BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Mười Một, 2007

Biến báo

Được đăng bởi adminbasam trên 30/11/2007

Biến báo

(Công văn gửi các ban nghành đoàn thể-Trích)

“… Xin gửi các đồng chí bản lược dịch một đoạn nhật ký của một tay ‘Tây ba lô’ mà một gai* của ta đã bố trí xoáy được (thủ thuật độc đáo này nằm trong chiến lược điều tra thị trường áp dụng cho toàn nghành), để góp phần nắm rõ tình hình chính trị tư tưởng của khách hàng.

Hội Lim

… Rất nhiều cảnh lạ mắt diễn lại đời sống văn hóa thời xưa. Gần chục nam thanh nữ tú trình diễn những màn tạp kỹ thật là điệu nghệ. Họ đứng ngồi trên cái thuyền gỗ bé tí tẹo, bơi trong cái ao cũng bé tẹo. Chắc là ao nông nên họ không sợ. Họ vừa hát vừa biểu diễn xiếc ngả mũ nhận tiền của các diễn viên đóng giả khách ở trên bờ ném xuống (rất khó, thế mà vẫn miệng hát, miệng cười tươi). Có cô vừa hát rất đúng điệu, mắt đong đưa rõ duyên, tay cầm mi-cờ-rô mà tay kia vẫn lia lịa chộp tiền đang bay lượn, mà thuyền vẫn không chòng chành mới lạ. Chứng tỏ một dân tộc thật là ‘khéo tay hay làm’ …

Dạo phố

… Các em bé đi theo rất đông. Họ thật là mến khách, lại còn đưa mời, dúi vào tận tay nhiều kỷ vật. Mình không dám nhận vì nghĩ thật tội cho họ, đã nghèo mà lại còn biếu tặng nữa …

Về vệ sinh môi trường, họ cũng có những cách rất độc đáo, không máy móc như ta, là rác rưởi cứ phải vứt vào một chỗ cố định. Ở đây thì tiện đâu vứt đấy thôi, rồi lâu lâu có những nhân viên chuyên nghiệp đi xe đạp hoặc mang quang gánh đi thu dọn, đồng thời tiến hành phân loại ngay tại chỗ luôn; thứ rác nào họ phụ trách thì mới gom, còn thì để lại cho nhân viên khác (tính chuyên môn hóa cực cao) …

Lễ hội Tây Nguyên


… Nhiều cô gái múa các điệu múa dân tộc thật là dẻo. Nhưng sao các cô ấy trắng trẻo mũm mĩm, nét mặt rất khác với các cô đeo gùi ốm o đi ngoài đường. Hỏi anh chàng gai thì mới vỡ lẽ là ở xứ này họ đã có từ rất lâu những trường đào tạo nghệ sĩ múa truyền thống chuyên nghiệp giành riêng cho con em các dân tộc (nên các cô ấy suốt ngày ăn với múa thì mới trắng trẻo nõn nà đến thế chứ) … Ôi, tự dưng mình có cảm giác xao xuyến lạ, con tim mình nó bị làm sao rồi đây … Mảnh đất tươi đẹp này sẽ giữ chân mình mãi mãi hay sao ?

Hướng dẫn viên

… Họ có những phương pháp truyền thụ kiến thức rất đặc biệt, không nói nhiều như ở các nước, mà để khách tự tìm hiểu, bí quá thì phải hỏi. Thái độ họ rất nghiêm nghị, để cho “học sinh” phải cố gắng hơn trong việc tìm tòi kiến thức …

Cảnh sát

Họ thật là tôn trọng người nước ngoài. Khi cái gã xe ôm chở mình đâm vào một bà già, hắn sợ mặt tái xanh, nhưng anh cảnh sát nhìn mình rồi múa tay múa gậy cái gì mình không hiểu, mình hỏi lại thì anh ta không nói gì mà xua xua tay cho xe mình đi luôn, lại còn ‘chào’ với theo mỗi một từ là ‘gâu’, ‘gâu’ … mới vui chứ (hú vía, phải vào đồn thì lỡ cả chuyến du lịch rồi. Chắc họ sẽ gửi cái giấy phạt sang tận nhà cho mình. Thật là văn minh kinh khủng) …

Còn nhiều lắm … Nhưng qua đây để các đồng chí thấy là bọn tây nhiều khi cũng rất ngô nghê (cái lợi của sự khác biệt văn hóa là ở chỗ đó). Nên ta phải biết giàu trí sáng tạo hơn nữa bằng quán triệt phương châm ‘tay không bắt giặc’, ‘chuyển bại thành thắng’, nhiều khi là ‘hại bất cập lợi’, không nên quá bi quan mỗi khi báo cáo, kêu ca tình hình văn hóa, du lịch thế này thế nọ làm ảnh hưởng đến thu nhập địa phương …”

Ba Sàm

—-

* Gai: Hướng dẫn viên du lịch

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 44/2006)

Posted in Bài của Ba Sàm, Gia đình/Xã hội, Văn hóa | 1 Comment »

Văn hóa quản lý trong quản lý văn hóa

Được đăng bởi adminbasam trên 28/11/2007

Văn hóa quản lý trong quản lý văn hóa


Nguyễn Hữu Vinh

“Những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”, “những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần”*, nói như vậy có lẽ vẫn chưa đủ cho khái niệm về những “đối tượng” trong nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hóa ở đất nước này. Sẽ còn có tất cả những sản vật của tạo hóa góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của con người. Thêm nữa, còn bao gồm hết thảy những ai tham gia vào các hoạt động văn hóa nữa. Từ đây ta có thể hình dung ra công việc “quản lý văn hóa” của cơ quan chức năng khó khăn, trừu tượng tới mức nào, và làm sao cho người cán bộ quản lý trong mọi hành xử, quyết định của mình đều có được một “trình độ cao, biểu hiện văn minh”* – tạm gọi đó như là cái “văn hóa quản lý”.

Khi anh cảnh sát giao thông với súng bắn tốc độ trong tay, thật dễ dàng xác định chiếc xe chạy quá nhanh để thổi còi phạt. Còn người quản lý văn hóa khi nhìn nhận một bức tranh khỏa thân, một bức ảnh nuy liệu có dễ dàng phân định được cái ranh giới giữa nghệ thuật đích thực với mức độ “vi phạm thuần phong mỹ tục”, “khiêu dâm” không? Hay trong quyết định xử lý của mình sẽ có đầy những dấu hiệu chủ quan, cảm tình, cảm tính?

Đến như một tang vật để kết tội một bị cáo trước tòa, vị quan tòa cũng đâu có thể một mình khẳng định nó là chứng cứ chắc chắn, mà cần phải có hàng loạt hoạt động tố tụng, từ khâu thu thập, bảo quản, cho đến giám định hết sức nghiêm cẩn. Thế nên với một cuốn tiểu thuyết, làm sao có thể dễ đánh giá nó là “độc hại”, kích động bạo lực, hay xuyên tạc gì gì đó…, một khi chưa có sự thẩm định công khai của ít ra là một hội đồng nghệ thuật khách quan, có uy tín, chứ không phải bởi một vài cán bộ quản lý, dù có chức quyền tới đâu. Những khó khăn cho người quản lý ở đây thậm chí còn có thể đẩy họ tới việc sử dụng những lý do có tính biến báo nhỏ nhặt, mơ hồ, thiếu tính thuyết phục khác. Và thế là lại đụng tới cái “văn hóa quản lý” – không những không góp phần nâng đỡ, phát triển mà thậm chí còn vùi dập những con người tài năng đầy nhạy cảm và hoạt động sáng tạo rất cần sự khích lệ cảm hứng.

Một học viên cảnh sát không thể ra đường tự thực tập bắn súng, bắt bớ, khám xét. Thế nhưng vấn đề lại khác hẳn với những học viên trường nghệ thuật một khi muốn cọ sát với thực tế. Người quản lý văn hóa có nghĩ tới đời sống vật chất eo hẹp của họ, có thấy nhu cầu văn hóa đại chúng, có chịu nhìn nhận về điều kiện dạy và học thiếu thốn khó khăn tới mức nào… hay chỉ thấy chút mặt trái của cuộc sống có thể liên hệ nào đó tới họ khi va chạm với xã hội.

Một tòa nhà xây trái quy định, bị “cắt ngọn” đi, thậm chí đập bỏ, thật là đơn giản. Thế nhưng một bức tường thành xưa, một bức tranh cổ quý giá được phục chế sai lạc hẳn với vẻ ban đầu của nó thì quả là một tai họa không thể nào cứu vãn nổi. Tệ hơn nữa như với Hòn Vọng phu, sản phẩm vô giá của tạo hóa bị đập đi, tiếp đến cái gọi là “phục chế” thật sự là một hành vi lú lẫn phản văn hóa. Những người cán bộ quản lý văn hóa luôn phải trực diện với những thách thức như vậy của lịch sử. Họ có đủ thẩm quyền, nhưng còn kiến thức pháp luật, và ý thức tới đâu rằng mình có đủ không vốn văn hóa, cái tầm viễn kiến, hay chí ít là chịu lắng nghe để đưa ra quyết định mà không gây phản tác dụng, tàn phá chính những gì mình đang có nhiệm vụ bảo vệ?

… Tất cả những kinh nghiệm va vấp ấu trĩ, hành xử thô bạo trong mọi hoạt động quản lý văn hóa là nhiều không thể kể hết. Hiện trạng xuống cấp, nghèo nàn, méo mó của môi trường văn hóa không thể thiếu nguyên nhân từ đó. Nó còn cho ta thấy ngoài những đòi hỏi phù hợp pháp lý trong một môi trường với hàng đống văn bản pháp luật còn sơ sài, chung chung, chồng chéo thì còn cả sự có hay không tính hợp lý, hợp đạo lý đầy tinh tế nữa. Chưa kể tính hai mặt – tốt/xấu, hay/dở – của mỗi hành vi cũng rất cần những người “cầm cân nảy mực” trong môi trường văn hóa biết cân nhắc trong sự công tâm, cầu thị, am hiểu. 

Từ đây có thêm một dấu hỏi, là phải chăng cái khái niệm “quản lý văn hóa” đã mang một hàm ý vừa hẹp vừa cứng nhắc cũ kỹ cho một công việc hệ trọng là gìn giữ, phát huy vốn văn hóa của dân tộc và nhân loại? Nó cần được thay thế, ví như bằng cụm từ “phát triển văn hóa” chẳng hạn.

—-
* “Văn hóa”: Từ điển tiếng Việt, NXB Đà nẵng-Trung tâm Từ điển học, 1997; Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, 1998.

(Tạp chí Tia Sáng – số 14/2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Dân chủ/Nhân Quyền, Văn hóa | 4 Comments »

Bịt mắt bắt sâu

Được đăng bởi adminbasam trên 20/11/2007

Bịt mắt bắt sâu *


Con: con chào bố, chào cả nhà …

Bố: vui thế, điểm 10 nữa hả ?

Con: còn gấp nghìn lần điểm 10 ấy chứ ạ …

Bố: chà … chà … được đi báo cáo thành tích chứ gì ?

Con: không … mà là ngược lại đấy bố ạ. Tức là giờ người ta phát động “tuyên chiến với bệnh thành tích” này, rồi “nói không với gian dối trong thi cử” nữa. Như vậy là con vừa không phải “cá mè một lứa” với mấy đứa chuyên quay cóp, mà bọn con cũng chả phải báo cáo thành tích học tập, thầy cô cũng đỡ đi thi “giáo viên giỏi” cấp nọ cấp kia, phát mệt.

Bố: vớ vẩn ! Tất cả chỉ như trò “vạch là tìm sâu”. Chả đi đến đâu.

Con: bố bi quan quá …

Bố: chúng mày ngây thơ quá đi thì có. Cái trò gian dối, thành tích này có mới mẻ gì đâu, có phải chưa phát động phát đậy đâu. Rồi thì đâu lại hoàn đấy thôi … Vẫn muốn cãi à ? … Thế thì bây giờ tao hỏi thế này thôi nhá. Là có bao nhiêu cái trò gian dối trong dạy, trong học ? “Bệnh thành tích” nó gồm những cái gì, có rõ ràng không hay là mờ mờ ảo ảo, đầy dẫy ra đấy ? Có cái luật nào để mà “tuyên chiến” với nó không, hay chỉ hô khẩu hiệu cái mồm ? Rồi tại sao lại sinh ra những trò gian dối này, “thành tích” này … ? Đủ thứ tệ nạn trong giáo dục ấy chứ.

Con: … nhưng chúng con là trẻ con thì làm sao mà biết được …

Bố: đấy, rõ là khó chưa ? Làm sao dễ thấy được hết những cái căn nguyên của nó. Chẳng khác gì cái cây, nó có cái cành bị sâu đục thân mục ruỗng ra, thấy lá héo úa, thế là lăn vào nhặt mấy con sâu vớ vẩn trên lá thôi, chả giải quyết được gì.

Con: bố nói nghe cũng hay đấy. Thế thì phải làm thế nào ạ ?

Bố: chả làm thế nào cả.

Con: … à, con nghĩ ra rồi ! Chỉ có cách là ta chặt béng nó … cả cái cây đi, giồng cây khác là xong …

Bố: ừ … nhưng mà mày chặt cái cành sâu … của mày thôi chứ. Chứ chặt cả cây thì … mày chặt cả tao … tao ở cái cành khác mà … ?

Con: vâng ! … Sâu nó từ đấy sang mà. Từ cành của bố, cành của mẹ, từ nhiều cành lắm … từ tận gốc lên nữa đấy bố ạ.

Bố: …

Ba Sàm

.—

* Từ nhiều cành lắm (Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 37-2006);  *(Diễn Đàn – ngày 24/11/2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Giáo dục | Leave a Comment »

Đầu tư… từ đâu ?

Được đăng bởi adminbasam trên 09/11/2007

Đầu tư… từ đâu ?

.

Ngót năm mươi tỉ đô la FDI đang “xếp hàng” chờ vào Việt Nam. Đó có lẽ là con số ấn tượng dễ thấy nhất cho thành quả của gần một năm hội nhập-vào WTO. Nhưng, cũng tựa như một căn nhà vừa được mở rộng cửa chào đón khách bốn phương, rất cần biết nó đang được chuẩn bị những gì, có dọn dẹp vệ sinh, khơi thông lối ngõ, thay đổi cung cách phục vụ… để đảm bảo có tất cả đúng như lời hứa của chủ và những hy vọng của khách. Nếu không thì những nhà đầu tư cũng sẽ như đại đa số du khách, háo hức, đến, rồi “một đi không trở lại”. Với “ngôi nhà” này, có rất nhiều việc để chuẩn bị, từ chống tham nhũng, cải cách hành chính, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống luật pháp… cho đến những việc dài hơi hơn là cải cách giáo dục, bảo vệ môi trường. Tựu trung trong mọi biện pháp đều phải từ một vấn đề gốc rễ, đó là sự tham gia của người dân, là lợi ích dân sinh, chứ hoàn toàn không thể là chuyện riêng của nhà nước, cho nhà nước. Nếu thiếu những điều đó thì thành quả đạt được chắc chắn chỉ là trước mắt, nặng về hình thức, mà tiềm ẩn những thất bại lớn khó cứu vãn.

1. Thách thức

  • Tai nạn giao thông cướp đi một nghìn nhân mạng và hàng nghìn phế nhân mỗi tháng, cùng với nó là tình trạng ách tắc giao thông đô thị, qua bao nhiêu đợt “ra quân”, bao biện pháp tình thế tạm bợ hòng cứu vãn vẫn không chịu thuyên giảm [1] .
  • Nạn ô nhiễm, tàn phá môi trường, vệ sinh thực phẩm kém ảnh hưởng sức khỏe người dân và ngấm ngầm hủy hoại giống nòi vẫn tiếp tục gia tăng. Đợt lũ lụt dài và gây tổn thất chưa từng có vừa qua là một trong những lời cảnh báo của thiên nhiên.
  • Chính sách đất đai bất hợp lý tạo ra cơ hội và nguồn thu lớn nhất cho tham nhũng, gây vẩn đục môi trường đầu tư, kinh doanh, trong khi những cố gắng chống tham nhũng vẫn có vẻ dậm chân tại chỗ, với rất nhiều hiện tượng, trong đó tình trạng khiếu kiện ngày một gia tăng là minh chứng rõ nhất và cũng gây hậu quả lớn và phức tạp nhất.
  • Tình trạng quản lý lỏng lẻo trong quy hoạch đô thị và xây dựng làm cho hệ thống giao thông, hạ tầng cơ sở phục vụ đầu tư vẫn trì trệ, vừa là hậu quả của tệ tham nhũng, của thói vô trách nhiệm, nhưng cũng vừa là hệ quả của tình trạng yếu kém trong hệ thống pháp luật. Hàng ngàn vạn căn nhà xây trái phép, đất bị lấn chiếm phải hoặc không thể bị đập bỏ, thu hồi. Vụ PMU18 cho tới thảm họa cầu Cần Thơ gần đây cũng chỉ là những bề nổi dễ thấy.
  • Tay nghề yếu, thu nhập thấp, đời sống khổ cực của công nhân trong nhiều nhà máy, khu công nghiệp cùng hàng trăm vụ đình công mỗi năm mà tuyệt đại đa số là không đúng pháp luật, nhưng cũng lại hầu như không có tiếng nói bảo vệ của tổ chức công đoàn là câu trả lời cho những cứu cánh từ sức hấp dẫn về giá nhân công rẻ cho đầu tư, từ cố gắng dựa vào hội, công đoàn “nhà nước” và hệ thống luật liên quan như Luật Lao động, Luật về Hội, Luật Đình công… vừa thiếu vừa bất hợp lý không thể tồn tại lâu được nữa.

Đó là điểm qua vài nét điển hình nhất để tạm hình dung hình ảnh được tạo ra trong con mắt nhà đầu tư đã, hay sắp, đặt hy vọng sinh lời vào những đồng đô-la của mình sẽ ra sao. Có thể ta cảm thấy bất lực nếu như phải một lúc đối mặt với từng đó vấn nạn, từng đó thời gian mà mọi sự dường như có chiều hướng xấu thêm. Chưa kể đến việc hầu như mọi quyết định, chính sách đưa ra đều có hai mặt của nó. Như việc quy định đội mũ bảo hiểm, nếu thực hiện được chắc chắn sẽ giảm bớt thương tật trong tai nạn giao thông, nhưng bởi gấp gáp thi hành mà thiếu những giải pháp từng bước, đồng bộ nên độ khả thi chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng; doanh nghiệp mũ bảo hiểm trong nước thì mất cơ hội, ngược lại doanh nghiệp nước ngoài lại vớ bẫm, thậm chí gây nhiễu loạn thị trường, hạ thấp tính nghiêm minh của pháp luật bằng sản phẩm kém chất lượng. Hay việc khuyến khích những khoản đầu tư chóng sinh lời như lắp ráp xe máy, ô tô giá rẻ nếu không được cân nhắc đến vấn đề môi trường, tai nạn, ùn tắc giao thông đang là vấn đề vô phương cứu vãn nhiều năm nay, cao hơn là chiến lược công hiệp hoá hiện đại hoá đất nước (chứ không phải để thành một đại công trường gia công cho nước ngoài) thì cũng sẽ gây phản tác dụng.

2. Lối thoát
Song không phải không có lối thoát, cũng không phải chỉ có nhà nước mới có khả năng và trách nhiệm để điều chỉnh mọi chính sách sao cho hợp lý. “Lối thoát” đó chính là ở DÂN. Vì đã quá rõ những trì trệ nêu trên là hậu quả của năng lực, phẩm chất kém từ bộ máy điều hành các cấp, nhưng lại tránh né sự kiểm soát của công luận, ắt sẽ trầm trọng thêm. Người dân phải được tham gia tích cực, chủ động hơn vào mọi chính sách quan trọng của nhà nước. “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” không thể chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền, mà muốn được như vậy, trước hết phải tạo ra được môi trường pháp lý lành mạnh để người dân có được quyền lợi, trách nhiệm thực sự trong vai trò làm chủ của mình như Hiến pháp đã khẳng định. Đơn cử:

  • Luật Trưng cầu dân ý [2] là để lấy ý kiến nhân dân về những quyết định quan trọng của nhà nước. Không biết được dân có đồng tình hay không mà cứ làm thì sẽ gây nhiều hậu quả (chỉ thông qua báo chí, hay qua “triển lãm” lấy ý kiến dân chưa thể đầy đủ, khách quan và có sức mạnh, cả sự tôn trọng. Việc lấy ý kiến xây Tòa nhà Quốc hội là một ví dụ).
  • Luật Biểu tình có rất nhiều ý nghĩa. Ngay lúc này, nó có thể là một công cụ hữu hiệu đấu tranh với vấn nạn tham nhũng mà nhà nước đang rất lúng túng đối phó. Xưa từng có bao cuộc biểu tình, tuần hành chống ngoại xâm, sao nay dân ta không được làm như vậy với lũ nội xâm? Hay như tình trạng khiếu kiện về đất đai kéo dài gần đây, thực chất là người nông dân kéo lên thành phố biểu tình. Đó chính là “thước đo” cho chính sách, luật pháp,… Nếu như có luật để điều chỉnh cho những hành vi này thì sẽ dễ dàng hơn trong việc giải quyết, xử lý mâu thuẫn, kể cả mâu thuẫn trong chính sách cán bộ khiến khó xử lý những cấp thẩm quyền tham nhũng, vô trách nhiệm, nay cần dựa vào sự đánh giá qua thái độ của dân.
  • Ngoài những hoạt động có tính cá nhân đơn lẻ, người dân còn cần và có thể quy tụ trong những đoàn thể quần chúng dưới nhiều hình thức đa dạng, đó là những tổ chức hội, và rất cần có Luật cho nó. Thông qua những tổ chức này, mọi người dân, các tầng lớp doanh nhân, trí thức… có điều kiện nói lên tiếng nói của mình, đòi được bảo vệ quyền lợi cho mình, đóng góp ý kiến thiết thực, có trọng lượng cho mọi chính sách, pháp luật của nhà nước.
  • Thêm nữa, một khi những mâu thuẫn về quyền lợi trong nhân dân không được giải quyết thỏa đáng, sinh ra khiếu kiện chính là gánh nặng đè thêm lên bộ máy hành chính nhà nước, trong khi trách nhiệm giải quyết những việc làm sai trái của họ lại không thể là chính họ, mà phải là hệ thống toà án. Thế nhưng, bằng thực trạng toà lệ thuộc vào cấp ủy, cấp hành chính, thiếu khách quan như hiện nay, mà ví dụ điển hình nhất là vụ án đất đai Đồ Sơn-Hải Phòng, đã không thể gánh vác được nhiệm vụ ngày càng nặng nề này, cần phải được cải tổ (trước hết bằng thành lập toà án khu vực). Nên việc sửa đổi Hiến pháp để rồi mới sửa được và cũng là tạo áp lực để sửa căn bản các Luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát v.v.. là vô cùng quan trọng.

Còn rất nhiều những ví dụ để minh chứng cho việc cấp thiết phải có các bộ luật liên quan trực tiếp tới đời sống dân sinh, cũng là sự hỗ trợ mạnh mẽ cho một môi trường đầu tư lành mạnh, bền vững lâu dài.

3. Trở ngại
Thế nhưng dường như đã có những “tiếng kèn ngập ngừng” khó lý giải, đặc biệt “tiếng kèn” này lại nhắm vào đúng cái chính sách mà Đảng, nhà nước Việt Nam thường nêu cao, đó là “lấy dân làm gốc”.

  • Cuối nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, dự Luật về Hội đáng lẽ đã được đem ra bàn thảo, thông qua sau hơn chục lần chỉnh sửa, thế nhưng đã bị đình hoãn mà người dân không hay biết vì sao.
    Mới đây, Chính phủ lại tiếp tục đề nghị Quốc hội lui thời hạn thông qua dự luật này cùng dự luật Dân tộc [3] .
  • Dự Luật Biểu tình, dự luật Giám sát của nhân dân do Mặt trận Tổ quốc đề nghị cũng vừa bị Uỷ ban Pháp luật bác bỏ mà không rõ lý do [4] .
  • Dự Luật Trưng cầu dân ý cũng chịu chung số phận.
  • Nếu như không có sự trì hoãn trong cả thời gian dài đến kỳ lạ việc trình dự thảo Luật Thuế sử dụng đất [5] (mặc dù đã có Nghị quyết Trung ương 7 đặt nhiệm vụ rất rõ) thì chắc chắn sẽ giảm rất nhiều tình trạng chiếm dụng, đầu cơ đất đai, là thứ đã góp phần đáng kể gây nên cảnh bất công, nông dân mất đất để rồi sinh khiếu kiện, đẩy giá đất, nhà cho thuê lên cao đến phi lý cản trở nhiều các nhà đầu tư, chưa nói tới những mất mát tài sản quốc gia vô cùng lớn, cùng bao nhiêu hệ luỵ khác. Vấn đề rất hiển nhiên về thuế sử dụng đất này cũng đã từng được chuyên gia nước ngoài dày công nghiên cứu và cảnh báo [6] , những ý kiến rất có trọng lượng và trách nhiệm trong nước kiên trì đề nghị, vậy mà không rõ vì lý do gì vẫn tiếp tục bị trì hoãn [7] / [8] .
  • Lớn nhất là Hiến pháp, cũng đã có quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là không sửa trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 12 này [9] mà lý do đưa ra cũng thật khó thuyết phục. Đó là phải chờ tới 4 năm nữa để Đại hội đảng CSVN khoá XI sửa Cương lĩnh. Lý do này gây ra một nghịch lý, là trước những thay đổi nhanh chóng khủng khiếp từng ngày trên thế giới mà Việt Nam vừa mới bước vào hội nhập, cùng bao nhiêu khó khăn thách thức ghê gớm trong đời sống nhân dân cả nước, vậy mà tất cả phải đợi chờ. Không lẽ Đảng CSVN không có được một bước đột phá để khỏi tự mình trở thành lực cản không thể vượt qua cho công cuộc đổi mới mà chính mình đang lãnh đạo? (Ví như có Đại hội bất thường để sửa Cương lĩnh chẳng hạn, nếu như thực sự đúng là “phải sửa”). Trong khi đó vẫn có rất nhiều ý kiến mạnh mẽ của các chuyên gia, các vị từng là lãnh đạo các bộ Tư pháp [10] , Tài nguyên Môi trường, hay đương nhiệm đứng đầu Mặt trận Tổ quốc, Hội Luật gia, các Ủy ban của Quốc hội đề nghị phải sớm có, phải sửa đổi hệ thống Hiến pháp và những bộ luật này.

4. Căn nguyên
Bấy nhiêu liệu đã đủ để nói rằng vẫn còn đó những lối tư duy cũ kỹ, e ngại việc phát huy dân chủ, sớm hoàn thiện một Nhà nước pháp quyền sẽ khó cho công việc “quản lý” của các cấp hành chính, cấp ủy Đảng. Kể cả hy vọng vẫn còn có thể duy trì những bước đi quanh quẩn, với cứu cánh bằng hoạt động tuyên truyền, động viên là có thể “giải toả” được những vướng mắc, bức xúc trong dân chúng, vận động được đầu tư trong ngoài nước. Hay bằng “giáo dục, thuyết phục”, hô hào rồi thử nghiệm bằng vài giải pháp tạm bợ để “cải cách” là sẽ nâng cao được đạo đức, ý thức trách nhiệm của cán bộ đảng viên mà không cần phải có những Tòa Hành chính, Kinh tế, Dân sự khu vực công minh hơn buộc những “công bộc” này phải đối mặt trước những việc làm sai trái tổn hại quyền lợi của dân. Thậm chí có thể có cả những lo lắng quá mức khi có những ý kiến động tới “vùng cấm” là Điều 4 Hiến pháp [11] ? Bỏ nó “là tự sát” [12] , vậy có thể sửa cho phù hợp với tình hình thực tế trước những đòi hỏi cấp bách của cuộc sống được chăng, và có công khai bàn bạc được không? Chẳng phải năm 1992 chính Quốc hội khóa IX đã sửa Điều 4 Hiến pháp 1980 đó sao? Bởi vì nếu không được quy định trong Hiến pháp thì việc “luật hóa” tổ chức, hoạt động và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng trở nên cấp thiết cũng sẽ khó có thể thực hiện, và đương nhiên mối quan hệ, lòng tin của dân với Đảng CSVN sẽ không những không được cải thiện mà còn xấu thêm.

Nhưng, gắn liền và lẩn khuất sau những e ngại đó không thể không có những toan tính cá nhân, cục bộ liên quan tới trách nhiệm, đến quyền lợi vật chất, tinh thần của nhiều người. Gọi đó là trò “tham ô chính sách” hết sức tinh vi (tác động để đưa ra những điều khoản trong hệ thống luật hòng tạo kẽ hở cho tham nhũng, hoặc cản trở những điều khoản, dự luật nào có thể giúp tăng hiệu năng kiểm soát của xã hội) – mà lâu nay chưa bị vạch mặt, đang là một mối nguy rất lớn hủy hoạt uy tín, sức mạnh của Đảng CSVN, đến vận mệnh của cả Dân tộc.

Làm sao để nhận diện rõ những khoảng tranh tối tranh sáng đó? Không cách gì hơn là bằng việc mở rộng quyền tự do ngôn luận, báo chí, công khai hoá tất cả những vấn đề trọng đại của quốc kế dân sinh để cùng bàn bạc dân chủ – từ trong Đảng ra tới toàn xã hội.

Có vậy thì mới hy vọng mọi sự đầu tư, dù là từ trong hay ngoài nước, bằng tiền của, hay công sức, trí tuệ, tinh thần,… tất thảy sẽ thực sự được bắt đầu và trên hết từ lợi ích, sự đồng thuận của DÂN.

© 2007 talawas


[1]“Số người chết vì tai nạn giao thông tăng”, báo Quân đội Nhân dân, ngày 6-6-2007
[2]“Cần xây dựng Luật Trưng cầu dân ý”, Tuổi trẻ, ngày 12-10-2007  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/223959/Can-xay-dung-Luat-trung-cau-dan-y.html

http://phapluattp.vn/20100814012257716p0c1013/nha-nuoc-nhan-phan-kho-de-dan-duoc-thuan-loi.htm
[3]“Ủy ban Pháp luật kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và xây dựng cơ chế bảo hiến”, Đại Đoàn kết, ngày 28-9-2007
[4]Bài đã dẫn
[5]“Quản lý đất đai ‘chồng’ &’trống’”, Đặng Hùng Võ, Nhà Quản lý, số 52-tháng 10-2007
[6]“Đưa giá đất VN giảm xuống bằng 0”, Tuổi trẻ Cuối tuần, ngày 18-3-2007
[7]Tin vắn, Tuổi trẻ Cuối tuần, ngày 22-8-2007
[8]“Muốn kéo giá bất động sản xuống: Ngoài thuế, không có cách nào khác”, Đặng Hùng Võ, Thanh niên ngày 18-10-2007
[9]“Quốc hội khóa XII sẽ không xem xét sửa Hiến pháp”, VietNamNet, ngày 11-10-2007
[10]“Tinh thần Hiến pháp”, Nguyễn Đình Lộc, Huy Đức, Sài Gòn Tiếp thị, ngày 19-9-2007
[11]“Đã đến lúc sửa Hiến pháp?” Nguyễn Đình Lộc, Khíêt Hưng, Tuổi trẻ Cuối tuần ngày 8-10-2007
[12]Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Tổng cục Chính trị Quân đội NDVN, VTV1, ngày 27-8-2007

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước | Thẻ: , | Leave a Comment »

Đầu tư… từ đâu ?

Được đăng bởi adminbasam trên 09/11/2007

Đầu tư… từ đâu ?


Nguyễn Hữu Vinh

Ngót năm mươi tỉ đô la FDI đang “xếp hàng” chờ vào Việt Nam. Đó có lẽ là con số ấn tượng dễ thấy nhất cho thành quả của gần một năm hội nhập-vào WTO. Nhưng, cũng tựa như một căn nhà vừa được mở rộng cửa chào đón khách bốn phương, rất cần biết nó đang được chuẩn bị những gì, có dọn dẹp vệ sinh, khơi thông lối ngõ, thay đổi cung cách phục vụ… để đảm bảo có tất cả đúng như lời hứa của chủ và những hy vọng của khách. Nếu không thì những nhà đầu tư cũng sẽ như đại đa số du khách, háo hức, đến, rồi “một đi không trở lại”. Với “ngôi nhà” này, có rất nhiều việc để chuẩn bị, từ chống tham nhũng, cải cách hành chính, tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống luật pháp… cho đến những việc dài hơi hơn là cải cách giáo dục, bảo vệ môi trường. Tựu trung trong mọi biện pháp đều phải từ một vấn đề gốc rễ, đó là sự tham gia của người dân, là lợi ích dân sinh, chứ hoàn toàn không thể là chuyện riêng của nhà nước, cho nhà nước. Nếu thiếu những điều đó thì thành quả đạt được chắc chắn chỉ là trước mắt, nặng về hình thức, mà tiềm ẩn những thất bại lớn khó cứu vãn.

1. Thách thức

  • Tai nạn giao thông cướp đi một nghìn nhân mạng và hàng nghìn phế nhân mỗi tháng, cùng với nó là tình trạng ách tắc giao thông đô thị, qua bao nhiêu đợt “ra quân”, bao biện pháp tình thế tạm bợ hòng cứu vãn vẫn không chịu thuyên giảm [1] .
  • Nạn ô nhiễm, tàn phá môi trường, vệ sinh thực phẩm kém ảnh hưởng sức khỏe người dân và ngấm ngầm hủy hoại giống nòi vẫn tiếp tục gia tăng. Đợt lũ lụt dài và gây tổn thất chưa từng có vừa qua là một trong những lời cảnh báo của thiên nhiên.
  • Chính sách đất đai bất hợp lý tạo ra cơ hội và nguồn thu lớn nhất cho tham nhũng, gây vẩn đục môi trường đầu tư, kinh doanh, trong khi những cố gắng chống tham nhũng vẫn có vẻ dậm chân tại chỗ, với rất nhiều hiện tượng, trong đó tình trạng khiếu kiện ngày một gia tăng là minh chứng rõ nhất và cũng gây hậu quả lớn và phức tạp nhất.
  • Tình trạng quản lý lỏng lẻo trong quy hoạch đô thị và xây dựng làm cho hệ thống giao thông, hạ tầng cơ sở phục vụ đầu tư vẫn trì trệ, vừa là hậu quả của tệ tham nhũng, của thói vô trách nhiệm, nhưng cũng vừa là hệ quả của tình trạng yếu kém trong hệ thống pháp luật. Hàng ngàn vạn căn nhà xây trái phép, đất bị lấn chiếm phải hoặc không thể bị đập bỏ, thu hồi. Vụ PMU18 cho tới thảm họa cầu Cần Thơ gần đây cũng chỉ là những bề nổi dễ thấy.
  • Tay nghề yếu, thu nhập thấp, đời sống khổ cực của công nhân trong nhiều nhà máy, khu công nghiệp cùng hàng trăm vụ đình công mỗi năm mà tuyệt đại đa số là không đúng pháp luật, nhưng cũng lại hầu như không có tiếng nói bảo vệ của tổ chức công đoàn là câu trả lời cho những cứu cánh từ sức hấp dẫn về giá nhân công rẻ cho đầu tư, từ cố gắng dựa vào hội, công đoàn “nhà nước” và hệ thống luật liên quan như Luật Lao động, Luật về Hội, Luật Đình công… vừa thiếu vừa bất hợp lý không thể tồn tại lâu được nữa.

Đó là điểm qua vài nét điển hình nhất để tạm hình dung hình ảnh được tạo ra trong con mắt nhà đầu tư đã, hay sắp, đặt hy vọng sinh lời vào những đồng đô-la của mình sẽ ra sao. Có thể ta cảm thấy bất lực nếu như phải một lúc đối mặt với từng đó vấn nạn, từng đó thời gian mà mọi sự dường như có chiều hướng xấu thêm. Chưa kể đến việc hầu như mọi quyết định, chính sách đưa ra đều có hai mặt của nó. Như việc quy định đội mũ bảo hiểm, nếu thực hiện được chắc chắn sẽ giảm bớt thương tật trong tai nạn giao thông, nhưng bởi gấp gáp thi hành mà thiếu những giải pháp từng bước, đồng bộ nên độ khả thi chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng; doanh nghiệp mũ bảo hiểm trong nước thì mất cơ hội, ngược lại doanh nghiệp nước ngoài lại vớ bẫm, thậm chí gây nhiễu loạn thị trường, hạ thấp tính nghiêm minh của pháp luật bằng sản phẩm kém chất lượng. Hay việc khuyến khích những khoản đầu tư chóng sinh lời như lắp ráp xe máy, ô tô giá rẻ nếu không được cân nhắc đến vấn đề môi trường, tai nạn, ùn tắc giao thông đang là vấn đề vô phương cứu vãn nhiều năm nay, cao hơn là chiến lược công hiệp hoá hiện đại hoá đất nước (chứ không phải để thành một đại công trường gia công cho nước ngoài) thì cũng sẽ gây phản tác dụng.

2. Lối thoát
Song không phải không có lối thoát, cũng không phải chỉ có nhà nước mới có khả năng và trách nhiệm để điều chỉnh mọi chính sách sao cho hợp lý. “Lối thoát” đó chính là ở DÂN. Vì đã quá rõ những trì trệ nêu trên là hậu quả của năng lực, phẩm chất kém từ bộ máy điều hành các cấp, nhưng lại tránh né sự kiểm soát của công luận, ắt sẽ trầm trọng thêm. Người dân phải được tham gia tích cực, chủ động hơn vào mọi chính sách quan trọng của nhà nước. “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” không thể chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền, mà muốn được như vậy, trước hết phải tạo ra được môi trường pháp lý lành mạnh để người dân có được quyền lợi, trách nhiệm thực sự trong vai trò làm chủ của mình như Hiến pháp đã khẳng định. Đơn cử:

  • Luật Trưng cầu dân ý [2] là để lấy ý kiến nhân dân về những quyết định quan trọng của nhà nước. Không biết được dân có đồng tình hay không mà cứ làm thì sẽ gây nhiều hậu quả (chỉ thông qua báo chí, hay qua “triển lãm” lấy ý kiến dân chưa thể đầy đủ, khách quan và có sức mạnh, cả sự tôn trọng. Việc lấy ý kiến xây Tòa nhà Quốc hội là một ví dụ).
  • Luật Biểu tình có rất nhiều ý nghĩa. Ngay lúc này, nó có thể là một công cụ hữu hiệu đấu tranh với vấn nạn tham nhũng mà nhà nước đang rất lúng túng đối phó. Xưa từng có bao cuộc biểu tình, tuần hành chống ngoại xâm, sao nay dân ta không được làm như vậy với lũ nội xâm? Hay như tình trạng khiếu kiện về đất đai kéo dài gần đây, thực chất là người nông dân kéo lên thành phố biểu tình. Đó chính là “thước đo” cho chính sách, luật pháp,… Nếu như có luật để điều chỉnh cho những hành vi này thì sẽ dễ dàng hơn trong việc giải quyết, xử lý mâu thuẫn, kể cả mâu thuẫn trong chính sách cán bộ khiến khó xử lý những cấp thẩm quyền tham nhũng, vô trách nhiệm, nay cần dựa vào sự đánh giá qua thái độ của dân.
  • Ngoài những hoạt động có tính cá nhân đơn lẻ, người dân còn cần và có thể quy tụ trong những đoàn thể quần chúng dưới nhiều hình thức đa dạng, đó là những tổ chức hội, và rất cần có Luật cho nó. Thông qua những tổ chức này, mọi người dân, các tầng lớp doanh nhân, trí thức… có điều kiện nói lên tiếng nói của mình, đòi được bảo vệ quyền lợi cho mình, đóng góp ý kiến thiết thực, có trọng lượng cho mọi chính sách, pháp luật của nhà nước.
  • Thêm nữa, một khi những mâu thuẫn về quyền lợi trong nhân dân không được giải quyết thỏa đáng, sinh ra khiếu kiện chính là gánh nặng đè thêm lên bộ máy hành chính nhà nước, trong khi trách nhiệm giải quyết những việc làm sai trái của họ lại không thể là chính họ, mà phải là hệ thống toà án. Thế nhưng, bằng thực trạng toà lệ thuộc vào cấp ủy, cấp hành chính, thiếu khách quan như hiện nay, mà ví dụ điển hình nhất là vụ án đất đai Đồ Sơn-Hải Phòng, đã không thể gánh vác được nhiệm vụ ngày càng nặng nề này, cần phải được cải tổ (trước hết bằng thành lập toà án khu vực). Nên việc sửa đổi Hiến pháp để rồi mới sửa được và cũng là tạo áp lực để sửa căn bản các Luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát v.v.. là vô cùng quan trọng.

Còn rất nhiều những ví dụ để minh chứng cho việc cấp thiết phải có các bộ luật liên quan trực tiếp tới đời sống dân sinh, cũng là sự hỗ trợ mạnh mẽ cho một môi trường đầu tư lành mạnh, bền vững lâu dài.

3. Trở ngại
Thế nhưng dường như đã có những “tiếng kèn ngập ngừng” khó lý giải, đặc biệt “tiếng kèn” này lại nhắm vào đúng cái chính sách mà Đảng, nhà nước Việt Nam thường nêu cao, đó là “lấy dân làm gốc”.

  • Cuối nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, dự Luật về Hội đáng lẽ đã được đem ra bàn thảo, thông qua sau hơn chục lần chỉnh sửa, thế nhưng đã bị đình hoãn mà người dân không hay biết vì sao.
    Mới đây, Chính phủ lại tiếp tục đề nghị Quốc hội lui thời hạn thông qua dự luật này cùng dự luật Dân tộc [3] .
  • Dự Luật Biểu tình, dự luật Giám sát của nhân dân do Mặt trận Tổ quốc đề nghị cũng vừa bị Uỷ ban Pháp luật bác bỏ mà không rõ lý do [4] .
  • Dự Luật Trưng cầu dân ý cũng chịu chung số phận.
  • Nếu như không có sự trì hoãn trong cả thời gian dài đến kỳ lạ việc trình dự thảo Luật Thuế sử dụng đất [5] (mặc dù đã có Nghị quyết Trung ương 7 đặt nhiệm vụ rất rõ) thì chắc chắn sẽ giảm rất nhiều tình trạng chiếm dụng, đầu cơ đất đai, là thứ đã góp phần đáng kể gây nên cảnh bất công, nông dân mất đất để rồi sinh khiếu kiện, đẩy giá đất, nhà cho thuê lên cao đến phi lý cản trở nhiều các nhà đầu tư, chưa nói tới những mất mát tài sản quốc gia vô cùng lớn, cùng bao nhiêu hệ luỵ khác. Vấn đề rất hiển nhiên về thuế sử dụng đất này cũng đã từng được chuyên gia nước ngoài dày công nghiên cứu và cảnh báo [6] , những ý kiến rất có trọng lượng và trách nhiệm trong nước kiên trì đề nghị, vậy mà không rõ vì lý do gì vẫn tiếp tục bị trì hoãn [7] / [8] .
  • Lớn nhất là Hiến pháp, cũng đã có quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là không sửa trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 12 này [9] mà lý do đưa ra cũng thật khó thuyết phục. Đó là phải chờ tới 4 năm nữa để Đại hội đảng CSVN khoá XI sửa Cương lĩnh. Lý do này gây ra một nghịch lý, là trước những thay đổi nhanh chóng khủng khiếp từng ngày trên thế giới mà Việt Nam vừa mới bước vào hội nhập, cùng bao nhiêu khó khăn thách thức ghê gớm trong đời sống nhân dân cả nước, vậy mà tất cả phải đợi chờ. Không lẽ Đảng CSVN không có được một bước đột phá để khỏi tự mình trở thành lực cản không thể vượt qua cho công cuộc đổi mới mà chính mình đang lãnh đạo? (Ví như có Đại hội bất thường để sửa Cương lĩnh chẳng hạn, nếu như thực sự đúng là “phải sửa”). Trong khi đó vẫn có rất nhiều ý kiến mạnh mẽ của các chuyên gia, các vị từng là lãnh đạo các bộ Tư pháp [10] , Tài nguyên Môi trường, hay đương nhiệm đứng đầu Mặt trận Tổ quốc, Hội Luật gia, các Ủy ban của Quốc hội đề nghị phải sớm có, phải sửa đổi hệ thống Hiến pháp và những bộ luật này.

4. Căn nguyên
Bấy nhiêu liệu đã đủ để nói rằng vẫn còn đó những lối tư duy cũ kỹ, e ngại việc phát huy dân chủ, sớm hoàn thiện một Nhà nước pháp quyền sẽ khó cho công việc “quản lý” của các cấp hành chính, cấp ủy Đảng. Kể cả hy vọng vẫn còn có thể duy trì những bước đi quanh quẩn, với cứu cánh bằng hoạt động tuyên truyền, động viên là có thể “giải toả” được những vướng mắc, bức xúc trong dân chúng, vận động được đầu tư trong ngoài nước. Hay bằng “giáo dục, thuyết phục”, hô hào rồi thử nghiệm bằng vài giải pháp tạm bợ để “cải cách” là sẽ nâng cao được đạo đức, ý thức trách nhiệm của cán bộ đảng viên mà không cần phải có những Tòa Hành chính, Kinh tế, Dân sự khu vực công minh hơn buộc những “công bộc” này phải đối mặt trước những việc làm sai trái tổn hại quyền lợi của dân. Thậm chí có thể có cả những lo lắng quá mức khi có những ý kiến động tới “vùng cấm” là Điều 4 Hiến pháp [11] ? Bỏ nó “là tự sát” [12] , vậy có thể sửa cho phù hợp với tình hình thực tế trước những đòi hỏi cấp bách của cuộc sống được chăng, và có công khai bàn bạc được không? Chẳng phải năm 1992 chính Quốc hội khóa IX đã sửa Điều 4 Hiến pháp 1980 đó sao? Bởi vì nếu không được quy định trong Hiến pháp thì việc “luật hóa” tổ chức, hoạt động và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng trở nên cấp thiết cũng sẽ khó có thể thực hiện, và đương nhiên mối quan hệ, lòng tin của dân với Đảng CSVN sẽ không những không được cải thiện mà còn xấu thêm.

Nhưng, gắn liền và lẩn khuất sau những e ngại đó không thể không có những toan tính cá nhân, cục bộ liên quan tới trách nhiệm, đến quyền lợi vật chất, tinh thần của nhiều người. Gọi đó là trò “tham ô chính sách” hết sức tinh vi (tác động để đưa ra những điều khoản trong hệ thống luật hòng tạo kẽ hở cho tham nhũng, hoặc cản trở những điều khoản, dự luật nào có thể giúp tăng hiệu năng kiểm soát của xã hội) – mà lâu nay chưa bị vạch mặt, đang là một mối nguy rất lớn hủy hoạt uy tín, sức mạnh của Đảng CSVN, đến vận mệnh của cả Dân tộc.

Làm sao để nhận diện rõ những khoảng tranh tối tranh sáng đó? Không cách gì hơn là bằng việc mở rộng quyền tự do ngôn luận, báo chí, công khai hoá tất cả những vấn đề trọng đại của quốc kế dân sinh để cùng bàn bạc dân chủ – từ trong Đảng ra tới toàn xã hội.

Có vậy thì mới hy vọng mọi sự đầu tư, dù là từ trong hay ngoài nước, bằng tiền của, hay công sức, trí tuệ, tinh thần,… tất thảy sẽ thực sự được bắt đầu và trên hết từ lợi ích, sự đồng thuận của DÂN.

© 2007 talawas


[1]“Số người chết vì tai nạn giao thông tăng”, báo Quân đội Nhân dân, ngày 6-6-2007
[2]“Cần xây dựng Luật Trưng cầu dân ý”, Tuổi trẻ, ngày 12-10-2007  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/223959/Can-xay-dung-Luat-trung-cau-dan-y.html

http://phapluattp.vn/20100814012257716p0c1013/nha-nuoc-nhan-phan-kho-de-dan-duoc-thuan-loi.htm
[3]“Ủy ban Pháp luật kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và xây dựng cơ chế bảo hiến”, Đại Đoàn kết, ngày 28-9-2007
[4]Bài đã dẫn
[5]“Quản lý đất đai ‘chồng’ &’trống’”, Đặng Hùng Võ, Nhà Quản lý, số 52-tháng 10-2007
[6]“Đưa giá đất VN giảm xuống bằng 0”, Tuổi trẻ Cuối tuần, ngày 18-3-2007
[7]Tin vắn, Tuổi trẻ Cuối tuần, ngày 22-8-2007
[8]“Muốn kéo giá bất động sản xuống: Ngoài thuế, không có cách nào khác”, Đặng Hùng Võ, Thanh niên ngày 18-10-2007
[9]“Quốc hội khóa XII sẽ không xem xét sửa Hiến pháp”, VietNamNet, ngày 11-10-2007
[10]“Tinh thần Hiến pháp”, Nguyễn Đình Lộc, Huy Đức, Sài Gòn Tiếp thị, ngày 19-9-2007
[11]“Đã đến lúc sửa Hiến pháp?” Nguyễn Đình Lộc, Khíêt Hưng, Tuổi trẻ Cuối tuần ngày 8-10-2007
[12]Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nói chuyện với cán bộ chiến sĩ Tổng cục Chính trị Quân đội NDVN, VTV1, ngày 27-8-2007

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Pháp luật | Leave a Comment »

Cái thước đa năng

Được đăng bởi adminbasam trên 07/11/2007

Cái thước đa năng


Nguyễn Hữu Vinh

Mỗi loại thước đo thường có một đôi tác dụng, ví như thước chuyên đo chiều dài-rộng, có loại thước chỉ đo nồng độ dung dịch thôi, lại có thước đo độ nóng-lạnh … Nhưng, có một loại “thước” có thể đo được nhiều thứ, mà lại toàn những thứ rất khó đo. Ấy là nói tới Nghị quyết 1157 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 11*, khoán xe công, nhà công và nhiều khoản đãi ngộ khác vào thu nhập đối với cán bộ các cơ quan, đại biểu chuyên trách, … của Quốc hội. Một Nghị quyết hướng chúng ta tới một xã hội lành mạnh, văn minh hơn, bằng lối sống thanh bạch, tiết kiệm tiền của của dân ở người công chức. Nhưng bước đầu, Nghị quyết chỉ như thể nghiệm, “không có tính ràng buộc”, nghĩa là khuyến khích mọi người tự giác, tự xem xét hoàn cảnh của mình mà đề đạt nguyện vọng: ai không sử dụng xe công, các khoản ưu đãi thì sẽ được bù đắp một khoản tiền nhất định (có thể từ vài triệu đồng tới hàng chục triệu đồng/người/tháng).

Vậy sao có thể gọi NQ1157 như cái thước đo, và nó đo những gì ? Muốn biết rõ, hãy thử phân loại những người chấp nhận và không/chưa chấp nhận thực hiện khoản ưu đãi này để phân tích.

I. Chấp nhận: thước NQ1157 sẽ đo được ở mỗi đối tượng chấp nhận nó với một hoặc vài lý do từ tâm lý và hoàn cảnh như sau:

1- Thực sự cần tiền: vì lương không đủ sống, lại chẳng có khoản thu nhập nào khác. Nhận “khoán”, chịu sống giản dị hơn thì sẽ tăng thu nhập đáng kể.

2- Muốn tập một lối sống ngày càng văn minh, không hám chuyện “lên xe xuống ngựa”, “tiền hô hậu ủng”, “cơm bưng nước rót”.

3- Muốn làm gương cho những người khác.

4- Muốn tăng thêm sức mạnh cho những cải cách, đoạn tuyệt với tư tưởng bảo thủ, luyến tiếc thời bao cấp.

5- Muốn tiết kiệm cho dân: nhìn thấy rõ và thương cảm người dân nghèo khổ mà vẫn phải nai lưng đóng thuế để các công bộc tiêu xài hoang phí.

6- Hy vọng đây cũng sẽ là một đóng góp cho việc hoàn thiện những chính sách quan trọng như lương, chi tiêu ngân sách …

7- Sắp về hưu, ít nhu cầu sử dụng các đãi ngộ của nhà nước.

8- Không ảnh hưởng bao nhiêu: có xe riêng gia đình (sẽ không bị lệ thuộc như xe cơ quan), không muốn gò bó ở nhà công, ăn cơm “tập thể” …

9- Muốn “đánh bóng” bản thân: tỏ ra gương mẫu, đi đầu trong mọi chủ trương, chính sách.

10- Muốn ủng hộ một xu hướng nào đó đang mạnh trong nội bộ để có lợi cho mình (theo kiểu “gió chiều nào che chiều ấy”).

II. Không/chưa chấp nhận: thước NQ1157 sẽ đo được ở mỗi đối tượng không/chưa chấp nhận nó với một hoặc vài lý do từ tâm lý, hoàn cảnh như sau:

1- Ảnh hưởng “khâu oai”: nghĩa là không muốn bị thiên hạ “hiểu nhầm” rằng mình không phải là cấp cao, quyền thế, hoặc tưởng đang “thất sủng”… khi phải đi xe “ngoài”, ăn-ở “ngoài” …

2- Quen tiện nghi rồi: không chịu được “kham khổ” nếu hưởng chế độ “khoán”.

3- Ảnh hưởng nhiều việc riêng: hay phải dùng xe công đưa con đón vợ/chồng, thăm thú bạn bè, quê hương. Nếu thực hiện “khoán” sẽ khó khăn nhiều cho nhu cầu này.

4- Người thân không đồng ý: vợ/chồng, con, cha, mẹ … , là những người ít nhiều thụ hưởng, hoặc “mát mặt mát mày” với những tiêu chuẩn xe riêng, nhà công vụ lâu nay. Họ sẽ có ý kiến tác động.

5- Muốn thực hiện nhưng bị/sợ bị “níu áo”: có nhiều người xung quanh không muốn thực hiện chế độ “khoán” này, vậy nếu mình chấp nhận, họ sẽ khó chịu, cho là mình “chơi trội”, muốn được thăng tiến nhanh hơn do tỏ ra thanh liêm hơn.

6- Không muốn mặc nhiên “đánh bóng” cho kẻ khác: ban đầu từng phản đối, dè bỉu giải pháp này vì đó là sáng kiến của “đối thủ”, “phe” khác, giờ không muốn chấp nhận “thua”.

7- Nuối tiếc thời bao cấp, muốn trở lại.

8- Cho là mức “khoán” còn thấp, chưa đủ với chi phí thực phải bỏ ra nếu thực hiện nó.

9- Coi thường chính sách tiết kiệm chống tham ô lãng phí.

10- Không coi việc này có ý nghĩa mấy vì không thiếu tiền, thậm chí cho là nặng tính mị dân, rồi sẽ “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột”, trong khi nhiều giải pháp tiết kiệm quan trọng hơn nhiều thì lại không làm.

Vậy mà có vẻ vẫn chưa hết những công dụng của cái thước đo này, ngoài những người “trong cuộc”, còn rất nhiều những đối tượng khác đang “ngoài cuộc” sẽ phải soi vào đó mà xem mình có nên học hỏi không. Đó là các cơ quan thuộc Chính phủ, bộ máy tổ chức đảng, các đoàn thể hưởng ngân sách nhà nước … Mà trên thực tế, đây mới thực sự là nguồn chi tiêu ngân sách vô cùng lớn và dễ lãng phí nhất. Những cơ quan này có noi gương Quốc hội không, bao giờ thì thực hiện, …. ? Nên cái công dụng tiếp theo nữa của NQ1157 là nó tựa như thứ “thuốc thử” phản ứng .

Chúng ta chờ xem hiệu quả của cái thước đo-thuốc thử đa năng này.

Thế nhưng lại có người bảo: “Cái thứ thước-thuốc này thực ra cũng chỉ đo lường có một thứ thôi. Đó là đo … lòng người – người công bộc – đối với dân với nước”. Nói vậy có “nghiêm trọng” quá không nhỉ ?

* Nghị quyết 1157 Ủy ban thường vụ Quốc hội: báo Tuổi trẻ ngày 27-07, Tiền phong ngày 28-7, Pháp luật thành phố HCM ngày 1-8-2007.

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 51)

Posted in Chính trị, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

“Sử gia” viết “Gia sử”

Được đăng bởi adminbasam trên 06/11/2007

“Sử gia” viết “Gia sử”

Hôm lâu

Con: bố ơi, “lịch sử” là gì hả bố ?

Bố: à … là … tất cả những chuyện xảy ra từ hôm qua trở về … ngày xưa, của một … cái gì đó, chẳng hạn của một nước (gọi là “Quốc sử”) … Người ta ghi lại, nghiên cứu, thành cả môn khoa học. Hình như là sang năm con sẽ được học môn sử đấy.

Con: thế thì có lịch sử … nhà, tức là gia đình không ạ ?

Bố: ừ … nếu thích thì cũng có. Nhưng chả thấy ai làm cái này cả. Chỉ có cái “gia phả” thôi, nhưng nó cũng không được chi tiết như lịch sử.

Con: thế thì con thử làm cho nhà mình bố nhá ?

Bố: tuyệt vời con tôi, còn gì bằng. Thằng này có chí hướng quá đi mất. Cố mà tập con ạ, sẽ có nhiều ích lợi vô cùng, lại đỡ đi chơi lêu lổng. Nào là gương chiến đấu, vào tù ra tội của ông, bà … rồi những quá trình đóng góp, cương vị của bố … cũng kha khá đấy nhá ! Các con sẽ nhìn vào mà tự hào, mà noi theo … Mình gọi nó là “gia sử”, nhẩy ?

Hôm nọ

Con: bố ơi, bố thử nghe con đọc “gia sử” nhà mình con ghi bố nhé.

Bố: chà chà, con tôi giỏi quá. Nào đọc ngay đi, hồi hộp quá !

Con: “… ông tôi già yếu lắm, xưa ông đi cách mạng bị đi tù …”

Bố: đấy, phải nói được những cái quan trọng như thế …

Con: “… bố tôi chưa bị bỏ tù nhưng chắc cũng có công to nên đi đâu cũng có ô tô cơ quan chở cả. Bố chăm làm việc lắm. Tối đến là có nhiều người đến nhà làm việc, đem đến cả các thứ, lại đưa cả thư nữa, nhiều lắm. Mà sao thư không gửi bưu điện mà lại đưa tận tay tôi cũng không biết, chắc là quan trọng lắm …”

Bố: hừ … không ổn rồi …

Con: “… thế mà ông vẫn cứ hay mắng bố, hôm nọ mắng là “mày là cái thằng tiêu cực”, “mày lợi dụng danh tiếng tao” …” (tiêu cực, danh tiếng là gì hả bố ?)

Bố: chết, chết thật ! … Mà này … bố bảo nhá. Con ghi thế này là không đúng … kiểu “lịch sử” rồi. Đưa đây bố, rồi bố bầy cho ghi. Chưa được học có khác.

Con: thế thì ghi thế nào hả bố ?

Bố: là … là … phải ghi những cái gì … tốt này, vui vẻ này để nêu gương … À, với lại phải những việc lớn cơ, chứ chuyện nói năng, khách khứa … nó … vớ vẩn quá.

Con: … nhưng hôm nọ bố bảo là phải ghi tất cả cơ mà … À, con có cách rồi !

Hôm nay

Con: ông ơi, bố ơi, nghe con đọc “gia sử” nhà mình nhá.

Ông: ôi, ngạc nhiên quá nhẩy. Thằng này đặc biệt lắm đây.

Bố: con dạy nó đấy bố ạ. Nào, con đọc cho ông tự hào về “sử gia” của ông đi.

Con: “… ngày xưa ông đi hoạt động bị tù tội …”

Ông: tốt quá !

Con: “… hôm nọ tôi đọc cho bố tôi nghe, nhưng có nhiều đoạn về bố thì bố bảo không được đưa vào, nên tôi ghi riêng ra quyển khác tên là “gia sử bí mật” …

Bố: cái thằng mày làm trò gì …

Ông: yên nào !

Con: … giờ cháu đọc cái quyển “gia sử bí mật” ông nhá “… Quyển sử này để cất bí mật trong nhà không cho người ngoài xem … Bố làm việc vất vả, tối cũng làm, lại có nhiều người đến làm cùng, đem cho bố nhiều đồ dùng mới nguyên, cả thư từ nữa. Ông mắng bố “mày là thằng tiêu cực”. Nhưng bố bảo tôi là không được ghi thế, lịch sử phải ghi những cái gì tốt đẹp thôi. Tôi nghe lời bố nhưng tôi không hiểu gì cả. Chẳng nhẽ ông mắng bố, là bố dạy con mà lại không tốt à ? …”

Ông (chỉ bố): á, thằng đểu, nó viết đúng quá mà mày dám dạy nó lếu láo, dối trá hả. Cút ngay khỏi nhà này !

Bố: này cụ ơi, cụ cổ lỗ lắm rồi … Mà con cút thì ai nuôi cả cái nhà này … , ai xe đưa xe đón oách-xì-dầu cho cụ đi họp hành “cựu” nọ “cựu” kia ? …

Con: … ông ơi, bố ơi … thế con nghe lời bố, con ghi luôn là … hôm nay ông với bố cãi nhau như thế …. vào cái quyển “Gia sử bí mật” bố nhá ?

Ông: này, tao cấm! Để đấy, hôm nào ông bảo cho mà ghi. Chúng mày … bố lếu bố láo hết. Học với chả hành !

Con: hay là ông cho cháu lại ghi vào một quyển nữa, gọi là “Gia sử bí mật nữa“, ông nhá ?

Ông/Bố: …

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 40-2006)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Lịch sử | Leave a Comment »

Kính thưa …ai ?!

Được đăng bởi adminbasam trên 02/11/2007

Kính thưa …ai ?!

Nguyễn Hữu Vinh

Trong phiên họp cuối cùng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11, các vị đại biểu đã bất ngờ thảo luận khá công phu về chuyện có nên có câu “Kính thưa…” hết thảy các vị lãnh đạo trong mỗi cuộc họp. Chuyện có vẻ như nhỏ nhặt, nhưng quả tình lại là rất lớn, vì đã có rất nhiều sự kiện, hiện tượng ít nhiều có liên quan tới cái “kính thưa” này, những thứ “tàn dư phong kiến” đeo bám dai dẳng, xin được nêu ra ở đây để bạn đọc suy ngẫm:

1. Người cộng sản khi tranh đấu giành chính quyền luôn tự coi mình là con dân, dựa vào sự che chở của dân, khi giành được chính quyền rồi thì nhận mình là đầy tớ của dân. Nghĩa là họ phải luôn kính trọng dân. Còn giữa những người cộng sản, họ luôn là đồng chí, bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp, nguyện đấu tranh lật đổ những chế độ bất công, phân biệt giai cấp, chủng tộc… Gần 80 năm đã qua…

2. Nước Việt Nam DCCH chấm dứt chế độ phong kiến cách đây cũng đã hơn 60 năm, bước vào một hình mẫu xã hội mà theo như học thuyết Marx thì còn văn minh hơn cả chế độ tư bản. Vậy giá trị “văn minh” đó gồm những gì, có cái bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp xã hội giữa người với người hay không ? Chắc chắn là phải có!

3. Lại thêm 20 năm đổi mới, mở cửa nữa, đâu có thấy chút tàn dư phong kiến nào ở ngoài du nhập vào, chỉ thấy văn minh phương Tây thôi.

4. Và trên thực tế suốt hơn 60 năm qua thì sao?

– Dường như trong thái độ, lối cư xử của người dân và rất nhiều công chức vẫn còn luyến tiếc những hủ tục cũ kỹ, gây ra tiếng xấu cho nhiều cán bộ cấp cao là nặng tư tưởng phong kiến, thích được xu nịnh, thưa bẩm như những ông vua ông quan. Vì cái “phong kiến” không phải chỉ ở mấy chữ “kính thưa” trong mỗi cuộc họp, mỗi bài diễn văn, mà là đầy dẫy trong mọi ứng xử của cuộc sống, như đánh giá cán bộ, nội dung báo chí (luôn thấy hình ảnh các lãnh đạo được đưa long trọng trang đầu của báo, chiếm thời lượng đáng kể đầu chương trình thời sự ngắn ngủi của truyền hình). Mỗi lần các vị “vinh quy” là đón rước linh đình, xe cộ như nước, diễn văn toàn những lời lẽ hoa mĩ, tâng nịnh… Thậm chí ngay cả khi các vị đang sắm vai “ông nghị” đi gặp dân để nghe lời “chỉ bảo”.

– Người ta còn làm hỏng hình ảnh đẹp đẽ của lãnh đạo là khi có vị nào đó chót sai phạm, hoặc ra những chỉ thị vội vã dễ gây thiệt hại lớn cho dân cho nước thì lại nghĩ là các vị cũng như mình, sợ sự thật mà sẽ không chịu lắng nghe, nên đã không can gián, để các vị lại dấn sâu hơn vào sai lầm nguy hiểm.

– Khi cần bầu chọn những người có đức, có tài vào vị trí lãnh đạo thì người ta cũng dễ dàng để mặc các vị quyết định vị trí cho mình (hoặc chỉ “bầu” một thôi, để tránh “tổn thương” cho những vị bị thất cử ?) mà không dám lên tiếng phát biểu về quan điểm riêng. Trong khi đó lại vẫn rỉ tai nhau vô số những thông tin tồi tệ về các vị đó ở bên ngoài xã hội. Họ còn xuyên tạc, đổ tại là nếu công khai phát biểu ý kiến không đồng tình ai đó thì sẽ bị trù dập.

– Không thiếu gì người lãnh đạo vừa có tài năng, đức độ, cả sức khỏe để cống hiến trọn đời, thế mà cứ máy móc căn cứ theo độ tuổi chung chung để bắt hết thảy các vị ai cũng như ai phải về hưu khi “đến tuổi” theo kiểu “cá mè một lứa”. Đó thực chất là hậu quả của cái lề thói cũ trong những người cấp dưới thừa hành khi đề ra chính sách, đổ tại là vì nể nang, ngại được lòng người này lại mếch lòng người khác, thậm chí lo các lãnh đạo sinh lục đục đấu đá nhau vì không được “cùng nghỉ”.

– Cái sự khúm núm, cung cúc với “quan trên” chẳng khác nào với chánh tổng, lý trưởng ngày xưa đã lan đến tận hang cùng ngõ hẻm, tới độ là nếu không may có vị quan to nào trót dại ăn cướp của dân, bị đi “bóc lịch” thì thường vẫn cứ được gọi bằng “ông”, được nghe những lời kể tội rất nhẹ nhàng bóng bẩy, trong khi một tay dân đen mới bị nghi ăn cắp là trở thành “thằng”, “hắn”, “y” ngay tức thì.

Rõ là thái độ sợ sệt, luồn cúi, xu nịnh, tâng bốc lãnh đạo đều từ bên “dưới”, tức là từ dân chúng và cán bộ cấp dưới. Có điều, ở đây nó cũng có cái quy luật “cung-cầu”. Không có “cầu” thì làm sao có “cung”, nhất là “cầu” này lại thuộc về một dạng “khách hàng đặc biệt”, tức là có quyền lực, không dám nói là như Thượng đế thì cũng gọi là có “quyền sinh quyền sát”. Lại rất dễ nảy sinh cái tình trạng khi “cầu” mạnh quá mà “cung” không kịp, không đủ thì ắt là to chuyện rồi. Còn “cầu” mà không có thì thử hỏi “cung” biết giành cho ai ? Nói rõ ra là nếu chẳng có vị lãnh đạo nào ưa trò nịnh bợ, thì dẫu ai đó có thói xun xoe cũng sẽ tự thấy xấu hổ, vô ích mà rút lui thôi.

Vậy nên, thiết nghĩ cái hủ tục phong kiến kiểu “kính thưa” đó có thể khả dĩ mà lượng thứ nếu bắt nguồn từ người dân, cán bộ cấp dưới, chứ không thể chấp nhận có ở các cấp lãnh đạo. Không thể có những hiện tượng ví như: đọc thiếu một chức vụ của các vị trong một buổi lễ, không đưa tin các vị đi thăm chỗ nọ chỗ kia, ảnh các vị đăng trên báo có hơi nhỏ, thiếu một câu “kính thưa” với quý vị trong diễn văn, đọc danh sách đại biểu không đúng cái trật tự bất thành văn là chức vụ từ to xuống nhỏ… mà lại làm các vị bực bội, cho là mình bị coi thường, bị chơi xỏ, rồi kiếm cớ gây chuyện trù úm sau này.

Phải gạt bỏ ngay những hủ tục kiểu làng xã vừa nêu, đặc biệt ở những cán bộ cấp cao, để trước tiên tránh mọi nghi kỵ làm xấu, hạ thấp đi hình ảnh các cấp lãnh đạo của chúng ta, nhất là khi các vị đang bước ra thế giới sánh vai cùng lãnh đạo các quốc gia văn minh tiên tiến.

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 53 – tháng 11/2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị | 3 Comments »

 
Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu