BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Năm 16th, 2009

Thế giới cảnh giác theo dõi sự phát triển của Hải Quân TQ

Posted by adminbasam trên 16/05/2009

TIME

Hải quân Trung Quốc phát triển, và Thế giới cảnh giác theo dõi

Ishaan Tharoor

Thứ Tư, ngày 13-5-2009

 

Tuần trước, các đoàn đại biểu từ những hạm đội hải quân của 14 quốc gia đã gặp nhau tại bến cảng Qingdao của Trung Quốc để đánh dấu dịp kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (HQ-QGP).

Đó là một cuộc trao đổi thân mật qua những diễn tập chung và diễu hành trên biển, được thị sát bởi các sĩ quan xúng xính trong những bộ quân phục trắng tinh. Trong một bài diễn văn đọc tại đây, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã loan báo sự nổi lên của đất nước ông ta như là một cường quốc hải quân đang trỗi dậy, trong khi bảo đảm với các nhà quan sát nước ngoài rằng Trung Quốc “sẽ không bao giờ kiếm tìm quyền bá chủ, cũng sẽ không hướng tới những cuộc chạy đua võ trang với các quốc gia khác.”

Thay vào đó, ông Hồ tuyên bố, hải quân Trung Quốc được tái trang bị và đang phát triển sẽ lãnh đạo khu vực này trở thành “những vùng biển thuận hòa.”

Thế nhưng cách thuyết phục theo lối ve vuốt của Trung Quốc không quyến rũ được mấy ai. Năm 2008, ngân sách quân sự của Bắc Kinh đã tăng lên khoảng 20%, đạt 60 tỉ đô la, theo như các số liệu chính thức cho biết, mặc dù Ngũ Giác Đài ước đoán rằng số liệu trên thực tế có thể gần tới 150 tỉ đô la.

Bản báo cáo gần đây nhất của cơ quan này về Quân đội Trung Quốc đã cảnh báo mạnh mẽ về khả năng” phát triển và lựa chọn những công nghệ quân sự trong nhiều lãnh vực (phá hủy vệ tinh, đột nhập các websites và hệ thống liên lạc) nhằm làm gián đoạn hoạt động và gây rối  của Trung Quốc” – những chiến thuật mà Ngũ Giác Đài nghĩ là sẽ làm thay đổi “các cán cân quân sự trong khu vực và … có những hàm ý vượt quá vùng châu Á-Thái Bình Dương.” Những lợi ích chiến lược của Trung Quốc hiện nay vây bọc hầu như toàn bộ các lục địa trên thế giới và quốc gia nầy hiện đang gây mâu thuẫn và tạo nên phức tạp trong chuyện  tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng. Mặc dù dư luận im ắng, song mối quan ngại ngày càng gia tăng khắp các thủ đô còn lại của Châu Á về sự phát triển nổi trội  của Trung Quốc.

“Không thể lẩn tránh trước thực tế rằng, trong mười năm qua, sức mạnh đàm phán của Trung Quốc đã tăng lên trong khi vai trò này ở các quốc gia khác đã yếu đi,” theo nhận xét của ông C. Raja Mohan, một chuyên gia hàng đầu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ và là giáo sư Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam của Singapore. (mời đọc thêm bài “China’s Navy: How Big a Threat to the U.S.?”)

Trong hành động đáp trả lại những sự lớn mạnh của Trung Quốc – bao gồm việc hạ thủy cứ ba chiếc tàu ngầm mới mỗi năm kể từ năm 1995 – các quốc gia láng giềng cũng đã thành lập các đội tàu của mình có sức mạnh tương ứng. Chỉ trong một tuần sau các buổi lễ kỷ niệm ở Qingdao, Việt Nam đã loan báo kế hoạch của mình mua sáu chiếc tàu ngầm thế hệ kilo-class của Nga [động cơ diesel]. Vào ngày 2 tháng Năm, chính phủ Úc đã công bố một cuốn sách trắng phác thảo một kế hoạch dài hai mươi năm, với 74 tỉ đô la Mỹ nhằm làm sống lại  lực lượng hải quân của họ để tấn công một “kẻ địch có sức mạnh to lớn” – một lối ám chỉ được che đậy hời hợt nhắm tới mức độ mà một số quan chức quốc phòng ở đó hình dung về kế hoạch quân sự của Trung Quốc. “Tiền tuyến của cuộc Chiến tranh Lạnh có thể đã nằm ở Tây Âu,” theo nhận xét của Andrew Davies, một chuyên gia về hiện đại hóa quân đội châu Á thuộc Viện Chính sách Chiến lược của Úc, nhóm chuyên gia cố vấn đóng tại Canberra. “Thế nhưng một cuộc chiến tranh lạnh trong tương lai có thể bị kéo tràn vào khắp vùng tây Thái Bình Dương.”

Một sự suy sụp ảnh hưởng của người Mỹ là điều cốt lõi của bức tranh địa chính trị đang thay đổi trong khu vực nầy. Trong nhiều thập kỷ sau cuộc Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ đã làm chủ hiện trạng của các vùng biển châu Á, với một loạt các căn cứ hải quân từ Guam cho tới Nhật Bản, và một sự hiện diện mạnh mẽ của các quân đoàn thủy quân lục chiến và các hàng không mẫu hạm để hỗ trợ các quyền lợi bằng sức mạnh.

Năm 1996, khi những căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan sôi sục quanh những lời đe doạ chiến tranh, Washington đã có khả năng kiểm soát sự gây hấn của Bắc Kinh bằng cách triển khai hai chiến hạm ngoài khơi Đài Loan. Loại hành động đó giờ đây là không thể nào suy xét được, không phải chỉ do Hoa Kỳ bị vướng víu vào những hoạt động tốn kém của họ ở Trung Đông, mà còn bởi vì sự gia tăng phát triển về tầm cỡ và các tài nguyên về mặt quân sự của Trung Quốc. “Chúng ta đã từng ở trong một thời kỳ đơn cực,” theo nhận xét của Davies. “Giờ đây Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ phải vươn tới để đạt được một sự điều chỉnh nào đó cho những khác biệt của nhau.”

Các quốc gia lân bang khác của Trung Quốc không phải là đang nín thở. Chỉ trong năm năm tới đây, các lực lượng hải quân châu Á sẽ xài phí một khoản tiền ước tính 60 tỉ đô la dành cho các việc nâng cấp và những công nghệ mới, bỏ xa tất cả các khoản chi tiêu của các nước thuộc khối NATO cộng lại, (không tính Hoa Kỳ).

Ngoài Trung Quốc, các tay tiêu tiền hàng đầu của châu Á bao gồm Nhật Bản và Nam Triều Tiên, những quốc gia mà trong hơn 40 năm qua đã cậy nhờ vào sự trợ giúp quân sự của Mỹ nhằm ngăn chặn những nước cộng sản ở phía tây của họ. Hiện nay, Nhật Bản đang đến lúc hạ thủy con tàu lớn nhất của họ kể từ Đệ Nhị Thế chiến, chiếc hàng không mẫu hạm mang trực thăng thế hệ “Hyuga” – hiến pháp theo xu thế hòa bình của Nhật Bản ngăn cấm việc sử dụng những chiến hạm mang theo nhiều phi cơ tấn công – nó được thiết kế chủ yếu giành cho cuộc chiến chống tàu ngầm. Seoul cũng đã phô trương một chiếc tàu 14.000 tấn tương tự tại Qingdao.

Tất nhiên, với nhiều quốc gia châu Á bị trói buộc lẫn nhau bởi những nền kinh tế năng động của họ, một số nhà phân tích cho rằng một cuộc chạy đua vũ trang rầm rộ có thể sẽ phá vỡ sự tăng trưởng trong khu vực.

Mike McDevitt, một đô đốc Hoa Kỳ hồi hưu và là giám đốc phân vụ nghiên cứu chiến lược của Trung tâm Phân tích Hải quân đóng tại Washington D.C, đã hình dung ra một nỗ lực to lớn ngấm ngầm hơn cho uy thế chiến lược, dựa vào những hoạt động do thám và vào việc theo dõi. “Sẽ có một cuộc tranh tài về các khả năng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn trong tương lai mà ta có thể dự đoán được,” ông nói, với việc các lực lượng hải quân tìm cách can thiệp vào những tuyến truyền tin liên lạc trên biển của đối phương, thăm dò những ranh giới trên biển bằng các cuộc tuần tra trong vùng biển nước sâu bao gồm những tàu ngầm có khả năng mang theo tên lửa đạn đạo.

Hai vụ căng thẳng trong những tháng gần đây giữa tàu của người Mỹ và những chiếc tàu theo dõi của hải quân Trung Quốc gần đảo Hải Nam phía nam Trung Quốc có thể là một tiên báo cho những gì đang ở phía trước. Một căn cứ tàu ngầm mới ở đó tạo cho Bắc Kinh một thái độ cương quyết có ý nghĩa sống còn trên Biển Đông, là những vùng biển đang bị tranh chấp bởi năm quốc gia khác nhau.

Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đang tranh chấp, hai hòn đảo nằm trên những nguồn dự trữ khí gas tự nhiên, đã và đang là nơi diễn ra những tranh cãi chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam.

Chiến trường xa hơn nữa là giữa Trung Quốc và Ấn Độ, một gã khổng lồ châu Á khác đang nổi lên, cả hai đang khóa chặt tay nhau vào trong một cuộc tranh đua về ảnh hưởng trên vùng Biển Ấn Độ, với việc Trung Quốc thiết lập một “chuỗi ngọc” – hay còn gọi là những tiền đồn nghe ngóng theo dõi đối phương – chạy từ Miến Điện cho tới Pakistan. New Delhi đã và đang gia tăng xúc tiến những mối quan hệ chặt chẽ về quân sự của họ với Hà Nội trong một nỗ lực giữ cho Bắc Kinh phải bị bận rộng tại sân sau của mình.

Các chiến lược gia nhấn mạng rằng không có gì sai lầm với các quốc gia đang nổi lên như Ấn Độ và Trung Quốc khi họ cải thiện năng lực hải quân để sánh được với vai trò đang lên cao của mình trong các quan hệ quốc tế.

“Thật là hợp lý để nói rằng các quốc gia này sẽ xây dựng các lực lượng hải quân và lên kế hoạch cho sức mạnh của họ,” theo ông Raja Mohan. “Câu hỏi là tất cả những hoạt động này sẽ được điều hành như thế nào?” Như lúc này đây, không có hiệp ước liên minh nào trong khu vực, không có những cấu trúc ngoại giao mới, thí dụ, giống như  kiểu NATO ở Âu châu, để có thể phản ảnh hay mang lại trật tự đối với  những chuyển đổi quyền lực tại Á châu trong thế kỷ 21.

Năm ngoái, thủ tướng Nhật Taro Aso đã khởi sự ý tưởng về một “vòng cung tự do”, một sự đồng thuận về an ninh nối kết thành xâu chuỗi giữa các quốc gia dân chủ lại với nhau như là Ấn Độ, Nhật Bản và Úc, thế nhưng sự hiển nhiên của ý tưởng nầy là chống Trung Quốc đã có nghĩa là quan điểm đó chỉ giành được sự lôi cuốn chút ít. “Không có ai sẽ ghi tên vào một chính sách ngăn chặn vào lúc này,” ông McDevitt thuộc Trung tâm Phân tích Hải quân nhận xét.

Giờ đây, một đám mây lờ mờ không rõ ràng bao phủ những gì đang sắp xảy ra. Các nhà chuyên môn nói rằng sự lớn mạnh về hải quân của Trung Quốc tương tự  như với Hải quân Hoàng gia Anh dưới thời đế quốc của nữ hoàng Victoria, và như hạm đội của Hoa Kỳ trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến. Hiện nay, những khả năng hải quân của Trung Quốc vẫn còn là một sức mạnh mang tính khu vực – những nhà hoạch định chính sách của riêng nhà nước này nhắm vào việc làm sao cho quân đội Trung Quốc rốt cục sẽ “vươn dậy” chỉ trong một quãng thời gian nửa thế kỷ. Vào lúc đó, cả thế giới có thể trở thành một vị trí khác nào đó. Hải quân Trung Quốc có thể hành động như một lực lượng đảm bảo sự ổn định – hoặc một nguồn của xung đột đe doạ các láng giềng của họ. “Sẽ không gây sốc cho chúng ta rằng Trung Quốc sẽ có mặt ở đó (Châu Á), ngoài khu vực đó và lòng vòng quanh khu vực đó,” McDevitt cho là vậy. “Chúng ta có thể quen đi với điều này.”

 Hiệu đính: Trần Hoàng

———–


Mời tham khảo thêm:

Bà Vanga đã tiên đoán năm 2010 sẽ nổ ra cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 3

PRAVDA, Ngày 25-9-2008

Không có nhiều người tin vào những dự đoán của con người sáng suốt này. Tuy nhiên, những niềm tin ấy còn đó thật mạnh mẽ cho tới khi những tiên đoán này bắt đầu trở thành hiện thực. Bởi vì đối với những tiên đoán của nhà viễn kiến và chuyên chữa trị bệnh tật người Bulgaria tên là Vanga (Vangelia Gushterova) này, người ta bắt đầu lắng nghe những lời cảnh báo của bà từ lâu. Vanga có lẽ đã trở nên nổi tiếng trước những tiên đoán của bà về những thảm hoạ toàn cầu.

Ví dụ, bà Vanga đã tiên đoán về các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 tại Hoa Kỳ, khi bà nói rằng những người anh em Mỹ sẽ chết dưới những cuộc tấn công của những con chim thép. Nhà tiên tri này cũng đã tiên đoán về sự khởi đầu của cuộc Đệ nhị Thế chiến, cuộc cải tổ kinh tế [perestroika] ở Liên Xô, cái chết của Công nương Diana và thậm chí cả vụ chìm chiếc tàu ngầm Kursk.

Các chuyên gia cũng nói rằng vị thầy bói nổi tiếng này cũng đã tiên đoán những sự kiện có liên hệ với cuộc xung đột vũ trang ở Nam Ossetia. Bà Vanga đã cho là cuộc Chiến tranh Thế giới thứ 3 sẽ nổ ra như là một kết quả của những nỗ lực dựa trên vai trò sinh tử của bốn vị đứng đầu chính phủ và sau một cuộc xung đột ở vùng phía Bắc nước Ấn Độ…

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Biển Đông/TS-HS, Trung Quốc | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: