BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Năm 19th, 2009

VN định cấm khiêu vũ trong quán karaoke

Posted by adminbasam trên 19/05/2009

Bangkok Post

Việt Nam dự kiến cấm khiêu vũ trong quán karaoke

Hãng thông tấn Pháp AFP

Ngày 19-5-2009

 

Vào chiều tối và cả đêm nữa, tiếng hát đã bắt đầu nổi lên say sưa ở quán Karaoke Style, một câu lạc bộ sang trọng, nơi những con người có nhiều tham vọng tại thủ phủ thương mại của Việt Nam tới để xả hơi.

Tiếng nhạc bùng lên từ phía sau cửa kính của những căn phòng nhỏ nơi có những nhóm khách tới để hát và, khi điệu nhạc bắt đầu gây hiệu ứng, họ liền nhảy.

Và điều đó, theo chính quyền cộng sản nhận xét, chính là nan đề.

Họ muốn cấm nhảy trong các quán karaoke, theo những gì mà các bản tường trình cho biết, là một cố gắng nhằm hạn chế việc sử dụng chất ma túy.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công bố lệnh cấm được đề xuất trên trang web của mình vào tháng trước và đã mời đề nghị có những bình luận của công chúng về biện pháp này, một nỗ lực gần đây nhất nhằm thi hành những chính sách khẩn cấp trước tình trạng mất trật tự tại các tụ điểm ca hát có nhiều người lui tới.

Thế nhưng tại quán Style và những câu lạc bộ sáng rực ánh đèn neon khác trên đường Sư Vạn Hạnh, trung tâm của hoạt động giải trí karaoke trong cái thành phố mà trước đây được gọi là Sài Gòn, đề nghị này chỉ được bàn luận qua loa như là chuyện không thể nào thực hiện được.

“Tôi nghĩ là nó không khả thi vì những con người này tới quán karaoke với mong muốn được giải tỏa những căng thẳng của mình,” theo nhận xét của Đặng Duy Thanh, một người quản lý quán Style với mái tóc xịt keo dính bết lại.

“Nếu như chúng tôi bắt họ phải chịu cảnh hát mà không có cảm giác thoải mái, thì điều đó là phi lý”.

Ông Lê Anh Tuyến, vụ trưởng vụ pháp chế của bộ văn hóa, theo tin tức cho hay, thì nhìn nhận những điều này theo cách khác.

Ông Tuyến, người mà từ năm năm trước đã cảnh báo là karoake có liên hệ với những nạn đĩ điếm, đã được trang web VietnamNet trích dẫn lời vào tháng trước khi ông nói rằng thứ ma túy ecstasy sẽ được sử dụng trong các phòng hát karaoke nếu như việc nhảy nhót không bị cấm.

“Chất ecstasy thường đi cùng với rượu và âm nhạc,” ông nói. “Theo quan điểm của tôi, thì karaoke là một hoạt động văn hóa là thứ thường ngấm ngầm đi cùng với những điều sai trái trong xã hội.”

Ông Tuyến đã không trả lời trước những đề nghị có một cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Pháp AFP.

Ecstasy đã trở nên phổ biến trên khắp thế giới tại các cuộc tiệc tùng nhảy nhót “điên loạn”.

Ông Tuyến cho trang VietnamNet biết là chính phủ đã có những số liệu thống kê về việc sử dụng ecstasy tại các quán karaoke, thế nhưng bài báo đó đã không đưa ra số liệu nào.

“Tôi tin chắc những con số trên thực tế về các trường hợp này còn cao hơn cả những số liệu mà chúng tôi có. Những tệ nạn sẽ không được ngăn ngừa nếu như không cấm nhảy nhót [trong quán karaoke],” ông tuyên bố, theo như trích dẫn. “Ở nước ta, karaoke thường đi liền với ecstasy và nạn đĩ điếm.”

Những nhân viên của quán karaoke trên đường Sư Vạn Hạnh nói là ecstasy có thể được tìm thấy trong vài quán – nhưng không có trong quán của họ.

“Không phải quán karaoke nào cũng cho phép sử dụng ecstasy,” theo lời anh Thanh, người có câu lạc bộ nhắm vào các khách hàng từ bậc trung cho tới cao cấp hơn và tính giá phòng cao khoảng gấp đôi so với các quán gần đó như quán Karaoke K-T.

“Đây là loại mà chúng tôi gọi là “karaoke gia đình,” theo lời anh Phạm Ngọc Khánh, 40 tuổi, một nhân viên của quán K-T.

Anh cho biết hoạt động kinh doanh đã diễn ra trong vài năm nay, có một lượng khách quen bao gồm công chức, sinh viên và công nhân.

“Nó không phải là loại karaoke với những gì mà chúng tôi gọi là “tệ nạn xã hội.”

Các câu lạc bộ ở những khu vực khác của thành phố có thể thiên về những trò đồi bại hơn, anh nhận xét.

“Không có lý khi cấm chúng tôi nhảy trong các câu lạc bộ karaoke,” theo một khách hàng của quán K-T, người đã tới đây với một chiếc túi đựng máy tính xách tay đeo trên vai. “Có thể họ nên cấm các quán khiêu vũ là nơi có những nạn đĩ điếm. Nếu họ chỉ đưa ra một lệnh cấm chung chung về việc nhảy nhót trong các quán karaoke, thì phi lý.”

Người khách này đã từ chối cho biết tên họ của anh.

Khanh, nhân viên quán K-T, nói là karaoke là một loại hình giải trí phổ biến và một lệnh cấm nhảy sẽ là một “chuyện khá là lạ” đối với những vị khách muốn được thư giãn.

Karaoke đã được đưa vào Việt Nam vào những năm đầu 1990. Các quán karaoke giờ đây được bắt gặp khắp trong một đất nước có quan niệm xã hội còn bảo thủ, thậm chí có ở cả những bản làng miền núi xa xôi.

“Không thể” cấm nhảy được, đó là nhận xét của anh Đặng Đức Hân, vận chiếc áo sơ mi, khi đang đứng khoanh tay bên ngoài câu lạc bộ Karaoke 64 mà anh quản lý.

Nếu như người ta cảm thấy thích thú thì họ sẽ nhảy, anh Hân nói trong khi các khách hàng đang kéo tới trên những chiếc xe máy, và một đứa bé cưỡi một chiếc xe đạp xướt nhẹ vào cẳng chân của anh.

Năm 2006 Việt Nam đã cấm sử dụng rượu trong các quán karaoke – thế nhưng trên thực tế việc uống bia rượu ở đây vẫn tiếp tục – trong khi một năm trước đó họ đã phải dừng việc cấp phép mở các quán rượu, phòng hát karaoke và các vũ trường.

Bản dự thảo quy định trước đó thậm chí còn đề nghị đóng cửa các quán karaoke, sau khi ông Tuyến nói là nhiều quán được dùng như là những nhà thổ.

Trong cuộc phỏng vấn của mình với trang VietnamNet, ông Tuyến thừa nhận là các nhân viên thanh tra không thể kiểm tra các câu lạc bộ karaoke thường xuyên được và cho là “bản thân người dân phải tuân thủ pháp luật.”

Anh Khanh, ở quán Karaoke K-T, nhận xét là các quan chức nhà nước đã mất đi những mối liên hệ với thực tế cuộc sống.

“Một lúc nào đó, họ đã và đang ngồi ở một vị trí cao,” anh nói. “Họ không có đầu óc thực tế.”

Ngô Thị Bảo Ngọc, 28 tuổi, một nhân viên của quán Style mang bộ tất đen dài, cho là trong khi số lượng các quán karaoke đang tăng nhanh, các nhà chức trách sẽ rất khó khăn để kiểm soát chúng.

“Họ sẽ gặp lúng túng và họ không biết phải đối phó như thế nào,” cô nói.

Những chủ doanh nghiệp nghiêm túc sẽ không muốn có thứ ecstasy trong cơ sở của mình vì nó sẽ hủy hoại danh tiếng của họ trong khi không mang lại lợi ích gì, và việc cấm nhảy nhót đó sẽ không có tác dụng, cô Ngọc nhận định.

“Nhảy nhót là có thể hiểu và thông cảm được. Nên không có lý do gì mà lại cấm nó,” cô kết luận.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Pháp luật, Văn hóa | Leave a Comment »

Những gì thực sự đã xảy ra ở Thiên An Môn

Posted by adminbasam trên 19/05/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Những gì thực sự đã xảy ra ở Thiên An Môn

Một cuộc đấu đá trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đã dẫn tới cuộc đổ máu.

Bao Du

Ngày 15-5-2009

 

Hai mươi năm sau khi những đơn vị quân đội đè bẹp những người biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn, tia sáng mới giờ đây đã rọi vào biến cố nầy bởi hồi ký  sắp được công bố của Triệu Tử Dương. Vị cựu thủ Tướng và tổng bí thư nầy đã mất vào năm 2005, sau khi bị cưỡng bức sống cách biệt và không được liên hệ về mặt xã hội với bất cứ ai khác trong 16 năm vì lý do (ông đã) bênh vực phong trào dân chủ.

Trong những năm sống cách biệt với xã hội, ông đã xoay xở để ghi âm lại lời chứng vào những cuộn băng. Hồi ký của ông  tiết lộ rằng cuộc đổ máu có thể tránh cho khỏi xẩy ra vào năm 1989.

Những cải cách kinh tế của Trung Quốc vào những năm 1980 đã dẫn đến một sự rạn nứt trong ban lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc giữa những người ủng hộ cải cách và những người chống đối lại.

Các sinh viên biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn đã yêu cầu có cuộc cải cách sâu rộng hơn, trong đó có chế độ dân chủ. Lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình, Thủ tướng Lý Bằng và những phần tử bảo thủ khác đã chống lại các sinh viên và đồng lòng đưa ra hành động đối phó một cách tàn khốc.

Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương đã nhìn  những cuộc biểu tình của sinh viên theo một cách khác. Ông đã viết “Tôi cảm thấy rằng nếu như các cuộc biểu tình của sinh viên có thể được giải quyết dân chủ và theo luật pháp, thông qua việc đối thoại và làm giảm bớt những mối căng thẳng, thì có lẽ đã có thể thúc đẩy được cuộc cải cách của Trung Quốc, bao gồm cải cách chính trị.”

Thời điểm chuyển hướng đầy bi kịch hướng tới bạo lực đã xảy đến khi Thủ Tướng Lý Bằng trực tiếp hành động để cho công bố những lời nhận xét gay gắt của ông Đặng Tiểu Bình về những người biểu tình trên một bài xã luận của tờ Nhân dân Nhật báo ra ngày 26 tháng 4, 1989.

Khi ấy ông Triệu Tử Dương lần đầu tiên nghe được những lời nhận xét của ông Đặng Tiểu Bình trong lúc ông đang có chuyến viếng thăm cấp nhà nước tới Bắc Triều Tiên, ông đã viết, “Ý nghĩ đầu tiên của tôi là một cuộc chiến khác chống lại chủ nghĩa tự do có thể đã bắt đầu.”

Thế nhưng trước sự ngạc nhiên của chính quyền, các sinh viên đã tỏ ra tức giận điên lên và cảm thấy bị xỉ nhục bởi những lời phỉ báng về các hoạt động của họ và sinh viên đã phản  ứng lại bằng những cuộc biểu tình ngày 27 tháng 4. Đó là cuộc biểu tình tự phát lớn nhất từ trước tới nay của sinh viên trong lịch sử Trung Hoa hiện đại. Vào thời điểm đó ông Triệu đã quan sát thấy rằng “ngay cả biểu tượng của nhà lãnh đạo tối cao cũng đã mất đi sự hiệu lực của nó.”

Ván bài giờ đây đã được đẩy lên cao. Thủ tướng Lý Bằng và các đồng minh của ông ta không chỉ đánh bạc với nghị trình chính trị của họ mà còn với cả sự nghiệp của họ nữa. Ông Triệu nói: “Họ đã cực kỳ lo ngại rằng bài xã luận ngày 26 tháng Tư có thể bị lật ngược tình thế … Yan Mingfu [giám đốc Ban Liên lạc] đã báo cáo với tôi rằng ông Lý Bằng đã nói với anh ta là nếu như, vào lúc tôi trở về [từ Bắc Triều Tiên], mà tôi không ủng hộ bài xã luận ngày 26 tháng Tư của Đặng Tiểu Bình, thì ông Lý sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc từ chức .”

Ước muốn vây bè kéo cánh của Lý Bằng nhằm tránh bị đổ lỗi cho việc gây ra sự tức giận của sinh viên hóa ra lại trở thành vật chướng ngại quan trọng nhất cho một cách giải quyết êm thấm. Họ đã chống lại việc đối thoại với các sinh viên, “mà chỉ đưa ra lời nói không thành thật, theo cách tương tự y như họ vẫn thường giải quyết với các phóng viên nước ngoài tại cuộc họp báo, phô bày một hình ảnh làm lợi cho riêng họ về mặt chính trị.”

Hiển nhiên các sinh viên cảm thấy  rằng chính phủ không thành thực với ước muốn giả vờ của họ để lắng nghe những lời than phiền của sinh viên.

Ông Triệu Tử Dương đã phải tìm kiếm giải pháp khác. Ngày 4 tháng 5, 1989, ông đã đọc một bài phát biểu có tính chất hòa giải hơn tại cuộc họp hàng năm của Ngân hàng Phát triển Á châu ở Bắc Kinh. Ông đã nhấn mạnh đến việc giải quyết xung đột theo những nguyên tắc “dân chủ và luật pháp” và tập trung vào việc xoa dịu những căng thẳng. Ông đề nghị những giải pháp tiếp theo để đương đầu với tình trạng tham nhũng và chấp thuận sự kiểm soát chính phủ công khai hơn, ví dụ như lập một uỷ ban chống tham nhũng “với quyền hành thực sự”.

Các đối thủ (trong đảng) của ông đã không bị thuyết phục. Kế hoạch nầy đòi hỏi phải được sự hậu thuẫn chính trị có tính chất quyết định. Hy vọng duy nhất còn lại là thuyết phục ông Đặng Tiểu Bình. Ông Triệu Tử Dương kể, “Vào thời điểm đó tôi đã hy vọng rằng ông Đặng có thể chỉ cần nới lỏng mọi chuyện một chút xíu thôi, ví dụ như, bằng cách nói  cái gì đó như là  ‘Dường như rằng khi Thủ tướng Lý Bằng đưa cho tôi bản báo cáo ngày 25 tháng Tư, chúng tôi đã phản ứng quá mạnh trước tình thế đó. Giờ đây thì có vẻ rằng các cuộc biểu tình của sinh viên không còn là một vấn nạn quá lớn để mà không vượt qua được.’ Với hành động nào đó tương tự như vậy để làm việc, tôi có thể xoay chuyển được tình hình mà thậm chí không cần phải đặt ra bất cứ trách nhiệm nào lên ông Đặng.

“Thế nhưng điều này sẽ đòi hỏi ông Đặng phải rút lại những lời phát biểu của riêng ông ta. (Nhưng) Ông Đặng đã không chịu nắm lấy ưu thế. Bị kích động bởi niềm đam mê và hiển nhiên là đối với những cuộc đấu đá mờ ám trong nội bộ Đảng, các sinh viên đã phát động một cuộc biểu tình tuyệt thực vào ngày 13 tháng Năm, và các phản ứng lan rộng từ mọi tầng lớp xã hội đã nổ ra trong thái độ đồng cảm.

Ở thời điểm đó, thái độ nhân từ của chế độ là điều đáng nghi ngờ. Thế nhưng phe nhóm ông Lý Bằng trước đó đã đặt tiền quá nhiều vào một canh bạc và chờ xem kết quả nên không còn quan tâm gì nữa đến chuyện bàn thảo. Thủ tướng Lý Bằng đã hỏi Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương: “Anh sẽ không còn tiếp tục sử dụng những giải pháp mềm dẻo để giải quyết các cuộc biểu tình của sinh viên nữa, có phải không?  Sau quá nhiều thời gian đã trôi qua, có phải là những giải pháp ôn hòa đó đã không được chứng tỏ là vô ích à?”

Với việc cả thế giới đang nhìn vào, những gì xảy ra tiếp theo sau là việc sử dụng bạo lực cưỡng bức thuần túy vốn đã cho thấy ác tâm làm hại con người  của hệ thống cai trị độc tài này. Ông Triệu Tử Dương đã không có vai trò nào về hành  động sát nhân đó.

“Vào cái đêm mùng 3 tháng 6, 1989, trong khi đang ngồi trong sân nhà với cả gia đình, tôi đã nghe tiếng súng nổ dữ dội. Một tấn thảm kịch gây xúc động cho cả thế giới đã không được ngăn chặn, và sau cùng nó đang xảy ra.”

Vì những nỗi lo sợ của các đối thủ của ông, ông Triệu Tử Dương đã phải trả giá bằng sự tự do trong suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Ông Bao là một trong những người dịch và biên tập cuốn “Người tù của Nhà nước: Nhật ký bí mật của Thủ tướng Triệu Tử Dương,” được phát hành bởi nhà xuất bản Simon & Schuster ngày 19 tháng Năm.

Hiệu đính: Trần Hoàng

—–

*Triệu Tử Dương làm thủ tướng từ 1980-1987 và Tổng Bí thư từ 1987-1989
*Đặng Tiểu Bình: lãnh tụ tối cao của TQ
*Lý Bằng: Thủ tướng 1988-1998
 
 
Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả. 

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: