BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Hai 22nd, 2009

77:Xin được nhặt hạt sạn cho báo chí

Được đăng bởi adminbasam trên 22/02/2009


Hội Nhà Văn Việt Nam

———————————————————————————————————————–

Xin được nhặt hạt sạn

cho báo chí

Nguyễn Hữu Vinh ( 2/22/2009 9:14:05 AM )


Trong một vụ án hình sự có nhiều tình tiết gây chú ý cho dân chúng, việc báo chí đưa tin, bài, hình ảnh như thế nào để vừa đáp ứng được nhu cầu thông tin của xã hội, vừa đảm bảo tính khách quan, tôn trọng quyền tự do cá nhân của công dân là một câu chuyện đáng bàn.


“Hung thủ máu lạnh”

Mới đây, một vụ việc có dấu hiệu án mạng xảy ra ở Hà Nội khi một người đàn ông được phát hiện bị cắt cổ rồi chết trên chiếc xe hơi Lexus. Với những dấu vết, nhân chứng ít hỏi, nhưng chỉ vài ngày sau, bằng tinh thần tích cực và lực lượng hùng hậu, công an đã tìm ra cô gái được cho là hung thủ.

Báo chí đồng loạt đăng bài, ảnh, kể lại chi tiết vụ việc ngay sau khi cô gái bị câu lưu. Nếu tin vào những tình tiết được viết với giọng văn như khẳng định chắc chắn của nhiều bài báo, thì cô gái trước hết phải là nạn nhân một vụ quấy rối tình dục và cưỡng dâm; cái chết của người đàn ông là hệ quả của hành động phòng vệ chính đáng của cô cộng với khả năng có thể vì muốn che giấu hành động phạm pháp của mình nên nạn nhân đã không kịp thời kêu cứu. Bởi vì do bị người đàn ông là nạn nhân và cũng chính là người tình cũ này bức bách đòi quay lại mối tình xưa, đe doạ kể hết chuyện cũ với người yêu mới của cô, và đỉnh điểm xung đột là khi anh ta đòi “quan hệ” nên cô gái đã chống trả rồi dẫn tới cái chết đó.

Thế mà hàng loạt báo in, báo mạng đã đăng tin, bài theo cách như cô là một hung thủ máu lạnh có lý lịch không tốt. Ảnh cô được đưa lên đầu trang, không phải là trong bối cảnh bị dẫn giải theo thủ tục tố tụng như những hình ảnh vẫn được đăng trong nhiều vụ án khác, mà lại được chụp chính diện theo kiểu dành cho can phạm trước khi nhập trại. Nhiều báo không gọi cô là “nghi can”, “nghi phạm”, mà là “can phạm”, “hung thủ”. Nội dung nhiều bài đều viết theo lối khẳng định, trong khi đây mới chỉ là những thông tin ban đầu qua xác minh và lấy lời khai từ một phía, chưa có kết quả giám định và thông tin đối chứng.

Cho dù kết quả điều tra sau này hay phán quyết cuối cùng của tòa có thế nào chăng nữa, thậm chí có thể những thông tin qua lời khai ban đầu của cô gái là hoàn toàn bịa đặt, chính cô mới là thủ phạm của một vụ tống tiền, giết người, thì cách đưa tin như vậy cũng là không ổn.


“Ăn chơi trác táng”

Lối đưa tin này không phải hiếm trên báo chí lâu nay. Nhớ lại vụ án đình đám năm kia khi vũ trường New Century ở Hà Nội bị công an đột nhập trong lúc có hơn ngàn khách đang vui chơi. Ngay hôm sau, báo chí đồng loạt đưa tin, bài, hình ảnh gây sửng sốt trong công chúng. Đặc biệt, có đài truyền hình đã đưa cận cảnh hàng trăm thanh niên, cả người nước ngoài bị quây lại một chỗ để làm thủ tục tố tụng. Chắc chắn không ít người đã phải chường mặt ra trên ống kính truyền hình để những người thân, bạn bè phải tủi hổ và nghi ngờ. Nếu với những gì được biết qua báo chí từ đó về sau, thì tuyệt đại đa số những vị khách này hoàn toàn vô can. Thế nhưng, với lối đưa tin, và nội dung của nhiều bài viết lúc đó thì người ta dễ có một mối ác cảm coi đây là một lũ người ăn chơi sa đoạ. Sẽ có bao nhiêu mâu thuẫn, ngờ vực, oan ức từ đây? Không ai biết được!


“Cảnh sát sát nhân”

Còn dưới đây là trường hợp không phải liên quan tới một đương sự đang sống, mà là một con người phải nhận bản án tử. Nhưng có điều, nếu phải chết thì cũng nên để họ hiểu là mình đáng tội chết. Báo chí góp phần rất lớn vào điều đó.

Năm 1993, một vụ án giết người gây chú ý hiếm có trong dư luận khi một cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tại Cầu Chương Dương, Hà Nội đã nổ súng dẫn tới cái chết của một thanh niên. Điểm mấu chốt gây tranh cãi lớn nhất là mục đích của viên cảnh sát này, có phải là giết người cướp của không, khi bọc tiền mà nạn nhân mang theo hoàn toàn không bị viên cảnh sát chiếm đoạt hay mở ra, chỉ có lời khai của một hai nhân chứng cho biết viên cảnh sát có nói rằng trong bọc đó có tiền. Sau những diễn biến đầy kịch tính từ các cơ quan tố tụng, trên báo chí, viên cảnh sát đã bị xử tử hình, song tội danh lại được xác định chỉ là “vô ý khi thi hành công vụ” để dẫn tới chết người chứ không phải “cướp của, giết người”. Vậy mà báo chí lúc đó dường như chỉ muốn thỏa mãn một làn sóng phẫn nộ trong dân chúng trước “kẻ sát nhân” lại là công an này và vài biểu hiện vội vã có vẻ như muốn làm nhẹ tội cho đương sự, nên nội dung chủ yếu phân tích những dấu hiệu buộc tội cho viên cảnh sát, mà không đề cập tới việc với tội danh đó, hoặc mức án là quá nặng, hoặc kết quả điều tra là chưa thỏa đáng, và đương nhiên, để giải quyết mâu thuẫn, các cơ quan tố tụng còn nhiều việc phải làm sao cho bản án lấy đi sinh mạng một con người phải thực sự khách quan.


Ngoài những thiệt hại mà người dân phải gánh chịu trong những vụ án oan do cơ quan tố tụng mang lại, thì còn có những thiệt hại ít được nhắc đến, khởi nguồn từ các phương tiện truyền thông. Mà tâm lý chung của những người trong cuộc là e ngại phải kiện báo chí phiền hà. Chưa muốn bàn tới áp lực từ những thao tác vội vã của báo chí lên cơ quan tố tụng có thể khiến hướng điều tra, xét xử thêm thiên lệch, hoặc ngược lại, chính báo chí bị sa đà vào “chiến công” của cơ quan tố tụng; không muốn đi sâu những biểu hiện nặng tính thị trường trong làng báo ở cái thời cố nuôi nổi một tờ báo quả là quá khó này, chỉ xin được nhắc những người làm báo: hãy nâng cao hơn nữa tay nghề, đạo đức nghề nghiệp và sự tỉnh táo. Bởi dẫu có thế nào đi nữa thì họ cũng luôn nắm trong tay thứ vũ khí rất mạnh, nên luôn được mệnh danh là Quyền lực thứ tư.

Các ý kiến phản hồi (2)

Lê Kim Thoa (lekimthoa74@gmail.com)

Nhiều tờ báo đã cố ý hay vô tình vi phạm pháp luật khi đưa những tin tương tự như trên vì nhiều lý do không lương thiện .Theo luật pháp hiện hành,không ai bị coi có tội trước khi bị tòa tuyên là có tội bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật.Trong trường này,khi cháu gái trên chưa bị tuyên có tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật thì các ngôn ngữ báo chí như bài viết trên mô tả là đã lộng ngôn và phạm pháp.Báo chí là đệ tứ quyền lực trong xã hội hiện nay mà bậy bạ trong nhận định và phát ngôn như vậy thì trách gì xã hội ta thiệt giả sai đúng quá khó phân.Có cả một tờ báo cố tình xiển dương ,ca ngợi hùng khí cùng tài năng đánh trận của một tướng giặc từng chỉ huy quân lính bắn giết dân mình chưa lâu nữa thì hết biết nói năng gì bây giờ về cái Tâm và cái Tầm của nhà báo ấy và người duyệt đăng bài viết lên tờ báo ấy?!(đề nghị tống cổ nhà báo này về ruộng cùng người duyệt đăng bài này). “Yêu tổ quốc,yêu đồng bào” là vậy đó sao? Ôi,làm báo là để góp phần định chân giá trị vấn đề cho hàng triệu người trong nước… mà lại bừa bãi hồ đồ như vậy thì về nhà nuôi heo trở lại không chừng có ích hơn!Đúng là trang Web HNV này cũng là một tờ báo;nếu anh chị thấy tôi nói bậy ở đây thì cũng xin đừng đăng lên,khẻo anh chị bị cách chức hoặc mất thi đua khen thưởng trong dịp bình bầu cuối năm nhé!

Nguyễn Công Nam (congdanvietnam480@gmail.com)

Hãy thông cảm với nền báo chí VN: Nó bị tha hoá mà không cưỡng nổi. Nó có muốn trở thành chuyên nghiệp cũng không được. Tổng biên tập là công chức, có cấp trên trực tiếp ở trên đầu, chớ không phải pháp luật trên đầu. Phóng viên dần dần bị sàng lọc theo chiều hướng “lá cải hoá”. Trong khi đó, dân muốn phê bình báo chí không dễ. Chuyện “báo chí là diễn đàn của nhân dân” thì ai cũng thuộc, nhưng dân nào được nói lại là chuyện khác. hnv chớ có dại mà đăng ý kiến của tôi. Cứ biết vậy thôi nhé. Chính hnv cũng là một tờ báo của nền báo chí nước nhà mà!

Posted in Bài của Ba Sàm, Pháp luật | 3 Comments »

76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ

Được đăng bởi adminbasam trên 22/02/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc bị ám ảnh


bởi những mối liên hệ


với Khmer Đỏ

Antoaneta Bezlova

Ngày 21-2-2009


BẮC KINH – Những bí mật đáng kinh sợ về các ký ức đã bị che dấu của Trung Quốc đang tràn về. Kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến ngắn ngủi mà đẫm máu với Việt Nam có thể đã và đang qua đi mà không có  dấu hiệu hay hàng chữ gì ghi nhận, song thực tế rằng ngày 17 tháng Hai cũng được xem là ngày khởi đầu cho phiên tòa dành cho kẻ tra tấn có chức vụ cao nhất của chế độ Khmer Đỏ ghê tởm ở Cambodia.

Vai trò của Trung Quốc trong quá khứ đẫm máu ở Cambodia giờ đây ít được nói ra và đó là cái cách mà Bắc Kinh, Hà Nội và Phnom Penh – cả ba đều đang có khuynh hướng tập trung vào thương mại và phát triển – ưa thích như thế.

Khi Việt Nam lật đổ chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot vào năm 1979, Bắc Kinh đã quá tức giận bởi những gì mà họ nhìn thấy như một sự thách thức ở sân sau của họ do bởi một đảng chính trị mà họ đã giúp thành lập nên, TQ đã ra lệnh một cuộc tấn công để “dạy cho Việt Nam một bài học” và giữ cho Pol Pot được tại vị.

Trong suốt thời gian nắm quyền lực của mình từ 1975-1979, Pol Pot đã mưu toan tái tạo cuộc cải cách điền địa không tưởng của Mao Trạch Đông, song cuộc thí nghiệm nầy đã để lại một đất nước Cambodia đầy thương tích với một phần tư dân số – khoảng 1,7 triệu người – đã chết.


Mặc dù biết rõ những hành động tàn bạo mà chế độ này đã phạm phải, song Bắc Kinh đã về phe với Khmer Đỏ qua cuộc xâm chiếm của Việt Nam vào Cambodia và đã phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam dọc theo đường biên giới của hai nước.

Cuộc xung đột biên giới kéo dài một tháng đã làm chết đi khoảng 20.000 tới 60.000 nhân mạng, nhưng lại không có hoạt động kỷ niệm nào đã được tổ chức vào dịp kỷ niệm 30 năm này ở cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Khi phiên tòa dành cho điều tra viên cao cấp nhất của Khmer Đỏ là ông Kaing Guek Eav, còn được gọi là Duch, được mở tại Phnom Penh, Trung Quốc đã tìm cách hạ thấp vai trò của họ trong việc hổ trợ cho chính quyền Pol Pot.

“Nhưng mọi người đều biết, chính phủ Kamphuchea Dân chủ đã có một ghế hợp pháp tại Liên hiệp quốc, và trước đó (trước năm 1978) đã thiết lập những mối quan hệ rộng rãi với hơn 70 quốc gia khác,” nữ phát ngôn viên bộ ngoại giao Jiang Yu đã nói tại một cuộc họp báo thường kỳ, với ám chỉ cựu chính phủ Khmer Đỏ trước đây.


Ông Duch đang được đưa ra tòa về các tội hình chống lại loài người. Dưới sự cai quản của y, trong vai trò là sĩ quan chỉ huy trại tù S-21 khét tiếng, khoảng 14.000 người đã bị tra tấn và bị đưa tới cái chết của họ trong những cánh-đồng-giết-người bên ngoài thủ đô Phnom Penh. (Mời xem bài Trial and error in Cambodia, ngày 18-2-2009.)


“Trung Quốc đang nợ những người dân Cambodia một lời xin lỗi,” đó là nhận xét của Lao Mong Hay, cựu giám đốc Viện nghiên cứu về Xã hội Dân chủ Khmer ở Phnom Penh và hiện nay là một nhà nghiên cứu lão thành của Ủy ban Nhân quyền Á châu tại Hong Kong. “Trung Quốc đã giúp Khmer Đỏ từ trước khi chế độ này lên nắm được quyền lực và TQ đã tiếp tục đóng góp những trợ giúp của họ thậm chí sau khi Pol Pot nắm được quyền lực mà không cần quan tâm gì tới những gì đang xảy ra cho dân chúng Cambodia.”


Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã cho Kambodia Dân chủ 1 tỉ đô la trước năm 1979 và một tỉ đô la khác nữa sau 1979 để chiến đấu chống lại cuộc xâm chiếm của Việt Nam.


Trung Quốc thường nhắc nhở Nhật Bản phải “đối diện” với lịch sử, họ nhấn mạnh rằng thái độ không xin lỗi của Tokyo liên hệ tới những quan điểm chính trị của chủ nghĩa xâm lược trong quá khứ đang cản trở các sự tiến bộ về các mối quan hệ với những nước láng giềng của Nhật. Thế nhưng khi được áp dụng vào quá khứ của chính Trung Quốc, những bản chất sai lầm có tính toán (của TQ) trong lịch sử đã được vứt bỏ đi như là không liên quan tới những phát triển hiện tại và tương lai.


“Trung Quốc và Việt Nam đã có một thời kỳ không vui trong quá khứ của họ,” bà Jiang Yu nói với các phóng viên. “Thế nhưng điều quan trọng là các nhà lãnh đạo và nhân dân cả hai nước đều có một ước muốn lớn lao và nhất trí để cùng nhau tạo nên một tương lai tươi sáng. Lịch sử đã đạt được những kết luận của nó rồi,” bà bổ sung thêm.


Khmer Đỏ là một bản sao của chế độ Mao-ít, ông Mong Hay nhận xét, và bất cứ cuộc điều tra nào vào trong những thành tích của nó cũng có thể phơi bày ra ánh sáng những lỗi lầm trầm trọng thuộc về lịch sử của chính bản thân của Trung Quốc. “Chế độ cộng sản Trung Quốc vẫn chưa tính đến những nỗi đau khổ đã gây ra cho chính nhân dân của họ trong suốt nhiều năm trời của các phong trào chính trị và khủng bố đàn áp,” ông nói thêm.


Trong thời gian cầm quyền của Mao, Trung Quốc đã trang bị vũ khí và huấn luyện cho những nhóm phiến quân tại hầu hết các quốc gia Đông nam Á, bao gồm Indonesia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Cambodia, ngay cả khi TQ đã nuôi dưỡng các mối quan hệ đầm ấm với các chính phủ đương quyền ở các quốc gia này.

Sự trợ giúp hào phóng của Bắc Kinh đối với các đội quân cách mạng trên khắp Á châu đã nổi lên trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa khi sự kình địch của Trung Quốc với Liên Xô mạnh mẻ thêm và họ đã tranh dành ảnh hưởng trong khu vực khi các cường quốc thực dân phương Tây đã rút lui (ý nói sau 1954 Pháp và Anh rút lui khỏi các khu vực Châu Á – TH).


“Cuối cùng đó là nền chính trị thực dụng, hơn là sự khẳng định có tính chất ý thức hệ, thứ nầy đã đem lại cho Trung Quốc và Cambodia xích lại gần nhau,” Philip Short đã viết trong cuốn sách về lai lịch của Pol Pot nhan đề Pol Pot: Lịch sử của một Cơn ác mộng. “Đã có một sự đối xứng gần như hoàn hảo liên quan tới những mối quan hệ của 3 nước này. Trung Quốc đã đối xử với Việt Nam giống như là Việt Nam đối xử với Cambodia – một người láng giềng to lớn và hùng mạnh, kẻ này hăm doạ áp đặt ảnh hưởng thống trị của họ lên một quốc gia khác nhỏ hơn.”

Trong khi Bắc Kinh đã từng coi Việt Nam như là một đầu cầu nối của Liên Xô ở châu Á, thì TQ cũng đã coi “Cambodia như là một quốc gia bên sườn phía tây Việt Nam có thể được mong đợi chống lại sự bành chướng của người Việt Nam, và vì thế là kìm chế quyền lực của Sô Viết,” ông Short viết.

Giờ đây, cũng như về sau, những mệnh lệnh của ý thức hệ đã và đang nhường chỗ lại cho nền chính trị thực dụng [1]. Kinh tế và thương mại hình thành cơ sở cho các chính sách của Bắc Kinh đối với những quốc gia láng giềng của mình trong những ngày này. Trung Quốc đang kiên nhẫn xây dựng lại các mối quan hệ truyền thống với tất cả các láng giềng Đông nam Á, sử dụng đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển và “quyền lực mềm” để lôi kéo những nước này vào trong quỹ đạo kinh tế của TQ.

Chương trình trao đổi mậu dịch bên trong vùng khu vực Sông Cửu Long mở rộng, The Greater Mekong Subregion [GMS], được Ngân hàng Phát triển châu Á [ADB] phát động năm 1992, đã và đang cung cấp cho Bắc Kinh một cơ cấu tổ chức để mở rộng các mối thắt chặt về kinh tế mà không làm nổi lên sự lo sợ giữa các nước láng giềng của TQ thường vẫn còn đang làm lo ngại về quyền lực Trung Quốc.

“Trung Quốc đang tham gia một cách tích cực vào việc phát triển của GMS bởi vì họ coi tổ chức này như là sự xây dựng một lối đi tới tất cả các nước vùng Đông nam Á,” theo nhận xét của He Shengda, nhà nghiên cứu làm việc cho Viện Khoa học Xã hội Vân Nam.

Tại Cambodia những ngày này, các công ty Trung Quốc được tham dự vào hoạt động khai thác mỏ và gỗ, và họ đã xây dựng các tuyến đường, cầu cống, các xí nghiệp may mặc, các nhà máy điện, các sòng bài và các khu nghỉ dưỡng cao cấp, TQ đang đầu tư khoảng 1,5 tỉ đô la năm 2007.

Một nhóm đầu tư người Cambodia và một công ty dệt may Trung Quốc đã và đang cam kết góp vốn ba tỉ đô la vào một liên doanh, tại cảng Sihanoukville, rập khuôn theo những phương pháp áp dụng cho các đặc khu kinh tế miễn thuế của Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các bãi chiến trường ngày xưa giờ đây đang tấp nập những thương gia Trung Quốc, được hổ trợ bởi các tuyến đường cao tốc mới, chẳng hạn như một tuyến nối liền Nam Ninh của tỉnh Quảng Tây với Hà Nội. Trong vòng ba năm, một tuyến đường khác được ngân hàng ADB cấp tín dụng sẽ rút ngắn chặng đường giữa thủ phủ Vân Nam của tỉnh Côn Minh với Hà Nội xuống còn chưa tới 24 giờ.

Sự hòa nhập về kinh tế gia tăng tương tự có thể được nhận thấy ở bất cứ đâu tại Đông nam Á, nơi mà các công ty Trung Quốc đang cung cấp tiền bạc và chuyên môn để đổi lại những thị trường và những nguồn tài nguyên có giá trị.

“Các nền kinh tế của vùng hạ lưu khu vực Sông Cửu Long mở rộng (GMS) và Trung Quốc bổ sung cho nhau rất tốt,” theo nhận xét của Zhang Guotu, một chuyên gia về Đông nam Á thuộc trường Đại học Thiên An Môn (Xiamen). “Khu vực phụ cận sông Cửu Long có tiềm năng to lớn trong những điều kiện về tài nguyên và lao động thế nhưng các nền kinh tế của nó đang bị tụt hậu. Điều này xuất trình những cơ hội cho nhà nước Trung Quốc và các công ty tư nhân trong việc tìm kiếm cả thị trường tiêu thụ lẫn đầu tư.”

Bên trong mục tiêu lớn hơn của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng đang thúc đẩy cho sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế lớn lớn rộng hơn. Trong một dấu hiệu của những tham vọng đang gia tăng của nước này, năm ngoái Bắc Kinh đã chỉ định một đại sứ đặc biệt cho khối có 10 thành viên này.

Vào năm 2010, Trung Quốc và ASEAN đến kỳ hạn để khởi đầu giai đoạn một về sự thỏa thuận thương mại, giảm các loại thuế thương mại giữa Trung Quốc và năm quốc gia sáng lập khối này – Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Vào năm 2015, Việt Nam, Cambodia, Lào và Burma [Myanma] cũng sẽ tham gia vào khối thương mại này. Brunei là trường hợp ngoại lệ.

Tuy nhiên, các mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia Đông nam Á vẫn còn đầy chông gai khi mà lịch sử và chính trị vẫn thường len vào con đường hội nhập kinh tế.

“Lịch sử không nên bị vứt bỏ đi một cách dễ dàng,” ông Mong Hay phát biểu. “Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Cambodia và Trung Quốc, để thấy rằng họ đã và đang có vẻ giống như một cái đu quay trong quá khứ – đu từ chỗ tốt sang chỗ xấu rồi ngược lại.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————–

ASIA TIMES

————–

China haunted by Khmer Rouge links
By Antoaneta Bezlova
Feb 21, 2009
BEIJING – The skeletons are tumbling out of China’s cupboard of buried memories. The 30th anniversary of China’s brief but bloody war with Vietnam may have gone unmarked but for the fact that February 17 also saw the start of the trial of the chief torturer of Cambodia’s grisly Khmer Rouge.

China’s role in Cambodia’s bloody past is now little spoken of and this is how Beijing, Hanoi and Phnom Penh – all intent on trade and development – prefer it.

When in 1979 Vietnam ousted Pol Pot’s Khmer Rouge regime, Beijing was so incensed by what it saw as defiance in its backyard by a political party it had helped create that it ordered an attack to “teach Vietnam a lesson” and keep Pol Pot in power.
During his 1975-1979 rule Pol Pot sought to replicate Mao Zedong’s agrarian utopia, but the experiment left Cambodia deeply scarred and a quarter of its population – some 1.7 million people – dead.

Although aware of the atrocities commit ted by the regime, Beijing sided with the Khmer Rouge over the Vietnamese invasion of Cambodia and launched a massive offensive against Vietnam along the two countries’ border.

The month-long border conflict claimed anywhere between 20,000 to 60,000 lives, and yet no commemorations were held on the 30th anniversary either in Beijing or Hanoi.

As the trial of Khmer Rouge’s chief investigator Kaing Guek Eav, also known as Duch, opened in Phnom Penh, China sought to downplay its role in supporting Pol Pot’s regime.

“As everyone knows, the government of Democratic Kampuchea had a legal seat at the United Nations, and had established broad foreign relations with more than 70 countries,” foreign ministry spokeswoman Jiang Yu said at a regular press briefing, referring to the former Khmer Rouge government.

Duch is being tried on charges of crimes against humanity. Under his watch, as commandant of the notorious S-21 prison, some 14,000 people were tortured and sent to their deaths in the killing fields outside the capital Phnom Penh. (Please see Trial and error in Cambodia, February 18, 2009.)

“China owes Cambodian people an apology,” said Lao Mong Hay, former director of the Khmer Institute of Democracy in Phnom Penh and now a senior researcher at the Asian Human Rights Commission in Hong Kong. “It supported the Khmer Rouge before coming to power and continued to lend its support even after Pol Pot assumed power regardless of what was happening to Cambodian people.”

According to Mong Hay, China had donated $1 billion to Democratic Kampuchea before 1979 and another billion dollars after 1979 in order to fight the Vietnamese invasion.

China often admonishes Japan to “face up” to history, insisting that Tokyo’s unapologetic attitude regarding its invasionist politics of the past impedes relations with its neighbors. But when applied to China’s own past, reckoning of history’s fallacies is discarded as irrelevant to current and future developments.

“China and Vietnam have had a period of unhappiness in their past,” Jiang Yu told reporters. “But what’s important is that the leaders and people of both countries have a broad wish and consensus to create a bright future together. History has already reached its conclusions,” she added.

The Khmer Rouge was a replica of the Maoist regime, said Mong Hay, and any probe into its record could throw unfavorable light on China’s own historical blunders. “The Chinese communist regime hasn’t accounted yet for the sufferings caused to its own people during years of political campaigns and persecutions,” he added.

During Mao’s rule China armed and trained rebel groups in almost every Southeast Asian country, including Indonesia, Laos, Myanmar, Thailand and Cambodia, even as it fostered warm relations with their official governments.

Beijing’s generous support for revolutionary armies all over Asia rose during the Cultural Revolution when China’s rivalry with the Soviet Union intensified and they competed for influence in the region as Western colonial powers retreated.

“In the end it was realpolitik, far more than ideological affinity, which brought China and Cambodia together,” wrote Philip Short in his biography of Pol Pot, Pol Pot: The History of a Nightmare. “There was near-perfect symmetry to the three countries’ relations. China was to Vietnam as Vietnam was to Cambodia – a vast and powerful neighbor, which threatened hegemony.”

While Beijing saw Vietnam as a Soviet bridgehead in Asia, it also saw “Cambodia as the one country on Vietnam’s western flank which might be expected to resist the expansion of Vietnamese, and hence of Soviet power,” Short wrote.

Now, as then, imperatives of ideology have given way to realpolitik. Economy and trade form the basis for Beijing’s policies towards its neighboring countries these days. China is patiently rebuilding traditional ties with all of its Southeast Asian neighbors, using foreign investment, development aid and “soft power” to draw them back into its economic orbit.

The Greater Mekong Subregion intra-regional trade program, launched by the Asia Development Bank in 1992, has provided Beijing with the framework for expanding economic ties without arousing fears among its neighbors still wary of Chinese power.

“China actively participates in the development of the GMS because it sees it as the building of a passage to all of Southeast Asia,” said He Shengda, researcher with the Yunnan Academy of Social Sciences.

In Cambodia these days, Chinese firms are engaged in mining and logging, and have built roads, bridges, garment factories, power plants, casinos and resorts, investing about $1.5 billion in 2007.

A Cambodian investment group and a Chinese textile firm have committed three billion dollars to a joint venture, in Sihanoukville, modelled along the lines of China’s tax-free special economic zones.

In Vietnam, the old theatres of war are now bustling with Chinese traders, facilitated by new highways, such as the one linking Nanning in Guangxi province with Hanoi. Within three years, another ADB-financed highway will shorten the drive between Yunnan capital Kunming and Hanoi to less than 24 hours.

Similar accelerated economic integration can be seen elsewhere in Southeast Asia where Chinese companies are providing capital and expertise in exchange for markets and valuable resources.

“The economies of the GMS and China are highly complementary,” said Zhang Guotu, an expert on Southeast Asia with Xiamen University. “The sub-region has great potential in terms of resources and labor but its economies are lagging behind. This presents opportunities for Chinese state and private companies looking both for markets and investment.”

Within the greater scope of Association of South East Asian Nations (ASEAN), China is also pushing for enlarged economic interdependence. In a sign of its growing ambitions, last year Beijing appointed a special ambassador to the 10-member bloc.

In 2010, China and ASEAN are due to launch the first stage of a trade agreement, reducing tariffs on trade between China and the five founding countries of the bloc – Singapore, Malaysia, Indonesia, the Philippines and Thailand. In 2015, Vietnam, Cambodia, Laos and Burma will also join the trade bloc. The exception is Brunei.

Nevertheless, China’s relations with Southeast Asian nations remain prickly as history and politics often get in the way of economic integration.

“History should not be easily discarded,” said Mong Hay. “It only takes a look at Cambodia and China relations, for example, to see that they have been like a yo-yo in the past – swinging from good to bad and back.”

(Inter Press Service)

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Leave a Comment »

 
Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu