Archive for the ‘Trung Quốc’ Category
Posted by adminbasam on 08/05/2013
Phụ Lục A: Tờ Chiếu của Vua Bảo Đại sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh
Ba ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và hai ngày trước khi Việt Minh giành được chính quyền ở Hà Nội, Vua Bảo Đại tuyên cáo với quốc dân, xác định tư cách độc lập của Việt Nam, nhưng tiên liệu việc Pháp có thể theo chân Đồng Minh về tái chiếm Đông Dương. Ông kêu gọi tất cả mọi người yêu nước giúp ông lập chính phủ mới để “đương đầu với một cuộc tái hồi ngoại thuộc. ” (Khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim vừa từ chức.) Trước tình hình chính trị sôi động ở trong nước, Vua Bảo Đại đã có một lời nói lịch sử: “Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”
VIỆT NAM HOÀNG ĐẾ BAN CHIẾU
Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu. Lịch sử nước Việt Nam hiện tới một thời kỳ nghiêm trọng vô cùng.
Đối với dân tộc Nhật Bản, Trẫm có nhiệm vụ tuyên bố rằng: Dân tộc ta có đủ tư cách tự trị và nhất quyết huy động tất cả lực lượng, tinh thần và vật chất của toàn quốc để giữ vững nền độc lập cho nước nhà.
Trước tình thế quốc tế hiện thời, Trẫm muốn mau mau có nội các mới.
Trẫm thiết tha hiệu triệu những nhà ái quốc hữu danh và ẩn danh đã nỗ lực chiến đấu cho quyền lợi dân chúng và nền độc lập nước nhà mau mau ra giúp Trẫm để đối phó với thời cuộc. Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Mỹ, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 6 phản hồi »
Posted by adminbasam on 27/02/2013
GS Lê Xuân Khoa
McNamara sang Việt Nam gặp Võ Nguyên Giáp để bàn việc tổ chức những buổi đàm thoại Mỹ-Việt với mục đích cùng xem xét những trường hợp mà mỗi bên có thể đã có những điều ngộ nhận về đối phương của mình, do đó đã lấy những quyết định sai lầm trong thời gian chiến tranh và để lỡ cơ hội hòa bình. Tướng Giáp đã phản ứng quyết liệt khi khẳng định rằng “Chúng tôi không hiểu lầm các ông. Các ông là kẻ thù muốn tiêu diệt chúng tôi. Vì thế chúng tôi phải chiến đấu chống các ông và “bù nhìn” của các ông để thống nhất xứ sở.” Khi McNamara đưa vụ Maddox ra làm thí dụ về chuyện hiểu lầm, Võ Nguyên Giáp ngắt lời, “Chúng tôi hiểu đúng các ông… Các ông hành động phá hoại để có cớ tham chiến thay cho chính phủ Sài-gòn bất lực.” Nói về các cơ hội hòa bình, tướng Giáp lại quả quyết “Không có vấn đề bỏ lỡ cơ hội đối với chúng tôi… Tôi đồng ý là các ông đã để lỡ cơ hội và các ông cần phải rút ra các bài học.”5
Đúng là cuộc đối thoại giữa hai người điếc. May mắn thay là cuối cùng tướng Giáp đã bằng lòng đưa đề nghị của McNamara vào nghị trình thảo luận. Cũng may mắn là tướng Giáp không tham dự các buổi thảo luận trong đó một số nhân vật miền Bắc đã phát biểu khác với ông, nhìn nhận có những trường hợp Bắc Việt không kiểu đúng ý định và lề lối làm việc của Mỹ, có những khó khăn từ phía “bạn”, và đáng lẽ đã có thể lấy quyết định thương thuyết sớm hơn. – GS Lê Xuân Khoa
Trong thời gian ba mươi bốn năm sau chiến tranh chống Pháp, chính phủ miền Bắc Việt Nam lại phải trải qua ba cuộc chiến tranh khác: chống VNCH và Hoa Kỳ (1955- 1975), chống Trung Quốc (tháng Hai 1979), và chống Khơ- me Đỏ ở Kam-pu-chia (1975-1989). Điều trớ trêu là trong hai trận chiến sau này, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đương đầu với chính hai cựu đồng minh đã cùng sát cánh chiến đấu trong suốt thời gian chống Pháp và chống Mỹ, nhất là Khơ-me Đỏ lại do chính Đảng CSVN giúp thành lập và huấn luyện. Sau chiến thắng 1975, các lãnh tụ miền Bắc lại không giữ lời hứa với các chiến hữu ở miền Nam về việc duy trì một tình trạng chuyển tiếp ít nhất là mười năm trước khi thực hiện thống nhất hai miền, và giải tán luôn cả ba hình thức của cùng một thực thể chính trị là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình (LMDTDCHB), và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam (CPCMLT). Chương này lần lượt kiểm điểm những sai lầm và những cơ hội bỏ lỡ của Hà Nội đối với cả thù và bạn trong ba cuộc chiến tranh nói trên.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Việt-Mỹ, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | Leave a Comment »
Posted by adminbasam on 24/02/2013
Chương 8: Sai lầm của Hoa Kỳ
GS Lê Xuân Khoa
“… nếu dân tộc ta không phải chịu sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh và nếu Việt Nam không theo đuổi chủ nghĩa cộng sản thì xứ sở đã được hiện đại hoá từ lâu và Việt Nam ngày nay có thể đã trở thành một trong những con rồng của Á châu. Ôn lại kinh nghiệm về những sai lầm và những cơ hội bỏ lỡ của mỗi phe lâm chiến trong suốt thời kỳ từ 1945 đến 1975 qua hai cuộc chiến tranh, chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học lịch sử cần thiết cho những thế hệ sau trong nhiệm vụ bảo vệ và phát triển đất nước“. – Lê Xuân Khoa
Sự thể đã rõ ràng là sự sụp đổ của chính thể quốc gia ở miền Nam và chiến thắng của chính thể cộng sản miền Bắc là nguyên nhân trực tiếp của tị nạn 1975. Biến cố này đã xảy ra mau chóng hơn cả kế hoạch tổng tấn công mà các chiến lược gia Hà Nội dự tính phát động vào năm 1976. Tuy nhiên, cũng như chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954), cuộc chiến lần thứ hai này đã đem lại nhiều kinh nghiệm khác nhau cho tất cả các phe liên hệ.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm báo/Blog | 13 phản hồi »
Posted by adminbasam on 23/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Năm,ngày 21/2/2013
XUNG QUANH VIỆC PHILIPPIN KHỞI KIỆN TRUNG QUỐC VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG
TTXVN (Niu Yoóc 18/2)
Viện nghiên cứu Trung Quốc “Jamestown Foundation” của Mỹ công bố tài liệu cho biết ngày 22/1 Philippin chính thức thông báo với Sứ quán Trung Quốc tại Manila về việc nước này sẽ gửi các tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông của hai nước lên trọng tài pháp lý quốc tế tại Liên hợp quốc (LHQ).
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 9 phản hồi »
Posted by adminbasam on 23/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Năm, ngày 21/2/2013
CHUYÊN GIA TRUNG QUỐC BÀN VỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐẢO TRONG 10 NĂM TỚI
TTXVN (Bắc Kinh 17/2)
Vào dịp năm mới trong tình hình mới, tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo”, ấn phẩm của Tân Hoa xã, mới đây đăng ý kiến bàn luận của các chuyên gia Trung Quốc về vấn đề tranh chấp biển đảo của Trung Quốc với các nước khác trong 10 năm tới.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 9 phản hồi »
Posted by adminbasam on 23/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Năm, ngày 21/2/2013
GIẢI MÃ GIẤC MƠ PHỤC HƯNG TRUNG QUỐC CỦA TỔNG BÍ THƯ TẬP CẬN BÌNH
TTXVN (Hồng Công 15/2)
Từ lâu nay, nhiều nước vẫn tỏ ra lo ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy. Trong bối cảnh ấy, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng ngày càng nhắc nhiều đến cái gọi là “giấc mơ Trung Quốc” và “sự phục hưng Trung Quốc. ” Báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng (Hồng Công) số ra ngày 6/2 vừa đăng bài viết “Giấc mơ phục hưng Trung Quốc của Tập Cận Bình là gì? ” của tác giả Cary Huang, trong đó phần nào giải mã “giấc mơ Trung Quốc ” cũng như “sự phục hưng Trung Quốc. Dưới đây là nội dung bài viết:
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 9 phản hồi »
Posted by adminbasam on 20/02/2013
PHẦN BA: Nội chiến hay Chiến tranh Ủy nhiệm?
Chương 7: Sự Sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa
GS Lê Xuân Khoa
Tị nạn năm 1975 là kết quả của một cuộc tranh chấp hai mươi năm mà phe quốc gia gọi là cuộc chiến đấu chống chế độ cộng sản của dân tộc Việt Nam, còn phe cộng sản thì gọi là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy để cứu nước. Thực tế thì đây là một cuộc nội chiến giữa hai phe người Việt Nam theo đuổi những lý tưởng khác nhau, đồng thời cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa hai khối quốc tế tư bản và cộng sản, với sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ.
Bởi vậy, tìm hiểu nguyên nhân của tị nạn 1975 cũng là tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến chiến tranh và sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà. Trước hết cần minh xác rằng Pháp chỉ thực sự trả lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam (dù đây chỉ là phân nửa phía Nam) sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm đã loại trừ các lực lượng nổi loạn thân Pháp năm 1955 và đòi quân đội viễn chỉnh Pháp phải rút hết về nước vào đầu năm 1966. VNCH được thành lập vào tháng Mười 1955 và trở thành một thực thể chính trị có chủ quyền trên toàn lãnh thổ thuộc phía Nam vĩ tuyến 17. Cuộc chiến tranh “quốc- cộng” lập tức được chuẩn bị theo chiều hướng là miền Bắc cương quyết thống nhất đất nước dưới quyền kiểm soát của đảng cộng sản, và miền Nam quyết tâm bảo vệ lãnh thổ chống lại mọi hoạt động xâm nhập của miền Bắc. Trung Quốc và Liên Xô viện trợ VNDCCH, trong khi Hoa Kỳ viện trợ VNCH và trực tiếp tham chiến từ 1965 sau những cuộc khủng hoảng lãnh đạo liên tiếp ở miền Nam.
Cuộc chiến càng ngày càng ác liệt tiếp theo quyết định “Mỹ hóa” chiến tranh, và tình hình càng ngày càng bất lợi cho VNCH. Sau trận Tết Mậu Thân 1968), Hoa Kỳ và Bắc Việt đồng ý thương thuyết hòa bình. Thực tế là một tiến trình “vừa đánh vừa đàm” cho đến 1973 mới đạt được hiệp định Paris với sự ký kết của “hai phe, bốn thành phần một bên là Hoa Kỳ và VNCH, bên kia là VNDCCH và MTGPMN. Chương trình “Việt Nam hoá ” chiến tranh của Nixon bị thất bại do quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam của Quốc hội Mỹ và vụ xì-căn-đan Watergate khiến Nixon phải từ chức. Nhờ tình thế thuận lợi ấy, Bắc Việt mở cuộc tổng tấn công VNCH và hoàn tất chinh phục miền Nam ngày 30 tháng Tư 1975.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm sách | 13 phản hồi »
Posted by adminbasam on 19/02/2013
Boxun.com
DÂN CHỦ DẦN TỪ MẠNG ĐI RA ĐƯỜNG PHỐ:
DÂN CHỦ ĐƯỜNG PHỐ QUẢNG ĐÔNG ĐANG HÀNH ĐỘNG
3.2.2013
Tác giả: Lý Phương
Người dịch: XYZ
Quảng Châu, Thâm Quyến, dân chủ dần từ mạng đi ra đường phố.
Từ năm 2001 đến năm 2013, làn sóng dân chủ, chống chuyên chế, chống thối nát cuồn cuộn trên các tiểu blog, Twitter, trang QQ tại Quảng Châu, Thâm Quyến đã dần dần tràn ra mặt đất, dần dần chuyển hóa thành các băng rôn, bài nói, khẩu hiệu trên đường phố, quảng trường. Phong trào dân chủ trong nước từ miệng chuyển xuống chân, từ bút mực chuyển thành động tác, đây là một sự thay đổi và tiến bộ mang ý nghĩa khá sâu sắc. Như mọi người đều biết, bất luận là phong trào dân chủ của nước nào cũng đều được tác thành từ phong trào quần chúng, đều được đánh đổi bằng bước chân, đôi tay, la hét, giam cầm, thậm chí bằng cả sinh mệnh. Không bao giờ chỉ là những bài viết ngồi đó mà luận bàn, cũng không bao giờ chỉ là những cuộc bút chiến, thảo phạt trên mạng.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Trung Quốc | 5 phản hồi »
Posted by adminbasam on 19/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Năm, ngày 14/2/2013
QUAN HỆ TRUNG QUỐC-MIANMA ĐỐI DIỆN VỚI NHIỀU THÁCH THỨC
TTXVN (Hồng Công 8/2)
Trong bài viết trên tờ “Đại Công báo” (Hồng Công), Liễu Phàm, nhà nghiên cứu ngoại giao Trung Quốc, cho rằng sau chuyến thăm mang tính lịch sử của Tổng thống Mỹ Obama tới Mianma, dư luận báo chí phương Tây dồn dập đưa ra dự báo rằng quan hệ Mỹ-Mianma cải thiện sẽ dẫn tới “quan hệ Trung Quốc – Mianma thụt lùi”, thậm chí còn lo ngại rằng “quan hệ Trung Quốc-Mianma đang đối mặt với sự chuyển ngoặt”. Mianma hiện nay đã trở thành một chiếc “bánh thơm” của các nước phương Tây. Mỹ, Nhật Bản và thậm chí cả Ấn Độ đều đang ra sức lôi kéo nước này, một số người Mianma cũng muốn dựa vào phương Tây. Trước thực tế này, có thể nói rằng quan hệ Trung Quốc-Mianma đối diện với thách thức, song mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước vẫn chưa có sự đảo ngược.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 4 phản hồi »
Posted by adminbasam on 17/02/2013
Hoa Sim ngày 17-2
Trịnh Hữu Long – Phạm Đoan Trang
17-02-2013
Nếu em lên biên giới
Em sẽ gặp bạt ngàn hoa…
Hoa sim, giữa đồi nắng gió, tím như ai chờ mong
Sắc hoa sim yêu thương trong lòng nguời lính trẻ
Chờ ai nên tím ngát bồi hồi
giữa biên cương…
Những ca từ đẹp đẽ và lãng mạn này của tác phẩm “Hoa sim biên giới” đã được nhạc sĩ Minh Quang sáng tác dựa trên cảm hứng từ chuyến công tác ở biên giới phía Bắc năm 1979 và hoàn chỉnh năm 1984, giữa thời kỳ căng thẳng trong quan hệ Việt Nam – Trung Hoa. Không lâu trước chuyến công tác của ông, ngày 17-2-1979, những tiếng súng đầu tiên đã vang lên trên bầu trời biên giới phía Bắc Việt Nam, báo hiệu sự trở lại của những đoàn quân xâm lược Trung Hoa, 190 năm sau thất bại của họ trước quân đội Tây Sơn ở Đống Đa – Ngọc Hồi.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 19 phản hồi »
Posted by adminbasam on 14/02/2013
Chương 5: Bài Học Chín Năm (1945-1954)
GS Lê Xuân Khoa
… không cần phải nhắc lại những chính sách sai lầm về mặt đối nội như tiêu diệt địa chủ và khủng bố trí thức trong những năm đầu thập kỷ 1950 (xem chương Ba), nhưng cần phải phân tích một sai lầm chủ yếu về đối ngoại có ảnh hưởng tai hại cho Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là việc cầu viện Trung Quốc qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Hành động cầu viện và tiếp viện vẫn là chuyện bình thường giữa các nước đồng minh, nhưng đặc biệt trong mối quan hệ Việt-Trung, hành động này có những hậu quả phức tạp. Đối với Trung Quốc, Việt Nam đã mắc một món nợ quá lớn, lại có một thời kỳ bất hòa đưa đến cuộc chiến tranh mùa Xuân năm 1979,25 khiến Việt Nam sẽ phải trả bằng một giá rất cao trong một thời gian rất lâu nếu không có sự sụp đổ của khối Sô-Viết và các nước cộng sản Đông Âu vào giữa thập kỷ 1980. Vì nguy cơ chung, Việt Nam và Trung Quốc lại hòa giải với nhau, nhưng trong tiến trình này, Việt Nam lại đi theo Trung Quốc như một gương mẫu về đối nội và đối ngoại và đã để cho Trung Quốc có cơ hội lũng đoạn và ngăn cản sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
Lê Xuân Khoa
Cuộc chiến 1945-19541 đã làm thương vong cho 172,708 người về phía Pháp trong số đó 31,716 là binh sĩ thuộc ba nước Đông Dương, số thương vong về phía quân đội cộng sản không được biết rõ, nhưng được phỏng định ít nhất là nửa triệu, số thường dân bị thiệt mạng trong cuộc chiến vào khoảng 250,000 người. Phí tổn về phía Pháp tính đến 1950 chiếm từ 40 đến 45 phần trăm ngân sách quốc phòng và trên 10 phần trăm ngân sách quốc gia. Trong những năm cuối cùng, viện trợ Mỹ gánh chịu đến 78 phần trăm chi phí. về phía VNDCCH, phí tổn không rõ là bao nhiêu nhưng sự thiệt hại về tài sản của nhân dân và về những nguồn lợi kinh tế của Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh và cả những năm sau chiến tranh, cộng với sự thiệt hại về nhân mạng, đã cho thấy cái giá của chiến thắng quả thật là quá đắt. Cái giá ấy không đắt nếu chiến tranh là con đường duy nhất để dẫn đến độc lập, tự do và hạnh phúc thực sự cho dân tộc. Nhưng cái giá ấy quá đắt vì chỉ trong vòng mấy năm sau Thế Chiến II các xứ thuộc địa trên thế giới, trừ một số nước ở Nam Phi, đều được trả lại độc lập mà không cần phải có chiến tranh. Anh và Hòa Lan là những đế quốc sớm từ bỏ các thuộc địa ở Á châu. Ngay cả đế quốc thực dân ngoan cố nhất là Pháp cũng trả độc lập cho hai xứ bảo hộ là Tunisie năm 1954, Maroc 1956 và các thuộc địa ở Nam Phi năm 1958. Chỉ có Algérie, thuộc địa của Pháp từ 1830 mãi tới 1954 mới noi gương VNDCCH thành lập Mặt trận Quốc gia Giải phóng (Front de Libération Nationale — FLN) vừa đánh vừa đàm cho tới khi độc lập năm 1962, nhưng cũng không phải trả một giá quá cao như Việt Nam. Cái giá của chiến thắng 1954 lại càng đắt hơn nữa vì kết quả là đất nước bị chia đôi, nhân dân vẫn không được tự do, no ấm, nhất là phải chịu thêm một trận chiến khác lâu dài và khốc liệt hơn nhiều.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 19 phản hồi »
Posted by adminbasam on 11/02/2013
PHẦN HAI: Chiến tranh Chống Pháp và Tị nạn 1954
Chương 4: Hội nghị Genève và Hai Nước Việt Nam
GS Lê Xuân Khoa
“… kết quả của hội nghị Genève chỉ là những bản thỏa hiệp về ngưng bắn ở ba nước Đông Dương đúng với sự mong muốn của Pháp. Cam-bốt và Lào trở thành những quốc gia trung lập và bộ đội Việt Minh phải rút hết về nước. Riêng Việt Nam bị cắt làm đôi dưới hai chính thể hoàn toàn đối lập để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh khác còn lâu dài và khốc liệt nhiều hơn nữa. Việc đảng Cộng sản Việt Nam phải nhờ cậy sự giúp đỡ của Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp cũng tạo thành một món nợ lớn khiến cho cả nước bị mắc kẹt trong lâu dài và phải trả bằng những giá quá đắt, từ việc phải rập khuôn mô hình cải cách ruộng đất “long trời lở đất”, “chỉnh huấn trí thức” và “trăm hoa đua nở” trong thập kỷ 1950. Hơn tám năm chiến tranh đã làm cho miền Bắc phải chịu những thiệt hại to lớn về nhân mạng, tài sản và lợi ích dân tộc để chỉ đạt được một thắng lợi hạn chế do sự ép buộc của chính đồng minh của mình. Tiếp đến cuộc chiến hai mươi năm tại miền Nam, Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam còn phải mắc nợ Trung Quốc nhiều hơn nữa”.
GS Lê Xuân Khoa
Hai tháng rưỡi sau khi Pháp bị đánh bại trên chiến trường Điện Biên Phủ, hiệp ước đình chiến Việt-Pháp được ký kết tại Genève ngày 21 tháng Bảy 1954, với sự tham dự của hai nước đồng chủ tịch là Anh quốc và Liên Xô, cùng với Pháp, Trung Quốc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), Cam-bốt và Lào. Hai nước hiện diện trong hội nghị nhưng không tự nhận là tham dự viên chính thức là Quốc Gia Việt Nam (QGVN)1 và Hoa Kỳ. Trong bản thỏa hiệp đình chiến Việt- Pháp và bản Tuyên cáo của hội nghị, quan trọng nhất là những điều khoản chia cắt nước Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc với “lần ranh quân sự tạm thời ” là vĩ tuyến 17, và dự trù tổ chức tổng tuyển cử trong vòng hai năm về vấn đề thống nhất đất nước. Bản thỏa hiệp cũng qui định việc Quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi miền Bắc và Quân đội Nhân dân Việt Nam rút khỏi miền Nam trong vòng 300 ngày, và trong thời gian đó dân chúng hai miền được tự do đi lại và chọn lựa nơi cư trú. Kết quả là ngót một triệu dân miền Bắc đã rời bỏ sự nghiệp và tài sản của mình để vào Nam xây dựng lại cuộc đời dưới chính thể quốc gia.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 11 phản hồi »
Posted by adminbasam on 08/02/2013
Cáo lỗi: Do sai sót kỹ thuật khi thao tác, nên bài này bị xóa mất, chúng tôi phải đăng lại, tuy nhiên không còn những phản hồi cũ. Thành thật xin lỗi độc giả.
“Vào cuối năm ngoái, 72 vị trí thức đã cùng ký tên vào một bản kiến nghị do giáo sư Trương Thiên Phàm ở Đại học Bắc Kinh soạn thảo … họ hy vọng cải cách Hiến pháp sẽ là chủ đề cốt lõi trong cải cách của Trung Quốc …”
bbc.co.uk
CẢI CÁCH HIẾN PHÁP ĐÃ TỚI ĐIỂM GIỚI HẠN, CÁC PHÁI Ở TRUNG QUỐC DIỄN RA CUỘC CHIẾN CÙ CƯA
4.2.2013
Người dịch: XYZ
Tin từ “New York Times” Mỹ ngày 4.2, được sự khích lệ bởi bài nói của nhà lãnh đạo mới kế nhiệm Tập Cận Bình, cùng sự rớt đài của cựu Bí thư thành ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai, phái cải cách của Trung Quốc gần đây tích cực hoạt động, kêu gọi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCS TQ) thực thi Hiến pháp,học giả Mỹ cho rằng, đây là kết quả của sự ngẩng đầu có ý thức của người dân Trung Quốc.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Hiến pháp, Trung Quốc | 3 phản hồi »
Posted by adminbasam on 08/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ tư, ngày 6/2/2013
TRUNG QUỐC TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ
TTXVN (Niu Yoóc 1/2)
Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết trong thập kỷ 60 hoặc 70 của thế kỷ trước, các nước đặt mua xe tăng, tàu chiến hoặc máy bay của Trung Quốc rất có thế đẩy binh sĩ của họ vào tình thế nguy hiểm gấp đôi vì phải chống lại kẻ thù bằng các loại vũ khí trang bị rẻ tiền bắt chước từ các loại vũ khí trang bị của Liên Xô vốn không có độ tin cậy cao. Nhưng hiện nay tình hình đó đã hoàn toàn thay đổi, như cuộc triển lãm hàng không lần thứ 9 của Trung Quốc đã khẳng định với các nước tham gia cuộc triển lãm.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Quân sự, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 4 phản hồi »
Posted by adminbasam on 06/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Hai, ngày 4/2/2013
NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC
(Tạp chí “Ngoại giao Trung Quốc ”, Trung Quốc)
Biển chiếm khoảng 70% diện tích trái đất, chứa đựng ít nhất trên 65% nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái trất, là nguồn năng lượng và khoáng sản quan trọng nhất trong tương lai gần của con người. Sự sinh tồn và phát triển của con người trong tương lai cho thấy biển vô cùng quan trọng, có thể nói “có biển sẽ hưng thịnh, mất biển sẽ suy vong”. Mặc dù Trung Quốc là một nước lớn có cả biển và đất liền, có hơn 18.000 km bờ biển và hơn 6.000 đảo, song do các nguyên nhân chủ quan và khách quan, lâu nay quyền lực trên đất liền tương tối mạnh, quyền lực trên biển tương đối yếu thế. Xét về góc độ chiến lược, chiến lược biển của Trung Quốc luôn ở trong tình cảnh tương đối bị động. Vì vậy, tình cảm của người dân Trung Quốc đối với biển vô cùng phức tạp, vừa yêu vừa hận. Xét từ góc độ lịch sử, biển vừa mang lại sự giàu có và vinh quang, vừa mang đến tai họa và sỉ nhục cho người Trung Quốc, còn xét từ hiện thực và tương lai thì đầy rẫy cơ hội và thách thức.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 9 phản hồi »
Posted by adminbasam on 06/02/2013
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)
Thứ Hai, ngày 4/2/2013
TRUNG QUỐC SẼ HOÀN THÀNH GIẤC MỘNG CƯỜNG QUỐC BIỂN VÀO NĂM 2030?
TTXVN (Bắc Kinh 1/2)
Tờ “Thời báo Hoàn cầu” mới đây đăng bài viết của Trương Kiến Cương, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu chính trị hải dương chiến lược thuộc Đại học Hải dương Quảng Đông, trong đó vị chuyên gia này cho rằng Báo cáo Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã coi xây dựng cường quốc biển là chiến lược phát triển quốc gia, đây là yêu cầu thời đại của toàn thể con cháu Viêm Hoàng, là tiến trình tất yếu của lịch sử Trung Quốc. Tác giả định nghĩa cường quốc biển là chỉ sự tổng hoà về sức mạnh kinh tế và sức mạnh vũ trang trên biển, là chỉ quốc gia có thực lực tổng hợp lớn mạnh trên các mặt như khai thác biển, sử dụng biển, bảo vệ biển và quản lý biển, trong đó Mỹ và Nhật Bản ngày nay chính là hệ tham chiếu.
Tác giả đã đưa ra 7 đặc điểm chủ yếu để Trung Quốc có thể trở thành cường quốc biển trong tương lai:
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 14 phản hồi »
Posted by adminbasam on 05/02/2013
Chương 2: Những Yếu Tố Bên Ngoài
GS Lê Xuân Khoa
“Trong trường hợp Việt Nam, câu hỏi căn bản là: Liệu Hoa Kỳ có nên đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh và giúp cho Việt Minh thỏa hiệp được với Pháp hay không? (chẳng hạn thực thi hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba 1946).
Nếu câu trả lời là ‘có’ thì chuyện gì sẽ xảy ra cho chính phủ liên hiệp bất đắc dĩ lúc bấy giờ, nhất là khi các đảng phái quốc gia đã bị chính phủ Trùng Khánh bỏ rơi? Hồ Chí Minh, cũng như tất cả những người làm cách mạng chống Pháp, là một người yêu nước nhưng ông cũng chỉ tin tưởng ở chủ nghĩa cộng sản. Như vậy làm sao có hòa bình và ổn định giữa người Việt Nam với nhau, và giữa Việt Minh với Hoa Kỳ ? Giả thử Hồ Chí Minh thật tình ưa thích Hoa Kỳ vì lý tưởng tự do dân chủ và chủ trương của nước này giúp cho các nước nhỏ yếu được độc lập như ông đã bày tỏ nhiều lần58, liệu ông có thể tự do đi với Mÿ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, bất chấp Liên Xô và Trung Quốc?” - Lê Xuân Khoa
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Điểm sách | 12 phản hồi »
Posted by adminbasam on 02/02/2013
Phần 1: Những Nguyên Nhân Gốc của Tị Nạn
Chương 1: Quốc gia và Cộng sản
GS Lê Xuân Khoa
Ưu điểm lớn nhất của Việt Minh là khả năng tuyên truyền vận động quần chúng.53 Việt Minh đã khéo che dấu được lai lịch cộng sản dưới hình thức một mặt trận đoàn kết toàn dân với mục tiêu duy nhất là chống Pháp để đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc. Nhờ có thành tích chống cả Pháp lẫn Nhật, nhất là biết khai thác tối đa các quan hệ hợp tác với OSS, chủ thuyết Roosevelt và triển vọng hỗ trợ của Hoa Kỳ, Việt Minh đã dễ dàng đem lại cho mọi người niềm tin tưởng là có sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Đó cũng là một trong những lý do khiến chính phủ Trần Trọng Kim không dám chống lại Việt Minh và vua Bảo Đại sẵn sàng thoái vị.
Lịch sử Việt Nam vào nửa sau của thế kỷ XX là lịch sử của đất nước bị chia đôi và bốn cuộc chiến tranh trước và sau sự chia cắt ấy. Cuộc chiến thứ nhất là kháng chiến chống Pháp và chống Quốc Gia Việt Nam do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Mặt trận Việt Minh) lãnh đạo (1945-1954). Cuộc chiến thứ nhì là nội chiến giữa miền Bắc cộng sản và miền Nam quốc gia (1956-1975) với sự tham gia của hai khối đối đầu trong cuộc Chiến tranh Lạnh: Hoa Kỳ chiến đấu sát cánh với miền Nam, Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn cho miền Bắc. Hai cuộc chiến tiếp theo xảy ra giữa Việt Nam và hai đồng minh cộng sản: Trung Quốc (tháng Hai 1979) và Cam-pu-chia (1979-1989).
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 15 phản hồi »
Posted by adminbasam on 01/02/2013
LỜI MỞ ĐẦU
GS Lê Xuân Khoa
“Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua: Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hòa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại“.
Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Đông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Việt, Trung Quốc, Điểm sách | Leave a Comment »
Posted by adminbasam on 01/02/2013
LỜI MỞ ĐẦU
GS Lê Xuân Khoa
“Cuộc chiến hai mươi năm ở Việt Nam vừa là nội chiến vừa là chiến tranh ủy nhiệm mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua: Hoa Kỳ chi phí 200 tỉ đô-la và thiệt hại trên 58,000 binh sĩ nhưng vẫn phải chịu thất bại và bỏ cuộc; Việt Nam Cộng Hòa chết hơn một trăm ngàn quân và gần nửa triệu dân để rồi bị Hoa Kỳ bỏ rơi và sụp đổ thảm thương; Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam toàn thắng nhưng đã phải trả giá bằng hơn một triệu sinh mạng bộ đội và cán bộ tại chiến trường miền Nam và khoảng hai triệu thường dân ở miền Bắc,[3] nhất là sau đó còn phải chiến đấu với hai cựu đồng minh và nhận lãnh những hậu quả tai hại khiến cho đất nước bị lâm vào tình trạng tụt hậu và nghèo đói trong mười mấy năm liền do chính sách sai lầm về cả hai mặt đối nội lẫn đối ngoại“.
Lịch sử Việt Nam trong hơn nửa sau thế kỷ XX là lịch sử của chiến tranh, tị nạn và những biến đổi lớn về chính trị ở trong nước. Bắt đầu là cuộc xâm nhập Đông Dương của đế quốc Nhật Bản vào tháng Chín 1940 bắt buộc Pháp phải nhường Đông Dương cho Nhật làm căn cứ quân sự nhưng Pháp vẫn được tiếp tục cai trị về hành chánh. Sau khi Nhật tuyên chiến với Hoa Kỳ bằng cuộc tấn công Trân Châu Cảng tháng Mười Hai 1941, toàn cõi Việt Nam bắt đầu phải chịu sự oanh tạc của không lực Hoa Kỳ nhắm vào các căn cứ quân sự và các tuyến đường giao thông vận tải của Nhật. Không có số thống kê về các nạn nhân Việt Nam của những vụ oanh tạc này nhưng con số thương vong của thường dân vô tội trong hơn ba năm trời nhất định không phải là nhỏ. Trong khi đó, nhân dân Việt Nam phải tiếp tục chịu ách thống trị “một cổ hai tròng” cho tới tháng Ba 1945 khi Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp, trao trả “độc lập” cho Việt Nam nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát về an ninh, quân sự và ngoại giao. Tháng Tám 1945, sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Mặt trận Việt Minh giành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đất nước lại lâm vào hai trận chiến thảm khốc trong thời gian ba mươi năm (1945-1975), trừ vài năm chuyển tiếp sau khi đất nước bị chia đôi năm 1954.
Đọc tiếp »
Like this:
Like Đang tải ...
Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Hồ Chí Minh, Lịch sử, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc, Đảng/Nhà nước, Điểm sách | 23 phản hồi »