiện kể từ đó.

Thương mại hai chiều đã và đang phát triển mạnh và Trung Quốc giờ đây là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Năm 1999 và 2000, hai quốc gia này đã ký các hiệp ước phân định biên giới đất liền cũng như các đường ranh giới trên biển tại Vịnh Bắc Bộ.

Thế nhưng bất chấp những bước tiến bộ, những mối hoài nghi lẫn nhau vẫn khăng khăng hiện hữu. Cụ thể, Việt Nam đang lo ngại về những biểu hiện tăng cường sức mạnh của người láng giềng khổng lồ của  họ.

Trong năm nay, hai loạt biến cố đã và đang mang lại mối quan hệ khó khăn với bằng chứng thấy rõ.

Biến cố thứ nhất có liên quan đến vai trò kinh tế của Trung Quốc tại ViệtNam và dòng chảy tràn ngập hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc vào trong nước. Vào tháng Ba, báo chí Việt Nam cho biết rằng thâm hụt thương mại với Trung Quốc của nước này đã lên tới mức độ ‘báo động’ là 11 tỉ đô la Mỹ, cao gấp 57 lần so với năm 2001. Đề làm cân bằng lại tình trạng thâm hụt thương mại đang ngày càng tăng, Hà Nội đã và đang khuyến khích các công ty của Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam, song điều này không phải lúc nào cũng chứng tỏ là được ưa chuộng.

Ví dụ khi Hà Nội tặng một hợp đồng lớn cho một doanh nghiệp Trung Quốc để khai thác mỏ ô xít nhôm ở Cao nguyên Trung phần, họ đã làm dấy lên một dòng thác lũ những chỉ trích rằng dự án này sẽ huỷ hoại môi trường tại địa phương, chiếm chỗ sinh sống của các dân tộc thiểu số và những công nhân Trung Quốc sẽ tràn ngập khu vực này. Trong những chỉ trích đó cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà kiến trúc sư 97 tuổi của các thắng lợi quân sự của Việt Nam trước Pháp và Mỹ. Ông đã viết một loạt các thư ngỏ gửi tới chính phủ để nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của vùng Tây Nguyên và cảnh báo chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc tại đất nước này.

Loạt tình tiết rắc rối thứ hai liên quan tới những tranh luận về đường ranh giới trên Biển Đông [Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa] của Việt Nam và Trung Quốc. Hà Nội vẫn tranh cãi về cuộc xâm lăng Quần đảo Hoàng Sa ngoài khơi Đảo Hải Nam của Bắc Kinh năm 1974, trong khi cả hai chính phủ tiếp tục  tự nhận là có chủ quyền đối với Quần đảo Trường Sa (các nước Brunei, Malaysia, Philippines và Đài Loan cũng cho rằng họ có chủ quyền toàn bộ hoặc một phần quần đảo Trường Sa).Thêm vào đó, Trung Quốc còn tự nhận là có chủ quyền đối với vùng biển giàu dầu lửa và khí gas ngoài khơi đông nam của Việt Nam.

Việt Nam ngày càng trở nên lo sợ trước hành động quả quyết của Trung Quốc trên vùng Biển Đông. Trung Quốc đã và đang gây sức ép lên các công ty nước ngoài không cho họ tham gia vào các dự án ngoài khơi với Hà Nội tại vùng biển mà Trung Quốc tự nhận là có chủ quyền.

Bắc Kinh cũng đã tăng cường các đội tuần tra trên biển tại Trường Sa và Hoàng Sa. Vào cuối năm 2007, việc thông qua quy định lập pháp ở Trung Quốc về chủ quyền cả hai nhóm quần đảo này đã kích động các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của sinh viên Việt Nam.

Ngày 7 tháng Năm, Việt Nam đã gửi một bản tường trình lên Ủy ban của Liên hiệp quốc về các Giới hạn trên Thềm lục địa nhằm khẳng định các tuyên bố chủ quyền của họ đối với những vùng tài nguyên dồi dào trên biển tại thềm lục địa ngoài khơi Việt Nam. Trung Quốc ngay lập tức đã quy cho bản tường trình này như là một hành động xâm phạm chủ quyền quốc gia của họ và kêu gọi ủy ban của Liên hiệp quốc không chấp nhận bản tường trình của Việt Nam. Trong một văn bản, Trung Quốc đã khẳng định ‘chủ quyền không thể tranh cãi, quyền làm chủ tối cao và quyền về pháp lý đối với các đảo trên Biển Đông và những vùng biển liền kề’. Đính kèm theo văn bản ấy là một bản đồ phô ra cho thấy những yêu sách từ lâu của Bắc Kinh đối với hầu như là toàn bộ Biển Đông.

Hà Nội đã phản ứng lại, chỉ trích tấm bản đồ như là thứ không có cơ sở “hợp pháp, lịch sử và thực tế’.

Do những điều kiện không tương xứng về sức mạnh trong các mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam, chủ yếu Hà Nội đang dựa  vào con đường ngoại giao để giải quyết những tranh cãi của họ với Bắc Kinh.

Hai bên đã lập những nhóm làm việc để thảo luận về những yêu sách chồng lấn của họ, thế nhưng điều này chỉ mang lại chút ít tiến triển.

Việt Nam cũng đã ủng hộ những nỗ lực của khối Asean nhằm làm dịu những xung khắc, trong đó có Bản Tuyên bố về việc Ứng xử giữa Các nước trên Biển Đông năm 2002, bản tuyên bố nầy nhằm mục đích giữ nguyên hiện trạng và khuyến khích các nước tranh chấp tham dự vào các dự án có tính chất hợp tác với nhau.

Một dự án như vậy là Cam kết Cùng Nghiên cứu Địa chấn trên Biển năm 2005 mà trong đó các công ty năng lượng nhà nước của Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã đồng ý thăm dò dầu lửa trong những vùng biển còn đang bị tranh cãi. Tuy nhiên, thỏa thuận đó đã lôi kéo những tranh cãi tại Philippines và đã lặng lẽ bị ngừng lại vào tháng Sáu năm ngoái. *

Bị thất vọng vì thiếu sự tiến bộ trên vũ đài ngoại giao, và lo lắng rất nhiều về hành động khẳng định của Bắc Kinh trên Biển Đông, Hà Nội đã gia tăng tốc độ tiến hành chương trình hiện đại hóa quân đội của họ. Để bảo vệ tốt hơn những chủ quyền  lãnh thổ và các quyền lợi kinh tế của họ trên Biển Đông, Việt Nam đã và đang giành ưu tiên cho việc thủ đắc các nguồn lực không quân và hải quân hùng mạnh.

Kể từ giữa những năm 1990, Việt nam đã nhận được 12 chiếc chiến đấu cơ phản lực đa năng Sukhoi do Nga sản xuất, và đầu năm nay đã theo đuổi việc tăng lên gấp đôi tiềm lực không quân của họ bằng việc đặt mua thêm 12 chiếc khác trị giá 500 triệu đô la.

Trong vài ba năm qua, Nga cũng đã giúp Việt Nam tăng cường lực lượng hải quân của họ bằng việc cung cấp sáu chiếc tàu hộ tống và hai chiếc tàu khu trục mang tên lửa có điều khiển.

Vào tháng trước, truyền thông Nga đã tường thuật rằng công ty xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport của nhà nước đã đồng ý về nguyên tắc cung cấp cho Việt Nam sáu chiếc tàu ngầm thế hệ Kilo [chạy bằng động cơ diesel] rất ít gây tiếng ồn trị giá 1,8 tỉ đô la. Vì hiện nay Việt Nam đang quản lý vỏn vẹn có hai chiếc tàu ngầm nhỏ, những chiếc tàu ngầm của Nga này sẽ làm cho Hà Nội có một bước đột phá trong các khả năng chống lại tàu ngầm và chống các chiến hạm, và sẽ hành động như một thế lực cản trở các lực lượng hải quân hùng mạnh đang ngày càng phát triển của Trung Quốc. Nó cũng sẽ trang bị cho Việt Nam những khả năng cho cuộc chiến tranh dưới biển tiên tiến nhất trong toàn vùng Biển Đông.

“Năm Hữu nghị” có thể cải thiện bầu không khí của các mối quan hệ Trung-Việt song nó không căn bản. Việt Nam sẽ tiếp tục phòng vệ trước sức mạnh quân sự đang phát triển của Trung Quốc.

Tác giả bài báo là thành viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—————
May 26, 2009 Tuesday

China-Vietnam’s Year of Friendship turns fractious

Ian Storey, For The Straits Times

To commemorate the 60th anniversary of the establishment of diplomatic ties between Vietnam and China, the two countries have designated 2010 the ‘Year of Friendship’. But if recent developments are anything to go by, amity is likely to be in short supply.

Vietnam and China normalised ties in 1991 after nearly two decades of hostility, and bilateral ties have improved since then. Two-way trade has blossomed and China is now Vietnam’s largest trade partner. In 1999 and 2000, the two countries signed treaties delineating their land border as well as sea boundaries in the Gulf of Tonkin. But despite the progress, mutual suspicions persist. Vietnam in particular worries about the implications of its giant neighbour’s rising power.

This year, two sets of incidents have brought the difficult relationship into sharp relief.

The first concerned China’s economic role in Vietnam and the flood of Chinese-manufactured goods into the country. In March, the Vietnamese press reported that the country’s trade deficit with China had reached the ‘alarming’ level of US $11 billion (S $16 billion), 57 times higher than in 2001. To offset the growing deficit, Hanoi has been encouraging Chinese firms to invest in Vietnam, but this has not always proved popular.

When Hanoi awarded a major contract to a Chinese firm to mine for aluminium oxide in the Central Highlands, for instance, it set off a torrent of criticism that the project would ruin the local environment, displace ethnic minorities and inundate the area with Chinese workers. Critics included General Vo Nguyen Giap, the 97-year old architect of Vietnam’s military victories over France and the United States. He wrote a series of open letters to the government highlighting the strategic importance of the Central Highlands and warning against Chinese influence in the country.

The second set of incidents involves Vietnam and China’s maritime boundary disputes in the South China Sea. Hanoi still contests Beijing’s 1974 occupation of the Paracel Islands off Hainan Island, while both governments continue to claim sovereignty over the Spratly Islands (also claimed in whole or in part by Brunei, Malaysia, the Philippines and Taiwan). In addition, China claims sovereign rights in the oil- and gas-rich waters off Vietnam’s south-east coast.

Vietnam has become increasingly alarmed at China’s assertive behaviour in the South China Sea. Beijing has put pressure on foreign companies not to participate in offshore projects with Hanoi in waters claimed by China. Beijing has also increased naval patrols in the Paracels and Spratlys. In late 2007, the passage of legislation in China claiming both groups of islands provoked anti-Chinese protests by Vietnamese students.

On May 7, Vietnam lodged a submission with the United Nations Commission on the Limits of the Continental Shelf in order to stake its claims to the potentially rich maritime resources on the sea bed off the Vietnamese coast. China immediately branded the submission as a violation of its sovereignty and called on the UN commission to reject it. In a note verbale, China asserted its ‘indisputable sovereignty, sovereign rights and jurisdiction over the South China Sea islands and their adjacent waters’. Attached to the note was a map showing Beijing’s long standing claims to virtually the entire South China Sea. Hanoi shot back, criticising the map as being without ‘legal, historical and factual’ basis.

Due to the power asymmetries in Sino-Vietnamese relations, Hanoi relies principally on diplomacy to manage its disputes with Beijing. The two sides have established working groups to discuss their overlapping claims, but this has yielded little progress. Vietnam has also supported Asean’s efforts to mitigate the dispute, including the 2002 Asean-China Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea which aims to freeze the status quo and encourage the disputants to engage in cooperative projects.

One such project was the 2005 Joint Marine Seismic Undertaking in which the state-owned energy companies of China, the Philippines and Vietnam agreed to explore for oil in contested waters. However, that agreement became embroiled in controversy in the Philippines and was quietly allowed to lapse in June last year.

Frustrated by the lack of progress in the diplomatic arena, and greatly concerned about Beijing’s more assertive behaviour in the South China Sea, Hanoi has accelerated its military modernisation programme. In order to better defend its territorial claims and economic interests in the South China Sea, it has been prioritising the acquisition of more potent air and naval assets.

Since the mid-1990s, Vietnam has taken delivery of 12 Russian-built Sukhoi multirole jet fighters, and earlier this year sought to double its air power by ordering 12 more worth US $500 million. Over the past few years, Russia has also helped Vietnam beef up its navy by providing it with six corvettes and two guided-missile frigates. Last month, Russian media reported that state-owned arms exporter Rosoboronexport had agreed in principle to supply Vietnam with six ultra-quiet Kilo-class submarines worth US $1.8 billion. As Vietnam currently operates only two mini-submarines, these Russian submarines will give Hanoi a quantum leap in anti-submarine and anti-ship warfare capabilities, and will act as a deterrent to China’s increasingly powerful naval forces. It will also furnish Vietnam with the most advanced undersea warfare capabilities in the whole of South-east Asia.

The ‘Year of Friendship’ may improve the atmospherics of Sino-Vietnamese relations but not its substance. Vietnam will continue to hedge against China’s growing military muscle.

The writer is a fellow at the Institute of Southeast Asian Studies.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Trung Quốc | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: