Nhớ những ngày này
cách đây 30 năm!
TIME
————————————————————————————————————
Những thời buổi khó
khăn cho chính quyền
ở Hà Nội
Các nhà lãnh đạo ở Hà Nội vẫn thường khoác lác với những vị khách ngoại quốc có cảm tình với họ rằng dân chúng Việt Nam sẵn sàng “chịu đựng với tinh thần cống hiến.” Thế nhưng, những đoàn xe tải vào tuần trước chất đầy xác chết và người bị thương từ biên giới Trung Quốc và từ Cambodia trở về đã chứng tỏ rằng sức chịu đựng đó vẫn còn lâu mới vượt qua được. Một câu hỏi không được trả lời, và chắc có lẽ không thể được trả lời là mức độ cống hiến của 51 triệu công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn lại là bao nhiêu đối với một ban lãnh đạo không có khả năng tạo nên một đất nước ổn định và thịnh vượng thậm chí sau bốn năm tương đối hòa bình.
Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn và thậm chí là nạn đói tràn lan khắp Việt Nam. Mức sản xuất nông nghiệp sụt giảm 15% vào năm 1978, trong khi những triển vọng cho năm nay là rất kém quá đến nỗi Hà Nội đã phải giảm định mức đánh giá cho vụ mùa so với các mục tiêu công bố ban đầu.
Tiếp theo sau nạn lụt lan rộng trên các đồng lúa vào tháng 9 năm 1978, khẩu phần lương thực bình quân đầu người đã bị cắt giảm từ 15 kg (33 lb) xuống còn 13kg. Với mức đó, những nông dân và công nhân bình thường chỉ được cấp phát hơn 0,9kg gạo chút xíu, gạo là món thực phẩm cơ bản hàng ngày của người Việt.
Đường, thịt và bột mì là thứ hiếm có và rất đắt đỏ. Các công nhân nhà máy đã trở nên mất khả năng lao động vì thiếu ăn và suy dinh dưỡng, theo các giám đốc phương Tây của những nhà máy do nước ngoài xây dựng cho biết.
Các cơn bão, hạn hán và những thảm hoạ thiên nhiên khác đã góp phần vào những vấn nạn nông nghiệp của Việt Nam, song sự bất tài của chính phủ đã là nguyên nhân chủ yếu. Những xáo trộn trong bộ máy quan liêu gây trở ngại cho việc gieo trồng các giống lúa mới có sức kháng cự tốt hơn với hạn hán, và việc phân phát thuốc trừ sâu trong những vùng bị tàn phá bởi các giống côn trùng gây hại đã bị đình hoãn. Sản lượng lúa gạo đang sút giảm trong vùng Châu thổ sông Mekong đã từng một thời thịnh vượng. Hà Nội trước đó đã loan báo rằng họ sẵn sàng trao đổi các loại hàng tiêu dùng như quạt máy chạy bằng điện để lấy gạo, hy vọng khuyến khích nông dân bán sản phẩm vụ mùa của họ cho chính phủ thay vì bán ra chợ đen. Khi chính phủ thất bại trong việc phân phát các hàng tiêu dùng như đã hứa, những người nông dân thất vọng bắt đầu sản xuất kém đi. Tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam, tờ Nhân Dân, đã than phiền rằng nhiều nông dân bỏ ruộng đồng không chịu cày cấy hoặc dùng gạo nấu rượu hoặc cho lợn ăn.
Cuộc sống đặc biệt khó khăn ở miền bắc. Các gia đình ở Hà Nội được cấp chỗ ở chỉ 7 mét vuông cho một người – xấp xỉ mức đề nghị được cấp cho những tù nhân trong trại tù liên bang Hoa Kỳ. Các công nhân trong công xưởng phải làm việc sáu ngày một tuần, và sử dụng ngày thứ bảy của tuần cho các cuộc hội họp chính trị hoặc “lao động tình nguyện” trong các dự án xây dựng. Xe hơi cá nhân không còn tồn tại nữa, và các phụ tùng thay thế cho xe đạp thì bị thiếu hụt. “Có sự bất mãn rất lớn,” một nhà ngoại giao ở Hà Nội nhận xét. “Dân chúng bắt đầu kêu ca ở những chốn riêng tư. Một trong những câu hỏi xì xào to nhỏ thường nghe được là một câu châm biếm: ‘Chúng ta đang làm cái quái gì ở Căm-pu-chia thế?’ “
Trong Nam vẫn còn tương đối khá thịnh vượng hơn. Phụ nữ vẫn mặc những chiếc áo dài màu sắc sáng sủa, tương phản với những chiếc quần dài đen và sơ mi trắng phù hợp cho cả nam lẫn nữ vẫn thường được mặc ở miền Bắc. Thức ăn thì phần nào có sẵn sàng nhưng ít ai có đủ khả năng để mua, kể từ khi tỉ lệ lạm phát vượt trên 100% mỗi năm. Nhìn chung, kinh tế của miền nam đã phải chịu đựng quyết định từ bỏ “thương mại tư bản” và đưa vào sử dụng một loại tiền chung trong cả nước của Hà Nội vào năm ngoái (đổi tiền lần thứ 2 vào năm 1978). Công nghiệp ở miền Nam hiện đang chạy chậm lại ở mức độ chỉ vào khoảng 40% của mức khả năng của nó. Khoảng 20% trong 3 triệu cư dân Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) bị thất nghiệp. Thừa nhận rằng tình trạng quản lý tồi tệ lan rộng trong công nghiệp và nông nghiệp, báo Nhân Dân giải thích: “Trong những cuộc chiến đấu dài lâu chống chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã trở nên dạn dày trong đấu tranh chính trị và vũ trang và có kỹ năng tổ chức các trận đánh lớn. Thế nhưng chúng ta vẫn còn chưa quen thuộc với việc tổ chức sản xuất và kinh doanh trên quy mô lớn.”
Những vấn nạn kinh tế của Việt Nam đã gia tăng trầm trọng thêm đáng kể do việc đuổi 200.000 người Hoa trong chín tháng trước. Những người Hoa này đã trở thành mục tiêu bởi vì sự dính líu phổ biến và rộng rãi của họ trong thị trường chợ đen; thế nhưng họ tạo nên cả một tầng lớp thương lái chính ở Việt Nam. Họ kiểm soát việc buôn bán lúa gạo, các hải cảng lớn, các hệ thống phân phối và một số ngành công nghiệp chủ chốt – đáng chú ý là than đá.
300.000 người tị nạn đã và đang trốn thoát khỏi Việt Nam kể từ sự sụp đổ của chính quyền ông Thiệu năm 1975 cũng đã làm suy giảm nguồn nhân lực của đất nước này. Theo các giới chức tại Thái Lan và Hong Kong, nơi mà nhiều người tị nạn đã tới, các cán bộ Việt Nam đang kiếm lợi riêng từ cuộc di tản của những công dân nước họ những người tị nạn này đang tìm kiếm thức phẩm và tự do nơi xứ người. Sau khi phỏng vấn những người tị nạn, các nhân viên điều tra tin rằng có tới 50% số tiền mà những người tị nạn này trả để rời khỏi Việt Nam sau cùng đã rơi vào túi của các đảng viên Cộng sản địa phương. *
Theo những người tị nạn cho biết, một trong những thay đổi nổi bật nhất thấy rõ gần đây ở Việt Nam là khả năng tham nhũng của các cán bộ đảng cấp trung. Nhiệt tình cách mạng đã nhường chỗ cho một tâm trạng hoài nghi trước những vấn đề kinh tế của Việt Nam.
Các cán bộ Cộng sản tham nhũng đã tham gia vào thị trường chợ đen từng được điều hành bởi người Hoa. Tất cả các tuyến giao thông huyết mạch chính của vùng châu thổ Sông Hồng ở phía nam Hà Nội đều đặc trưng cho tình trạng “thả nổi thị trường” do những người Cộng sản điều hành cung cấp những hàng hóa bị ăn cắp từ các chuyến tàu biển hoặc trực tiếp từ các bến cảng ở Hải Phòng.
Lối tiêu xài đáng nghi ngờ giữa các cán bộ Cộng sản đã trở nên quá trắng trợn đến nỗi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy cần thiết phải phát ra một mệnh lệnh chung:
“Vào thời điểm khi mà người dân tại một số vùng đang phải trải qua tình trạng thiếu thốn và đói kém, tuyệt đối cần thiết hạn chế tổ chức các lễ kỷ niệm và tiệc tùng hoang phí. Tất cả các ngành các cấp cần phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất kinh tế và một lối sống tiết kiệm tránh lãng phí.”
Hiệu đính: Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009
* Theo tài liệu của Việt kiều, kể từ 1976, số người VN vượt biển Đông hàng tháng càng gia tăng, vài ngàn người mỗi tháng. Trại tị nạn đón nhận họ do LHQ thiết lập đóng ở 6 quốc gia đông nam á và Hồng Kong. Cho đến năm 1979, có khoảng 300.000 tị nạn Viết Nam đã rời khỏi Việt Nam bằng thuyền.
Trên đường vượt thoát, người tị nạn gặp nhiều hiểm nguy kể cả mất mạng. Khi còn trong hải phận VN hoặc các bến cảng, họ có khả năng bị công an VN bắt bớ, bắn chìm tàu. Khi ra hải phận quốc tế, họ bị hải tặc Thái Lan, Mã Lai, bắn giết, cướp của, hãm hiếp, đánh chìm tàu, hoặc tàu bị đắm vì bị bão tố. Trung bình có vào khoảng 50-60% tàu cập bến các quốc gia Thái Lan, Mã Lai Á, Indonesia, Singapore, Hồng Kong, Philippines. Không may, có khoảng 40-50% số tàu thuyền của người tị nạn đã bị chìm trong biển Đông. Theo ước lượng có khoảng vài trăm ngàn người đã chết trên biển Đông và bị mất tích.
Thêm vào nhóm người tị nạn VN đó, trong năm 1978, nhà nước đánh tư sản và đuổi 200.000 người Hoa kiều ra khỏi VN; Hoa kiều được ra đi theo kiểu gọi là bán-chính-thức, đối nghịch với kiểu vượt biển ra đi của người VN là ra đi không chính thức, và ra đi theo chương trình ODP có thân nhân nước ngoài làm bảo lãnh để rời khỏi VN bằng máy bay. Người ra đi bán chính thức tự đóng tàu, hoặc mua tàu để đi. Theo đó, mỗi người ra đi phải đóng cho chính phủ VN 12 lượng vàng, chính quyền địa phương nhận số vàng đó và cho họ lên các tàu đang đậu trong các bến cảng khắp các tỉnh miền nam. Nhân dịp nầy, rất nhiều gia đình VN cũng đã “đi ăn theo” diện bán-chính-thức.
Nhưng ra đi bán chính thức của người Hoa kiều hoặc ra đi theo kiểu trốn thoát của người Việt Nam có chuyến thành công, có chuyến không thành công. Những chuyến thành công là sau khi tàu đầy người, nhổ neo, chạy ra ngoài biển, và tới được bến bờ. Những chuyến đi không thành công thường là bị chìm tàu, mất vàng và bị bắt trở lại, hoặc bị chìm tàu vì bão tố. Chuyện khá phổ biến thường xẩy ra là do trong địa phương là nhiều cán bộ bán bãi cho người tị nạn ra đi. Nhiều khi họ chia nhau số vàng đóng góp của người tị nạn không đều, nên tìm cách phá nhau để chứng tỏ họ có quyền hành hơn phe kia hoặc làm mất uy tín của nhau. Theo đó, khi các tàu đầy người vừa nhổ neo, ra khỏi bến, chạy chừng một đoạn thì bị chính quyền VN chặn bắt ở chỗ khác. Họ bị nhốt vào tù, nhiều gia đình mất sạch vàng. Gia đình nào còn có người thân bên ngoài, thì nhờ người thân lo lót tiền để ra khỏi tù. Sau đó, nếu còn khả năng thì người ấy cứ đóng thêm 12 lượng vàng và được lên một tàu khác. Nếu không còn khả năng tải chánh thì ở lại VN.
—————————–
TIME
———————————————————–
Hard Times for Hanoi
Hanoi‘s leaders have often boasted to sympathetic foreign visitors that the Vietnamese people were willing to “suffer with dedication.” Last week truckloads of war-wounded and dead returning from the Chinese border and from Cambodia testified that the suffering was far from over. One unanswered, and perhaps unanswerable, question is how dedicated the 51 million citizens of the Vietnamese Socialist Republic remain to a leadership that has been unable to create a stable or prosperous country even after four years of relative peace.
Malnutrition and even hunger prevail throughout Viet Nam. Agricultural output declined 15% in 1978, while prospects for this year are so poor that Hanoi has already scaled down its crop estimates from the stated targets. Following widespread flooding of rice lands last September, the monthly ration of food per person was cut from 33 Ibs. to 29 Ibs. Of that, ordinary peasants and workers are allowed only a little over 2 Ibs. of rice, the staple of the Vietnamese diet.
Sugar, meat and flour are rare and prohibitively expensive. Factory workers have become inefficient because of malnutrition, according to the Western managers of foreign-built plants.
Typhoons, droughts and other natural disasters have contributed to Viet Nam’s agricultural problems, but government incompetence has been the principal cause. Bureaucratic foul-ups hindered the planting of new strains of rice that are more resistant to drought, and the distribution of pesticides in areas infested by plant pests has been delayed. Rice production is declining in the once prosperous Mekong Delta. Hanoi had announced that it was willing to trade consumer goods such as electric fans for rice, hoping to induce peasants to sell their crops to the government instead of on the black market. When the government failed to deliver the promised consumer goods, disappointed farmers began producing less. The Vietnamese party newspaper Nhan Dan has complained that many peasants leave paddyfields uncultivated or use rice to distill alcohol or feed pigs.
Life is especially hard in the north. Families in Hanoi are permitted only 75 sq. ft. of living space per person— roughly the recommended allowance for prisoners in U.S. federal penitentiaries. Factory hands must work six days a week, and spend the seventh at political meetings or on “volunteer” construction projects. Privately owned automobiles are all but nonexistent, and spare parts for bicycles are in short supply. “There is a great deal of unhappiness,” says a Hanoi-based diplomat. “People are starting to complain privately. One of the whispered questions heard most often is an ironic one: ‘What the hell are we doing in Cambodia?’ “
The south remains relatively more prosperous. Women there still wear the brightly colored ao dai, in contrast to the unisex black pants and white shirt commonly worn in the north. Food is somewhat more available but less affordable, since the inflation rate exceeds 100% a year. In general, the economy of the south has suffered from Hanoi’s abolition last year of “bourgeois trade” and the introduction of a uniform currency throughout the country. Southern industry is currently running at 40% of capacity. About one-fifth of the 3 million residents of Ho Chi Minh City (Saigon) are unemployed. Conceding widespread mismanagement of industry and agriculture, Nhan Dan explained: “In the long struggles against imperialism, we became well versed in political and armed struggles and skilled in organizing major battles. But we are still unfamiliar with the organization of large-scale production and business.”
Viet Nam‘s economic problems were greatly aggravated by the expulsion of 200,000 ethnic Chinese in the past nine months. The Chinese were targeted because of their wide spread involvement in the black market; but they constituted Viet Nam’s major entrepreneurial class. They managed the rice trade, the major ports, the distribution systems and several key industries—notably coal.
The 300,000 refugees who have fled Viet Nam since the fall of the Thieu government in 1975 have also cut into the country’s human resources. According to officials in Thailand and Hong Kong, where many of the refugees arrive, Vietnamese officials are privately profiting from the exodus of their citizens who are seeking food and freedom abroad. After interviewing refugees, investigators believe that as much as 50% of the money would-be refugees pay to leave Viet Nam ends up in the pockets of local Communists.
According to the refugees, one of the most striking recent changes apparent in Viet Nam is the corruptibility of middle-level party officials. Revolutionary zeal has given way to a cynical exploitation of Viet Nam’s economic problems. Corrupt Communist officials have moved into the black market trade once operated by the ethnic Chinese. All of the Red River delta’s major arteries south of Hanoi feature Communist-run “floating markets” that offer goods stolen from ships or directly off the docks at Haiphong. Conspicuous consumption among Communist officials has become so flagrant that Premier Pham Van Dong felt it necessary to issue a prevailing order: “At a time when the people in several areas are experiencing privations and hunger, it is absolutely necessary to refrain from organizing wasteful celebrations and feasts. All sectors and all levels should uphold an exemplary spirit by practicing economy in production and a way of life that avoids all waste.”





