BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Năm 10th, 2009

K.Marx dưới con mắt của một trí thức Đông Âu

Posted by adminbasam trên 10/05/2009

K.Marx dưới con mắt của một trí thức Đông Âu

Kornai János

Trình bày tại Đại học Kanagawa, Yokohama, 6-12-2009*

Dẫn nhập[1]

Tôi e rằng tất cả những gì có thể nói về Karl Marx đã được viết cả rồi. Hàng ngàn bài báo, bài nghiên cứu và hàng trăm cuốn sách đã được xuất bản trong đó có thể thấy đủ mọi thứ từ ca tụng cuồng nhiệt, phân tích khách quan, đến căm thù giận dữ. Cái tôi có thể thêm vào kho tài liệu mênh mông này chỉ là quan điểm cá nhân mà từ đó tôi xem xét công trình của Marx. Tôi là một người Hungary, một người Đông Âu, sinh năm 1928, tôi bắt đầu trở thành người lớn vào cuối Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Những diễn biến lịch sử lớn đã gây những ấn tượng sâu sắc lên tư duy của tôi: chiến tranh tàn phá đất nước chúng tôi, Holocaust (vụ tàn sát hàng loạt [người Do thái]), giải phóng khỏi ách thống trị Nazi, đảng cộng sản lên nắm quyền với hệ thống xã hội chủ nghĩa của nó, cách mạng Hungary 1956 và việc đánh gục nó, sự khôi phục hệ thống xã hội chủ nghĩa, các cuộc cải cách trong các năm 1960 về chủ nghĩa xã hội thị trường và chủ nghĩa xã hội với khuôn mặt người và sự thất bại của chúng, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự trở lại của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nền dân chủ thế chỗ cho chế độ độc tài, và khủng hoảng tài chính và kinh tế hiện nay. Chỉ chúng tôi, những người sống ở Đông Âu và bây giờ vào tuổi bảy tám mươi, có thể nói rằng chúng tôi đã đích thân trải nghiệm, không phải một vài lần mà tám lần, những thay đổi hệ thống, những sự biến đổi vĩ đại, hay chí ít các bước ngoặt đột ngột tiến và lùi, rẽ sang và quay lại của chế độ chính trị có nghĩa là gì. Đối sánh chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, so sánh các đặc tính của hai loại hệ thống này, những biến đổi vĩ đại: đấy là những thay đổi có tầm quan trọng lịch sử thế giới mà Marx quan tâm nhất và cố thử để hiểu. Chúng tôi, tuy vậy, không chỉ quan tâm đến chúng về mặt trí tuệ – chúng tôi đã trải nghiệm những thay đổi đó. Có lẽ lượng kinh nghiệm sống này, chứ không phải khả năng phân tích đặc biệt nào đó, khiến cho tôi có thể thêm nét đặc sắc nào đó vào kho tàng tài liệu lớn và có giá trị về Marx.[2]

Khi các vị chủ nhà Nhật mời tôi trình bày báo cáo này, họ nhấn mạnh rằng có hai sự kiện gắn với nhau. Một là có một hội thảo chuyên môn về Karl Marx, và báo cáo của tôi sẽ được trình bày trong khuôn khổ hội thảo đó. Sự kiện khác là Đại học Kanagawa kỷ niệm tám mươi năm thành lập. Khi họ biết rằng năm nay các nhà kinh tế học Hungary đã mừng sinh nhật lần thứ 80 của tôi, tức là chính xác tôi cùng tuổi với đại học của họ, có lẽ hợp nếu tôi có thể tham gia lễ kỷ niệm thành lập với báo cáo của mình. Đó là một niềm vinh hạnh lớn và tôi rất cảm ơn các vị chủ nhà đã mời. Tôi chào mừng các bạn nhân dịp sinh nhật này với những lời chúc nồng nhiệt và với sự đồng cảm của một người 80 tuổi.

Bởi vì bản thân lời mời có tính chất cá nhân, có lẽ có thể chấp nhận được, nếu giọng bài trình bày của tôi mang tính chủ quan. Tôi không truyền đạt lập trường tập thể loại nào đó của các trí thức Đông Âu, mà tôi kể chuyện cá nhân của chính mình. Cuộc sống của mỗi cá nhân là đơn nhất và khác với cuộc sống của mọi người khác. Thế nhưng, tôi có thể nói thêm rằng từ nhiều khía cạnh câu chuyện của riêng tôi có tính điển hình. Nếu không phải là toàn bộ đường đời của tôi, nhưng các pha khác nhau của nó có thể đại diện cho các pha tương tự của cuộc sống của nhiều người khác. Khi hồi ký tự sự của tôi, cuốn Bằng sức mạnh tư duy, được xuất bản, nhiều người tìm đến và nói với tôi rằng đọc ký sự cá nhân của tôi về một giai đoạn hay giai đoạn khác họ nhận ra câu chuyện của chính họ.[3] Tôi hy vọng điều này cũng đúng hôm nay, khi tôi kể về: quan hệ của tôi đã như thế nào với những tư tưởng của Marx trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đời riêng của tôi (và của lịch sử mà đã ảnh hưởng rất lớn đến đời tôi).

Tôi chỉ lựa ra vài tư tưởng trong sự nghiệp vô cùng phong phú của Marx. Chỉ để trình bày những nhận xét riêng của tôi liên quan đến mỗi tư tưởng này thực ra cũng cần đến một hai tiểu luận, thế mà trong khung khổ hiện tại tôi chỉ có nhiều nhất vài phút cho mỗi ý đó. Vì thế tôi không thể đưa ra những lập luận phân tích chi tiết. Tôi hy vọng rằng thể loại được chọn – tường thuật câu chuyện chủ quan về mối quan hệ của tôi với công trình của Marx – sẽ cho phép việc thảo luận các đề tài lớn với nhịp độ rất cao.

Cái gì thu hút tôi đến với Marx…

Tôi đã là một cậu bé, một con mọt sách. Thực sự tôi đã đọc ngiến ngấu không chỉ những kiệt tác văn học, mà cả các tác phẩm triết học và lịch sử nữa, nhưng trước 1945 tôi đã chẳng đọc một bài viết nào của Marx cả. Ở nhà, trong gia đình khá giả, đã chẳng có ai, ở trường, nơi người ta dạy con em của giới trung lưu, cũng đã chẳng có ai giới thiệu cho tôi một tác phẩm Marxist nào. Thế mà, một vài năm sau tôi đã tự nhận là một người Marxist có ý thức.

Cái gì đã gây ra sự thay đổi nhanh chóng này và đã thu hút tôi vô cùng mạnh mẽ đến với Marx?

Trong thời dậy thì nhạy cảm nhất của mình, đầu tiên tôi đối mặt với các luật phân biệt đối xử với người Do Thái, sau đó là những trải nghiệm nhục nhã của sự săn đuổi, sự ẩn náu, trốn chạy, khiếp sợ. Khi cuộc bao vây Budapest chấm dứt, chẳng bao lâu trở nên rõ ràng là, họ đã đưa cha tôi đi Auschwitz và ông bị giết ở đó, còn anh cả tôi đi nghĩa vụ lao động thì không trở về. Ngần ấy tôi đã hiểu từ việc học lịch sử và từ những trải nghiệm cá nhân rằng chế độ Hitler và những kẻ đồng lõa Hungary của nó đã kéo chúng tôi vào chiến tranh và diệt chủng. Nhiều đảng đã hình thành, và tôi rất nhanh chóng trở thành người ủng hộ đảng cộng sản. Ý nghĩ đầu tiên hướng tôi tới đó là: đảng cộng sản là đảng duy nhất, bất chấp rủi ro bị truy bắt, đã kiên định đấu tranh suốt hàng thập kỷ chống lại chế độ Horthy – chế độ đã liên minh với Hitler và sau đó đã đưa sự cai trị Nazi vào Hungary. Họ đã là những người chống phát xít kiên định nhất. Chỗ của tôi là ở trong hàng ngũ của họ. Vì thế tôi đã gia nhập, chứ không phải vì cương lĩnh cải biến xã hội xã hội chủ nghĩa của họ đã cổ vũ, cương lĩnh mà khi đó tôi ít biết đến và bản thân những người cộng sản cũng ít nói tới.

Sau đó khi tôi bắt đầu đi dự các buổi họp và thuyết trình của phong trào thanh niên do đảng cộng sản lãnh đạo, tôi bắt đầu đọc các cuốn sách mỏng do đảng phát hành. Tôi có thiện cảm với hệ tư tưởng của đảng, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa có vẻ thuyết phục. Chưa đầy một năm sau giải phóng tôi đã đến với Marx như vậy. Tôi mười tám tuổi, khi lần đầu cầm cuốn Tư bản luận (bằng tiếng Đức, vì khi đó vẫn chưa có bản dịch ra tiếng Hungary) trong tay, và cùng với bạn thân nhất của mình chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng từng dòng một và ghi chép rất chi tiết.

Tôi dừng lại ở đây một chút để lưu ý bạn đọc về thứ tự thời gian. Không phải kinh nghiệm trí tuệ đã cho tôi, một con mọt sách trẻ, cú hích khởi động đầu tiên đến với Marx, mà đầu tiên là sự tiếp cận chính trị, sự tham gia vào hoạt động của đảng cộng sản, và sau đó mới là ảnh hưởng của việc đọc sách, đọc tác phẩm của Marx. Tôi đã không bắt đầu với việc lựa chọn Marx giữa các trào lưu tư tưởng khác nhau, giữa các trường phái kinh tế học hay triết học khác nhau. Tôi đã bắt đầu với việc lựa chọn đảng cho bản thân mình giữa các phong trào chính trị, các đảng và các hệ tư tưởng khác nhau, và đảng cộng sản đã đặt các công trình của Marx lên bàn của tôi.

Tôi có thể liệt kê dài dài về những đặc điểm mà Tư bản luận đã có ảnh hưởng mạnh nhất khi đó lên tôi, nhưng bây giờ ở đây tôi chỉ lựa ra vài điểm trong số đó.

Việc đọc càng tiến triển tôi càng mê logic sắc sảo, dòng suy nghĩ và lập luận chặt chẽ, việc sử dụng khái niệm chính xác của tác phẩm. Ngay từ khi còn rất trẻ tôi đã có tính mà các thành viên gia đình và các cộng sự của tôi chế nhạo là “cuồng ngăn nắp”. Tôi khó lòng chịu nổi sự lộn xộn, lang thang trong các bài viết hay bài nói nghiêm túc, thậm chí trong cả các cuộc trò chuyện không gò bó. Marx đã ngay lập tức chinh phục tôi với cấu trúc lập luận sáng sủa, trong sáng, với các khái niệm sắc bén. Chỉ rất lâu sau tôi mới biết các tác phẩm đã chuyển hóa một số phần của lâu đài trí tuệ đồ sộ của Marx sang ngôn ngữ mô hình toán học. Thí dụ các nhà kinh tế học Hungary Bródy (1969) và nhà kinh tế học Nhật Bản Morishima (1973) đã diễn đạt lý thuyết tái sản xuất của Marx bằng các mô hình input-output, nhà kinh tế học Mỹ Roemer (1986) đã sử dụng cả các công cụ tiêu chuẩn của kinh tế học vĩ mô dòng chủ lưu để diễn đạt lại kinh tế học chính trị của Marx. Việc sử dụng ngôn ngữ toán học nghiêm ngặt của các nhà lập mô hình được dễ dàng bởi vì Marx đã trình bày nguyên liệu tư duy ban đầu (thí dụ lý thuyết tái sản xuất) theo một trật tự có logic, cố gắng dùng các định nghĩa chính xác ngay từ đầu.

Nếu không phải ngay từ lần đọc đầu tiên, thì muộn hơn, khi tôi đã đọc khá nhiều và đã học được từ công trình của các tác giả Marxist, còn một hiện tượng nữa đã có tác động lớn đối với tôi. Tôi đã có cảm tưởng, rằng một nhà Marxist có trong tay một chìa khóa có thể mở mọi cánh cửa. Nhà Marxist có một bộ máy phân tích và một hệ thống khái niệm mà sức mạnh giải thích của nó là vạn năng. Bất luận đó là đánh giá một sự kiện lịch sử, một vấn đề kinh tế hay một buổi biểu diễn vừa xem xong, trong tay nhà Marxist có các công cụ mà với chúng có thể giải quyết vấn đề phân tích. Điều này tạo cảm giác tự cao trong ông ta. Có thể là X. Y. biết giai đoạn ban đầu của chủ nghĩa tư bản một cách chi tiết bởi vì anh ta đã bỏ hàng năm ra nghiên cứu tỷ mỷ, nhưng anh ta không phải là nhà Marxist, còn tôi là, và vì thế tôi hiểu thời kỳ lịch sử này đúng hơn. Có thể nhà mỹ học N. N. có khiếu thẩm mỹ văn học chắc chắn hơn, và là chuyên gia về kịch, nhưng anh ta không phải là nhà Marxist, còn tôi là, và vì thế tôi nhận ra đúng hơn các giá trị đích thực và những thiếu sót của vở kịch.

Các trí thức trẻ thèm khát loại giải thích thế giới chung nào đó. Có người tìm thấy lời giải thích tổng quát trong niềm tin vào Chúa, hay có lẽ trong một tôn giáo nào đó. Ngày nay nhiều nhà kinh tế học hay nhà khoa học xã hội khác được đào tạo một cách hiện đại cho rằng có thể tìm thấy lời giải thích cho mọi hành động con người và sự kiện xã hội trong lý thuyết quyết định duy lý. Đối với tôi nhu cầu mạnh mẽ về công cụ giải thích vạn năng đã được chủ nghĩa Marx thỏa mãn, chính xác hơn là loại chủ nghĩa Marx mà các nhà Marxist sống trong môi trường trí tuệ của tôi khi đó đã coi là của mình và đã sử dụng. Tôi không nghĩ đến những kẻ không chuyên tầm thường, mà nghĩ đến những đồng bào của mình, như Lukács György, nhà triết học, hay Varga Jenő nhà kinh tế học – đều là những người nổi tiếng thế giới trong ngành của mình. Tôi đã cảm thấy rằng, tôi càng hiểu biết Marx và các môn đồ xuất sắc của ông cặn kẽ hơn, thì tôi càng có thể nắm chắc hơn chiếc chìa khóa mở mọi cánh cửa.

Trong số các lực lôi cuốn, tôi nhắc đến cái thứ ba, tuy thực ra nó tác động song trùng với hai lực kia: sự cam kết đầy nhiệt huyết của Marx với những người bị áp bức, bị bần cùng cũng đã tác động sâu sắc đến tôi về mặt tình cảm. Số phận run rủi là, năm 1944, năm cuối cùng của chiến tranh đã tách tôi khỏi sự tiện nghi của một gia đình trung lưu. Trong vài tháng tôi đã làm công việc chân tay nặng nhọc trong một nhà máy gạch. Những công nhân khác đã thân thiện tiếp nhận một thanh niên gầy gò, nhưng chăm chỉ. Tôi đã đến thăm nhà của họ, và dù muốn hay không tôi đã không thể không so sánh căn hộ quen thuộc, rộng rãi, thanh lịch của chúng tôi với nhà ở chật chội của họ, thức ăn sung túc ở nhà với thức ăn ít ỏi của họ. Hình thành và từ đó vẫn sống trong tôi ý thức đoàn kết. Tư bản luận đã là sách đọc cảm động về khía cạnh này nữa, vì trong đó có sự kết hợp không thể tách rời của sự phân tích kinh tế học lạnh lùng, cảm giác con người nồng ấm và sự phẫn nộ đối với bóc lột.

… và cái gì đã làm tôi vỡ mộng với các tư tưởng của Marx

Bây giờ tôi nhảy qua thời gian. Ở trên tôi kể về các năm đầu sau chiến tranh, tôi đã thử nhớ lại bức chân dung trí tuệ của mình khi đó. Khi thời gian trôi đi, tôi đã nắm vững nhiều và nhiều hơn những giáo huấn của Marx và các môn đồ của ông – và cho đến 1953, đến khi Stalin chết, rồi đến các năm đầy bão tố, đánh dấu điểm ngoặt trong đời sống của các đảng cộng sản và các nước dưới sự cai trị của các đảng đó. Chúng cũng tạo ra điểm ngoặt trong tư duy của tôi.

Bước ngoặt bây giờ cũng chẳng bắt đầu trên bình diện trí tuệ, thí dụ giả như tôi đã đọc các tác phẩm phê phán các học thuyết của Marx. Không phải sự phê phán được xuất bản trong các sách hay các tạp chí đã thuyết phục tôi, rằng Marx đã nhầm về những vấn đề cơ bản. Hoàn toàn là các tác động khác đã làm lung lay – không phải hệ thống tư duy mà tôi đã xây dựng một cách vững chắc cho đến khi đó, mà làm lung lay niềm tin của tôi. Tôi đã gặp một đồng nghiệp già, một người cộng sản từ xưa, người đã bị tù và bị tra tấn tuy đã chẳng phạm tội gì. Cho đến thời điểm đó tôi đã không biết, rằng bằng tra tấn cảnh sát mật chính trị nhân danh các tư tưởng cộng sản đã buộc các tù nhân thú nhận tội giả, theo lệnh trực tiếp của các lãnh đạo tối cao. Nền tảng đạo đức của lòng tin của tôi sụp đổ. Nếu điều này có thể được làm nhân danh đảng cộng sản, thì ở đây hẳn phải có tai họa lớn khác!

Nhìn lại tôi thấy rằng trước bước ngoặt này đã hình thành một cơ chế tự vệ đặc biệt trong đầu óc tôi. Tôi đã tin vào các tư tưởng cộng sản không chỉ bằng trí tuệ, mà bằng cả tấm lòng và trái tim, và vì thế đã hình thành các hàng rào bảo vệ ngăn cản sự thâm nhập của các tư tưởng xa lạ với chủ nghĩa Marx và các học thuyết xã hội chủ nghĩa. Một tác phẩm tranh luận với Marx có đến với tôi cũng vô ích. Tôi không coi nó ra gì, tôi gạt bỏ nó, cho rằng đấy là tiếng nói đầy thành kiến của kẻ thù. Tôi cảm thấy mình được miễn thứ khỏi phải so đọ các tư tưởng có thể được tôi chấp nhận với các tư tưởng đối lập. Trạng thái tâm thần này không chỉ đặc trưng cho những người cộng sản vững tin, mà ít nhiều cũng đặc trưng cho những người cuồng tín khác nữa.[4] Biện lý hay thẩm phán của tòa dị giáo, viên chức của tổ chức khủng bố phái những kẻ đánh bom liều chết, người truyền giáo, người thuyết giáo theo thuyết chính thống, hay một chính trị gia vững tin có sức thu hút quần chúng có thể là người có học thức và thông minh, có thể có khả năng trí tuệ cao, nhưng niềm tin cuồng tín riêng của họ gạt bỏ các lý lẽ đối lập khỏi suy nghĩ của họ. Họ không thể được thuyết phục bằng bất cứ lý lẽ duy lý, điềm tĩnh nào cho đến khi những trụ đỡ đạo đức của niềm tin đó còn vững chắc trong tâm khảm họ.

Khi nền tảng đạo đức đột ngột sụp đổ dưới chân tôi, thì cùng lúc các cửa cống mở ra, và dòng các tư tưởng phê phán tràn vào. Ở đây tôi lại dừng lại một chút để lưu ý bạn đọc về bài học của câu chuyện của riêng tôi. Lại lần nữa đã có cái gì đó đi trước bước ngoặt trí tuệ hiểu theo nghĩa hẹp. Sự kiện đi trước lần này không xảy ra trên bình diện chính trị, mà trên bình diện đạo đức. Một khi các cửa cống đã mở, tôi đã cởi mở trước các lý lẽ. Từng mục một, tôi đối sánh những tư tưởng và các phương pháp Marxist mà tôi đã biết trước đây với sự phê phán mà tôi mới biết. Các ý tưởng mới thâm nhập vào tôi, và đột nhiên tôi cũng trở nên phê phán trên bình diện trí tuệ nữa. Tôi bắt đầu đối mặt với các vấn đề mà trước kia tôi luôn xua đuổi tuy chúng vẫn lởn vởn đâu đó ở bên rìa suy nghĩ của tôi.

Thời đó tôi là một nhà báo viết về đời sống kinh tế. Nhiều lần tôi đã bắt gặp những hiện tượng trái khoáy: hàng trăm loại thể hiện của sự lãng phí, vô kỷ luật, chất lượng kém, sự thiếu hụt. Toàn những vấn đề mà kinh tế học chính trị của Marx chẳng cung cấp cho tôi loại công cụ nào để phân tích. Đây là kinh tế học loại gì mà lại chẳng có nội dung đáng kể nào về các vấn đề hiển nhiên mang tính kinh tế này? Tai họa không phải là nó đưa ra các câu trả lời sai cho những câu hỏi này, mà là nó chẳng thèm nêu ra chúng. Tôi bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc và học các lý thuyết khác kình địch với lý thuyết của Marx, và đột nhiên thấy một thế giới trí tuệ mới mở ra trước mắt mình. Chúng đề cập, đúng hay tồi, đến các vấn đề thực sự là các vấn đề rõ ràng còn bỏ ngỏ của cuộc sống kinh tế hoạt động xung quanh tôi. Đúng là một phần các vấn đề do chúng thảo luận chỉ nảy sinh trong các điều kiện của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng cũng thảo luận một cách có hệ thống các vấn đề chung nữa (thí dụ, tính hiệu quả, hay các khía cạnh của sản xuất và nhu cầu, các vấn đề của mối quan hệ cung và cầu), mà các vấn đề đó cũng không kém quan trọng trong hoàn cảnh kinh tế xã hội chủ nghĩa so với chủ nghĩa tư bản.

Những nghi ngờ của tôi cũng nổi lên liên quan đến những luận đề lý thuyết mà Marx và các môn đồ của ông đã không bỏ qua, ngược lại được đưa ra sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng. Tôi chỉ nêu một thí dụ, những khẳng định của Marx được trích dẫn nhiều lần về sự tích tụ nghèo khổ. Nói về “quy luật chung về sự tích tụ tư bản” Marx khẳng định: “Sự tích tụ của cải ở một cực, vì thế, đồng thời là sự tích tụ nghèo khổ, lao động thống khổ, nô lệ, ngu dốt, tàn bạo và sự thoái hóa đạo đức, ở cực bên kia…” (Tư bản luận, I, (1867) [1967] trang 645). Các môn đồ của Marx thường nói về sự nghèo khổ tương đối và tuyệt đối của giai cấp lao động – và điều này không mâu thuẫn với gợi ý của câu trên. Ngược với khẳng định này, không chỉ những cảm nhận hời hợt thu được qua các cuộc du ngoạn nước ngoài, mà tất cả các số liệu thống kê đáng tin cậy cũng chứng minh rằng mức sống trung bình của những người sống bằng sức lao động của mình ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển trong một thế kỷ đã tăng lên rất đáng kể. (Trong khi đó tất nhiên không thể chối cãi là ở đó sự nghèo khổ cũng chẳng biến mất đi). Đây không phải là một sự hiểu lầm nhỏ nhặt, không phải là một sự nhầm lẫn có thể dễ sửa. Luận đề tiên đoán sự bần cùng hóa của giai cấp vô sản có vai trò cốt yếu trong việc rút ra kết luận cuối cùng của dòng tư duy Marxian. Giả như đúng là sự bần cùng tăng liên tục, và trở thành hàng loạt, thì sự giận dữ của hàng triệu người đã quét sạch chủ nghĩa tư bản từ lâu rồi.

Tôi đã tiến triển liên tục trong tìm hiểu sự phê phán các học thuyết Marxian, và quá trình học này kéo dài nhiều năm. Ngày càng nhiều luận đề – đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết kinh tế học Marxian – trở thành không thể chấp nhận được đối với tôi. Cuối cùng tôi đã đạt đến điểm để bác bỏ học thuyết giá trị lao động cùng với việc làm quen với các lý thuyết giải thích tốt – và với nhịp độ tiến triển của việc nghiên cứu ngày càng giải thích tốt hơn – sự vận động thực tế của giá cả, lương, các chi phí, và lợi nhuận.[5]

Trách nhiệm trí tuệ đối với hệ thống xã hội chủ nghĩa

Hãy quay lại những năm ngay trước cách mạng Hungary 1956. Từ một người xây dựng xã hội chủ nghĩa nhiệt thành và ngây thơ trước kia, kể từ giữa các năm 1950 tôi đã trở thành nhà phê phán gay gắt – và ngày càng gay gắt hơn – đối với hệ thống.

Các thành viên của thế hệ tôi đã trải qua sự biến đổi tư tưởng không phải với cùng nhịp độ và với cùng hình thức. Có người ngay lập tức vứt bỏ quan niệm cũ, có người chỉ từng bước một, bảo vệ từng mẩu tư tưởng khỏi sự hủy diệt. Có người, tự mình bắt đầu cải cách tư tưởng của mình từ sớm, và có người trì hoãn và chỉ sau nhiều thập kỷ mới bắt đầu. Nhưng rốt cuộc các tấn kịch lịch sử vĩ đại, mà họ đã cùng trải nghiệm, đã tạo ra sự biến đổi tư tưởng của cả nhóm trí thức này và của mọi thành viên của nó.[6] Đối với những trí thức khởi đầu như các nhà Marxist và cộng sản vững tin thì sự kiện choáng váng là cách mạng Hungary 1956 và sự đàn áp đẫm máu, rồi đến phong trào Mùa xuân Praha năm 1968 và sự đè bẹp nó, sau đó là phong trào Đoàn Kết ở Ba Lan và những cuộc bắt bớ và ban bố tình trạng khẩn cấp kế tiếp. Những sự nghi ngờ ngày càng mạnh ngay cả trong những người cố thử giữ gìn dù cho chỉ một mẩu thế giới quan một thời của họ. Câu hỏi giày vò chúng tôi là một trong những câu hỏi cơ bản của thế kỷ 20: thực ra hệ thống mà người ta gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” là loại hệ thống gì? Liệu nó có đi cùng một cách không tránh khỏi với nhiều đau khổ mà chúng ta đã phải chịu đựng, từ nạn đói, sự lạc hậu kỹ thuật, đến thiếu hụt kinh niên, từ bóp nghẹt tự do tư duy đến sự khủng bố tàn bạo của cảnh sát và Gulag hay không? Hay tất cả những kinh nghiệm đau xót này chỉ là sự méo mó do việc thực hiện tồi một cách tội lỗi gây ra, chứ thực ra chẳng liên quan gì đến Marx, đến học thuyết của ông và đến cương lĩnh hành động mà ông công bố?

Diễn đạt theo cách khác: Marx có chịu trách nhiệm không về những gì đã xảy ra ở Liên Xô của Lenin, Stalin, Khrushev và Brezhnev, ở Trung Quốc của Mao và ở các nước cộng sản khác do các học trò của họ cai trị?

Nhiều người đã diễn toàn bộ câu chuyện trong trí tưởng tượng của mình: giả như nếu với cùng thân thể và tâm hồn thời xưa của ông, giả như ông không sống vào thời đó, mà đã sống trong thế kỷ 20, thí dụ ở Budapest, thì Marx đã ứng xử thế nào? Có thể phỏng đoán rằng ông đã bắt đầu như một người cộng sản, nhưng tinh thần phản kháng của ông mau chóng kéo ông vào hàng ngũ những người chống lại chế độ cộng sản. Có lẽ ông phải vào trại tập trung trong các năm 1950, nhưng thoát ra được, ông đã tham gia các cuộc tranh luận trí tuệ hồi hộp trước và chuẩn bị tinh thần cho cách mạng 1956. Chắc ông đã ở giữa các nhà cách mạng khi đó, và nếu tránh được làn sóng bắt bớ sau đó, thì chắc ông đã xuất bản chui những phê phán của mình với dọng châm chọc chua cay chống lại nền kinh tế kiểu Soviet. Đây là một dòng suy nghĩ lý thú, trong trí tưởng tượng nó miễn thứ cho Marx, cho con người, cho tính cách rất đặc trưng đối với ông, và khính trọng lòng dũng cảm và lòng trung thành với nguyên tắc của ông. Nhưng đồng thời nó cũng lảng tránh câu hỏi thực sự xác đáng được nêu ra ở trước: quan hệ giữa những tư tưởng lý thuyết của Marx và thực tế lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa là gì? Trong phép xấp xỉ đầu tiên, tôi sẽ thử trả lời một cách ngắn gọn: hệ thống xã hội chủ nghĩa (không phải loại hệ thống không tưởng đẹp đẽ trong trí tưởng tượng, mà là hệ thống đã tồn tại mà trong đó bản thân tôi đã sống) đã thực hiện kế hoạch của Marx.

Tôi biết rằng nghe câu chắc nịch này nhiều người sẽ sửng sốt, có lẽ cả một số người ngồi đây nữa. Nhưng tôi vẫn nhắc lại. Theo niềm tin của tôi, khẳng định đó là đúng và có thể được hậu thuẫn bằng những sự thực kinh nghiệm lịch sử, rằng cái đã hình thành sau 1917 trong khu vực cộng sản của thế giới, và đã tồn tại đến 1989, về cơ bản đã thực hiện cái mà Marx đã coi là hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ hình thành như cái đối lập của chủ nghĩa tư bản.

Cái nhân cốt lõi của dòng tư duy Marxian là sở hữu tư nhân đặc trưng cho các mối quan hệ sở hữu của chủ nghĩa tư bản. Để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản phải chuyển tư liệu sản xuất thành công hữu. Chừng nào sở hữu tư nhân còn chiếm ưu thế, thì thị trường điều phối sự hợp tác con người, sự trao đổi tài sản, sự phân bổ lực lượng sản xuất. Thị trường là nhà điều phối hoạt động không tốt, thị trường rắm rối, không rõ ràng, hỗn loạn. Sở hữu công sẽ cho phép phân bổ lực lượng sản xuất và rốt cuộc lao động con người trở nên minh bạch, rõ ràng và có kế hoạch.

Tôi đưa ra vài trích dẫn để hậu thuẫn cho những điều mà tôi nhắc đến ở trên đúng là các tư tưởng riêng của Marx (chứ không chỉ là các tư tưởng Marxian có lẽ do những môn đồ của ông đã pha loãng hay đã hiểu nhầm chúng). Tôi trích Tư bản luận: “Độc quyền tư bản trở thành xiềng xích của chính phương thức sản xuất đã nảy sinh và thịnh vượng với nó và dưới nó… Giờ tận số của sở hữu tư nhân tư bản đã điểm. Những kẻ chiếm đoạt bị tước đoạt.”  (Capital Vol. 1 (1867) [1967], p. 763). Hay một trích dẫn quan trọng khác:  “…sự hỗn loạn liên tục và những biến động chu kỳ là những thứ đi cùng chí tử của sản xuất tư bản chủ nghĩa…” – Marx viết trong nghiên cứu về “Nội chiến ở Pháp” ((1871) [1988], p.61). Và trong cùng đoạn văn vừa được trích dẫn có thể thấy cụm từ kế hoạch chung các từ mà người ta hay nhắc đến: “…các hiệp hội hợp tác điều tiết nền sản xuất quốc dân theo một kế hoạch chung, đặt nền sản xuất ấy dưới sự điều khiển của mình…”

Bây giờ chúng ta hãy so sánh các luận đề lý thuyết nêu trên với thực tế của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành ở Liên Xô và các nước cộng sản khác! Hai nét đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống hiện thực chính là cái Marx đã kỳ vọng và chỉ dẫn:

1)      Đã tiến rất gần đến việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (tuy những tàn tích què quặt, bị siết chặt của nó vẫn tồn tại đó đây), và thay vào đó sở hữu công, chủ yếu dưới dạng sở hữu nhà nước, trở nên áp đảo.

2)      Đã tiến rất gần đến việc xóa bỏ hoàn toàn điều phối thị trường (tuy những tàn tích vẫn còn trong nền kinh tế đen và xám), và thay vào đó kế hoạch hóa tập trung, điều phối quan liêu, nền kinh tế chỉ huy trở nên áp đảo.

Tôi đã không tùy tiện đưa ra hai đặc điểm trong số các đặc điểm thứ yếu của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ở đây tôi nói về hai đặc điểm cơ bản của hệ thống kinh tế.[7]

Nếu tôi đã tranh luận với các nhà Marxist thiển cận về điều này, thì một trong những lập luận phản lại quen thuộc đã là: chế độ Stalinist hay Maoist đã sử dụng tên của Marx chỉ như biểu tượng đánh lạc hướng, đã chỉ nhắc đến như thánh bảo trợ, mặc dù trong thực tế chúng chẳng có gì chung với ông cả. Ở trên tôi đã cố gắng đối chọi với lập luận này bằng những lời lẽ của chính Marx và Engels. Các chế độ đó có toàn quyền để dẫn chiếu đến Marx, vì chúng đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử vĩ đại do ông đề ra.

(Tôi lưu ý chỉ trong ngoặc đơn, rằng phân tích đặc điểm nêu trên phù hợp với đảng cộng sản Trung Quốc ngày nay, cái đảng trương ảnh Marx trên tường như “thánh bảo trợ” trong các dịp nghi lễ chính trị để che dấu chính sách thực của nó. Đảng cộng sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà đảng cộng sản ngự trị về cơ bản mang tính tư bản chủ nghĩa, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường. Như thế, chính xác là cái đối lập đã được thực hiện trong mười-hai mươi năm so với cái Marx đã nêu thành cương lĩnh, cũng như cái đã thực sự hình thành ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia.)

Những người bảo vệ kiên định các học thuyết của Marx không thích đối mặt với khẳng định đanh thép rằng đảng Bolshevik Nga và các đảng đi theo ở các nước khác đã thực hiện cương lĩnh biến đổi của Marx. Không phải một lần tôi đã đích thân trải nghiệm điều này. Tại vài đại học Mỹ tôi đã gặp các sinh viên thông minh và quan tâm, những người tự coi mình là “các nhà kinh tế học cấp tiến”. Họ tận tâm đọc và học các tác phẩm mà họ cho là có thể chấp nhận được về mặt chính trị. Họ đã sẵn sàng tìm hiểu, thậm chí nghiên cứu kỹ lưỡng cả các lý thuyết kinh tế học và các phương pháp của dòng chủ lưu nữa. Thế nhưng, họ không thèm nghiên cứu sâu nền kinh tế của Liên Xô hay của các nước Đông Âu. Trong con mắt của họ đấy là cái gì đó không đáng quan tâm, hay có lẽ trúng hơn, nếu tôi nói: là hiện tượng khả ố, ghê tởm chẳng liên quan gì đến họ và chẳng có quan hệ gì với các tư tưởng của Marx mà họ kính trọng và chấp nhận. Theo quan điểm của tôi họ chúi đầu vào cát như những con đà điểu.

Tôi bắt gặp hiện tượng này không chỉ ở các sinh viên trẻ. Bây giờ, khi chuẩn bị cho báo cáo này, tôi đọc lại các công trình của các nhà bác học có đầu óc cởi mở, có học thức cao, diễn giải lại các lý thuyết Marxist, tôi chợt thấy rằng ngay các công trình xuất sắc nhất cũng hoàn toàn bỏ qua sự đối sánh những kinh nghiệm lịch sử của Liên Xô, của Trung Quốc và các nước Đông Âu trước cải cách với cương lĩnh xã hội chủ nghĩa của Marx. Những tên như Lenin hay Stalin chẳng hề xuất hiện trong các tác phẩm này.

Theo quan điểm của tôi, sự chính trực trí tuệ và chính trị đòi hỏi chúng ta phải đối mặt một cách tận tâm với câu hỏi: những tư tưởng của Marx có liên quan gì đến hệ thống xã hội chủ nghĩa đã được thực hiện? Marx có liên quan gì đến Lenin và Stalin? Tôi đã thử đưa ra câu trả lời thẳng thắn của mình. Có thể tranh luận về câu trả lời của tôi, song tính chính đáng của câu hỏi thì khó có thể tranh cãi.

Một nền kinh tế, nơi người ta loại bỏ sáng kiến tư nhân và sự điều phối thị trường, buộc phải dựa vào sự điều chỉnh hành chính, từ trên xuống. Trong một cơ chế như vậy, phải cưỡng bức kỷ luật và thực hiện các mệnh lệnh từ trên xuống bằng con đường hành chính. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không thể hoạt động mà không có sự trấn áp. Nếu nới lỏng bộ máy trấn áp, chẳng sớm thì muộn hệ thống sẽ sụp đổ. Điều này đã xảy ra ở Liên Xô, và khi nó bắt đầu tan rã, ở các nước cộng sản Đông Âu cũng thế.

Gắn vào đây là lập trường của Marx về vấn đề nền độc tài [chuyên chính] và dân chủ. Có lẽ, bản thân ông cũng rùng mình, nếu giả như với chính mắt mình ông nhìn thấy cái gì xảy ra trong các phòng tra khảo của Cheka hay tại các trại tù ở Siberia. Thế nhưng trong khi cần diễn đạt chỉ trên tờ giấy, thì cả Marx lẫn Engels đều khinh miệt nói về chủ nghĩa lập hiến, chế độ đại nghị, nền dân chủ tư sản sáo rỗng và hình thức, và ủng hộ tư tưởng của nền độc tài [chuyên chính] vô sản.

Những ngày qua tôi đọc lại tranh luận nổi tiếng của Kautsky và Lenin, cuốn Nền chuyên chính vô sản của Kautsky (1918), và cuốn Cách mạng vô sản và tên phản bội Kautsky đáp lại của Lenin (1918). Kautsky viết với giọng khách quan, điềm tĩnh, ông kiên định tin vào tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời là tín đồ tận tâm của dân chủ đại nghị. Ông lên tiếng ái ngại rằng nhân danh quyền lợi của giai cấp vô sản người ta có thể bóp nghẹt ý chí của đa số, có thể lạm dụng quyền lực, thiểu số bị bỏ rơi không được bảo vệ. Lenin với giọng mỉa mai khinh miệt, chà đạp lên danh dự của đối thủ, bẻ lại từng lý lẽ của Kautsky. Đọc với con mắt hôm nay, mọi lo sợ của Kautsky tỏ ra chính đáng. Ông đã đúng trong mọi vấn đề ngược với Lenin, trừ một chủ đề quan trọng duy nhất, cụ thể là trong lý giải lập trường của Marx và Engels. Không phải Kautsky, mà Lenin mới là người đã có thể đưa ra các trích dẫn thuyết phục từ tư tưởng của hai nhà tiên tri vĩ đại này để ủng hộ cho lý lẽ của mình. Ông nhắc tới những lời nổi tiếng của Marx: “…những người công nhân sẽ thay thế nền độc tài của giai cấp tư sản bằng nền độc tài cách mạng của mình…” (Marx (1873) [1974] p. 300). Ông trích dẫn Engels: “…đảng chiến thắng không muốn phải chiến đấu vô ích, nó phải duy trì sự thống trị của mình bằng nỗi sợ hãi do vũ khí của nó tạo ra trong những kẻ phản động.” (Engels (1872) [1978] p. 733). Và một trích dẫn Engels nữa mà Lenin dụi vào mũi Kautsky một cách nhạo báng: “Nhà nước không là gì khác bộ máy đàn áp của một giai cấp đối với giai cấp khác, và quả thực trong một nền cộng hòa dân chủ cũng chẳng kém hơn trong nền quân chủ.” (Engels (1891) [1988], p. 22).

Kautsky không thể đưa ra các trích dẫn của Marx để hậu thuẫn cho lý lẽ của ông ở đây. Ông cũng trích dẫn các lời của Marx về nền độc tài cách mạng của giai cấp vô sản, và buộc phải đưa thêm bình luận chua chát sau: “Đáng tiếc, Marx đã bỏ quên việc nêu chính xác ông hình dung nền độc tài này thế nào.” (Kautsky (1919) [1964] p. 43). Cả ở Kautsky, lẫn ở các nhà nghiên cứu–Marx đương đại, thực sự rất khách quan và trong nhiều khía cạnh có cảm tình với Marx, tôi cũng chẳng tìm thấy trích dẫn nào, trong đó Marx – nhà phân tích chính trị vô cùng lỗi lạc, người đã thảo luận toàn diện đến vậy về sự cầm quyền chính trị, nhà nước, và các mối liên hệ giữa áp bức và tự do – giả như đã khảo sát nghiêm túc mối quan hệ giữa các định chế dân chủ và quyền con người, và các mối đe dọa của nền độc tài. Marx đã bỏ qua bản thân vấn đề, bỏ qua toàn bộ lĩnh vực vấn đề khó giải quyết về sự bảo vệ chế định của các quyền tự do và quyền con người. Sự khinh thường nhạo báng này [của Marx] đã ăn sâu vào Lenin và vào những môn đồ trung thành của ông.

Sự khẳng định, rằng nền dân chủ là nền độc tài của giai cấp tư sản, thế chỗ cho nó phải đưa một nền độc tài khác vào bằng con đường cách mạng, đã làm mờ đi sự phân biệt sắc nét giữa nền dân chủ và nền độc tài. Chỉ sau khi Hitler lên nắm quyền, những người cộng sản phương tây mới đột nhiên nhận ra rằng nền dân chủ “hình thức”, “tư sản”, chế độ đại nghị, nhà nước pháp quyền, sự hợp pháp không phải là trò viển vông, mà là giá trị không thể thay thế được. Một trong những lý do là vì nó cung cấp sự bảo vệ chế định cho những người muốn nói và viết, cho những người phê phán chính phủ mọi thời, cho những người làm thay đổi xã hội triệt để, trong đó có các trí thức bức xúc về lẽ phải như Marx đã là trong thời của ông.

Có thể, trong thời của Marx cặp đối lập dân chủ–độc tài, nền độc tài của giai cấp tư sản hay của giai cấp vô sản mới chỉ có vẻ là cuộc đấu khẩu. Ngày nay trong con mắt của những người đã sống và đã sống sót dưới các chế độ chuyên quyền của Stalin, Mao, Rákosi và của những kẻ khác, thì các từ này có nghĩa khác. Ngày nay đã có thể thấy rằng sự khinh bỉ dân chủ trong các bài viết của Marx dường như đã chuẩn bị mặt bằng mà trên đó tòa nhà chuyên chế Leninist–Stalinist–Maoist được dựng lên, đã làm tê liệt sự kháng cự chống áp bức trong những tín đồ của tư tưởng Marxian.

Hiển nghiên tôi dùng từ “trách nhiệm” không theo nghĩa hình sự. Bản thân việc công bố một tư tưởng sai lầm không phải là một hành vi tội phạm. Vấn đề “trách nhiệm” cũng chẳng nổi lên ngay cả theo nghĩa đạo đức học. Marx không vi phạm các mệnh lệnh đạo đức bằng việc lên tiếng đòi xóa bỏ sở hữu tư nhân và thị trường, và đã không nhận ra tầm quan trọng của dân chủ đại nghị và nhà nước pháp quyền trong bảo vệ các quyền con người. Tôi chỉ nói về trách nhiệm trí tuệ. Nếu tôi công bố một tư tưởng thúc đẩy hành động xã hội, thì không chỉ những người trực tiếp thực hiện hành động đó, mà cả tôi cũng chịu trách nhiệm về cái xảy ra, và tôi cũng chịu trách nhiệm về những hệ quả của những cái xảy ra này. Lời tôi càng có ảnh hưởng, thì trách nhiệm của tôi càng lớn. Thế mà, chưa bao giờ, chẳng có ai bằng tư tưởng của mình, bằng cương lĩnh được công bố của mình, lại có ảnh hưởng đến những con người lớn hơn Karl Marx đã ảnh hưởng.

Cái tiếp tục sống từ các học thuyết của Marx

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, quan điểm khá phổ biến trong giới trí thức khắp thế giới rằng các tư tưởng của Marx đã sụp đổ một lần và mãi mãi. Thấy đấy, lịch sử đã phủ nhận điều đó. Không phải một lần tôi bắt gặp những bài viết huyênh hoang hay bài nói ngạo mạn: Marx đã là “passé –quá khứ”, lỗi thời, và không cần quan tâm thêm.

Trong những ngày này, khi khủng hoảng diễn ra, hình thành đúng là tâm trạng ngược lại. Marx lại trở thành mốt. Trong các giới chính trị gia và nhà báo, việc dẫn chiếu đến những tiên đoán mang tính tiên tri của Marx trở nên sang trọng, khi người ta vẽ ra những cảnh tượng kinh hoàng về sự sụp đổ đến nơi của chủ nghĩa tư bản. Đột nhiên Tư bản luận trở thàng sách bán chạy nhất.[8]

Cả hai trào lưu mốt này đều không có căn cứ. Với công trình của ông Marx đã không chỉ ghi tên mình vĩnh viễn vào lịch sử chính trị và tư tưởng, mà nhiều tư tưởng của ông ngày nay cũng vẫn đứng vững, và giúp cho sự hiểu biết thế giới đương đại. Tôi sẽ quay lại ngay vấn đề này. Nhưng trước đó tôi muốn nói vài lời về sự phục hưng gần đây nhất của Marx. Đúng là Marx thường đưa ra các lời tiên tri được lặp đi lặp lại, theo đó trong chủ nghĩa tư bản có các lực tự hủy diệt hoạt động, các lực đó sẽ dẫn hệ thống đến khủng hoảng chí tử và sụp đổ. Ngay cả một vài trong số các nhà nghiên cứu-Marx, những người khính trọng các tư tưởng của Marx nhất, cũng thừa nhận rằng dòng tư duy giải thích sự sụp đổ cuối cùng là khó theo dõi, bí ẩn, khó hiểu, hay đơn giản là sai lầm.[9]

Tôi không thích tiên tri, và tôi đã học được ngần ấy từ kinh nghiệm riêng của mình rằng những thay đổi có tầm quan trọng lịch sử thế giới nhiều khi lại diễn ra một cách đột ngột không ngờ được. Tôi không biết cơ cấu xã hội sẽ như thế nào trong tương lai. Tôi chỉ có thể nói ngần này: trong tầm nhìn của tôi không xuất hiện sự kết liễu của chủ nghĩa tư bản, và lời tiên tri của Marx về sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội còn ít có khả năng trở thành hiện thực hơn. Theo tôi những nền tảng của chủ nghĩa tư bản tỏ ra vững chắc hơn thế nhiều. Tất nhiên vấn đề sẽ không thể được giải đáp bởi cuộc đấu khẩu, tranh luận giữa các lời tiên tri tranh cãi nhau, mà bởi lịch sử tương lai. Ngày nay chúng ta chỉ có thể khẳng định ngần này với sự chắc chắn hoàn toàn rằng hiện thời chủ nghĩa tư bản đang co giật – nhưng vẫn sống.

Trong báo chí hàng ngày chúng ta có thể đọc thấy những tuyên bố của các chính trị gia và các nhà báo rằng sự “soviet hóa” của thế giới phương tây đã bắt đầu. Bởi vì cái gì khác có thể giải thích cho sự thực rằng chính phủ của một số nước không cho không các khoản cứu trợ, mà thay vào đó đòi quyền sở hữu [các doanh nghiệp được cứu trợ]. (Hãy để tôi nói thêm: muộn hơn chính phủ có thể tư nhân hóa [bán] sở hữu nhà nước này, trừ trường hợp có loại đảng cộng sản nắm được quyền ở Hoa Kỳ và ở Anh mà đảng đó kiên quyết áp dụng mô hình Soviet bằng mọi giá). Những kẻ huyên thuyên về “soviet hóa” và về việc đưa chủ nghĩa xã hội vào, là những kẻ tự bộc lộ về mình rằng họ không những không hiểu Marx, mà cũng chẳng biết gì về lịch sử của Liên Xô và các nét đặc trưng thực sự của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đáng nhấn mạnh rằng có thể thấy những nhận xét thiên tài trong tập I và tập III của Tư bản luận về sự bành trướng tín dụng quá đáng lúc này lúc khác và về tác động gây khủng hoảng của nó. Có lẽ ông là người đầu tiên, hay chí ít cũng là một trong những người đầu tiên, chú ý đến hiện tượng rằng bành trướng tín dụng dẫn đến sản xuất thừa (theo thuật ngữ Marxian) như thế nào, tức là dẫn đến sản xuất vượt cầu thực sự, hay là dẫn đến thừa năng lực cần thiết để đạt mức sản xuất quá cao. Và quá trình bành trướng gia tăng này tiếp tục cho đến khi chuỗi cho vay bắt đầu đột ngột đứt tung.[10]

Trong một–hai thập kỷ qua đã có các kinh tế gia hàn lâm và các chuyên gia tài chính thực tiễn nhận ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn trong việc cho vay vô trách nhiệm, tính toán sai lầm những rủi ro, và trong yếu kém của sự điều tiết hệ thống tín dụng, thậm chí đã đưa ra những kiến nghị để ngăn ngừa tai họa, nhưng người ta đã không lắng nghe họ. Những lời cảnh báo tỉnh táo này không đến từ các giới Marxist, cũng chẳng đến từ những kẻ thù cấp tiến của chủ nghĩa tư bản, mà đến từ những tín đồ chăm lo bảo vệ chủ nghĩa tư bản, từ các nhà phê phán tập quán cho vay hiện hành, từ các nhà cải cách hệ thống.

Còn bây giờ quay trở lại khung khổ kể chuyện chủ quan, tôi muốn nói vài lời về các tư tưởng đáng làm bài học nhất cho tôi từ những tư tưởng ngày nay vẫn còn đúng của Marx. Nhà bác học thiên tài này đã thực sự làm tràn ngập chúng ta với những dòng thác ý tưởng và các công cụ phân tích. Trong tiểu luận ngắn này tôi đã tranh luận với vài tư tưởng rất quan trọng của ông, và tôi đã ra hiệu rằng về phần mình tôi không chấp nhận chúng. Thế nhưng – nếu tôi vẫn có thể tiếp tục nói nhân danh cá nhân mình –  có nhiều đóng góp quan trọng của Marx đối với tư duy khoa học, mà tôi vẫn tiếp tục chấp nhận, và tôi cố gắng sử dụng chúng. Tôi chỉ giới hạn ở vài thí dụ sau đây.

Hầu hết chúng ta thường dẫn chiếu đến Schumpeter, khi nói đến “sự sáng tạo hủy diệt”. Chúng ta nghĩ đến các nhà kinh doanh, các nghiệp chủ, những người tổ chức việc đưa ra các sản phẩm mới, các công nghệ mới, phương thức quản lý mới, chiếm lĩnh các thị trường mới. Và bên cạnh đó chúng ta nghĩ đến sự phát triển tư bản chủ nghĩa do Schumpeter mô tả, nó phá hủy thế giới cũ, tạo ra thế giới của riêng nó, phương thức sản xuất của riêng nó thế vào đó, áp đặt chúng lên xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải nói ngay, Marx và Engels đã mô tả quá trình này, lực lượng tạo ra và lực lượng hủy diệt của chủ nghĩa tư bản, trước rất lâu rồi, trong những dòng đầu tiên đầy quyến rũ của Tuyên ngôn Cộng sản. Theo quan niệm của kinh tế học chính trị Marxian các nhà tư bản có vai trò nổi bật trong tổ chức quá trình đổi mới kỹ thuật.

Trước và sau Marx sự chú ý của đa số các nhà kinh tế tập trung vào các trạng thái cân bằng, mà cụ thể là vào một trường hợp đặc biệt của cân bằng thị trường, khi cầu và cung cân bằng với nhau. Muộn hơn kinh tế học gọi trạng thái cân bằng đặc biệt này là cân bằng Walrasian. Bên cạnh Malthus, Marx là người mở đường của hướng nghiên cứu phân tích các trạng thái lệch khỏi cân bằng thị trường, cụ thể là không chỉ nghiên cứu những thăng giáng ngẫu nhiên xung quanh cân bằng thị trường (Walrasian), mà cả những sự lệch kéo dài nữa. Marx đặc biệt quan tâm đến thị trường sức lao động về khía cạnh này, trong đó cung cao hơn cầu không chỉ tạm thời mà kéo dài. Marx đã không thử đưa ra lời giải thích nhân khẩu học, mà đưa ra lời giải thích kinh tế học khi ông khảo sát hiện tượng mà ông gọi là “nạn nhân mãn [quá nhiều người] tương đối”. Ngày nay cũng tình trạng này, tình trạng dư cung sức lao động kéo dài, được kinh tế học sức lao động gọi là cân bằng thất nghiệp. (Xem thí dụ, Layard-Nickell-Jackman 2005, p. 8 và 11). Ít người nhớ rằng Marx là ông tổ mở đường. Về phần mình, tôi nhấn mạnh, trước hết tôi học từ Marx rằng đáng chú ý nhường nào đến những sự lệch kéo dài khỏi cân bằng thị trường.[11]

Tôi không biết chính xác lịch sử về khái niệm “chủ nghĩa tư bản” hình thành ra sao và được đưa vào tư duy khoa học như thế nào. Tôi tin, tôi không nhầm, nếu tôi khẳng định: từ lâu hầu hết các chính trị gia, các nhà bình luận và các nhà khoa học xã hội gắn sự đưa vào khái niệm “chủ nghĩa tư bản” với Marx và trào lưu tư tưởng Marxist, và đối sánh hệ thống tư bản chủ nghĩa thực sự hình thành về mặt lịch sử với một thế giới mới, với hệ thống xã hội chủ nghĩa mà trước đó Marx mới chỉ tiên tri và ao ước. Marx không hình dung cái sau (hệ thống xã hội chủ nghĩa) như một sự không tưởng, mà như một thực tế lịch sử chắc chắn sẽ xuất hiện.

Sự tạo khái niệm này gắn mật thiết với học thuyết liên quan đến các phương thức sản xuất kế tục nhau, khác nhau về những đặc trưng quan trọng nhất.

Thành phần quan trọng này của tòa lâu đài trí tuệ của Marx ngày nay vẫn có ảnh hưởng mạnh đến tư duy của tôi. Trong một bài viết của mình tôi gọi cách xem xét này là “khung mẫu hệ thống–system paradigm”, tức là cách xem xét không tách một lát (cắt) duy nhất, phần được giới hạn duy nhất của xã hội, ấy là lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hóa và tư tưởng hay nền kinh tế, mà tập trung vào cái toàn thể do các phần đó tạo nên. Nó tập trung chú ý đến các phần khác nhau phụ thuộc lẫn nhau thế nào, những mối quan hệ nào hình thành giữa chúng. Nó không mô tả hệ thống trong bức ảnh tĩnh chụp chớp nhoáng, mà nó cố hiểu động học của hệ thống, như hệ thống diễn ra trong lịch sử. Marx là người mở đường vĩ đại và bậc thầy vô song của system paradigm. Cùng một lúc, trong một cá nhân, ông vừa là nhà kinh tế, nhà xã hội học, nhà khoa học chính trị và nhà sử học. Thời đó, đã chẳng ai dùng từ “liên ngành–interdisciplinary”, nhưng ông đã nêu một tấm gương về làm thế nào để vượt lên trên giới hạn chuyên ngành hạn hẹp và nghiên cứu với tư cách một nhà khoa học xã hội toàn diện.

Người ta thường hỏi, tôi có là nhà Marxist hay không? Câu trả lời của tôi dứt khoát là không.[12] Những người khác nói: tôi thuộc trường phái Áo, hay tôi là người theo trường phái Keynes, tân cổ điển hay tân tự do, và v.v. Tôi lắc đầu từ chối trong mỗi trường hợp. Tôi không là một tín đồ vô điều kiện của một trường phái hay chủ nghĩa nào cả. Nếu những người khác thử làm việc đó, tôi cũng chẳng để mình bị nhốt trong một cái hộp nào. Tôi ưa thú nhận rằng các thành tố của tư duy của tôi – mượn các từ châm biếm của Engels – hòa lẫn thành cháo biện chứng của kẻ ăn mày. Nếu tôi có thiện chí hơn với bản thân mình, tôi vui lòng nói rằng tôi cố gắng tích hợp nhiều loại trào lưu tư tưởng. Khi phải nêu tên những người đã có ảnh hưởng nhiều nhất đến tôi, tôi thường nhắc đến tên Schumpeter, Keynes, Hayek, nhưng cùng trong danh sách này tên của Karl Marx luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

Tài liệu tham khảo

BENCE, G. – KIS, J. [1978]: Towards an East European Marxism, under the pseudonym Marc Rakovski, London: Allison and Busby.

BRÓDY, ANDRÁS [1970]: Proportions, Prices and Planning: A Mathematical Restatement of the Labor Theory of Value, Budapest – Amsterdam: Akadémiai Kiadó – North Holland.

BRUS, W. (1961) [1972]: The General Problems of the Functioning of the Socialist Economy, New York -London: Routledge.

COLLINS, P. [2008]: Karl Marx: Did he get it all right? Times, October 21, 2008. http://www.timesonline.co.uk (Downloaded November 4, 2008.)

ELSTER, J. [1991]: Making Sense of Marx, Cambridge – Paris: Cambridge University Press – Maison des Sciences de l’Homme.

ENGELS, F. (1872) [1978]: On Authority, in Marx-Engels Reader, second edition (first edition in 1973), pp.730-733. New York: Norton.

ENGELS, F. (1981) [1988]: Introduction, in Karl Marx: The Civil War in France: The Paris Commune, pp.9-22. , New York: International Publishers..

FOLEY, D. [1986]: Understanding Capital: Marx’s Economic Theory, Cambridge MA: Harvard University Press.

KAUTSKY, K. (1918) [1964]: The Dictatorship of the Proletariat, University of Michigan Press.

KORNAI, J. [1980]: Economics of Shortage, Amsterdam: North-Holland

KORNAI, J. [1993]: The Socialist System, Princeton – Oxford, Princeton: University Press – Oxford University Press. (Hệ thống xã hội Chủ nghĩa, NXB Thông tin, 2002)

KORNAI, J.(2005) [2007]: By Force of Thought – Irregular Memoirs of an Intellectual Journey, Cambridge, Massachusetts and London, England: The MIT Press. (Bằng sức mạnh Tư duy, NXB Thanh Hóa, 2008)

LAYARD, R. – NICKELL, S. – JACKMAN, R. [2005]: Unemployment. Macroeconomic Performance and the Labor Market. Oxford: Oxford University Press.

LENIN, V. I. (1918) [1964]: The Proletarian Revolution and the Renegade Kautsky, Moscow: Foreign Languages Press.

MANDEL, E. [2008] Marx, Karl Heinrich (1818–1883), in Durlauf, S.N. – Blume, L.E. (eds.) The New Palgrave Dictionary of Economics. Second Edition. Vol. 5. pp. 384-405. Palgrave – Macmillan.

MARX, K – F. ENGELS (1848) [1969]: The Communist Manifesto, Marx-Engels Selected Works, Volume One, Moscow: Progress , pp. 98-137.

Marx, K. (1871) [1988]: The Civil War in France, in Karl Marx: The Civil War in France: The Paris Commune, New York: International Publishers.

MARX, K (1873) [1974]: Political Indifferentism, in Karl Marx: The First International and After, New York: Vintage Books

MARX, K. (1867) [1967]: The Capital: A Critique of Political Economy Vol. 1., New York: International Publishers.

MARX, K. (1863-1883) [1967]: The Capital: A Critique of Political Economy Vol. 3, New York: International Publishers.

MORISHIMA, M. [1973]: Marx’s Economics: A Dual Theory of Value and Growth, Cambridge: Cambridge University Press.

OZ, A. [2006]: How to Cure a Fanatic, Princeton: Princeton University Press.

ROEMER, E. J. (ed.) [1986]: Analytical Marxism, Cambridge, UK: Cambridge University Press.

ROEMER, E. J. (ed.) [1994]: Foundations of Analytical Marxism, Brookfield: Elgar.

TABBIT, F. [2006]: A Brief History, Scope, and Peculiarities of „Analytical Marxism”, Review of Radical Political Economics, http://www.sagepublications.com


*Nguyễn Quang A dịch dựa vào nguyên bản tiếng Hungary, “Marx egy ketet-erópai értelmiségi szemével” và bản dịch tiếng Anh, “Marx through the eyes of an east european intellectual”. Có thể tiếp cận cả hai bản tại:  http://www.colbud.hu/fellows/kornai.shtml

[1] Tôi cảm ơn Dániel Zsuzsa, Madarász Aladár, và Nagy Eszter vì sự giúp đỡ quý báu của họ cho việc soạn tiểu luận này. Tôi cảm ơn Brian McLean đã dịch sang tiếng Anh, cảm ơn Collegium Budapest và Đại học Trung Âu đã hỗ trợ nghiên cứu của tôi.

[2] Tôi chọn ra các công trình sau từ văn liệu gần đây và đương đại: Elster (1991), Foley (1986), Kolakowski (1978), Mandel (2008), Roemer (1986 và 1994) và Tabbit (2006).

Các sách giáo khoa về lịch sử lý thuyết được dùng ở các đại học phương Tây – hay chí ít các sách giáo khoa được xuất bản trong mười năm lại đây – có nhắc đến các công trình của Marx nhưng thường không phân tích hay đánh giá chúng một cách sâu sắc. Xem, thí dụ, Backhouse (2002) và Vaggi and Groenewegen (2006)

[3] Hồi ký tự sự của tôi được xuất bản bằng tiếng Hungary năm 2005. Kế tiếp là các lần xuất bản bằng tiếng Nhật và tiếng Anh, rồi đến tiếng Nga, Ba Lan và tiếng Việt. Bản tiếng Trung Quốc đang chuẩn bị. Cuốn sách được Tsuneo Morita dịch ra tiếng Nhật và được Nippon-Hyoron-Sha xuấ bản ở Tokyo.

[4] Amos Oz, nhà văn lớn của Israel, cũng rút ra những kết luận tương tự trong kiệt tác của ông: How to Cure a Fanatic [Chữa trị một kẻ cuồng tín thế nào] (2006).

[5] Không chỉ những người chưa bao giờ chịu ảnh hưởng của Marx có lập trường này, mà cả hầu hết các đại diện của cái gọi là “chủ nghĩa Marx giải tích – analytical Marxism” cũng có lập trường như vậy cho dù họ coi hầu hết các yếu tố của lý thuyết xã hội và triết học của Marx là của mình.

[6] Cuộc vật lộn với các tư tưởng của Marx và sự vượt từ từ qua chủ nghĩa Marx có thể thấy trong các công trình của nhiều nhà khoa học xã hội Đông Âu. Tôi chỉ nhắc đến hai công trình đáng chú ý và có ảnh hưởng, là cuốn sách của W. Brus (1972), xuất bản lần đầu tiên ở Ba Lan năm 1961, và nghiên cứu của G. Bence và J. Kis (1978). Bản xuất bản chui (samizdat) của cuốn sau đầu tiên được lưu truyền bất hợp pháp ở Hungary, rồi được xuất bản dưới một bút danh trong một tạp chí của người Hung di tản ở Paris.

[7] Tôi đã thử nêu các đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa bằng vài dòng ngắn gọn. Các ý tưởng của tôi được trình bày chi tiết trong cuốn Hệ thống xã hội chủ nghĩa (1992, 2002).

[8] Về sự quan tâm được hun nóng đột ngột đến Marx, xem, thí dụ bài báo của tờ Times ở London (Collins 2008).

[9] Các ý tưởng của Marx về vấn đề này thường được diễn giải rằng xu hướng suất lợi nhuận giảm dần cuối cùng sẽ dẫn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến mất khả năng. Dựa vào những cân nhắc lý thuyết cũng như các sự thực lịch sử, đa số các nhà phê phán nghi ngờ bản thân xu hướng này. Về phần mình, tôi đồng ý với các nhà phê phán.

[10] Marx đã không tổng kết các ý tưởng của mình về các cuộc khủng hoảng có chu kỳ. Có lẽ những chỗ quan trọng nhất để dẫn chiếu đến ở đây là Tư bản luận tập III, chương 30. Mandel (2008) cho một tổng kết ngắn gọn về các ý tưởng của Marx liên quan đến các cuộc khủng hoảng.

[11] Hiện tượng trung tâm đối với nghiên cứu của tôi (Kornai 1980) là sự thiếu hụt kinh niên về hàng hóa và sức lao động xuất hiện trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chính là ảnh đối xứng của hiện tượng dư thừa kéo dài do Marx và Keynes mô tả, tức là hiện tượng đối xứng với nó và có dấu ngược lại.

[12] Ngày nay ở Đông Âu, ngay cả những người năm 1989 vẫn bình tĩnh dạy “chủ nghĩa duy vật biện chứng” hay “kinh tế học chính trị” [Marxist] cũng trả lời là không. Tuyên bố trên của tôi có những tiền đề cá nhân khác. Như tôi đã nói ở đầu: tôi bắt đầu như một người Marxist. Thế nhưng, tháng 11-1956, sau khi các xe tăng Soviet đã tràn vào Budapest, tôi đã tuyên bố với bí thư đảng bộ địa phương lập trường chính trị của mình: hãy ghi nhận tôi không còn là người Marxist nữa. Tuyên bố này đã gây nhiều khó khăn cho đời sống của tôi sau đó, trong một thế giới hàn lâm nơi mà theo nghĩa đen của từ bắt buộc phải là người Marxist.

Ghi chú của Ba Sàm:

– Viện sĩ Kornai János, người Hungari, có nhiều sách rất có giá trị đã được dịch ra tiếng Việt (mời xem bài 10:Điểm sách – Bằng Sức Mạnh Tư Duy).

– TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, cũng là người dịch nhiều cuốn sách của Viện sĩ Kornal János.

Một vài ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu (ngày 11,12-5-2009) sau khi đọc bài này:

1 – Tiến sĩ kinh tế Vũ Quang Việt:

Đúng như ông Kornai nói, Marx chính là đưa ra các biện luận để sau này Lenin, Stalin, Mao sử dụng xây dựng một thể chế độc tài, không phải của giai cấp mà của một hoặc một thiểu số người.   “Các chế độ đó có toàn quyền để dẫn chiếu đến Marx, vì chúng đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử vĩ đại do ông đề ra.”
…….

Tranh luận giữa  Kautsky và Lenin mà Kornai nhắc tới thì đúng là tranh luận của một con người còn quan tâm đến con người nhân bản  ” ái ngại rằng nhân danh quyền lợi của giai cấp vô sản người ta có thể bóp nghẹt ý chí của đa số, có thể lạm dụng quyền lực, thiểu số bị bỏ rơi không được bảo vệ.” với một người  như Lenin hiểu rõ quyền lực là gì nhưng lại tin  tưởng ngờ nghệch rằng (nếu ta còn có cảm tình với Lenin) con người “cách mạng ” có thể dùng quyền lực đúng đắn.

Đúng như Kornai viết:

Marx đã bỏ qua bản thân vấn đề, bỏ qua toàn bộ lĩnh vực vấn đề khó giải quyết về sự bảo vệ chế định của các quyền tự do và quyền con người. Sự khinh thường nhạo báng này [của Marx] đã ăn sâu vào Lenin và vào những môn đồ trung thành của ông.

……

Ngày nay đã có thể thấy rằng sự khinh bỉ dân chủ trong các bài viết của Marx dường như đã chuẩn bị mặt bằng mà trên đó tòa nhà chuyên chế Leninist–Stalinist–Maoist được dựng lên, đã làm tê liệt sự kháng cự chống áp bức trong những tín đồ của tư tưởng Marxian.

Vấn đề không chỉ là dân chủ vì số đông có thể bỏ phiếu đa số truất quyền của phụ nữ, truất quyền suy nghĩ độc lập như trong xã hội muslim quá khích hiện nay, và có khi có lúc trong xã hội cộng sản thời Stalin và Mao dân chúng cũng có thể sẵn sàng bỏ phiếu như thế. Vấn đề còn là quyền (tự do) của thiểu số, quyền (tự do) của cá nhân, hay nói chung là quyền con người. Tức là làm sao hạn chế quyền của những người nắm quyền lực của nhà nước. Ở chủ nghĩa xã hội thì đây là vùng trắng, vì không có thể chế cân bằng và kiểm soát quyền lực.

Các đóng góp khác về kinh tế của Marx như động lực phát triển, business cycles, phân tích động thay vì phân tích tĩnh, v.v. vẫn có giá trị về mặt tư tưởng, nhưng tôi nghĩ về mặt chuyên môn chỉ còn giá trị lịch sử.

Điều này cho thấy cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện nay sẽ đưa đến một chủ nghĩa tư bản với các pháp qui cần thiết nhằm hạn chế sự thao túng thị trường tài chính chứ không thể dẫn đến một loại chủ nghĩa Marx kiểu mới được.

2- Nhà nghiên cứu Lữ Phương:

Nhân đọc bài của Kornai viết về Marx do Nguyễn Quang A dịch, sau đó đọc thêm được mấy dòng nhận định cùa Vũ Quang Việt, do có quan tâm chút ít đến vấn đề này, tôi cũng có mấy ý nghĩ sau đây, mạo muội gửi đến quý vị tham khảo:

Trong kinh nghiệm của tôi, tôi cho rằng những nhà kinh tế, những người hoạt động chính trị, nhân danh cho những lợi ích thực tiễn để đọc Marx, rồi khen hay chê phần nhiều  đều hời hợt, không nghiêm chỉnh, không thật đáng tin. Chủ đề mà Marx đề cập là kinh tế chính trị chứ không phải kinh tế thực hành và chỗ đứng mà ông dựa vào để phê phán thứ kinh tế chính trị ấy chính là cái quan điểm triết học-chính trị của ông về con người, về lịch sử.

Những người cộng sản kiểu Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… khi theo Marx để chống lại những chính sách tư bản ăn cướp, thực dân, đế quốc đã xử sự với tư tưởng của ông theo kiểu chính trị  thực dụng. Những  tệ hại  mà họ gây  ra là sau khi đạt được mục đích rồi họ vẫn xài Marx theo cách đó: họ xem những  suy lý triết học chính trị của Marx như là kinh thánh và dùng bạo lực áp dụng vào cái gọi là “xây dựng kinh  tế”. Chẳng có gì là kinh tế trong chính sách tập thể hoá của Stalin.  Chẳng có gì là kinh tế trong những lò luyện thép gia đình của Mao. Kể cả cái gọi là “cải cách ruộng đất” của Bắc Việt Nam v.v…

Cũng xin nói thêm: cũng chẳng có gì là “mácxít’ trong những thứ quỷ quái ấy cả!

Những người theo kinh tế tư bản, dựa vào những nguyên lý kinh tế  tự do, hay  dẫn ra  một số câu của Marx để so sánh, rồi cho rằng chính Marx phải chịu trách nhiệm về những gì mà những kẻ độc tài đã nhân danh Marx để gọi là”vận dụng” vào việc xây dựng nên cái mô hình mácxít về “chủ nghỉa xã hội”, những nhà kinh tế này cũng chỉ lý sự một cách “vô duyên” không kém gì những kẻ độc tài mà họ chống lại: họ cũng hoàn toàn không chú ý gì đến cái tính chất  lôgích trong biện luận cùng với hàng loạt những điều kiện Marx đã  hình dung cho cái viễn cảnh, cũng lôgích, mà ông suy ra trong quá trình phê phán kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa thời ông.

Cũng xin nói thêm: những nhà kinh tế ấy chỉ chống một hình rơm của Marx!

Đưa ra những kết luận về sự lỗi thời của học thuyết Marx cũng là vớ vẩn – triết học không phải  là cái kiểu áo ta mặc, không có thứ triết học nào hợp thời hay lỗi thời cả – cách diễn đạt đó không khác gì cách ăn nói của những kẻ mộng du nhắm mắt nhắm mũi bảo vệ Marx như một chân lý ngàn năm. Điều đáng suy ngẫm về Marx sau hơn 150 chủ nghĩa Marx ra đời, với bao nhiêu đổi thay xảy ra trên mặt đất, không còn phải là tính khả thi hay không của nó nữa mà là sự tồn tại của những cơn đau có thật do một chế độ tư bản vô tâm, vô cảm, ngạo mạn, huênh hoang  gây ra cho con người, vẫn còn kéo dài từ khi Marx nêu ra như một nghiệm sinh,  cho đến nay có vẻ như vẫn vô phương chấm dứt.

Cũng xin nói thêm điều này:  cái thứ chủ nghĩa tư bản ấy không phải chỉ lộng hành bên Mỹ mà đang tác oai tái quái trên đất nước Việt Nam, tệ hại hơn nhiều lần!

Tất cả những xét đoán về Marx, với chúng ta ngày nay, thiết nghĩ chỉ có  bấy nhiêu đó mới đáng gọi là  quan trọng. Tôi cho rằng Kornai đã suy nghĩ về Marx như một nhà kinh tế tầm thường: theo sự trình bày của ông thì  ông theo  Marx cũng chỉ vì chính trị thực dụng, nay ông bỏ Marx mà vẫn vớt vát mấy điều để xài cho  được thì cũng chỉ vì lý do đó thôi –  chẳng có gi khác cả.

3- Trao đổi lại của Tiến sĩ Vũ Quang Việt:

Xin góp lại vài lời với anh Lữ Phương. Có những cái tôi đồng ý và có những cái không.

Marx vừa là nhà triết học, nhà kinh tế chính trị học, và nhà vận động cách mạng.

Marx với tư cách là nhà triết học thì các nhà tư tưởng và trường học sẽ không bao giờ bỏ qua được. Biện chứng pháp duy vật là đóng góp lớn của Marx và là một trong những phương pháp (không phải duy nhất) phân tích xã hội có giá trị lớn.  Điều này tôi đồng ý với anh Lữ Phương.

Với tư cách là nhà kinh tế chính trị học thì việc phân tích kinh tế tư bản ở thời Marx sống và ảnh hưởng của chúng đến xã hội và chính trị là điều các học giả vẫn cần tiếp tục học tập, kể cả phương pháp lý luận, mà có cái đã được các nhà kinh tế hiện đại sử dụng và phát triển (tôi thí dụ như mô hình vào ra và cả một phần quan trọng trong hệ thống tài khoản quốc gia nhằm đo lường nền kinh tế đang là chuẩn mực quốc tế là dựa vào Marx). Tuy nhiên nhiều phương pháp dùng để phân tích kinh tế và nhiều kết luận đã lỗi thời không còn phù hợp. Có lẽ chúng ta cũng dễ đồng ý về nhiều điểm ở đây.

Nhưng cái quan trọng có thể nói là đã ảnh hưởng lớn đến thế kỷ 20 là Marx với tư cách là nhà vận động cách mạng, mà tư tưởng của ông đã được các nhà chính trị như Lenin, Stalin, Mao tiếp nhận. Điểm này là điều không thể bỏ qua, và không thể cho rằng nó không nằm ngay trong tư tưởng của Marx. Đây chính là điều mà Kornai viết về nó. Tôi cho rằng bất cứ một nhà triết học nào bàn về con người, bàn về mâu thuẫn, bàn về biện chứng, rồi cổ võ cho một hình thức xã hội nhất định mà không bàn về quyền lực và lạm dụng quyền lực thì là điều thiếu sót lớn.

Cải cách ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai về cơ bản cũng đòi hỏi việc giải quyết vấn đề quyền lực và lạm dụng quyền lực trong xã hội. Và nói theo kiểu Marx thì đây là cuộc vận động biện chứng giữa các lực lượng trong xã hội. Tôi nói “theo kiểu” có nghĩa là tôi không dùng quan niệm đấu tranh giai cấp ở đây.

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Thẻ: , , , , , , | 4 Comments »

CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

Posted by adminbasam trên 10/05/2009

CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VIỆT NAM *

ThS. Bùi Ngọc Sơn

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

 

1. Sự tiếp thu chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam trước khi Hiến pháp năm 1946 ra đời

Khi xâm lược Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã đặt ở đây một hình thức tổ chức Nhà nước có vẻ gần giống nước Pháp, tuy nhiên có sự điều chỉnh cho phù hợp với một địa bàn ở qua xa chính quốc và phù hợp với lợi ích của thực dân. Đây là đặc điểm của hệ thống cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Khi Việt Nam bị Pháp chiếm làm thuộc địa thì Pháp đã theo chính thể cộng hoà nghị viện. Hình thức chính thể Nhà nước Pháp được ấn định trong Hiến pháp 1875. Đứng đầu Nhà nước là tổng thống do nghị viện bầu ra với nhiệm kỳ 7 năm. Tổng thống Pháp có quyền hành rất lớn và đa dạng, trong đó có quyền lập pháp đối với các thuộc địa. Năm 1887, khi liên bang Đông Dương được thành lập, trong đó có Việt Nam thì đứng đầu liên bang Đông Dương là một viên chức cao cấp người Pháp, mang chức danh toàn quyền Đông Dương do tổng thống Pháp bổ nhiệm bằng sắc lệnh, thông qua hội đồng bộ trưởng Pháp. Toàn quyên Đông Dương nắm toàn bộ các quyền lập pháp, lập quy, hành pháp, tư pháp ở Đông Dương.

Để thực hiện hiệu quả và gọn nhẹ quyền lực của mình, toàn quyền Đông Dương thi hành chính sách “ địa phương phân quyền” trên địa bàn cai trị của mình. Liên bang Đông Dương bị chia làm 5 xứ theo các thể chế chính trị khác nhau: Nam kỳ là “xứ” thuộc địa, do viên thống đốc đứng đầu, Bắc kỳ là “xứ” bảo hộ, do viên thống xứ đứng đầu, còn 3 “xứ”: Trung kỳ, Campuchia, Lào, tuy cũng là “xứ” bảo hộ nhưng mỗi xứ lại do viên khâm sứ đứng đầu.

Toàn quyền Đông Dương chỉ cần nắm lấy 5 viên chức chóp bu đó. Đến lượt mình, mỗi viên chức đứng đầu mỗi xứ đó lại nắm lấy mạng lưới những viên quan cai trị thực dân đứng đầu cấp tỉnh thuộc xứ mình cai trị. Hệ thống vua quan người “bản xứ” đều trở thành công cụ thống trị của các viên chức Pháp kể trên.1

Mô hình tổ chức quyền lực của Pháp ở Việt Nam không có một cơ sở hiến định. Đó là một chính quyền thuộc địa bất hợp hiến. Không có cở sở từ một hiến pháp dân chủ, chính quyền thuộc địa cai trị theo một lề lối tuỳ tiện, độc đoán. Điều này đã bị những người yêu nước Việt Nam lên án gay gắt, nhất là Nguyễn Ái Quốc. Từ nước ngoài, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo, tác phẩm lên án chế độ thực dân Pháp nói chung và hình thức cai trị của chúng nói riêng ở Đông Dương. Những bài viết, tác phẩm mà Người đã viết để tấn công chế độ thực dân xâm lược có thể kể đến Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm thuộc địa, công cuộc khai hoá giết người, những bài mang tiêu đề Đông Dương …, đặc biệt là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp.

Chính sự cai trị tùy tiện, lạm quyền của chính quyền bất hợp hiến của thực dân Pháp ở Việt Nam là một động lực thúc đẩy sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam. Trước tình cảnh đồng bào mình phải chịu sự lạm quyền của chính quyền thực dân, những người yêu nước Việt Nam, những người ưu thời mẫn thế của dân tộc đã nhận thấy sự cần thiết của việc giới hạn quyền lực của chính quyền bằng hiến pháp để bảo vệ các quyền và tự do của người dân. Chủ nghĩa hợp hiến ở phương Tây được dịp để du nhập và phát triển ở Việt Nam.

Chủ nghĩa hợp hiến bắt nguồn từ những ý tưởng về tự do chính trị ở Châu Âu và Mỹ như là sự bảo đảm đối với các quyền sống, quyền tài sản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng của cá nhân. Để bảo đảm những quyền đó, các tác giả của chủ nghĩa hợp hiến nhấn mạnh đến sự kiểm soát các ngành quyền lực của chính quyền, sự bình đẳng trước pháp luật, độc lập tư pháp, sự tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước. Những đại diện tiêu biểu của truyền thống này là nhà thơ John Milton, luật gia Edward Coke và William Blackstone, các chính trị gia như Thomas Jefferson và James Madison, các triết gia như Thomas Hobbes, John Locke, Adam Smith, Baron de Montesquieu, John Stuart Mill, và Isaiah Berlin. Chủ nghĩa hợp hiến hình trong trong khoảng từ thế kỷ XVII – XVIII.2

Trong thực tế tổ chức chính quyền, chiến thắng đầu tiên của chủ nghĩa hợp hiến là ở Anh vào khoảng thế kỷ XVII. Mỹ xác lập chính quyền hợp hiến vào thế kỷ XVIII, sau đó các nước Châu Âu vào thế kỷ XVI. Sự phổ biến rộng rãi của chủ nghĩa hợp hiến, dân chủ và pháp quyền dấy lên như một làn sóng vào những năm cuối thế kỷ XX. Những năm 1970 chứng kiến những chính phủ chuyên quyền phải nhượng bộ dân chủ ở các nước Địa Trung Hải – Hy Lạp, Bồ Đào Nha, và Tây Ba Nha. Hiến pháp Bồ Đào Nha có tầm quan trọng đặc biệt như hình mẫu cho những nước hậu độc tài. Năm sôi động nhất là năm 1989 – khi bức tường Berlin sụp đổ và chủ nghĩa cộng sản sụp đổ trên toàn Đông Âu.3 Các nước Châu Á xây dựng chính quyền hợp hiến vào thế kỷ XX. Thế kỷ XXI này vẫn tiếp tục chứng kiến việc các quốc gia từ bỏ chế độ quân chủ chuyên đế để bước vào xây dựng chính quyền hợp hiến. Gần đây nhất, ngày 28/5/2008. Quốc hội lập hiến Nepal đã quyết định bãi bỏ chế độ quân chủ để xây dựng chính quyền hợp hiến theo chế độ cộng hòa.

Ở phương Tây, chủ nghĩa hợp hiến được phân biệt với hiến pháp: trong khi danh từ hiến pháp (constitution) chỉ nói đến cơ cấu chính quyền của quốc gia và các quyền căn bản của công dân, danh từ chủ nghĩa hợp hiến (constitutionalism) găn liền với quan niệm về pháp quyền, nó hàm ý rõ rệt rằng chính quyền phải được giới hạn bởi các khuôn khổ pháp lý. Khái niệm chủ nghĩa hợp hiến ở phương Tây phản ánh những giới hạn đối với tự do hành động của chính quyền để bảo vệ các tự do căn bản của công dân. Chủ nghĩa hợp hiến không thể đi liền với sự độc tài. Chủ nghĩa hợp hiến gắn liền với tự do chính trị, nơi chính quyền bị giới hạn.

Những yếu tố cấu thành chủ nghĩa hợp hiến liên quan đến quyền lực của hiến pháp và nội dung của hiến pháp. Về quyền lực của hiến pháp, chủ nghĩa hợp hiến yêu cầu hiến pháp phải có quyền lực tối cao. Để bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, phải có một chế độ tài phán hiến pháp hay chế độ bảo hiến để xét xử những hành vi vi phạm hiến pháp của công quyền, và không một cơ quan nào của chính quyền được đình chỉ thi hành hiến pháp hay đơn phương sửa đổi hiến pháp. Về nội dung của hiến pháp, theo chủ nghĩa hợp hiến, hiến pháp khi ấn định cơ cấu của công quyền, để có thể giới hạn được công quyền, phải theo các nguyên tắc chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ, các quyền công dân như những giới hạn đối với công quyền, phân quyền, tư pháp độc lập.

Chủ nghĩa hợp hiến phương Tây hiện đại được du nhập ở Việt Nam rất sôi nổi trước khi bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ban hành vào năm 1946. Chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đã được du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam đặc biệt qua làn sóng Tân thư cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tinh thần pháp luật của Montesquieu và Khế ước xã hội của Rousseau, những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đã sớm được du nhập vào Nhật Bản, Trung Quốc, rồi sau đó vào Việt Nam với nhan đề được dịch lúc đó là Vạn pháp tinh lý Xã ước. Hơn nữa, vào đầu thế kỷ XX, việc giao lưu văn hoá Ta và Tây được phát triển; nhiều nhà tri thức Việt Nam có cơ hội ra nước ngoài, từ những nước phương Đông sớm có chính quyền hợp hiến theo chủ nghĩa hợp hiến phương Tây như Nhật Bản đến những nước là quê hương của chủ nghĩa hợp hiến như Pháp4.

Chủ nghĩa hợp hiến đã được tiếp thu bởi nhiều phong trào, nhiều tổ chức như: Đông Du (1904 – 1909), Duy Tân (1906 – 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), nhóm Đông Dương tạp chí, nhóm Nam Phong tạp chí, Nhóm Thanh Nghị, Đảng lập hiến ở Nam Kỳ năm 1923… Nhìn chung, có thể chia thành các khuynh hướng tiếp thu của nghĩa hợp hiến như khuynh hướng của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, khuynh hướng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, khuynh hướng của những người thân Pháp như Phạm Quỳnh, Bùi Quàng Chiêu; khuynh hướng của các nhà luật học yêu nước như Phan Anh, Vũ Đình Hòe. Những nội dung của chủ nghĩa hợp hiến như: có một bản hiến pháp để giới hạn chính quyền, chính quyền dân chủ và chủ quyền nhân dân, phân chia quyền lực, các quyền cơ bản của con người, tư pháp độc lập đã được du nhập vào Việt Nam.

[Có một bản hiến pháp để giới hạn chính quyền.] Các chí sĩ yêu nước ở Việt Nam đã sớm tiếp thu tư tưởng chính quyền được giới hạn bởi hiến pháp và mong muốn áp dụng vào Việt Nam. Có thể nói người đầu tiên đặt ra vấn đề điều tiết chính quyền bằng hiến pháp là cụ Phan Bội Châu (năm 1907). Năm 1932, nhân trả lời phỏng vấn báo Đông Tây, Phan Bội Châu khẳng định: “Tôi thiết tưởng nước ta từ xưa vẫn chưa có hiến pháp, nay lập bản hiến pháp không những là một sự hay, lại còn là một điều cần. Thế nào cũng phải có Hiến pháp, lẽ ấy tất nhiên…”. Rồi cụ phác hoạ sơ bộ: “Phần riêng tôi, tôi vẫn đã rắp trong bụng một bản hiến pháp rồi. Hiến pháp của tôi là châm chước theo Hiến pháp của các nước quân chủ như nước Anh, nước Nhật; theo Hiến pháp của các nước Mỹ, nước Đức, nước Nga… Lại phải tuỳ theo trình độ của dân ta mà lựa chọn lấy những điều thích hợp, thì mới có thể gọi là hoàn thiện được…”5 Phan Châu Trinh cũng đề cao vai trò của Hiến pháp như một công cụ để kiểm soát sự lạm quyền của nền quân chủ phương Đông. Khi từ Pháp trở về Việt Nam, trong một bài diễn văn đọc trước Hội thanh niên Sài Gòn vào cuối năm 1925, Phan Châu Trinh đã đề cập đến bản chất của chủ nghĩa hợp hiến được ứng dụng ở nước Pháp lúc bấy giờ là chính phủ bị giới hạn bởi Hiến pháp: “Trong nước đã có hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng hiến pháp. Cái quyền của chính phủ cũng bởi hiến pháp quy định cho, lười biếng không được, mà dân muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được.”6 Huỳnh Thúc Kháng, sau khi đắc cử vào Viện dân biểu Trung Kỳ, năm 1927, đã đề xuất với Toàn quyền Đông Dương lập một bản hiến pháp cho Nam triều: “ Chúng tôi sở dĩ nói đến Hiến pháp là vì có thấy rõ ở xứ Trung Kỳ này phụ thuộc dưới quyền bảo hộ gần nửa thế kỷ nay, mà chính thể trong xứ, quyền hạn không được rõ ràng, tránh nhiệm không được đảm thụ, trăm điều rắc rối bởi đó mà ra…Quốc thị đã mở mang thì nhân dân không biết đường nào xu hướng, đó là lẽ tự nhiên. Bởi vậy, để cho cuộc cai trị trong xứ được lâu dài cùng các dây liên lạc giữa người Pháp cùng người Nam được bền chặt, thì cần thiết phải có một thể chế chính trị, chia bộ phận mà có trách nhiệm, định quyền hạn mà có quy ước, để chính đốn việc lợi ích chung trong xứ. Đó là một điều cốt yếu tức là Hiến pháp vậy.”7 Khi đề nghị lập hiến để phân định quyền hạn và xác định trách nhiệm, nhằm bảo đảm lợi ích chung, Huỳnh Thúc Kháng đã nhận thấy hiến pháp chính là một giới hạn đối với quyền lực của chính quyền.

Ngoài các chí sĩ yêu nước, một số người thân Pháp như Phạm Quỳnh cùng nhóm Nam phong; Bùi Quang Chiêu cùng Đảng lập hiến ở Nam Kỳ cũng chủ trương thiết lập chính quyền hợp hiến ở Việt Nam nhưng lại dựa vào Pháp để lập chính quyền hợp hiến đó. Phạm Quỳnh chủ trương triều đình Huế cai quan xứ Bắc Kỳ và Trung kỳ phải được cải tổ thành chính quyền quân chủ lập hiến dưới sự bảo hộ của Pháp. Tiếp thu chủ nghĩa hợp hiến hiện đại, Phạm Quỳnh cho rằng: “Lập hiến là quốc vương đem một phần chính quyền của mình mà nhường cho một hội nghị thay mặt dân. Nhưng muốn nhường thì trước hết phải có quyền đã, rồi phải biết nhượng quyền ấy cho ai”8. Chính quyền hợp hiến mà Phạm Quỳnh theo đuổi là chính quyền quân chủ hợp hiến. Chế độ quân chủ lập hiến mà Phạm Quỳnh chủ trương đặt dưới sự bảo hộ của Pháp: “Như vậy, cải cách hiến pháp mà chúng ta sẽ nghiên cứu ở đây sẽ chỉ áp dụng cho Trung Kỳ và Bắc Kỳ và sẽ được thực hiện trong khuôn khổ nền quân chủ đang trị vì và chế độ bảo hộ của Pháp. Nó sẽ không có bất kỳ một tính cách mạngnào, theo nghĩa nó không làm đảo lộn các thể chế hiện tồn, mà sẽ bằng lòng với việc tổ chức lại chúng, hoàn thiện chúng, hiện đại hóa chúng, mở rộng chúng, bảo đảm cho chúng hoạt động hiệu quả bằng các tổ chức thúc đẩy và giám sát, và đặc biệt thổi cho chúng một luồng sinh khí mới”9. Nếu như vậy, vua An Nam sẽ phải dựa vào Pháp để ban hành hiến pháp: “Về nguyên tắc vua An Nam sẽ trao cho nhân dân mình bản hiến pháp này. Chúng tôi nói về nguyên tắcbởi vì không ai lại không biết rằng nhà vua không có bất kỳ một quyền lực thực tế nào, và rằng trên thực tế, chính nền Bảo hộ mới là ông chủ tuyệt đối. Như vậy, Chính phủ Bảo hộ phải giúp đỡ nhà vua ban hành Hiến pháp”10.

Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến cũng chủ trương “Pháp Việt đề huề” như Phạm Quỳnh và nhóm Nam phong. Chủ trương của Đảng lập hiến là đòi hỏi người Pháp thực hiện cho một vài cải cách ôn hoà như ban hành các quyền tự do dân chủ cho dân bản xứ. Đảng này có tham vọng một ngày nào đó được Pháp ban cho quy chế tự trị. Đảng này không chủ trương cải cách từng phần mà không lật đổ sự cai trị của thực dân Pháp ở nước ta. Bùi Quang Chiêu tuyên bố: “Lập hiến? Vâng, chúng tôi là lập hiến, bởi vì chúng tôi tán thành cho Đông Dương có một Hiến pháp như ông Toàn quyền Albert Sarraut đã nói hay là na ná như thế”11.

Đúng như cái tên của nó, Đảng lập hiến có mục tiêu xin Pháp ban cho người bản xứ một bản Hiến pháp để tổ chức chính quyền tự trị trong khuôn khổ chế độ bảo hộ, không tác khỏi nước bảo hộ.

Nhìn chung, lập trưởng của Phạm Quỳnh và nhóm Nam phong, Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến là lập trưởng cải lương. Những nhóm này tiếp thu chủ nghĩa hợp hiến nhưng khi đề nghị ứng dụng vào Việt Nam, do lập cải lương, nên đã bóp méo chủ nghĩa hợp hiến.

Bản chất của chủ nghĩa hợp hiến là giới hạn chính quyền bằng hiến pháp nhưng các nhóm này lại chủ trương dựa vào ngoại bang để lập hiến. Sẽ không thể có một chính quyền hợp hiến nếu hiến pháp của chính quyền đó do một quốc gia xâm lược ban hành. Trong một đất nước, chính quyền chỉ bị giới hạn bởi hiến pháp khi hiến pháp đó do chinh nhân dân của đất nước đó đặt ra.

Hồ Chí Minh khi đó sớm tiếp xúc với các tác phẩm về chủ nghĩa hợp hiến của các tác giả phương Tây. Điển hình nhất là tác phẩm Khế ước xã hội của Rousseau và Tinh thần pháp luật của Montesquieu. Hồi 13 tuổi, lúc còn ở nhà, Nguyễn Tất Thành đó lục tủ sách của bố đọc Rousseau và Montesquieu qua các bản dịch của nhóm Duy Tân bên Tàu. Không những nghiền ngẫm Rousseau, dịch Montesquieu, Nguyễn Tất Thành còn đọc của A. Tocqueville (tác giả cuốn Về chế độ dân chủ ở Mỹ).12 Khi đọc những tác phẩn này chắc chắn Người đã suy ngẫm về các vấn đề: chủ quyền nhân dân, dân quyền, tam quyền phân lập, tinh thần tự do trong pháp luật – những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến được trình bày trong các tác phẩm đó. Bên cạnh chủ nghĩa hợp hiến của các học giả phương Tây, cách mạng dân chủ ở Mỹ, Anh, Pháp và thực tiễn tổ chức chính quyền theo chủ nghĩa hợp hiến ở các quốc gia này cũng ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh. Không những nghiên cứu các tác giả của chủ nghĩa hợp hiến, Bác Hồ cũng tận mục sở thị chứng kiến thực tiễn vận dụng của lý thuyết đó ở các quốc gia phương Tây. Người không xa lạ gỡ với các tư tưởng quyền con người, chủ quyền nhân dân, tam quyền phân lập. Người cũng không xa lạ đối với hệ thống chính quyền tổng thống của Mỹ cũng như hệ thống chính quyền nghị viện ở Châu Âu.

Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã sớm đặt ra vấn đề lập hiến ở Việt Nam. Trước sự cai trị độc đoán, tuỳ tiện của chính quyền thực dân Pháp, từ khi còn hoạt động bí mật ở nước ngoài, Người đã sớm nhận thấy sự cận thiết của các đạo luật trong một xã hội dân chủ. Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Versailles vào đầu năm 1919 do Người khởi thảo gồm tám điểm, trong đó điểm thứ hai là: “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người dân bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu” và điểm thứ bảy là: “ thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật.”13 Sau này trong bài diễn ca với tựa đề Việt Nam yêu cầu ca (1922) phản ánh yêu sách tám điểm bằng lối thơ để dễ phổ biến, Hồ Chí Minh viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành. Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”14. Trong một bản Yêu sách khác gửi cho Hội vạn quốc, ký tên Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, và Nguyễn Ái Quốc, viết bằng chữ Việt, ngày 30/8/1926, Người cũng đề nghị: “Nếu được độc lập ngay thì nước chúng tôi: “…. Xắp xếp một nền hiến pháp về phường diện chính trị và xã hội, theo như những lý tưởng dân quyền; luật kính trọng những cái thiểu số của chủng loại (nghĩa là không xâm phạm đến những dân tộc nhỏ như Lào, Cao Miên), biết tôn trọng sự làm ăn, cốt để lập một nền Đông Dương liên bang dân chủ”15. Sau này, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ.”16 Rồi người đề nghị bầu Quốc hội để lập hiến. Qua đó, ta có thể thấy Hồ Chí Minh đã nhận thức Hiến pháp là công cụ chống chuyên đế, chống lạm quyền, để bảo vệ các quyền tự do dân chủ.

Ngoài ra, góp phần vào việc nhận thức và phổ biến chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam trên báo chí phải kể đến Nhóm Thanh Nghị, trong đó đặc biệt là các nhà luật học Phan Anh và Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe ghi lại: “Các bài của Phan Anh viết về Dân chủ và về Hiến pháp ở các nước Âu Mỹ, giúp cho nhóm Thanh Nghị và độc giả T.N khi ấy suy nghĩ về chế độ chính trị tương lai của nước nhà”17. Phan Anh đã viết nhiều bài liên quan đến chủ nghĩa hợp hiến như “lập hiến”, “vấn đề đại diện chính trị”, “chính thể tổng thống”, “dân quốc và Hiến pháp Trung Hoa” phân tích về chính quyền hợp hiến, các mô hình tổ chức chính quyền hợp hiến ở các nước Châu Âu, Mỹ, Trung Quốc. Vũ Đình Hòe cũng nêu lên việc xây dựng chính quyền hợp hiến ở Việt Nam. Ông cho rằng đã là dân chủ thì phải có hiến pháp, và hiến pháp phải do Quốc hội soạn thảo và ban hành. Quốc hội do toàn dân bầu ra bằng đầu phiếu phổ thông, cơ cấu nhà nước do Quốc hội chế định. Đó là những nguyên tắc dân quyền trở thành bất di bất dịch, được đại đa số các nước trên thế giới hiện nay chấp nhận. Có điều là dựng lên một cơ cấu Nhà nước dân chủ như thế nào thì còn khác nhau giữa các nước. Đối với nướcViệt Nam, căn cứ vào tình hình xã hội nước nhà, và yêu cầu đặt ra cho đất nước trong hoàn cảnh thế giới lúc bấy giờ, tham khảo kinh nghiệm lập hiến của các nước Âu Mỹ và của Dân quốc Trung Hoa (cách mạng Tân Hợi), Vũ Đình Hòe đã phác thảo sơ bộ mô hình chính quyền hợp hiến ở Việt Nam trong một bài viết trên báo Thanh Nghị, số 108, 5/5/1945.18 [Chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ]. Các chí sĩ yêu nước đều chủ trương chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ. Trong Tân Việt Nam, Phan Bội Châu viết:

Phàm nhân dân nước ta không cứ sang hèn, giầu nghèo, đều có quyền bỏ phiếu bầu cử.

Trên là vua nên để hay nên truất, dưới là quan nên thăng hay nên giáng, dân ta đều có quyền quyết đoán cả”. Ông cũng nhận thức rằng: “Chính phủ tức là chỉ đại biểu cho cả nước mà thôi”.19 Như vậy, cụ Phan đã nhận thức nhân dân là chủ thể của quyền lực, chính quyền do dân thành lập, là người đại diện cho nhân dân cả nước. Còn Phan Châu Trinh đã thể hiện rõ tương tưởng dân chủ của mình trong bài phát biểu bàn về quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa ở Sài Gòn. Nhận thấy các nước Châu Âu đều đã theo chế độ dân trị, so sánh quân trị và dân trị, Phan Châu Trinh cho rằng dân trị ưu thế hơn hẳn. Ông kêu gọi thiết lập chính quyền hợp hiến dân chủ ở Việt Nam: “ … Tôi nghĩ rằng vì cái độc quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc của dân Việt Nam ta, bây giờ muốn cho dân Việt Nam ta biết được nước là của chúng nó, thì phải đem cái tụi bù nhìn đó vất hết cả đi, thì nó mới có thể tìm kiếm cái nước đó là nước của ai. Mà nòi giống ta thông minh, có lẽ một ngày kia sẽ gặp thấy rằng ở trong cái miếng đất mấy ngìn năm lưu truyền lại đây, cái quyền lợi của nó hãy còn nhiều, cái quyền phép của nó cũng có nhiều, rồi nó sẽ hiểu rằng xưa nay người mà gọi rằng vua quan đó, chẳng qua là người thay mặt làm việc cho nó, nếu làm việc không xong thì nó đuổi đi cũng không có lỗi gì.”20 Rõ ràng, Phan Châu Trinh chủ trương chủ quyền là của dân chúng, chính quyền phải do dân chúng thành lập ta để đại diện nhân dân hành xử chủ quyền nhân dân; trong trường hợp chính quyền làm việc không tốt, không đem lại lợi ích cho nhân dân, nhân dân có quyền thay đổi chính quyền. Huỳnh Thúc Kháng cũng sớm nhận thấy chính thể quân chủ không còn phù hợp với nước ta về đề nghị xác lập chế độ dân chủ. tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Huỳnh Thúc Kháng đã khước từ lời mời tham gia nội các của Bảo Đại và thậm chí còn khuyên Bảo Đại: “Riêng đối với nhà vua, tôi thành thật khuyên ngài thoái vị và giao quyền cho nhân dân. Hiện trên thế giới ngày nay, chế độ quân chủ đã lỗi thời. Riêng ở Việt Nam chúng ta, trong con mắt dân chúng lại càng không nên duy trì lắm. Ngài giao quyền lại cho dân, hoạ may sẽ có những vị anh hùng trong đồng quê núi thẳm xuất đầu lộ diện làm nên việc cũng chưa biết chừng. Và như thế, riêng phần ngài cũng tự tỏ mình là người thức thời vậy.”21

Hồ Chí Minh cũng sớm chủ trương xây dựng chính quyền dân chủ, chủ quyền thuộc về nhân dân và nhà nước do nhân dân thành lập. Tháng 5/1944, trong thư gửi đồng bào cả nước, Hồ Chí Minh nhấn mạnh “Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất biến cùng toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy phải do một cuộc Toàn dân đại biểu đậi hội gồm tất cả các đảng phái cách mạng và đoàn thể ái quốc trong nước bầu ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và uy tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”22 Chương trình Việt Minh đã xác định những đường lối cách mạng Việt Nam: “Việt Nam độc lập đồng minh (nói tắt là Việt Minh) chủ trương liên hợp hết thẩy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng , các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại chiến đấu đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật giành quyền độc lập cho nước Việt Nam. Sau khi đánh đuổi được đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”.23 Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách và một trong những nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ là phải tổ chức tổng tuyển cử để bầu Quốc hội. Qua những tư liệu trên có thể thấy Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ về chính quyền dân chủ và chủ quyền nhân dân và mong muốn thực thi ở Việt Nam.

Nhóm Thanh Nghị cũng công bố nhiều bài viết, nhất là của Phan Anh và Vũ Đình Hòe về chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ. Trong bài Đại diện chính trị, Phan Anh khẳng định: “Những cuộc thảo luận về quân quyền đã thuộc về dĩ vãng. Ngay nay bất cứ thuộc đảng phái nào, bất cứ theo khuynh hướng nào, các nhà chính trị đều công nhận rằng trong một nước văn minh quốc dân phải có cơ quan đại diện để tham dự chính quyền.”

Vũ Đình Hòe giải thích thêm: “Không bàn cãi nữa: ai ai cũng công nhân “chế độ đại chính” (régime représentatif), không phải vì những lẽ thuộc về lý thuyết, mà người ta đã phải công nhận chế độ ấy vì sự cần thiết thực tế. Thật vậy, chỉ có áp dụng chế độ ấy thì người cầm quyền mới hiểu rõ dân tình, chỉ có nó mới bảo đảm cho người cầm quyền chắc chắn được nhân dân ủng hộ. Mà nhà cầm quyền nào, nhóm cầm quyền nào, giai cấp nào cầm quyền trong giai đoạn văn minh này của loài người lại tồn tại được nếu không nhậy bén thấu rõ nhân tình, nếu không có nhân dân ủng hộ sâu rộng.”24

Qua những bài viết trên báo, Nhóm Thanh Nghị đã thể hiện rõ nhận thức về chính quyền dân chủ, chủ quyền nhân dân mà chủ trương xây dựng nó ở Việt Nam. Những lập luận của Phan Anh và Vũ Đình Hòe trên đây cho thấy họ nhận thực rằng chính quyền dân chủ là xu hướng tất yếu của lịch sử, là sự cần thiết của thực tế, là điều kiện tồn tại của chính quyền trong một xã hội văn minh.

[Dân quyền] Tư tưởng về dân quyền trong hiến pháp cũng được các sĩ phu yêu nước tiếp thu. Phan Bội Châu làm thơ để diễn đạt các tư tưởng về các quyền hiến định của công dân: “Miệng có quyền nói, óc có quyền suy. Chân có quyền đi, tay có quyền đẩy. Mắt có quyền thấy, tai có quyền nghe. Đất nọ xứ kia có quyền dời ở. Viết sách làm vở, quyền bút mặc lòng. Hội hè việc chung, có quyền nhóm họp. Thợ thuyền giúp đáp, quyền được chung nhau. Buôn bộ bán tầu thông thương tuỳ tiện. Trải xem pháp hiến các nước văn minh. Quyền lợi rành rành của dân dân được” 25. Như vậy, cụ Phan đã yêu cầu một cách khá toàn diện về các quyền của công dân: tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do thông tin, tự do hội họp, tự do kinh doanh, tự xuất ngoại. Các quyền này được cụ quan niệm như là các quyền tự nhiên của người dân được ghi nhận rõ ràng trong các hiến pháp. Đối với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đã nhận xét trong buổi tang lễ Phan Châu Trinh rằng: “Chủ nghĩa tiên sinh là đánh đổ chuyên chế, là dân quyền tự do.” Phan Châu Trinh sớm tiếp cận với những tư tưởng dân quyền của Pháp qua phong trào Tân thư nên có ý noi gương Pháp thực thi dân quyền vì Ông cho rằng “Nước Pháp là nước đẻ ra dân quyền cho thế giới.”

Cũng như Phan Châu Trinh, tinh thần dân quyền trong “Khế ước xã hội” của triết gia người Pháp Rousseau không xa lạ đối với ông. Ông nhận thức rằng trong chế độ quân chủ chuyên chế, dân bị coi khinh. Khi chế độ quân quyền sụp đổ thì dân quyền được thịnh lên và người dân được tôn trọng. Ông cũng đã đề cập đến các quyền bình đẳng, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do thân thể, tự do đời tư. Ông lên án cách cai trị tùy tiền của giới cầm quyền bảo họ xâm phạm vào các quyền này.

Đặc biệt vấn đề quyền con người ở Việt Nam cũng đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Từ những ngày còn hoạt động các mạng ở Pháp, người đã đề cập đến việc nếu được độc lập thì Việt Nam sẽ xếp đặt một nền hiến pháp theo như lý tưởng dân quyền. Trong bản Yêu sách của nhân ân An Nam, Người đã yêu cầu đầu đủ về dân quyền: 1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; 2. Cải cách công lý ở Đông dương bằng cách cho dân bản xứ cũng được hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu Châu; xoá bỏ hoàn toàn và triệt để các toà án đặc biệt dùng làm công cụ khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam; 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;4. Tự do lập hội hội họp; 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và xuất dương; 6. Quyền Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; 7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; 8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ26. Có người đã đánh giá Bản yêu sách này có dáng dấp ban đầu của một “Tuyên ngôn về quyền con người của Việt Nam”27. Đó chính là những quyền cơ bản của con người mà sau này nhiều nội dung đã được phản ánh trong hiến pháp đầu tiên của dân tộc.

[Phân quyền] Phan Bội Châu đã đề cập đến sự phân quyền giữa lập pháp và hành pháp: “Hình pháp, chính lệnh, thuế khoá, tiêu dùng đều do Nghị viện quyết định (…) Chính phủ không được can thiệp vào. Hằng năm đến kỳ Nghị viện họp, các nghị viên tụ tập đông đủ.

Chính phủ phải trình bầy dự án trước nghị hội. Nghị hội tức là nhân dân. Những điều nhân dân cho là phải, Chính phủ không thể không làm; những điều nhân dân cho là trái, Chính phủ không được làm. Tuy rằng sắc chiếu của Hoàng đế rất là đáng tôn trọng, nhưng nếu nghị viện không đồng ý thì cũng phải thu hồi mệnh lệnh đó”28. Phan Châu Trinh chủ trương tam quyền phân lập giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo ông, quyền lập pháp thuộc về Nghị viện; quyền hành pháp thuộc về Giám quốc (Tổng thống) do Nghị viện bầu ra; quyền tư pháp giao cho các cơ quan xét xử độc lập với hai cơ quan kia. Ông nói: “Đó là theo cái lẽ ba quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp đều riêng ra, không hiệp lại trong tay một người nào”29. Huỳnh Thúc Khánh cũng đi theo tinh thần của chế độ đại nghị được xây dựng trên hiến pháp, có sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Phạm Quỳnh chủ trương dựa vào Pháp để xây dựng chính quyền hợp hiến nhưng mô hình chính quyền đó cũng được thiết kế theo chế độ phân quyền giữa lập pháp và hành pháp. Phạm Quỳnh đã phác thảo một cách sơ bộ cấu trúc của chính quyền hợp hiến theo kiểu quân chủ hợp hiến: “Vua sẽ là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Ông sẽ cai quản đất nước dưới sự giám sát của Chính phủ Bảo hộ thông qua các bộ chịu trách nhiệm trực tiếp trước mình và trước Chính phủ Bảo hộ và, cũng giống như ở Nhật Bản, trong chừng mực nhất định, vua chịu trách nhiệm trước một Quốc hội đóng vai trò của một Nghị viện…Nghị viện gồm một viện duy nhất cho Trung Kỳ và Bắc kỳ được bầu theo cổ phiếu hạn chế theo các phương thức sẽ được thay đổi tùy theo tình hình đất nước. Giống như Chính phủ, Quốc hội đưa ra sáng kiến về luật, nhưng các dự luật được Quốc hội hay Chính phủ đệ trình đều sẽ được thảo luận ở một Tham chính viện30 gồm các chuyên gia Pháp và Nam.

Quốc hội sẽ có quyền giám sát các hoạt động của Chính phủ; sẽ có thể yêu cầu các bộ trưởng chịu trách nhiệm cá nhân về việc quản lý bộ mình ra điều trần, nhưng sẽ không thể bãi miễm bộ trưởng bằng lần bỏ phiếu đầu tiên”31. Mô hình phân quyền của Phạm Quỳnh khá giống với mô hình phân quyền của các chính thể đại nghị như ở Anh và Pháp vào lúc đó. Luật sư Phan Anh, một trí thức yêu nước, lại có khuynh hướng xây dựng một chính quyền hợp hiến phân quyền theo kiểu chế độ tổng thống của Mỹ. Theo Phan Anh, ở những nước theo chính thể đại nghị (chính thể nghị viện) thì quyền lập pháp lấn quyền hành chính32 mà do đó Chính phủ nhu nhược; ở những nước theo chính thể độc tài, thì quyền hành chính lấn át quyền lập pháp mà vì vậy chính phủ lộng quyền. Tất nhiên ta có thể tưởng tượng ra một chính thể trong đó hai quyền pháp, chính được ngang hàng, dân quyền không bị uy hiếp mà chính phủ cũng đủ thế lực mà đối phó với thời cục (…) Ở hoàn cầu, hiện nay có một vài chính thể gần tới được mức thăng bằng ấy. Ta có thể kể đến chính thể tổng thống (Gouvernment Présidentiel). Hoa Kỳ là một điển hình của chính thể ấy. Nghị viện, nhất là Hạ viện là một cơ quan đại diện quốc dân rất xứng đáng, ở mỗi khóa có hai năm nên giữa Nghị viện với quốc dân không có bức tường thời gian ngăn cách. Nghị viện không bị quyền hành chính giải tán được như ở các chính thể đại nghị nên địa vị công hiệu và vô tư. Mặc khác, quyền hành chính của Tổng thống mạnh hơn chính thể đại ngghị nhiều. Tổng thống trực tiếp cầm quyền hành chính. Giúp việc có mấy vị Bộ trưởng hoàn toàn thuộc quyền của Tổng thống, chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống mà thôi. Tổng thống do nhân dân bầu nên với nhiệm kỳ bốn năm. Chính thể tổng thống có thể có hiệu lực của chính thể độc tài mà vẫn toàn vẹn tinh thần dân chủ. Vì có được nhân dân tín nhiệm thì Tổng thống mới mong sau bốn năm được bầu lại.33

Vũ Đình Hòe cũng chủ trương xây dựng chính quyền hợp hiến phân quyền ở Việt Nam. Ông đề nghị: 1. Phân biệt quyền lập pháp và quyền hành chính. Nghị viện giữ quyền lập pháp. Chỉ có một Nghị viện, để công việc lập pháp được nhanh chóng và tinh thần Nghị viện được tấp tiến; 2. Quyền hành chính cần phải được to, rộng và không dễ bị nghị viện đáng đổ. Để Chính phủ có đủ sức mạnh mà làm việc, nhất là trong những lúc phải cải tổ quốc gia mà chính quyền phải tập trung vào một người. Nếu là dân quốc thì theo chế độ tổng thống, nếu còn vua thì quyền hành sẽ tập trung vào tay Tổng lý Nội các34, chứ không trong tay vua, vì vua không chịu trách nhiệm trước Nghị viện.(…); 3. Nghị viện sẽ một phần gồm những đại biểu của nhân dân bầu lên, một phần gồm những đại biểu của nghề nghiệp.(…)35

Như vậy, có thể thấy rằng Nhóm Thanh Nghị có khuynh hướng xây dựng mô hình chính quyền hợp hiến theo chế độ phân quyền cứng rắn. Phan Anh thể hiện rõ lập trường này. Vũ Đình Hòe thì không dứt khoát. [Tư pháp độc lập] Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, vấn đề tư pháp độc lập không được đề cập nhiều. Trong số các chí sĩ yêu nước thì có Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Khang có nói đến vấn đề tư pháp độc lập với hai ngành quyền lực còn lại. Nhưng nhìn chung các chí sĩ tập trung vào vấn đề phân quyền giữa lập pháp và hành pháp nhiều hơn. Hồi Ký Thanh Nghị của Vũ Đình Hòe cho biết ông Bùi Tường Chiều có nên trong báo Thanh Nghị số 110 tháng 5 – 1945 sự cần thiết phải phân quyền giữa tư pháp với hành chính căn cứ vào một thực tế khốn nạn ở Việt Nam trước đây: dưới chế độ thực dân Pháp, viên chánh án người Việt lệ thuộc hoàn toàn vào viên Công sứ người Pháp (hoặc Thượng thư Bộ Hình của Nam triều thật ra cả Thượng thư lẫn Triều đình thì cũng đều tuân theo lệnh của Khâm sứ và Toàn quyền Pháp.36 Mãi sau này, khi Hiến pháp 1946 đã được soạn thảo rồi mới có một cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề độc lập tư pháp trên báo Sự thật vào năm 1948. Trong đó nổi bật là các bài tranh luận của Quang Đạm, Vũ Trọng Khánh. Vũ Đình Hòe cũng tham gia tranh luận về vấn đề tư pháp độc lập trên Tạp chí Độc lập.

Qua tìm hiểu về sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam có thể thấy những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến đã được du nhập và phát triển ở Việt Nam, tuy nhiên không phải là tất cả. Chẳng hạn, không thấy người ta nhấn mạnh đến sự tối thượng của hiến pháp, và hệ quả tiếp theo của nó là không thấy người ta đề cập đến chế độ tài phán hiến pháp (chế độ kiểm tra của ngành tư pháp đối với tính hợp hiến của ngành lập pháp và hành pháp). Sự du nhập và phát triển của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam diễn ra rất sôi nổi, với nhiều phong trào, nhiều người, với nhiều quan điểm khác nhau. Có thể nói trong lịch sử lập hiến ở Việt Nam, không có giai đoạn nào lại có nhiều luồng tư tưởng khác nhau, nhiều qua điểm trái chiều trong quá trình vận động để đi đến một chính quyền hợp hiến như giai đoạn này. Sẽ không tìm thấy tinh thần này trong quá trình xây dựng các bản hiến pháp 1959, 1980, 1992. Càng đến sát với quá trình soạn thảo hiến pháp 1946, chủ nghĩa hợp hiến càng được phổ hiến ở Việt Nam với những nội dung rất chi tiết. Điều này thể hiện rõ nhất qua các bài viết của Phan Anh, Vũ Đình Hòe trên báo Thanh Nghị về bản chất của hiến pháp, chính quyền địa diện, phân chia quyền lực…

2. Sản phẩm của sự tiêp thu chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam (Hiến pháp 1946)

Như vậy, ta thấy rằng trước khi xây dựng bản hiến pháp đầu tiên của dân tộc vào năm 1946, chủ nghĩa hợp hiến đã được du nhập và phát triển ở Việt Nam. Điều này tất yếu ảnh hưởng đến việc xây dựng bản Hiến pháp Việt Nam đầu tiên. Những nỗ lực du nhập chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam, qua một quá trình sàng lọc những yếu tố tích cực, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, đã đúc kết thành bản hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946. Bản hiến pháp 1946 là thành quả của quá trình du nhập và phát triển chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam.

Cách thức lập hiến và thành phần tham gia lập hiến là những yếu tố cần thiết để tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến có thể được chuyển tải vào quá trình xây dựng hiến pháp 1946.

Uỷ ban dự thảo hiến pháp do Chính phủ thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm chủ tịch đã soạn thảo một dự thảo hiến pháp đem lấy ý kiến rộng rãi của dân chúng. Sau đó, Tiểu ban dự thảo Hiến pháp mới do Quốc hội thành lập trong khoá họp đầu tiên ngày 02/3/1946 gồm 11 người, phân chia giữa các chính đảng như sau: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt (Dân chủ), Đỗ Đức Dục (Dân chủ), Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi (Việt Minh), Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ (Việt Cách), Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ (Việt Quốc), Nguyễn Thị Thục Viên.37 Bản dự thảo hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được soạn thảo xong và được công bố tháng 11/1945. Tiểu ban Hiến pháp do kỳ họp thứ nhất của Quốc hội cử ra đã tiếp tục nghiên cứu dự thảo hiến pháp. Uỷ ban kiến quốc của Chính phủ cũng tự nghiên cứu và đưa ra một dự thảo. Căn cư vào bản dự án của Chính phủ đưa ra, đối chiếu với bản dự thảo của Uỷ ban kiến quốc, tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm về hiến pháp của các nước Âu – Á, Tiểu ban soạn thảo một dự án Hiến pháp đệ trình Quốc hội38. Thành phần trong Quốc hội đầu tiên có đại diện của các đảng phái khác nhau. Do sự đa thành phần đảng phái trong Quốc hội, trong Tiểu ban dự thảo hiến pháp do Quốc hội thành lập, việc tham khảo kinh nghiệm về hiến pháp của các nước Âu – Á, các khuynh hướng của chủ nghĩa hợp hiến khác nhau sẽ được phản ánh trong Hiến pháp. Dưới đây chúng tôi sẽ chứng minh các yếu tố của chủ nghĩa hợp hiến trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946.

Cách thức lập hiến đúng tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến. Trong sắc lệnh 14 ngày 8.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ: “ Xét thấy nhân dân Việt Nam do Quốc dân Đại hội thay mặt mình là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hoà”. Điều này thể hiện rõ trong Lời nói đầu của Hiến pháp 1946: “ Được quốc dân trao cho trách nhiệm thảo bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng…”. Chủ thể của quyền lập hiến ở đây là quốc dân. Quốc hội là chủ thể được quốc dân bầu ra để đại diện quốc dân thực hiện quyền lập hiến. Quốc hội ban hành ra Hiến pháp năm 1946 là Quốc hội lập hiến. Trong Hiến pháp 1946, ta thấy có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp. Trong Lời nói đầu, Hiến pháp có chữ “Quốc hội”. Trong phần nội dung có chương III về “Nghị viện nhân dân”. Điều này cho thấy sự phân biệt giữa Quốc hội lập hiến và Quốc hội lập pháp. “Quốc hội” ở Lời nói đầu là để chỉ Quốc hội lập hiến. Còn, “Nghị viện nhân dân” ở Chương III là Quốc hội lập pháp.

Điều rõ thấy hơn là khi điều chỉnh về nghị viện nhân dân, Hiến pháp chỉ ấn định: “Nghị viện nhân dân…đặt ra pháp luật…” tức là có quyền lập pháp, chứ Hiến pháp không quy định Nghị viện nhân dân có quyền lập hiến.

Bản Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua và Quốc hội cũng quyết định không phải đem trưng cầu dân ý nữa. Do hoàn cảnh lịch sử mà Hiến pháp 1946 chưa được thiết lập bằng con đường trưng cầu dân ý. Hiến pháp được thiết lập bằng con đường Quốc hội lập hiến. Theo phương thức này sau khi ban hành xong hiến pháp, Quốc hội lập hiến hết nhiệm vụ. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta lúc bấy giờ, việc bầu Nghị viên nhân dân theo quy định của Hiến pháp chưa thể tổ chức được. Quốc hội chưa hết nhiệm vụ mà cần tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu được Nghị viện nhân dân.39 Như vậy, Quốc hội lập hiến được duy trì thành Quốc hội lập pháp.

Về sửa đổi hiến pháp, ta cũng thấy hiến pháp 1946 không cho phép một cơ quan nào của chính quyền đơn phương sửa đổi hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp cưng tính. Điều 70 của Hiến pháp quy định: “Sửa đổi hiến pháp phải theo cách thức sau đây: a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu; b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi; c) những điều đã được thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.” Như vậy, chủ thể đề nghị sửa đổi hiến pháp được trao cho cơ quan lập pháp. Tính chất đặc biệt so với việc sửa đổi thường luật là ở chỗ phải có 2/3 tổng số nghị viên yêu cầu. Hiến pháp áp dụng phương thức nhân dân trực tiếp tham gia sửa đổi hiến pháp. Điều này phản ánh tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây: chính quyền không thể đơn phương tu chính hiến pháp.

Hiến pháp cũng khẳng định chủ quyền nhân dân và chính quyền dân chủ. Hiến pháp 1946 khẳng định nguyên tắc; “Tất cả quyền hành trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giầu nghèo, giai cấp, tôn giáo.” Chính quyền theo hiến pháp 1946 là một chính quyền dân chủ: dân bầu Nghị viện nhân dân, và cơ quan này thành lập ra chính phủ.

Hiến pháp cũng khẳng định các quyền cơ bản. “Đảm bảo các quyền tự do dân chủ” được xác định là một trong những nguyên tắc của Hiến pháp. Hiến pháp đã xác nhận những quyền sau đây của công dân: Các quyền chính trị: quyền bình đẳng về mọi phương diện (Điều thứ 6); quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được tham gia chính quyền (Điều thứ 7); quyền của quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phường diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8); quyền bình đẳng nam nữ (điều thứ 9); những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam ( điều thứ 16). Đặt biệt trong các quyền chính trị có các quyền bầu cử, quyền ứng cử (Điều thứ 18); quyền bãi miễn các đại biểu dân cử (điều thứ 20); quyền phúc quyết về Hiến pháp và những vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia (Điều thứ 21); Các quyền tự do cá nhân: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và nước ngoài (Điều thứ 10); quyền tự do thân thể; quyền bất khả xâm phạm nhà ở và thư tín trái pháp luật (Điều thứ 11); Các quyền kinh tế – xã hội: quyền tham gia vào công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); quyền tư hữu tài sản (Điều thứ 12); quyền được bảo đảm quyền lợi của giới cần lao trí thức và chân tay (Điều thứ 13); quyền được giúp đỡ của người già cả hoặc tàn tật; quyền được chăm sóc về mặt giáo dưỡng của trẻ con. (Điều thứ 14); Các quyền về văn hoá: quyền được giáo dục ở bậc sơ học không phải trả học phí, quyền của quốc dân thiểu số được học bằng tiếng của mình ở các địa phương, học trò nghèo được Chính phủ giúp; trương tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước (Điều thứ 15).

Dù không trực tiếp khẳng định việc phân quyền, nhưng các ngành quyền lực trong hiến pháp gồm ba ngành phân công khá mạch lạc: Nghị viện nhân dân là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, toà án là cơ quan tư pháp. Ở đây chưa có Viện kiểm sát nhân dân để bảo đảo sự thống nhất quyền lực về Nghị viện; Chính phủ không phải là cơ quan chấp hành của Nghị viện nhân dân. Xét cụ thể người ta có thể tìm thấy nhiều điểm tương đồng của mô hình tổ chức chính quyền theo hiến pháp 1946 với các mô hình chính quyền hợp hiến ở phương Tây vào lúc đó. Cụ thể như: quyền phủ quyết tương đối của Chủ tịch nước (giống chính thể tổng thống); chế độ miễn trừ của Nguyên thủ quốc gia (giống chính thể nội các); quyền bất tín nhiệm của Nghị viện đối với nội các (giống chính thể nội các).

Vấn đề độc lập tư pháp cũngđược khẳng định trong hiến pháp. Hiến pháp có một chương riêng (chương VI) quy định về việc tổ chức cơ quan tư pháp độc lập. Hiến pháp trực tiếp khẳng định: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được phép can thiệp.” (Điều 69) Như vậy, về hình thức lẫn nội dung, Hiến pháp 1946 phản ánh khá rõ tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến. Tuy nhiên, phản nói rằng Hiến pháp 1946 không chỉ phản ánh chủ nghĩa hợp hiến mà còn cả quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về hiến pháp. Trước khi xây dựng bản hiến pháp này, ở Việt Nam đã tồn tại hai luồng tư tưởng về hiến pháp là chủ nghĩa hợp hiến và tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về hiến pháp. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp nhân dân ta cách mạng thành công, giành lại chính quyền, độc lập dân tộc. Vì vậy, hệ quả đương nhiên là chủ nghĩa hợp hiến Mác – Lênin sẽ ảnh huởng đến tinh thần của Hiến pháp đầu tiên ở nước ta. Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 không giống như các hiến pháp sau này, không khẳng định sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Hơn nữa, không có một tư tưởng duy nhất chỉ đạo tinh thần hiến pháp 1946. Vì vậy, cả hai luông tư tưởng về hiến pháp là chủ nghĩa hợp hiến và tư tưởng về hiến pháp của chủ nghĩa Mác – Lênin đều có khả năng tác tộng đến quá trình xây dựng hiến pháp.

Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống triết học và trong đó có một bộ phận về quan niệm về hiến pháp. Quan niệm về hiến pháp cua chủ nghĩa Mác – Lênin không giống với chủ nghĩa hợp hiến ở phương Tây. Mác cho rằng Hiến pháp được thông qua khi cuộc đấu tranh giai cấp đã dành được thế cân bằng (ổn định), khi mối quan hệ giữa giai cấp mới được hình thành, cho phép các thế lực thống trị đi đến thoả hiệp với nhau. Trong bức thư gửi Bơlốc ngày 20 – 22 tháng 9 năm 1980, Ăng – ghen cho rằng hiến pháp của các nước bao giờ cũng là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và do giai cấp chiến thắng làm ra sau khi đã dành được thắng lợi và nắm được chính quyền. Là người bảo vệ chủ nghĩa Mác, Lênin cũng cho rằng thực chất của Hiến pháp là ở chỗ những luật pháp cơ bản của nhà nước nói chung và những luật có liên quan đến phương thức bầu cử vào các cơ quan đại nghị đóthể hiện so sánh thực chất các lực lượng trong cuộc đấu tranh giai cấp.40

Như vậy, trong quan niệm của chủ nghĩa Mác, hiến pháp tư sản chỉ là công cụ trong tay giai cấp tư sản, thể hiện ý chí của giai cấp tư sản, là một hình thức để giai cấp tư sản tổ chức bộ máy thống trị giai cấp công nhân và những người lao động khác. Hiến pháp xã hội chủ nghĩa cũng mang bản chất giai cấp, là công cụ của giai cấp vô sản trong việc thực hiện chuyên chính vô sản, tổ chức bộ máy chính quyền của giai cấp vô sản. Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản” được viết theo lối Hỏi – Đáp, trả lời của Ăng-ghen cho câu hỏi “Những người cộng sản sẽ có thái độ như thế nào đối với các chính đảng khác trong thời đại của chúng ta?” có đoạn: “Ở Mỹ là nơi đã có hiến pháp dân chủ, người cộng sản sẽ cần phải ủng hộ chính đảng muốn quay bản hiến pháp đó chống lai giai cấp tư sản và muốn dùng bản hiến pháp đó để mưu lợi cho giai cấp vô sản, tức là ủng hộ chính đảng của những người ủng hộ cải cách ruộng đất trong nước.”41

Chủ nghĩa Mác không quan niệm hiến pháp là một công cụ giới hạn quyền lực nhà nước như quan niệm của chủ nghĩa hợp hiến tự do ở phương Tây; ngược lại hiến pháp là một công cụ tổ chức việc cai trị. Do đề cao chuyên chính vô sản, chủ nghĩa Mác đề cao quyền lực của nhà nước; và do đó hiến pháp không được xem như một công cụ tiết chế quyền lực nhà nước. Với tư cách là một hình thức tổ chức chính quyền chuyên chính vô sản, hiến pháp xã hội chủ nghĩa phải đặt trong mục tiêu chung của giai cấp vô sản là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, hiến pháp là một hình thức định hướng cho nhà nước và xã hội tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hiến pháp xã hội chủ nghĩa không phải ấn định nên các định chế trung lập mà phải hỗ trợ và thúc đẩy, định hướng cho các định chế vận hành theo chủ nghĩa xã hội.

Điều này dẫn đến các quy định của hiến pháp về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, việc tổ chức chính quyền dựa theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế, văn hoá, xã hội chủ nghĩa, các quyền công dân được thực hiện theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Những quan niệm trên của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng được phàn ánh ở một mức độ nhất định trong Hiến pháp 1946. Hiến pháp thiết lập một mô hình chính quyền vừa phân phân công quyền lực nhưng vẫn tập quyền. Đại biểu Đào Trọng Kim nhấn mạnh: Hiến pháp phản ánh được nguyện vọng của dân chúng. Chế độ tập quyền và phân công rất thích hợp để có thể ứng phó mau lẹ với thời cuộc luôn luôn biến chuyển. Khuất Duy Tiến đã tranh luận với Phạm Gia Đỗ và nói Hiến pháp Việt Nam rất cấp tiến. Chính thể của nước Việt Nam là chính thể tập quyền và phân công rõ ràng.42

Điều này thể hiện rõ nhất ở tính tối cao của Nghị viện nhân dân, một yếu tố để bảo đảm nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp 1946 quy định: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất cuả nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Hiến pháp trao cho Nghị viện quyền: “Giải quyết những vấn đề chung cho toàn quốc” (Điều 23). Để bảo đảm sự thống nhất quyền lực, Nghị viện nhân dân được cơ cấu theo chế độ một viên. Chế độ một viện là có ý nghĩa bảo đảm sự thống nhất của quyền lực. Tổ chức lướng viện để viện nọ kiềm chế viện kia là một giải pháp không thích hợp với Viêt Nam. Vào thời điểm ban hành Hiến pháp 1946, Việt Nam cần sự thống nhất cao độ về quyền lực để tiếp tục tổ chức công cuộc kháng chiến. Hơn nữa, Việt Nam không có giai cấp quý tộc, không có chế độ liên bang nên thành lập một viện thứ hai là không cần thiết.

Do sự tập trung quyền lực về Nghị viện nhân dân, Chính phủ không được quy định là cơ quan hành pháp mà chỉ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Mặc dù Hiến pháp chưa xác định sự phụ thuộc của Chính phủ vào cơ quan lập pháp như các hiến pháp sau này nhưng việc coi Chính phủ là cơ quan hành chính cũng nói lên tính chất phụ thuộc của Chính phủ. Hành chính cũng có nghĩa là chấp hành, không như hành pháp là hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, mang tính chủ động. Mặc dù Nội các có thể bị Nghị viện bất tín nhiệm tập thể lẫn cá nhân nhưng không có một chế tài ngược lại của Chính phủ đối với Nghị viện nhân dân. Không giống như các chính quyền hợp hiến ở Châu Âu, chính quyền hợp hiến theo Hiến pháp 1946 không chấp nhận cho Nguyên thủ quốc gia quyền giải tán Nghị viện. Điều này bảo đảm được tính thống nhất quyền lực về Nghị viện nhân dân. Đặc biệt là để bảo đảo tính tối cao của Nghị viện nhân dân, luật của nghị viện không bị xét xử bởi toà án. Hiến pháp 1946 chưa xác lập một chế độ tài phán hiến pháp.

Như vậy, bản hiến pháp Việt Nam năm 1946 đã phản ánh cả tinh thần của chủ nghĩa  hợp hiến phương Tây lẫn tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin. Mô hình chính quyền này mang dấu ấn của ba mô hình chính quyền hợp hiến đã tồn tại trên thế giới vào lúc bấy giờ: hai mô hình chính quyền theo chủ nghĩa hợp hiến phương Tây là tổng thống chế (Nguyên thủ quốc gia vừa đứng đầu nhà nước vừa lãnh đạo Chính phủ, có quyền phủ quyết); nội các chế (nội các do nghị viện thành lập, có thể bị nghị viện bất tín nhiệm); mô hình chính quyền cộng hoà xô viết theo chủ nghĩa Mác – Lênin (Nghị viện nhân dân có quyền cao nhất, không bị giải tán, Chính phủ là cơ quan hành chính).

3. Bước thoái trào và tương lai của chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam.

Khi chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ đạo tinh thần lập hiến ở Việt Nam từ năm 1959 trở đi, chủ nghĩa hợp hiến trở nên thoái trào.. Ba bản hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều là các bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa, được ban hành với tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiến pháp nhưng hiến pháp không được quan niệm như chủ nghĩa hợp hiến là một công cụ để giới hạn quyền lực của nhà nước. Thay vào đó, hiến pháp được hiểu có tính giai cấp, là công cụ thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân. Hiến pháp không phải là một bản văn trung lập mà có định hướng rõ rệt: điều tiết chính quyền để đạt tới xã hội chủ nghĩa.

Do hiến pháp không được quan niệm là công cụ giới hạn quyền lực nhà nước nên hiến pháp thiếu những công cụ kiểm soát quyền lực. Hiến pháp được ban hành vởi Quốc hội, một cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất vừa có quyền lập hiến vừa có quyền lập pháp.43 Việc lập hiến cũng như tu chính hiến pháp không đòi hỏi bắt buộc phải thông qua trưng cần dân ý. Do không có Quốc hội lập hiến riêng, phân biệt với Quốc hội lập pháp thông thường, và không có trưng cầu dân ý khi lập hiến nên có thể nói chủ quyền lập hiến thuộc về Quốc hội lập pháp chứ không phải thuộc về nhân dân. Một Quốc hội vừa có quyền lập pháp lại vừa có quyền lập hiến, không cần trưng cầu dân ý, đương nhiên không bị giới hạn bởi hiến pháp.

Các hiến pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đều khẳng định chủ quyền thuộc về nhân dân và xây dựng chính quyền dân chủ nhưng các hiến pháp 1980, 1992 đã cụ thể hóa cơ sở mang tính xã hội chủ nghĩa của “nhân dân” là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức44.

Các hiến pháp xã hội chủ nghĩa đều quy định về các quyền cơ bản của công dân nhưng điều này không giống với tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến. Sự khác biệt đó thể hiện trước tiên ở chỗ hiến pháp liệt kê rất nhiều quyền của công dân trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, không chỉ có các quyền tư do cá nhân, các quyền chính trị. Các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội này có mục đích để cho xã hội phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa. Việc người dân hành xử các quyền đó không phải là không theo một chiều hướng nào mà phải theo chiều hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện ở chỗ việc thực hiện các quyền đó đều theo quy định, kế hoạch của nhà nước. Chính vì vậy các văn thức quen thuộc trong việc quy định các quyền này là: nhà nước có kế hoạch, nhà nước quy định, nhà nước cho phép, nhà nước có chính sách…Các quy định về quyền công dân nhưng thường mở đầu bằng “Nhà nước…” đặc biệt là trong Hiến pháp 1980, 1992. Các Hiến pháp này đặt nhà nước ở vị trí chủ thể trong quan hệ với công dân và các quyền công dân do nhà nước xác lập và hành xử theo ý chí của nhà nước. Đặc biệt hơn, bản Hiến pháp 1980 quy định những quyền kinh tế, văn hoá, xã hội quá lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện được trong chủ nghĩa xã hội như quyền có việc làm (điều 58); quyền học không phải trả tiền (điều 60); quyền khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền (điều 61); quyền có nhà ở (điều 62).

Một sự khác biệt nữa là đối với các quyền tự do, hiến pháp xã hội chủ nghĩa, khác với tư duy của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây, không coi các quyền này là các quyền tự nhiên và là một giới hạn đối với công quyền vì chủ nghĩa hợp hiến Mác – Lênin không quan niệm công quyền là đối tượng cần phải được giới hạn bởi hiến pháp. Các quyền tự do không được quan niệm là các quyền tự nhiên mà là các quyền do nhà nước xác lập nên phải được hành xử trong khuôn khổ nhà nước cho phép. Ví dụ, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, biểu tình được Hiến pháp 1980 quy định là phải “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân” (điều 67), và theo Hiến pháp hiện hành thì phải “theo quy định của pháp luật” (điều 69). Về mô hình tổ chức chính quyền, các hiến pháp xã hội chủ nghĩa đều thiết kê nên một hệ thống chính quyền dựa theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Theo, đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, là nơi thống nhất quyền lực, các định chế quyền lưc ở trung ương đều do Quốc hội thành lập, phân nhiệm cho quyền hạn, chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, không được đi ngược lại ý chí của Quốc hội.45 Quyền lực nhà nước ở Việt Nam không được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền và kìm chế đối trọng.

Quốc hội là cơ quan lập pháp, nhưng Chính phủ không được quy định là cơ quan hành pháp và Tòa án cũng không được quy định là cơ quan tư pháp. Các công cụ kiểm soát quyền lực không có như: phủ quyết luật của Quốc hội, bất tín nhiệm nội các, giải tán Quốc hội, chế độ tài phán hiến pháp, điều trần…

Bước vào thị trường toàn cầu, Việt Nam đã điều chỉnh hiến pháp 1992 vào năm 2001. Cuộc sửa đổi Hiến pháp lần này cho thấy khuynh hướng trở lại một số yếu tố của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây. Lý do của điều này là Việt Nam phải hoàn nhập với thế giới toàn cầu, phải chấp nhận một số giá trị chung của phương Tây, trong đó có chủ nghĩa hợp hiến, để tìm tiếng nói chung trên con đường mưu cầu sự thịnh vượng cho quốc gia. Có ba sửa đổi quan trọng nói lên điều đó. Thứ nhất, điều 2 khẳng định chế độ nhà nước pháp quyền. Pháp quyền gắn mật thiết với chủ nghĩa hợp hiến. Trong lịch sử phát triển của lý thuyết về nhà nước pháp quyền ở phương Tây, chủ nghĩa hợp hiến được coi như một nội dung của Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là quyền lực của nhà nước chịu sự kiểm soát quyền lực của luật pháp, mà trước tiên là quyền lực của hiến pháp. Thứ hai, điều 2 cũng thừa nhận sự “phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp” mặc dù quyền lực nhà nước vẫn được bảo đảm thống nhất. Thực ra đây là sự áp dụng những hạt nhân hợp lý của lý thuyết phân quyền. Lần đầu tiên ba khái niệm của học thuyết phân quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) được đưa vào hiến pháp Việt Nam. Thứ ba, Quốc hội được trang bị một công cụ kiểm soát quyền lực đặc biệt: bỏ phiếu tín nhiệm (điều 83). Theo đó, Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm và dẫn đến việc bãi nhiệm đối với những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Bỏ phiếu tín nhiệm là một công cụ mới để Quốc hội kiểm soát Chính phủ. Chế định bỏ phiếu tín nhiệm ở Việt Nam là sự vận dụng một số yếu tố của chế định bất tín nhiệm nội trong các chính thể đại nghị ở Châu Âu, và cũng đã có trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946.

Những gì đang diễn ra liên quan đến đời sống hiến pháp ở Việt Nam hiện nay đang cho thấy một khuynh hướng tiếp tục tiếp nhận một cách linh hoạt các yếu tố của chủ nghĩa hợp hiến trong tiến trình hoàn thiện hiến pháp Việt Nam đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế.

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đưa ra chủ trương: “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp“46. Lần đầu tiên vấn đề tài phán hiến pháp, một vấn đề trọng yếu của chủ nghĩa hợp hiến, được chính thức đặc ra ở Việt Nam. Đã có nhiều hoạt động thể hiện nỗ lực của Việt Nam trong việc thiết lập tài phán hiến pháp. Quốc hội đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về chủ đề này. Đầu năm 2008, một Tiểu ban nghiên cứu về việc thành lập chế độ tài phán hiến pháp ở Việt Nam đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập.

Theo dự đoán của cá nhân tôi, việc xác lập chế độ tài phán hiến pháp kéo theo những điều chỉnh khác của hiến pháp chứ không giản đơn là thêm một chương về tài phán hiến pháp trong hiến pháp. Tài phán hiến pháp yêu cầu một phải có một bản hiến pháp được đặt ở hệ cấp tối cao vì chỉ khi nào hiến pháp cao hơn các ngành quyền lực mới đặt ra vấn đề kiểm tra sự hợp hiến trong hành động của các ngành quyền lực đó với hiến pháp. Khi hiến pháp được đặt lên tối cao phải có sự phân biệt giữa lập hiến và lập pháp: nhân dân sẽ là người lập hiến và Quốc hội, người đại diện của nhân dân, sẽ là người lập pháp vì nếu Quốc hội vừa lập hiến vừa lập pháp thì không có cơ sở cho việc hiến pháp cao hơn luật của Quốc hội. Chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân là vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến. Vấn đề này có thể sẽ được chấp nhận ở Việt Nam cùng với tiến trình xác lập chế độ tài phán hiến pháp.

 

1 Đinh Xuân Lâm, Dương Lan Hải (chủ biên ). Nghiên cứu Việt Nam – một số vấn đề lịch sử kinh tế – xã hội – văn hoá.
Nxb Thế giới, H.1998, tr.68 – 71.
2 http://usembassy.gov
3 Constitutionalism and emrging democracies. http://usembassy.gov
4 Phan Bội Châu đã đi Hương Cảng, Thượng Hải, rồi sang Nhật Bản, mở ra phong trào Đông Du. Nhiều trí thức đến
nước Pháp, du học ở Pháp như Nguyễn An Ninh (tốt nghiệp cử nhân luật học Đại học Sorbonne, Pairis, 1920), Phan
Văn Trường (đỗ tiến sĩ luật học tại Pháp), Nguyễn Văn Vĩnh (sang Pháp dự hội nghị đấu xảo Marseille năm 1906).
Phạm Quỳnh cũng đã sang Pháp dự triển lãm năm 1922. Luật sư Phan Anh cũng đã chuẩn bị bảo vệ luân án tiến sĩ luật
học ở Pháp năm 1938 nhưng nhưng chưa kịp bảo vệ thì Thế chiến thứ nhất bùng nổ nên về nước…
5 Phan Bội Châu toàn tập, tập 4, Nxb Thuận hóa, Huế, 1990, tr. 244.
6 Phan Châu Trinh. Quân trị và dân trị chủ nghĩa. In trong Phan Châu Trinh – cuộc đời và tác phẩm (Nguyễn Q.
Thắng). Nxb Văn học, H.2006, tr.471.
7 Chương Thâu. Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng. Nxb Đà Nẵng, 1989, tr.355 – 356.
8 Phạm Quỳnh trả lời phỏng vấn đăng trên Tạp chí Nam phong, số 189 tháng 10 năm 1933.
9 Phạm Quỳnh. Tiến tới một bản Hiến pháp. In trong tập Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932.
(Phạm Toàn giới thiệu và biên tập) Nxb Tri thức, 2007, tr.368.
10 Phạm Quỳnh. tlđd, tr.369.
11 Theo: LS.TS. Phan Đăng Thanh. Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Tư pháp, H.2006, tr188.
12 Vũ Đình Hòe. Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, 2005, tr.187.
13 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, tr435 – 436.
14 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, tr438.
15 Dẫn theo: Pháp lý phục vụ cách mạng. Hội luật gia xuất bản, Hà Nội, 1975, tr.278.
16 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, tr8.
17 Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H.2000, tr.237 – 238.
18 Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H. 2000, tr.237 – 238.
19 Phan Bội Châu toàn tập, tập 4, Nxb Thuận hóa, Huế, 1990, tr.256, tr.387.
20 Phan Châu Trinh. Quân trị và dân trị chủ nghĩa. In trong Phan Châu Trinh – cuộc đời và tác phẩm (Nguyễn Q.
Thắng). Nxb Văn học, H.2006, tr.468.
21 Chương Thâu. Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng. Nxb Đà Nẵng, 1989, tr tr29.
22 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.505.
23 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.585.
24 Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H, 2000, tr.248.
25 Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 5, Nxb Thuận hóa, Huế, 1990, tr.256, tr.19.
26 Hồ Chí Minh Toàn tập ,tập 4. Nxb Chính trị quốc gia, H.2000,tr435 – 436.
27 Phan Đăng Thanh. Tư tuởng lập hiến của tmột số phong trào đấu tranh giành độc lập trước Hiến pháp năm 1946.
Luận án cao học luật, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr.106.
28 Phan Bội Châu. Toàn tập, tập 2, Nxb Thuận hóa, Huế, 1990, tr.387.
29 Theo LS.TS. Phan Đăng Thanh. Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Tư pháp, H.2006, tr.118.
30 Tôi có cảm tưởng Tham chính viện mà Phạm Quỳnh nói tới giống như một Thượng nghị viện.
31 Phạm Quỳnh. Tiến tới một bản Hiến pháp. In trong tập Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932.
(Phạm Toàn giới thiệu và biên tập) Nxb Tri thức, H.2007, tr.370 – 371.
32 “Quyền hành chính” mà Phan Anh đề cập đến ở đây phải được hiểu là “quyền hành pháp” như ngày nay.
33 Theo Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H.2000, tr.236 – 267.
34 Tổng lý Nội các mà Vũ Đình Hòe nói đến ở đây giống như Thủ tướng Chính phủ trong chế độ quân chủ lập hiến ở Anh.
35 Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H.2000, tr.236 – 249.
36 Vũ Đình Hòe. Hồi ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H.2000, tr.253.
37 LS.TS. Phan Đăng Thanh. Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Tư pháp, H.2006, tr.486.
38 Văn phòng Quốc hội. Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1960), Nxb Chính trị quốc gia, H.1994, tr.102.
39 Văn phòng Quốc hội. Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1960), Nxb Chính trị quốc gia, H.1994, tr110.
40 Dẫn theo: Đỗ Ngọc Hải. Hiến pháp năm 1946 bản hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến Nhà nước Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, H.2006, tr.18 – 19.
41 C.Mác, P.Ăng – ghen. Tuyển tập, tập I. Nxb Sự thật, 1980, tr.465.
42 Văn phòng Quốc hội. Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1960), Nxb Chính trị quốc gia, H.1994, tr.104.
43 Xem Hiến pháp 1959 (Điều 50), Hiến pháp 1980 (Điều 82), Hiến pháp 1992 (Điều 82).
44 Xem Hiến pháp 1980 (Điều 3), Hiến pháp 1992 (Điều 2).
45 Xem cụ thể hơn: Bùi Ngọc Sơn. Những góc nhìn lập pháp. Nxb Chính trị quốc gia, H.2006.
46 Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, H.2006, tr.127.

———–

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, 535 tr

2. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị quốc gia, H, 1995, 654 tr

3. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 4. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000, 589 tr

4. C.Mác, P.Ăng – ghen. Tuyển tập, tập I. Nxb Sự thật, 1980, 883 tr

5. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006, 375 tr

6. Văn phòng Quốc hội. Lịch sử Quốc hội Việt Nam (1946 – 1960), Nxb Chính trị quốc gia, H,1994, 375 tr

7. Nguyễn Q. Thắng. Phan Châu Trinh – cuộc đời và tác phẩm. Nxb Văn học, H, 2006, 642 tr

8. Phan Đăng Thanh. Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nxb Tư pháp, H, 2006, 579 tr

9. Vũ Đình Hòe. Hồi Ký Thanh Nghị. Nxb Văn học, H, 2000, 759 tr

10. Phạm Quỳnh. Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932. (Phạm Toàn giới thiệu và biên tập) Nxb Tri thức, 2007, 525 tr.

11. Vũ Đình Hòe. Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, 2005, 783 tr.

12. Đỗ Ngọc Hải. Hiến pháp năm 1946 bản hiến pháp đặt nền móng cho nền lập hiến Nhà nước Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006, 133 tr

13. Đinh Xuân Lâm, Dương Lan Hải (chủ biên ). Nghiên cứu Việt Nam – một số vấn đề lịch sử kinh tế – xã hội – văn hoá. Nxb Thế giới, H, 1998, 252 tr

14. Bùi Ngọc Sơn. Những góc nhìn lập pháp. Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006, 228 tr

——

 

* Ghi chú của Ba Sàm:

Tham luận tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” .Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị hủy bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo (tuồng như chỉ) được đăng trên Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ
93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP
149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75
150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)
 
 
Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả. 

Posted in Chính trị, Lịch sử, Pháp luật | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: