BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Ba 22nd, 2009

Sự phát triển sẽ dẫn đến dân chủ

Posted by adminbasam trên 22/03/2009

Người vợ của Chí Sĩ Phan Bội Châu

LẤY ẢNH LÀM CHỒNG (Chuyện bà Phan Bội Châu) 

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940)

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhà yêu nước vĩ đại. Suốt đời ông đã quên mình và quên cả gia đình, chỉ hoạt động vì dân vì nước. Ông làm được điều nầy, một phần nhờ sự hy sinh cao cả của vợ ông, bà Phan Bội Châu.

Bà Phan Bội Châu tên thật là Thái Thị Huyên, con ông Thái Văn Giai. Ông Thái Văn Giai là một nhà Nho, sống tại thôn Đức Nam, làng Diên Lâm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, và là bạn học của ông Phan Văn Phổ, thân sinh Phan Bội Châu. Bà Thái Thị Huyên sinh năm 1866 (bính dần), lớn hơn chồng một tuổi.

Phan Bội Châu vốn có chí hoạt động cách mạng, muốn trì hoãn việc lập gia đình, nhưng ông là con trai độc nhất trong một gia đình đã bốn đời có con trai một, nên thân sinh ông bắt ông phải cưới vợ sớm. Hai ông bà đính hôn lúc còn nhỏ tuổi, và làm lễ cưới năm 1888 (mậu tý) do sự sắp đặt của gia đình hai bên.

Cưới vợ được tám năm, ông vẫn chưa có con mà thân phụ ông muốn có cháu bồng, nên bà Thái Thị Huyên (chánh thất, vợ cả) đã cưới bà thứ thất (vợ nhỏ) cho chồng năm 1896.(1) Bà thứ thất của Phan Bội Châu tên là Nguyễn Thị Em.

Chẳng bao lâu bà thứ thất (bà Em) sinh được một con trai và bà chánh thất (bà Huyên) cũng sinh thêm một trai nữa. Theo tục lệ xưa, tuy con bà chánh thất sinh sau, nhưng được làm anh, còn con bà thứ thất sinh trước, lớn tuổi hơn, lại phải làm em. Để khẳng định tôn ty trong gia đình, Phan Bội Châu đặt tên con bà chánh thất (nhỏ tuổi hơn) là Phan Nghi Huynh, con bà thứ thất (lớn tuổi hơn) là Phan Nghi Đệ. “Nghi huynh nghi đệ” có nghĩa là “anh xứng đáng ra anh, em xứng đáng ra em.” Cách thức sắp đặt gia đình của Phan Bội Châu theo đúng đạo cương thường trong Nho giáo.

Phan Bội Châu vốn không có chí khoa cử sĩ hoạn, nhưng để có điều kiện hoạt động cách mạng, ông dự kỳ thi hương tại trường thi Nghệ An năm canh tý (1900) và đỗ giải nguyên (thủ khoa). Sau đó Phan Bội Châu vào Huế mượn cớ theo học trường quốc tử giám để tìm cách liên kết nhân tài. Cuối năm 1904 (giáp thìn), Phan Bội Châu xin phép trường quốc tử giám về quê ăn Tết, thật sự là rời Huế để chuẩn bị qua Nhật hoạt động. Trước khi ra đi năm 1905, Phan Bội Châu đã tự viết hai tờ giấy ly dị vợ, giao cho hai bà vợ để phòng thân, rủi công việc của ông bị bại lộ, nhà cầm quyền có thể đến làm phiền hai bà, thì hai bà trưng giấy ly dị để khỏi bị liên lụy.(2)

Phan Bội Châu viết rất nhiều sách, nhưng ngược lại nói rất ít về gia đình. Sách vở cũng ít đề cập đến gia đình Phan Bội Châu. Có thể bà thứ thất (Nguyễn Thị Em) từ trần trước khi Phan Bội Châu bị bắt về nước năm 1925, vì khi người Pháp dẫn giải Phan Bội Châu từ Hà Nội vào Huế cuối năm đó, đi ngang qua thành Nghệ An, chỉ có một mình bà chánh thất đến gặp Phan Bội Châu được nửa giờ đồng hồ. Trong câu đối khóc bà vợ thứ, Phan Bội Châu kể:

“Có chồng mà ở góa, mấy chục năm tròn, ơn trời gặp hội đoàn viên, vội bỏ đi đâu, trao gánh nặng về phần chị cả;

“Vì nước phải liều mình, biết bao bạn cũ, cõi Phật đưa lời trân trọng, thiêng thời phải gắng, chung lòng hăng hái với thầy tôi.”

Bà chánh thất Thái Thị Huyên từ trần năm 1936 (bính tý). Trước lúc bà sắp từ trần, Phan Bội Châu làm câu đối bằng chữ Nho (chữ Tàu) gởi về an ủi vợ:

“Trấp niên dư cầm sắc bất tương văn, khổ vũ thê phong, chi ảnh vi phu, nhật hướng sằn nhi huy nhiệt lệ;

“Cửu tuyền hạ băng thân như kiến vấn, di sơn điền hải, hữu thùy tương bá, thiên xai lão hán bả không quyền.” (1936)

Tạm dịch:

“Hai mươi năm đàn nhịp không hòa, gió thảm mưa sầu, lấy ảnh làm chồng, ngày ngóng đàn con tuôn giọt lệ;

“Dưới chín suối bạn bè gặp hỏi, dời non lấp biển, có ai giúp mợ, trời ghen thân lão nắm tay không.”

Sau đó, khi bà Thái Thị Huyên từ trần ngày 21-5-1936 (1-4-bính tý), Phan Bội Châu khóc vợ qua câu đối:

“Tình cờ động khách năm châu, hơn ba mươi năm chồng có như không, cố đứng vững mới ghê, nuốt đắng ngậm cay tròn đạo mẹ;

“Khen khéo giữ bốn đức, gần bảy mươi tuổi sống đau hơn thác, thôi về mau cho khỏe, đền công trả nợ nặng vai con.” (3)

Về phần hai người con trai của Phan Bội Châu, cha là một nhà khoa bảng nổi tiếng, nhưng vì yêu nước, đi làm cách mạng, nên gia đình quá nghèo túng khó khăn, đã phải đi sống nhờ ở nhà người khác, và hai ông không được học hành gì nhiều. Có người nói rằng, thuở nhỏ hai ông phải trốn tránh để khỏi bị Pháp bắt, nhưng vẫn nhiều lần bị các hương chức địa phương làm khó dễ.(4)

Khi Phan Bội Châu bị Pháp đưa về an trí ở Huế. Phan Nghi Huynh ở lại Nghệ An hầu hạ bà mẹ ruột, tức bà vợ cả của Phan Bội Châu, và chỉ vào Huế vài lần thăm cha rồi trở ra Nghệ An sinh sống với mẹ.

Phan Nghi Đệ cũng hoạt động cách mạng, bị Pháp bắt ở Nghệ An khoảng sau năm 1930. Pháp ra điều kiện nếu Phan Bội Châu chịu bảo lãnh ông Đệ về Huế sống với Phan Bội Châu thì Pháp sẵn sàng đưa ông Đệ về Huế, nghĩa là Pháp chỉ định cư trú đối với ông Đệ như đối với Phan Bội Châu, đồng thời Pháp tiện việc kiểm soát hai cha con cùng một lúc.
Phan Bội Châu trả lời rằng như thế, Pháp chỉ giao cho ông giữ tù giùm cho Pháp mà thôi, chứ Pháp chẳng tốt lành gì, nên Phan Bội Châu không nhận. Dầu vậy, Pháp vẫn đưa Phan Nghi Đệ về Huế sống với Phan Bội Châu. (Theo lời kể của cháu nội Phan Bội Châu, hiện sống ở Canada.)

Phan Nghi Đệ sống bên cạnh Phan Bội Châu cho đến khi cha qua đời năm 1940. Năm 1946, Phan Nghi Đệ chạy tản cư về An Truyền (làng Chuồn), huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, và từ trần tại đây. Sau đó ông được cải táng về nằm cạnh cha, trong vườn nhà Phan Bội Châu ở dốc Bến Ngự, Huế.

Ngoài hai người con trai, Phan Bội Châu còn một người con gái tên là Phan Thị Như Cương. Bà Như Cương là con của Phan Bội Châu và bà vợ thứ là Nguyễn Thị Em. Bà Như Cương có chồng là Vương Thúc Oánh. Vương Thúc Oánh cũng hoạt động chính trị, lúc đầu theo Phan Bội Châu, sau theo Lý Thụy (Hồ Chí Minh). Khi được biết Lý Thụy là người bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu, bà Như Cương xin phép cha cho mình ly dị chồng. Phan Bội Châu không chấp thuận. Theo lệnh cha, bà Như Cương không ly dị Vương Thúc Oánh, nhưng từ đó bà sống ly thân, không tiếp xúc với chồng nữa. (Theo lời kể của cháu nội Phan Bội Châu hiện sống tại Canada.)

Để hiểu rõ hơn về bà Phan Bội Châu, có lẽ nên nghe lời ông kể về bà cho các con ông nghe:

“Nầy con,

“Các con ơi! Cha mầy e chết rày mai, có lẽ với mẹ mày không được một phen gặp nhau nữa! Nhưng nếu trời thương ta, cho hai ta đồng thời gặp nhau ở suối vàng cũng vui thú biết chừng nào.

“Nhưng đau đớn quá! Mẹ mầy e chết trước ta. Ta hiện giờ nếu không chép sơ những việc đời Mẹ mầy cho các con nghe, thời các con rồi đây không biết rõ Mẹ mầy là người thế nào, có lẽ bảo Mẹ ta cũng như người thường thả cả.

“Than ôi! Ta với Mẹ mầy, vợ chồng “thật” gần năm mươi năm, mà quan quả “giả” gần bốn mươi năm [quan: vợ chết, quả: chồng chết]. Khi sống chẳng mấy hồi tương tụ; mà đến khi chết lại chỉ tin tức nghe hơi! Chúng mầy làm con người, đã biết nỗi đau đớn của Cha mầy với Mẹ mầy, chắc lòng mấy con thế nào cũng an thích được.

“Bây giờ ta nhơn lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử Mẹ mầy nói với mầy.

“Mầy nên biết, nếu không có Mẹ mầy, thời chí của Cha mầy đã hư hỏng những bao giờ kia.

“Cha ta với Tiên nghiêm [cha] của Mẹ mầy xưa, đều là nho cũ rất nghiêm giữ đạo đức xưa. Mẹ mầy lớn hơn ta một tuổi. Hai ông đính thông gia với nhau từ khi con còn nên một. Tới năm Mẹ mầy hai mươi ba tuổi [tuổi ta, tức 1888], về làm dâu nhà ta. Lúc ấy, Mẹ ta bỏ ta đã tám năm, trong nhà duy có cha già với em gái bé. Ta vì sinh nhai bằng nghề dạy trẻ, luôn năm ngồi ở quán phương xa, cái gánh sớm chiều gạo nước gởi vào trên vai Mẹ mầy. Cha ta đối với con dâu rất nghiêm thiết, nhưng chẳng bao giờ có sắc giận với Mẹ mầy. Cha ta hưởng thọ được bảy mươi tuổi, nhưng bệnh nặng từ ngày sáu mươi. Liên miên trong khoảng mười năm, những công việc thuốc thang hầu hạ bên giường bệnh, cho đến các việc khó nhọc nặng nề mà người ta không thể làm, thảy thảy một tay Mẹ mầy gánh cả. Kể việc hiếu về thờ ông gia, như Mẹ mầy là một việc hiếm có vậy.

“Trước lúc cha ta lâm chung [1900], ước một phút đồng hồ, gọi Mẹ mầy bồng mầy tới cạnh giường nằm, chúc ta rằng: “Ta chết rồi, mầy phải hết sức dạy cháu ta, và hết sức thương vợ mầy. Vợ mầy thờ ta rất hiếu, chắc trời cũng làm phúc cho nó.” Xem lời nói lâm chung của Cha ta như thế, cũng đủ biết nhân cách Mẹ mầy rồi.

“Năm Cha ta sáu mươi sáu tuổi [1896], còn hiếm cháu trai, vì ta là con độc đinh [con trai duy nhất], nên cha ta cũng khát cháu lắm. Mẹ mầy muốn được chóng sinh trai cho vừa lòng Cha, nên gấp vì ta cưới thứ mẫu mầy, chẳng bao lâu mà em mầy sinh. Trong lúc thằng Cu mới ra đời, Mẹ mầy gánh vác việc ôm ấp đùm bọc hơn một tháng. Cha ta được thấy cháu đầu hoan hỉ quá chừng. Thường nói với ta rằng: “Ta chỉ còn một việc chết chưa nhắm mắt, là mầy chưa trả cái nợ khoa danh mà thôi”.[5] Mẹ mầy nhân đó càng ân đức thứ mẫu mầy, thân yêu nhau hơn chị em ruột.

“Kể đức nhân về ân ái với người phận em như Mẹ mầy cũng ít có.

“Cứ hai chuyện như trên, bảo Mẹ mầy là Mẹ hiền về thời cựu chắc không quá đáng. Nhưng mà bắt buộc cho ta phải trọn đời nhớ luôn, thời lại vì có một việc: Nguyên lai nhà ta chỉ có bốn tấm phên tre suông, chẳng bao giờ chứa gạo tới hai ngày. Nhưng vì trời cho tính quái đặc: thích khoản khuếch [khoản đãi rộng rãi], hay làm ân. Hễ trong túi đựng được đồng tiền, thấy khách hỏi tức khắc cho ngay. Thường tới khi từ trường quán về, ta tất mang luôn khách về nhà, khách hoặc năm, sáu người, có khi mười người chẳng hạn, nhưng chiều hôm sớm mai, thiếu những gì tất hỏi Mẹ mầy. Mẹ mầy có gì đâu! Chỉ dựa vào một triêng [gánh] hai thúng, từ mai tới hôm [từ sáng tới tối] mà hễ nghe chồng đòi gì thời có nấy. Bổng dạy học của ta tuy có nhiều, nhưng chưa một đồng xu nào là tay Mẹ mầy được xài phí. Khổ cực mấy nhưng không sắc buồn; khó nhọc mấy nhưng không tiếng giận. Từ năm ta ba mươi sáu tuổi [1902], cho tới ngày xuất dương, những công cuộc kinh dinh việc nước, Mẹ mầy ngầm biết thảy, nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, Mẹ mầy ngồi dựa cột, kế một bên ta nói: “Thầy chắc toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt mà người ta đã biết nhiều sao thế?” Mẹ mầy tuy có nói câu ấy, mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá!

“Bây giờ nhắc lại trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm. Nghèo đói mà bạn bè nhiều; cùng khốn mà chí khí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ân Mẹ mầy.

“Tới ngày ta bị bắt về nước, Mẹ mầy được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ có một câu nói rằng: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi, từ đây trở về sau, chỉ trông mong Thầy giữ được lòng Thầy như xưa, Thầy làm những việc gì mặc Thầy, Thầy không phiền nghĩ tới vợ con.”

“Hỡi ôi! Câu nói ấy ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta, mà té ra ủ dài năm tháng, chẳng một việc gì làm, chốc chẵn mười năm.

“Phỏng khiến Mẹ mầy mà chết trước ta, thời trách nhiệm của ta e còn nặng mãi mãi. Suối vàng quạnh cách, biết lối nào thăm; đầu bạc trăm năm, còn lời thề cũ. Mẹ mầy thật chẳng phụ ta, ta phụ Mẹ mầy!

“Công nhi vong tư” chắc Mẹ mầy cũng lượng thứ cho ta chứ “. (1936) (6)

Hình ảnh bà Thái Thị Huyên, qua lời kể chuyện của Phan Bội Châu, có thể được xem là biểu tượng của thế hệ phụ nữ Việt Nam theo truyền thống Nho phong ngày xưa, âm thầm gian khổ gánh vác toàn bộ công việc gia đình, để chồng có thể dồn mọi nỗ lực lo việc đất nước.

Đúng như lời Phan Bội Châu đã viết: “Nghèo đói mà bạn bè nhiều, cùng khốn mà chí khí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ân Mẹ mầy “. Một nửa sự nghiệp của Phan Bội Châu là nhờ bà Thái Thị Huyên vững tay lo việc gia đình. Chẳng những riêng Phan Bội Châu, mà hầu như một nửa sự thành công của nhiều danh nhân Việt Nam và trên thế giới đều nhờ ơn các bậc hiền phụ. Đáng quý thay!

tác giả TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)

CHÚ THÍCH:

1. Theo tục lệ ngày xưa, vợ cả (chánh thất) cưới vợ nhỏ (thứ thất) cho chồng.
2. Tôn Quang Phiệt, “Một vài kỷ niệm về Phan Bội Châu”, đăng trong Ông già Bến Ngự, hồi ký của một nhóm tác giả, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1982, tr. 53.
3. Các câu Phan Bội Châu an ủi và khóc vợ, trích từ Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tt. 442-444.
4. Tôn Quang Phiệt, bài đã dẫn, tt. 53-55.
5. Lúc nầy Phan Bội Châu chưa đậu cử nhân. Năm 1900 (canh tý), ông đậu giải nguyên (đậu đầu) kỳ thi Hương trường thi Nghệ An vào tháng 7 thì tháng 9 cụ Phan Văn Phổ từ trần.
6. “Công nhi vong tư” nghĩa là lo việc chung mà quên việc riêng .

source: http://calitoday.com/news/view_article.html?article_id=38dd3e9e4f8612401182c76d5bd2cd1c

 

**************************************

 

Blog Ba Sàm xin giới thiệu đến quí bạn đọc bài thứ nhất trong một loạt 5 bài của giáo sư chính trị học Ronald Inglehart và Christian Welzel. Đây là một loạt bài rất đặc sắc có nguồn ở cuối bài.

Bài 1: Làm Thế Nào mà Sự Phát Triển Dẫn đến Dân Chủ

 

Trong vài ba năm qua, một sự bùng nổ của dân chủ đã và đang nhường bước cho một sự suy thoái dân chủ. Giữa năm 1985 và 1995, hàng đoàn các quốc gia đã thực hiện bước chuyển đổi tới dân chủ, mang lại một niềm hạnh phúc, và niềm tin cao độ về tương lai của nền dân chủ.

Nhưng gần đây hơn, thể chế dân chủ đã và đang rút lui ở Bangladesh, Nigeria, Phillippines, Nga (Russia), Thái Lan, và Venezuela, và những toan tính của chính phủ Bush để thiết lập một thể chế dân chủ ở Afghanistan và Irag dường như để lại cho cả hai quốc gia nầy trong cuộc xáo trộn. Những sự phát triển nói trên, cùng với sự phát triển quyền lực  của Trung Quốc và Nga, đang làm cho nhiều nhà quan sát bình luận rằng nền dân chủ đã và đang đạt mức cao nhất và không còn gia tăng lên nữa.

Kết luận ấy là sai lầm. Những điều kiện nằm bên dưới các xã hội khắp thế giới hướng tới một thực tế phức tạp nhất. Tin xấu nhất là: thật là không thực tế để khẳng định rằng các định chế dân chủ có thể được thiết lập một cách dễ dàng, hầu như bất cứ nơi nào, và tại bất cứ thời điểm nào. Mặc dù dự đoán của tương lai là không bao giờ mất niềm hy vọng, nền dân chủ  chắc chắn nổi dậy và sống còn chỉ khi nào mà một số điều kiện văn hóa và xã hội có mặt vào thời điểm ấy. Chính phủ Bush đã bỏ qua thực tế nầy khi toan tính cấy dân chủ vào trong nước Iraq mà không thiết lập trước  an ninh trong nước và đã không nhìn thấy các điều kiện văn hóa đã làm nguy hại nổ lực nầy (của ông ta.)

Tuy vậy, điều tốt là các điều kiện dẫn tới dân chủ có khả năng và làm trổi dậy  tiến trình hiện đại hóa, mà dựa theo bằng chứng thực nghiệm ở khắp nơi, thì tiến trình nầy sẽ làm gia tăng dân chủ. Hiện đại hóa là một hội chứng của các thay đổi xã hội liên kết với kỹ nghệ hóa. Một khi đã chuyển động rồi, sự hiện đại hóa có khuynh hướng xâm nhập tất cả các khía cạnh của đời sống, mang lại sự chuyên môn hóa nghề nghiệp, đô thị hóa, gia tăng các mức độ giáo dục, gia tăng tuổi thọ, và sự phát triển kinh tế nhanh chóng.  Những sự kiện nầy tạo ra một tiến trình làm gia tăng sức mạnh  để chuyển đổi đời sống xã hội và các định chế chính trị, dẫn đến gia tăng sự tham dự lớn lao vào trong chính trị và – theo dài hạn – thiết lập các  thể chế chính trị có tính chất dân chủ càng ngày càng gia tăng. Ngày nay, chúng ta có một ý kiến rõ ràng hơn trước rất nhiều về việc tại sao và như thế nào mà tiến trình dân chủ hóa xẩy ra.

Khuynh hướng lâu dài hướng tới dân chủ luôn luôn xảy đến, khi thì tăng cao, khi thì giảm xuống. Vào lúc khởi đầu của thế kỷ 20, chỉ có một nhúm nhỏ các quốc gia dân chủ hiện hiện, và các quốc gia nầy thiếu nền dân chủ mở rộng theo các tiêu chuẩn ngày nay.

Có một sự gia tăng chính trong số lượng các nước dân chủ tiếp theo sau đệ I thế chiến (1918), một sự gia tăng khác tiếp theo sau thế chiến thứ II (1945), và một sự gia tăng lần thứ ba vào lúc chấm dứt chiến tranh lạnh (1991). Mỗi một sự gia tăng nầy đều được tiếp diễn theo sau một sự suy thoái (của số lượng các quốc gia theo nền dân chủ), mặc dầu vậy, con số các quốc gia theo chế độ dân chủ không bao giờ rơi trở lại vào lúc ban đầu. Vào lúc khởi đầu của thế kỷ thứ 21, vào khoảng 90 quốc gia có thể được xem là có tính chất dân chủ.

Mặc dù nhiều nước trong số 90 các quốc gia dân chủ là vẫn còn có lầm lỗi, khuynh hướng nói chung thật là đầy ấn tượng: trong dài hạn, sự hiện đại hóa mang lại nền dân chủ. Điều nầy có nghĩa rẳng sự nổi dậy về kinh tế của Trung quốc và Nga có một khía cạnh tích cực: Những thay đổi nằm bên dưới đang diễn ra và làm cho sự xuất hiện của các hệ thống chính trị dân chủ và tự do càng ngày càng gia tăng một cách chắc chắn trong những năm sắp tới. Điều ấy cũng có nghĩa rằng không có lý do nào để hốt hoảng về sự kiện rằng thể chế dân chủ hiện nay dường như đang ở vào thế phòng vệ. Các dấu hiệu, hoạt động về hiện đại hóa và dân chủ hóa đang càng ngày càng trở thành rõ ràng, và chắc chắn rằng chúng sẽ tiếp tục hoạt động.

Cuộc Tranh Luận (The Great Debate)

Khái niệm dân chủ hóa có một lịch sử lâu dài. Suốt các thế kỷ 19 và 20, học thuyết Marxist về hiện đại hóa tuyên bố rằng : xóa sạch quyền tư hữu sẽ làm chấm dứt sự bóc lột, bất bình đẳng và mâu thuẫn.

Một phiên bản của chủ nghĩa tư bản vào thời đó lại cho rằng: sự phát triển kinh tế sẽ dẫn tới sự gia tăng trong các tiêu chuẩn sống và gia tăng nền dân chủ.

Hai tầm nhìn về sự hiện đại hóa cạnh tranh nhau dữ dội suốt cuộc chiến tranh lạnh (1945-1991).

Vào thập kỷ 1970, tuy vậy, chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu đi xuống, và không có sự phát triển kinh tế  mà cũng  không có sự dân chủ hóa ở trong nhiều quốc gia nghèo. Dường như rằng: chẳng có phiên bản nào của đời sống lý tưởng và một nơi sống lý tưởng, và các nhà chỉ trích đã lớn tiếng nói lên rằng lý thuyết hiện đại hóa đã chết rồi.

Tuy vậy, kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh, 1991, khái niệm hiện đại hóa đã có một đời sống mới, và một phiên bản mới của lý thuyết hiện đại hóa đã và đang trổi dậy, cùng với các điềm chỉ rõ ràng dành cho sự hiểu biết của chúng ta về sự phát triển của nền kinh tế địa cầu chắc chắn sẽ dẫn đến đâu.

Vứt bỏ hết các những sự đơn giản nhất về các phiên bản đầu tiên của nó, khái niệm mới về sự hiện đại hóa cho thấy rõ các sự thay đổi văn hóa đang diễn ra, chẳng hạn như sự trổi dậy của bình đẳng giới tính (nam nữ); làn sóng gần đây của sự hiện đại hóa; và lý thuyết hòa bình dân chủ.

Trong  lịch sử nhân loại, các tiến bộ kỹ thuật cực kỳ chậm chạp và các sự phát triển mới trong sản xuất thực phẩm được châm ngòi bằng  sự gia tăng dân số –  Điều nầy đã đánh bẩy các nước có nền kinh tế nông nghiệp vào trong một trạng thái bảo hòa mà không có sự gia tăng trong các tiêu chuẩn sống. (Và như thế người ta chứng kiến rằng ) Lịch sử được xem như là sự lập lại theo vòng tròn, hay một sự thoái bộ trong thời gian dài tiếp theo sau một thời kỳ vàng son quá khứ.

Tình thế đã bắt đầu thay đổi với cuộc cách mạng kỹ nghệ  1850 và  sự xuất hiện của phát triển kinh tế cơ bản – sự phát triển nầy đã dẫn đến các quan điểm cộng sản và tư bản về hiện đại hóa. Mặc dầu các lý thuyết nầy cạnh tranh nhau một cách dữ dội, cả hai đều có mục đích hướng tới sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và mang lại sự tham gia của một khối đông nhiều người vào lĩnh vực chính trị. Và mỗi bên (cộng sản và tư bản) đều tin rằng các nước đang phát triển của Thế-giới-thứ-Ba sẽ đi theo con đường của mìnhđể hiện đại hóa.

còn tiếp

người dịch Trần Hoàng

Nguồn http://www.cfr.org/publication.html?id=18587

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Lịch sử | Leave a Comment »

 
%d người thích bài này: