BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Tư 25th, 2009

Ba mươi năm Gọi tên gì Cho cuộc chiến?

Posted by adminbasam trên 25/04/2009

Đôi lời (đăng trên basam.tk ngày 26-4-2008): Vào những ngày này cách đây ba năm, một bài báo đã khuấy động tình cảm của những ai vốn một thời đứng từ hai bên chiến tuyến, nhiều tranh luận qua lại, nhưng rồi mọi sự vẫn vậy cho tới ngày hôm nay, bởi vì những người trong cuộc tranh luận không có một diễn đàn chung, quá nhiều bí ẩn của lịch sử vẫn còn bị che đậy, những sự kiện bị bóp méo …

Giáo sư Lê Xuân Khoa, người có bài báo khởi đầu cuộc tranh luận này, trong nhiều năm nay vẫn đi về Việt Nam, gặp gỡ, đóng góp ý kiến cho trong nước; diễn đàn “của ông”là trang web BBC và talawas. Nhà báo Nguyễn Hòa, người có bài phản bác lại GS Khoa, vốn là một cây phê bình văn hóa văn nghệ nổi tiếng trong nước về những bài báo lật mặt những kẻ “đạo văn”, lúc đó bất ngờ “tham chiến” vào lĩnh vực nặng mùi chính trị; diễn đàn của ông là tờ Nhân Dân.

Bữa nay xin hầu bà con hai bài báo trong cuộc tranh luận nầy (riêng bài của nhà báo Hòa khi bấm vào đường link trang web của báo Nhân Dân thì thấy không còn nữa), rất nhiều các thư, bài phản hồi khác của độc giả, mời bấm vào đường link trong các bài.

Bổ sung, ngày 26-4-2009: Mời bà con đọc thêm mục Chiến tranh Việt Nam, trên Wikipedia.

Ba mươi năm Gọi tên gì cho cuộc chiến?

Giáo sư Lê Xuân Khoa

Maryland, Hoa Kỳ, viết vào Xuân Ất Dậu (2005)

(BBC Việt ngữ)

 

Cuộc chiến 1945-1954 giữa thực dân Pháp và các phong trào kháng chiến giành độc lập của các dân tộc Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào thường được các nhà viết sử gọi chung là chiến tranh Đông Dương.

Đối với từng quốc gia Đông Dương, cuộc chiến này còn mang những tên khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa.

Thư của GS. Lê Xuân Khoa gửi các độc giả BBC

Chẳng hạn trong trường hợp Việt Nam, đây là chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt-Pháp. Tất cả những cách gọi tên này đều đúng và không có gì cần phải tranh luận. Khi cuộc chiến 1955-1975 tiếp diễn trên lãnh thổ Đông Dương được gọi là chiến tranh Đông Dương lần thứ hai thì cách gọi không sai nhưng nội dung của nó không đơn giản như lần trước, vì thành phần tham chiến và thời gian chiến tranh ở mỗi quốc gia Đông Dương không giống nhau.

Trên chiến trường Đông Dương, Hoa Kỳ thay thế Pháp nhưng chỉ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam từ 1965 đến 1972 và hỗ trợ những lực lượng chống cộng sản ở Lào và Cam-pu-chia. Ngay cả những cuộc dội bom ở hai quốc gia này cũng không ngoài mục đích chính là ngăn chặn Bắc Việt sử dụng lãnh thổ hai nước láng giềng làm căn cứ tiếp viện cho bộ đội cộng sản ở miền Nam.

 

Phần trên chỉ là trích dẫn trên BBC. Toàn bài xin đọc tiếp theo dưới đây của talawas

…………………………

Về tác giả: Giáo sư Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC) và là giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C.
Tác phẩm nghiên cứu của ông, “Việt Nam 1945 – 1995: Chiến tranh, tị nạn, bài học lịch sử”, đã ra mắt tập Một vào năm ngoái. Địa chỉ email của GS. Lê Xuân Khoa: Lxkhoa@hotmail.com
Ý kiến thính giả về bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa xin gửi về vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên tay phải.


Talawas

Tranh luận về tên gọi Cuộc chiến 1955-1975

Phần 1

Lời tác giả: Ngày 15.2.2005, đài BBC đưa lên trang mạng bài viết của tôi dưới nhan đề 30 năm gọi tên gì cho cuộc chiến”, được nhiều độc giả trong và ngoài nước tham gia thảo luận. Ngày 15.3, nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội đăng một bài của ông Nguyễn Hòa chỉ trích kịch liệt các luận cứ của tôi về cách gọi tên và hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Ngày 4.4, tôi gửi e-mail thư và bài trả lời cho báo Nhân Dân yêu cầu tòa báo dành cho tôi quyền trả lời ông Nguyễn Hòa. Hơn ba tuần đã trôi qua, báo Nhân Dân không đăng bài của tôi và cũng không cho biết lý do từ chối. Tôi bắt buộc phải mượn diễn đàn talawas để làm sáng tỏ vấn đề trước dư luận, nhất là đối với độc giả trong nước có thể đã có ấn tượng rất xấu về tôi sau khi đọc bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc lịch sử?” của ông Nguyễn Hoà trên báo Nhân Dân.

Ðể cho độc giả có đầy đủ tài liệu về cuộc tranh lụận này, tôi xin talawas đăng lại bài viết đầu tiên của tôi với nhan đề nguyên thủy và đầy đủ phần chú thích mà vì kỹ thuật trình bày BBC đã không đưa vào bài trên mạng. Sau đó là bài phản bác trên báo Nhân Dân và bài trả lời của tôi tựa đề “Xuyên tạc sự thật hay Phục hồi sự thật?”.

I.

Lê Xuân Khoa – 30 năm sau vẫn còn tranh luận: Chiến tranh của Mỹ hay chiến tranh Việt Nam?

Cuộc chiến 1945-1954 giữa thực dân Pháp và các phong trào kháng chiến giành độc lập của các dân tộc Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào thường được các nhà viết sử gọi chung là chiến tranh Ðông Dương. Ðối với từng quốc gia Ðông Dương, cuộc chiến này còn mang những tên khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa. Chẳng hạn trong trường hợp Việt Nam, đây là chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt-Pháp. Tất cả những cách gọi tên này đều đúng và không có gì cần phải tranh luận. Khi cuộc chiến 1955-1975 tiếp diễn trên lãnh thổ Ðông Dương được gọi là chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai thì cách gọi không sai nhưng nội dung của nó không đơn giản như lần trước, vì thành phần tham chiến và thời gian chiến tranh ở mỗi quốc gia Ðông Dương không giống nhau. Trên chiến trường Ðông Dương, Hoa Kỳ thay thế Pháp nhưng chỉ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam từ 1965 đến 1972 [1] và hỗ trợ những lực lượng chống cộng sản ở Lào và Cam-pu-chia. Ngay cả những cuộc dội bom ở hai quốc gia này cũng không ngoài mục đích chính là ngăn chặn Bắc Việt sử dụng lãnh thổ hai nước láng giềng làm căn cứ tiếp viện cho bộ đội cộng sản ở miền Nam. [2]

Chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất được giải quyết chính thức và toàn bộ bởi Hiệp định Genève 1954 với Việt Nam là trọng điểm. Trong chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai, tình trạng ba nước Lào, Việt Nam và Cam-pu-chia đuợc quốc tế giải quyết vào ba thời điểm cách xa nhau: Lào bằng Hiệp định Genève năm 1962, [3] Việt Nam bằng Hiệp định Paris năm 1973, và Cam-pu-chia bằng Hiệp định Paris năm 1991. Mặc dù những đặc tính khác biệt đó, gọi cuộc chiến tranh 1955-1975 là chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai cũng vẫn đúng trong ý nghĩa tổng quát của chiến trường.

Trong trường hợp Việt Nam, vấn đề gọi tên cuộc chiến sau hiệp định Genève 1954 đã được tranh cãi dai dẳng cho đến nay, ba mươi năm sau chiến tranh, vẫn chưa đạt được đồng thuận. Những quan điểm bất đồng được xoay quanh nhiều tên gọi: chiến tranh chống cộng, chiến tranh chống Mỹ-Ngụy, nội chiến, chiến tranh của Mỹ, chiến tranh Việt Nam, chiến tranh ủy nhiệm. Bỏ qua một bên chiến tranh “chống cộng” và “chống Mỹ-Ngụy” chỉ thích hợp trong thời chiến, ở đây chỉ cần thảo luận về bốn tên gọi còn lại thường được tranh cãi nhiều nhất.

Cuộc chiến 1955-1975 ở Việt Nam được gọi là nội chiến vì sau khi đất nước bị chia đôi, chính quyền miền Bắc đã để lại cán bộ, chôn giấu vũ khí và hoạt động bí mật đàng sau các phong trào tranh đấu ở miền Nam; trong khi đó, chính quyền Ngô Ðình Diệm cũng phát động chiến dịch tố cộng sâu rộng và mãnh liệt. Ðảng cộng sản phản công bằng những hành động khủng bố và ám sát các viên chức Việt Nam Cộng Hoà. Ðầu năm 1959 thì miền Bắc bắt đầu mở đường xâm nhập bộ đội và vũ khí vào miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh và phát động công cuộc đấu tranh vũ trang với phong trào “Ðồng khởi”. Năm 1960, Mặt trận Giải phóng miền Nam ra đời được miền Bắc hỗ trợ kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở các tỉnh miền Nam. Năm 1963, sau khi chính quyền Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, tình hình chính trị và quân sự ở miền Nam càng ngày càng tồi tệ dẫn đến việc Mỹ quyết định đưa quân vào yểm trợ quân đội VNCH nhưng thực tế nắm vai trò chủ động. Ðây là giai đoạn “Mỹ hoá” cuộc chiến cho tới năm 1969 thì chính quyền Nixon trở lại chương trình “Việt Nam hoá” chiến tranh và bắt đầu rút quân về nước. Trận chiến quốc-cộng tiếp tục cho tới khi miền Nam hoàn toàn sụp đổ vào tháng Tư 1975.

Cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ những năm cuối thập kỷ 1920 khi Việt Nam Quốc Dân Ðảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu được thành lập năm 1927 và Ðảng Cộng Sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Hong Kong năm 1930. [4] Sự khác biệt ban đầu về chủ trương chỉ trở thành đối nghịch (nhưng chưa giết hại nhau) sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái của VNQDÐ bị thất bại năm 1930 và phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh của ÐCSVN bị Pháp dẹp tan năm 1931 khiến những người còn sống sót của hai đảng đều phải bỏ chạy sang Tàu. Vì sống chung dưới chính thể Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, các đảng viên cộng sản Việt Nam đều phải hoạt động âm thầm trong khi các lãnh tụ không cộng sản thì hoạt động công khai với sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng (THQDÐ), một số còn được đào tạo tại trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu và lên đến cấp tướng trong quân đội Trung Hoa.

Nhược điểm của các đảng phái quốc gia là không có tổ chức qui củ và đường lối minh bạch, chỉ trông cậy vào sự che chở của THQDÐ để chống Pháp trong khi Trung Hoa dù không ưa Pháp nhưng đang là đồng minh của Pháp chống Nhật ở Ðông Dương. Các lãnh tụ quốc gia lại không đoàn kết được với nhau trong khi không có hoạt động gì đáng kể ở trong nước. Tình trạng đó kéo dài cho đến khi THQDÐ quá thất vọng với các phe nhóm quốc gia nên đã giúp cho Hồ Chí Minh đại diện Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội đưa người về Việt Nam tăng cường hoạt động chống Nhật năm 1944. Nhân dịp này Hồ Chí Minh củng cố được Mặt Trận Việt Minh thành lập từ năm 1941. Cuộc tranh chấp giữa các đảng phái quốc gia và Việt Minh trở thành những cuộc thanh toán đẫm máu giữa đôi bên trong năm 1946 và lực lượng quốc gia đã bị tiêu diệt gần hết trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ trên toàn quốc vào cuối năm đó. [5] Việt Minh hoàn toàn lãnh đạo cuộc chiến chống Pháp và cuộc xung đột quốc-cộng chỉ tái diễn chính thức và qui mô sau khi đất nước bị chia đôi và chính thể Việt Nam Cộng Hòa được thành lập ở miền Nam.

Mặc dù cuộc xung đột 20 năm giữa những người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đã rõ ràng là một cuộc nội chiến có gốc rễ sâu xa, tên gọi này vẫn không được giới lãnh đạo miền Bắc chấp nhận. Ðể xây dựng và bảo vệ chính nghĩa của mình, nhà nước cộng sản đã gọi cuộc chiến này là chiến tranh chống Mỹ cứu nước hay chiến tranh chống Mỹ-Ngụy. Sau chiến tranh, vì nhu cầu bang giao, thì gọi là chiến tranh của Mỹ hay do Mỹ gây ra (American war), nhất là trong trường hợp sử dụng tiếng Anh. Cách gọi “American war” còn có ngụ ý nhắc nhở lỗi lầm của Hoa Kỳ và phủ nhận cách gọi của người Mỹ là “Vietnam war” (chiến tranh Việt Nam).

Trong một cuộc trao đổi ý kiến gần đây giữa một số học giả quốc tế gồm cả người Mỹ và Mỹ gốc Việt, có người đã dùng tên gọi “American war” để chỉ định cả hai cuộc chiến trong thời gian từ 1945 đến 1975, vì ngoài việc viện trợ và tham chiến trực tiếp trong cuộc chiến lần thứ hai, chính phủ Mỹ đã viện trợ tiền bạc và vũ khí cho Pháp trong suốt cuộc chiến lần thứ nhất. Nhưng nếu đặt tên chiến tranh bằng tên của quốc gia viện trợ thì cũng phải gọi tên cuộc chiến này là chiến tranh của Liên Xô và Trung Quốc vì hai nước này đã viện trợ kinh tế và quân sự rất quan trọng cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. [6] Cũng hiểu theo cách rộng rãi như thế thì cuộc chiến lần thứ hai phải được gọi là chiến tranh của Mỹ và các đồng minh Úc, Tân Tây-Lan, Ðại Hàn, Phi-Luật-Tân và Thái Lan. Bởi vậy không nên đặt tên chiến tranh bằng tên của những quốc gia viện trợ hay dự phần vào cuộc chiến, mặc dù có lý do chính đáng để gọi giai đoạn Mỹ hoá chiến tranh (1965-1972) là “American war”. Cũng nên ghi nhận là Mỹ bắt đầu rút quân từ 1969, và tên gọi “Vietnam war” chỉ có nghĩa là chiến tranh ở Việt Nam chứ không phải là “Vietnamese war” tức là chiến tranh của Việt Nam hay do Việt Nam gây ra.

Ðáng chú ý là phần lớn các tổ chức chính trị trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng không chấp nhận tên gọi cuộc chiến 1955-1975 là “nội chiến”, khẳng định rằng đây là cuộc chiến của dân tộc Việt Nam chống lại chủ nghĩa và chế độ cộng sản độc tài. Như trên đã nói, đây là cách gọi tên theo lập trường chính trị chẳng khác gì phía cộng sản đã gọi đây là cuộc chiến tranh nhân dân chống ngụy quân ngụy quyền. Những tên gọi này chỉ có giá trị nhất định đối với mỗi bên trong những năm đang có chiến tranh mà thôi.

Sau hết, cần bàn về “chiến tranh ủy nhiệm”. Tên gọi này phản ánh một sự thật hoàn toàn khách quan nhưng không một quốc gia tham chiến nào, trực tiếp hay gián tiếp, muốn chấp nhận nó để phải mang tiếng xấu. Gọi là ủy nhiệm vì từ cuộc xung đột về ý thức hệ, hai phe Việt Nam đã bị các cường quốc lãnh đạo hai khối tư bản và cộng sản sử dụng như những công cụ đua tranh thế lực trong thời Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ đã dùng chiến trường Việt Nam để thí nghiệm và tiêu thụ các loại vũ khí kể cả chất độc da cam, trong khi Liên Xô và Trung Quốc đã nhiệt tình giúp đỡ và thúc giục Bắc Việt tận lực hi sinh và chiến đấu trường kỳ. Các quan sát viên quốc tế hồi đó đã có một nhận xét rất đúng về dụng ý của Trung Quốc khi viện trợ cho Việt Nam: “Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng.”

Quả thật, giải pháp chấm dứt chiến tranh Ðông Dương đều do các nước lớn sắp đặt sẵn với nhau rồi ép buộc đồng minh Việt Nam, cộng sản hay quốc gia, phải chấp thuận. Các nhà ngoại giao Hà Nội tại những phiên họp hậu chiến Việt-Mỹ từ 1995 đến 1998 cũng như các sách vở lịch sử ở Việt Nam đều xác nhận điều này. Cố ngoại trưởng Trần Văn Ðỗ cũng than phiền rằng tại hội nghị Genève 1954, Pháp đã không cho phái đoàn quốc gia biết cuộc thảo luận của các nước lớn về việc chia cắt Việt Nam và ông đã được Phạm Văn Ðồng mời họp riêng để tìm giải pháp giữa hai bên người Việt với nhau nhưng không thực hiện được. [7] Nhờ mâu thuẫn Liên Xô-Trung Quốc, nhờ phong trào phản chiến rầm rộ của dân chúng Mỹ và lợi thế chính trị đặc biệt sau khi Tổng thống Johnson tuyên bố không tái ứng cử năm 1968, Việt Nam cộng sản đã tránh được sự áp đặt của “các nước bạn” trong tiến trình hội nghị “hai phe bốn phái đoàn” ở Paris (1968-1973).
(mời xem phần dưới)

——

 

Nhà báo-nhà lý luận phê bình Nguyễn Hòa, hiện-2008- là phó ban Văn Hóa-Văn nghệ, báo Nhân Dân (hình của Vietimes)

Do chưa tìm được bài nguyên gốc của ông Nguyễn Hòa trên báo Nhân Dân, xin tạm đăng ở đây “Thư ngỏ” của ông gửi lên talawas:

7.5.2005

Nguyễn Hoà: Thư ngỏ gửi GS Lê Xuân Khoa, cùng các tác giả Nguyên Trường, Trần Trung Đạo, Hồ Duy Tân… và bạn đọc của talawas

Thưa quý vị!

Vậy là cuộc tranh luận giữa GS Lê Xuân Khoa và tôi về tên gọi của cuộc chiến tranh diễn ra cách đây 30 năm ở Việt Nam, đã kết thúc. Tuy kết thúc này chưa hoàn toàn thoả mãn đối với bản thân tôi (và với GS Lê Xuân Khoa?), nhưng ít nhiều cuộc tranh luận cũng tạo ra những tiền đề tinh thần có tính văn hoá để mỗi bên có điều kiện hiểu biết về nhau. Hy vọng những cuộc tranh luận có thể diễn ra trong tương lai sẽ tiếp tục được tiến hành một cách hoà nhã và bình đẳng, thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau… Về phần mình, do ngay từ đầu tôi đã nhận thấy cuộc tranh luận rất khó lòng đạt tới kết quả, dễ rơi vào xu hướng “kể tội lẫn nhau”, và khi mà khoảng cách giữa quan niệm của các bên còn rất xa nhau thì dẫu muốn, Ban Biên tập talawas cũng khó có thể đứng ra làm “trọng tài”, nên sau khi talawas đăng bài “Chúng ta cần phải ngưng kể tội lẫn nhau” của GS Lê Xuân Khoa, tôi đã giữ thái độ im lặng. Cho dù ý kiến của Giáo sư đối với tôi chưa thật sự thuyết phục. Cho dù thói thường, về mặt tâm lý, nhiều người vẫn coi chân lý thuộc về người có tiếng nói cuối cùng (!).

Tương tự như thế, sau khi hai bài viết của hai tác giả Nguyên Trường, Trần Trung Đạo được đăng tải trên talawas, tôi đã đọc một cách trân trọng, và cũng rút ra kết luận rằng hai anh và tôi không chỉ khác nhau trong hệ thống quan niệm, trong góc nhìn, trong phương cách khái quát và nhận định bản chất một số vấn đề lịch sử…, mà còn khác nhau trong việc thâu nhận và xử lý các thông tin có liên quan đến một số sự kiện đã diễn ra trong quá khứ. Trong hoàn cảnh đó, việc tôi viết bài trả lời chắc chắn sẽ đẩy tới khả năng làm cho khoảng cách về quan niệm giữa hai anh và tôi ngày càng thêm xa, và điều đó hẳn là nằm ngoài ý muốn của chúng ta, một khi cả hai bên cùng chung mục đích trao đổi để “hướng tới tương lai”. Điều đó cũng tức là sự im lặng của tôi không hàm chứa nội dung “đuối lý”, cụ thể hơn là không phải đã “bị dồn đến chân tường”. Vì vậy qua đây tôi vẫn bảo lưu ý kiến của mình, rất mong sự bảo lưu ấy sẽ không làm mếch lòng bạn đọc nào có ý kiến đối lập với tôi.

Tuy nhiên, với bức thư của tác giả Hồ Duy Tân đã gửi cho tôi trên talawas ngày 14.5.2005 thì tôi thật sự thất vọng. Bởi theo tôi, bức thư tỏ ra thiếu vắng tinh thần trao đổi học thuật. Vì xét theo các nội dung đã được trình bày, thì dường như ý kiến của tôi chỉ là cái “cớ” để Hồ Duy Tân “trút cho hả sự bức xúc” của anh mà thôi. Trước tâm thế bức xúc của Hồ Duy Tân, tôi nghĩ việc trao đổi với anh không phải là một yêu cầu bức thiết. Do đó tôi xin có lời cảm ơn vì anh đã dành thời gian đọc bài viết của tôi, đồng thời xin được gửi trả lại anh bức thư đã đăng trên talawas.

Thưa quý vị!

Cuộc tranh luận “đặt tên cho cuộc chiến” diễn ra trên talawas có thể còn tiếp tục hoặc sắp kết thúc và tôi tin, dù diễn ra theo chiều hướng nào thì cơ hồ vẫn chưa thể đi tới một kết luận rốt ráo. Và nếu chúng ta đọc trên talawas, sẽ thấy ngay với các tác giả người Mỹ cũng chưa có sự thống nhất trong khi phân tích và đánh giá về cuộc chiến tranh này (xem Keith W. Taylor: “Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào”, talawas ngày 30.4.2005, và David W.P. Elliott: “Cách mạng và thay đổi xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long”, talawas ngày 2.5.2005). Thiển nghĩ, người Mỹ nghiên cứu cuộc chiến tranh ở Việt Nam trước đây nhằm phục vụ cho mục đích của họ; còn với chúng ta, chúng ta nghiên cứu nhằm rút ra những bài học, và ở mức cao hơn, là để “xoá bỏ hận thù, hướng tới tương lai”. Trong bối cảnh mà sự khác biệt về tư tưởng, và các “vết thương” từ quá khứ vẫn còn ám ảnh trong tâm trí của nhiều người thì hiển nhiên sự nóng nảy và “lòng hận thù” sẽ không thể tạo ra một động lực tinh thần giúp mọi người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước xích lại gần nhau. Và như đã nói trong bài tranh luận với GS Lê Xuân Khoa, những điều tôi đã trình bày trong cuộc tranh luận với Giáo sư không nhân danh bất kỳ ai khác, mà chỉ nhân danh chính tôi – một người Việt Nam bình thường và luôn luôn mong muốn những điều tốt lành cho đồng bào của mình. Chiến tranh và những khúc quanh ngoắt ngoéo của lịch sử đã đẩy chúng ta sang hai bên “chiến tuyến”, song không lý gì khi đất nước đã có hoà bình mà chúng ta lại không cùng nhau lấp bỏ cái “chiến tuyến phi lý” kia đi.

Vâng, đó cũng là điều tôi muốn nói với GS Lê Xuân Khoa, với các anh Nguyên Trường, Trần Trung Đạo, Hồ Duy Tân… và bạn đọc của talawas trong bức thư ngỏ này.

5.2005

 

Người lính Việt Nam Cộng hòa (hình của cố nhà báo ảnh Philip  Jones

Griffiths/TIME)

(Tiếp theo)

Như vậy, sau khi đã gạn lọc lập trường chính trị của mỗi bên để xác định bản chất thật sự của nó trong lịch sử, cuộc chiến 1955-1975 phải được gọi là một cuộc nội chiến đồng thời là chiến tranh ủy nhiệm. Con dân một nước cùng một dòng giống—thực tế thì hầu như gia đình nào cũng có bà con gần hay xa ở phía bên này hay/và bên kia—đã tàn sát lẫn nhau ít nhất là trong hai mươi năm, vì lý tưởng khác nhau mà không hoàn toàn do mình chủ động. Tổng số người Việt Nam thiệt mạng riêng trong cuộc chiến này, kể cả quân và dân của cả hai bên, lên tới gần bốn triệu người. [8] Riêng bộ đội cộng sản còn có khoảng 300.000 người chưa tìm được xác. Ðất nước và tài sản của dân chúng cả hai miền đều bị chiến tranh tàn phá đến mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, cho đến nay vẫn còn những di hại của bom, mìn chưa nổ và chất thuốc khai quang.

Trong chiến tranh ủy nhiệm, phía Việt Nam quốc gia phải chịu sức ép của đồng minh Hoa Kỳ cho tới những ngày chót của hội nghị Paris. Từ 1965, Hoa Kỳ hoàn toàn lãnh đạo cuộc chiến cho tới 1969 mới bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp Việt Nam hoá chiến tranh, nhưng vẫn nắm quyền định đoạt các phương tiện chiến đấu, không theo nhu cầu của giới chỉ huy quân sự Việt Nam. Từ sau hiệp định Paris 1973 thì Quốc Hội Hoa Kỳ lại mạnh tay cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho miền Nam phải sụp đổ mau chóng hơn cả kế hoạch dự liệu của các chiến lược gia Hà Nội. Trong khi đó, mặc dù khéo khai thác mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc để được cả hai đồng minh lớn đua nhau viện trợ, Việt Nam cộng sản cũng không tránh khỏi áp lực của mỗi “nước bạn”, nhất là sự kiểm soát và ngăn chặn của Trung Quốc đối với những toan tính ngoại giao độc lập của Việt Nam. Hà Nội dứt khoát đi với Liên Xô khi ký Hiệp ước Hợp tác và Hữu Nghị với Aleksei Kosygin vào tháng Mười Một năm 1978 và gần như hoàn toàn trông cậy vào viện trợ của Liên Xô cho đến khi Mikhail Gorbachev và những chính quyền kế tiếp không còn có mối quan tâm chiến lược ở Việt Nam và khu vực Ðông Nam Á.

Người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đều đã có quá nhiều kinh nghiệm về quan hệ hợp tác với các đồng minh của mình để thấy rằng đồng minh nào cũng chỉ ủng hộ một nước bạn chừng nào sự ủng hộ ấy phù hợp với lợi ích riêng của họ chứ không phải vì cùng theo đuổi một lý tưởng chung. Sau chiến tranh, bài học ấy có thể là một động cơ cho phe thắng trận tập hợp được khả năng của toàn dân vào công cuộc tái thiết và phát triển đất nước thời hậu chiến. Nhưng chính sách sai lầm của các nhà lãnh đạo miền Bắc đối với miền Nam đã làm tê liệt những đóng góp quan trọng của một nửa dân số toàn quốc trong mười mấy năm cho đến đầu thập kỷ 1990 mới thực sự chuyển hướng.

Riêng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhà cầm quyền trong nước đã sớm nhận ra khả năng đóng góp to lớn của tập thể này vào công cuộc phục hồi kinh tế cũng như những tiềm năng trí tuệ có thể đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Thái độ đối với tập thể này thay đổi hẳn, từ việc kết tội người tị nạn là “những kẻ phản bội” đến sự công khai nhìn nhận họ là “một nguồn lực phát triển quan trọng của dân tộc.” Tuy nhiên, trong khi kêu gọi cộng đồng hải ngoại dẹp bỏ quá khứ, hướng tới tương lai để cùng chung sức xây dựng và bảo vệ quê hương, Nhà nước vẫn chỉ ban hành những biện pháp cởi mở hạn chế nhằm đáp ứng lợi ích vật chất nhỏ nhặt mà chưa thật tình hòa giải trong tinh thần bình đẳng. Vì thế những đóng góp chất xám của công dân ngoại quốc gốc Việt chưa vượt qua mức tối thiểu và các phong trào chống đối chính quyền trong các cộng đồng ở hải ngoại vẫn còn rất mạnh.

Lịch sử Việt Nam là một thiên hùng sử của một dân tộc hàng ngàn năm tranh đấu chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập cho tổ quốc. Cho đến đầu thế kỷ 20, do ảnh hưởng của Tây phương, các đảng phái quốc gia và cộng sản ra đời cũng đều hoạt động chống đế quốc thực dân để giành lại độc lập. Biết bao nhà cách mạng, cộng sản hay không cộng sản, trí thức hay lao động, đã bị chính quyền Pháp bắt bớ, tù đày và sát hại. Chỉ đến khi tranh giành quyền lãnh đạo dân tộc thì hai bên mới lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn và bị các nước lớn sử dụng trong một cuộc chiến tranh ủy nhiệm. Trong cuộc chiến này, phe cộng sản vì nhiều lý do đã thắng phe quốc gia nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước. Gần đây, một nhà sử học ở Hà Nội đã nhắc đến những nhân vật yêu nước không cộng sản như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, và đã có những nhận định xác đáng: “Chủ nghĩa yêu nước thì khác nhau nhưng lòng yêu nước thì ai cũng có… Tôi nghĩ rằng con người rất phức tạp, hoàn cảnh lịch sử càng phức tạp. Nếu chúng ta không đánh giá lòng yêu nước rạch ròi, chúng ta sẽ ngộ nhận, chúng ta sẽ độc quyền yêu nước.” [9] Ý nghĩ này khiến ta nhớ đến chuyện mấy chục năm trước Hồ Chí Minh đã nhận xét rằng Ngô Ðình Diệm là “một người yêu nước theo cách của ông ấy”. [10]

Ba mươi năm sau chiến tranh, đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương Bắc. Giữa hai bên, những bước đầu tiên cần phải được thực hiện bởi chính quyền trong nước một cách thật tình và cụ thể. Một khi thiện chí ấy đã được chứng tỏ, cộng đồng hải ngoại cũng cần phải đáp ứng tích cực.

Trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến 1955-1975, để các phe liên hệ có thể vượt lên khỏi những ám ảnh tiêu cực của quá khứ và chấm dứt những cuộc tranh luận do tình cảm chủ quan, cuộc chiến này nên được gọi đơn giản là “chiến tranh Việt Nam” với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam. Nội dung phức tạp của nó sẽ được lịch sử ghi chép một cách đầy đủ và trung thực.

Maryland, Xuân Ất Dậu (2005)

II.

Nguyễn Hoà: “Gọi tên cuộc chiến” hay xuyên tạc sự thật?

Không chỉ sau ba mươi năm, mà ngay cả khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta còn đang diễn ra khốc liệt, đối với giới nghiên cứu ở phương Tây, không phải tác giả nào cũng có thể nhận thức nghiêm túc và đầy đủ về cuộc kháng chiến này.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam kết thúc đến nay sắp tròn ba mươi năm. Ba mươi năm – một khoảng thời gian khá dài nhưng vẫn chưa đủ để những người quan tâm đến cuộc kháng chiến khám phá và hiểu thêm những điều mới mẻ, nhất là khi “hội chứng Việt Nam” vẫn còn ám ảnh đời sống tinh thần của nhiều người dân nước Mỹ, nhất là khi trên đất nước Việt Nam, hàng chục vạn chiến sĩ đã hy sinh vẫn chưa tìm thấy hài cốt và những vết thương từ thời chiến tranh, những di hại nặng nề của chất độc da cam… vẫn đang đe dọa mạng sống của hàng triệu con người. Ba mươi năm chúng ta chiến đấu vì sự tồn vong của dân tộc. Ba mươi năm chúng ta chiến đấu với khát vọng độc lập, tự do, thống nhất và một nền hòa bình vĩnh viễn cho Tổ quốc. Và không có ý nghĩa nào khác, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã quyết định bản chất chân chính của sự nghiệp cao cả dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ.

Tuy nhiên không chỉ sau ba mươi năm, mà ngay cả khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta còn đang diễn ra khốc liệt, đối với giới nghiên cứu ở phương Tây, không phải tác giả nào cũng có thể nhận thức nghiêm túc và đầy đủ về cuộc kháng chiến. Do nhãn quan chính trị khác nhau, do sự hiểu biết khác nhau, đặc biệt là do ảnh hưởng của hệ thống tuyên truyền một chiều…, mà vẫn có những ý kiến, những công trình nghiên cứu còn chuyển tải trong đó các luận điểm không phản ánh trung thực về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Tôi đã đọc bài viết “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?” của GS Lê Xuân Khoa đăng tải trên website của đài BBC ngày 15-2-2005 và đối chiếu với “Lời mở đầu” tập I cuốn sách Việt Nam 1945 – 1995, chiến tranh, tị nạn, bài học lịch sử cũng của tác giả này thì nhận thấy bài viết “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?” là sự tóm lược những nội dung cơ bản của cuốn sách mà giáo sư khẳng định “với những sự kiện và nhận định khách quan về hai cuộc chiến tranh trong giai đoạn vừa qua, có thể góp phần đáng kể cho những cuộc thảo luận về các quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và chính quyền trong nước”.

Thiết nghĩ trong xu thế khép lại quá khứ, hướng về tương lai như hôm nay, nhắc lại quá khứ không phải nhằm khơi dậy lòng hận thù, nhưng khi vấn đề đã được đặt ra thì cần phải được xem xét cẩn trọng. Vì dẫu thế nào thì khảo sát quá khứ một cách nghiêm túc, chúng ta vẫn có thể rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai .

1.

Toát lên từ toàn bộ bài viết “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?” là tham vọng đi tìm một tên gọi cho cuộc chiến ở Việt Nam sau năm 1954 của GS Lê Xuân Khoa, và ông đề xuất: “Cuộc chiến này nên được gọi đơn giản là “chiến tranh Việt Nam” với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam”.

Ðể đi tới đề xuất trên, và dường như cũng để tỏ ra “khách quan”, GS đã khảo sát, phân tích một số tên gọi mà theo ông “đã được tranh cãi dai dẳng cho đến nay, ba mươi năm sau chiến tranh, vẫn chưa đạt được đồng thuận”, như: “nội chiến”, “chiến tranh của Mỹ”, “chiến tranh Việt Nam”, “chiến tranh ủy nhiệm”. Riêng với hai tên gọi “chiến tranh chống cộng”, “chiến tranh chống Mỹ-Ngụy” thì ông khẳng định chúng “chỉ thích hợp trong thời chiến”! Như vậy, trong khi cố gắng định danh một cách “trung tính” về chiến tranh, GS Lê Xuân Khoa đã loại bỏ yếu tố chính trị ra khỏi cuộc chiến, và hiển nhiên qua đó, tính chất chính nghĩa hay phi nghĩa của cuộc chiến tranh đã không có một vai trò, dù thứ yếu, trong nghiên cứu của ông.

Gần hai thế kỷ trước K. Clao-dơ-uýt (1780-1831) coi chiến tranh là công cụ của chính trị, nó nhất định phải mang tính chất chính trị. V.I. Lê-nin (1870-1924), với quan niệm coi chính trị là sự phản ánh tập trung những lợi ích căn bản của giai cấp, đã phát triển luận điểm của Clao-dơ-uýt khi cho rằng: “Chiến tranh chỉ là một sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ thể bằng bạo lực)” [11] và “chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối” [12] . Từ những quan niệm trên đây và với một phương pháp luận khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể…, người ta mới có thể tìm hiểu bản chất của một cuộc chiến tranh là gì, từ đó đưa ra một định danh thích đáng; hay nói cách khác, là chỉ có như vậy mới xác lập được các tiền đề lý luận – thực tiễn để xác định một tên gọi có khả năng phản ánh chân xác nhất về bản chất một cuộc chiến tranh.

Từ phương diện này, tôi xin nhận xét rằng, GS Lê Xuân Khoa đã phạm nhiều sai lầm về phương pháp luận, ít nhất cũng là ở chỗ ông đã không nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam từ một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, để qua đó thấy được những yếu tố khách quan – chủ quan nào đã buộc người Việt Nam phải cầm súng vì sự sống còn của Tổ quốc mình.

Ông viết: “Mặc dù cuộc xung đột 20 năm giữa những người Việt Nam cộng sản và không cộng sản đã rõ ràng là một cuộc nội chiến có gốc rễ sâu xa, tên gọi này vẫn không được giới lãnh đạo miền bắc chấp nhận. Ðể xây dựng và bảo vệ chính nghĩa của mình, nhà nước cộng sản đã gọi cuộc chiến này là chiến tranh chống Mỹ, cứu nước hay chiến tranh chống Mỹ-Ngụy”, “Gọi là ủy nhiệm vì từ cuộc xung đột về ý thức hệ, hai phe Việt Nam đã bị các cường quốc lãnh đạo hai khối tư bản và cộng sản sử dụng như những công cụ đua tranh thế lực trong thời Chiến tranh lạnh. Hoa Kỳ đã dùng chiến trường Việt Nam để thí nghiệm và tiêu thụ các loại vũ khí kể cả chất độc da cam, trong khi Liên Xô và Trung Quốc đã nhiệt tình giúp đỡ và thúc giục Bắc Việt tận lực hy sinh và chiến đấu trường kỳ”.

Ông còn lùi xa về lịch sử với một ý kiến khá ngô nghê: “Cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ những năm cuối thập kỷ 1920 khi Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học cầm đầu được thành lập năm 1927 và Ðảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Hồng Kông năm 1930″.

Phải chăng với ý kiến này, GS Lê Xuân Khoa đã đánh đồng mục tiêu mà Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông theo đuổi với bản chất “thừa hành” của những người cầm quyền do người Pháp, và sau này là người Mỹ, dựng lên ở miền nam Việt Nam? Viết như giáo sư là xúc phạm vong linh của tiền nhân, vì dẫu thế nào thì tấm gương hy sinh của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông trong Quốc dân đảng cũng hết sức cao quý và đối lập hoàn toàn với hành động của những kẻ sau này phải sinh tồn dưới cái ô che chở của người Pháp và người Mỹ.

2.

Chúng ta đã biết, đầu thế kỷ 20, ngay cả lúc người Pháp tưởng chừng đã bình định được Việt Nam, thì tinh thần yêu nước vẫn nung nấu trong tâm trí mỗi người dân Việt. Bằng những con đường khác nhau, dưới những hình thức khác nhau, các hoạt động đấu tranh giành độc lập vẫn liên tục được tiến hành, nhưng cuối cùng, sự lựa chọn duy nhất đúng chỉ có được với sự ra đời của Ðảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khát vọng của toàn dân tộc và lý tưởng của Ðảng đã phối kết tạo nên một sức mạnh để khi thời cơ đến, chúng ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám, sau đó là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Vẫn biết lịch sử không bao giờ lặp lại, nhưng để lý giải được các sự vật – hiện tượng, đôi khi vẫn cần có những giả định về lịch sử, điều đó có thể góp phần làm sáng tỏ các sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ. Hãy thử giả định: sau khi chính quyền nhân dân đã được thành lập trên cả nước vào nửa cuối năm 1945, điều gì sẽ xảy ra nếu người Pháp không quay trở lại xâm lược Việt Nam? Tôi tin rằng ngày ấy, với ý thức dân tộc đã thức tỉnh rất mạnh mẽ, chúng ta hoàn toàn có thể chung tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh. Song tiếc thay, lịch sử lại không có từ “nếu” và không còn cách nào khác, toàn dân tộc Việt Nam lại buộc phải cầm súng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.

Trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, thực dân Pháp lập tức xây dựng một bộ máy chính quyền, vừa là công cụ thừa hành, vừa tạo ra “ảo ảnh về quyền tự chủ” trước thế giới. Nhà nước “thừa hành” ấy không có những nền tảng vật chất – tinh thần xã hội cơ bản, không có một định hướng chính trị cụ thể và do hoàn toàn phải đeo bám vào bầu sữa của “mẫu quốc” nên nó èo uột, người đứng đầu nhanh chóng bị thay thế nếu không đáp ứng được nhiệm vụ do các ông chủ giao cho. Trong hoàn cảnh đó, sẽ là hài hước nếu cho rằng chính quyền thừa hành nói trên lại được xây dựng trên cơ sở một “ý thức hệ”.

Tình trạng này cũng lặp lại với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, bởi nó được dựng lên từ bàn tay của giới cầm quyền Mỹ, khi họ nhận thức được rằng nếu các điều khoản của Hiệp định Geneva (1954) được thực hiện nghiêm túc thì không chỉ người Pháp, mà chính người Mỹ cũng không xơ múi được gì. Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, thông qua bộ máy do họ dựng lên, đế quốc Mỹ từng bước vừa thâu tóm quyền lực vào tay mình, vừa nhanh chóng loại bỏ ảnh hưởng còn lại của thực dân Pháp.

Và cũng như trước đây, sự sống còn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng hoàn toàn lệ thuộc vào người Mỹ mà bằng chứng là ngay đầu những năm 60 của thế kỷ 20, nó đã rệu rã đến mức không có khả năng chống lại phong trào giải phóng, buộc Mỹ phải lộ diện với một đạo quân viễn chinh khổng lồ và những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ. Vũ khí Mỹ, đô-la Mỹ, hàng hóa Mỹ đã nuôi sống một bộ máy chính quyền trong vài chục năm, và cuối cùng, nó không thể tránh khỏi sự sụp đổ tất yếu.

Một chính quyền không có một “căn cốt tinh thần”, một chính quyền như GS Lê Xuân Khoa phải thừa nhận: “Từ sau Hiệp định Paris 1973 thì Quốc hội Hoa Kỳ lại mạnh tay cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho miền Nam phải sụp đổ mau chóng hơn cả kế hoạch dự liệu của các chiến lược gia Hà Nội” thì lấy đâu ra một “ý thức hệ” để ông có thể đặt nó trong tư thế đối lập với một phong trào giải phóng dân tộc được dẫn dắt bởi một lý tưởng cách mạng, chân chính, với hàng triệu người sẵn sàng đổ máu vì nền độc lập, vì quyền tự chủ.

Tôi nghĩ, dù GS Lê Xuân Khoa, hay bất cứ ai đó, có ý định trang trí cho chính quyền miền Nam cũ một “ý thức hệ” thì cũng chỉ là một cố gắng bất khả, như một người nào đó có tham vọng thổi “linh hồn” vào một pho tượng đất.

3.

Không chỉ dựng lên một đối lập giả tạo về ý thức hệ để biện minh cho một chính quyền tồn tại trong vai trò chỉ là “phương tiện” trong tay giới cầm quyền Mỹ, GS Lê Xuân Khoa còn dành nhiều chữ nghĩa để luận giải về cái gọi là “chiến tranh ủy nhiệm” mà ông cho rằng “tên gọi này phản ánh một sự thật hoàn toàn khách quan nhưng không một quốc gia tham chiến nào, trực tiếp hay gián tiếp, muốn chấp nhận nó để phải mang tiếng xấu”. Nghĩa là ông muốn đi xa hơn, bằng cách “gán” cho phong trào giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản cái “bản chất thừa hành” như của chính quyền Việt Nam Cộng hòa mà ông từng nhận xét: “Trong chiến tranh ủy nhiệm, phía Việt Nam quốc gia phải chịu sức ép của đồng minh Hoa Kỳ cho tới những ngày chót của Hội nghị Paris.

Từ 1965, Hoa Kỳ hoàn toàn lãnh đạo cuộc chiến cho tới 1969 mới bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp Việt Nam hóa chiến tranh, nhưng vẫn nắm quyền định đoạt các phương tiện chiến đấu, không theo nhu cầu của giới chỉ huy quân sự Việt Nam”. Về vấn đề này, trong “Lời giới thiệu” (đd), GS còn đưa ra một nhận định khôi hài hơn: Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là “tất cả mọi phe đều thua”.

Hóa ra, nền độc lập và sự kiện sau ba mươi năm giang sơn thống nhất về một mối, dưới con mắt của GS Lê Xuân Khoa lại không có ý nghĩa gì vì với ông, đó là một thất bại. Qua đây, tôi có thể đặt câu hỏi rằng phải chăng giáo sư lại mong muốn Tổ quốc Việt Nam – nơi ông đã sinh ra, lại mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?

Thiết nghĩ, dường như với GS Lê Xuân Khoa, việc trang trí cho chính quyền miền Nam trước đây nhãn hiệu đại diện cho một “ý thức hệ” vẫn còn chưa đủ, với hai chữ “ủy nhiệm”, ông cố gắng đánh đồng sự tồn tại của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một chính quyền mà sự ra đời và tồn tại của nó chỉ là một thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân mới. Và đáng ngạc nhiên hơn, từ sự lạnh lùng của các con số liên quan đến viện trợ, giáo sư đi đến chỗ quả quyết “hai phe Việt Nam đã bị các cường quốc lãnh đạo hai khối tư bản và cộng sản sử dụng như những công cụ đua tranh thế lực”!

Thực tế cho thấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi về tinh thần, sự giúp đỡ to lớn về vật chất của các lực lượng tiến bộ, yêu hòa bình trên thế giới, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc, cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chúng ta chân thành cảm ơn và không bao giờ quên sự ủng hộ, giúp đỡ đó, tuy nhiên vẫn cần khẳng định yếu tố quyết định, dẫn đến thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chính là sức mạnh vật chất – tinh thần của phong trào giải phóng dân tộc chân chính dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Và thực tế cũng cho thấy, hơn 200 tỷ USD (theo thời giá hiện tại là hơn 600 tỷ USD) mà người Mỹ đã chi phí để nuôi sống bộ máy chính quyền cùng quân đội tay sai trong hơn 20 năm là một con số vượt trội gấp nhiều lần so với viện trợ mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, cùng đồng bào yêu nước ở hai miền Nam – Bắc nhận được trong những năm chiến tranh. Chẳng lẽ con số đó không gợi lên trong GS Lê Xuân Khoa một sự cân nhắc trước khi ông đưa ra kết luận?

Song vấn đề ở đây không chỉ là các con số liên quan đến viện trợ. Ðiều muốn nói là sau khi dựng lên một chính quyền mang “bản chất thừa hành” và chỉ sau một thời gian, chính quyền đó đã lộ rõ sự bất lực trước phong trào giải phóng, không còn cách nào khác, đế quốc Mỹ phải chính thức nhập cuộc, phải tham gia vào cuộc chiến với sự có mặt lúc cao nhất tới hơn nửa triệu quân nhân, với pháo tầm xa 175 ly và xe tăng M41, xe lội nước M113…, với hàng ngàn chiếc máy bay từ F4 -con ma, F105-thần sấm đến F111, pháo đài bay B52… Nhìn chung, sự huy động đến mức tối đa sức mạnh của quân đội Mỹ lúc bấy giờ vào chiến trường miền nam kết hợp với các cuộc ném bom rải thảm với cuồng vọng đẩy miền bắc vào “thời kỳ đồ đá”… đã cho thấy sự có mặt của người Mỹ ở Việt Nam giai đoạn 1954-1975 thực chất là một cuộc chiến trong xâm lược. Ðế quốc Mỹ đã không “ủy nhiệm” cho ai cả, chúng trực tiếp nhập cuộc. Bom Mỹ từ máy bay Mỹ, do người Mỹ lái đã giội xuống hầu hết các phố phường, làng mạc, trường học Việt Nam… Xe tăng Mỹ, do người Mỹ lái, đã cày nát không biết bao nhiêu cánh đồng và thôn xóm Việt Nam… Rồi nữa là con số gần sáu vạn quân nhân Mỹ chết trận cùng những sự kiện như Mỹ Lai chẳng hạn, chẳng lẽ lại không có tác động gì tới nghiên cứu của GS Lê Xuân Khoa?

Ðối lập với thực tế ấy, những người yêu nước ở cả hai miền Nam – Bắc Việt Nam đã bền chí dù phải vét đến cân gạo cuối cùng, tiễn đến người con cuối cùng ra trận cũng cam lòng để giành thắng lợi… Không có sức mạnh của lý tưởng, không có sức mạnh của lòng yêu nước thì bao nhiêu tỷ USD, bao nhiêu triệu tấn súng đạn cũng không thể giúp hàng triệu con người dám hy sinh thân mình cho sự thống nhất của Tổ quốc.

Kẻ viết bài này sinh ra vài năm sau khi Hiệp định Geneva (1954) ký kết và hòa bình trở lại với một nửa miền Bắc. Tôi từng tiễn chân lớp lớp đàn anh của mình ra chiến trường và trong đó nhiều người đã không trở về. Tôi cũng “nếm đủ” những khó khăn gian khổ của miền bắc trong những năm “tất cả cho tiền tuyến, tất cả vì miền nam ruột thịt”. Mười năm học phổ thông là mười năm sơ tán, đi học ở mười một trường khác nhau. Tôi đã chứng kiến những loạt bom Mỹ giết chết hàng trăm y sinh của Bệnh viện Yên Bái năm 1965, đã có mặt ở Hà Nội trong trận quyết chiến “Ðiện Biên Phủ trên không” năm 1972… và đã hiểu thế nào là “nhà tan cửa nát”. Ðến tuổi trưởng thành, tôi cùng bạn bè của mình lại tự giác ra trận. Không có ai “ủy nhiệm”, mà chỉ có lòng yêu nước, lòng tự trọng của con người. Chính vì thế, dù không muốn đặt lại với giáo sư câu hỏi của một bạn đọc đã gửi tới ông trong cuộc thảo luận về bài “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?” rằng: “Thưa ngài giáo sư Lê Xuân Khoa, vậy chứ khi cuộc chiến tranh tại Việt Nam từ 1955-1975, ngài giáo sư đã sống và làm gì ở đâu vậy?”, nhưng quả thật tôi đã thấy như bị xúc phạm bởi ý nguyện chính đáng về vận mệnh của Tổ quốc Việt Nam, của hàng triệu con người lại bị ông gán cho một động cơ thấp kém đến vậy.

Còn đáng phê phán hơn, khi bàn tới lòng yêu nước, giáo sư đưa ra một quan niệm khá mơ hồ: “Trong cuộc chiến này, phe cộng sản vì nhiều lý do đã thắng phe quốc gia nhưng điều đó không có nghĩa là chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước”. Lòng yêu nước là tài sản chung quý giá của mọi người Việt Nam, không ai có thể “độc quyền” lòng yêu nước. Song thiết nghĩ, lòng yêu nước chỉ thật sự là lòng yêu nước khi nó chi phối sự hình thành trong mỗi người một lòng tự tôn, biết hành động vì lợi ích đất nước, không làm bất cứ điều gì gây tổn hại tới danh dự, quyền lợi của đất nước… Xét trên phương diện đó, giáo sư đã xóa nhòa ranh giới giữa lòng yêu nước chân chính của nhân dân ta với những kẻ đã bán rẻ đất nước, phục vụ quyền lợi và mưu đồ của ngoại bang.

Cuối cùng, dù quan niệm về “dân chủ” của tôi và giáo sư có thể khác nhau, dù rất tôn trọng mong muốn của giáo sư: “đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhận ra thực chất của cuộc chiến, ôn lại những bài học quá khứ và nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để có thể cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới”, tôi vẫn muốn được gửi tới ông một góp ý chân thành rằng, mong muốn của giáo sư sẽ chỉ có giá trị nếu kết quả nghiên cứu của ông xuất phát từ một phương pháp luận khoa học, tôn trọng sự thật, với những khảo chứng khách quan, lịch sử, cụ thể, toàn diện… Còn nếu không, nghiên cứu đó xét đến cùng, sẽ chỉ là lẩn tránh, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho các luận điệu của những kẻ đã và đang rắp tâm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại quá trình hòa hợp của người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước khi cùng hướng tới một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà thôi!

2-2005

 


[1]Thời gian “Mỹ hoá chiến tranh” thường được tính từ khi Hoa Kỳ bắt đầu đưa quân chiến đấu vào Việt Nam năm 1965 cho tới khi hiệp định Paris được ký kết năm 1973, nhưng thực tế thì Hoa Kỳ bắt đầu rút quân từ tháng Bảy 1969 và tiếp tục cho đến khi toán quân cuối cùng về nước vào tháng Tám 1972.
[2]Ngoại trừ một cuộc xâm nhập ngắn hạn của 32.000 quân Mỹ tại vùng biên giới Việt-Campuchia (tháng Sáu, 1970) để giúp VNCH phá hủy các căn cứ hậu cần của quân đội Bắc Việt và MTGPMN.
[3]Chính phủ liên hiệp trung lập Lào thành lập theo hiệp định này bị khủng hoảng liên tiếp cho đến tháng Mười Hai 1975 thì hoàn toàn nằm trong tay cộng sản Pathet Lao. Vương quốc Lào bị thay thế bằng Dân chủ Cộng hòa Nhân Dân Lào. Vua Savang Vatthana được phong làm cố vấn cho chủ tịch nước, nhưng sau đó bị đưa đi học tập cải tạo và năm 1978 thì chết ở trong trại cùng với hoàng hậu và con trai lớn.
[4]Ðảng CSVN là sự kết hợp của Ðông Dương Cộng Sản Ðảng, An Nam Cộng Sản Ðảng và Ðông Dương Cộng Sản Liên Ðoàn cùng ra đời năm 1929 ở Trung Hoa.
[5]Về tình hình hoạt động của các đảng phái Việt Nam ở Trung Hoa thời đệ nhị Thế chiến và cuộc tranh giành chính quyền năm 1945 đưa tới tàn sát đẫm máu năm 1946, xin xem Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử của Lê Xuân Khoa, Tiên Rồng xuất bản, 2004, chương 1.
[6]“Khi chiến tranh gia tăng cường độ, mức viện trợ của Liên Xô cũng tăng theo cho tới mức 80 phần trăm tổng số quân viện cho VNDCCH.” (Spencer C. Tucker, ed., The Encyclopedia of the Vietnam War, New York: Oxford University Press, 2000, tr. 415)
[7]Trên đường đi dự hội nghị Genève về tị nạn Ðông Dương tháng Bảy 1989, tôi ghé Paris và được giáo sư Vũ Quốc Thúc cho biết cựu ngoại trưởng Trần Văn Ðỗ muốn gặp tôi để nhắn nhủ. Khi giáo sư Thúc đưa tôi tới thăm, cựu Ngoại trưởng kể lại chuyện gặp ông Phạm Văn Ðồng ở Genève 1954 và khuyên tôi khi sang Genève phải tìm gặp trưởng phái đoàn Hà Nội để thăm dò khả năng giải quyết vấn đề tị nạn giữa người Việt Nam với nhau thay vì phải chịu một giải pháp do Hoa Kỳ và các nước lớn áp đặt. Thấy tôi ngần ngại tiếp xúc với đại diện cộng sản, cựu ngoại trưởng nói: “Nếu có bị ai chỉ trích thì ông cứ nói rằng chính tôi thúc giục ông làm chuyện này.” Tại Genève, tôi nhờ Eric Schwartz, giám đốc Á châu của Hội đồng An ninh Quốc gia và là thành viên của phái đoàn Mỹ, thu xếp cho tôi gặp phái đoàn Việt Nam do Nguyễn Cơ Thạch cầm đầu, nhưng lúc đó ông Thạch từ chối.
[8]Spencer C. Tucker, ed., op. cit., tr. 64.
[9]Dương Trung Quốc, tổng biên tập tạp chí lịch sử Xưa Nay, không phải là đảng viên cộng sản và được bầu làm dân biểu quốc hội. Lời phát biểu này được ghi trong cuộc thảo luận “Bàn tròn Trực tuyến” trên Vietnamnet (www.vnn.vn) ngày 3/2/2004.
[10]Theo lời kể lại của Ramchundur Goburdhun, Chủ tịch Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến, sau khi gặp Hồ Chí Minh trong vai trò trung gian bí mật giữa hai nhà lãnh đạo Bắc Nam năm 1963. Hồ Chí Minh còn nhận xét thêm rằng Ngô Ðình Diệm với cá tính độc lập rất khó hợp tác với Mỹ vì Mỹ muốn kiểm soát mọi chuyện. Ông Hồ còn nhắn Goburdhun: “Khi nào gặp ông Diệm thì bắt tay ông ta giùm tôi.” (Ellen J. Hammer, A Death in November, New York: E.P. Dutton, 1987, p. 222).
[11]V.I. Lê-nin, Toàn tập, tập 26, bản tiếng Việt, NXB Tiến bộ, M. 1981, tr.276.
[12]V.I. Lê-nin, Toàn tập, tập 32, bản tiếng Việt, NXB Tiến bộ, M. 1981, tr.32.

—————————————————

 

Tranh luận về tên gọi Cuộc chiến 1955-1975

Phần 2

III.

Lê Xuân Khoa: Xuyên tạc sự thật hay phục hồi sự thật?

Ngày 15-03-2005, nhật báo Nhân Dân có đăng bài “Gọi tên cuộc chiến hay xuyên tạc sự thật?” của ông Nguyễn Hoà nhận xét về một bài viết của tôi đã được BBC đưa lên trang web của đài ngày 15-2-2005 dưới tựa đề “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”. [1] Khác với một số ít người bảo thủ cực đoan ở trong nước cũng như ở bên Mỹ đã chỉ trích tôi bằng những lời lẽ có tính chất thoá mạ, chụp mũ, ông Nguyễn Hoà đã giữ được thái độ nghiêm chỉnh, lịch sự, mặc dù cũng có lúc ông đã chê trách tôi là “ngô nghê” hay ”khôi hài”. Tôi cám ơn ông Hòa về thái độ nghiêm chỉnh cần thiết trong khi tranh luận vì lẽ phải và sự thật, để cuối cùng nếu hai bên không đồng ý được với nhau thì vẫn có thể tôn trọng sự khác biệt, đúng với tinh thần thảo luận dân chủ “we agree to disagree” (đồng ý là chúng ta bất đồng ý với nhau).

Ông Nguyễn Hoà nhìn nhận tôi có thiện ý “nhắc lại quá khứ không phải nhằm khơi dậy lòng thù hận” mà để “rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai.” Nhưng ông khuyến cáo tôi phải “xem xét cẩn trọng” vì, theo ông, tôi đã phạm phải nhiều sai lầm về phương pháp học cũng như trong quan niệm về chính nghĩa của chiến tranh “chống Mỹ cứu nước.” Ông Hoà đã nêu lên ba sai lầm lớn trong bài viết của tôi:

1. Về tên gọi của cuộc chiến

Trong đoạn kết, tôi đề nghị “cuộc chiến này (1955-1975) nên được gọi đơn giản là ‘Chiến tranh Việt Nam’ với ý nghĩa khách quan phi chính trị là chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam” để cho các bên liên hệ có thể “vượt lên khỏi những ám ảnh tiêu cực của quá khứ và những cuộc tranh luận do tình cảm chủ quan.”

Ðề nghị này bị ông Nguyễn Hoà phê bình nghiêm khắc vì cho rằng tôi đã phạm phải hai sai lầm quan trọng: (a) tôi đã loại bỏ yếu tố chính trị ra khỏi cuộc chiến, tức là đã phủ nhận chính nghĩa của “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam” và thay thế vào đó bằng cách giải thích bản chất của cuộc chiến này là “nội chiến” đồng thời là “chiến tranh uỷ nhiệm”; và (b) tôi đã “khá ngô nghê” khi xác định rằng “Cuộc nội chiến vì lý tưởng khác biệt, cộng sản và không cộng sản, có mầm mống từ cuối thập kỷ 1920” với sự thành lập của Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Theo ông Nguyễn Hòa, tôi đã “đánh đồng mục tiêu mà Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông theo đuổi với bản chất ‘thừa hành’ của những người cầm quyền do người Pháp, và sau này là người Mỹ, dựng lên ở miền Nam Việt Nam.”

Về điểm (a), trước hết tôi cần phải nói ngay rằng mục đích chính và rõ rệt của tôi khi viết bài này vào dịp Tết là mong ước rằng chính quyền trong nước và cộng đồng người Việt hải ngoại, sau chiến tranh đã ba mươi năm, có thể “nhìn nhận nhau với những trao đổi bình đẳng hai chiều để cùng góp công xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ, hội nhập thành công vào cộng đồng thế giới và có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương Bắc.” Ðây cũng chính là điều mà các nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước mong muốn từ nhiều năm nay nên đã luôn luôn kêu gọi mọi người hãy khép lại quá khứ, hướng về tương lai để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước. Muốn đạt được mục đích ấy thì cả hai bên – trước tiên là phe thắng trận – cần phải thực lòng hoà giải với nhau, nhìn nhận nhau và đối xử trong tinh thần bình đẳng. Kết quả này chỉ có thể đạt được nếu cả hai bên đều bình tâm ôn lại những bài học quá khứ, kiểm điểm không chỉ những thành tựu mà cả những sai lầm của mình vì lợi ích chung của dân tộc.

Trong lúc chiến tranh, nếu hai bên đối nghịch có gán cho nhau đủ mọi thứ lỗi lầm và tội ác thì cũng là điều dễ hiểu, nhưng khi cuộc chiến đã chấm dứt thì phe thắng trận không thể cứ tiếp tục thái độ tự tôn và khinh miệt đối với phe thất trận. Tôi không hề phủ nhận khả năng lãnh đạo, tổ chức, và chính nghĩa mà Mặt trận Việt Minh đã giành được trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954, cũng như tôi đã không bỏ qua những nhược điểm về tổ chức và lãnh đạo của các lãnh tụ quốc gia, cùng với sự phản bội của đồng minh, đã khiến cho họ phải thất bại. Nhưng nhất định không thể vì những nhược điểm ấy mà khẳng định rằng những người không theo hay đối lập với Ðảng Cộng sản đều không yêu nước, thậm chí là “Việt gian phản quốc”. Cứ tiếp tục khẳng định như thế mới chính là “tuyên truyền một chiều”, “xuyên tạc lịch sử” và “độc quyền yêu nước”.

Không thể nói rằng những người có lập trường chính trị không cộng sản không phải là những người yêu nước. Những trí thức Tây học như Nguyễn An Ninh, Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn Tường Tam, dù đường lối chính trị có khác nhau, cũng đều là những người đã chống thực dân Pháp kịch liệt. Tuy nhiên, trong quá khứ đã có nhiều nhà cách mạng và chính trị gia không cộng sản hay thuộc phe đệ tứ quốc tế bị sát hại do chính sách “tiên hạ thủ vi cường” của Việt Minh, nhất là trong chiến dịch truy diệt đảng phái quốc gia tháng Năm–tháng Mười năm 1946. Cứ thực tình mà nói, ngay cả những nhà cách mạng tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, giả thử còn sống cho đến khi Ðảng Cộng sản chính thức cầm quyền thì số phận của các cụ chắc hẳn đã đổi khác và khó lòng được đặt tên cho các đường phố ở Việt Nam.

Trong cuộc chiến 1955-1975, một lần nữa Ðảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ khả năng tổ chức và lãnh đạo giỏi trên cả hai mặt trận tuyên truyền và quân sự. Do chính sách sai lầm của Mỹ, do quan niệm trị nước phong kiến của Ngô Ðình Diệm và sự tồi tệ của những chính quyền quân phiệt kế tiếp, quân và dân miền Bắc đã tin tưởng ở nghĩa vụ “giải phóng đồng bào miền Nam khỏi vòng kìm kẹp của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” và chấp nhận mọi hi sinh gian khổ để “chống Mỹ cứu nước”. Cuộc “Mỹ hoá chiến tranh” với hàng triệu tấn bom và hỏa lực khủng khiếp trong những cuộc oanh tạc miền Bắc và hành quân lùng và diệt địch tại chiến trường miền Nam đã chỉ làm gia tăng niềm phẫn nộ của dân chúng toàn miền Bắc và làm mất lòng người trong những vùng bị càn quét ở miền Nam.

Tuy nhiên, không thể vì những nhược điểm lãnh đạo của Ngô Ðình Diệm hay tham vọng chính trị của một số tướng lãnh miền Nam mà kết luận rằng toàn thể chế độ Việt Nam Cộng Hòa là “bù nhìn” hoặc “tay sai của đế quốc Mỹ.” Cần phải nhìn nhận rằng Ngô Ðình Diệm, khi mới lên cầm quyền, đã ổn định được tình trạng hỗn loạn năm 1955 và được nhân dân miền Nam tin tưởng vì đức tính thanh liêm và các thành tích yêu nước của ông từ thời Pháp thuộc. Chỉ đến khi củng cố chế độ độc tài gia đình trị theo quan niệm “dân chi phụ mẫu”, ông mới gây nên luồng sóng bất mãn trong dân chúng đưa đến những mưu toan đảo chánh mà kết cuộc là ông bị thảm sát năm 1963. Ngoài ra, Ngô Ðình Diệm luôn luôn giữ tinh thần độc lập, không chịu nhượng bộ trước mọi áp lực của Hoa Kỳ, thậm chí có nhà ngoại giao Mỹ đã nhận xét về nhãn hiệu “bù nhìn” mà phía cộng sản đã gán cho ông: “(Ông Diệm) là một bù nhìn tự giật giây lấy và giật giây luôn cả chúng ta (Mỹ) nữa.” [2] Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác nhận rằng nhà lãnh đạo miền Nam khi ấy là “một người yêu nước theo cách của ông ta” và “với cá tính độc lập, Ngô Ðình Diệm rất khó hợp tác với Mỹ vì Mỹ muốn kiểm soát mọi chuyện.” [3]

Sau Ngô Ðình Diệm là một chuỗi chính quyền quân phiệt do một số tướng lãnh chỉ lo tranh giành quyền lãnh đạo chính trị hơn là chỉ huy quân sự khiến cho Hoa Kỳ phải đem quân chiến đấu vào “Mỹ hoá” cuộc chiến, để rồi khi Mỹ rút quân về nước và cắt viện trợ thì sự sụp đổ của miền Nam sẽ phải là hậu quả tất nhiên không thể tránh được. Nhiều binh chủng thiện chiến bị tan rã, các tướng tá ngoài mặt trận bị cắt phương tiện chiến đấu và quyền quyết định nên trước tình thế tuyệt vọng nhiều người đã tự chọn cái chết thay vì đầu hàng hay bị bắt. Ngay cả những tướng lãnh ham làm chính trị cũng không phải là những kẻ chỉ biết phục tùng mệnh lệnh của Mỹ. Tham quyền cố vị như Nguyễn Văn Thiệu cũng đã làm cho Nixon và Kissinger phải điên đầu trước khi không còn sự lựa chọn nào khác hơn là chấp thuận bản Hiệp định Paris để đổi lấy những lời cam kết của Nixon sẽ “tiếp tục hỗ trợ đầy đủ nhất, cả về kinh tế lẫn quân sự phù hợp với những điều khoản về ngưng chiến của bản hiệp định này”, và nhất là “Tôi tuyệt đối đoan chắc với Ngài là nếu Hà Nội không tôn trọng những điều thoả thuận thì tôi sẽ quyết định hành động trả đũa nghiêm khắc và mau chóng.” [4]

Ngoài ra cũng cần phân biệt nhân sự lãnh đạo với cấu trúc chính trị của chế độ. Dù cá nhân lãnh đạo miền Nam có thể bị chỉ trích vì lạm dụng quyền hành, cấu trúc chính trị của Việt Nam Cộng Hòa là một mô hình dân chủ tam quyền phân lập có giá trị mà nếu được thi hành đúng đắn thì chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc và tiến bộ cho dân tộc. Ngay trong thời chiến tranh và lãnh đạo lạm quyền, ngưòi dân miền Nam cũng đã được hưởng các quyền tự do căn bản ở mức độ đáng kể như tự do tín ngưỡng, báo chí, kinh doanh, lập hội, biểu tình. Nước Nga ngày nay, dù lãnh đạo vẫn còn khuynh hướng độc đoán, đã thiết lập được một cấu trúc chính trị tương tự như miền Nam Việt Nam thời trước.

Trong bài viết về tên gọi cuộc chiến, tôi đã xác nhận “lý do chính đáng để gọi giai đoạn Mỹ hoá chiến tranh (1965-1972) là Chiến tranh của Mỹ (American War). Nhưng ngoài thời gian bảy năm có sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài, cuộc chiến hai mươi năm vẫn là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn vì những lý tưởng chính trị khác nhau, một bên là những người tin tưởng ở một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình đẳng do chủ nghĩa cộng sản đem lại cho toàn thể nhân dân, và một bên là nhừng người chọn lựa một xã hội dân chủ tư sản trong đó người dân có nhiều quyền tự do và cơ hội phát triển đời sống cá nhân. Từ những lý tưởng đối lập đó, cả hai bên đã bị những đồng minh khổng lồ sử dụng trong cuộc tranh giành vai trò lãnh đạo quốc tế được gọi tên là Chiến tranh Lạnh. Cuộc nội chiến do đó cũng là chiến tranh ủy nhiệm. Tôi không thấy cần phải nói gì hơn về chiến tranh ủy nhiệm vì trong bài “Gọi tên gì cho cuộc chiến” và nhất là trong cuốn Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử, tôi đã chứng minh tính chất này qua những áp lực của các “nước bạn” mà mỗi bên đã phải chịu đựng trong suốt hai cuộc chiến kéo dài ba mươi năm (1945-1975).

Về điểm (b), tôi không thấy tôi sai lầm khi nhắc đến lai lịch cuộc nội chiến, có “mầm mống” từ những cương lĩnh khác nhau giữa Việt Nam Quốc Dân Ðảng của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Cộng Sản Ðảng của Hồ Chí Minh, qua những hoạt động cạnh tranh giữa các lãnh tụ quốc gia và cộng sản trong những ngày lưu vong ở Trung Hoa, cho đến những cuộc thanh toán đẫm máu năm 1946. Viết như thế, tôi không thấy tôi đã “xúc phạm vong linh của tiền nhân” vì những nhà cách mạng không cộng sản như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đều là những người yêu nước chân chính, dù họ đã thất bại. Những lãnh tụ chính trị hay tôn giáo đã bị Việt Minh thủ tiêu như Trương Tử Anh, Lý Ðông A, Hồ Văn Ngà, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ, Trần Quang Vinh đều là những người yêu nước chống Pháp. Tiếp đến là những chính trị gia thời Việt Nam Cộng Hòa như Ngô Ðình Diệm, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Tuyên (ba người sau này chết trong trại tù cải tạo,) dù đường lối chính trị có thể khác nhau, nhưng nhất định không thể bảo là những kẻ “thừa hành” hay là “tay sai của đế quốc Mỹ.”

2. Về ý thức hệ quốc gia

Ông Nguyễn Hòa khẳng định rằng, từ đầu thế kỷ 20, người Việt Nam đã yêu nước bằng những con đường khác nhau “nhưng cuối cùng, sự lựa chọn duy nhất đúng chỉ có được với sự ra đời của Ðảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh.” Ông đã nêu ra giả thuyết là nếu Pháp không quay trở lại xâm lược Việt Nam thì “với chính quyền nhân dân đã được thành lập trên cả nước vào cuối năm 1945… chúng ta hoàn toàn có thể chung tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.”

Từ lý luận đó, ông cho rằng các chính quyền Quốc Gia Việt Nam thời 1945-1954 cũng như chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời 1955-1975 chỉ là những “công cụ thừa hành” của Pháp rồi sau đó là của Mỹ, “không có một định hướng chính trị cụ thể” vì thế “sẽ là hài hước nếu cho rằng chính quyền thừa hành nói trên lại được xây dựng trên cơ sở một ‘ý thức hệ’.”

Trước hết, cần nhận xét về lai lịch và bản chất của những chính quyền quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1945-1954. Khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ trên toàn quốc vào cuối năm 1946 [5] thì các lực luợng đảng phái quốc gia đã bị tiêu diệt gần hết. Các lãnh tụ và đảng viên còn sống sót của Quốc Dân Ðảng hay Cách Mệnh Ðồng Minh Hội đều đã phải chạy sang Tàu hay lẩn sâu trốn kỹ. Vì được Mỹ giao cho nhiệm vụ ngăn chặn Cộng sản ở Á châu, Pháp phải điều đình với Bảo Ðại để thành lập một chính quyền quốc gia với lời hứa hẹn trao trả độc lập cho một nước Việt Nam không cộng sản. Do Hiệp Ðịnh Hạ Long năm 1948, chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên được ra đời. Một số chính khách vì tin tưởng ở sự ủng hộ của Hoa Kỳ sau lưng Pháp nên nhận lời tham gia chính phủ. Ðây chỉ là sự hợp tác chẳng đặng đừng của những người bị thất thế, lại bị lẫn lộn với những phần tử hoàn toàn thân Pháp nên không lôi cuốn được sự ủng hộ của nhân dân. Thái độ ngoan cố và giả dối của Pháp đã phá hoại cơ hội gây dựng tín nhiệm của tất cả các chính phủ hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Mãi đến ngày 4 tháng Sáu, chỉ hơn một tháng trước ngày ký hiệp định Genève, khi biết rằng đằng nào cũng phải ra đi, Pháp mới chịu trao trả độc lập hoàn toàn cho Quốc Gia Việt Nam, qua hiệp ước Daniel–Bửu Lộc.
Các chính phủ quốc gia thời Bảo Ðại, dù có những khuôn mặt thân Pháp như Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, đều có những nỗ lực đòi Pháp trả lại độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, do những lỗi lầm của Pháp, họ không đạt được kết quả mong muốn và công cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp đến thắng lợi là hoàn toàn do Việt Minh lãnh đạo. Bởi thế, tôi đã nêu ý kiến là cuộc chiến 1945-1954 có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau: chiến tranh giành độc lập, chiến tranh chống đế quốc Pháp, hay ngắn gọn hơn, chiến tranh Việt–Pháp. Quốc Gia Việt Nam của Bảo Ðại dù sao cũng chưa phải là một thực thể độc lập và đã bị gắn liền với vai trò của Pháp nên không đáng được nhắc tới.
Tuy nhiên, sau khi đất nước đã bị chia đôi và miền Nam đã hoàn toàn độc lập từ 1955 dưới danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà thì đây là một thực thể độc lập về chính trị, quân sự và ngoại giao, hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng quốc tế, đối lập với thực thể Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở miền Bắc. Nếu chính sách của Mỹ không phạm phải sai lầm, nếu đường lối cai trị của Ngô Ðình Diệm không trở thành độc đoán thì Việt Nam Cộng Hoà đã có triển vọng trở thành giàu mạnh không thua kém gì Ðại Hàn ngày nay.

Về mặt ý thức hệ, nếu hiểu sát nghĩa là một hệ tư tưởng chính trị toàn diện với cơ sở lý luận đặc thù và những giáo điều soi sáng cho hành động của đảng viên như chủ nghĩa Mác-xít và Cộng sản quốc tế thì đúng là phe quốc gia Việt Nam không có một hệ tư tưởng nào có tầm vóc tương đương. Ngoại trừ các tôn giáo lớn với kinh điển của những vị giáo chủ được mặc khải hay tự giác và một số lý thuyết về dân tộc chủ nghĩa của một số lãnh tụ quốc gia, khi nói về ý thức hệ của những người Việt Nam không cộng sản thì tức là nói về những quan điểm chính trị đa nguyên nhưng đều lập cước trên những nguyên tắc căn bản về dân tộc, dân quyền và dân sinh, chú trọng vào công cuộc phát triển cá nhân để cùng đóng góp vào tiến bộ chung của xã hội. Hiểu như vậy thì tất cả những công dân trong một quốc gia không cộng sản đều có ý thức hoặc được giáo dục về quyền lợi và bổn phận của mình, và những người cầm quyền đều phải có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đạt được các nguyện vọng chính đáng của họ. Lãnh đạo mà đi ngược với nguyện vọng của nhân dân thì sớm muộn gì cũng sẽ bị thay thế hay lật đổ. Các biến cố lịch sử mấy chục năm về trước đã cho thấy các chính quyền miền Nam không phải là những “pho tượng đất được thổi linh hồn” như ông Nguyễn Hoà đã mô tả mà chính là những con người thật có ý thức đã phải đối phó rất vất vả—và có khi phải thiệt mạng—khi có những quyết định trái ngược với nguyện vọng của nhân dân.

Trở lại điều khẳng định của ông Nguyễn Hoà là “sự lựa chọn duy nhất đúng” của người dân Việt Nam là “Ðảng Cộng sản Việt Nam và vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, nhận xét của tôi là điều khẳng định này chỉ đúng có một phần rất nhỏ. Trước hết, Ðảng Cộng sản Ðông Dương [6] đã tự giải tán từ tháng Mười Một 1945 cho đến khi tái xuất hiện năm 1951 với tên mới là Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, sau khi Mao Trạch Ðông đã thống nhất được Trung Quốc và trở thành “hậu phương lớn” của đồng minh Cộng sản Việt Nam. Nhân dân Việt Nam chưa khi nào có cơ hội lựa chọn giữa Ðảng Cộng sản và các đảng khác để có thể nói rằng đây là sự lựa chọn “duy nhất đúng”. Tổ chức chính thức qui tụ được các đoàn thể nhân dân từ Cách Mạng tháng Tám 1945 và điều động cuộc kháng chiến cho đến 1954 là Mặt trận Việt Minh, và trong suốt thời gian đó Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh luôn luôn nêu cao chính nghĩa “toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập”, không bao giờ tuyên bố chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản hay kêu gọi nhân dân theo Ðảng Cộng sản. Nói cách khác, hầu hết những người đi theo Việt Minh đều do lòng yêu nước chứ không phải vì ý thức hệ mác-xít. Chủ tịch Hồ Chí Minh được đa số biết đến và tin tưởng dưới hình ảnh của một nhà cách mạng vì dân tộc chứ không phải với tư cách một lãnh tụ cộng sản.

Ông Nguyễn Hòa có nêu lên một giả định lịch sử là nếu Pháp không trở lại Việt Nam năm 1945 thì sau khi chính quyền nhân dân đã thành lập trên toàn quốc, “chúng ta hoàn toàn có thể chung tay xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh.” Ðiều này không có gì đảm bảo vì lịch sử đương đại đã chứng minh là không có một nước cộng sản nào có thể làm cho dân giàu nước mạnh trừ khi chấp nhận kinh tế thị trường và thực hiện “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” Trên kia, tôi cũng đã đưa ra một giả định lịch sử có tính hiện thực hơn là nếu Ngô Ðình Diệm không lãnh đạo sai lầm thì miền Nam Việt Nam đã có thể trở thành một con rồng nhỏ ở Á châu như trường hợp một nửa phía Nam của Hàn quốc.

3. Về chiến tranh ủy nhiệm

Ở đây, ông Nguyễn Hoà trở lại điểm số 1 để phản bác nhận xét của tôi trong cuốn sách Việt Nam 1945-1995 (tập I) mà ông cho là “khôi hài” khi tôi viết: “Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là ‘tất cả mọi phe đều thua’.”

Ông Hòa buộc tội tôi đã coi “nền độc lập và sự kiện sau ba mươi năm giang sơn thống nhất về một mối” là “một sự thất bại” và đặt câu hỏi: “phải chăng giáo sư lại mong muốn Tổ quốc Việt Nam – nơi ông đã sinh ra, lại mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?”

Ông Hoà giải thích: “sự ủng hộ rộng rãi về tinh thần, sự giúp đỡ to lớn về vật chất của khối xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc… chính là sức mạnh vật chất–tinh thần của phong trào giải phóng dân tộc chân chính dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.” Sau đó, ông cũng cho thấy “hơn 200 tỷ USD (theo thời giá hiện tại là hơn 600 tỷ USD) mà người Mỹ đã chi phí để nuôi sống bộ máy chính quyền cùng quân đội tay sai trong hơn 20 năm là một con số vượt trội gấp nhiều lần so với viện trợ mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam, cùng đồng bào yêu nước ở hai miền nam-bắc nhận được trong những năm chiến tranh”. Về điểm này, tôi lại phải nói ngay rằng chi phí của Mỹ cho chiến tranh Việt Nam bao gồm cả những chi phí cho quân đội Mỹ đánh trận theo kiểu nhà giàu, [7] tốn kém phí phạm gấp nhiều lần so với số viện trợ cho quân đội và dân chúng miền nam. Ngoài ra, “sự giúp đỡ to lớn” của Liên Xô và Trung Quốc không phải là không kèm theo những áp lực đòi Ðảng Cộng sản Việt Nam phải thi hành, và khi thấy Việt Nam không còn có lợi ích cho quốc gia họ thì họ không ngần ngại bỏ rơi. Những nỗi đắng cay trong quan hệ với các “nước bạn” đã được tiết lộ bởi Tổng Bí thư Lê Duẩn trong những buổi nói chuyện với các đồng chí Bộ Chính trị, bởi các nhà ngoại giao Hà Nội trong những phiên họp hậu chiến với Mỹ từ 1995 đến 1998, và cuốn Sách trắng nhan đề Sự thật về Quan hệ Việt Nam–Trung Quốc trong 30 năm qua của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam công bố ngày 4 tháng Mười năm 1979.

Khi đọc bài “gọi tên cuộc chiến” của tôi, ông Nguyễn Hòa không thể không để ý đến câu tôi viết: “Lịch sử Việt Nam là một thiên hùng sử của một dân tộc hàng ngàn năm tranh đấu chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập cho tổ quốc” và việc tôi nhấn mạnh đến nhu cầu hòa giải và “đoàn kết dân tộc để có đủ khả năng đối phó với những đe dọa mới từ phương bắc”. Như vậy, làm sao mà tôi lại có thể là con người “mong muốn Tổ quốc Việt Nam… mãi mãi bị chia cắt, mãi mãi phải quằn quại dưới gót giày ngoại bang?” Khi đọc cuốn sách đã dẫn trên của tôi, ông Hoà hẳn cũng nhận thấy rằng khi nói về chiến thắng Ðiện Biên Phủ, tôi đã nêu lên ba nguyên nhân chính: (1) viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, (2) lãnh đạo giỏi của Ðảng Cộng sản Việt Nam với sự cố vấn của Trung Quốc, và (3) tinh thần chiến đấu dũng cảm cùng với sức chịu đựng phi thường của quân đội và dân công Việt Nam.

Ngoài việc phê phán tôi xuyên tạc lý tưởng của những người đã “hy sinh thân mình cho sự thống nhất của Tổ quốc”, ông Hoà còn không chấp nhận ý kiến của tôi là “không phải chỉ có kẻ thắng trận mới là người yêu nước.” Ông dứt khoát phủ nhận lòng yêu nước của những người đối lập với chủ nghĩa cộng sản và buộc tội họ là những kẻ phản quốc. Ông kết án tôi “đã xoá nhoà ranh giới giữa lòng yêu nước chân chính của nhân dân ta với những kẻ đã bán rẻ đất nước, phục vụ quyền lợi và mưu đồ của ngoại bang.” Tôi thấy không cần phải thêm vào những điều tôi đã trả lời rất rõ ràng trong hai vấn đề 1 và 2 trên đây cũng như trong cuốn sách của tôi về lòng yêu nước và lý tưởng tự do dân chủ của những người không cộng sản.

Stanley Karnow, tác giả cuốn VIETNAM: A History được đánh giá cao ở Việt Nam, đã đặt tên cho chương sách đầu tiên của ông là “Cuộc chiến không ai thắng” vì theo ông, đây là “cuộc chiến tranh giữa các nạn nhân”. Nhận xét ấy đã gợi ý cho tôi suy nghĩ thêm và kết luận đây là “cuộc chiến mà mọi phe đều thua.” Như đã chứng minh ở trên, tôi không hề phủ nhận tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân đội cộng sản và lòng hi sinh vô bờ của nhân dân miền Bắc, nhưng tôi không thể không nhắc đến cái giá quá đắt về tài sản và nhân mạng và những tác hại lâu dài của một cuộc chiến lẽ ra không cần thiết hoặc có thể đã được chấm dứt sớm hơn nhiều. Chỉ riêng sự kiện Ðảng Cộng sản đã quyết định thực hiện tiến trình “đổi mới” từ ngót hai chục năm nay và đang cố gắng đáp ứng điều kiện của các nước để có thể gia nhập “Tổ chức Thương mại Thế giới” (WTO) cũng đủ cho thấy một thực tế là Nhà nước đang từ bỏ nền kinh tế tập trung để quay trở lại nền kinh tế thị truờng. Tôi chợt nhớ đã được đọc ở đâu đó một định nghĩa thật gọn gàng và chính xác: “Chủ nghĩa cộng sản là một chu trình lâu dài và đẫm máu từ chủ nghĩa tư bản đến… chủ nghĩa tư bản.”

Ðể tổng kết, ông Nguyễn Hòa đã khuyến cáo rằng điều tôi mong muốn về sự nhìn nhận và trao đổi bình đẳng hai chiều chỉ có giá trị nếu kết quả nghiên cứu của tôi “xuất phát từ một phương pháp luận khoa học, tôn trọng sự thật, với những khảo chứng khách quan, lịch sử, cụ thể, toàn diện… Còn nếu không, nghiên cứu đó xét đến cùng, sẽ chỉ là lẩn tránh, xuyên tạc sự thật, biện hộ cho các luận điệu của những kẻ đã và đang rắp tâm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, phá hoại quá trình hòa hợp của người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước”.

Thật là một lời cảnh cáo nghiêm khắc và một lời buộc tội nặng nề. Tôi hi vọng khi đọc hết bài trả lời này, ông Nguyễn Hòa sẽ đồng ý rằng tôi không chỉ là một kẻ có thiện chí muốn vận động cho mục tiêu hoà giải và đoàn kết dân tộc để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu, mạnh và dân chủ mà còn là một người nghiên cứu khách quan, khoa học, tôn trọng sự thật. Nếu ông Hoà thật sự tán thành ý kiến của tôi là “đã đến lúc chính quyền trong nước và cộng đồng hải ngoại cần phải nhìn nhận nhau với những trao đổi hai chiều” thì ông không thể cứ tiếp tục bảo vệ thái độ tự tôn của kẻ thắng trận và chủ trương chỉ có người cộng sản là yêu nước. Thật là vừa ngô nghê vừa khôi hài nếu bảo rằng một người đã giảng dạy trên hai mươi năm ở nhiều đại học và đã điều hành nhiều chương trình giúp đỡ nhân đạo ở Việt Nam từ mười mấy năm nay, là một kẻ làm việc thiếu phương pháp nghiên cứu khoa học, lẩn tránh, xuyên tạc sự thật và biện hộ cho những kẻ đang rắp tâm chia rẽ dân tộc.

Ôn lại quá khứ và phục hồi sự thật lịch sử sẽ không khỏi làm phật lòng những người có trách nhiệm hay làm buồn lòng những người liên hệ. Nhưng sự thật lịch sử, kể cả những sai lầm khó tránh trong những tình huống đặc biệt, sẽ không thể che giấu mãi được. Vả lại, phục hồi sự thật lịch sử không phải để khơi lại lòng thù hận mà để cùng nhau rút ra những bài học quá khứ để làm tốt cho tương lai. Nhìn nhận những sai lầm đã qua sẽ chứng tỏ tư cách chân chính của người lãnh đạo. Hầu hết những người có trách nhiệm đều đã khuất, những người lãnh đạo hiện tại càng dễ vượt lên khỏi những ràng buộc của quá khứ để thực hiện đại đoàn kết dân tộc bằng những hành động hoà giải và hợp tác bình đẳng hai chiều để cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh và dân chủ. Ðể có thể “khép lại quá khứ, hướng về tương lai”, hãy trả lại những tên gọi “chiến tranh chống Mỹ–Ngụy” và “chiến tranh chống Cộng sản” cho quá khứ huynh đệ tương tàn. Chỉ như vậy mới có thể xóa bỏ được hận thù, tạo điều kiện cho những đóng góp to lớn và có kế hoạch, về tài chánh cũng như chất xám, của ba triệu người Việt Nam từ những quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới ngày nay.

Rốt cuộc, vấn đề chính vẫn là có hay không những người thật tâm nghĩ đến lợi ích chung của đất nước và dân tộc?

Maryland, 1 tháng Tư 2005


 

[1]Bài này được viết dưới tựa đề “Tranh luận về tên của cuộc chiến” đăng trong số Xuân Ất Dậu của tạp chí Nhịp Sống do một nhóm bạn trẻ vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ chủ trương. BBC xin phép tôi cho đưa bài này lên trang web của đài và được tôi đồng ý, không phải như có người đã viết là tôi “xin” đài BBC để được đăng. Khi đăng bài này, BBC đã bỏ mất phần chú thích quan trọng. Ðộc giả muốn có bài với đầy đủ chú thích xin viết e-mail cho tôi về địa chỉ : lxkhoa@hotmail.com
[2] Stanley Karnow, Vietnam: A History (New York : Viking, 1991), tr. 251.
[3]Lời kể lại của Ramchundur Goburdhun, Chủ tịch Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Ðình chiến, được Ellen J. Hammer dẫn trong A Death in November (New York: E.P. Dutton, 1987), tr. 222.
[4]Thư của Richard M. Nixon gửi Nguyễn Văn Thiệu ngày 16-10-1972 và ngày 15-11-1972.
[5]Cuộc chiến tranh chống Pháp trên toàn quốc chính thức ngày 19-12-1946, nhưng cuộc kháng chiến đã diễn ra ở miền Nam từ tháng Chín 1945.
[6]Chỉ tám tháng sau ngày thành lập (tháng Hai 1930) Ðảng Cộng sản Việt Nam đã phải lấy lại tên cũ là Ðảng Cộng sản Ðông Dương, do chỉ thị của Comintern, để phù hợp với mục tiêu quốc tế đấu tranh giai cấp hơn là mục tiêu độc lập dân tộc.
[7]Chẳng hạn “cứ 4 lính Mỹ chiến đấu thì có 5 người phục vụ ở hậu tuyến kể cả những người làm bếp, làm cà-rem, nhân viên làm việc ở các trung tâm giải trí và kho hàng PX.” Tướng Westmoreland xác nhận “hầu hết các binh sĩ của chúng ta đều có những bữa ăn nóng ngay cả ở trong rừng” (Jack Anderson, báo The Washington Post, 21-7-1967).

 
 
Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Posted in Chiến tranh VN | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: