BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Hai, 2009

78:Nạn tham nhũng đang phá hoại chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam;

Posted by adminbasam trên 24/02/2009


TIME

———————————————————————————————————————–

Nạn tham nhũng

đang phá hoại

chương trình kích thích

kinh tế của Việt Nam

Martha Ann Overland từ Hà Nội

Thứ Hai, ngày 23-2-2009


Trong khi nhiều chính phủ khắp nơi trên thế giới đang đổ hàng ngàn tỉ đô la vào việc kích thích tiêu dùng để chiến đấu với tình trạng suy thoái toàn cầu, thì cuộc tranh luận đang nổ ra ầm ĩ quanh vấn đề liệu cơn lụt tiền tệ như thế nầy sẽ cung cấp nhiều hơn là một sự thúc đẩy kinh tế trong ngắn hạn hay không, và liệu nhiều khoản tiền như thế rốt cục có bị hoang phí đi hay không.

Việt Nam, nơi giống với hầu hết các quốc gia châu Á đang bị đánh bằng búa vì cơn suy thoái, đang khám phá ra rằng ngay cả hình thức kích thích tiêu dùng trực tiếp nhất – phát tiền mặt cho dân chúng – có khả năng lọt vào tay của những kẻ không đúng đối tượng.

Với số người nghèo đang ngày càng gia tăng và những tin tức về một số trường hợp sẽ bị đói, các giới chức cộng sản ở Hà Nội mới đây đã quyết định phân phát 12 triệu đô la cho những người Việt Nam nghèo khổ vào ngày lễ quan trọng nhất của đất nước, dịp Tết nguyên đán. Tết là lễ tương đương với ngày Giáng sinh ở Việt nam; đó là ngày lễ dành cho sự sum họp của gia đình và tiêu xài rộng rải vào quà cáp. Thế nhưng vào năm nay, thời điểm được cho tặng lại trở thành thời điểm bị tước đoạt. Dường như nhiều khoản tiền phân phát đã bị rơi vào túi các viên chức tham nhũng ở địa phương.

Trong một số trường hợp, tiền đã bị khấu trừ bằng các thứ lệ phí, hoặc các quà tặng đã bị đóng thuế tới mức chỉ còn lại một chút ít, theo công an địa phương cho hay. Nhiều gia đình ở tỉnh Quảng Bình đã khiếu nại rằng họ bị buộc phải ký vào những tờ biên lai thừa nhận rằng họ đã nhận tiền cứu trợ nầy, thế nhưng một số dân làng đang nói rằng hơn 90% các khoản tiền đó đã bị bòn rút bởi các quan chức bẩn thỉu.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, nhiều người cho biết họ bị ép cúng tặng cho một quỹ được gọi là giao thông nông thôn. Những người nông dân nghèo khổ khác thì nói rằng họ đã phải đóng góp cho một quỹ xóa đói giảm nghèo. Các cuộc điều tra về những trường hợp này và rất nhiều trường hợp tương tự đã và đang bắt đầu được thực hiện trên khắp cả nước.

Theo qui định về món quà tặng có tính chất khác thường này, mỗi người Việt Nam đang sống dưới mức nghèo khổ (được xác định bởi chính quyền với mức thu nhập chưa tới 15 đô là một tháng) hội đủ tiêu chuẩn để nhận một xuất quà trị giá 200.000 đồng, hoặc tương đương 12 đô la. Cả gia đình thì được nhận tối đa 57 đô la. Mặc dù đó có lẽ là một khoản tiền quá nhỏ để được xem là quan trọng, món tiền nầy là một khoản không mong đợi đối với 10 triệu dân nghèo nhất ở Việt Nam. Nó là một cách giúp đỡ những người dân thực sự đang phải chịu đựng khổ sở từ cơn khủng hoảng kinh tế và một loạt những thảm hoạ thiên tai đã đánh vào quốc gia nầy vào năm ngoái, theo lời ông Ngô Trường Thi, phó cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nơi giám sát chương trình này. “Tặng tiền cho người nghèo cũng là một phần của những biện pháp kích thích nền kinh tế,” ông Thi nói.

Cơn suy thoái của nền kinh tế toàn cầu mới đây đã và đang làm chậm lại mức phát triển của cả thập niên  qua ở Việt Nam. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang dự đoán rằng tăng trưởng GDP của Việt Nam từ một mức thuộc loại cao, 8,5% năm 2007, sẽ chậm lại ở mức 5% vào năm nay. Cú đòn gây thiệt hại một cách đặc biệt nầy là ở khu vực sản xuất của đất nước, nơi đã từng giúp nhiều triệu người thoát khỏi nghèo đói bằng cách cung cấp những công việc với mức lương tương đối cao. Tình trạng giảm sút đơn đặt hàng của nước ngoài đã và đang buộc nhiều nhà máy mới xây dựng phải đóng cửa, đẩy nhiều công nhân trở về làng quê của họ.

Chương trình kích thích kinh tế của Việt Nam (12 triệu đô là) chỉ là mờ nhạt khi so sánh với khoản kích thích cả gói 787 tỉ đô la đã được chấp thuận bởi các nhà lập pháp Hoa Kỳ vào tuần trước, thế nhưng đất nước này đang làm những gì mà nó có thể nhằm cố khởi động lại nền kinh tế của họ. Khoảng quà tặng bằng tiền mặt nầy đi theo sau lời loan báo vào tháng Mười một năm ngoái về một kế hoạch chi 1 tỉ đô la để hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp và cắt giảm thuế để thúc đẩy đầu tư và tạo ra công ăn việc làm.

Thế nhưng Hà Nội tự mình không thể thay đổi được diễn biến của các sự kiện trên toàn cầu, theo lời ông Alex Warren-Rodriguez, cố vấn về chính sách kinh tế cho Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc [UNDP] tại Hà Nội. Việt Nam đang quá lệ thuộc vào những gì đang xảy ra tại Hoa Kỳ và Âu châu. “Thậm chí nếu như bạn giảm lãi suất để khuyến khích đầu tư, thì điều đó sẽ không xảy ra bởi vì chẳng có gì để mà đầu tư cả,” ông nói. “Họ có thể chỉ làm rất ít để kích thích kinh tế.”

Tuy nhiên, sự nhận thức của công chúng về mức độ đúng đắn mà chính phủ đang xử lý đối với cơn khủng hoảng mới là quan trọng chủ yếu. Ông Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc chi tiền này rõ ràng là vì những lý do chính trị, chứ không phải chỉ kinh tế. “Điều rất quan trọng cho chính phủ là họ được nhìn thấy mình đang làm gì,” ông nói. “Sức ép chính trị hiện nay là rất lớn.”

Cho đến lúc này Hà Nội có vẻ đang thiếu những cố gắng của họ để khích động niềm tin nơi công chúng. Bộ Tài chính đã loan báo khoản kích thích cả gói cách đây nhiều tháng trước, thế nhưng các giải pháp chỉ vừa mới được thực hiện có vài tuần trước, ông Tự Anh cho hay. Giờ đây hình ảnh của chính phủ đã bị hoen ố đi thêm nữa bởi vì các giới chức địa phương đã và đang ăn cắp những khoản tiền của chính những người dân mà Hà Nội đang cố gắng trợ giúp.

Có thể không bao giờ biết được có bao nhiêu tiền dành cho người nghèo đã bị phân phát sai lạc. Một cán bộ ở tỉnh Lâm Đồng miền trung Việt Nam đã bị bắt vào tuần trước, và hàng tá cán bộ khác trên khắp cả nước đã bị giáng cấp hoặc sa thải do vụ bê bối nầy. Hàng trăm cuộc điều tra ở cấp tỉnh đang được tiến hành.

Thế nhưng ít ai ngạc nhiên về tầm mức của những trò cướp bóc này, theo nhận xét của ông Tương Lai, cựu viện trưởng Viện Khoa học Xã Hội của nhà nước tại Hà Nội.

Cán bộ nhà nước Việt Nam ở mọi cấp (thấp, trung, cao cấp) đều nổi tiếng về những trò ăn cắp vặt. Vào năm ngoái 2008, một cuộc khảo sát về tình trạng tham nhũng trong khu vực nhà nước bởi tổ chức Minh bạch Quốc tế [Transparency International] đã xếp Việt Nam đứng thứ 121 trong 180 quốc gia tham nhũng nhất thế giới. “Trò ăn cắp của người nghèo không có gì là mới lạ,” ông Tương Lai cho biết. “Nhưng sau một năm với những khó khăn kinh khủng như vậy, thì việc biếu quà Tết đã được cho là một hành động giúp cải thiện niềm tin nơi dân chúng Việt Nam.” Thế mà thay vào đó, ông Tương Lai nhấn mạnh, nó lại bị phá hỏng.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


—————————————————————-


Corruption Undermines

Vietnam‘s Stimulus   Program

By Martha Ann Overland / Hanoi

Monday, Feb. 23, 2009

As governments around the world roll out trillions of dollars in stimulus spending to combat the global recession, debate is raging over whether the flood of money will provide much more than a short-term economic boost and whether much of the cash will ultimately be wasted. Vietnam, which like most Asian countries is being hammered by the downturn, is discovering that even the most direct form of stimulus spending — cash giveaways to citizens — can wind up in the wrong hands.

With the number of poor growing and reports of some going hungry, communist officials in Hanoi recently decided to hand out $12 to millions of impoverished Vietnamese on the eve of the nation’s most important celebration, Tet, the Vietnamese New Year. Tet is Vietnam’s equivalent of Christmas; it’s a holiday of family gatherings and lavish spending on gifts. But this year, a time for giving turned out to be a time for taking. It appears that many of the cash handouts were pocketed by corrupt local officials.(See pictures from the 1979 border war between Vietnam and China.)

In some cases, fees were deducted or the gifts were taxed to the point there was little left, according to local police. Families in Quang Binh province complained that they were required to sign receipts acknowledging they had received the handouts, but some villagers say more than 90% of the funds were siphoned off by petty bureaucrats. In the province of Quang Ngai, dozens say they were forced to donate to a so-called rural traffic fund. Other destitute villagers reported they had to contribute to a fund for the poor. Investigations of these and scores of similar cases have begun across the country.

Under the unusual giveaway, Vietnamese living below the poverty line (defined by the government as those earning less than $15 a month) qualified to receive a gift of 200,000 Vietnamese dong, or about $12. Families were entitled to a maximum of $57. Though it may seem a paltry sum, the cash was a windfall for Vietnam’s 10 million poorest. It was a way of helping people truly suffering from the economic crisis and a series of natural disasters that hit the country last year, says Ngo Truong Thi, the deputy director of social welfare at the Ministry of Labor, Invalids and Social Affairs, which oversaw the program. “Giving out cash to the poor was also part of measures to stimulate the economy,” Thi says.

The recent global economic slowdown has put the brakes on Vietnam’s decade of growth. The International Monetary Fund forecasts that Vietnam’s GDP growth will slow to 5% this year from a high of 8.5% in 2007. Hit particularly hard has been the country’s manufacturing sector, which helped lift millions out of poverty by providing relatively high-paying jobs. Declining orders from abroad have forced newly built factories to close, sending workers back to their villages.

Vietnam’s stimulus program pales in comparison to the $787-billion package approved by U.S. lawmakers last week, but the country is doing what it can to jumpstart its economy. The cash giveaway followed November’s announcement of a plan to spend $1 billion to subsidize interest rates for businesses and to lower taxes in order to boost investment and create jobs.

But Hanoi on its own can’t change the course of global events, says Alex Warren-Rodriguez, economic policy advisor at the United Nations Development Program in Hanoi. Vietnam is too dependent upon what is happening in the U.S. and Europe. “Even if you reduce interest rates to stimulate investment, that’s not going to happen because there is nothing to invest in,” he says. “They can do very little to stimulate the economy.”

Still, public perception of how well the government is handle ing the crisis is crucially important. Vu Thanh Tu Anh, director of research at the Fulbright Economics Teaching Program in Ho Chi Minh City, says the cash payments were clearly made for political, not just economic, reasons. “It’s very important for the government to be seen as doing something,” he says. “The political pressure is huge.”

So far, Hanoi appears to be falling short in its efforts to inspire public confidence. The Ministry of Finance announced the stimulus package months ago but the measures have only just been implemented in the last few weeks, says Tu Anh. Now the government’s image has been further tarnished because local officials have been stealing from the very people Hanoi was trying to help.

It may never be known how much of the cash meant for the poor has been diverted. One official from Lam Dong Province in central Vietnam was arrested last week, and dozens of others across the country have been demoted or sacked due to the scandal. Hundreds of provincial-level investigations are ongoing.

But few are surprised at the scope of the looting, says Tuong Lai, former director of the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Vietnamese officials at all levels have a reputation for sticky fingers. Last Year, a survey on public-sector corruption by Transparency International ranked Vietnam 121st most corrupt out of 180 countries. “Stealing from the poor is nothing particularly new,” says Lai. “But after a year of terrible difficulties, the Tet gift was supposed to be a gesture to help improve the trust of the Vietnamese people.” Instead, Lai notes, it sabotaged it.

Posted in Kinh tế Việt Nam, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

77:Xin được nhặt hạt sạn cho báo chí

Posted by adminbasam trên 22/02/2009


Hội Nhà Văn Việt Nam

———————————————————————————————————————–

Xin được nhặt hạt sạn

cho báo chí

Nguyễn Hữu Vinh ( 2/22/2009 9:14:05 AM )


Trong một vụ án hình sự có nhiều tình tiết gây chú ý cho dân chúng, việc báo chí đưa tin, bài, hình ảnh như thế nào để vừa đáp ứng được nhu cầu thông tin của xã hội, vừa đảm bảo tính khách quan, tôn trọng quyền tự do cá nhân của công dân là một câu chuyện đáng bàn.


“Hung thủ máu lạnh”

Mới đây, một vụ việc có dấu hiệu án mạng xảy ra ở Hà Nội khi một người đàn ông được phát hiện bị cắt cổ rồi chết trên chiếc xe hơi Lexus. Với những dấu vết, nhân chứng ít hỏi, nhưng chỉ vài ngày sau, bằng tinh thần tích cực và lực lượng hùng hậu, công an đã tìm ra cô gái được cho là hung thủ.

Báo chí đồng loạt đăng bài, ảnh, kể lại chi tiết vụ việc ngay sau khi cô gái bị câu lưu. Nếu tin vào những tình tiết được viết với giọng văn như khẳng định chắc chắn của nhiều bài báo, thì cô gái trước hết phải là nạn nhân một vụ quấy rối tình dục và cưỡng dâm; cái chết của người đàn ông là hệ quả của hành động phòng vệ chính đáng của cô cộng với khả năng có thể vì muốn che giấu hành động phạm pháp của mình nên nạn nhân đã không kịp thời kêu cứu. Bởi vì do bị người đàn ông là nạn nhân và cũng chính là người tình cũ này bức bách đòi quay lại mối tình xưa, đe doạ kể hết chuyện cũ với người yêu mới của cô, và đỉnh điểm xung đột là khi anh ta đòi “quan hệ” nên cô gái đã chống trả rồi dẫn tới cái chết đó.

Thế mà hàng loạt báo in, báo mạng đã đăng tin, bài theo cách như cô là một hung thủ máu lạnh có lý lịch không tốt. Ảnh cô được đưa lên đầu trang, không phải là trong bối cảnh bị dẫn giải theo thủ tục tố tụng như những hình ảnh vẫn được đăng trong nhiều vụ án khác, mà lại được chụp chính diện theo kiểu dành cho can phạm trước khi nhập trại. Nhiều báo không gọi cô là “nghi can”, “nghi phạm”, mà là “can phạm”, “hung thủ”. Nội dung nhiều bài đều viết theo lối khẳng định, trong khi đây mới chỉ là những thông tin ban đầu qua xác minh và lấy lời khai từ một phía, chưa có kết quả giám định và thông tin đối chứng.

Cho dù kết quả điều tra sau này hay phán quyết cuối cùng của tòa có thế nào chăng nữa, thậm chí có thể những thông tin qua lời khai ban đầu của cô gái là hoàn toàn bịa đặt, chính cô mới là thủ phạm của một vụ tống tiền, giết người, thì cách đưa tin như vậy cũng là không ổn.


“Ăn chơi trác táng”

Lối đưa tin này không phải hiếm trên báo chí lâu nay. Nhớ lại vụ án đình đám năm kia khi vũ trường New Century ở Hà Nội bị công an đột nhập trong lúc có hơn ngàn khách đang vui chơi. Ngay hôm sau, báo chí đồng loạt đưa tin, bài, hình ảnh gây sửng sốt trong công chúng. Đặc biệt, có đài truyền hình đã đưa cận cảnh hàng trăm thanh niên, cả người nước ngoài bị quây lại một chỗ để làm thủ tục tố tụng. Chắc chắn không ít người đã phải chường mặt ra trên ống kính truyền hình để những người thân, bạn bè phải tủi hổ và nghi ngờ. Nếu với những gì được biết qua báo chí từ đó về sau, thì tuyệt đại đa số những vị khách này hoàn toàn vô can. Thế nhưng, với lối đưa tin, và nội dung của nhiều bài viết lúc đó thì người ta dễ có một mối ác cảm coi đây là một lũ người ăn chơi sa đoạ. Sẽ có bao nhiêu mâu thuẫn, ngờ vực, oan ức từ đây? Không ai biết được!


“Cảnh sát sát nhân”

Còn dưới đây là trường hợp không phải liên quan tới một đương sự đang sống, mà là một con người phải nhận bản án tử. Nhưng có điều, nếu phải chết thì cũng nên để họ hiểu là mình đáng tội chết. Báo chí góp phần rất lớn vào điều đó.

Năm 1993, một vụ án giết người gây chú ý hiếm có trong dư luận khi một cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ tại Cầu Chương Dương, Hà Nội đã nổ súng dẫn tới cái chết của một thanh niên. Điểm mấu chốt gây tranh cãi lớn nhất là mục đích của viên cảnh sát này, có phải là giết người cướp của không, khi bọc tiền mà nạn nhân mang theo hoàn toàn không bị viên cảnh sát chiếm đoạt hay mở ra, chỉ có lời khai của một hai nhân chứng cho biết viên cảnh sát có nói rằng trong bọc đó có tiền. Sau những diễn biến đầy kịch tính từ các cơ quan tố tụng, trên báo chí, viên cảnh sát đã bị xử tử hình, song tội danh lại được xác định chỉ là “vô ý khi thi hành công vụ” để dẫn tới chết người chứ không phải “cướp của, giết người”. Vậy mà báo chí lúc đó dường như chỉ muốn thỏa mãn một làn sóng phẫn nộ trong dân chúng trước “kẻ sát nhân” lại là công an này và vài biểu hiện vội vã có vẻ như muốn làm nhẹ tội cho đương sự, nên nội dung chủ yếu phân tích những dấu hiệu buộc tội cho viên cảnh sát, mà không đề cập tới việc với tội danh đó, hoặc mức án là quá nặng, hoặc kết quả điều tra là chưa thỏa đáng, và đương nhiên, để giải quyết mâu thuẫn, các cơ quan tố tụng còn nhiều việc phải làm sao cho bản án lấy đi sinh mạng một con người phải thực sự khách quan.


Ngoài những thiệt hại mà người dân phải gánh chịu trong những vụ án oan do cơ quan tố tụng mang lại, thì còn có những thiệt hại ít được nhắc đến, khởi nguồn từ các phương tiện truyền thông. Mà tâm lý chung của những người trong cuộc là e ngại phải kiện báo chí phiền hà. Chưa muốn bàn tới áp lực từ những thao tác vội vã của báo chí lên cơ quan tố tụng có thể khiến hướng điều tra, xét xử thêm thiên lệch, hoặc ngược lại, chính báo chí bị sa đà vào “chiến công” của cơ quan tố tụng; không muốn đi sâu những biểu hiện nặng tính thị trường trong làng báo ở cái thời cố nuôi nổi một tờ báo quả là quá khó này, chỉ xin được nhắc những người làm báo: hãy nâng cao hơn nữa tay nghề, đạo đức nghề nghiệp và sự tỉnh táo. Bởi dẫu có thế nào đi nữa thì họ cũng luôn nắm trong tay thứ vũ khí rất mạnh, nên luôn được mệnh danh là Quyền lực thứ tư.

Các ý kiến phản hồi (2)

Lê Kim Thoa (lekimthoa74@gmail.com)

Nhiều tờ báo đã cố ý hay vô tình vi phạm pháp luật khi đưa những tin tương tự như trên vì nhiều lý do không lương thiện .Theo luật pháp hiện hành,không ai bị coi có tội trước khi bị tòa tuyên là có tội bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật.Trong trường này,khi cháu gái trên chưa bị tuyên có tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật thì các ngôn ngữ báo chí như bài viết trên mô tả là đã lộng ngôn và phạm pháp.Báo chí là đệ tứ quyền lực trong xã hội hiện nay mà bậy bạ trong nhận định và phát ngôn như vậy thì trách gì xã hội ta thiệt giả sai đúng quá khó phân.Có cả một tờ báo cố tình xiển dương ,ca ngợi hùng khí cùng tài năng đánh trận của một tướng giặc từng chỉ huy quân lính bắn giết dân mình chưa lâu nữa thì hết biết nói năng gì bây giờ về cái Tâm và cái Tầm của nhà báo ấy và người duyệt đăng bài viết lên tờ báo ấy?!(đề nghị tống cổ nhà báo này về ruộng cùng người duyệt đăng bài này). “Yêu tổ quốc,yêu đồng bào” là vậy đó sao? Ôi,làm báo là để góp phần định chân giá trị vấn đề cho hàng triệu người trong nước… mà lại bừa bãi hồ đồ như vậy thì về nhà nuôi heo trở lại không chừng có ích hơn!Đúng là trang Web HNV này cũng là một tờ báo;nếu anh chị thấy tôi nói bậy ở đây thì cũng xin đừng đăng lên,khẻo anh chị bị cách chức hoặc mất thi đua khen thưởng trong dịp bình bầu cuối năm nhé!

Nguyễn Công Nam (congdanvietnam480@gmail.com)

Hãy thông cảm với nền báo chí VN: Nó bị tha hoá mà không cưỡng nổi. Nó có muốn trở thành chuyên nghiệp cũng không được. Tổng biên tập là công chức, có cấp trên trực tiếp ở trên đầu, chớ không phải pháp luật trên đầu. Phóng viên dần dần bị sàng lọc theo chiều hướng “lá cải hoá”. Trong khi đó, dân muốn phê bình báo chí không dễ. Chuyện “báo chí là diễn đàn của nhân dân” thì ai cũng thuộc, nhưng dân nào được nói lại là chuyện khác. hnv chớ có dại mà đăng ý kiến của tôi. Cứ biết vậy thôi nhé. Chính hnv cũng là một tờ báo của nền báo chí nước nhà mà!

Posted in Bài của Ba Sàm, Pháp luật | 3 Comments »

76:Trung Quốc bị ám ảnh bởi những mối liên hệ với Khmer Đỏ

Posted by adminbasam trên 22/02/2009

ASIA TIMES

Trung Quốc bị ám ảnh


bởi những mối liên hệ


với Khmer Đỏ

Antoaneta Bezlova

Ngày 21-2-2009


BẮC KINH – Những bí mật đáng kinh sợ về các ký ức đã bị che dấu của Trung Quốc đang tràn về. Kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến ngắn ngủi mà đẫm máu với Việt Nam có thể đã và đang qua đi mà không có  dấu hiệu hay hàng chữ gì ghi nhận, song thực tế rằng ngày 17 tháng Hai cũng được xem là ngày khởi đầu cho phiên tòa dành cho kẻ tra tấn có chức vụ cao nhất của chế độ Khmer Đỏ ghê tởm ở Cambodia.

Vai trò của Trung Quốc trong quá khứ đẫm máu ở Cambodia giờ đây ít được nói ra và đó là cái cách mà Bắc Kinh, Hà Nội và Phnom Penh – cả ba đều đang có khuynh hướng tập trung vào thương mại và phát triển – ưa thích như thế.

Khi Việt Nam lật đổ chế độ Khmer Đỏ của Pol Pot vào năm 1979, Bắc Kinh đã quá tức giận bởi những gì mà họ nhìn thấy như một sự thách thức ở sân sau của họ do bởi một đảng chính trị mà họ đã giúp thành lập nên, TQ đã ra lệnh một cuộc tấn công để “dạy cho Việt Nam một bài học” và giữ cho Pol Pot được tại vị.

Trong suốt thời gian nắm quyền lực của mình từ 1975-1979, Pol Pot đã mưu toan tái tạo cuộc cải cách điền địa không tưởng của Mao Trạch Đông, song cuộc thí nghiệm nầy đã để lại một đất nước Cambodia đầy thương tích với một phần tư dân số – khoảng 1,7 triệu người – đã chết.


Mặc dù biết rõ những hành động tàn bạo mà chế độ này đã phạm phải, song Bắc Kinh đã về phe với Khmer Đỏ qua cuộc xâm chiếm của Việt Nam vào Cambodia và đã phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam dọc theo đường biên giới của hai nước.

Cuộc xung đột biên giới kéo dài một tháng đã làm chết đi khoảng 20.000 tới 60.000 nhân mạng, nhưng lại không có hoạt động kỷ niệm nào đã được tổ chức vào dịp kỷ niệm 30 năm này ở cả Bắc Kinh và Hà Nội.

Khi phiên tòa dành cho điều tra viên cao cấp nhất của Khmer Đỏ là ông Kaing Guek Eav, còn được gọi là Duch, được mở tại Phnom Penh, Trung Quốc đã tìm cách hạ thấp vai trò của họ trong việc hổ trợ cho chính quyền Pol Pot.

“Nhưng mọi người đều biết, chính phủ Kamphuchea Dân chủ đã có một ghế hợp pháp tại Liên hiệp quốc, và trước đó (trước năm 1978) đã thiết lập những mối quan hệ rộng rãi với hơn 70 quốc gia khác,” nữ phát ngôn viên bộ ngoại giao Jiang Yu đã nói tại một cuộc họp báo thường kỳ, với ám chỉ cựu chính phủ Khmer Đỏ trước đây.


Ông Duch đang được đưa ra tòa về các tội hình chống lại loài người. Dưới sự cai quản của y, trong vai trò là sĩ quan chỉ huy trại tù S-21 khét tiếng, khoảng 14.000 người đã bị tra tấn và bị đưa tới cái chết của họ trong những cánh-đồng-giết-người bên ngoài thủ đô Phnom Penh. (Mời xem bài Trial and error in Cambodia, ngày 18-2-2009.)


“Trung Quốc đang nợ những người dân Cambodia một lời xin lỗi,” đó là nhận xét của Lao Mong Hay, cựu giám đốc Viện nghiên cứu về Xã hội Dân chủ Khmer ở Phnom Penh và hiện nay là một nhà nghiên cứu lão thành của Ủy ban Nhân quyền Á châu tại Hong Kong. “Trung Quốc đã giúp Khmer Đỏ từ trước khi chế độ này lên nắm được quyền lực và TQ đã tiếp tục đóng góp những trợ giúp của họ thậm chí sau khi Pol Pot nắm được quyền lực mà không cần quan tâm gì tới những gì đang xảy ra cho dân chúng Cambodia.”


Theo ông Mong Hay, Trung Quốc đã cho Kambodia Dân chủ 1 tỉ đô la trước năm 1979 và một tỉ đô la khác nữa sau 1979 để chiến đấu chống lại cuộc xâm chiếm của Việt Nam.


Trung Quốc thường nhắc nhở Nhật Bản phải “đối diện” với lịch sử, họ nhấn mạnh rằng thái độ không xin lỗi của Tokyo liên hệ tới những quan điểm chính trị của chủ nghĩa xâm lược trong quá khứ đang cản trở các sự tiến bộ về các mối quan hệ với những nước láng giềng của Nhật. Thế nhưng khi được áp dụng vào quá khứ của chính Trung Quốc, những bản chất sai lầm có tính toán (của TQ) trong lịch sử đã được vứt bỏ đi như là không liên quan tới những phát triển hiện tại và tương lai.


“Trung Quốc và Việt Nam đã có một thời kỳ không vui trong quá khứ của họ,” bà Jiang Yu nói với các phóng viên. “Thế nhưng điều quan trọng là các nhà lãnh đạo và nhân dân cả hai nước đều có một ước muốn lớn lao và nhất trí để cùng nhau tạo nên một tương lai tươi sáng. Lịch sử đã đạt được những kết luận của nó rồi,” bà bổ sung thêm.


Khmer Đỏ là một bản sao của chế độ Mao-ít, ông Mong Hay nhận xét, và bất cứ cuộc điều tra nào vào trong những thành tích của nó cũng có thể phơi bày ra ánh sáng những lỗi lầm trầm trọng thuộc về lịch sử của chính bản thân của Trung Quốc. “Chế độ cộng sản Trung Quốc vẫn chưa tính đến những nỗi đau khổ đã gây ra cho chính nhân dân của họ trong suốt nhiều năm trời của các phong trào chính trị và khủng bố đàn áp,” ông nói thêm.


Trong thời gian cầm quyền của Mao, Trung Quốc đã trang bị vũ khí và huấn luyện cho những nhóm phiến quân tại hầu hết các quốc gia Đông nam Á, bao gồm Indonesia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Cambodia, ngay cả khi TQ đã nuôi dưỡng các mối quan hệ đầm ấm với các chính phủ đương quyền ở các quốc gia này.

Sự trợ giúp hào phóng của Bắc Kinh đối với các đội quân cách mạng trên khắp Á châu đã nổi lên trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Văn hóa khi sự kình địch của Trung Quốc với Liên Xô mạnh mẻ thêm và họ đã tranh dành ảnh hưởng trong khu vực khi các cường quốc thực dân phương Tây đã rút lui (ý nói sau 1954 Pháp và Anh rút lui khỏi các khu vực Châu Á – TH).


“Cuối cùng đó là nền chính trị thực dụng, hơn là sự khẳng định có tính chất ý thức hệ, thứ nầy đã đem lại cho Trung Quốc và Cambodia xích lại gần nhau,” Philip Short đã viết trong cuốn sách về lai lịch của Pol Pot nhan đề Pol Pot: Lịch sử của một Cơn ác mộng. “Đã có một sự đối xứng gần như hoàn hảo liên quan tới những mối quan hệ của 3 nước này. Trung Quốc đã đối xử với Việt Nam giống như là Việt Nam đối xử với Cambodia – một người láng giềng to lớn và hùng mạnh, kẻ này hăm doạ áp đặt ảnh hưởng thống trị của họ lên một quốc gia khác nhỏ hơn.”

Trong khi Bắc Kinh đã từng coi Việt Nam như là một đầu cầu nối của Liên Xô ở châu Á, thì TQ cũng đã coi “Cambodia như là một quốc gia bên sườn phía tây Việt Nam có thể được mong đợi chống lại sự bành chướng của người Việt Nam, và vì thế là kìm chế quyền lực của Sô Viết,” ông Short viết.

Giờ đây, cũng như về sau, những mệnh lệnh của ý thức hệ đã và đang nhường chỗ lại cho nền chính trị thực dụng [1]. Kinh tế và thương mại hình thành cơ sở cho các chính sách của Bắc Kinh đối với những quốc gia láng giềng của mình trong những ngày này. Trung Quốc đang kiên nhẫn xây dựng lại các mối quan hệ truyền thống với tất cả các láng giềng Đông nam Á, sử dụng đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển và “quyền lực mềm” để lôi kéo những nước này vào trong quỹ đạo kinh tế của TQ.

Chương trình trao đổi mậu dịch bên trong vùng khu vực Sông Cửu Long mở rộng, The Greater Mekong Subregion [GMS], được Ngân hàng Phát triển châu Á [ADB] phát động năm 1992, đã và đang cung cấp cho Bắc Kinh một cơ cấu tổ chức để mở rộng các mối thắt chặt về kinh tế mà không làm nổi lên sự lo sợ giữa các nước láng giềng của TQ thường vẫn còn đang làm lo ngại về quyền lực Trung Quốc.

“Trung Quốc đang tham gia một cách tích cực vào việc phát triển của GMS bởi vì họ coi tổ chức này như là sự xây dựng một lối đi tới tất cả các nước vùng Đông nam Á,” theo nhận xét của He Shengda, nhà nghiên cứu làm việc cho Viện Khoa học Xã hội Vân Nam.

Tại Cambodia những ngày này, các công ty Trung Quốc được tham dự vào hoạt động khai thác mỏ và gỗ, và họ đã xây dựng các tuyến đường, cầu cống, các xí nghiệp may mặc, các nhà máy điện, các sòng bài và các khu nghỉ dưỡng cao cấp, TQ đang đầu tư khoảng 1,5 tỉ đô la năm 2007.

Một nhóm đầu tư người Cambodia và một công ty dệt may Trung Quốc đã và đang cam kết góp vốn ba tỉ đô la vào một liên doanh, tại cảng Sihanoukville, rập khuôn theo những phương pháp áp dụng cho các đặc khu kinh tế miễn thuế của Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các bãi chiến trường ngày xưa giờ đây đang tấp nập những thương gia Trung Quốc, được hổ trợ bởi các tuyến đường cao tốc mới, chẳng hạn như một tuyến nối liền Nam Ninh của tỉnh Quảng Tây với Hà Nội. Trong vòng ba năm, một tuyến đường khác được ngân hàng ADB cấp tín dụng sẽ rút ngắn chặng đường giữa thủ phủ Vân Nam của tỉnh Côn Minh với Hà Nội xuống còn chưa tới 24 giờ.

Sự hòa nhập về kinh tế gia tăng tương tự có thể được nhận thấy ở bất cứ đâu tại Đông nam Á, nơi mà các công ty Trung Quốc đang cung cấp tiền bạc và chuyên môn để đổi lại những thị trường và những nguồn tài nguyên có giá trị.

“Các nền kinh tế của vùng hạ lưu khu vực Sông Cửu Long mở rộng (GMS) và Trung Quốc bổ sung cho nhau rất tốt,” theo nhận xét của Zhang Guotu, một chuyên gia về Đông nam Á thuộc trường Đại học Thiên An Môn (Xiamen). “Khu vực phụ cận sông Cửu Long có tiềm năng to lớn trong những điều kiện về tài nguyên và lao động thế nhưng các nền kinh tế của nó đang bị tụt hậu. Điều này xuất trình những cơ hội cho nhà nước Trung Quốc và các công ty tư nhân trong việc tìm kiếm cả thị trường tiêu thụ lẫn đầu tư.”

Bên trong mục tiêu lớn hơn của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc cũng đang thúc đẩy cho sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế lớn lớn rộng hơn. Trong một dấu hiệu của những tham vọng đang gia tăng của nước này, năm ngoái Bắc Kinh đã chỉ định một đại sứ đặc biệt cho khối có 10 thành viên này.

Vào năm 2010, Trung Quốc và ASEAN đến kỳ hạn để khởi đầu giai đoạn một về sự thỏa thuận thương mại, giảm các loại thuế thương mại giữa Trung Quốc và năm quốc gia sáng lập khối này – Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Vào năm 2015, Việt Nam, Cambodia, Lào và Burma [Myanma] cũng sẽ tham gia vào khối thương mại này. Brunei là trường hợp ngoại lệ.

Tuy nhiên, các mối quan hệ của Trung Quốc với các quốc gia Đông nam Á vẫn còn đầy chông gai khi mà lịch sử và chính trị vẫn thường len vào con đường hội nhập kinh tế.

“Lịch sử không nên bị vứt bỏ đi một cách dễ dàng,” ông Mong Hay phát biểu. “Chỉ cần nhìn vào mối quan hệ của Cambodia và Trung Quốc, để thấy rằng họ đã và đang có vẻ giống như một cái đu quay trong quá khứ – đu từ chỗ tốt sang chỗ xấu rồi ngược lại.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————–

ASIA TIMES

————–

China haunted by Khmer Rouge links
By Antoaneta Bezlova
Feb 21, 2009
BEIJING – The skeletons are tumbling out of China’s cupboard of buried memories. The 30th anniversary of China’s brief but bloody war with Vietnam may have gone unmarked but for the fact that February 17 also saw the start of the trial of the chief torturer of Cambodia’s grisly Khmer Rouge.

China’s role in Cambodia’s bloody past is now little spoken of and this is how Beijing, Hanoi and Phnom Penh – all intent on trade and development – prefer it.

When in 1979 Vietnam ousted Pol Pot’s Khmer Rouge regime, Beijing was so incensed by what it saw as defiance in its backyard by a political party it had helped create that it ordered an attack to “teach Vietnam a lesson” and keep Pol Pot in power.
During his 1975-1979 rule Pol Pot sought to replicate Mao Zedong’s agrarian utopia, but the experiment left Cambodia deeply scarred and a quarter of its population – some 1.7 million people – dead.

Although aware of the atrocities commit ted by the regime, Beijing sided with the Khmer Rouge over the Vietnamese invasion of Cambodia and launched a massive offensive against Vietnam along the two countries’ border.

The month-long border conflict claimed anywhere between 20,000 to 60,000 lives, and yet no commemorations were held on the 30th anniversary either in Beijing or Hanoi.

As the trial of Khmer Rouge’s chief investigator Kaing Guek Eav, also known as Duch, opened in Phnom Penh, China sought to downplay its role in supporting Pol Pot’s regime.

“As everyone knows, the government of Democratic Kampuchea had a legal seat at the United Nations, and had established broad foreign relations with more than 70 countries,” foreign ministry spokeswoman Jiang Yu said at a regular press briefing, referring to the former Khmer Rouge government.

Duch is being tried on charges of crimes against humanity. Under his watch, as commandant of the notorious S-21 prison, some 14,000 people were tortured and sent to their deaths in the killing fields outside the capital Phnom Penh. (Please see Trial and error in Cambodia, February 18, 2009.)

“China owes Cambodian people an apology,” said Lao Mong Hay, former director of the Khmer Institute of Democracy in Phnom Penh and now a senior researcher at the Asian Human Rights Commission in Hong Kong. “It supported the Khmer Rouge before coming to power and continued to lend its support even after Pol Pot assumed power regardless of what was happening to Cambodian people.”

According to Mong Hay, China had donated $1 billion to Democratic Kampuchea before 1979 and another billion dollars after 1979 in order to fight the Vietnamese invasion.

China often admonishes Japan to “face up” to history, insisting that Tokyo’s unapologetic attitude regarding its invasionist politics of the past impedes relations with its neighbors. But when applied to China’s own past, reckoning of history’s fallacies is discarded as irrelevant to current and future developments.

“China and Vietnam have had a period of unhappiness in their past,” Jiang Yu told reporters. “But what’s important is that the leaders and people of both countries have a broad wish and consensus to create a bright future together. History has already reached its conclusions,” she added.

The Khmer Rouge was a replica of the Maoist regime, said Mong Hay, and any probe into its record could throw unfavorable light on China’s own historical blunders. “The Chinese communist regime hasn’t accounted yet for the sufferings caused to its own people during years of political campaigns and persecutions,” he added.

During Mao’s rule China armed and trained rebel groups in almost every Southeast Asian country, including Indonesia, Laos, Myanmar, Thailand and Cambodia, even as it fostered warm relations with their official governments.

Beijing’s generous support for revolutionary armies all over Asia rose during the Cultural Revolution when China’s rivalry with the Soviet Union intensified and they competed for influence in the region as Western colonial powers retreated.

“In the end it was realpolitik, far more than ideological affinity, which brought China and Cambodia together,” wrote Philip Short in his biography of Pol Pot, Pol Pot: The History of a Nightmare. “There was near-perfect symmetry to the three countries’ relations. China was to Vietnam as Vietnam was to Cambodia – a vast and powerful neighbor, which threatened hegemony.”

While Beijing saw Vietnam as a Soviet bridgehead in Asia, it also saw “Cambodia as the one country on Vietnam’s western flank which might be expected to resist the expansion of Vietnamese, and hence of Soviet power,” Short wrote.

Now, as then, imperatives of ideology have given way to realpolitik. Economy and trade form the basis for Beijing’s policies towards its neighboring countries these days. China is patiently rebuilding traditional ties with all of its Southeast Asian neighbors, using foreign investment, development aid and “soft power” to draw them back into its economic orbit.

The Greater Mekong Subregion intra-regional trade program, launched by the Asia Development Bank in 1992, has provided Beijing with the framework for expanding economic ties without arousing fears among its neighbors still wary of Chinese power.

“China actively participates in the development of the GMS because it sees it as the building of a passage to all of Southeast Asia,” said He Shengda, researcher with the Yunnan Academy of Social Sciences.

In Cambodia these days, Chinese firms are engaged in mining and logging, and have built roads, bridges, garment factories, power plants, casinos and resorts, investing about $1.5 billion in 2007.

A Cambodian investment group and a Chinese textile firm have committed three billion dollars to a joint venture, in Sihanoukville, modelled along the lines of China’s tax-free special economic zones.

In Vietnam, the old theatres of war are now bustling with Chinese traders, facilitated by new highways, such as the one linking Nanning in Guangxi province with Hanoi. Within three years, another ADB-financed highway will shorten the drive between Yunnan capital Kunming and Hanoi to less than 24 hours.

Similar accelerated economic integration can be seen elsewhere in Southeast Asia where Chinese companies are providing capital and expertise in exchange for markets and valuable resources.

“The economies of the GMS and China are highly complementary,” said Zhang Guotu, an expert on Southeast Asia with Xiamen University. “The sub-region has great potential in terms of resources and labor but its economies are lagging behind. This presents opportunities for Chinese state and private companies looking both for markets and investment.”

Within the greater scope of Association of South East Asian Nations (ASEAN), China is also pushing for enlarged economic interdependence. In a sign of its growing ambitions, last year Beijing appointed a special ambassador to the 10-member bloc.

In 2010, China and ASEAN are due to launch the first stage of a trade agreement, reducing tariffs on trade between China and the five founding countries of the bloc – Singapore, Malaysia, Indonesia, the Philippines and Thailand. In 2015, Vietnam, Cambodia, Laos and Burma will also join the trade bloc. The exception is Brunei.

Nevertheless, China’s relations with Southeast Asian nations remain prickly as history and politics often get in the way of economic integration.

“History should not be easily discarded,” said Mong Hay. “It only takes a look at Cambodia and China relations, for example, to see that they have been like a yo-yo in the past – swinging from good to bad and back.”

(Inter Press Service)

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Leave a Comment »

75:Đoàn ta Tiêu cả Tỉ đô la !

Posted by adminbasam trên 21/02/2009


Đoàn ta

Tiêu cả Tỉ đô la !

Nguyễn Hữu Vinh


Đó là “dự toán” của đề án “Đẩy mạnh công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên giai đoạn 2007 – 2010”. Một tin vui, hay là nỗi lo, hoặc cả hai ? Xin có mấy lời bàn.


1.”Tiền trảm hậu … kiến”: – Tại Hội nghị triển khai kế hoạch dạy nghề, việc làm và xuất khẩu lao động giai đoạn 2007-2010 (Bộ LĐ-TB-XH tổ chức tại Hà Nội từ 10, 11-5-2007), thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh “… Chính phủ sẵn sàng dành 1 tỉ đô la cho việc đào tạo nghề”*. – Nhưng trước đó, đề án đã được hoàn tất sau khi T.Ư Đoàn TNCSHCM nhận nhiệm vụ “chủ trì, phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH; Bộ GD&ĐT… xây dựng đề án về dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt”, được Thủ tướng nêu rõ trong phiên làm việc với Ban Bí thư T.Ư Đoàn ngày 22 tháng 3 năm 2007. – Ngày 5-6 T.Ư Đoàn phối hợp với Liên hiệp các Hội KH&KTVN tọa đàm lấy ý kiến góp ý cho đề án này. – Tháng 6 sẽ lấy ý kiến Bộ LĐ-TB-XH, trình Chính phủ – Quý III-2007 “nhanh chóng triển khai”**.

Đúng là khí thế tuổi trẻ. Một siêu dự án chưa từng thấy cấp cho một đoàn thể (chuyên hoạt động “phong trào”), nhưng lập, trình, lấy ý kiến cho kế hoạch đạt siêu tốc trong 3 tháng, tiêu pha (gọi là giải ngân) thì thần tốc trong 3 năm.

Còn quy trình ? Đó là sau khi Đoàn “nhận nhiệm vụ”, đã trình thủ tướng đề án. Thủ tướng nói “sẵn sàng dành 1 tỉ đô la”, thì lúc này Đoàn toạ đàm “lấy ý kiến” Liên hiệp, Bộ … Vậy là các nhà khoa học, chuyên gia kinh tế, quản lý được mời ngồi lại để bàn cái việc đã được quyết. Lề lối này sao cứ diễn mãi không thôi ?


2. Gương tày liếp: – Thất bại ê chề của Chương trình 112 còn đó chưa được làm rõ. Cũng là từ chuyện thủ tướng phê duyệt, nhưng nhiều nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo. Rồi cơ sự vẫn ra vậy. – Tiếp đến là vụ in tiền polyme, chuyện tày đình, mà cho tới giờ vẫn chưa rõ vì lẽ gì thủ tướng (lúc đó- năm 2001) phê duyệt lại không đúng với tờ trình Bộ Chính trị***. Hai vụ này cho kinh nghiệm về quan hệ giữa việc ra quyết định với khâu nghiên cứu, lấy ý kiến phản biện, rồi thẩm định, triển khai … vẫn theo lối “mệnh lệnh” thời kế hoạch hóa tập trung quan liêu, phát từ trên xuống theo ý chí chủ quan, không từ kết quả nghiên cứu công phu nào cả; “ý kiến” của các nhà khoa học cũng chỉ như của “cái kiến con sâu”, để rồi khi thất bại, hoang phí thì không ai chịu trách nhiệm cho dù sự việc nghiêm trọng tới đâu.


3. Phản đề: – Trước hết, tựa như những bất hợp lý của Chương trình 112 là Ban điều hành không có chức năng quản lý nhà nước về CNTT, nay cái “Ban điều hành” nào đó của Đoàn liệu có thể có chức năng quản lý nhà nước về “dạy nghề” và “giải quyết việc làm” ? Hay lại phải “liên kết” với hai Bộ LĐ-TBXH và GD-ĐT, tính pháp lý ở đâu ? – Tiền nhiều, tiêu nhanh, kinh nghiệm thiếu, năng lực quản lý yếu của một đoàn thể phải thực hiện một công việc quá ư mới mẻ với mình. Tham nhũng, lãng phí sẽ là khôn lường. Điều này có được tính tới chút nào trong đề án ? Có đối chiếu Luật Phòng chống tham nhũng để đề ra cho rõ các giải pháp phòng ngừa ? – Đề án liệu có nêu những mặt trái, bất khả thi của quyết định này, hay lại cứ răm rắp “tuân lệnh” ? – Có tính đến khả năng “xin được rút” vì thấy không đủ năng lực, điều kiện ? – Có dự liệu những ảnh hưởng không tốt nhiều mặt đến việc đảm bảo nhiệm vụ chính của tổ chức Đoàn ? – Ngoài đoàn thanh niên, có cơ quan nào khác phù hợp hơn, có thể đảm đương tốt hơn, để khỏi bị cái lối “chỉ định thầu” như vậy ? – Cũng từ đây, thêm một dấu hỏi là có nên gọi là chỉ giành riêng cho thanh niên hay là nên giành cho tất cả mọi đối tượng cần có tay nghề, việc làm ? Và, không lẽ không thể nghĩ ra được giải pháp nào căn cơ, dài hơi hơn hay sao ? v.v..

Đoàn ta hơn sáu chục cái xuân xanh rồi, nét già cỗi nó cứ xồng xộc đến. Bao nỗi lo thanh niên giờ sao thờ ơ với “tổ chức”, “tổ chức” thì cứ kết nạp thanh niên theo kiểu “đánh trống ghi tên”, mọi hoạt động vẫn cứng nhắc, hình thức, mô phạm, thậm chí giả dối, theo phong cách xưa cũ từ thế kỷ trước, bộ máy thì chằng chịt, cồng kềnh, tốn kém. Đã bao giờ ta tìm nguyên nhân bằng so sánh mình với những tổ chức thiện nguyện quốc tế, “Hướng đạo sinh” của ta ngày xưa, xem có phải khác nhau một trời một vực nên mới đến nông nỗi vậy ? Trong khi bao nhiêu lĩnh vực, từ y tế, giáo dục, môi trường, … được công luận “mổ xẻ” tời bời, nhưng chưa thấy có Đoàn trong đó. Chưa làm tốt cái nhiệm vụ cơ bản, giờ lại thêm cái gánh nặng quá đỗi này. Thật đáng ngại !

Cũng như một cơ thể sống, chuyện “sinh, lão, bệnh, tử” làm sao tránh khỏi. Cán bộ Đoàn ta trông đã già, thế mà giờ lại già người thêm vì nỗi lo ôm nhiều tiền bạc nữa, không khéo “bệnh”, “tử” chưa biết chừng.

Hỡi các bác “thủ lĩnh” của lớp trẻ, hăng hái nhiệt tình là tốt. Chỉ có điều chuyện kinh tế, quản lý, nhất là dính tới tiền bạc của dân, các con cháu nhân dân không thể làm theo kiểu “phong trào” được.

Của đau, con dân xót ! Mà dân thì còn nghèo lắm, 1 tỉ đô chứ đâu phải …

——

* Báo Tuổi trẻ ngày 12-5-2007

** VietnamNet ngày 5-6-2007

*** Báo Đại đàn kết, ngày 8-6-2007

(Diễn Đàn – ngày 27-8-2007)

Xin mời bà con xem thêm một bài hôm nay 21-2-2009 trên VietnamNet quanh vấn đề này: “110 tỷ đồng đào tạo công chức trẻ: Đoàn lại ôm đồm!

Posted in Bài của Ba Sàm, Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

72:Miền Bắc VN Vẫn Nhớ Cuộc Xâm Lược của TQ năm 1979(3)

Posted by adminbasam trên 17/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


Miền Bắc Việt Nam


vẫn nhớ đến cuộc


xâm lược năm 1979


của Trung Quốc


Aude Genet, Hãng thông tấn Pháp Agence France Presse [AFP]

Thứ Ba, ngày 17-2-2009


LẠNG SƠN: Người dân Lạng Sơn vẫn còn nhớ tới sự tàn phá khi quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới tấn công như vũ bão 30 năm trước.

Không một tòa nhà nào của chính quyền còn đứng vững. Những xác chết bị bỏ lại đang trôi nổi trên sông.

Thế nhưng giờ đây thành phố phía bắc Việt Nam này là một khu buôn bán hưng thịnh. Và trong khi mối nghi ngờ về người láng giềng khổng lồ của họ vẫn còn đó, thì những mối liên kết thương mại gia tăng qua biên giới đang cải thiện số phận của nhiều người Việt Nam.

“Nhờ vào phát triển kinh tế và thương mại ở đây, cuộc sống của chúng tôi đang trở nên tốt hơn,” theo lời một phụ nữ không cho biết tên vì một lý do đơn giản-bà kiếm tiền bằng cách buôn lậu hàng giả qua biên giới.

Để được trả hơn 1 đô la một chút, những người buôn lậu phải gùi khoảng 50 cân hàng phía sau lưng và băng qua biên giới trên những con đường núi hiểm trở – thỉnh thoảng họ phải đi vài lần trong một ngày.

Bất chấp sự kiểm soát ngày càng gia tăng của hải quan, người phụ nữ này nói là bà đã kiếm đủ tiền để mua một căn nhà.

Mọi thứ kém phần vui tươi hơn vào năm 1979, khi Lạng Sơn còn là một trong những vùng phải gánh chịu sức mạnh tàn phá trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng mà hủy diệt khủng khiếp đó.

Sau nhiều tháng lời qua tiếng lại và đụng độ vũ trang, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công quy mô chống lại Việt Nam để dạy cho người đồng minh cộng sản của họ “một bài học” về việc đang trở nên quá độc lập trước những ý muốn của Bắc Kinh.

Cuộc chiến kéo dài chỉ một vài tuần, thế nhưng đã để lại đàng sau một mối hồ nghi dai dẳng về người Trung Quốc, mà nó chỉ được bù đắp phần nào bởi những liên hệ thương mại sâu đậm thêm.

“Mối quan hệ thương mại này là không cân xứng,” theo lời của ông Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam và là giáo sư Học viện Quốc phòng Úc.

“Việt Nam, như là một đối tác yếu thế hơn, luôn đặc biệt nhạy cảm với bất cứ việc gì Trung Quốc đang làm. Tình trạng yếu thế của Việt Nam làm tăng thêm mối ngờ vực và không tin cậy,” ông nói.

Nhưng nếu như có những mối nghi ngại về nước Trung Quốc ở đây, thì có vẻ như không có những lo âu về hàng hóa của Trung Quốc. Khu vực biên giới tràn ngập mọi thứ từ những loại quần áo cơ bản cho tới những chiếc điện thoại di động và hàng điện tử đời mới nhất – tất cả đều được sản xuất ở Trung Quốc.

Các giới chức địa phương cho biết là buôn bán qua biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đã tăng vọt từ khoảng 200 triệu đô la một năm vào đầu những năm 1990 lên 1,5 tỉ đô la năm 2008 – với lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc hầu như chiếm toàn bộ.

“Trong thời gian diễn ra cuộc chiến, mọi người ở đây căm thù người Trung Quốc,” đó là nhận xét của một phụ nữ cũng giấu tên. “Nhưng kể từ đó, cảm giác của chúng tôi từ từ trở lại bình thường.”

Các giới chức Việt Nam thường từ chối đề cập tới cuộc chiến đó và các mối quan hệ với Trung Quốc có vẻ như nằm trong sự sắp đặt tuyệt vời – tuy nhiên đề tài này hầu như là điều cấm kỵ trên hệ thống truyền thông nhà nước.

Trong khi một số vấn đề còn tồn tại dai dẳng, theo Ramses Amer, một giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu châu Á Thái Bình Dương của trường Đại học Stockholm, thì những mối liên hệ là vững chãi hơn nhiều so với những năm trước.

“Có nhiều bước tiến bộ, thậm chí trong những đề tài biên giới có tính chất khó khăn,” ông Amer nói.

Dân chúng ở đây có lẽ không bao giờ quên được những năm tháng dài chiếm đó của quân Trung Quốc hay nhiều cuộc đụng độ trong quá khứ, và những vấn đề về lãnh thổ vẫn nuôi sống những mối ngờ vực nào đó.

Trong khi hai nước cuối cùng đã đánh dấu xác định đường biên giới trên bộ, họ vẫn có những tranh đua và có những khẳng định chủ quyền bộc lộ nhiều xúc động về các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong vùng Biển Đông.

“Không có vấn đề nào nhạy cảm hơn là những khẳng định chủ quyền mang tính tranh chấp của họ đối với những phần trên Biển Đông,” ông Thayer nhận xét. “Cuộc tranh cãi này dấy lên câu hỏi dễ gây xúc động về di sản để lại của tổ tiên và chủ quyền quốc gia.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————————————————-

The Manila Times

———

Northern Vietnam still
remembers China’s 1979 invasion

By Aude Genet Agence France Presse

Tuesday, February 17, 2009

LANG SON: The people of Lang Son still remember the devastation when Chinese troops came storming across the border 30 years ago.

Not a single government building was left standing. The bodies of the dead were left floating in the river.

But now this northern Vietnam town is a flourishing trade area. And while suspicion of their giant neighbor remain s, the growing trade links across the border are improving the lot of many Vietnamese.

“Thanks to economic development and the trade here, our life is getting better,” says one woman, who declines to give her name for a simple reason—she makes her money smuggling counterfeit goods across the border.

For pay of little more than a dollar, the smugglers strap around 50 kilos (110 pounds) on their backs and make the difficult mountain trek across the border—sometimes several times a day.

Despite an increase in customs controls, the woman says she makes enough to have bought a house.

Things looked less rosy in 1979, when Lang Son was one of the regions that bore the brunt of the devastation in the brief but destructive war.

After months of verbal sparring and armed clashes, China launched a massive offensive against Vietnam to teach its communist ally “a lesson” for becoming too independent for Beijing’s liking.

The war lasted only a few weeks, but left behind a lingering mistrust of the Chinese that has only partly been offset by the deepening links of trade.

“The relationship is asymmetric,” says Carl Thayer, a Vietnam expert and professor at the Australian Defense Force Academy.

“Vietnam, as the weaker partner, is always extremely sensitive to whatever China does. Vietnam’s weakness gives rise to suspicion and distrust,” he says.

But if there are misgivings about China here, there seem to be no worries about Chinese goods. The border area is flooded with everything from basic clothes to the latest in mobile phones and electronics—all made in China.

Local officials say cross-border trade in Lang Son province has jumped from around $200 million a year in the early 1990s to $1.5 billion in 2008—with imports of Chinese goods accounting for almost all of that.

“During the war, everyone here hated the Chinese,” says one woman, who also declined to be named. “But since then, our feelings have slowly been getting back to normal.”

Vietnamese officials normally decline to mention the war and relations with China would seem to be in excellent shape — though the subject is almost taboo in official communication.

While some problems persist, says Ramses Amer, a professor at Stockholm University’s Center for Pacific Asia Studies, ties are much sounder than they were in years past.

“There has been a lot of progress, even on difficult border issues,” Amer says.

People here may never forget the long years of Chinese occupation or the numerous clashes of the past, and territorial matters keep a certain amount of mistrust alive.

While the two countries have finally demarcated their land border, they still have competing and emotionally charged claims over the Spratlys and Paracel islands in the South China Sea.

“No issue is more sensitive than their conflicting claims to features in the South China Sea,” says Thayer. “This dispute raises the emotive question of patrimony and national sovereignty.”

Posted in TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Leave a Comment »

71:Phải tưởng niệm Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung 1979

Posted by adminbasam trên 16/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Epoch Times

————————————————————————————————————

Vì sao Việt Nam


cần phải nhớ ngày


17 tháng Hai


Mối nguy hiểm nằm trong việc quên đi một cuộc chiến tàn khốc

Phạm Hồng Sơn

Ngày 15-2-2009


NỘI – Ngày 17 tháng Hai đánh dấu kỷ niệm lần thứ 30 ngày nổ ra cuộc Chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam.

Cuộc chiến đã diễn ra ngắn ngủi – chỉ khoảng một tháng – song quá đẫm máu và tàn khốc hàng chục ngàn người đã bị cướp đi mạng sống của họ. Nhiều phụ nữ Việt Nam đã bị hãm hiếp, nhiều phụ nữ và trẻ em đã bị giết hại do bị chém bằng rìu hoặc dao rừng tới chết, và gần như tất cả cơ sở hạ tầng dân sự (nhà máy điện, cầu cống, đường sá,…) trên sáu tỉnh biên giới Việt Nam đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong khi tôi viết ra điều này, chỉ còn ít hôm nữa là tới ngày kỷ niệm lần thứ 30 cuộc chiến đó, thế nhưng không có bài báo nào trên phương tiện truyền thông nhà nước Việt Nam nhắc nhở sự kiện đó. Trong vài năm gần đây, các phương tiện truyền thông nhà nước ở Việt Nam đã và đang duy trì một thái độ nhút nhát hướng tới những đề tài liên hệ tới Trung Quốc thuộc loại đó cũng như là bản thỏa thuận về biên giới có tính chất bí mật vào năm 1999, và những quần đảo hay các mốc biên giới phải san sẻ hoặc bị xâm lấn bởi Trung Quốc.

Nhiều nhà hoạt động và các blogger đã  cố gắng nói về tội ác của Trung Quốc, thì đã và đang bị giam cầm hoặc đe doạ. Rõ ràng là những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam không muốn vinh danh kỹ niệm bằng cách tổ chức buổi lễ dành cho một sự kiện như cuộc chiến tranh nầy; họ đang giữ im lặng và cố bắt những người khác phải câm họng đối diện với quyền bá chủ của Trung Quốc.

Những mối nguy hiểm của sự im lặng

Có ba mối nguy hiểm kết quả từ sự im lặng đó.

Trước hết, một mối nguy hiểm đang diễn ra bên trong nước Việt Nam. Một yếu tố quan trọng đã tạo dựng nên tính hợp pháp dành cho sự lãnh đạo đơn độc của Đảng Cộng sản Việt Nam trong năm thập kỷ qua đã là những nỗ lực của đảng để  bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Bất kể những quan điểm khác nhau có thể có về hai cuộc đấu tranh chính trong thế kỷ 20 tại Việt Nam, một với người Pháp và một với chế độ được người Mỹ yểm trợ, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã nắm quyền lãnh đạo và trở thành kẻ chiến thắng.

Trong lịch sử lâu dài của Việt Nam, niềm hãnh diện của dân tộc nằm trong thái độ không bao giờ cúi mình  trước những kẻ tấn công hay xâm lược, đặc biệt trước kẻ xâm lược phương Bắc truyền thống. Vài nhà lãnh đạo Việt Nam trong lịch sử từng sang nước láng giềng phương Bắc nhờ trợ giúp chống lại những cuộc nổi dậy của quần chúng đã và đang bị phản đối gay gắt.

Vả chăng, chiến lược của ĐCSVN trong việc đấu tranh cho quyền lực là luôn tìm kiếm mọi cơ hội để buộc tội các đối thủ về hành động hợp tác với một kẻ thù nước ngoài. Thế nhưng, mỉa mai thay, giờ đây chính là ĐCSVN họ đã và đang chấp nhận cho nhiều phần đất đai, biển, và hải đảo bị mất vào tay Trung Quốc trong năm chục năm qua (1958-2008).

ĐCSVN cần phải nhận ra rằng một sự phẫn nộ sôi sục đang hiện hữu  giữa những người dân, những người đang ý thức được về những hành động nhượng bộ này.

Một cựu bộ đội đã từng chiến đấu trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam năm 1979 gần đây đã viết trên blog riêng của Osin rằng: “Cái mà chúng ta gọi là một “chiến thắng” đã phải trả cái giá bằng máu chảy đầu rơi … Và 30 năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi thẳng tiến lên biên giới phía bắc với lòng căm thù, thế nhưng những hải đảo vẫn đang bị mất và quốc gia nầy  vẫn phải im lặng.”

ĐCSVN giờ đây đang cố bằng mọi nỗ lực che giấu những nhượng bộ của họ trước kẻ xâm lược phương Bắc. ĐCSVN có lẽ đã thành công trong việc bịt miệng dân chúng tới mức độ nào đó, nhưng theo thời gian, với sự trợ giúp của một mạng internet huyền diệu,  sự thực sẽ đến với mỗi người dân. Và tình trạng yên lặng hiện nay sẽ trở nên nguy hiểm như một nắp vung đậy chặt trên một chiếc nồi nước nóng đang đầy hơi.

Những tham vọng của chế độ Trung Quốc

Mối nguy hiểm thứ hai (của sự im lặng của chính phủ VN) là khích lệ những tham vọng đế quốc của chế độ cai trị ở Trung Quốc.

Trung Quốc có đất đai rộng lớn và có nền văn hóa và lịch sử vĩ đại. Trong quá khứ xa xưa Trung Quốc đã từng là một siêu cường trong nhiều thế kỷ. Bởi thế  một tham vọng lấy lại hình ảnh quá khứ của một siêu cường dành cho một nước Trung Hoa hiện đại là có tính chất tự nhiên và dễ hiểu.

Thế nhưng Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), đảng vẫn nắm quyền lực độc nhất ở Trung Quốc từ năm 1949, đã thực hiện một số đường lối sai lầm và tai hại nhằm đạt cho được tham vọng này.

Trong kỷ nguyên của Mao từ năm 1949 đến 1976, Trung Quốc đã chỉ đạo hàng loạt những chính sách điên rồ như vậy như “Cuộc vận động chống hữu khuynh”(1957), “Bước Đại nhảy vọt” (1958-1960), và “Cách mạng Văn hóa” (1966-1969). Các cuộc vận động này chỉ đem tới chết chóc cho hàng chục triệu người dân và một sự tàn phá khổng lồ cho nền văn hóa cổ và môi trường tự nhiên của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình trở thành người kế tục Mao vào năm 1978 và đã mở cửa nền kinh tế Trung Quốc và tìm kiếm công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện vẫn đang chứa đựng trong chính họ những mầm mống của một thảm hoạ âm ỉ, tựa như Nhật Bản trong thời đại Thiên Hoàng  hay nước Đức trong thời kỳ hậu Đệ nhất Thế chiến đã từng đối diện.

Đức và Nhật, đã phát triển những nền kinh tế hùng mạnh bằng cách áp dụng kiến thức và bí quyết khoa học, cả hai nước được lãnh đạo bởi những nhà chính trị độc đoán lao vào một nổ tính đầy thảm khốc giành quyền bá chủ trong cuộc Đệ nhị Thế chiến.

Vì vậy thái độ im lặng hay tuân phục của ĐCSVN trước quyền bá chủ về phía nam của Trung Quốc có hiệu quả khuyến khích  ĐCSTQ để dám  liều lĩnh đi xa hơn nữa trên con đường sai lầm và tai hại.

Gây mất ổn định

Mối nguy hiểm thứ ba là gây mất ổn định cho hòa bình trong khu vực và hòa bình thế giới. Trong lịch sử dài lâu của những thời kỳ sớm sủa hơn, chiến tranh không phải là một hiện tượng hiếm hoi đối với hai quốc gia Việt Nam và người láng giềng phương Bắc. Gần như mỗi một  triều đại ở Trung Quốc đều đã làm ít nhất là một cuộc xâm lược vào người láng giềng Việt Nam ở phương nam của họ.

Thế nhưng các nhà lãnh đạo tiền nhân Việt Nam, cùng với dân chúng, đã từng luôn kiên quyết bảo vệ chủ quyền và danh dự của mình, xuyện qua những nhà lãnh đạo họ đã đi theo một đường lối ngoại giao khéo léo hướng về người láng giềng khổng lồ sau nhiều lần chiến thắng (trên chiến trường). Vì vậy trong nhiều thế kỷ, tinh thần kháng cự của người dân Việt Nam đã làm nên một tấm lá chắn không thể nào khuất phục được đối với các quốc gia Đông-Nam châu Á chống lại cuộc xâm lược của phương Bắc.

Nhưng giờ đây những người lãnh đạo đương thời của Việt Nam, ĐCSVN, đã không chịu đi theo sự khôn ngoan của tổ tiên họ và tấm lá chắn lịch sử mà Việt Nam đã cung cấp cho hòa bình của thế giới và trong khu vực đang bị đập nát.

Một con đường thoát

Vào thời điểm khủng hoảng kinh tế hiện nay, người dân có lẽ ít quan tâm tới những gì khác ngoài chuyện kiếm tiền. Vì vậy, một cuộc chiến tranh ngắn ngủi như cuộc chiến Trung Quốc-Việt Nam nổ ra cách đây 30 năm có thể không còn lôi kéo sự chú ý nữa. Tuy nhiên, tham vọng bá chủ của kẻ tấn công đó vẫn còn hung tợn  và dường như còn mạnh mẽ hơn.

Quan trọng hơn nữa, kẻ tấn công nầy đang cư xử một cách hung hăng không phải chỉ đối với người ngoài mà còn với cả người trong nước, như việc những nhà hoạt động dân chủ trong nước Trung Quốc đã phải đối mặt với hành động đàn áp.

Cùng lúc với nhiều người Trung Quốc ngày nay đang kêu gọi cho dân chủ, nhiều người Việt Nam cũng đã hành động như vậy. Dân chủ đã chứng tỏ là giải pháp tốt nhất để giải quyết bất cứ cuộc tranh chấp hoặc khó khăn bất ổn nào mà không cần phải dùng tới bạo lực và là cơ chế tốt nhất để xây dựng sự hài hòa trong xã hội và sự thịnh vượng của quốc gia trong một nền hoà bình bền vững.

Một bước nhỏ hướng tới việc đem nền dân chủ cho Việt Nam và cho Trung Quốc là hãy nói thẳng ra ý nghĩa của ngày 17 tháng Hai.


Bác sĩ Phạm Hồng Sơn vào đầu năm 2002 đã dịch sang tiếng Việt bài báo “Thế nào là Dân chủ?” đã được đưa lên một trang web của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Bị kết án 13 năm tù, ông đã trải qua 4 năm rưỡi trong nhà giam và đã bị quản thúc tại gia ở Hà Nội kể từ khi được trả tự do vào tháng Tám năm 2006. Tác giả của nhiều bài tiểu luận trên mạng tập trung vào những chủ đề đáng quan tâm của đất nước về chính trị và xã hội, năm 2003 và 2008 ông là một trong những người thắng giải   của tổ chức Giám sát Nhân quyền Human Rights Watch Hellmann/Hammet, đã được trao tặng giải thưởng dành cho những nhà văn đang chịu đựng những hành động đàn áp về chính trị.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


————————————————————————————————

The Epoch Times

———–

Why Vietnam Must Remember February 17

Danger lies in forgetting a cruel war

By Pham Hông Son

Feb 15, 2009

HANOI—February 17 marks the 30th anniversary day of the outbreak of the Sino -Vietnamese War. It was short—just about a month—but so bloody and cruel that tens of thousands of people lost their lives. Many Vietnamese women were raped, many women and children were killed by being hacked to death with axes or forest knives, and nearly all the civilian infrastructure in six border provinces of Vietnam was completely destroyed.

As I write this, only a few days remain before this 30th anniversary of this war, but no articles in Vietnam’s official media recall this event. In several recent years, official media in Vietnam have maintained a timid behavior towards such China-related issues as the secret border agreement in 1999, and islands or landmarks shared or occupied by China.

Many activists and bloggers who tried to speak out about China’s evil have been imprisoned or intimidated. It is clear that the incumbent leaders of Vietnam do not want to commemorate such an event as this war; they are keeping silent and attempting to silence others in the face of China’s hegemony.

The Dangers of Silence

Three dangers result from that silence.

First, a danger occurs inside Vietnam. An essential factor that made up the legitimacy for Communist Party of Vietnam’s sole leadership in the last five decades has been its efforts to defend national sovereignty.

Whatever the different opinions may be about the two major struggles in the twentieth century in Vietnam, one with the French and the other with the American-backed regime, the Communist Party of Vietnam (CPV) took the lead and became the winner.

In the long history of Vietnam, the nation’s pride lay in never bending before the attacker or invader, especially before the traditional Northern invader. A few Vietnamese leaders in history who went to the Northern neighbor for help against popular uprisings have been condemned severely.

Moreover, the CPV’s strategy in struggling for power was always to find every opportunity to accuse opponents of co-operating with a foreign enemy. But, ironically, now it is the CPV who has allowed many of Vietnam’s lands, seas, and islands to be lost into China’s hand over the last five decades.

The CPV must have observed that a simmering indignation exists among people who are aware of these concessions. A veteran soldier who fought in the Sino-Vietnamese war in 1979 recently wrote in the private blog Osin: “What we call a ‘victory’ had to be paid for with blood and human heads. … And 30 years have passed since we advanced furiously straight to the northern border, but islands are still lost and the country is still silent.”

The CPV is now trying every effort to hide their concessions to the Northern invader. The CPV may succeed in silencing people to some extent, but over time, with the support of a sophisticated Internet, the truth will come to every person. And the current silence will become as dangerous as a tight lid on a hot steaming pot.

Ambitions of the Chinese Regime

The second danger is to encourage the Chinese regime’s imperial ambitions. China is vast in geography and great in culture and history. In the far past China was for centuries a superpower. So an ambition to bring back the past image of a superpower for a contemporary China is understandable and natural.

But the Chinese Communist Party (CCP), which has held sole rule over China since 1949, took several wrong and disastrous ways to achieve this ambition. In the Mao era from 1949-1976, China conducted a series of such paranoid policies as the “Anti-rightist campaign”(1957), the “Great Leap Forward” (1958-1960), and the “Cultural Revolution” (1966-1969). These campaigns only brought the death of tens of millions of people and a huge devastation of China’s ancient culture and natural environment.

Deng Xiaoping became Mao’s successor in 1978 and opened up China’s economy and sought modern technology. However, China contains within itself the seeds of an insidious disaster, such as Japan in the Meiji era or Germany in the post-WWI period encountered. Germany and Japan, which developed powerful economies by applying scientific knowledge and know-how, were both led by authoritarian politics into a catastrophic attempt at hegemony –World War II.

So the silent or compliant behavior of the CPV before China’s hegemony southward has the effect of urging the CCP to venture further on a wrong and disastrous path.

Destabilizing

The third danger is to destabilize the regional and world peace. In the long history of earlier times, war was not a rare phenomenon for the two countries Vietnam and its Northern neighbor. Nearly every dynasty in China carried out at least one invasion into its southern neighbor Vietnam.

But Vietnam’s leaders, together with their people, were always determined to defend its sovereignty and its honor, though the leaders had to conduct a skillful diplomacy toward their giant neighbor after any victories. So for several centuries, the Vietnamese people’s resistant spirit made an indomitable shield for South-East Asia nations against Northern invasion. But now Vietnam’s contemporary leaders, the CPV, have failed to follow their ancestors’ wisdom and the shield Vietnam historically provided for regional and even world peace is being broken up.

A Way Out

In a time of economic crisis, people may neglect to care about anything other than making money. Thus, a brief war like the Sino-Vietnamese war that broke out 30 years ago may no longer draw much attention. However, the attacker ’s desire for hegemony remains fierce and appears stronger.

More importantly, the attacker behaves aggressively not just toward the outsider but toward the insider, as democracy activists inside China face suppression. Just as many Chinese are today calling for democracy, so are many Vietnamese. Democracy has proven to be the best solution to settle any dispute or trouble without violence and is the best mechanism to build social harmony and national prosperity in a durable peace.

One small step toward bringing democracy to Vietnam and to China is to speak out about the meaning of February 17.

Dr. Pham Hông Son in early 2002 translated into Vietnamese the article “What is Democracy?” that was posted on a website of the U.S. embassy in Vietnam. Sentenced to 13 years in prison, he spent 4.5 years in prison and has been under house arrest in Hanoi since his release in August 2006. Author of many on-line essays focusing on political and social subjects of national interest, in 2003 and 2008 he was one of the winners of Human Rights Watch Hellmann/Hammet grants, awarded to writers suffering political persecution.

Posted in Biển Đông/TS-HS, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

69:VN-TQ Căng Thẳng Kinh tế

Posted by adminbasam trên 16/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


The Star

————————————————————————————————————

Trung Quốc và Việt Nam


đối mặt với những căng


thẳng khi ký ức chiến


tranh mờ dần


John Ruwitch

Chủ nhật, ngày 15-2-2009


LẠNG SƠN, Việt Nam (Reuters) – Những tấm bia lớn màu đen dựng tại nghĩa trang Lạng Sơn liệt kê hàng trăm bộ đội Việt Nam tử trận. Bên cạnh một vài cái tên là dòng chữ “chống Pháp” hay “chống Mỹ” – chỉ rõ họ đã hy sinh như thế nào.

(Tuy vậy), hầu hết trong số bia mộ đó thì được ghi là “Bảo vệ tổ quốc”, một lối ám chỉ gián tiếp nhắm vào cuộc chiến tranh kéo dài một tháng đã bắt đầu khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào ngày 17-2-1979 nhằm trừng phạt Hà Nội vì đã lật đổ Khmer Đỏ được Bắc Kinh hậu thuẫn tại Cambodia trước đó hai tháng.

Ba mươi năm đã trôi qua, cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc mà trong đó ít nhất có 60.000 bộ đội đã tử trận hiện là một ký ức mà cả hai chính phủ sung sướng che đậy hay ngăn cấm tiết lộ. Thế nhưng trong những thời buổi kinh tế đang gặp khó khăn này, Việt Nam và Trung Quốc có thể phải đối mặt với những căng thẳng mới cọng thêm vào lịch sử lâu dài và thường cay đắng của họ.

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1991, Trung Quốc và Việt Nam đã và đang đạt được sự tiến bộ đầy ấn tượng trong việc cố gắng thành lập những mối quan hệ tốt đẹp hơn, theo nhận xét của Brantly Womack, một chuyên gia về Trung Quốc-Việt Nam của trường Đại học Virginia.

Thí dụ việc thương mại hai chiều vào năm 2008 đã tăng lên 21 tỉ đô la.

“Trung Quốc và Việt Nam đã không có nhiều lý do hơn để mà thân thiện so với quan hệ Nga và Ba Lan, và Nga và Ba Lan … vẫn là những kẻ thù tồi tệ nhất của nhau,” ông nói.

“Với Việt Nam và Trung Quốc, nói một cách chính xác thì họ không ưa thích gì nhau, song họ chắc chắn là đã nhận ra làm sao sống hòa thuận với nhau. Đó là mối lợi cho cả hai bên.”

Thực tế về những gì được ghi dấu ở Lạng Sơn không giải thích rõ ràng rằng những người lính đã chết “vì chiến đấu với Trung Quốc” đã minh hoạ cho cách tiếp cận thận trọng của Hà Nội hướng tới Bắc Kinh.

Về phần họ, ban lãnh đạo Trung Quốc bị ám ảnh về tính ổn định đã thực hiện một nỗ lực có kế hoạch trong những năm gần đây để xây đắp những mối quan hệ có tính xây dựng. Thế nhưng, những tháng sắp tới sẽ là những thử thách.

Cả hai nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, lệ thuộc vào tốc độ tăng trưởng cao, đang phải đối mặt với cuộc sát hạch nghiêm khắc nhất của họ kể từ những cải cách kinh tế được phát động cách đây vài chục năm và nền tài chính toàn cầu không có gì chắc chắn đã kích động thêm khả năng căng thẳng gia tăng.

Thậm chí trong những thời kỳ thuận lợi, các nỗ lực của những nhà hoạch định chính sách của Việt Nam và Trung Quốc cũng vẫn có những hạn chế. Cả hai chính phủ đều khẳng định quyền sở hữu của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông, nơi nầy được nghĩ là chứa đựng trữ lượng dầu lửa và khí gas có giá trị lớn.

Nội và Bắc Kinh đã và đang thỏa thuận không phá vỡ tình trạng ngay hiện nay, song cả hai bên vẫn cứng rắn trong những lời tuyên bố chủ quyền của họ.

Ngoài ra, hai đảng Cộng sản cầm quyền đang bị bối rối bởi ám ảnh không vui về tình trạng náo động dân tộc chủ nghĩa nếu như họ tỏ ra mềm mỏng trong vấn đề này. Năm 2007, hàng trăm thanh niên Việt Nam đã biểu tình trước tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội sau khi có tin Trung Quốc đã thiết lập chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý các quần đảo đang tranh chấp này.

NHỮNG QUẦN ĐẢO ĐANG TRANH CHẤP

Vượt ra ngoài những hành động phản kháng và những lối nói khoa trương, cuộc tranh cãi về lãnh thổ là một mối nguy cơ chính trị hữu hình.

Tháng Bảy năm 2008, Trung Quốc đã gây sức ép làm cho tập đoàn Exxon Mobil Corp (củ Mỹ) phải rút lui khỏi một thỏa thuận thăm dò dầu khí với Việt Nam mà Trung Quốc coi như là một hành động xâm phạm chủ quyền của họ.

Vào tháng Năm 2008, hãng BP Plc (của Anh) đã ngưng các kế hoạch thực hiện công tác thăm dò ngoài khơi phía nam Việt Nam, viện dẫn tới những mối căng thẳng về chủ quyền lãnh thổ.

“Vấn nạn lớn nhất là về các quần đảo,” theo lời ông Dương Danh Dy, nguyên là một nhà ngoại giao Việt Nam từng có ba chuyến đi sứ tới Trung Quốc từ những năm 1960 đến 1990.

Nếu vị thế toàn cầu của Hoa Kỳ bị mất đi, nếu nền kinh tế của Nhật Bản suy yếu đi hơn nữa, tôi lo ngại là thái độ của Trung Quốc trên Biển Đông có thể cứng rắn hơn,” ông nhận định. “Nếu mọi sự tiếp tục như nó đang diễn ra hiện nay, thì các mối quan hệ song phương sẽ tốt đẹp.

Mối lo ngại khác trong năm nay, đặc biệt đối với Hà Nội, là vấn đề thương mại.

Việt Nam đang từ một mức độ thặng dư mậu dịch với Trung Quốc năm 1997 là 70 triệu đô la đã rơi vào tình trạng thâm hụt mậu dịch với nước này là 9,1 tỉ đô vào năm 2007, theo các thống kê của Việt Nam. Thương mai hai chiều đã đạt 15,9 tỉ đô la năm 2007 trước khi nhảy lên mức 21 tỉ đô la vào năm 2008.

“Có một vấn đề to lớn bởi vì những gì mà Việt Nam đã và đang làm trong vài năm qua là họ đang chạy đua để có một mức thặng dư thương mại tương đối với các quốc gia đã phát triển để cân bằng lại với mức thâm hụt mà Hà Nội đã và đang chạy đua với Trung Quốc,” ông Womack nói.

“Và hiện nay thì Hà Nội sẽ không chạy đua để đạt được mức thặng dư đó được nữa.”

Thêm vào đó, trong khi các thị trường xuất khẩu của Trung Quốc đã biến mất nhanh chóng, những nhà sản xuất của nước này đang trong tình trạng tuyệt vọng sẽ tìm kiếm thị trường và Việt Nam có thể là một lựa chọn hấp dẫn cho họ khi so sánh với nhiều nước láng giềng khác của Trung Quốc.

Ông Nguyễn Quốc Hải, một viên chức phụ trách thương mại của Lạng Sơn cho biết chính phủ Việt Nam đã muốn tăng cường xuất khẩu hơn là cố gắng ngăn chặn hàng hóa của Trung Quốc đang tràn ngập vào.

Thế nhưng tại thị trấn biên giới Tân Thanh của Việt Nam, ba nhà buôn Trung Quốc tại một phiên chợ, đang đổ vào với những nồi cơm điện chế tạo ở TQ, các đầu máy chiếu phim DVD và quần áo sản xuất tại Trung Quốc, đã nói rằng tình hình đã trở nên khó khăn hơn khi đem các đồ dùng này qua cửa khẩu.

Tuy nhiên, những chiếc xe tải của Việt Nam trống rỗng vẫn xếp hàng đợi qua cửa khẩu để lấy hàng Trung Quốc về.

“Buôn bán qua biên giới rõ ràng đang tăng lên,” một thương gia nhận xét.


(Bổ sung thêm cho bài báo này là Nguyễn Nhật Lâm từ Hà Nội và Ben Blanchard từ Bắc Kinh)


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


——————————————————————————————

The Star

————

Sunday February 15, 2009

China and Vietnam face strains as war memory

fades

By John Ruwitch

LANG SON, Vietnam (Reuters) – The tall black tablets at the Lang Son cemetery list hundreds of dead Vietnamese soldiers. Next to some names are the words “chong Phap” or “chong My” — “fighting France” or “fighting America” — indicating how they died.

Most read “Bao ve to quoc”, or “protecting the fatherland”, an oblique reference to a month-long war that began when China invaded Vietnam on Feb. 17, 1979 to punish Hanoi for toppling the Beijing-backed Khmer Rouge in Cambodia two months earlier.

Thirty years on, the Vietnamese-Chinese border war in which at least 60,000 soldiers were killed is a memory both governments are happy to suppress. But in these tough economic times, Vietnam and China could face new strains to add to their long and often acrimonious history.

Since normalisation in 1991, China and Vietnam have made impressive progress in forging better ties, said Brantly Womack, a China-Vietnam expert at the University of Virginia.

Two-way trade last year grew to $21 billion, for instance.

“China and Vietnam had no more reason to be friendly than Russia and Poland, and Russia and Poland … are still each others’ worst enemy,” he said.

“With Vietnam and China, they don’t exactly love each other, but they’ve certainly figure d out how to get along. It’s been mutually beneficial.”

The fact the engravings in Lang Son do not spell out that the soldiers died “fighting China” illustrates Hanoi’s cautious approach toward Beijing.

For its part, the stability-obsessed Chinese leadership has made a concerted effort in recent years to build constructive ties. But the coming months will be challenging.

Both export-fed economies, dependent on high-speed growth, are facing their sternest test since economic reforms were launched decades ago and the global financial uncertainty raises the potential for heightened tension.

Even in good times, the efforts of Vietnamese and Chinese policymakers to be nice has limits. Both governments claim ownership of the Spratly and Paracel islands in the South China Sea, which are thought to sit on valuable oil and gas deposits.

Hanoi and Beijing have agreed not to upset the status quo, but both are firm in their claims of sovereignty.

In addition, both ruling Communist parties are constrained by the spectre of nationalist unrest if they appear soft on the issue. In 2007, hundreds of Vietnamese youth protested at the Chinese embassy in Hanoi after China reportedly set up a county government responsible for the disputed archipelagos.

DISPUTED ISLANDS

Beyond protests and rhetoric, the territorial dispute is a tangible political risk.

Last July, China pressured Exxon Mobil Corp to pull out of an oil exploration deal with Vietnam that it saw as a breach of Chinese sovereignty. In May, BP Plc halted plans to conduct exploration work off the southern Vietnamese coast, citing territorial tensions.

“The biggest problem is the islands,” said Duong Danh Dy, a former Vietnamese diplomat who did three tours in China from the 1960s to the 1990s.

“If the United States’ global position falls, if Japan’s economy weakens further, I fear that China’s position on the South China Sea could harden,” he said. “If things continue as they are now, then bilateral relations will be fine.”

Another worry this year, particularly for Hanoi, is trade.

Vietnam went from a $70 million trade surplus with China in 1997 to a deficit of $9.1 billion in 2007, according to Vietnamese statistics. Two-way trade reached $15.9 billion in 2007 before leaping to $21 billion last year.

“There is a big problem because what Vietnam’s been doing in the last couple of years is running approximately a surplus with the developed countries that equals the deficit it’s been run ning with China,” said Womack.

“And it’s not going to run that surplus anymore.”

Furthermore, as China’s export markets evaporate, desperate manufacturers will be looking for markets and Vietnam may be an attractive option compared with many of China’s other neighbours.

Lang Son trade official Nguyen Quoc Hai said the Vietnamese government wanted to increase exports rather than try to block Chinese goods from flooding in.

But at the Vietnamese border town of Tan Thanh, three Chinese traders in a market overflowing with Chinese-made rice cookers, DVD players and clothes said it had become harder to get items through the checkpoint.

Still, empty Vietnamese trucks queue to cross over and pick up Chinese goods.

“Border trade is definitely increasing,” one trader said.

(Additional reporting by Nguyen Nhat Lam in Hanoi and Ben Blanchard in Beijing)

Copyright © 2008 Reuters

Posted in Kinh tế Việt Nam, Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Thẻ: | Leave a Comment »

68:Chiến tranh Việt Nam và Sự thật(2)

Posted by adminbasam trên 15/02/2009


examiner.com

————————————————————————————————————

Phần 2 trong loạt bài “Cuộc chiến tranh Việt Nam:

Mọi thứ bạn biết đều không đúng”

(Tiếp theo Phần 1 trên số 62)

——————————————

Phần 2: ‘Chúng tôi đã


phải  phá hủy ngôi làng…’


Kathy Shaidle, Nhà khảo cứu Chính trị Bảo thủ

Ngày 13-2-2009

“Chúng tôi đã phải phá hủy ngôi làng cốt để cứu nó.”

Một trong những câu chuyện hoang đường tồn tại dai dẳng nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam liên quan đến câu văn nói trên, giả sử câu văn ấy được cho là do một viên tướng Mỹ nói ra nhằm bào chữa cho vụ tàn sát. Câu văn ấy nhanh chóng được xem như là một dấu hiệu của sự ngu xuẩn trong chiến tranh và cho đến bây giờ đã trở thành như là mộcâu nói rập khuôn sáo rỗng.

Song, xin viện dẫn một câu nói rập khuôn  khác để minh họa cho những nguồn gốc của câu nói này: cái chết hay thương vong đầu tiên của chiến tranh là sự thật.

Peter Arnett sau cùng đã thành danh  như là thông tín viên trưởng của đài truyền hình CNN trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Vùng vịnh 1991. Thế nhưng trở lại năm 1968, Arnett là một phóng viên trẻ của hãng thông tấn Mỹ Associated Press [AP], được phân công đưa tin về trận đánh ở tỉnh Bến Tre trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Trong hai ngày, một đơn vị nhỏ của Mỹ đã đánh nhau với Việt Cộng, những kẻ Việt Cộng đã lần lượt giết hại nhiều dân làng.

Arnett đã tới Bến Tre sau khi (trận đánh đã diễn ra rồi,) tình hình cuối cùng đã được đảm bảo an toàn và ông đã phỏng vấn thiếu tá Phil Cannella.

Cannella “tin rằng ông ta chính  là viên sĩ quan mà Arnett khi đó đang nêu ra” khi Arnett viết câu văn nổi tiếng nhất đó, theo Mona Charen trong cuốn sách của bà có tựa đề  Những Thằng Ngu Ngốc Hữu Ích (Useful Idiots). Tuy nhiên, “Cannella tin rằng những nhận xét của mình đã bị tách ra khỏi đoạn văn rất dài.” Anh ta nhớ lại là đã nói với Arnett rằng chính Việt Cộng đã phá hủy thị trấn và đó là một hành động đáng hổ thẹn.

Thế nhưng bài báo của Arnett đã làm cho người ta có vẻ tin rằng các lực lượng của quân đội Mỹ đã pháo kích vào thị trấn đó và đã tạo ra một sự chú ý nổi bật rằng một viên sĩ quan vô danh nào đó nói là: “Chúng tôi đã phải phá hủy ngôi làng để cứu nó.”

Như sử gia Victor David Hanson giải thích:

“Arnett chưa bao giờ chứng minh, và cũng không cung cấp, nguồn tin của anh ta – và hầu hết các vùng trong thị trấn đó đã  bị những người Cộng sản  pháo kích (phá hùy trước khi quân đội  Mỹ tiến binh vào). Một cuộc điều tra sâu rộng  được thực hiện bởi Ngũ Giác Đài chưa bao giờ phát hiện được bất cứ viên chức nào nói ra điều tương tự  như vậy.”

Arnett cũng sáng tác ra một câu nói đáng nhớ, say sưa bởi tiếng tăm chốc lát của mình, ông đã tiếp tục đưa “những tin tức sốt dẻo” khác về những sự thật đáng ngờ, công kích (một lần nữa, mà không có bằng cớ, rằng  những binh lính Mỹ đã sử dụng loại khí độc gas Sarin làm tê liệt thần kinh gây chết người tại Nam Á.) Năm 2003, hãng thông tấn NBC News đã sa thải Arnett, sau khi ông ta tuyên bố cuộc xâm lược của Mỹ ở Iraq là một “sự thất bại” trên kênh truyền hình Iraqi của nhà nước.

Trong khi đó, các nhà báo khác đã hiểu được ý nghĩa của những dòng chữ chế tạo ra của Arnett và vẫn sử dụng nó như là của chính mình làm ra khi họ quá lười để tiếp cận với nguồn tin gốc, và họ muốn tỏ vẻ như là những tay nhà nghề dày dạn.

Theo Hansen, “Một nguyên tắc khôn ngoan là, khi bạn nghe sự bịa đặt của Arnett được đưa lên phần tin tức, bạn hãy hiểu rằng: thêm một lần nữa, tin tức ấy đang được sử dụng cho mục đích bóp méo sự thực từ nguyên bản.”

Cũng vì lý do tương tự ấy mà tôi có thể nói thêm rằng thật là khôn ngoan để xem xét mọi bản tin chính thống mà bạn nhìn thấy, và mọi bài tường thuật mà bạn đọc, với thái độ hoài nghi.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———–

“We had to destroy the village in order to save it.”

One of the most persistent myths of the Vietnam War concerns that sentence, supposedly uttered by an American general to excuse a massacre. It quickly came to symbolize the absurdity of war and has by now become a cliché.

However, to invoke another cliché to illuminate the roots of this one: the first casualty of war is the truth.

Peter Arnett eventually gained fame as the CNN’s chief correspondent during the Gulf War. But back in 1968, Arnett was a young Associated Press reporter, assigned to report on the battle of Ben Tre during the Tet Offensive. For two days, a small American unit had battled the Vietcong, who in turn had killed many villagers.

Arnett entered Ben Tre after it had finally been secured and interviewed army major Phil Cannella.

Cannella “believes he is the officer Arnett was quoting” when he penned his most famous sentence, according to Mona Charen in her book Useful Idiots. However, “he believes his comments were ‘taken out of context.’ He recalls telling Arnett that the Vietcong had destroyed the town and that it was a shame. But Arnett’s report made it seem that American forces had shelled the town and featured an anonymous officer saying, ‘We had to destroy the village in order to save it.”

As historian Victor David Hanson explains:

“Arnett never verified, much less produced, his source — and the town was mostly shelled by the Communists anyway. An exhaustive investigation by the Pentagon never found any such official who said anything such thing.”

Having coined a memorable phrase, Arnett, intoxicated by his instant fame, went on to report other “scoops” of dubious veracity, charging (again, without proof, that American soldiers had employed deadly Sarin nerve gas in South Asia.) In 2003, NBC News fired Arnett, after he pronounced America’s invasion of Iraq a “failure” on state-run Iraqi TV.

Meanwhile, other journalists latched onto Arnett’s manufactured line and still use it as their own when they were too lazy to come up with anything original, and want to sound like seasoned pros.

According to Hansen, “A good rule is, when you hear Arnett’s fabrication promulgated on the news, assume that it is once again being used for its original purposes of distortion.”

I’d add that it’s wise to treat every mainstream newscast you see, and every news story you read, with skepticism, for the same reason.



Posted in Chiến tranh VN | Leave a Comment »

65:Chiến Tranh biên giới Việt-Trung 1979(1)

Posted by adminbasam trên 11/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Một cuộc chiến

của những người

anh em họ hàng

cáu   giận  nhau

Thứ Hai, ngày 2-3-1979


Đồng Đăng. Lạng Sơn. Những địa danh Việt Nam nghe êm ái mà du dương, gợi lại lịch sử, đẫm máu và chết chóc.

Tại thành phố Đồng Đăng có nhà ga đầu mối, một chiếc cổng màu vàng cao 10 mét đánh dấu cuộc xâm lăng của Nhật Bản vào Đông Dương năm 1940, gợi lại lời tuyên hứa không biết có chính xác hay không của Tổng thống Franklin Roosevelt rằng “chúng ta sẽ không tham chiến về chuyện Đinh Đông chết tiệt nào hết.” [1] Tại Lạng Sơn, một thị trấn đông đúc cách 15 km về phía đông bắc, một ngọn núi hình mào gà mà những đội quân thực dân đặt tên là “bộ ngực của nữ nam tước” trông xuống những tàn tích của một pháo đài bị phá huỷ thậm chí trước khi nổ ra cuộc chiến đấu của Việt Minh chống lại người Pháp.

Tuần trước Đồng Đăng và Lạng Sơn đã trở thành những vùng chiến địa khổ đau một lần nữa. Trong một cuộc chiến leo thang giữa hai nước láng giềng Cộng sản đầy giận dữ, họ đã và đang đối nghịch nhau suốt 2.000 năm qua, ba sư đoàn Trung Quốc xâm lược đã tràn xuống Đồng Đăng và vùng đồng bằng ven biển phía đông Việt Nam theo thế một gọng kìm khổng lồ nhắm vào Lạng Sơn.

Các tiểu đoàn quân chính quy Việt Nam kéo theo những vũ khí hạng nặng vội vã lên hướng bắc để gặp gỡ đối đầu với các toán quân Trung Quốc và thúc đẩy một cuộc chạm trán có thể là trận chiến chính thức đầu tiên trong cuộc chiến tranh kéo dài một tuần.

Được chuẩn bị từ trước, Trung Quốc đã ném ba sư đoàn chống lại các lực lượng phòng thủ tiền phương của Việt Nam. Vào cuối tuần, các lực lượng của Việt Nam đã mở một cuộc phản công tại ba tỉnh biên giới.

Trong khi đó các tàu vận tải của Liên Xô tại Hải Phòng đang bốc dỡ xuống các hàng hóa tái cung cấp các loại vũ khí hạng nặng hiện đại, bao gồm những tên lửa và thiết bị rada. Hệ thống do thám của Liên Xô đã tiếp tục xem xét những trận địa tiền phương với các chuyến bay ở những tầm cao so với mặt biển trên Vịnh Bắc Bộ. Một đội tàu nhỏ gồm 13 chiếc đã thực hiện tuần tra trên Biển Đông, chờ đợi sự góp mặt của tàu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương Sô Viết, tàu nầy mang tên đô đốc Senyavin có trọng tải 16.000 tấn.

Tại Moscow, Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô Dmitri Ustinov công kích dồn dập “hành động khiêu khích nguy hiểm” của Trung Quốc và buộc tội Bắc Kinh đang cố “nhấn chìm thế giới vào một cuộc chiến tranh.” Hội đồng Bảo An Liên hiệp quốc đã chuẩn bị tổ chức một cuộc họp khẩn cấp, theo lời đề nghị của Washington, để đối phó với hành động xâm lăng của Trung Quốc cũng như việc xâm chiếm Cambodia của Việt Nam trước đó.

Cuộc đột kích của Trung Quốc vào Việt Nam đã được mong đợi và quãng cáo rất rõ ràng. Những căng thẳng trước đó đã tích tụ lại kể từ khi có hành động cưỡng bức trục xuất của Hà Nội đối với nhóm người Hoa thiểu số tại Việt Nam vào mùa xuân năm 1978, và một cuộc chiến thắng nhanh chóng của VN (đánh vào) chế độ thân Bắc Kinh ở Cam Bốt vào tháng Giêng 1979, một loạt những biến cố ngày càng tăng trên vùng biên giới Việt-Trung. Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã gửi điện tín nhiều lần và công khai nói về cú đấm trừng phạt trong suốt thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của ông tới Hoa Kỳ, xỉ vả những tham vọng “bá quyền” của “con gấu bắc cực” Liên Xô và chống lại “hành động xâm lược” của Việt Nam tại Đông nam Á. Hà Nội “phải được dạy cho một bài học cần thiết,” ông cảnh báo. Tại Tokyo trên đường về nước của mình, ông Đặng một lần nữa đã nói rõ về “hành động trừng phạt” chống lại “những tên Cuba ở phương Đông.”

Nhận ra được những lời tuyên bố công khai có giá trị thật đó của Bắc Kinh, các chuyên gia tình báo phương Tây đã tiên đoán rằng cuộc tấn công của Trung Quốc sẽ có tính chất giới hạn trong một “bài học trừng phạt,” và một khi sự trừng phạt đã được đưa ra từng phần theo kế hoạch, các đơn vị chiến đấu của TQ sẽ rút lui. Thế nhưng tại các thủ đô trên khắp thế giới đã có những sự run sợ ám chỉ toàn cầu đang bị hăm dọa nếu như cuộc chiến tranh nầy không được kiểm soát trong giới hạn và nhanh chóng chấm dứt, nếu như cuộc chiến nầy khiêu khích sự can thiệp trực tiếp hoặc hành động trả đũa của Liên Xô với tư cách khách hàng Việt Nam của họ. Đã từng có thời hoàng kim cho những nhà chuyên môn về báo động: “Tôi đánh cuộc rằng nó sẽ không xảy ra – nhưng chúng ta đang ở rất gần trong một hiểm họa về một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba. Chiến tranh thế giới lần III có thể bắt đầu vào thời điểm này,” Thượng nghị sĩ New York Daniel Moynihan đã cảnh cáo. Các cố vấn của chính phủ và các chiến lược gia quân sự thì ít lo ngại hơn, song không một ai sẵn sàng phủ nhận rằng cuộc chiến mới nhất của thế giới đã chứa đựng tiềm năng rộng lớn hơn nhiều, và thậm chí những dấu hiệu rõ ràng của sự bùng nổ không thể kiểm soát được,.

Cuộc giao tranh, diễn ra trên những ngọn đồi cây cối rậm rạp và những thung lũng nhiều ruộng nương của một vùng có thắng cảnh đẹp được gọi là Việt Bắc, vùng nầy đã che dấu đàng sau các bí mật quân sự của cả hai bên và bởi một đám mây che phủ ngăn trở việc quan sát của vệ tinh. Nội đã đưa ra những thông báo chỉ dùng trong nội bộ như thường lệ; các thông cáo của Bắc Kinh thì ý nghĩa rất huyền bí, thiếu rõ ràng đến độ có vẻ như vô nghĩa. Một nhà quan sát ở Hong Kong phát biểu: “Cứ như thể đang nghe một cặp mèo gào thét và la khóc với nhau giữa đêm khuya – chúng đang tạo ra những âm thanh ồn ào quái quỉ, thế nhưng bạn không thể biết là chúng đang đánh nhau hay là làm tình đâu.” Tuy vậy, từ lúc bắt đầu những hành động chiến tranh, tất cả đều rất rõ ràng rằng các đơn vị ở tuyến đầu thuộc về 3 phần trăm của lực lượng bộ binh có hàng triệu người nầy [1] và các đơn vị thuộc lực lượng 615.000 quân, ít ỏi hơn, nhưng dạn dày hơn của Việt Nam đã không ôm ấp nhau gì cả.

Vào rạng sáng thứ Bảy, ngày 17 tháng Hai 1979, các lực lượng người Trung Quốc, tập trung hơn 300.000 tại các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, phía cực bắc của Việt Nam, đã bắn một loạt đại pháo dày dặt vào các vị trí then chốt ở vùng biên giới (trước khi dùng bộ binh tấn công). Cú đánh mạnh mẽ nhất là vào những nơi tập trung nhiều người thường dân Việt Nam quanh các thị xã thị trấn như Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chưa từng được thử thách trong cuộc chiến tranh dàn trận với đội hình lớn kể từ khi họ vượt qua sông Áp Lục vào tháng Mười năm 1950 để gây bất ngờ và đánh tan tác các đơn vị quân đội của Liên hiệp quốc tại Triều Tiên, đã dội bão lửa qua biên giới vào 26 điểm khác nhau [trên lãnh thổ Việt Nam].

Hành động tuyên chiến đã đến trong một thông cáo rõ ràng là không thành thật của Bắc Kinh rằng các đơn vị quân đội của họ đã tham dự vào một cuộc “phản công” chống lại các hành động khiêu khích của Việt Nam. “Các lực lượng quân đội ở biên giới Trung Quốc đã hành động khi tình thế trở nên không thể nào chịu đựng nổi nữa và không còn giải pháp thay thế nào khác,” hãng thông tấn nhà nước Tân hoa xã loan báo. “Chúng tôi không muốn một tất đất đai nào của Việt Nam. Điều mà chúng tôi mong muốn là một vùng biên giới ổn định và hòa bình. Sau khi đánh trả những kẻ gây hấn lùi xa tới mức cần thiết, các lực lượng biên phòng của chúng tôi sẽ trở lại canh giữ chặt chẻ các vùng biên giới của tổ quốc chúng tôi.”

Vào 9 giờ sáng ngày thứ Bảy, đạn súng cối đã rơi xuống gần Lạng Sơn, theo một thông tín viên hãng thông tấn Pháp AFP tại hiện trường cho hay. Ở phía bắc, đạn trọng pháo có thể nghe được cách khoảng nhau từ 10 tới 30 giây một loạt. “Các toán lính Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công đều khắp, tất cả các cứ điểm biên giới đều bị dội những loạt đạn trọng pháo nặng nề,” một viên chức cấp tỉnh của Việt Nam thông báo. “Các trận đánh đẫm máu đang diễn ra, số người thương vong chắc chắn là nặng nề.” Theo lời kể của một thương binh Việt Nam 18 tuổi tên là Trần Văn Miên, anh lảo đảo chạy vào thị trấn và ngã xuống con đường: “Bọn Trung Quốc đang ở gần đây, chúng nó có mặt ở khắp nơi.”

Sau khi rải thảm một đợt hỏa lực đại pháo để làm yếu đi lực lượng phòng thủ của Việt Nam, một đoàn quân Trung Quốc ượng ước khoảng 60.000 người đã tiến lên mạnh mẻ dọc theo vùng biên giới núi non hiểm trở rộng 772 km. Bộ binh, được sự yểm trợ của các xe tăng T-59, đã lao qua những con đường đồi núi chật hẹp gồ ghề, đánh tràn vào và chiếm các tiền đồn của Việt Nam và mở rộng ra (như hình cái quạt) một cuộc tiến- quân- có-phối- hợp tiến sâu vào khoảng 10 km. Theo sự tự thừa nhận của Hà Nội, người Trung Quốc sau hai ngày đã chiếm được mười một thị trấn và làng bản và đã bao vây Đồng Đăng bằng xe tăng và các súng được gắn trên xe.

Thế rồi họ dường như dừng lại.

Tại Bắc Kinh, ông Đặng đã quả quyết với một nhà ngoại giao Argentine đang viếng thăm rằng cuộc xâm lấn đã được “xem xét rất thận trọng” và “sẽ không được kéo dài hoặc mở rộng trong bất cứ tình huống nào.” Phát biểu đó có vẻ như xác nhận lại sự phiên dịch của phương Tây từ ban đầu về mục tiêu khả thi của Trung Quốc là: một cuộc di chuyển (quân) rất nhanh, tấn công đánh rồi chạy, và tiếp đó là rút (quân) về. Thế nhưng người Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng để rút lui. Tại thời điểm nầy những toán quân phản ứng nhanh của Trung Quốc, được chỉ huy bởi Tướng Yang Teh-chih, phó tư lệnh chiến trường của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1953, đã không trực tiếp đánh nhau với lực lượng chính quy tinh nhuệ của Việt Nam – từng được thử sức trận mạc bằng những chiến dịch liên tiếp chiến thắng tại Nam Việt Nam, Lào và Cambodia và được trang bị bằng những vũ khí tối tân mới nhất của Liên Xô.

Được cảnh báo trước, người Việt Nam đã để cho các lực lượng biên phòng khu vực và dân quân địa phương làm mũi nhọn chính trong các cuộc tấn công ban đầu. Theo ước tính có từ ba cho tới năm sư đoàn chính quy VN (ít nhất là 30.000 quân) đã được giữ lại phía sau. Các đơn vị này rõ ràng được dàn trận trong một tuyến phòng thủ hình trăng lưỡi liềm trải dài từ Yên Bái cho tới Sông Hồng tại phía tây Quảng Yên thuộc bờ biển phía đông. Nhiệm vụ của họ là: bảo vệ vùng đồng bằng ven biển bao quanh Hà Nội và Hải Phòng, và chờ đợi người Trung Quốc xuất hiện.

Vào hôm thứ Ba (20-2-1979), ngày thứ tư của cuộc chiến, cuộc tiến quân của quân đội Trung Quốc đã tiếp tục trở lại bằng một cách hung bạo hơn. Một mặt trận tiền phương dường như không có hình dáng rõ rệt đã nhanh chóng phát triển thành hai gọng kềm tấn công chính và rất bài bản: một nằm ở phía tây bắc trên con đường xe lửa hướng về phía nam tới Hà Nội, một gọng kềm khác nằm ở phía đông trên mối nối của tuyến đường sắt chính song song với Quốc lộ 1, con đường huyết mạch xuất phát từ Hữu nghị Quan. Cả hai mũi tấn công bằng lực lượng bộ binh nầy xem ra đều nhắm trực tiếp vào thủ đô của Việt Nam. Cùng lúc ấy, một lực lượng quân trừ bị của Trung Quốc, gồm các đơn vị tấn công chính (trong chiến thuật gọng kềm) của hơn ba sư đoàn theo ước tính, đã lục soát hướng về vùng bờ biển cho một cuộc rút lui có thể xảy ra được nhắm vào việc chia cắt Quốc lộ 4 tới Lạng Sơn và sau đó, chắc có lẻ, cả quân tăng viện chính của Việt nam và tuyến đường tiếp tế của Quốc lộ 1, nơi mà mấy năm trước đã nhận được biệt danh đau buồn là “đường phố không có niềm vui.”

Tại phía tây, khi mà phần chính yếu trong cuộc tấn công của Trung Quốc đã được nhân lên gấp đôi về mức độ xâm nhập tới 16 hoặc 24 km, bộ binh QGPND Trung Quốc đã chiếm được Lào Cai, một thị trấn có 100.000 người có nhà ga chính nằm bên Sông Hồng. Để chống lại mối đe doạ này đối với Hà Nội, quân đội Việt Nam đã tiến đến sát phía bắc để giao tranh với quân Trung Quốc tại Lạng Sơn và Đồng Đăng.

“Vài ngàn quân bao gồm cả các đơn vị chính quy và địa phương của Việt Nam với vũ khí hạng nặng đang di chuyển về phía các vị trí của quân Trung Quốc,” một thông tín viên của tờ Asahi Shimbun ở Tokyo đã tường thuật từ Lạng Sơn. Ông đã miêu tả những đoàn xe tải Việt Nam với những khẩu súng 105 mm tiến lên phía bắc trên Quốc lộ 1; những chiếc xe khác chở theo các toán quân, vũ khí, quân trang quân dụng và xăng dầu lên hướng lên vùng biên giới. Trong khi đó, dưới hỏa lực trọng pháo tầm xa 130mm, nhiều đoàn người lánh nạn chạy về phía nam, bỏ lại thị xã Lạng Sơn cho những toán quân, lực lượng an ninh và viên chức nhà nước tràn ngập quanh các khu vực đóng quân.

Hà Nội đã om sòm rằng lực lượng phòng thủ của Việt Nam ở Lạng Sơn đã gây thương vong cho hơn 3.000 quân Trung Quốc, và rằng chỉ trong một trận chiến bên bờ biển cách 80 km về phía đông nam, các lực lượng Việt Nam “đã đánh bại 3 tiểu đoàn và quét sạch 700 kẻ xâm lược Trung Quốc.” Tổng cộng, theo phía Việt Nam loan báo, lực lượng của họ đã tiêu diệt từ 5.000 đến 8.000 quân Trung Quốc trong năm ngày, trong khi họ chỉ tổn thất chưa tới một nửa số đó. Những tuyên bố thiên vị một chiều đó làm ta nhớ lại “những vụ đếm xác” kẻ thù được thổi phồng một cách trơn tru mỗi ngày qua các bản tin tóm tắt của Hoa kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Các nguồn tin phương Tây tại Bắc Kinh đánh giá rằng phía Việt Nam đã phải chịu đựng tổn thất nhiều nhất trong cuộc giao tranh ban đầu: 10.000 người chết hoặc bị thương, so với 2.000 tới 3.000 thương vong của Trung Quốc.

Người Việt Nam rõ ràng giỏi hơn Bắc Kinh trong chiến thuật chiến tranh tuyên truyền nếu không phải là trên chiến trường. Họ đã đưa ra những lời tố cáo hiểm độc về lối đối xử của người Trung Quốc, bao gồm những hành động tàn ác man rợ có tính cáo buộc và chiến tranh sinh học. Đài Hà Nội khẳng định rằng các chiến đấu cơ Trung Quốc đã bỏ bom vào những xí nghiệp, các nhà máy điện và các trung tâm liên lạc viễn thông (điện thoại), gây ra những tổn hại “ghê gớm” và thương vong cho dân thường, và rằng pháo binh Trung Quốc đã nã “đạn hóa học” vào các mục tiêu ở biên giới. Ủng hộ cho đồng minh của mình, Liên Xô đã cáo buộc các lực lượng quân sự Trung Quốc về hành động đốt cháy bừa bãi các làng mạc và bắn vào các phụ nữ và trẻ em. Tờ Pravda, trong một bản tin phát đi từ Lạng Sơn, đã khẳng địng rằng một đơn vị Trung Quốc đã chặn một chiếc xe buýt chở dân thường trên một tuyến quốc lộ và hành quyết tất cả các hành khách đi trên xe.

Nội cũng khẳng định rằng họ có bằng chứng vững chắc về kế hoạch từ lâu của Bắc Kinh cho cuộc xâm lăng này. Những nhà báo trú đóng tại thủ đô Hà Nội, được hướng dẫn qua một chuyến đi tới vùng biên giới, đã được trưng ra những cuốn sách có những câu được in bằng tiếng Việt tìm thấy trong xác của các binh lính Trung Quốc tử trận. Trong những vật dụng khác, có những tập sách nhỏ tám trang, chứa đựng những chỉ dẫn cho các tù binh Việt Nam (“Bạn sẽ được đưa tới nơi an toàn và được phép nghỉ ngơi … Đừng lo lắng. Vết thương của bạn sẽ được chữa trị ngay.”)

Ngòi nổ trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trước đó đã nói ra bằng lời giận dữ trong gần một năm nay. Vào mùa xuân năm ngoái, tập trung vào chuyện củng cố cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm cho con người thanh khiết hơn, các giới chức Việt Nam đã quyết định nhổ tận gốc các nhà “thương mại tư bản” và “những nhân tố nguy hiểm,” cụ thể là người Hoa từng sống nhiều năm ở những vùng mỏ phía bắc, tại Đà Nẵng và trong khu vực Chợ Lớn đông đúc của Sài Gòn (giờ là Thành phố Hồ Chí Minh). Một con số ước khoảng 160.000 người Hoa tị nạn đã chạy trốn khỏi đất nước này, trên những con thuyền đánh cá hoặc chạy bộ qua Cửu khẩu Hữu nghị, tái định cư tại các xã thuộc tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Trong khi đó, hàng loạt các cuộc đột kích và giao tranh nhỏ lác đác đã gia tăng cường độ lên trong những tháng kế tiếp đã bùng lên các cuộc cải vả không ngừng xuyên qua biên giới.

Nổi giận về hành động ngược đãi người Hoa ở Việt Nam, Bắc Kinh – trước đó đã từng cung cấp cho Hà Nội với một lượng viện trợ ước tính 14 tỉ đô la trong hai chục năm qua – đã đột ngột cắt giảm 21 dự án trợ giúp hiện thời. Vào tháng Sáu 1978, khi những cán sự kỹ thuật Trung Quốc cuối cùng trở về nước, Hà Nội đã chấp thuận trước những lời tán tỉnh từ lâu của Liên Xô và chính thức nhảy bổ vào quỹ đạo kinh tế của Moscow như là một thành viên của khối liên minh thương mại Cộng sản COMECON.

Vào tháng Mười một 1978, Moscow và Hà Nội đã chính thức hóa mối liên kết của họ trong một hiệp ước hữu nghị Liên Xô-Việt Nam kéo dài 25 năm, được ký kết với nhiều cuộc lễ lạc tại Moscow bởi [Tổng bí thư] Leonid Brezhnev, Thủ tướng Aleksei Kosygin và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Duẩn, cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bên trong lời chúc tụng thông thường cho những thỏa thuận thương mại và văn hóa, không có nhầm lẫn gì nữa là một vài chữ vắn tắt hiển nhiên về quân sự: một mức độ hỗ trợ phòng thủ lẫn nhau có vẻ mơ hồ, trong phạm vi “những bàn bạc tham khảo và những biện pháp có hiệu quả thích hợp để đảm bảo hòa bình và an ninh cho các quốc gia của họ.” Đối với Bắc Kinh hiệp ước này là một lời trách cứ chính trị rất nhức nhối.

Tiếp theo là đến cuộc chinh phục chớp nhoáng Cambodia của Việt Nam. Trong vòng một tháng với cuộc xâm lăng trên quy mô lớn của họ vào ngày lễ Giáng Sinh, quân nổi dậy thiên về Hà Nội được hậu thuẩn bởi quân đội chính quy Việt Nam đã đánh tan chế độ Khmer Đỏ Pol Pot tàn bạo được Trung Quốc trợ giúp. Chỉ một ít giọt nước mắt từ các nước trên thế giới đã nhỏ xuống khi Pol Pot và những tàn dư rải rác còn sót lại trong quân đội của ông ta bị lùa vào những hang hốc trong rừng rậm phía tây. Từ những vị trí cố thủ này, quân Khmer Đỏ đã và đang kháng cự mạnh mẽ chống lại chính quyền mới, một chính phủ ủng hộ Việt Nam được lãnh đạo bởi một cựu thành viên Khmer Đỏ đào ngũ, ông Heng Samrin, và được yểm trợ bởi một lực lượng Việt Nam ước khoảng 130.000 quân. Đối với Trung Quốc, thất bại ở Cambodia có nghĩa là một sự mất mặt ghê gớm. Kể từ đó, khi ông Đặng được chấp thuận viếng thăm Washington, Trung Quốc đã hướng các loại vũ khí và quân dụng cung cấp sang cho quân nổi dậy của Pol Pot trong một nỗ lực nhằm lật ngược lại những gì đang xẩy ra và báo thù cho tình trạng bẽ mặt của chính họ.

(xem tiếp trên số 67)


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————

TIME

——————————————————

A War of Angry Cousins

Monday, Mar. 05, 1979

Dong Dang. Lang Son. Blunt yet musical Vietnamese place names, redolent of history, blood and death. At the railhead city of Dong Dang, a 30-ft. yellow gate marks Japan’s invasion of Indochina in 1940, which prompted President Franklin Roosevelt’s perhaps apocryphal vow that “we will not go to war over any damn Ding Dong.” At Lang Son, a crowded market town nine miles to the southeast, a nipple-crested mountain that colonial troops named the “baroness’s breast” overlooks the ruins of a fort demolished even before the Viet Minh’s war against the French.

Last week Dong Dang and Lang Son had been turned into tormented battlegrounds again. In an escalating war between angry Communist neighbors and cultures that have been antagonistic for 2,000 years, three divisions of invading Chinese troops descended on Dong Dang and on the Vietnamese coastal plain to the east in giant pincers aimed at Lang Son. Battalions of the Vietnamese regular army hauling heavy weapons rushed north to meet them head-on and force a confrontation that could be the first major battle of the week-long war. In preparation, China threw three fresh divisions against forward Vietnamese defenses. At week’s end Vietnamese forces launched a counter attack in three border provinces.

Meanwhile Soviet freighters at Haiphong were unloading resupplies of sophisticated hardware, including missiles and radar equipment. Soviet reconnaissance kept watch on the battlefronts with high-altitude sorties over the Gulf of Tonkin. A flotilla of 13 Soviet ships cruised the South China Sea, awaiting the arrival of the flagship of the Soviet Pacific Fleet, the 16,000-ton cruiser Admiral Senyavin.

In Moscow, Soviet Defense Minister Dmitri Ustinov assailed China’s “dangerous provocation” and accused Peking of try ing to “plunge the world into a war.” The U.N.’s Security Council prepared to meet in urgent session, at Washington’s request, to deal with the Chinese invasion as well as the earlier Vietnamese invasion of Cambodia.

China‘s assault on Viet Nam was expected and well advertised. Tensions had been building up ever since Hanoi’s forced expulsion of ethnic Chinese last spring, Viet Nam’s lightning rout of Peking’s client regime in Cambodia last month, and an intensifying series of incidents on the China-Viet Nam border. Vice Premier Teng Hsiao-p’ing repeatedly and publicly telegraphed the punch during his U.S. visit this month, railing against the “hegemonistic” ambitions of the Soviet “polar bear” and against Vietnamese “aggression” in Southeast Asia. Hanoi “has to be taught a necessary lesson,” he warned. In Tokyo on his way home, Teng again pointedly talked of “punitive action” against “those Cubans of the Orient.”

Taking Peking’s avowals at face value, Western intelligence experts predicted that the Chinese offensive would be limited to a “punitive lesson,” and once the punishment had been meted out, the troops would withdraw. But in capitals around the world there were shudders at the ominous global implications if the war were not contained and short-lived, if it were to provoke direct Soviet intervention or retaliation on behalf of their Vietnamese client. It was a heyday for alarmists: “I would bet that it won’t happen—but we are very much in danger of a third world war. It could be starting at this moment,” warned New York Senator Daniel Moynihan. Administration advisers and military strategists were less worried, but no one was prepared to deny that the world’s newest war contained the potential for much wider, and even uncontrollable, conflagration.

The fighting, in the wooded hills and tilled valleys of a scenic region called the Viet Bac, was shrouded behind military secrecy on both sides and by a cloud cover that thwarted satellite observation. Hanoi issued regular self-serving communiques; Peking’s announcements were so cryptic as to be meaningless. Said one Hong Kong observer: “It’s like hearing a couple of cats squawling in the middle of the night —they’re making a helluva racket, but you don’t know if they are fighting or making love.” From the start of hostilities, however, it was all too obvious that the front-line units of China’s huge, 3% million-man land army and those of Viet Nam’s leaner but highly honed 615,000 troops were not embracing. At dawn on Saturday, Feb. 17, Chinese forces, massed more than 300,000 strong north of Viet Nam in Yunnan and Kwangsi provinces, loosed a massive artillery barrage on key border positions. Hardest hit were Vietnamese concentrations around the cities of Lao Cai, Muong Khuong, Cao Bang, Lang Son and Mong Cai. The People’s Liberation Army, untested in major formation warfare since it crossed the Yalu River in October 1950 to surprise and rout the U.N. forces in Korea, stormed across the border at 26 different points.

The declaration of war came in a transparently disingenuous Peking announcement that its forces were engaged in a “counterattack” against Vietnamese provocations. “The Chinese frontier forces took the action when the situation became intolerable and there was no alternative,” said the official Hsinhua News Agency. “We don’t want a single inch of Vietnamese soil. What we want is a stable and peaceful frontier. After hitting back at the aggressors as far as necessary, our frontier forces will turn to guard strictly the frontiers of our motherland.”

B.y 9 a.m. on Saturday, mortar shells descended near Lang Son, according to an Agence France-Presse correspondent on the scene. To the north, heavy artillery shells could be heard every ten to 30 seconds. “Chinese troops have launched a general attack, all the frontier posts are being shelled by heavy artillery,” a Vietnamese provincial official announced. “Bloody fighting is taking place, human casualties are certainly heavy.” Said a wounded 18-year-old Vietnamese soldier named Trien Van Mien, who staggered into town and fell in the road: “The Chinese are close by, they are everywhere.”

After laying a carpet of artillery fire to soften Vietnamese defenses, an estimated 60,000 Chinese troops advanced in a broad surge along the jagged 480-mile border. Infantry, supported by T-59 tanks, spurted through the passes of the rugged, hilly terrain, bowled over Vietnamese outposts and fanned out in a broad, coordinated advance about six miles deep. By Hanoi’s own admission, the Chinese after two days had occupied eleven towns and villages and had surrounded Dong Dang with tanks and self-propelled guns.

Then they appeared to pause.

In Peking, Teng assured a visiting Argentine diplomat that the invasion would be “circumspect” and “will not be extended or expanded in any way.” That statement seemed to confirm the initial Western interpretation of the possible Chinese objective: a swift, hit-and-run offensive, and then go home. But the Chinese were not yet ready to withdraw. At this point the Chinese shock troops, led by General Yang Teh-chih, China’s deputy field commander in the Korean War, had not tangled directly with Viet Nam’s crack regular army— battle-tested by victorious successive campaigns in South Viet Nam, Laos and Cambodia and equipped with the latest sophisticated Soviet hardware.

Abundantly forewarned, the Vietnamese let regional border forces and local village militia take the brunt of the initial attack. An estimated three to five regular divisions (at least 30,000 troops) were held back. They were apparently arrayed in a crescent-shaped defense line that stretched from Yen Bai on the Red River in the west to Quang Yen on the east coast. Their mission: to defend the coastal plain surrounding Hanoi and Haiphong, and wait for the Chinese to show their hand.

On Tuesday, the fourth day of the war, the Chinese advance resumed with a vengeance. A seemingly formless front rapidly developed two main, logical prongs of attack: one in the northwest on the railroad line leading south to Hanoi, the other in the the east on the major rail link that parallels Highway 1, the jugular thoroughfare from Friendship Pass. Both thrusts appeared to aim directly at Viet Nam’s capital. At the same time, an auxiliary Chinese force, spearhead units of an estimated three more divisions, probed toward the coast for a possible end run aimed at cutting off Highway 4 to Lang Son and later, perhaps, the main Vietnamese reinforcement and supply route of Highway 1, which years ago gained the dolorous nickname “street without joy.”

In the west, as the bulk of the Chinese offensive doubled its penetration to ten or 15 miles, PLA infantry captured Lao Cai, a rail center of 100,000 on the Red River. To counter this threat to Hanoi, the Vietnamese marched north to engage the Chinese at Lang Son and Dong Dang.

“Several thousand men of both regular and regional Vietnamese units with heavy arms are advancing toward Chinese positions,” a correspondent for Tokyo’s Asahi Shimbun reported from Lang Son. He described Vietnamese trucks with 105-mm. guns rolling north on Highway 1; other vehicles carried troops, weapons, ammunition and fuel toward the border. Meanwhile, under the fire of long-range 130-mm. howitzers, columns of refugees fled south, leaving Lang Son to the troops, security cadres and government officials who teemed around staging areas.

Hanoi radio blared that Viet Nam’s defense of Lang Son had inflicted more than 3,000 Chinese casualties, and that in just one coastal battle 50 miles southeast, Vietnamese forces had “trounced three battalions and wiped out 700 Chinese aggressors.” In all, Viet Nam announced, its forces had killed 5,000 to 8,000 Chinese in five days, while losing less than half as many. The lopsided claims were remindful of the inflated enemy “body counts” reeled off each day by U.S. briefers during the Viet Nam War. Western sources in Peking estimated that the Vietnamese had suffered the most in the early fighting: 10,000 killed or wounded, compared with 2,000 to 3,000 Chinese casualties.

The Vietnamese easily outmaneuvered Peking in the propaganda war if not on the battlefield. They issued virulent denunciations of Chinese conduct, including alleged atrocities and biological warfare. Radio Hanoi claimed that Chinese warplanes bombed factories, power plants and communications centers, inflicting “terrible” damage and civilian casualties, and that Chinese artillery fired “chemical shells” at border targets. Backing up its ally, the Soviet Union accused Chinese troops of indiscriminately burning down villages and shooting women and children. Pravda, in a dispatch from Lang Son, alleged that a Chinese unit intercepted a civilian bus on a country road and executed all the passengers.

Hanoi also claimed that it had firm evidence of Peking’s long planning for the invasion. Newsmen based in the capital, taken on a guided tour of the front, were shown printed Vietnamese phrase books found on the bodies of dead Chinese soldiers. Among other things, the eight-page pamphlets contained instructions to be given Vietnamese prisoners (“You will be taken to a safe place and allowed to rest … Don’t worry. Your wound will be treated immediately.”)

The fuse under the China-Viet Nam explosion had been sputtering for nearly a year. Last spring, intent on consolidating their purer-than-thou socialist revolution, the Vietnamese authorities decided to root out “bourgeois trade” and “dangerous elements,” namely ethnic Chinese who had lived for years in northern mining areas, in Danang and in the bustling Cholon district of Saigon (now Ho Chi Minh City). An estimated 160,000 Chinese refugees fled the country, aboard fishing boats or on foot across Friendship Pass, to resettle on communes in Kwangtung and Kwangsi provinces. Meanwhile, a sporadic series of raids and skirmishes that were to intensify in the next months flared back and forth across the border.

Irate at the maltreatment of the Chinese, Peking—which had provided Hanoi with an estimated $14 billion in aid over the past two decades— abruptly cut off 21 current assistance projects. In June, as the last Chinese aid technicians went home, Hanoi yielded to long standing Soviet blandishments and formally jumped into Moscow’s economic orbit as a member of the Communist trade alliance, COMECON.

In November Moscow and Hanoi formalized their alliance in a 25-year Soviet-Vietnamese treaty of friendship, which was signed with much ceremony in Moscow by Leonid Brezhnev, Premier Aleksei Kosygin and the Vietnamese Communist Party head, Le Duan, as well as Premier Pham Van Dong. Inside the usual bouquet of trade and cultural agreements there was no mistaking the glaring military nutshell: an ambiguous degree of mutual defense, to the extent of “consultations and appropriate effective measures to ensure the peace and security of their countries.” For Peking the treaty was a stinging political rebuke.

Then came Viet Nam’s lightning conquest of Cambodia. Within a month of its full-scale invasion on Christmas Day, pro-Hanoi insurgents backed by Vietnamese regulars routed the barbarous China-supported Khmer Rouge regime of Pol Pot. Few international tears were shed as Pol Pot and the straggling remnants of his army were driven into western jungle pockets. From these redoubts, the Khmer Rouge has carried on vigorous resistance against the new regime, a pro-Vietnamese government headed by a former Khmer Rouge defector, Heng Samrin, and propped up by an estimated 130,000 Vietnamese troops. For China the fall of Cambodia meant an enormous loss of face. Ever since, as Teng admitted in Washington, China has steered weapons and supplies to Pol Pot’s insurgency in an effort to reverse its fortunes and avenge its own humiliations.

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 4 Comments »

64:LHQ Khảo Hạch về Nhân Quyền ở Trung Quốc

Posted by adminbasam trên 09/02/2009

The Christian Science Monitor

————————————————————————————————————

Trung Quốc đang đối diện

với cuộc khảo hạch

nhân quyền chưa từng có

của Liên Hiệp Quốc


Một cuộc khảo hạch về thành tích nhân quyền của Trung Quốc tại Geneva hôm nay thứ Hai sẽ thử nghiệm xem ước muốn của nước này  trả lời cho những chỉ trích quốc tế ra sao.

Peter Ford, Phóng viên của The Christian Science Monitor

Từ bản báo in, ngày 9-2-2009


Bắc Kinh – Trung Quốc sẽ phải đối diện với cuộc khảo sát kỹ lưỡng chưa từng thấy về thành tích nhân quyền của họ vào hôm nay, thứ Hai, trong một cuộc kiểm tra chủ yếu về sự chuẩn bị sẵn sang của Bắc Kinh để trả lời những chỉ trích của quốc tế qua việc đối xử của chính quyền với các thành phần đối lập chính trị.

Bắc Kinh đã gởi một đoàn rất đông các đại biểu chức vụ cao cấp tới Geneva để bảo vệ cho thành tích nhân quyền của Trung Quốc khi đối mặt với những câu hỏi từ các thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

“Đây là một cuộc kiểm tra quan trọng cho cả Trung Quốc và Liên hiệp quốc,” theo lời ông Nicholas Bequelin, một chuyên gia về Trung Quốc làm cho tổ chức Giám sát Nhân quyền [Human Rights Watch].

Một số nhà quan sát nghi ngờ rằng bộ phận cao ủy nhân quyền của Liên hiệp quốc mang tính hình thức và nhìn chung là không đối đầu sẽ thực sự đặt Trung Quốc vào tâm điểm cho những vi phạm nhân quyền trên diện rộng mà trong đó chính phủ độc đoán của nước này đang đứng trong thế bị cáo buộc.

Hoa Kỳ đã khước từ tham gia vào hội đồng này khi nó được thành lập vào năm 2006, Hoa kỳ đã từng cho rằng bộ phận nầy không có hiệu quả. Tổng thống Obama đã và đang phát biểu rằng ông sẽ xem xét lại quyết định đó (sẽ tham gia hay không).

Cuộc họp vào thứ Hai “sẽ là một bản khiêu vũ kabuki, một hài kịch,” ông Brett Schaefer, một nhà phân tích Quỹ tài trợ Di sản có tư tưởng bảo thủ tại Washington, đang bàn bạc như thế, trừ phi Trung Quốc đón nhận những lời chỉ trích từ nước ngoài nghiêm túc hơn là những gì họ đã và đang thực hiện cho tới nay.

Tuy nhiên, các nhà hoạt động nhân quyền tại Trung Quốc và ở nước ngoài đã bày tỏ những hy vọng rằng cuộc họp ngày thứ Hai này sẽ giúp xúc tiến các nổ lực của TQ để cải thiện thành tích nhân quyền của họ.

“Sức ép quốc tế là rất có ích và rất, rất cần thiết cho việc cải thiện tình trạng nhân quyền ở Trung Quốc,” theo nhận xét của Li Heping, một luật sư nổi tiếng về đấu tranh cho nhân quyền chính ông ta đã từng bị bắt cóc và đánh đập vì những hoạt động của ông ta.

“Bản báo cáo của Liên hiệp quốc được đưa ra trong cuộc họp này có thể có một tác động tích cực,” nếu như bản báo cáo phản ánh những đánh giá độc lập về thành tích nhân quyền của Trung Quốc, ông nói thêm.

Thậm chí nếu như các nhà ngoại giao Trung Quốc từ chối trả lời những câu hỏi hóc búa mà một số đoàn Âu châu và các đoàn khác có kế hoạch đưa ra tại cuộc họp của hội đồng, “điều đó sẽ là tốt đẹp cho chúng ta phô bày ra cho họ thấy rằng họ là những người như thế nào,” theo lời của cô Juliette de Rivero, một nhà hoạt động nhân quyền tại Geneva.

Hội đồng Nhân Quyền đã thay thế cho Ủy ban Nhân quyền của Liên hiệp quốc vốn bị tai tiếng, ủy ban nầy là nơi mà Trung Quốc trước đó đã từng luôn luôn có khả năng vận động các đồng minh ngoại giao của họ trong những bản kiến nghị mang tính thủ tục để tránh bất cứ cuộc kiểm tra nào về hộ sơ nhân quyền của họ.

Dưới một hệ thống mới được biết đến với tên gọi là Xem xét Định kỳ Chung, mọi thành tích nhân quyền của các thành viên Liên hiệp quốc đều được tự động khảo hạch cẩn thận bởi hội đồng bốn năm một lần. Mặc dù vậy, thủ tục này cũng không tránh được những hoạt động lôi kéo vận động.

Khi Cuba tới lượt kiểm tra vào thứ Năm tuần trước, các đồng minh của họ trong hội đồng đã chiếm hết thời gian của cuộc họp bằng những bài ca ngợi về thành tích đạt được của hòn đảo thuộc vùng Caribe này trong việc chăm sóc y tế và giáo dục, chỉ để dành lại chút ít thời gian cho những phê phán đặt những câu hỏi về các tù nhân chính trị hoặc về tự do ngôn luận.

Trung Quốc có thể khuyến khích các nước bạn hữu của họ để làm theo những chiến lược tương tự. Trong trường hợp đó, theo cảnh báo của ông Schaefer, buổi họp sẽ là “một cuộc trình diễn hơn là một đánh giá quan trọng về sự tiến bộ nhân quyền ở Trung Quốc.”

Tuy nhiên, một số quốc gia bao gồm Canada, Đan Mạch, Hà Lan, và Na Uy, đã báo hiệu cho biết dự định của họ là tra xét và tìm kiếm những câu hỏi để chất bấn và đưa ra những khuyến cáo kiên định rằng các giới chức Trung Quốc cần phải làm nhiều hơn nữa để chấm dứt tình trạng tra tấn, giam cầm mà không xét xử, tình trạng kiểm duyệt, và đàn áp tôn giáo.

Bản báo cáo của phía Trung Quốc gởi tới cho Hội đồng Nhân Quyền, thứ mà tổ chức Ân xá Quốc tế gọi là một “bản tự minh oan” về tình hình thực tế, đã tránh đề cập tất cả những đề tài này. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Jiang Yu nói rằng Bắc Kinh đang trông đợi một “cuộc đối thoại xây dựng” với các thành viên hội đồng.

Mặc dầu bản báo cáo của Trung Quốc là “rất đáng thất vọng … như một bản cắt dán những luận điểm dập khuôn thay vì là một lời cam kết đáng tin cậy trong cuộc thảo luận,” ông Bequelin phàn nàn thế, bản báo cáo trong cuộc họp vào hôm thứ Hai này cũng sẽ bao gồm những lời giới thiệu mà mỗi thành viên riêng rẽ của hội đồng sẽ phát biểu trong quá trình thảo luận.

Trung Quốc được tự do bác bỏ mọi điều trong đó, song bất cứ những gì mà họ chấp nhận cũng sẽ tạo cho những người bảo vệ nhân quyền ở Trung Quốc cái gì đó để thúc đẩy thực hiện,” ông Bequelin nhận định. “Tiến trình này có thể sẽ đầy ý nghĩa ngay cho dù nó không làm cho dân chúng thoát khỏi tù tội vào ngày hôm sau.”

Tuy vậy Bắc Kinh đang đáp ứng với bất cứ đòi hỏi nào, việc phê bình tai tiếng nhân quyền của họ cũng đã khích động những nhà hoạt động tại Trung Quốc, theo nhận xét của Li Fangping, một luật sư ở Bắc Kinh đang tập trung công việc vào các trường hợp liên quan tới nhân quyền.

Một số nhà hoạt động tích cực cho nhân quyền ở Trung Quốc đã đóng góp vào bản báo cáo dưới dạng nặc danh cho những phúc trình mà các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã thực hiện cho hội đồng trong những tháng gần đây, và một tổ chức phi chính phủ địa phương, tổ chức Aizhixing, đang trợ giúp cho các bệnh nhân AIDS, đã công khai bày tỏ thái độ phê phán của riêng mình về hệ thống chăm sóc sức khỏe của Trung Quốc.

“Đây là lần đầu tiên các tổ chức phi chính phủ của người Trung Quốc tham gia vào loại công việc này”, ông Li cho biết. “Các nhà hoạt động nhân quyền ở đây đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng hơn. Đó là một xu hướng không thể đảo ngược được.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


———————————————————————————————–

China faces unprecedented UN human rights scrutiny

An examination of China’s record in Geneva Monday will test the country’s willingness to answer international criticism.

By Peter Ford | Staff writer of The Christian Science Monitor

China will face unprecedented scrutiny of its human rights record Monday in a key test of Beijing’s readiness to answer international criticism over its treatment of political opponents.

Beijing has sent a large, high-level delegation to Geneva to defend China’s human rights performance in the face of questioning from members of the United Nations Human Rights Council.

“This is an important test both for China and for the United Nations,” says Nicholas Bequelin, a China expert with Human Rights Watch.

Some observers doubt that the formal and generally nonconfrontational UN body will actually put China on the spot for the wide-ranging human rights violations of which its authoritarian government stands accused.

The United States declined to join the council when it was formed in 2006, saying the body was toothless. President Obama has said he will reconsider that decision.

Monday’s meeting “will be a kabuki dance, a farce,” argues Brett Schaefer, an analyst with the conservative Heritage Foundation in Washington, unless China takes foreign criticism more seriously than it has done until now.

Human rights activists here and abroad, however, express hopes that Monday’s meeting will indeed help speed China’s efforts to improve its rights record.

“International pressure is very helpful and very, very necessary to improve the human rights situation here,” says Li Heping, a well-known human rights lawyer who has himself been kidnapped and beaten up for his work.

“The UN report that comes out of this meeting could have a positive impact” if it reflects independent assessments of China’s record, he adds.

Even if Chinese diplomats refuse to answer the hard questions that some European and other delegations plan to put at the council meeting, “that would be good for us to show them up for what they are,” says Juliette de Rivero, a Human Rights Watch activist in Geneva.

The Human Rights Council replaced the discredited UN Human Rights Commission, where China had always been able to mobilize its diplomatic allies in procedural motions to avoid any examination at all of its human rights record.

Under a new system known as the Universal Periodic Review, every UN member’s record is automatically scrutinized by the council every four years. Even this procedure, however, is not immune from manipulation.

When Cuba came up for examination last Thursday, its allies on the council took up most of the meeting with paeans of praise for the Caribbean island’s achievements in healthcare and education, leaving little time for critics to ask questions about political prisoners or freedom of speech.

China could encourage its friends to adopt the same tactic. In that case, warns Mr. Schaefer, the event will be “more of a show than a substantial assessment of China’s human rights progress.”

Several countries, however, including Canada, Denmark, Holland, and Norway, have signaled their intention to ask searching questions and to make pointed recommendations that the Chinese authorities should do more to end torture, imprisonment without trial, censorship, and religious persecution.

China’s report to the council, which Amnesty International calls a “whitewash” of the real situation, avoids all these issues. Foreign Ministry spokeswoman Jiang Yu said Beijing looked forward to “a constructive dialogue” with members of the council.

Although China’s report is “very disappointing … a cut-and-paste of template positions rather than a credible engagement in discussion,” complains Mr. Bequelin, the report of Monday’s meeting will include the recommendations that individual council members make during the debate.

China is free to reject all of them, but any that it does accept “will give human rights defenders in China something to push for,” Bequelin says. “This process can be meaningful even if it does not get people out of jail overnight.”

However Beijing responds to any recommendations, the review of its record has already galvanized activists in China, says Li Fangping, a Beijing lawyer who concentrates on human rights cases.

Some Chinese human rights workers contributed anonymously to submissions that international nongovernmental organizations made to the council in recent months, and one local NGO, Aizhixing, which works with AIDS patients, publicly presented its own critique of China’s health system.

“This is the first time that Chinese NGOs have participated in this kind of work” says Mr. Li. “Human rights activists here are playing a more and more important role. That is a trend that cannot be reversed.”

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

62:Chiến Tranh Việt Nam và Sự Thật (1)

Posted by adminbasam trên 07/02/2009

examiner.com

————————————————————————————————————

Chiến tranh Việt Nam:


Mọi thứ bạn biết


đều không đúng(Phần 1)


Kathy Shaide, Nhà khảo cứu Chính trị Bảo thủ

(Đây là phần thứ nhất của loạt bài nhiều kỳ vạch trần những câu chuyện hoang đường của truyền thông tự do về Cuộc chiến tranh Việt Nam.)

Bức ảnh gây ảnh hưởng xấu cho Cuộc chiến?

Tấm hình này là một trong những hình ảnh nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Bức ảnh giành được Giải thưởng Pulitzer năm 1968 của Eddie Adams về một vụ hành quyết trên một đường phố ở Việt Nam đã được in lại và phát hành không biết bao nhiêu lần. Trong cuốn phim Stardust Memories [1], nhân vật chính bị bệnh trầm cảm (buồn chán) của (đạo diễn ) Woody Allen trang trí căn bếp của mình bằng một bức hoạ khổng lồ về bức ảnh này, để minh hoạ cho sự bồn chồn lo sợ của anh ta. Một hoạ sĩ theo trường phái chủ nghĩa hậu-hiện-đại đã tạo dựng hình ảnh có tính tượng trưng này trên các hình ghép bằng nhựa (Lego). [2]

Tuy vậy, ít người biết được câu chuyện thực đằng sau bức ảnh của Eddie Adam, tấm hình mà một số nhà phê bình văn hóa đang khẳng định, vào năm 1968 và cả hiện nay, “đã giúp cho nước Mỹ thua trận chiến tranh Việt Nam.”

Trong khi thuyết trình tại khu học xá đại học để quảng bá cho cuốn sách  Đuổi Theo Huyền Thoại Việt Nam (Stalking the Vietnam Myth), tác giả H. Bruce Franklin đã phát hiện ra rằng hầu hết các sinh viên “đều đoan chắc bức ảnh nguyên bản đã mô tả một người Bắc Việt Nam hoặc một cán bộ cộng sản hành hình một tù dân sự Nam Việt Nam.”

Tuy nhiên, người hành quyết là một Cảnh sát trưởng của Nam Việt Nam – một đồng minh của người Mỹ. Nạn nhân là một cán binh Việt Cộng bị bắt mà đồng đội của anh ta mang vũ khí trước đó đã tự tay hành quyết tức thì bất cứ ai liên hệ với chính quyền Nam Việt Nam và người Mỹ.

Sau khi giết người người tù nhân bị bắt, viên cảnh sát trưởng đã nói với các nhà báo, “Nhiều người Mỹ đã bị giết trong ít ngày qua và cả nhiều bạn bè người Việt Nam thân thiết nhất của tôi. Giờ các ông có hiểu không? Đến Đức Phật cũng sẽ phải hiểu.”

Bức ảnh đã giúp cho Eddie Adams nổi tiếng, song ông đã ước mong sao mình chưa bao giờ chụp bức ảnh đó. Bởi vì tai tiếng của nó, bức ảnh đã hủy hoại cuộc đời của viên cảnh sát trưởng, đẩy ngược ông ta thành ra một kẻ tội đồ đáng ghét (và bị hiểu lầm) trên bình diện quốc tế suốt từ đó tới nay. Adams không bao giờ tha thứ cho bản thân mình về điều này.

Như Eddie Adams đã từng viết trên tạp chí Time,

“Viên tướng đã giết tên Việt Cộng; còn tôi đã giết viên tướng bằng chiếc máy ảnh của mình. Những bức hình tĩnh lặng là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất trên thế giới. Người ta tin vào những tấm hình, song các bức ảnh rất hay gian dối và không phản ảnh đúng sự thật, thậm chí không cần phải làm mánh khóe chỉnh sửa. Các tấm hình chỉ nói lên một nửa những sự thật. Những gì mà bức ảnh đã không nói lên là, “Bạn sẽ làm gì nếu như bạn là viên tướng ở vào thời điểm đó và nơi chốn đó vào những ngày nóng bỏng đó, và bạn đã bắt được một gã phải gọi là bất lương sau khi hắn bắn chết một, hai hoặc ba người lính Mỹ?” [3]

Bé gái trong bức ảnh

Một bức ảnh cũng nổi tiếng xấu tương tự đã được chụp nhanh trong thời gian diễn ra Chiến tranh Việt Nam miêu tả một bé gái đang chạy, trần truồng và khiếp hãi, từ ngôi làng bị bỏ bom của bé, quần áo trên người của bé bị cháy hết do vụ nổ. [4]

(wikipedia)

Hầu hết mọi người đều tin là ngôi làng của bé gái đó bị tấn công bởi những người Mỹ. Không phải vậy. Trên thực tế, ngôi làng ấy bị bỏ bom bởi Không lực Việt Nam vì nhầm lẫn, không lực Việt Nam đang nhắm vào các công sự của cộng sản Bắc Việt gần đó. Nói cách khác, đây là một cuộc chiến “giữa những người Việt Nam với nhau”. Thậm chí người chụp cũng là một người Việt Nam. Không có những người Mỹ nào liên quan tới vụ này.


Bổ sung cho tình trạng lầm lẫn này là: vào năm 1996, một vị giáo sĩ Giáo phái Giám lý công khai tiếp xúc với bà Kim Phúc, “cô gái trong bức ảnh”, và xin bà tha thứ cho (việc ông đã ra) lệnh mở cuộc tấn công đó. Điều phiền toái là: người đàn ông này không làm việc gì liên quan tới trận ném bom đó. Ông ta là một binh sĩ cấp thấp đang trú đóng xa cách đó nhiều cây số.

Trong khi những câu chuyện loại đó nhằm mục đích tái làm hòa đang diễn ra một cách không thể chối cãi được, “thái độ tha thứ” công khai của bà Kim Phúc đối với người đàn ông lầm lẫn này, “cần phải được xem xét với việc nhận thức rõ ràng rằng khi bà được tự do ám chỉ bất cứ cái gì mà bà muốn về những đất nước đã đem tới cho bà nơi nương nhờ và giúp đỡ, thì bà lại không thể thoải mái chỉ trích chính phủ Cộng sản trên quê hương cũ của mình. Mặc dù là một người tị nạn chính trị tại Canada, nhưng các bà con họ hàng của bà lại vẫn đang sống tại Việt Nam.”

Những hành động của vị giáo sĩ là thiếu minh bạch hoặc cao thượng, nhưng lại có vẻ là một thứ pha trộn giữa tự quảng cáo đồng thời tự ghê tởm bản thân mình.

Những vụ việc này và các câu chuyện giả tạo khác về “những hành động giết người” của người Mỹ đã làm xấu đi hình ảnh của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại nước nhà và ở nước ngoài. Kể từ khi Cuộc chiến tranh Việt Nam liên tục bị đặt ra bởi phái Tả chống chiến tranh như một ví dụ về mối mâu thuẫn của “những phần tử phân biệt chủng tộc”, “đế quốc chủ nghĩa” bị thất bại, rồi mối mâu thuẫn đó (ám chỉ chiến tranh VN) chỉ được kết thúc nhờ vào những hành động phản kháng “hòa bình” của các thanh niên hippie can đảm, thì việc đưa ra những sự thực là điều vô cùng quan trọng.

Các bạn hãy chờ đón để đọc các phần kế tiếp trong loạt bài này.

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


—–

[1] http://www.imdb.com/name/nm0000095/ ông Woody Allen sinh 1935 ơ New York, phim Stardust Memories 1980, do Woody allen viết chuyện phim và làm đạo diễn. Phim nầy được hơn 5600 người bầu chọn là phim hay, và cho điểm là 7/10

[2] hình ghép kiểu Lego ở đây http://bluedust.com/lego/default.asp

[3] “Ðại Úy đặc công Nguyễn Văn Lém được dẫn tới trình diện Tướng Loan. Chỉ ít phút trước đó, Bảy Lốp (bí danh của Đ/U Lém) đã giết hại vợ, các con và thân nhân của một sĩ quan Cảnh Sát VNCH. Theo tài liệu của LNĐ (bác sĩ LMC (?)), vào lúc 4g30 sáng hôm đó, đại úy Nguyễn Văn Lém đã chỉ huy một đơn vị đặc công cùng với xe tăng của Tiểu Ðoàn 2 Cơ Giới VC tấn công trại Phù Ðổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp.

Sau khi kiểm soát được trại lính, Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn và bắt Trung Tá Tuấn phải chỉ dẫn cách sử dụng các xe tăng còn để lại trong trại. Trung Tá Tuấn từ chối, thế là Bảy Lốp giết chết toàn thể gia đình Trung Tá, gồm cả một bà mẹ già 80 tuổi. Chỉ có một bé trai 10 tuổi tuy bị thương nặng nhưng được cứu sống (và về sau đã góp phần kể lại câu chuyện). “

Ảnh “Vietnam, A Chronicle of the War”,Black Dog & Leventhal Publishers, Inc. 2003, pg.478
Đám tang gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn với 6 chiếc quan tài

Ảnh trích từ cuốn sách A Chronicle of the War,
Black Dog & Leventhal Publishers, Inc. 2003, pg.478

Coi chi tiết thêm tại blog nầy:

http://blog.360.yahoo.com/blog-pbqpS1c_c6fk.xGveDaG3bKIf0XggSY-?cq=1&p=908

[4] Phần tiếp theo đây dịch từ Wikipedia. Nguồn được để ở cuối bài nầy.

Cô bé trong hình là Phan thị Kim Phúc sinh năm 1963. Năm 1972, trong một trận đánh ở Trảng Bàng, Tây Ninh, gồm có quân đội Mỹ và VNCH đánh vào một ngôi làng đang bị Việt Cộng tấn công và chiếm đóng.

Cô bé Phúc và dân làng theo chân các người lính VNCH chạy thoát khỏi một ngôi chùa Cao Đài về hướng có quân đội VNCH để được an toàn. Nhưng một phi công VNCH đã tưởng nhầm toán quân VNCH đang chạy phía dưới là Việt Cộng. Ông ta đã bỏ một quả bom để chận toán quân ấy và kết quả là cô bị phỏng vì bom.

Hai người bà con của Kim Phúc cùng với nhiều dân làng đã chết. Ký giả Nick Út lúc đó đang làm việc cho hãng tin AP của Mỹ đã chụp được tấm hình ấy.

Sau khi chụp xong tấm hình nầy, Nick Út đã đem cô Phúc và các trẻ em khác đến một bệnh viện ở Saigon. Cô bị phỏng nặng và có nguy cơ không thể sống được. Sau 14 tháng nằm bệnh viện và trải qua 17 lần giải phẩu, cô đã được trở về nhà. Phóng viên Nick Út vẫn tiếp tục thăm viếng cô cho đến khi ông được máy bay di tản ông ra khỏi Saigon vào khoảng 3 năm sau khi ông chụp được tấm hình ấy.

Sau 1975, cô Kim Phúc vẫn tiếp tục học ở VN. Trong thời gian học đại học, cô bị  nhà nước  cử đi công tác khắp nơi để tuyên truyền và dùng hình ảnh của cô như một dấu hiệu tượng trưng cho hành động chống lại chiến tranh.

Năm 1982, cô đã cải đạo từ Phật giáo Cao Đài qua Thiên Chúa Giáo. Vào thời gian sau năm 1975, Thủ tướng Phạm văn Đồng trở thành một người bạn và đỡ đầu cho cô Phúc.

Kim Phúc được nhà nước cho đi Cuba năm 1986 để tiếp tục học tập và nghiên cứu. Và rồi cô Kim Phúc được phép ở lại Cuba và gặp Bùi Huy Toàn ở đó. Năm 1989, ký giả Nick Út đến Cuba và gặp cô Phúc và hôn phu của cô ta, Huy Toàn. Năm 1992, hai người thành hôn và đi hưởng tuần trăng mật.

Trong một chuyến bay từ VN qua Cuba, máy bay phải đáp xuống Canada để lấy thêm nhiên liệu, hai vợ chồng bà Kim Phúc 29 tuổi và Bùi Huy Toàn, đã rời khỏi phi cơ, và xin tị nạn chính trị. Hiện nay bà đang cư ngụ tại Canada với chồng và hai con.

1996 bà Kim Phúc đã gặp lại các bác sĩ giải phẩu đã cứu bà vào năm ấy.

1997, bà thi đậu  vào quốc tịch Canada và trở thành công dân Canada.

1997, bà được Liên Hiệp Quốc vinh danh là đại sứ thiện nguyện vì các công tác trước đó của bà như giúp đỡ các trẻ em là nạn nhân chiến tranh trên toàn cầu.

2004, bà được 2 trường đại học luật khoa ở  Canada cấp bằng Tiến sĩ Danh Dự  Luật Khoa tại đại học Queens và York ở Canada vì các công tác giúp đỡ cho các trẻ em nạn nhân chiến tranh trên toàn cầu.

30-6-2008, đài phát thanh NBR của Mỹ đã phát thanh tiểu luận do bà đọc: Con Đường Dài Dẫn tới sự Tha Thứ”

Nguồn  http://en.wikipedia.org/wiki/Kim_Phuc_Phan_Thi

Cách tìm nguồn

*vào google.com,

gõ chữ : nick ut + kim phúc

Bạn sẽ nhìn thấy hàng chục bài báo tiếng Việt, tiếng Anh nói về câu chuyện nầy.

—————————————————

(dịch từ Wikipedia)

Nick Út, hay Huỳnh Công  Út, sinh năm 1951 ở tỉnh Long An, ông đã bắt đầu chụp hình cho hãng tin AP của Mỹ khi ông mới được 16 tuổi, ngay sau khi anh trai của ông Huỳnh Thanh My, cũng là một nhiếp ảnh viên làm cho hãng tin AP, đã bị chết trong chiến tranh VN. Ông Nick Út hiện vẫn còn làm cho hãng tin AP và sống ở Los Angeles.

Nick út là người đã chụp bức ảnh cô Kim Phúc trần truồng vì bị bom ấy. Nhờ tấm ảnh ấy, ông đã được giải thưởng Pulitzer năm 1972 và tấm hình ấy được liệt kê vào “Hình ảnh Báo chí của năm 1972”.

Năm 2007 (?), sau nhiều tháng sắp xếp xin triển lảm hình ảnh ở Việt Nam, trước đó dù đã được đồng ý, nhưng về sau thì nhà nước đã không cho phép ông triển lảm bộ hình ảnh phóng sự hơn 40 năm làm báo của ông.

Nick út và nhiều hình ảnh của Sài Gòn Xưa và Nay. Hình tuyệt đẹp:

http://www.watermargin.com/vietret/vietret4.html

————————————————————————–

examiner.com

—————-

The Vietnam War:

everything you know

iswrong (Part One)

February 6, 3:22 PM

by Kathy Shaidle, Conservative Politics Examiner

(This is the first of a multi-part series debunking liberal media myths about the Vietnam War.)

The Photo That Lost the War?
It’s one of the most famous images of the 20th century. Eddie Adams’ Pulitzer Prize winning 1968 photograph of an execution on a Vietnam street has been reprinted and reenacted countless times. In the film Stardust Memories, Woody Allen’s depressed character decorates his kitchen with a colossal mural of the image, to illustrate his angst. A post-modern artist recreated the iconic image in Lego.

However, few know the true story behind the photograph, which some cultural critics claim, then and now, “helped America lose the war.”

While lecturing on college campuses to promote his book Stalking the Vietnam Myth, author H. Bruce Franklin discovered that most students “were convinced the original photo depicted a North Vietnamese or communist officer executing a South Vietnamese civilian prisoner.”

However, the executioner was the chief of the South Vietnamese Police — an American ally. The victim was a captured Vietcong insurgent whose comrades in arms had themselves been summarily executing anyone associated with the South Vietnamese and the Americans.

After killing the captured prisoner, the police chief told journalists, “Many Americans have been killed these last few days and many of my best Vietnamese friends. Now do you understand? Buddha will understand.”

The photograph helped make Eddie Adams famous, but he wished he’d never taken it. Due to its notoriety, the photo ruined the police chief’s life, turning him into an internationally hated (and misunderstood) villain for all time. Adams never forgave himself.

As Eddie Adams once wrote in Time magazine,

“The general killed the Viet Cong; I killed the general with my camera. Still photographs are the most powerful weapon in the world. People believe them, but photographs do lie, even without manipulation. They are only half-truths. What the photograph didn’t say was, ‘What would you do if you were the general at that time and place on that hot day, and you caught the so-called bad guy after he blew away one, two or three American soldiers?'”

The Girl In The Picture
An equally infamous photograph snapped during the Vietnam War depicts a little girl running, naked and terrified, from her bombed out village, her clothing burned from her body in the blast.

Most people believe her village was attacked by Americans. It was not.

In fact, the village was accidentally bombed by the Vietnamese Air Force, who were nearby targeting communist North Vietnamese fortifications. In other words, this was an “all-Vietnamese” fight. Even the photographer was Vietnamese. No Americans were involved.

Adding to the confusion: in 1996, a Methodist minister publicly approached Kim Phuc, the “girl in the picture” and asked her forgiveness for ordering the strike. The trouble is: this man had nothing to do with the bombing. He was a lowly soldier stationed miles away.

Whie such stories of reconciliation are undeniably moving, Kim’s public “forgiveness” of this confused man, “must be viewed with the realization that while she is free to insinuate anything she pleases about the countries which give her refuge and support, she cannot freely criticize the Communist government of her former homeland. Although a political refugee in Canada, her relatives still live in Viet Nam.”

The minister’s motives are less clear or noble, but seem to be a blend of self-loathing and self-promotion.

These and other phony tales of American “atrocities” mar the image of the United States at home and abroad. Since the Vietnam War is constantly held up by the anti-war Left as an example of a failed, “racist,” “imperialist” conflict which only ended thanks to the “peaceful” protests of “courageous” hippies, getting the facts right is tremendously important.

Stay tuned for the next installments in this series.

Posted in Chiến tranh VN | 7 Comments »

61:Được hát đọc xem những gì luật không cấm

Posted by adminbasam trên 06/02/2009

Phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn

Ca sĩ Việt Nam chịu sự quản lý của giới chức trong biểu diễn và ghi âm

BBC

————————————————————————————————————

Được hát, đọc, xem


những gì


luật không cấm



06 Tháng 2 2009 – Cập nhật 09h54 GMT

Cái thời “cả nước nô nức vào hợp tác xã (HXT)”, thì mảnh đất phần trăm mỗi hộ được chia mới là nơi mà người nông dân mê đắm nhất, vì nó là thứ họ kiếm thêm tối đa đúng với công sức của mình chứ không chỉ sống nhờ công, điểm cứng nhắc từ HTX.

Các thứ rau quả trồng ở đây, được đem bán ra chợ, thu tiền đút túi (không phải nộp HTX). Nhưng lại còn phải nuôi gia cầm nữa, chúng có thể phá hỏng vườn rau?

Thế là, thay vì nhốt lũ gà, vịt lại, họ quây rào chỉ những thứ rau nào có thể bị chúng phá thôi. Như vậy gà vịt cũng được tự do kiếm mồi, giao lưu phát triển nòi giống, mà rau quả cũng vẫn tươi tốt.

Quản người

Thế nhưng hình như trên thành phố, người ta không học được kinh nghiệm này của bà con nông dân để quản lý con người, nên đã có phương pháp ngược lại.

Vì qua các văn bản pháp luật, thấy rõ một điều là người dân chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép, thay vì được làm những gì pháp luật không cấm. Mà các văn bản pháp luật thường được ban hành chậm, rối rắm chồng chéo, không theo kịp với bước phát triển xã hội, bộ máy lập pháp cũng còn yếu, nên dân cứ dài cổ mà chờ luật cho gì mới được làm, rồi khi chưa có luật cho thì chờ các ông các bà “đầy tớ nhân dân” xét duyệt theo cái tình cảm sớm nắng chiều mưa của các vị.

Như vậy chả hóa ra là: không rõ gà vịt nó thích ăn cây gì, quả gì, thôi thì cứ nhốt béng chúng nó lại cho xong chuyện. Thế là lũ gà vịt sẽ kém phẩn khởi, còi cọc, ít sinh sản vì đánh nhau tranh ăn, tranh yêu … Những kẻ bất mãn quá lời lại bảo “người mà chả được bằng gà vịt!”

Nhưng cũng còn may, vì đói thì đầu gối phải bò. Bao cấp, ngăn sông cấm chợ theo mô hình XHCN tưởng tượng mãi tới độ cùng cực, phải “mở cửa”, mới biết chỉ có hệ thống XHCN mới có lối làm luật theo kiểu “người dân chỉ được làm những gì mà luật cho phép”, còn phe tư bản thì nó ngược lại, “người dân được làm những gì mà luật không cấm.”

Nên năm 2000 đã có một bước ngoặt lịch sử trước hết trong hệ thống Pháp luật Việt Nam là sự ra đời nhọc nhằn của Luật Doanh nghiệp, trong đó người dân được kinh doanh những gì mà luật pháp không cấm, thay vì cả nửa thế kỷ trước (không kể miền Nam trước 1975) chỉ được kinh doanh những gì mà luật pháp cho phép.

Nhà nước công bố một danh mục các ngành nghề bị cấm, và có điều kiện. Thế là xong. Doanh nghiệp, doanh nhân tức khắc nở rộ như hoa mùa xuân, đời sống vật chất dân chúng cũng lên theo phơi phới.

Hư người

Ngoài nhu cầu vật chất, thì nhu cầu tinh thần cao gấp bội so với gà vịt, nhưng oái oăm nó lại là thứ mà nhà nước lo ngại sẽ quá đà, thậm chí là bất ổn cho chế độ. Thế nên mới sinh ra những biện pháp quản cả nhu cầu tinh thần. Đây chính là mối mâu thuẫn lớn và cũng thuộc vào loại đáng phải bàn nhất hiện nay.

Những nhu cầu tinh thần như văn thơ, phim, ảnh, ca nhạc, hoạ, sinh hoạt, lễ hội dân gian …, tất thảy đều được quản theo lối “nhốt gà”. Tỉ như không có văn bản luật quy định rằng: tất cả các tác phẩm âm nhạc, văn học … xưa nay đều được lưu hành, trừ những thứ nằm trong danh mục kèm theo là bị cấm. Danh mục này sẽ được bổ sung định kỳ.

Mà ngược lại, các cơ quan quản lý thỉnh thoảng lại cho công bố một hai bài hát của nhạc sĩ nào đó thời trước 1975 ở Sài Gòn được sử dụng, hoặc có nhà xuất bản tự nhiên lại dám tái bản một cuốn sách của chế độ cũ xưa nay thuộc diện “nhạy cảm” mà không rõ dựa trên văn bản pháp luật nào mà làm được, hay lại do “lách”, hoặc “liều”.

Nhưng phiền hơn nữa là mỗi thời, mỗi người quản lý lại có lối suy xét, cắt gọt riêng rất tù mù (ở đây chưa muốn bàn tới chuyện tiêu cực). Như vậy tác phẩm khi tới tay bạn đọc sẽ trở thành một thứ “oẳn tà roằn” – “đầu Ngô mình Sở”, không rõ cha mẹ chúng là ai.

Gà vịt ăn nhiều mà không được tung tẩy thì cũng không đến nỗi hư hỏng hay ù lì lắm. Nhưng con người mà ăn uống no say, xài xỉ tiền bạc nhiều, nhưng đời sống tinh thần không được chăm chút là sẽ sinh nhiều chuyện.

Trước hết là “rửng mỡ”-như lời các cụ hay mắng con cháu. Tức là nhẹ thì sống theo lối bóc ngắn cắn dài, nặng thì tệ nạn xã hội, ăn chơi sa đoạ, từ dân đen cho tới doanh gia và giới công quyền.

Dẫn chứng có vô vàn. Từ chuyện nông dân có tiền đền bù đất bị thu hồi, mua sắm xe máy cưỡi cho sướng, xây nhà cao ngất ngồi ngắm cho đã, rồi thì trắng tay, đói! cho tới quan chức nhiều tiền, quyền quá rồi ăn, chơi những thứ hơn cả bạo chúa ngày xưa. Con trẻ thì không có chỗ chơi, thứ đọc, xem hấp dẫn, đành chúi đầu vào cái vi tính thôi.

Vậy xin được nói nôm na và hơi trần tục là ta mới chỉ chăm chút nhau theo kiểu nông dân chăm gà vịt thôi, chứ chưa được như với con người. Trong khi người ta cứ chạy tìm quanh kẻ nào làm cho đạo đức băng hoại, con cháu ta chán nản, coi khinh cả cha ông, tìm không được thì đổ tại mở cửa mạnh quá, nọc độc tư bản tràn vào. Ai dè cái thứ nọc độc đó lại do chính ta tự tiêm chích vào mình, tự bó mình để nên nông nỗi không có nhiều những sản phẩm tinh thần đáng để thưởng lãm, nuôi dưỡng tâm hồn, rèn đạo đức, lối sống đẹp đẽ cho dân chúng.

Nên người

Cũng không phải ta chưa từng nhận ra điều này. Những năm cuối 1980, khi mới đổi mới, văn hóa văn nghệ cũng đã từng được “cởi trói”. Rồi cánh cửa mới hé mở đã bị đóng sập lại (hình như có vài vị còn bị kẹp chân đau ra phết ấy chứ? Mà trí thức, văn, nghệ sĩ vốn nhạy cảm, nhút nhát. Hết cả hứng thú “thai nghén”). Rõ là ông nhà nước tính toán lại, muốn “mở” cái kinh tế đã, rồi văn hóa tinh thần thì tính sau.

Ấy vậy mà đã ngót 20 năm rồi. Vẫn còn sợ loạn nữa sao? Liệu ta có nhân lúc khó khăn về kinh tế toàn thế giới, mà ta có vùng vẫy mấy cũng khó thoát khỏi hệ quả từ mối ràng buộc chung trong thời hội nhập, để xem lại lối quản lý văn hóa tinh thần?

Nếu như có luật, hay chí ít là văn bản dưới luật, quy định rất chi tiết: thế nào là khiêu dâm, kích động bạo lực, chia rẽ dân tộc (cụ thể trong văn học, hội họa, điện ảnh…), v.v.., ngoài ra còn có hội đồng thẩm định những tác phẩm sau khi được lưu hành mà có dư luận phản ứng.

Cơ quan quản lý dựa trên phán quyết của hội đồng này mà đưa ra quyết định hành chính như phạt tiền, thu hồi; không còn theo kiểu một hai vị quan chức tự phán cho số kiếp một tác phẩm nghệ thuật, rồi ra lệnh miệng.

Tiếp nữa là có tòa án dân sự nếu ai muốn khởi kiện. Như vậy là có cái “lề đường bên phải” được vạch ra trong luật rất rõ ràng rồi, chứ không có chuyện chú cảnh sát giao thông tự vạch lề đường ở đây mỗi hôm mỗi kiểu, các văn nghệ sĩ cứ tha hồ sáng tác, xuất bản, lưu hành.

Nhất cử lưỡng tiện, lựa lúc khó khăn vật chất mà nới lỏng, chăm bẵm chút đời sống tinh thần, người dân sẽ đỡ cảm giác bức bối hơn.

Lại cũng là lúc thực trạng xã hội đã tới hồi báo động khẩn cấp về đạo đức, lối sống, loang ra đến cả quốc tế làm mất thể diện quốc gia rồi, không thể chậm trễ được nữa, phải đi tiếp một bước nữa trong đổi mới.

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả. Quý vị có ý kiến về bài viết này, xin gửi thư cho BBC ở địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk hoặc dùng hộp tiện ích bên phải.

Phản hồi của độc giả:

Minh
Đây là bài viết cho ta thấy được những nguyên nhân ảnh hưởng đến lối sống của người dân. Tôi tin rằng đây là một bài học mà các nhà ra chính sách nên học hỏi nếu muốn nước nhà phát triển. Đó là những bức tường ngăn cảcn sự tiến bộ,sự phát triển của con người.

Tôi có cảm giác rằng tư tưởng, tích cách của người dân ngay cả bản thân của tôi đã bị ảnh hưởng rất nhiều. Nó làm ta mất tự tin, e dè, không có động lực sáng tạo và không thể phát huy khả năng của mình. Đồng thời việc này cũng làm ảnh hưởng đến những phẩm chất cao quý, sinh ra những con người dã dối, chạy theo hình thức.

Linh
Đối với Đảng ta thì cái gì cũng là của Đảng cho, của Đảng ban tặng hết. Bởi vậy mới có câu: “Đảng cho ta rất nhiều”. Ngay cả cái quyền được làm việc hưởng công xứng đáng cũng được đảng sáng suốt ban tặng từ năm 1986; rồi quyền tự do mua bán cũng được Đảng cho luôn; sau đó là nhà tình thương, cứu trợ, quyền tự do đi lại, quyền ra nước ngoài học tập, quyền trao đổi mua bán với nước ngoài cũng được Đảng ban tặng một cách thông minh, sáng suốt. Phải nói là nhân dân biết ơn Đảng ta rất nhiều.

Ai mà làm điều gì mà Đảng chưa sáng suốt cho phép thì coi chừng đi tù đấy nhé. Mà tôi nói nhỏ cho mấy bác nghe nhé: Ở các nước khác, đâu cần Đảng phái nào cho đâu mà người ta cũng được có được mấy cái quyền này vậy.

HH
Một bài viết có thể nói là mang tính xây dựng hiếm có trên BBC mà tôi từng đọc. Bài viết rất hay, chỉ rõ được những yếu kém trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đặc biệt là về các ấn phẩm Văn hóa. Âu đây cũng là tàn dư của 1 thời kỳ “quá tả” để lại trong đầu óc của thế hệ các nhà lãnh đạo già cỗi.

Tôi thật sự tin rằng khi thế hệ lãnh đạo trẻ sau này lên tiếp quản đất nước, một thời kỳ đổi mới khôn ngoan hơn sẽ được thực hiện để cuộc sống tinh thần của người dân được thoáng hơn mà vẫn đảm bảo được an ninh chính trị. Xin cảm ơn bài viết xây dựng hiếm hoi của tác giả Vinh.

Giấu tên
Với một cái đất nước mà luật pháp tù mù như VN thì cái việc chỉ được phép làm những gì luật cho phép hay làm những gì pháp luật không cấm cũng thế thôi.

Vì cái đạo luật cao nhất, cao hơn cả Hiến pháp là cái “luật rừng” đã được thực thi từ bao lâu nay bởi nhà cầm quyền rồi.

Nguyên, Hà Nội
Theo cách suy luận của tác giả thì thả không chỉ gà mà cả vịt ra để nó dính H5N1 à? Chính tư bản bắt nhốt gà và vịt vào để tránh H5N1 đấy chứ.

Posted in Bài của Ba Sàm, Pháp luật, Văn hóa | Leave a Comment »

60:Cán cân quân sự giữa VN và TQ năm 1979

Posted by adminbasam trên 06/02/2009

Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Cán cân quân sự


giữa  Việt Nam và


Trung Quốc năm 1979


Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Hai lực lượng giao tranh trên vùng núi đá lởm chởm, không người ở, trong những điều kiện không thuận lợi của miền bắc Việt Nam là đối tượng của việc khảo sát rất kỹ lưỡng bởi các chuyên gia quân sự vào tuần trước.

Tại Washington, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập từ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã bắt đầu họp lại trong nhiều giờ về cuộc xâm lăng của Trung Quốc, đánh giá xem dữ liệu nào có thể thu được từ các thông báo chính thức của quân đội và bởi việc quan sát qua vệ tinh về quang cảnh trận đánh.

Tại Moscow, các chiến lược gia đã chú ý tới những mối liên hệ rộng lớn hơn của cuộc chiến. Quân Giải phóng Nhân dân [QGPND] TQ đang đánh nhau ra sao trong cuộc thử nghiệm chiến trận thực sự đầu tiên kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên cách đây gần 30 năm có thể cung cấp những manh mối về khả năng của họ chống lại quân đội Sô Viết trên vùng biên giới phía bắc Trung Quốc.

Trận tuyến được dàn ra để chống lại QGPND là một công cụ quân sự ghê gớm được tôi luyện của Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyến Giáp, người chiến thắng tại Điện Biên Phủ, mà các lực lượng của ông ta đã đánh bại quân đội của người Pháp và Mỹ trong hơn ba thập kỷ chiến đấu. Sức mạnh và những yếu kém của cả hai lực lượng, như đã được đánh giá bởi các nhà phân tích quân sự vào tuần trước, có vẻ như đang trong thế cân bằng mong manh.

Với 3,5 triệu người, đội quân đông nhất thế giới, Bắc Kinh có một lợi thế áp đảo về số lượng đối với 615.000 quân của Hà Nội. Trong một đòn tấn công trừng phạt có giới hạn, quân đội Trung Quốc chắc có lẻ đã không tung quá hơn 200.000 bộ đội, mặc dù những cánh quân trừ bị sẵn sàng của QGPND đang ở tại phía nam Trung Quốc vẫn đông đảo nếu như cuộc xung đột có thể lan rộng.

Hiện Trung Quốc có khoảng 1,6 triệu quân đóng dọc theo biên giới với Liên Xô – một lực lượng mà Bắc Kinh có thể quyết định tăng thêm nếu như Moscow gia tăng hành động chuẩn bị chiến đấu của đội quân 1 triệu người của họ trên vùng biên giới để đáp trả lại cơn khủng hoảng (tại biên giới Việt – Trung).

Một lợi thế chiến thuật thêm nữa cho QGPND là phần đông các lực lượng của Hà Nội đang bị mắc kẹt tại Cambodia và Lào và không thể di chuyển nhanh chóng tới tham chiến tại phía bắc.

Mặc dù người Trung Quốc không “bị đổ máu” qua kinh nghiệm chiến trường nào, song các nhà phân tích ở Ngũ Giác Đài tin rằng họ là những chiến binh giỏi. Một bộ đội của QGPND chưa từng đánh nhau, giống như người chỉ huy của anh ta, có thể háo hức hơn với trận mạc – và một cơ hội hiếm có để thăng chức. Kinh nghiệm mà người trưởng phòng hành quân các trận đánh của họ, Tướng Yang Teh-chin, 68 tuổi, đã thu được tại cuộc Chiến tranh Triều Tiên có thể đang dùng vào việc nâng cao niềm tin cho bính lính.

Việc tấn công trước cũng mang lại một lợi thế tinh thần nội tại. Tuy nhiên, QGPND đang bị khó khăn trong nhiều năm trời vì dính líu quá mức vào tình hình chính trị trong nội bộ Trung Quốc. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ khó khăn nhất của quân đội TQ là ngăn chặn các sự thái quá của cuộc Cách mạng Văn hóa.

Đối với quân đội Việt Nam, họ có được lợi thế từ thực tế rằng họ đang bảo vệ đất nước của họ chống lại một kẻ thù đáng ghét theo truyền thống lịch sử. Họ đã chứng tỏ là những bộ đội với sức mạnh bền bỉ không thể chối cãi. “Bây giờ vẫn còn quá sớm để nói quân đội nào có ưu thế hơn,” theo nhận xét của một chuyên gia Bộ Quốc phòng Hoa kỳ. “Nếu so sánh về tương quan giữa các cá nhân, thì cán cân kinh nghiệm sẽ nghiêng về phía Việt Nam.”

Nội có một ưu thế rõ ràng hơn hẳn Bắc Kinh trong các loại vũ khí tinh vi. Mặc dù cả hai lực lượng này đều đang chiến đấu với những vũ khí sản xuất tại Liên Xô hoặc với những phiên bản của Liên Xô, nhưng nhiều vũ khí của QGPND kiếm được từ trước cuộc xung đột chia rẽ Trung Quốc-Liên Xô vào những năm cuối 1950.

Người Việt Nam cũng có một số thiết bị thu giữ được của Mỹ, đáng chú ý là loại đại bác 177mm, có thể đè bẹp hỏa lực của bất cứ khẩu pháo nào trong kho vũ khí của Trung Quốc.

Một trong những vũ khí nổi tiếng và hiệu quả nhất của Hà Nội, mà người Mỹ từng được biết đến tại Khe Sanh, là trọng pháo 130mm. Theo lời một nhà phân tích quân sự tại Hong Kong: “Người Việt Nam ưa thích loại 130mm và thực sự biết cách sử dụng nó. Chắc chắn họ thích có tầm bắn xa hơn người Trung Quốc.”

Người Trung Quốc có khoảng 10.000 xe tăng, so với 900 chiếc của Việt Nam. Thế nhưng địa thế miền núi của cuộc chiến tuần qua đang ngăn chặn việc sử dụng các xe tăng trong ngoại trừ trong những tuyến đường rất chật hẹp, và loại xe tăng T-34 cũ kỹ của Trung Quốc là rất dễ bị tổn hại trước những tên lửa chống tăng Sagger vô cùng chính xách được Liên Xô cung cấp cho người Việt Nam trong ba năm qua. Quân đội Trung Quốc không có thứ gì có thể so sánh được với loại Sagger này. “Đây là một trong những khiếm khuyết lớn trong chiến trận mà họ đang cố hiệu chỉnh bằng cách mua những tên lửa (chống tăng) HOT từ người Pháp,” một chuyên gia của Hoa Kỳ lưu ý.

Không quân Việt Nam thua kém nhiều so với Trung Quốc về số lượng, song chất lượng thì lại cao hơn hẳn. Hà Nội có tất cả 300 chiến đấu cơ; khoảng 700 phi cơ của Trung Quốc thì đang trong tầm truy kích Việt Nam. Mặc dù, hầu hết trong số các máy bay sẵn sàng lâm trận là những chiếc MiG-17 và MiG-19 đã cổ lỗ, trong khi đón quân đội Việt Nam không chỉ có những chiếc MiG-21 tiên tiến hơn mà họ còn có cả những “chiến đấu cơ” F-5 chiếm được từ người Mỹ.

Quân đội Việt Nam cũng có một lợi thế trong tiếp viện và vận chuyển. Vì những thiếu hụt của xe tải và xe chở hàng, quân đội Trung Quốc theo tin tức cho hay đã phải chuyên chở một số hàng quân nhu với khu vực chiến sự bằng xe có ngựa kéo. Trong khi quân đội Trung Quốc di chuyển chủ yếu bằng đi bộ, thì các đơn vị của Việt Nam có nhiều phương tiện chuyên chở hiện đại, một số lượng lớn trong đó được tịch thu từ (sự bỏ lại của) quân đội Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, quân đội Trung Quốc có những phương tiện liên lạc chiến trường cổ lỗ; đôi lúc họ vẫn sử dụng người hoặc xe đạp. Người Việt Nam được trang bị điện đài và điện thoại dã chiến hiện đại, nhiều loại trong số đó được sản xuất tại Mỹ.

Mặc dù thế mạnh của Hà Nội là về kinh nghiệm, các loại vũ khí và hậu cần, song tinh thần chiến đấu thấp trong quân đội Việt Nam có thể làm cùn đi lợi thế của họ.

Tổn thất nặng nề ở Cambodia đã làm tổn hại ghê gớm ý chí chiến đấu của một số binh lính Việt Nam. Các tân binh đã hối lộ sĩ quan của mình để được về nhà.

Tỉ lệ vắng mặt không phép là rất cao đến nổi một quân lệnh được loan báo cho kế hoạch tái tổ chức hai năm để hợp nhất tốt hơn với các toán quân phía nam vốn bị mất tinh thần thành một lực lượng chiến đấu hăng hái hơn. Mao Trạch Đông có lẽ đã đúng khi ông ta nói, “Vũ khí là một yếu tố quan trọng trong chiến tranh song không phải là yếu tố quyết định; Chính con người, chứ không phải thứ gì khác, mới có tính chất quyết định.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


————————————————————————————-

TIME

———————————-

The Military Balance

Monday, Mar. 05, 1979

The two forces engaged on the rugged, inhospitable terrain of northern Viet Nam were the object of intense scrutiny by military analysts last week. In Washington, a task force raised from the U.S. intelligence community began meeting within hours of the Chinese invasion, evaluating what data could be obtained from military communiques and by satellite observation of the battle scene. In Moscow, strategists were equally attentive to the broader implications of the war. How well the People’s Liberation Army does in its first real combat test since the Korean War nearly 30 years ago could provide clues to its capability against Soviet armies on China’s northern border.

Arrayed against the PLA was a formidable military instrument forged by Defense Minister Vo Nguyen Giap, the conqueror of Dien Bien Phu, whose forces had defeated French and U.S. armies in more than three decades of fighting. The strengths and weaknesses of both forces, as evaluated by the analysts last week, appeared to be in delicate balance.

With 3.5 million men, the world’s largest standing army, Peking has an overwhelming numerical advantage over Hanoi’s 615,000 troops. In a limited punitive strike, the Chinese would probably not deploy more than 200,000 men, though the PLA’s available reserves in southern China are immense if the conflict should widen.

China currently has about 1.6 million men along the Soviet border—a force that Peking may decide to augment if Moscow raises the combat readiness of its own 1 million troops on the frontier in response to the crisis. One tactical plus for the PLA is that many of Hanoi’s forces are tied down in Cambodia or Laos and cannot be readily transferred to the war in the north.

Although the Chinese are not “blooded” by battle experience, Pentagon specialists believe that they are good fighters. The untried PLA soldier, like his commander, may be eager for combat—and a rare chance for promotion.

The experience that their operations chief, General Yang Teh-chin, 68, gained in the Korean War may have served to boost the troops’ confidence. Being on the attack also confers an intangible morale advantage. The PLA, however, is troubled by years of excessive involvement in China’s internal politics.

For a long time its most arduous duty has been curbing the excesses of the Cultural Revolution.

As for the Vietnamese, they benefit from the fact that they are defending their own country against a historically hated enemy. They are proven fighters with undeniable staying power. “It’s too early to tell who is better,” says a U.S. Defense Department expert. “Man for man, the weight of experience would be on the Vietnamese side.”

Hanoi has a clear superiority over Peking in sophisticated weaponry. Although both forces are fighting with arms made in the U.S.S.R. or with copies of Soviet models, many of the PLA’s weapons were acquired before the Sino-Soviet split in the late 1950s. The Vietnamese also have some captured American equipment, notably the 177-mm howitzer, which outguns any artillery piece in the Chinese inventory.

One of Hanoi’s favorite and most effective weapons, as Americans learned at Khe Sanh, is the 130-mm howitzer. Says one military analyst in Hong Kong: “The Vietnamese love the 130 and really know how to use it. They must love to have the Chinese outranged.”

The Chinese have about 10,000 tanks, compared to Viet Nam’s 900. But the mountainous terrain of last week’s fighting precludes the use of tanks except in very narrow corridors, and China’s aged T-34 tanks are vulnerable to the extremely accurate Sagger antitank missiles supplied to the Vietnamese by the Soviet Union in the past three years. The Chinese have nothing comparable to the Sagger. “This is one of their major combat deficiencies, which they are trying to correct by buying HOT (antitank) missiles from the French,” notes one U.S. expert.

The Vietnamese air force is vastly inferior to the Chinese in quantity, but the quality is vastly superior. Hanoi has 300 combat aircraft in all; about 700 Chinese planes are within striking range of Viet Nam. Most of those ready for combat, however, are outdated MiG-17s and MiG-19s, whereas the Vietnamese have not only the slightly more advanced MiG-21s but also the versatile F-5 “freedom fighters” captured from the Americans.

The Vietnamese also have an advantage in supply and transport. Because of shortages of trucks and freight cars, the Chinese are reported to have brought some supplies to the combat area by horse-drawn vehicles. While the Chinese army moves primarily on foot, the Vietnamese forces have plenty of modern transport, much of it seized from the U.S.

Army. The Chinese, moreover, have primitive battlefield communications; they still sometimes use runners and bicyclists. The Vietnamese are equipped with modern radio and field telephones, many of them American-made.

Despite Hanoi’s superiority in experience, weaponry and logistics, low morale in the Vietnamese forces could blunt their advantages. Heavy casualties in Cambodia have severely impaired some Vietnamese soldiers’ will to fight. Recruits have bribed their officers to let them return home.

The AWOL rate is so high that the army command has announced a two-year reorganization plan that will better integrate the demoralized southern troops into a more aggressive fighting force. Mao Tse-tung may have been right when he said, “Weapons are an important factor in war but not the decisive factor; it is people not things that are decisive.”

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 2 Comments »

59:Những thời buổi khó khăn cho chính quyền ở Hà Nội

Posted by adminbasam trên 05/02/2009


Nhớ những ngày này

cách đây 30 năm!


TIME

————————————————————————————————————

Những thời buổi khó


khăn cho chính quyền


ở Hà Nội


Thứ Hai, ngày 5-3-1979

Các nhà lãnh đạo ở Hà Nội vẫn thường khoác lác với những vị khách ngoại quốc có cảm tình với họ rằng dân chúng Việt Nam sẵn sàng “chịu đựng với tinh thần cống hiến.” Thế nhưng, những đoàn xe tải vào tuần trước chất đầy xác chết và người bị thương từ biên giới Trung Quốc và từ Cambodia trở về đã chứng tỏ rằng sức chịu đựng đó vẫn còn lâu mới vượt qua được. Một câu hỏi không được trả lời, và chắc có lẽ không thể được trả lời là mức độ cống hiến của 51 triệu công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn lại là bao nhiêu đối với một ban lãnh đạo không có khả năng tạo nên một đất nước ổn định và thịnh vượng thậm chí sau bốn năm tương đối hòa bình.

Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu ăn và thậm chí là nạn đói tràn lan khắp Việt Nam. Mức sản xuất nông nghiệp sụt giảm 15% vào năm 1978, trong khi những triển vọng cho năm nay là rất kém quá đến nỗi Hà Nội đã phải giảm định mức đánh giá cho vụ mùa so với các mục tiêu công bố ban đầu.

Tiếp theo sau nạn lụt lan rộng trên các đồng lúa vào tháng 9 năm 1978, khẩu phần lương thực bình quân đầu người đã bị cắt giảm từ 15 kg (33 lb) xuống còn 13kg. Với mức đó, những nông dân và công nhân bình thường chỉ được cấp phát hơn 0,9kg gạo chút xíu, gạo là món thực phẩm cơ bản hàng ngày của người Việt.

Đường, thịt và bột mì là thứ hiếm có và rất đắt đỏ. Các công nhân nhà máy đã trở nên mất khả năng lao động vì thiếu ăn và suy dinh dưỡng, theo các giám đốc phương Tây của những nhà máy do nước ngoài xây dựng cho biết.

Các cơn bão, hạn hán và những thảm hoạ thiên nhiên khác đã góp phần vào những vấn nạn nông nghiệp của Việt Nam, song sự bất tài của chính phủ đã là nguyên nhân chủ yếu. Những xáo trộn trong bộ máy quan liêu gây trở ngại cho việc gieo trồng các giống lúa mới có sức kháng cự tốt hơn với hạn hán, và việc phân phát thuốc trừ sâu trong những vùng bị tàn phá bởi các giống côn trùng gây hại đã bị đình hoãn. Sản lượng lúa gạo đang sút giảm trong vùng Châu thổ sông Mekong đã từng một thời thịnh vượng. Hà Nội trước đó đã loan báo rằng họ sẵn sàng trao đổi các loại hàng tiêu dùng như quạt máy chạy bằng điện để lấy gạo, hy vọng khuyến khích nông dân bán sản phẩm vụ mùa của họ cho chính phủ thay vì bán ra chợ đen. Khi chính phủ thất bại trong việc phân phát các hàng tiêu dùng như đã hứa, những người nông dân thất vọng bắt đầu sản xuất kém đi. Tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam, tờ Nhân Dân, đã than phiền rằng nhiều nông dân bỏ ruộng đồng không chịu cày cấy hoặc dùng gạo nấu rượu hoặc cho lợn ăn.

Cuộc sống đặc biệt khó khăn ở miền bắc. Các gia đình ở Hà Nội được cấp chỗ ở chỉ 7 mét vuông cho một người – xấp xỉ mức đề nghị được cấp cho những tù nhân trong trại tù liên bang Hoa Kỳ. Các công nhân trong công xưởng phải làm việc sáu ngày một tuần, và sử dụng ngày thứ bảy của tuần cho các cuộc hội họp chính trị hoặc “lao động tình nguyện” trong các dự án xây dựng. Xe hơi cá nhân không còn tồn tại nữa, và các phụ tùng thay thế cho xe đạp thì bị thiếu hụt. “Có sự bất mãn rất lớn,” một nhà ngoại giao ở Hà Nội nhận xét. “Dân chúng bắt đầu kêu ca ở những chốn riêng tư. Một trong những câu hỏi xì xào to nhỏ thường nghe được là một câu châm biếm: ‘Chúng ta đang làm cái quái gì ở Căm-pu-chia thế?’ “

Trong Nam vẫn còn tương đối khá thịnh vượng hơn. Phụ nữ vẫn mặc những chiếc áo dài màu sắc sáng sủa, tương phản với những chiếc quần dài đen và sơ mi trắng phù hợp cho cả nam lẫn nữ vẫn thường được mặc ở miền  Bắc. Thức ăn thì phần nào có sẵn sàng nhưng ít ai có đủ khả năng để mua, kể từ khi tỉ lệ lạm phát vượt trên 100% mỗi năm. Nhìn chung, kinh tế của miền nam đã phải chịu đựng quyết định từ bỏ “thương mại tư bản” và đưa vào sử dụng một loại tiền chung trong cả nước của Hà Nội vào năm ngoái (đổi tiền lần thứ 2 vào năm 1978). Công nghiệp ở miền Nam hiện đang chạy chậm lại ở mức độ chỉ vào khoảng 40% của mức khả năng của nó. Khoảng 20% trong 3 triệu cư dân Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) bị thất nghiệp. Thừa nhận rằng tình trạng quản lý tồi tệ lan rộng trong công nghiệp và nông nghiệp, báo Nhân Dân giải thích: “Trong những cuộc chiến đấu dài lâu chống chủ nghĩa đế quốc, chúng ta đã trở nên dạn dày trong đấu tranh chính trị và vũ trang và có kỹ năng tổ chức các trận đánh lớn. Thế nhưng chúng ta vẫn còn chưa quen thuộc với việc tổ chức sản xuất và kinh doanh trên quy mô lớn.”

Những vấn nạn kinh tế của Việt Nam đã gia tăng trầm trọng thêm đáng kể do việc đuổi 200.000 người Hoa trong chín tháng trước. Những người Hoa này đã trở thành mục tiêu bởi vì sự dính líu phổ biến và rộng rãi của họ trong thị trường chợ đen; thế nhưng họ tạo nên cả một tầng lớp thương lái chính ở Việt Nam. Họ kiểm soát việc buôn bán lúa gạo, các hải cảng lớn, các hệ thống phân phối và một số ngành công nghiệp chủ chốt – đáng chú ý là than đá.

300.000 người tị nạn đã và đang trốn thoát khỏi Việt Nam kể từ sự sụp đổ của chính quyền ông Thiệu năm 1975 cũng đã làm suy giảm nguồn nhân lực của đất nước này. Theo các giới chức tại Thái Lan và Hong Kong, nơi mà nhiều người tị nạn đã tới, các cán bộ Việt Nam đang kiếm lợi riêng từ cuộc di tản của những công dân nước họ những người tị nạn này đang tìm kiếm thức phẩm và tự do nơi xứ người. Sau khi phỏng vấn những người tị nạn, các nhân viên điều tra tin rằng có tới 50% số tiền mà những người tị nạn này trả để rời khỏi Việt Nam sau cùng đã rơi vào túi của các đảng viên Cộng sản địa phương. *

Theo những người tị nạn cho biết, một trong những thay đổi nổi bật nhất thấy rõ gần đây ở Việt Nam là khả năng tham nhũng của các cán bộ đảng cấp trung. Nhiệt tình cách mạng đã nhường chỗ cho một tâm trạng hoài nghi trước những vấn đề kinh tế của Việt Nam.

Các cán bộ Cộng sản tham nhũng đã tham gia vào thị trường chợ đen từng được điều hành bởi người Hoa. Tất cả các tuyến giao thông huyết mạch chính của vùng châu thổ Sông Hồng ở phía nam Hà Nội đều đặc trưng cho tình trạng “thả nổi thị trường” do những người Cộng sản điều hành cung cấp những hàng hóa bị ăn cắp từ các chuyến tàu biển hoặc trực tiếp từ các bến cảng ở Hải Phòng.

Lối tiêu xài đáng nghi ngờ giữa các cán bộ Cộng sản đã trở nên quá trắng trợn đến nỗi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thấy cần thiết phải phát ra một mệnh lệnh chung:

Vào thời điểm khi mà người dân tại một số vùng đang phải trải qua tình trạng thiếu thốn và đói kém, tuyệt đối cần thiết hạn chế tổ chức các lễ kỷ niệm và tiệc tùng hoang phí. Tất cả các ngành các cấp cần phải nêu cao tinh thần gương mẫu trong sản xuất kinh tế và một lối sống tiết kiệm tránh lãng phí.”


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* Theo tài liệu của Việt kiều, kể từ 1976, số người VN vượt biển Đông hàng tháng càng gia tăng, vài ngàn người mỗi tháng. Trại tị nạn đón nhận họ do LHQ thiết lập đóng ở  6  quốc gia đông nam á và Hồng Kong. Cho đến năm 1979, có khoảng 300.000 tị nạn Viết Nam đã rời khỏi Việt  Nam bằng thuyền.

Trên đường vượt thoát, người tị nạn gặp nhiều hiểm nguy kể cả mất mạng. Khi còn trong hải phận VN hoặc các bến cảng, họ có khả năng bị công an VN bắt bớ, bắn chìm tàu. Khi ra hải phận quốc tế, họ bị hải tặc Thái Lan, Mã Lai, bắn giết, cướp của, hãm hiếp, đánh chìm tàu, hoặc tàu bị đắm vì bị bão tố. Trung bình có vào khoảng 50-60% tàu cập bến các quốc gia Thái Lan, Mã Lai Á, Indonesia, Singapore, Hồng Kong, Philippines. Không may, có khoảng 40-50% số tàu thuyền của người tị nạn đã bị chìm trong biển Đông. Theo ước lượng có khoảng vài trăm ngàn người đã chết trên biển Đông và bị mất tích.

Thêm vào nhóm người tị nạn VN đó, trong năm 1978, nhà nước đánh tư sản và đuổi 200.000 người Hoa kiều ra khỏi VN; Hoa kiều được ra đi theo kiểu gọi là bán-chính-thức, đối nghịch với kiểu vượt biển ra đi của người VN là ra đi không chính thức, và ra đi theo chương trình ODP có thân nhân nước ngoài làm bảo lãnh để  rời khỏi VN bằng máy bay.  Người ra đi bán chính thức tự đóng tàu, hoặc mua tàu để đi. Theo đó, mỗi người ra đi phải đóng cho chính phủ VN 12 lượng vàng,  chính quyền địa phương nhận số vàng đó và cho họ lên các tàu đang đậu trong các bến cảng khắp các tỉnh miền nam. Nhân dịp nầy, rất nhiều gia đình VN cũng đã “đi ăn theo” diện bán-chính-thức.

Nhưng ra đi bán chính thức của người Hoa kiều hoặc ra đi theo kiểu trốn thoát của người Việt Nam có chuyến thành công, có chuyến không thành công. Những chuyến thành công là sau khi tàu đầy người, nhổ neo, chạy ra ngoài biển, và tới được bến bờ. Những chuyến đi không thành công thường là bị chìm tàu, mất vàng và bị bắt trở lại, hoặc bị chìm tàu vì bão tố. Chuyện khá phổ biến thường xẩy ra là do trong địa phương là  nhiều cán bộ bán bãi cho người tị nạn ra đi. Nhiều khi họ chia nhau số vàng đóng góp của người tị nạn không đều, nên tìm cách phá nhau để chứng tỏ họ có quyền hành hơn phe kia hoặc làm mất uy tín của nhau.  Theo đó, khi các tàu đầy người  vừa nhổ neo, ra khỏi bến, chạy chừng một đoạn thì bị chính quyền VN chặn bắt ở chỗ khác. Họ bị nhốt vào tù, nhiều gia đình mất sạch vàng. Gia đình nào còn có người thân bên ngoài, thì nhờ người thân lo lót tiền để ra khỏi tù. Sau đó, nếu còn khả năng thì người ấy cứ đóng thêm 12 lượng vàng và được lên một tàu khác. Nếu không còn khả năng tải chánh thì ở lại VN.

—————————–

TIME

———————————————————–

Hard Times for Hanoi

Monday, Mar. 05, 1979

Hanoi‘s leaders have often boasted to sympathetic foreign visitors that the Vietnamese people were willing to “suffer with dedication.” Last week truckloads of war-wounded and dead returning from the Chinese border and from Cambodia testified that the suffering was far from over. One unanswered, and perhaps unanswerable, question is how dedicated the 51 million citizens of the Vietnamese Socialist Republic remain to a leadership that has been unable to create a stable or prosperous country even after four years of relative peace.

Malnutrition and even hunger prevail throughout Viet Nam. Agricultural output declined 15% in 1978, while prospects for this year are so poor that Hanoi has already scaled down its crop estimates from the stated targets. Following widespread flooding of rice lands last September, the monthly ration of food per person was cut from 33 Ibs. to 29 Ibs. Of that, ordinary peasants and workers are allowed only a little over 2 Ibs. of rice, the staple of the Vietnamese diet.

Sugar, meat and flour are rare and prohibitively expensive. Factory workers have become inefficient because of malnutrition, according to the Western managers of foreign-built plants.

Typhoons, droughts and other natural disasters have contributed to Viet Nam’s agricultural problems, but government incompetence has been the principal cause. Bureaucratic foul-ups hindered the planting of new strains of rice that are more resistant to drought, and the distribution of pesticides in areas infested by plant pests has been delayed. Rice production is declining in the once prosperous Mekong Delta. Hanoi had announced that it was willing to trade consumer goods such as electric fans for rice, hoping to induce peasants to sell their crops to the government instead of on the black market. When the government failed to deliver the promised consumer goods, disappointed farmers began producing less. The Vietnamese party newspaper Nhan Dan has complained that many peasants leave paddyfields uncultivated or use rice to distill alcohol or feed pigs.

Life is especially hard in the north. Families in Hanoi are permitted only 75 sq. ft. of living space per person— roughly the recommended allowance for prisoners in U.S. federal penitentiaries. Factory hands must work six days a week, and spend the seventh at political meetings or on “volunteer” construction projects. Privately owned automobiles are all but nonexistent, and spare parts for bicycles are in short supply. “There is a great deal of unhappiness,” says a Hanoi-based diplomat. “People are starting to complain privately. One of the whispered questions heard most often is an ironic one: ‘What the hell are we doing in Cambodia?’ “

The south remains relatively more prosperous. Women there still wear the brightly colored ao dai, in contrast to the unisex black pants and white shirt commonly worn in the north. Food is somewhat more available but less affordable, since the inflation rate exceeds 100% a year. In general, the economy of the south has suffered from Hanoi’s abolition last year of “bourgeois trade” and the introduction of a uniform currency throughout the country. Southern industry is currently running at 40% of capacity. About one-fifth of the 3 million residents of Ho Chi Minh City (Saigon) are unemployed. Conceding widespread mismanagement of industry and agriculture, Nhan Dan explained: “In the long struggles against imperialism, we became well versed in political and armed struggles and skilled in organizing major battles. But we are still unfamiliar with the organization of large-scale production and business.”

Viet Nam‘s economic problems were greatly aggravated by the expulsion of 200,000 ethnic Chinese in the past nine months. The Chinese were targeted because of their wide spread involvement in the black market; but they constituted Viet Nam’s major entrepreneurial class. They managed the rice trade, the major ports, the distribution systems and several key industries—notably coal.

The 300,000 refugees who have fled Viet Nam since the fall of the Thieu government in 1975 have also cut into the country’s human resources. According to officials in Thailand and Hong Kong, where many of the refugees arrive, Vietnamese officials are privately profiting from the exodus of their citizens who are seeking food and freedom abroad. After interviewing refugees, investigators believe that as much as 50% of the money would-be refugees pay to leave Viet Nam ends up in the pockets of local Communists.

According to the refugees, one of the most striking recent changes apparent in Viet Nam is the corruptibility of middle-level party officials. Revolutionary zeal has given way to a cynical exploitation of Viet Nam’s economic problems. Corrupt Communist officials have moved into the black market trade once operated by the ethnic Chinese. All of the Red River delta’s major arteries south of Hanoi feature Communist-run “floating markets” that offer goods stolen from ships or directly off the docks at Haiphong. Conspicuous consumption among Communist officials has become so flagrant that Premier Pham Van Dong felt it necessary to issue a prevailing order: “At a time when the people in several areas are experiencing privations and hunger, it is absolutely necessary to refrain from organizing wasteful celebrations and feasts. All sectors and all levels should uphold an exemplary spirit by practicing economy in production and a way of life that avoids all waste.”

Posted in Quan hệ quốc tế, TQ xâm lược '79, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

56:Khóc vì sữa phải đổ đi ở Việt Nam

Posted by adminbasam trên 02/02/2009


Global Post

————————————————————————————————————

Khóc vì sữa phải


đổ đi ở Việt Nam

Vụ bê bối sữa nhiễm melamine của Trung Quốc đã chuyển sang những chiều hướng khó hiểu

Matt Steinglass – GlobalPost

Lên mạng ngày 29-1-2009

Cập nhật ngày 1-2-2009

PHÙ ĐỔNG, Việt Nam – Ông Hoàng Trọng Thuyên, 69 tuổi, đứng trên cái bình bằng inox đựng 2 tấn sữa với vẻ mặt dữ tợn.

“Nó đã nằm ở đây hai ngày rồi,” ông Thuyên nói. “Nếu như công ty sữa không tới mua vào ngày mai, thì chúng tôi sẽ phải đổ bỏ đi.”

Ông Thuyên là chủ nhiệm Hợp tác xã Thu mua Sữa Phù Đổng. Những người nông dân trong cái thị trấn nhỏ bé cách Hà Nội 10 dặm về phía đông nam này thông qua hợp tác xã để bán sữa của họ cho những công ty sữa lớn. Kể từ khi những nông dân ở đây bắt đầu tăng cường nuôi bò sữa vào những năm 1990, sữa đã đưa nhiều gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói và làm cho ông Thuyên trở thành một triệu phú.

Thế nhưng trong hai tháng qua, những nông dân ở Phù Đổng và một số địa phương sản xuất sữa khác trên khắp miền bắc Việt Nam đã và đang phải đổ bỏ sữa bò của mình xuống sông, suối, ruộng, và ra đường. Nhu cầu sữa sụt giảm đột ngột vào mùa thua năm ngoái, sau khi có những tin tức cho biết có một lượng lớn sữa tươi và sữa bột từ Trung Quốc bị hư hỏng do có chất hóa học công nghiệp melamine.

Vào tháng Chín, một lượng melamine rất nhỏ được phát hiện có trong sữa bán trên thị trường của Hanoimilk, một công ty sữa lớn của nhà nước chuyên trộn sữa tươi trong nước với sữa Trung Quốc nhập khẩu trong một vài sản phẩm của họ. Khi hải quan phát hiện ra, lượng sữa bán ra của Hanoimilk sụt giảm nhanh chóng, và công ty này đã cắt giảm một nửa hoặc quá nửa lượng sữa mua trong nước.

Các công ty sữa khác, những nơi chưa từng bị phát hiện sữa nhiễm độc qua kiểm nghiệm, đã phục hồi lượng tiêu thụ, và những người nông dân từng cung cấp sữa cho các công ty này đang làm ăn thuận lợi. Thế nhưng những nguồn cung cấp cho Hanoimilk lại bị mắc kẹt với lượng sữa dư thừa của mình.

“Lúc đầu nông dân chỉ biết đổ sữa ra đồng ngay cạnh trạm thu mua này, nhưng giờ thì họ phải đi tìm một con mương hay một cái ao để đổ,” ông Thuyên kể. “Nó đang làm ô nhiễm ruộng đồng.”

Người nông dân đang phải chịu hậu quả từ vụ bê bối melamine của Trung Quốc, mặc dù nông dân ở Việt Nam chưa từng sử dụng melamine. Lý do là sự thiếu tin cậy. Trong một quốc gia với tình trạng hàng giả lan rộng, những vụ tham nhũng là phổ biến, và báo chí thì thường không đáng tin cậy, nên công chúng Việt Nam không tin tưởng vào bất cứ ai đảm bảo với họ lần nữa rằng các sản phẩm của Hanoimilk là an toàn.

Sự thiếu tin tưởng vẫn tiếp tục tồn tại mặc dù chính phủ và các công ty sữa đã hướng dẫn một chiến dịch kiểm tra melamine đầy ấn tượng. Bắt đầu vào cuối tháng Chín, Bộ Công nghiệp [Công thương] đã tổ chức 15 đoàn và 22 phòng thí nghiệm tới toàn bộ các điểm bán lẻ sản phẩm sữa trên khắp cả nước. Chất melamine đã bị phát hiện trong một số sản phẩm sữa nhập khẩu từ Singapore, Australia và Trung Quốc, và các sản phẩm này đã bị thu hồi khỏi kệ hàng hóa. Báo chí tại đây đã đưa tin rộng rãi về việc thu hồi này.

Các công ty sữa trong đó có công ty Vinamilk của nhà nước và Dutch Lady của nước ngoài, một công ty con của Unilever, đã nhanh chóng đảm bảo rằng các nguồn cung cấp của họ đều không sử dụng melamine. Họ chưa từng phải giảm bớt lượng mua vào tại địa phương được khống chế bởi các hợp đồng dài hạn với các nông dân cá thể.

Nhưng nhiều nông dân bán hàng cho Hanoimilk đã không có các hợp đồng dài hạn. Đó là lý do chính làm cho họ đang phải chịu khốn khó, theo ông Raf Somers, một cố vấn của Dự án sản xuất Sữa của Bỉ tại Việt Nam. Dự án này, với nguồn viện trợ phát triển của chính phủ Bỉ, đã trợ giúp hiện đại hóa công nghiệp sữa của Việt Nam bằng việc thuyết phục các công ty như Vinamilk ký các hợp đồng dài hạn trực tiếp với các nông dân cá thể, hơn là cậy nhờ vào những người trung gian ví như ông Thuyên chủ nhiệm hợp tác xã.

“Theo những bài báo mà chúng tôi đã được đọc trong phần tin tức trong nước thì nông dân đã không có được một bản hợp đồng,” ông Somers cho biết. “Thực ra chỉ có một tỉ lệ nhỏ nông dân là không thể bán được sữa của họ.”

Theo ông Somers, các công ty sữa của Việt Nam đã đề nghị có những hợp đồng cá nhân với nông dân cốt để đảm bảo nguồn cung cấp cho riêng mình, họ đảm bảo với nông dân rằng sữa của họ sẽ được mua, và giám sát việc kiểm tra chất lượng. Trong hệ thống hợp tác xã trước đây, những người trung gian như ông Thuyên thực hiện việc kiểm soát chất lượng – kiểm nghiệm lượng protein trong sữa – và tiếp đến là cất trữ để bán cho các công ty sữa. Không có việc khuyến khích các nông dân cá thể nâng cao chất lượng, bởi vì sữa của họ sẽ được gộp vào với sữa của mọi nông dân khác trong làng.

“Đó thật sự là một vấn đề đối với chất lượng,” ông Somers nói. Các công ty như Vinamilk và Dutch Lady có thể đảo bảo rằng họ sẽ tự kiểm nghiệm sữa của nông dân bán cho mình. Và việc làm đó đang dần dần tạo dựng nên cho họ điều quý báu nhất cho tất cả các sản phẩm tại một thị trường đầy gian dối và dịch bệnh của Việt Nam này: đó là lòng tin.

Tại một siêu thị của Hà Nội, một số khách hàng đã cho biết là họ hiện giờ đang mua nhiều sữa hơn cả trước khi vụ bê bối melamine bộc phát. Thế nhưng họ đang mua sữa Vinamilk, hoặc các thương hiệu sữa nước ngoài như Dutch Lady và Milo của Nestle.

Nguyễn Ngọc Vân, đang đi mua hàng cho hai đứa con gái tuổi thiếu nên của mình, đã cho biết chị đang gắn bó với sữa Vinamilk kể từ khi đọc được những tin tức là sữa Hanoimlik đã bị phản ứng dương tính khi kiểm nghiệm melamine.

“Tôi chỉ là một người bình thường,” chị Vân nói, “Tôi không thể đảm bảo hoàn toàn là báo chí nói đúng sự thật.” Thế nhưng những đứa con chị đã dùng Vinamilk, và các báo cho biết là loại này an toàn.

Các quan chức Bộ Nông nghiệp [và Phát triển Nông thôn] đã phản ứng giận dữ trước các bài báo nói rằng sữa đang phải bán phá giá. Ông Hoàng Kim Giao, lãnh đạo Cục Vật nuôi [Cục Thú y] của bộ này, đã nói là ông coi chuyện bán phá giá này là một “tội ác”.

Vào giữa tháng Một, chính phủ đã triệu tập một cuộc họp giữa Hanoimilk và một số nhà chế biến sữa khác, và đã đạt được một thỏa thuận rằng Vinamilk và các công ty nhà nước khác sẽ mua hết toàn bộ sữa dư thừa trên cả nước.

Thế nhưng hoạt động ứng cứu có thể trở nên quá chậm đối với nhiều nông dân tại Phù Đổng. Thậm chí vài ngày sau thỏa thuận do chính phủ làm trung gian để mua hết số sữa dưa thừa được loan báo, một số nông dân ở khu vực Hà nội đã phải đổ hàng tấn sữa do quá thời hạn bán được.

Ông Thuyên chủ nhiệm hợp tác xã sữa cho biết chi phí cho việc nuôi một con bò sữa mỗi ngày hết khoảng 6 đô la, và hầu hết nông dân ở Phù Đổng đang trong tình trạng thua lỗ. Nếu như mọi việc không tiến triển sớm, ông nói, thì những nông dân nghèo của Phù Đổng sẽ chỉ còn một con đường là bỏ nghề.

“Họ phải bán bò đi,” ông Thuyên bảo. “Một con bò từng có giá trên 20 triệu đồng (1.200 đô la). Giờ thì chỉ được 7 triệu đồng (400 đô la). Nhiều người đã bán bò của mình đi rồi. Họ gửi bò của mình tới cho những người bán thịt.”


Hiệu đính: TBT Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

————————————————————————————————————————–

A Vietnamese farmer tends to a cow in a rice field in Ha Tay province, 14 miles south of Hanoi, Vietnam in 2006. (Nguyen Huy Kham/Reuters)

Global Post

——————————————————————————-

Crying over spilled milk in Vietnam

China’s melamine scandal moves in mysterious ways.

By Matt Steinglass – GlobalPost

Published: January 29, 2009 17:12 ET
Updated: February 1, 2009 08:41 ET

PHU DONG, Vietnam — Hoan Trong Thuyen, 69, stood over the 2-ton stainless steel milk storage vat with a grim expression.

“It’s been here two days already,” Thuyen said. “If the dairy company doesn’t come to buy it tomorrow, we’ll have to pour it out.”

Thuyen is the chairman of the Phu Dong Dairy Collective. Farmers in this small town 10 miles southeast of Hanoi use the collective to sell their milk to large dairy companies. Since farmers here began raising dairy cows in the 1990s, milk has lifted dozens of families out of poverty and made Thuyen a millionaire.

But for the past two months, farmers in Phu Dong and some other dairy regions across northern Vietnam have been pouring their cows’ milk away — in streams and rivers, on fields and roads. Demand for milk fell sharply in Vietnam last fall, after reports that vast quantities of fresh and powdered milk from China were tainted with the industrial chemical melamine.

In September, tiny amounts of melamine turned up in milk marketed by Hanoimilk, a large state-owned dairy company that mixed fresh local milk with imported Chinese milk in some of its brands. When customers found out, Hanoimilk’s sales plummeted, and it cut its local milk purchases by half or more.

Other milk companies, whose milk never tested positive, have seen demand recover, and farmers who supplied milk to those companies are doing well. But Hanoimilk’s suppliers were stuck with their surpluses.

“At first the farmers just poured it out in the field next to the collection station here, but now they have to go find a stream or a pond,” Thuyen said. “It was polluting the field.”

The farmers are suffering the consequences of the Chinese melamine scandal, even though farmers in Vietnam have never used melamine. The reason is lack of trust. In a country where counterfeit goods are widespread, corruption scandals are common, and the press is often unreliable, the Vietnamese public does not trust anyone to assure them that Hanoimilk products are safe again.

The lack of trust persists even though the government and dairy companies have conducted an impressive melamine inspection campaign. Beginning in late September, the Ministry of Industry organized 15 teams and 22 laboratories to go through the country’s entire retail supply of dairy products. Melamine was found in several dairy products imported from Singapore, Australia and China, and they were pulled from the shelves. The press here reported widely on the recalls.

Dairy companies including state-owned Vinamilk and foreign-owned Dutch Lady, a Unilever subsidiary, quickly ensured that their suppliers were not using melamine. They never reduced their local purchasing levels, which are governed by long-term contracts with individual farmers.

But many of Hanoimilk’s farmers had no long-term contracts. That is the main reason they are suffering, according to Raf Somers, an adviser with the Vietnam Belgium Dairy Project. The project, funded with Belgian government development aid, has helped modernize the Vietnamese dairy industry by convincing companies like Vinamilk to sign long-term contracts directly with individual farmers, rather than relying on intermediaries such as dairy collective chairman Thuyen.

“The stories that we’ve seen in the local news are farmers that did not have a contract,” Somers said. “It’s only a really small percentage of the farmers that cannot sell their milk.”

Somers said Vietnamese dairy companies had moved to individual contracts with farmers in order to guarantee their own supplies, guarantee to farmers that their milk would be bought, and to oversee quality testing. In the old collective system, intermediaries like Thuyen do quality control — testing milk for protein content — and then store it for sale to dairy companies. There is no incentive for individual farmers to improve quality, because their milk will be lumped in with that of every other farmer in the village.

“It is really a matter of quality,” Somers said. Companies like Vinamilk and Dutch Lady can guarantee that they test their farmers’ milk themselves. And that is gradually building them the most precious of all commodities in Vietnam’s deception-plagued market: trust.

At one Hanoi supermarket, several customers said they were now buying as much milk as they had before the melamine scandal started. But they are buying Vinamilk, or foreign brands such as Dutch Lady and Nestle’s Milo.

Nguyen Ngoc Van, shopping for her two teenage daughters, said she was sticking to Vinamilk since seeing the news that Hanoimilk had tested positive for melamine.

“I’m just a regular person,” Van said. “I can’t be completely sure that the media are telling the truth.” But her children are used to Vinamilk, and the newspapers say it is safe.

Agriculture Ministry officials reacted angrily to media reports of milk dumping. Hoang Kim Giao, head of the ministry’s Livestock Department, said he considered the dumping a “crime.”

In mid-January, the government convened a meeting between Hanoimilk and several other dairy processers, and secured an agreement that Vinamilk and other state-owned companies will buy up all of the surplus milk in the country.

But the rescue operation may come too late for many farmers in Phu Dong. Even several days after the government-brokered agreement to buy up surplus milk was announced, some farmers in the Hanoi area were forced to dump tons of milk that had passed the sell-by date.

Dairy collective chairman Thuyen said it costs about $6 a day to feed a dairy cow, and most farmers in Phu Dong are operating at a loss. If things do not improve soon, he said, Phu Dong’s poorer farmers would only have one way out.

“They have to sell the cow,” Thuyen said. “A cow used to cost over 20 million dong ($1200). Now it’s just 7 million ($400). A lot of people have sold their cows already. They sent their cows to the butcher.”

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

54:For Which It Stands-Việt Nam

Posted by adminbasam trên 01/02/2009


Global Post

————————————————————————————————————

For Which It Stands

C.M. Sennott – GlobalPost

Ngày 19-1-2009

GlobalPost tự hào được giới thiệu bản tường trình đặc biệt này, “… For Which It Stands.” Từ mọi ngóc ngách của thế giới, hơn 40 thông tín viên và những người phụ trách trang của GlobalPost đã đóng góp vào gần 50 câu chuyện được xây dựng quanh chỉ một câu hỏi: Tư tưởng của nước Mỹ có ý nghĩa gì đối với thế giới? Hướng dẫn này sẽ giúp bạn tìm ra con đường của mình qua hàng loạt câu chuyện, khởi đầu với những giới thiệu và dẫn dắt của chúng tôi thông qua lời thề trong vai trò một tổng thống của Tổng thống Barack Obama – một sự kiện được quảng bá như là buổi lễ nhậm chức có tính chất toàn cầu đầu tiên. Chúng tôi sẽ bổ sung vào loạt bài trong mục này trong vòng 100 ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống Obama, điều mà ông đã gọi là một “cơ hội để khởi động lại hình ảnh của nước Mỹ trên thế giới.” Trong thời gian này, chúng tôi muốn biết những gì mà bạn nghĩ rằng nước Mỹ có ý nghĩa thế nào với thế giới, cũng như thế giới có ý nghĩa thế nào với nước Mỹ. Để đưa lên những lời bình, xin mời truy cập vào đây. Để biện hộ cho những lập luận ngắn gọn của riêng mình chia sẻ với trang web này, xin gửi một thư điện tử theo địa chỉ editors@globalpost.com.

Việt Nam

Hoa Kỳ và Việt Nam cùng tham gia vào một cuộc chiến, một tương lai đầy hy vọng và một chút thái độ hoài nghi.

Matt Steinglass – GlobalPost

Lên mạng ngày 19-1-2009

Cập nhật ngày 24-1-2009

HÀ NỘI, Việt Nam – Họ đã căm ghét những người Mỹ.

Một bức ảnh nổi tiếng từ những năm chiến tranh cho thấy những dòng chữ “Giết Mỹ” được khắc vào trong một thân cây dọc Đường mòn Hồ Chí Minh như là lời mở đầu của những người đang yêu nhau. Những phi công Mỹ bị bắn rơi đã bị những đám đông thường dân giận dữ đánh đập. Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Bảo Ninh, “Nỗi buồn Chiến tranh,” người cựu quân nhân Bắc Việt Nam này đã viết về các đồng đội của mình bị ma ám bởi những giấc mơ về những người lính Mỹ gốc Phi lang thang trong rừng rậm, về những nữ chiến sĩ bị hãm hiếp rồi bị giết bởi các toán lính Mỹ, về những dân thường bị giết hại trong các cuộc ném bom rải thảm của phi cơ B-52.

Đã 33 năm kể từ khi Bắc Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc chiến, và nhà văn Bảo Ninh, 57 tuổi, đã nói rằng lòng căm thù đã được lãng quên từ lâu.

“Thời gian là phép mầu chữa lành mọi vết thương tinh thần,” ông Ninh nói.

Ngày nay, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Nike và Intel nằm trong số những hãng sử dụng lao động lớn của nước này. Những chiến hạm của Hoa Kỳ ghé thăm các hải cảng Việt Nam, và các vị lãnh đạo nhà nước Việt Nam dành những chuyến viếng thăm thường lệ tới Washington. USAID [United States Agency for International Development-Cơ quan Phát triển Quốc tế /Cơ quan Nhân đạo của Hoa Kỳ] chi hàng triệu đô la mỗi năm để giúp Việt Nam chiến đấu với dịch bệnh AIDS. Những bộ phim của Hollywood lôi cuốn đủ các thành phần khán giả vào các khu buôn bán giải trí mới mở của Sài Gòn, và các nhãn hiệu “Made in Vietnam” xắp thành từng dãy trên các kệ của những chuỗi cửa hàng ở New York. Tại Hồ Hoàn Kiếm ở trung tâm Hà Nội, những khuôn mặt ân cần của hai cụ già từ trên các tấm biển quảng cáo đang ngó xuống: một bên là nhà lãnh đạo Cộng sản Hồ Chí Minh. Còn bên kia là ngài Đại tá Sanders của hãng Kentucky Fried Chicken.

Hoa Kỳ và Việt Nam giờ đây là những người bạn thận trọng, lôi cuốn lẫn nhau trong 15 năm qua bởi một điểm tụ hội lạ kỳ của nỗi luyến tiếc quá khứ, bởi kinh tế và lợi ích chiến lược riêng. Thế nhưng khi Barack Obama nhậm chức ở Washington, mối quan hệ này sẽ được thử nghiệm.

Trên một số vấn đề – hợp tác quân sự, tự do chính trị – Hoa Kỳ muốn Hà Nội tiến nhanh hơn những gì mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã được chuẩn bị. Trên những vấn đề khác – gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, bù lại sức mạnh đang tăng lên của Trung Quốc – Việt Nam có thể muốn Hoa Kỳ làm nhiều hơn là một đất nước đã bị yếu đi do suy thoái và một lực lượng quân sự đã vươn quá xa những gì mình có thể.

“Dân chúng Việt Nam nghĩ rằng chúng tôi cần phải ngả về phía Hoa Kỳ, để làm đối trọng với Trung Quốc,” theo nhận định của nhà phê bình văn học thuộc hàng gai góc, ông Phạm Xuân Nguyên, 53 tuổi. Thế nhưng “Hoa Kỳ có vẻ không còn là một quốc gia mạnh mẽ như năm 2000. Dường như Hoa Kỳ không dám tin vào sức mạnh của chính mình.”

Việc nối lại mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia bắt đầu vào những năm đầu 1990 sau sự sụp đổ của Liên Xô. Hoa Kỳ đã cố gắng tìm kiếm các bạn hữu và đối tác thương mại trong số các quốc gia thành viên cựu Sô Viết. Ban lãnh đạo Hoa Kỳ đã kinh qua thế hệ phất lên của những đứa con cưng với lý lịch chính trị được rèn dũa trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Các cựu binh ở Việt Nam như Thượng nghị sĩ John F. Kerry và John McCain, mỗi người đều có những cam kết nặng về tình cảm rằng sẽ khép lại trang sử của cuộc chiến, và đã đóng những vai trò then chốt trong việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại từ lâu đối với Việt Nam và bình thường hóa các mối quan hệ vào năm 1995.

Về phía Việt Nam, sự sụp đổ của Liên Xô có nghĩa là sẽ mất đi sự bảo trợ của một siêu cường. Với sự chấm dứt trợ giúp từ Moscow, đất nước bị bần cùng hóa và cô lập này đã buộc phải mở cánh cửa kinh tế của mình. Về mặt chính trị, những nhà lãnh đạo mới năng động như Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó đã làm mũi nhọn đi đầu cho một nỗ lực chung nhằm tái kết nối với thế giới không cộng sản, song lại phải đối mặt với biểu hiện đối kháng của những phe nhóm bảo thủ. Mối quan hệ thành công với Mỹ, cùng với những năm tháng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, đã giúp cho ông Kiệt giành được thắng lợi trước những thái độ không đồng tình đó.

Năm 2000, Tổng thống Bill Clinton đã viếng thăm Hà Nội và đã gặp những đám đông dân chúng nhiệt tình tự nguyện chào đón. Đó dường như là hình ảnh vị tổng thống Mỹ tượng trưng sự giải thoát cho đất nước khỏi cô lập và nghèo đói từ những năm 1980.

Hiệp ước Thương mại Song phương Hoa Kỳ-Việt Nam mà ông Clinton đã ký kết vào năm đó đã làm bàn đạp khởi động cho tám năm tăng trưởng kinh tế ngoạn mục. Vào khoảng năm 2004, xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng vọt từ 50 triệu đô la lên hơn 2 tỉ đô la một năm. Trong lĩnh vực hàng hóa quần áo, giày dép và đồ gỗ, câu chuyện cũng tương tự, khi người tiêu dùng Hoa Kỳ đã giúp đưa hàng chục triệu người Việt Nam thoát khỏi cảnh nghèo đói.

Thế nhưng sự thành công to lớn của nền kinh tế hướng vào xuất khẩu của Việt Nam – với 70% GDP đến từ xuất khẩu – đã phơi bày bản chất của nó trước cú sốc suy thoái kinh tế tại Hoa Kỳ. Vào đầu tháng Một, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi các doanh nghiệp hãy quay lại tập trung vào thị trường nội địa.

“Nền kinh tế của Việt Nam rất dễ bị tổn thương,” đó là nhận xét của ông Nguyễn Quang A, một trong những kinh tế gia hàng đầu của nước này. “Trong tương lai Việt Nam cần phải nhấn mạnh vào xuất khẩu sang các thị trường khác như Trung Quốc, Phi châu, Trung Đông và Đông nam Á.”

Ngoài việc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của mình, Hoa Kỳ còn tác động với tư duy kinh tế của Việt Nam. Một thế hệ mới các kinh tế gia Việt Nam, mà nhiều người đã được đào tạo tại các trường đại học của Mỹ qua các nguồn tài trợ từ chương trình Fulbrright hay Quỹ Giáo dục Việt Nam, đã thúc đẩy cho một nền kinh tế ít tập trung vào nhà nước hơn và cho những cải cách về luật thương mại và cai trị tập thể.

Thế nhưng những ảnh hưởng đó vẫn có những hạn chế của nó, ông Quang A nhận định.

“Việt Nam có thể học hỏi từ mô hình kinh tế Hoa Kỳ trong những vấn đề như tính minh bạch, cạnh tranh, giảm bớt chủ nghĩa bảo hộ, cai trị cập thể, và những cơ chế để phát hiện những hành vi sai trái,” kinh tế gia này nhận xét. “Khía cạnh mà Việt Nam cần phải tránh là chính phủ cần có một vai trò tốt hơn trong điều hành kinh tế.”

Chính phủ Việt Nam can thiệp quá sâu vào lĩnh vực ngân hàng, và trợ giúp các ngành công nghiệp chiến lược với các công ty lớn của nhà nước, chẳng hạn như ngành đóng tàu. Mô hình của nó tương tự với các chính sách công nghiệp được nhà nước phối hợp từng thành công ở Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan. Hoa Kỳ nhìn chung giữ quan điểm về một nền kinh tế ít có sự can can thiệp của nhà nước, song những can thiệp ào ạt của bản thân chính phủ trong những tháng gần đây đã làm vẩn đục hình ảnh đó.

Một lĩnh vực mà Việt Nam đánh giá cao ở Mỹ vốn chưa từng suy suyển là về khả năng quân sự. Thế nhưng quan điểm của họ đối với khả năng đó đã thay đổi liên quan tới những hoàn cảnh.

Khi còn là một đứa trẻ lên 10 vào năm 1965, nhà phê bình văn học Nguyên đã theo dõi những phi công Mỹ bị bắt được dẫn giải qua làng của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

“Nhận thức hàng ngày về nước Mỹ là một trong những bom đạn, giết hại, chết chóc, đổ máu, hủy diệt,” ông Nguyên kể lại.

Mới đây hơn, người Việt Nam đã phản đối mạnh hành động can thiệp bằng quân sự của Mỹ ở Iraq, thứ mà họ nhận thấy quen thuộc với cảm giác khó chịu.

“Tôi đã lấy làm ngạc nhiên khi nhận ra là các chính quyền Mỹ trên thực tế vẫn hoàn toàn không thay đổi những quan điểm của họ, thậm chí sau Cuộc chiến Việt Nam,” nhà văn Bảo Ninh nhận định.

Giống như ông Ninh, hầu hết người Việt Nam nhìn chính quyền Bush với cái nhìn tiêu cực, bất chấp những tiến triển trong quan hệ song phương trong tám năm qua và những giúp đỡ của chính quyền này cho việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam và việc trúng cử vào chiếc ghế luân phiên trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

Việc thắng cử của ông Barack Obama đã phát ra một tinh thần nhiệt tình có mức độ ở Việt Nam, và một số người hy vọng cho một chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đa phương hơn. Nhưng các doanh gia Việt Nam cũng lo ngại một chính quyền của đảng Dân chủ có thể sẽ quay lại với chủ nghĩa bảo hộ để bảo vệ cho công ăn việc làm trong khu vực sản xuất của Mỹ, gây tổn hại cho xuất khẩu của Việt Nam.

Hầu hết người Việt Nam nghĩ rằng việc cải thiện mối quan hệ Việt Nam- Mỹ là không thể tránh khỏi, mà không quan tâm tới việc ai sẽ là ông chủ Tòa Bạch Ốc. Cả hai nước đều cần nhau để làm đối trọng với Trung Quốc, và người Việt Nam thừa nhận rằng những chiếc giày quần vợt giá rẻ mà họ sản xuất cho hãng Nike, và những chiếc Boeing 777 mà hãng Vietnam Airlines mua, phải đem lại lợi ích cho Hoa Kỳ nhiều như những gì họ làm cho Việt Nam.

Còn như những người đang hy vọng cho một sự thay đổi kịch tính trong chính sách của Mỹ, như nhà văn Bảo Ninh, thì lại cảm thấy hoài nghi.

“Chúng tôi đã nghe những người Mỹ nói nhiều về những thứ tốt đẹp và đúng đắn, đặc biệt trong các cuộc bầu cử tổng thống,” ông Ninh nói. “Thế nhưng hãy xem những gì họ đang làm trong năm 2009.”

Hiệu đính: TBT Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————————————————

Global Post

————–

For Which It Stands

By C.M. Sennott – GlobalPost

Published: January 11, 2009 17:41 ET
Updated: January 19, 2009 20:39 ET

GlobalPost is proud to offer this special report, “… For Which It Stands.” From every corner of the world, more than 40 GlobalPost correspondents and columnists have contributed nearly 50 stories built around a single question: What does the idea of America mean to the world? This guide will help you navigate the series, which begins with our launch and runs through President Barack Obama’s swearing in as president — an event billed as the first global inauguration. We will add to the series in the first 100 days of the Obama presidency, what he has called a “chance to reboot America’s image around the world.” During this time, we want to know what you think America means to the world, and also what the world means to America. To post commments register here. To submit your own brief essay to share on the site send an e-mail to editors @ globalpost.com.

Vietnam

The U.S. and Vietnam share a war, a hopeful future and a touch of skepticism.

By Matt Steinglass – GlobalPost

Published: January 19, 2009 19:12 ET
Updated: January 24, 2009 08:16 ET

HANOI, Vietnam — They hated the Americans.

A famous photograph from the war years shows the words “Giet My” — Kill America — carved into a tree along the Ho Chi Minh Trail like lovers’ initials. Downed U.S. pilots were beaten by crowds of furious civilians. In Bao Ninh’s celebrated novel, “The Sorrow of War,” the former North Vietnamese soldier wrote of comrades haunted by visions of African-American GIs roaming the jungle, of female soldiers raped and killed by American troops, of civilians killed in B-52 bombing raids.

It has been 33 years since North Vietnam won the war, and Bao Ninh, now 57, said the hatred is long forgotten.

“Time is a miracle that heals all spiritual wounds,” said Ninh.

Today, the U.S. is Vietnam’s biggest export market. Nike and Intel are among the country’s major employers. U.S. warships call at Vietnamese ports, and Vietnamese heads of state pay regular visits to Washington. USAID spends tens of millions of dollars a year to help Vietnam fight AIDS. Hollywood movies pack the multiplexes in Saigon’s new shopping malls, and “Made in Vietnam” labels line the racks at chain stores in New York. At Hoan Kiem Lake in central Hanoi, the kindly faces of two white-bearded men gaze down from billboards: on one side, Communist leader Ho Chi Minh. On the other, Kentucky Fried Chicken’s Colonel Sanders.

The U.S. and Vietnam are now wary friends, drawn together the past 15 years by a strange confluence of nostalgia, economics and strategic self-interest. But as Barack Obama takes office in Washington, the relationship will be tested.

On some issues — military cooperation, political liberalization — the U.S. wants Hanoi to move faster than the Vietnamese Communist Party is prepared to. On other issues — boosting demand for Vietnamese exports, offsetting growing Chinese power — Vietnam may want the U.S. to do more than a country weakened by recession and military overreach can.

“Vietnamese people think that we should lean to the U.S. side, to counterbalance China,” said literary critic and gadfly Pham Xuan Nguyen, 53. But “the U.S. seems not to be as strong a country as it was in 2000. It seems the U.S. doesn’t dare believe in its own strength.”

The rapprochement between the two countries began in the early 1990s after the collapse of the Soviet Union. The U.S. sought friends and commercial partners among former Soviet client states. U.S. leadership had passed to the baby boom generation, whose political identities were forged in the Vietnam War. Vietnam veterans such as Sens. John F. Kerry and John McCain, each with strong sentimental commitments to closing the book on the war, played key roles in lifting the longstanding commercial embargo of Vietnam and normalizing relations in 1995.

On the Vietnamese side, the fall of the Soviet Union meant the loss of its superpower patron. With the end of support from Moscow, the impoverished, isolated country was forced to open its economy. On the political side, dynamic new leaders like then-Prime Minister Vo Van Kiet spearheaded a broad effort to reconnect with the non-Communist world, but faced resistance from conservative factions. The successful American relationship, along with years of strong economic growth, helped Kiet win that argument.

In 2000, President Bill Clinton visited Hanoi and was met by throngs of spontaneous, cheering well-wishers. It was as if the American president symbolized the country’s escape from the isolation and poverty of the 1980s.

The U.S.-Vietnam Bilateral Trade Agreement Clinton signed that year kick-started eight years of spectacular economic growth. By 2004, Vietnamese seafood exports to the US had jumped from $50 million to over $2 billion a year. In garments, footwear and wood products, the story was the same, as U.S. consumers helped lift tens of millions of Vietnamese out of poverty.

But the very success of Vietnam’s export-oriented economy — 70 percent of its GDP comes from exports — has exposed it to the shock of the economic recession in the U.S. In early January, Prime Minister Nguyen Tan Dung called for businesses to refocus on the domestic market.

“Vietnam’s economy is very vulnerable,” said Nguyen Quang A, one of the country’s leading economists. “In the future Vietnam should emphasize exports to other markets like China, Africa, the Middle East and Southeast Asia.”

Besides being its largest export market, the U.S. has influenced Vietnamese economic thinking. A new generation of Vietnamese economists, many trained at American universities on grants from the Fulbright program or the Vietnam Education Fund, have pushed for a less state-centered economy and for reforms in commercial law and corporate governance.

But such influence has its limits, says Quang A.

“Vietnam can learn from the U.S’.s economic model in areas like transparency, competitiveness, reducing protectionism, corporate governance, and mechanisms to discover wrongdoing,” the economist said. “The aspect Vietnam should avoid is that the government should have a better role in running the economy.”

Vietnam’s government intervenes heavily in its banking sector, and supports strategic industries with huge state-owned companies, like shipbuilding. Its model resembles the state-co ordinated industrial policies that were successful in Japan, South Korea and Taiwan. The U.S. has generally stood for a more laissez-faire economic philosophy, but its own massive government interventions in recent months have muddied that image.

One area where Vietnamese respect for America has never wavered is military prowess. But their attitude towards that prowess has shifted with circumstances.

As a 10-year-old boy in 1965, literary critic Nguyen watched captured American pilots being paraded through his village in Ha Tinh province.

“The daily perception of the U.S. was one of bombs, killing, death, bleeding, extermination,” Nguyen said.

More recently, the Vietnamese overwhelmingly opposed America’s military intervention in Iraq, which they found uncomfortably familiar.

“I was surprised to find American administrations in fact had not changed their views at all, even after the Vietnam War,” said Bao Ninh.

Like Ninh, most Vietnamese view the Bush administration negatively, despite the improvement in bilateral relations over the past eight years and Bush’s support for Vietnam’s accession to the World Trade Organization and its election to a rotating seat on the UN Security Council.

The election of Barack Obama has generated a modest level of enthusiasm in Vietnam, and some hope for a more multilateral U.S. foreign policy. But Vietnamese businesses also fear a Democratic administration may turn to protectionism to preserve American manufacturing jobs, hurting Vietnamese exports.

Most Vietnamese think an improving Vietnamese-American relationship is inevitable, regardless of who is in the White House. Both sides need each other to counterbalance China, and Vietnamese assume that the cheap sneakers they produce for Nike, and the Boeing 777s Vietnam Airlines buys, must benefit the U.S. as much as they do Vietnam.

As for those who are hoping for a dramatic shift in American policy, they, like Bao Ninh, are skeptical.

“We have heard Americans say lots of right and good things, especially in the presidential elections,” Ninh said. “But let’s see what they are doing in 2009.”

Posted in Kinh tế Việt Nam, Quan hệ quốc tế, Đảng/Nhà nước | 16 Comments »

 
%d người thích bài này: