BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Tôn giáo’ Category

585. Khái lược lịch sử đạo Tin lành ở Việt Nam

Posted by basamnews on 23/12/2011

TẠP CHÍ  XƯA VÀ  NAY

Khái lược lịch sử đạo Tin lành ở Việt Nam

SỐ  392  THÁNG  11 – 2011

Nguyễn Đăng Bản

THÁNG 6 NĂM.2011, CỘNG ĐỒNG TÍN HỮU ĐẠO TIN LẦNH Ở VIỆT NAM LONG TRỌNG KỶ NIỆM 100 NĂM ĐẠO TIN LÀNH TRUYỀN VÀO VIỆT NAM. NHÂN DỊP SỰ KIỆN NÀY CHÚNG TÔI XIN CUNG CẤP MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM THÔNG QUA MỘT TỔ CHỨC GIÁO HỘI TIÊU BIỂU CÓ SỐ LƯỢNG TÍN ĐỒ LỚN NHẤT LÀ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM LÀM ĐẠI DIỆN NHẰM GIÚP NGƯỜI ĐỌC CÓ MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠO TIN LÀNH 100 NĂM QUA.

Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 1 triệu người theo đạo Tin lành thuộc hơn 70 tổ chức, nhóm Tin lành khác nhau, đa sô các tổ chức Tin lành hiện nay được hình thành chủ yếu sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước. Hiện tại đã có 9 tổ chức Tin lành được Nhà nước công nhận về tư cách pháp nhân, số còn lại thường được gọi là hội thánh Tin lành tư gia với số lượng từ vài trăm cho đến vài ngàn tín đồ. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu đề cập đến những vấn đề lịch sử của Hội thánh Tin lành Việt Nam thành lập năm 1927 (nguồn gốc CMA, tên gọi trước năm 1954) – tiền thân của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) hiện nay.

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo | 12 phản hồi »

574. ẢNH HƯỞNG ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA VATICĂNG

Posted by basamnews on 18/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

ẢNH HƯỞNG ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA VATICĂNG

 Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thữ bảy, ngày 17/12/2011

TTXVN (Pari 11/12)

Theo tạp chí “Ngoại giao” s chuyên đề tháng 8-9/2011, trong suốt thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, Vaticăng đã tỏ ra là một chủ thể có sức hút mạnh mẽ, là trung tâm hành động quốc tế, trung tâm ngoại giao. Hoạt động ngoại giao của Vaticăng là một nhân tố hành động quan trọng trong cộng đồng quốc tế, ngay cả khi bỏ sang một bên những khía cạnh tôn giáo. Ngành ngoại giao Vaticăng là một trong những ngành lâu đời nhất thể giới và đáng nể nhất do “trình độ đào tạo chuyên nghiệp”. Nó khác với ngoại giao thuần túy của các quốc gia khác, vì vừa có tính chất thế quyền lẫn thần quyền.

Vaticăng hiện có quan hệ ngoại giao đầy đủ với 179 quốc gia. Việt Nam, do tính chất là nước có cộng đồng Công giáo 1ớn thứ hai ở châu Á, cũng đang là mục tiêu trong hoạt động thúc đẩy quan hệ ngoại giao của Tòa Thánh, như lời Giáo hoàng Benedict XVI từng nói nhân dịp Năm Thánh vừa qua: “Việt Nam là một đât nước gần gũi với trái tim tôi, nơi Giáo hội đang mừng kính sự hiện diện hàng mấy thế kỷ qua bằng một Năm Thánh”. Vậy thực tiễn hoạt động ngoại giao của Vaticăng như thế nào và xu hướng hoạt động thời gian tới ra sao, đang cần có lời giải.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Tôn giáo | 3 phản hồi »

525. Lộ rõ tim đen

Posted by basamnews on 03/12/2011

Hà Nội mới

Linh mục Giáo xứ Thái Hà lôi kéo giáo dân biểu tình trái pháp luật:

Lộ rõ tim đen

03/12/2011 06:34

(HNM) – Hôm qua 2-12, một số linh mục Nhà thờ Thái Hà, trong đó có Chính xứ Nguyễn Văn Phượng đã cầm đầu, kích động lôi kéo gần 100 giáo dân lấy cớ nộp đơn đòi đất tại trụ sở tiếp công dân của thành phố (34 Lý Thái Tổ) để tụ tập, tổ chức biểu tình, gây mất trật tự công cộng xung quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm.

Ảnh: do Ba Sàm bổ sung vì bài gốc không có

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 293 phản hồi »

521. Linh mục, giáo dân Thái Hà biểu tình lần 2 tại Bờ Hồ

Posted by basamnews on 02/12/2011

Sáng nay, giáo dân, tu sĩ và linh mục Giáo xứ Thái Hà lại tiếp tục xuống đường phản đối việc nhà nước tự ý cải tạo Tu viện Dòng Chúa cứu thế, một cơ sở của nhà dòng hiện đang bị mượn làm bệnh viện. Đây là cuộc xuống đường lần thứ 2 của giáo xứ Thái Hà.

8h30′: Linh mục, tu sĩ giáo dân Thái Hà cùng giáo dân từ các xứ trên địa bàn HN tập trung trước tượng đài Lý Thái Tổ.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 379 phản hồi »

443. “Không gian văn hoá” Nho giáo Việt Nam

Posted by basamnews on 27/10/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

“Không gian văn hoá” Nho giáo Việt Nam

SỐ 389 THÁNG 10-2011

Trịnh Văn Thảo

(Tiếp theo: 249. XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRÍ THỨC VIỆT NAM ; 325. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử ; 399. NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ).


Một đặc thái dân tộc: nho sĩ “bám rễ” nông thôn

Trái với nho sĩ Trung Quốc, nhà nho Việt Nam thời Lê – Nguyễn thường bám rễ ở nông thôn dân dã, mặc dù đời sống thành thị đã bắt đàu manh nha vào cuối thế kỷ XVII, các thương cảng như Phố Hiến, Hội An được tàu bè lớn ngoại quốc thăm viếng, buôn bán. Tuy nhiên, kho mục chí của Lịch triều hiến chương loại chí chỉ ghi tên ba ông Tiến sĩ nguyên quán tại Thăng Long từ 1442 đến 1787. Dưới Nguyễn triều, số lượng các đại đăng khoa cũng xuất thân từ đồng ruộng và sĩ tử vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh vượt qua thí sinh gốc Huế hay Thừa Thiên theo bảng thống kê sau:

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo, Văn hóa | 4 phản hồi »

412. Không ai đàn áp những người theo pháp môn Làng Mai

Posted by basamnews on 11/10/2011

Đôi lời: Vụ việc xảy ra cách đây đã 2 năm và kéo dài, thu hút sự chú ý của người Việt trong, ngoài nước và dư luận quốc tế. Có rất nhiều tin, bài liên quan, nhưng chỉ xin giới thiệu dưới đây Thỉnh nguyện thư  hầu làm rõ bài viết trên báo Quân đội Nhân dân, từ đó độc giả chọn lựa, tin vào hơn 400 trí thức, nhà hoạt động và quần chúng công khai danh tính, hay vào một kẻ dấu mặt có “ẩn danh” Kim Ngọc.

Quân đội Nhân dân

Mục: Phòng, chống “diễn biến hòa bình”

Không ai đàn áp những người

theo pháp môn Làng Mai

Thứ Ba, 11/10/2011, 20:38 (GMT+7)
.

QĐND – Những ngày cuối tháng 9, đầu tháng 10 vừa qua, một số trang mạng có địa chỉ ở nước ngoài lại đưa ra những thông tin sai lệch về các biện pháp mà chính quyền các cấp ở tỉnh Lâm Đồng tiến hành để giải quyết việc tụ tập của một số người tu theo pháp môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã. Họ gọi các biện pháp của chính quyền là hành động đàn áp, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Họ còn nói rằng, một số lãnh đạo Giáo hội là “tỏ rõ sự nhu nhược…”, nên đã ít nhiều tiếp tay cho sự đàn áp…

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | 24 phản hồi »

399. NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ

Posted by basamnews on 05/10/2011

TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY

SỐ 387 THÁNG 9-2011

NHO GIÁO VIỆT NAM DƯỚI

GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC LỊCH SỬ

Trịnh Văn Thảo

(Tiếp theo: 249. XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ TRÍ THỨC VIỆT NAM ; 325. Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử )

Nho giáo hướng về cuộc đời

Trong xã hội Nho giáo, nhà nước nắm độc quyền quản lý đời sống tinh thần và xem mọi sinh hoạt tôn giáo như hành vi chính trị. Tuy nhiên, trách nhiệm của nhà nước Khổng Mạnh trên mặt thượng tầng tôn giáo không phủ nhận sự hiện diện của các “hạ tầng tôn giáo” (infra – religions) như đạo thờ cúng tổ tiên có trước nó, vì lý do rất giản dị là Nho giáo luông hướng về đời sống hiện đại (thiên hạ) và nhà nho không bị ám ảnh bởi định mệnh của mình trong cõi chết. Đặc tính của nhà nho là chấp nhận rằng có nhiều sự việc bất khả tri luận (agnos – tique) (tr.208).

Đọc tiếp »

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo | 4 phản hồi »

390. Việt Nam: Cần phóng thích các nhà hoạt động tôn giáo ngay lập tức

Posted by basamnews on 30/09/2011

HUMAN RIGHTS WATCH

Việt Nam: Cần phóng thích các

nhà hoạt động tôn giáo ngay lập tức

Các hành động đàn áp đe dọa tự do tôn giáo 

(New York, ngày 30 tháng Chín năm 2011) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố chính quyền Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc đàn áp các nhà hoạt động tôn giáo và phóng thích 15 người bị bắt vì đã bày tỏ niềm tin của mình. Các vụ bắt bớ, chủ yếu nhằm vào các tín đồ Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, là một vết đen nữa trong bảng thành tích vốn đã nhiều vấn đề của Việt Nam về tự do tôn giáo.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | 31 phản hồi »

387. Nhân chuyện ông Trần Đăng Tuấn mở blog

Posted by basamnews on 30/09/2011

Hahien’s Blog

Nhân chuyện ông Trần Đăng Tuấn mở blog

Hôm nay, đọc trên Blog Quê Choa của Bọ Lập thấy có bài của Bọ về chuyện ông Trần Đăng Tuấn, từng là Phó TGĐ Đài Truyền hình Việt Nam, mới mở blog.

Trong entry này Bọ Lập đã có lời khen “…cái ông Tuấn này viết văn được phết…”

Tôi đang chờ đợi trong blog của ông Tuấn sẽ có một entry chỉ vài từ  ngắn gọn rằng  “Tôi xin thành thực xin lỗi ông Ngô Quang Kiệt về những gì đã viết về ông”.

Đọc tiếp »

Đăng trong Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền, Tôn giáo | Tagged: , | 271 phản hồi »

Những đóng góp của các giáo sĩ thừa sai với nghiên cứu Việt Nam

Posted by basamnews on 08/09/2010

Tạp chí XƯA & NAY

Số 362 Tháng 8 – 2010

Từ Léopold Cadière: Nghĩ về những đóng góp của các giáo sĩ

thừa sai với nghiên cứu Việt Nam

ĐÀO HÙNG

 

TƯỞNG NIỆM 55 NĂM NGÀY QUA ĐỜI CỦA LINH MỤC CADIÈRE (1955-2010), MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐẶT NỀN MÓNG CHO NGHIÊN CỨU DÂN TỘC HỌC Ở VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VÀ TÒA TỔNG GIÁM MỤC GIÁO PHẬN HUẾ, SẼ TỔ CHỨC CUỘC HỘI THẢO VỀ “THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÉOPOLD CADIÈRE” TẠI TRUNG TÂM MỤC VỤ GIÁO PHẬN HUẾ. HỘI THẢO DIỄN RA TỪ NGÀY 7 ĐẾN NGÀY 9-9-2010, VỚI SỰ THAM GIA CỦA NHIỀU NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VÀ LỊCH SỬ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI. NHẰM THÔNG TIN CHO BẠN ĐỌC VỀ CUỘC HỘI THẢO TRÊN, CHÚNG TÔI SẼ ĐĂNG MỘT SỐ BÀI THAM LUẬN TRÌNH BÀY TRONG HỘI THẢO NÀY.

Léopold Cadière được đào tạo tại Chủng viện của Hội Truyền giáo hải ngoại Paris (MEP) và được thụ phong linh mục năm 1892. Ông xuất thân trong một gia đình trại chủ bình thường, không có truyền thống bác học, cũng không gần những trung tâm nghiên cứu khoa học của Pháp. Vốn tri thức của ông chắc cũng không ngoài những điều mà Hội truyền giáo hải ngoại cung cấp cho các giáo sĩ thừa sai để đi làm nhiệm vụ truyền giáo. Tuy không tiếp cận được chương trình đào tạo của các chủng viện, nhưng qua những gì đã được nhìn thấy, tôi có thể hình dung chương trình đào tạo phong phú và chặt chẽ của các chủng viện Pháp thời bấy giờ.

Đến Việt Nam một tháng sau khi thụ phong linh mục, ông được đưa về Tiểu chủng viện An Ninh thuộc Quảng Bình, rồi tiếp tục làm cha xứ ở vùng quê này, xa các trung tâm tri thức của Việt Nam thời bấy giờ, nên chắc cũng không có dịp tiếp xúc nhiều với giới khoa học người Âu ở đất nước thuộc địa này. Nhưng với một giáo sĩ thừa sai thì điều quan trọng nhất là được tiếp xúc với những người dân mà mình có bổn phận chăn dắt.

Vậy mà chính tại giáo xứ Cù Lạc, Cadière đã được gặp Louis Finot và thiếu tá Lunet de Lajon-quière trong chuyến đi công cán cho Học viện Viễn ĐÔng Bác cổ Pháp (EFEO) vừa mới thành lập. Louis Finot (1864-1935) là giám đốc đầu tiên của EFEO từ 1898 đến 1904, một nhà cổ tự học, chuyên gia về chữ Phạn, đã có nhiều công trình nghiên cứu văn bia Khmer, Lào và Chăm… Còn thiếu tá Lunet de Lajonquière là sĩ quan thuộc Trung đoàn 3 thuộc địa Bắc kỳ, cộng tác viên đầu tiên của EFEO từ 1899, nhà dân tộc học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tộc người thiểu số miền Bắc Việt Nam. Cuộc gặp gỡ giữa các học giả đã thành danh với một vị cha xứ trẻ tuổi vô danh ở cái xứ hẻo lánh này đã để lại những ấn tượng sâu đậm với các nhà nghiên cứu trên đường đi khảo sát văn hóa và lịch sử Việt Nam. Dù lúc đó Cadière chưa có công trình nghiên cứu gì đáng kể, nhưng chỉ qua tiếp xúc ban đầu, Louis Finot đã nhìn thấy ở ông một tài năng nghiên cứu đầy triển vọng. Họ đã kết bạn, và có lẽ đó sẽ là niềm khích lệ cho Cadière thêm tin tưởng trên bước đường nghiên cứu của mình. Sau này Louis Malleret, giám đốc EFEO từ 1950-1956, đã ghi lại rằng “Louis Finot thường nói, phát hiện đẹp nhất của mình trong chuyến công cán đầu tiên khảo sát Đông Dương chính là cha Cadière” (la plus belle découverte qu’il avait faite ló de son premier voyage d’exploration de l’Indochine était le R.P.Cadière).

Ngay từ số đầu tiên của tập san Học viện Viễn Đông Bác cổ (BEFEO), Cadière đã có bài viết nhan đề Tín ngưỡng và ngạn ngữ dân gian ở thung lũng Nguồn Son, ra mắt năm 1901. Như vậy chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm, sau khi đặt chân đến đất nước này, Cadière đã thông thạo tiếng Việt và đi vào nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng Việt Nam. Thông thạo tiếng bản địa là yêu cầu đầu tiên đối với các giáo sĩ thừa sai trong nhiệm vụ truyền giáo, đó cũng là chỗ khác nhau giữa những nhà nghiên cứu trong giáo hội với nhiều nhà nghiên cứu Pháp thời bấy giờ. Vì hầu như các nhà nghiên cứu Pháp thời đó, mặc dầu đã viết rất nhiều sách về Việt Nam nhưng vẫn chưa đọc được các tư liệu tiếng Việt mà phải dựa vào phần lớn là thư tịch Pháp hoặc Anh, tất nhiên trừ người rất thông thạo Hán Nôm chuyên về cổ tự học.

Các công trình nghiên cứu đầu tiên của Cadière là về ngôn ngữ học, như ngữ âm học tiếng Việt, phương ngữ Mường, đồng thời nghiên cứu nhiều văn bản về lịch sử, như đã cộng tác với Paul Pel-liot để viết về Nghiên cứu bước đầu về nguồn tư liệu An Nam trong lịch sử An Nam đăng trên BEFEO năm 1094. Nhưng phải nói ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, đặc biệt các công trình của ông về tín ngưỡng dân gian ở địa phương nơi ông làm việc là những công trình có giá trị đổi mới, khác với nhiều trước tác của các nhà nghiên cứu trước đó thường nhìn các tín ngưỡng bản địa bằng con mắt kỳ thị. Cadière còn quan tâm đến việc sưu tầm cây cỏ, và đã có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực này. Ông đã cung cấp cho Bảo tàng lịch sử tự nhiên Pháp và nhiều cộng tác viên trên thế giới hàng nghìn mẫu cây cỏ tìm thấy ở Việt Nam, chủ yếu là tại Quảng Bình.

Dù đã được công nhận là thành viên thông tấn của EFEO từ 1906, rồi đến tháng 10-1918 lại được công nhận là thành viên hưởng trợ cấp (pensionnaire), nhưng ông chỉ giữ danh nghĩa đó có 2 năm, vì ông từ chối không ra làm việc tại Hà Nội, mà vẫn tiếp tục giữ nhiệm sở tại Cửa Tùng. Tại đây ông đã xây dựng một nhà thờ, mở một trường học và lập nên một vườn bách thảo nổi tiếng vì những cây có dầu và cây dương xỉ hiếm.

Nhưng có lẽ đóng góp lớn nhất của Cadière đối với nghiên cứu Việt Nam là việc thành lập Hội Đô thành hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hué – AAVH), mà ông là người khởi xướng. Sau này Cadière đã kể lại rằng: “Một hôm, tôi nói với vài người bạn rằng tôi rất đau lòng khi thấy những dấu vết của quá khứ bị hủy hoại và mất đi, và những người bạn đó, cùng chia sẻ mối quan tâm, đã cùng tôi thành lập Hội Đô thành Hiếu cổ. Đó là lý do đầu tiên đưa đến việc thành lập Hội”. Chính ông đã chủ động tiếp xúc với Léonard Aurousseau, thành viên của EFEO (sẽ trở thành giám đốc từ 1926-1929), lúc đó là thầy dạy vua Duy Tân, và bác sĩ quân y Albert Sallet, nhà nghiên cứu thực vật học, để đi đến quyết định thành lập một tổ chức nhằm mục đích: truyền bá văn hóa Việt Nam và bảo vệ các di tích văn hóa của đất nước này, chủ yếu là ở Huế. Ngày 16-11-1913, AAVH đã được thành lập tại Huế với 17 thành viên đầu tiên, đến từ các phương trời rất khác nhau: giáo sĩ thừa sai, quan chức thuộc địa, binh sĩ, nhà buôn, quan lại Nam triều. Tất cả đều làm việc tự nguyện không lương, cống hiến sức lực một cách vô tư ngoài những việc chuyên môn mà họ phải làm hàng ngày.

Trong hơn 30 năm (từ 1913-1944), AAVH mặc dầu với số người ít ỏi, phương tiện làm việc chưa phải đầy đủ, nhưng đã gánh vác sứ mệnh “truyền đến cho các thế hệ mai sau tầm nhìn chân chính về Việt Nam xưa trước khi nó bị biến mất hẳn”. Tập san của Hội cùng với các tập san của EFEO và Hội Nghiên cứu Đông Dương đã trở thành nguồn tư liệu phong phú nhất để tìm hiểu Việt Nam xưa, mà Cadière đã có lý khi nói rằng: “Những ai muốn nghiên cứu các sự vật ở Huế và cả Việt Nam, đều phải tham khảo Tập san, nếu họ muốn làm một công việc đến nơi đến chốn” (báo cáo năm 1933).

Sau cách mạng tháng Tám, linh mục Cadière vẫn tiếp tục ở lại Quảng Bình. Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông cùng 6 linh mục người nước ngoài khác bị chính quyền cách mạng quản thúc tại Vinh từ tháng 1-1947 đến tháng 6-1953. Trong thời gian đó, ông đã tranh thủ lúc bị giam giữ để ghi lại hồi ký của mình. Đó là hơn 1.500 trang viết bên lề của những cuốn sách in một cách thận trọng. Chính trong thời gian bị quản thúc đó mà ông đã được EFEO công nhận là thành viên danh dự năm 1948. Sau khi được trao trả về Huế năm 1953, linh mục Cadière từ chối không hồi hương, vì lúc đó ông đã 84 tuổi. Cadière qua đời tại Huế năm 1955.

Cuộc đời của Léopold Cadière là cuộc đời của một linh mục cống hiến cho giáo dân, vì đó vẫn luôn luôn là mục đích chính của ông. Tìm hiểu và nghiên cứu về con người và văn hóa của những người dân mà mình có nhiệm vụ chăn dắt, cũng là một trách nhiệm trong công việc mục vụ, mà bất cứ một linh mục nào cũng phải làm. Nhưng với Cadière, ông đẩy cao lên đến mức nghiên cứu khoa học, mà vẫn không mâu thuẫn với công việc thường ngày của một cha xứ.

Cùng thời với Cadière, thiết tưởng cũng nên nhắc đến linh mục Francois – Marie Savina (1876-1941), thụ phong linh mục tháng 6-1901, một tháng sau thì đến Bắc kỳ để được đưa lên Lào Cai tại vùng người Hmông, Từ 1906-1924, ông tiếp tục truyền giáo với người Hmông ở Vân Nam. Là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ, ông là một trong những người Âu thời đó thông thạo tiếng Hmôngm và là tác giả của nhiều cuốn từ điển song ngữ như Từ điển Mèo – Pháp, Sách vỡ lòng Mèo – Pháp, Từ điển Tày – Việt – Pháp, Từ điển Pháp – Mán, Từ điển từ nguyên Pháp – Nùng – Hoa…

Nhưng điều quan trọng là trong công việc mục vụ, ông đã trở thành người hiểu sâu về người Hmông, quan tâm đến những khát vọng của họ, và đã phát hiện ra những căng thẳng trong quan hệ giữa người Hmông với người Thái và người Giáy ở dưới thung lũng, để đi đến dự báo sắp có cuộc nổi dậy của người Hmông ở vùng này từ năm 1914. Những nhận định của ông về quan hệ bóc lột đối với người Hmông của các thổ ty Thái ở Lào Cai và Hưng Hóa là chính xác, nhưng lúc đầu chưa được nhà chức trách thuộc địa quan tâm. Bốn năm sau, cuộc khởi nghĩa của người Hmông bùng nổ, bắt đầu ở Lào Cai tháng 7-1918 và mãi đến tháng 3-1921 mới kết thúc ở Luang Prabang, mà tài liệu thuộc địa thời đó gọi là “cuộc chiến giữa các phù thủy”. Nhưng thực chất đó là một hiện tượng cứu thế (mesianique), do một thủ lĩnh Hmông là Pa Chay khởi xướng.

Savina là người đã từng tiếp xúc với Pa Chay và là nhân chứng sáng suốt nhất của hiện tượng này ngay từ đầu. Chính vì vậy mà ông đã được Toàn quyền Đông Dương nhờ viết một báo cáo mật năm 1920 là “Báo cáo chính trị về cuộc nổi dậy của người Mèo ở Bắc kỳ”. Nhưng đáng tiếc là quan điểm của Savina đối với các hiện tượng tôn giáo và tín ngưỡng của người bản địa còn mang nhiều thành kiến của người Kitô giáo thời bấy giờ. Khi phân tích hiện tượng xưng vua của người Hmông – một hiện tượng cứu thế – thì ông lại đi đến chỗ gần như châm biếm, coi đó là những biểu hiện dị giáo. Ông không phân biệt được những nghi thức và biểu hiện của saman giáo với tín ngưỡng cứu thế, và đánh đổ đồng tất cả những thầy pháp Hmông là “phù thủy” mê tín dị đoan. Thái độ nghiên cứu của Savina vẫn là thái độ của người quan sát bên ngoài để đánh giá văn hóa của người bản địa, chưa hòa nhập được vào thế giới tâm linh của người Hmông, mặc dầu ông rất thông thạo tiếng nói và hiểu biết phong tục tập quán của người bản địa. Nên dù Savina đã để lại những công trình nghiên cứu dân tộc về người Hmông như Histoire des Miao (1924), nhưng đến nay ít được giới nghiên cứu nhắc đến.

Là hai người cùng thời, có lẽ cũng được đào tạo gần như nhau, nhưng cách tiếp cận với đối tượng nghiên cứu của mỗi người một khác. Ta thấy ở Léopold Cadière một thái độ dấn thân hiếm có ở các nhà nghiên cứu đương thời, dù là nhà khoa học chuyên nghiệp hay là một giáo sĩ thừa sai làm nghề tay trái. Ngày nay, phương pháp nghiên cứu của Cadière không còn xa lạ với các nhà nhân học, mà sau Thế chiến thứ hai mới xuất hiện những đồ đệ của phương pháp “quan sát tham dự” (observation participative), nhưng với Cadière từ những năm giữa hai cuộc Thế chiến, mà đã có một thái độ nghiên cứu như vậy thì quả thật là hiếm có.

Sau Thế chiến thứ hai, khi Việt Nam đang bước vào cuộc chiến tranh giải phóng, thì đã có những nhà dân tộc học tình nguyện đến sống với các tộc người Tây Nguyên, như Jean Boulbet đến với người Mạ năm 1946, Georges Condomi-nas đến với người Mnông Gar năm 1948, và đã để lại nhiều công trình nghiên cứu dân tộc học có giá trị. Trong khi Condominas sống với người Mnông suốt một chu kỳ sản xuất trong một năm, thì Boulbet lại đưa cả gia đình đến sống với các tộc người thiểu số trong nhiều năm trời, cùng chia sẻ những suy nghĩ và thế giới quan của đối tượng được nghiên cứu, mà trước hết là phải thông thạo ngôn ngữ của người dân địa phương.

Trong những người thuộc thế hệ nghiên cứu sau chiến tranh này phải kể đến Jacques Dournes. Ông tham gia MEP sau khi được thụ phong linh mục năm 1945 lúc 24 tuổi, và được bổ nhiệm đến vùng người Srê ở Kala gần Di Linh. Ông đã ở lại Việt Nam 25 năm trên cao nguyên và trong thời gian đó đã hoàn thành 250 công trình. Ngoài những luận văn về thần học, ông còn để lại một kho tàng đồ sộ về dân tộc học Đông Nam châu Á với các tộc người chưa có chữ viết. Với ý thức dấn thân vào cuộc sống của cư dân bản địa, từ 1946 đến 1952, ông đã lần theo những con đường mòn của người địa phương, đi từ buôn nọ đến buôn kia bằng đôi chân như những người bản địa, suốt từ Phan Thiết đến Đà Lạt và Kontum. Sau này ông đã cho ra mắt cuốn Đi theo con đường của những người trên Cao Nguyên Việt Nam (Nxb Julliard, Paris, 1955, 251 trang), một cuốn sách trình bày về lịch sử, con người, những kiến thức về thực vật, các kỹ thuật và lối suy nghĩ của cư dân miền núi. Ông đã đi qua vùng trồng lúa nước của người Srê, vùng làm rẫy của người Raglai, Mạ và Nup. Những đêm thức nghe kể khan bên bếp lửa với tiếng cồng chiêng, cùng uống rượu cần, đã gợi lên cho Dournes những không gian tinh tế, những nghi thức và biểu tượng của phút giây cộng cảm. Ngoài những tìm hiểu về dân tộc học tôn giáo của người dân trong vùng, ông còn nắm bắt những khía cạnh kinh tế như con đường vận chuyển muối, những kho tàng Chăm ở vùng người Raglai, kỹ thuật canh tác, khoa học về chiêm tinh, so sánh về ngôn ngữ… Cho đến nay, ký ức của người dân Tây Nguyên về linh mục Dournes vẫn chưa phai mờ. Đó là vì cách nhìn của ông khác hẳn những nhà di thực hay các quan cai trị cũ ở vùng này: “Còn về cái mà ta thiếu để có thể thực sự đi vào bên trong, ta có thể bù lại bằng sự nhạy cảm thường trực và một mối thiện cảm vĩnh cửu. Ta chỉ có thể hiểu những người mà ta quí mến, bằng tình yêu thúc đẩy ta trở nên giống như họ, đi vào con người họ”.

Đặc biệt về vấn đề tôn giáo, Jacques Dournes có một cái nhìn bao dung đối với tín ngưỡng của những người mà người Kitô giáo cho là “ngoại đạo” (les paiens). Một câu nói của ông đối với cư dân Tây Nguyên “Chúa yêu những người ngoại đạo” (Dieu aime les paiens), sau này trở thành nhan đề của một cuốn sách ông viết về thần học và dân tộc học.

Trở về Pháp năm 1970, ông làm việc ở Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia CNRS, sau đó lui về miền tây – nam nước Pháp cho đến khi qua đời năm 1993. Ở Tây Nguyên, người dân đã làm cho ông một nhà mồ để tưởng nhớ đến người đã gắn bó cuộc đời với họ.

Đưa ra sự so sánh giữa hai nhà nghiên cứu cũng xuất thân là giáo sĩ thừa sai, nhưng sống cách nhau một nửa thế kỷ, tôi luôn nhấn mạnh đến những điểm tương đồng giữa hai người trong phương pháp nghiên cứu. Quả thật từ nửa sau của thế kỷ XX, về mặt phương pháp luận, ngành nhân học đã có những bước tiến dài, thoát khỏi quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm (eurocentrisme). Khái niệm về “văn hóa” cũng được nhìn nhận lại, với những định nghĩa mới của Clifford Geertz, nhất là trong những phân tích về tôn giáo. Mặc dầu bước vào con đường nghiên cứu trong thời gian đầu của sự hình thành bộ môn dân tộc học, nhưng Cadière đã tránh khỏi những lầm lẫn của nhiều tác giả đương thời, chính là vì ông biết hòa nhập vào với đối tượng được khảo sát, bằng tình yêu chân thực đối với họ. Đấy là cái đáng trân trọng đối với di sản nghiên cứu về Việt Nam mà Cadière đã để lại cho chúng ta.

Từ tập sách đầu tiên do Đỗ Trình Huệ dịch thuật (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xuất bản, 1997), đến nay đã có thêm nhiều bản dịch khác. Nhưng vẫn còn nhiều di cảo của Cadière chưa được dịch thuật và chưa được công bố (kể cả bản tiếng Pháp). Mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục khai thác tập hồi ký mà ông đã viết trong thời gian ở Vinh, cùng với những ghi chép trong “ký ức của một ông già Việt hóa” (Souvenirs d’un vieil annamisant) đã từng đăng tải trên các tập san nghiên cứu ở Hà Nội. Đó cũng là cách tưởng niệm thiết thực đối với Cadière, một người đã có nhiều đóng góp cho kho tàng nghiên cứu về Việt Nam.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Lịch sử, Tôn giáo, Văn hóa | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

PHẬT Ở TẠI TÂM

Posted by basamnews on 30/03/2010

PHẬT Ở TẠI TÂM

TS Phạm Gia Minh *

 

Dân gian có câu : “Phú quý sinh lễ nghĩa” cho nên khi đánh giá quy mô tổ chức của bất kỳ một sự kiện  nào trong đời sống cộng đồng cũng phải gắn nó với bối cảnh kinh tế- xã hội cụ thể. Trước Đổi mới, cuộc sống vật chất khó khăn, mọi thứ đều phải phân phối theo chế độ tem phiếu thì làm sao có những đám cưới xa hoa, linh đình tốn bạc tỷ  như ngày nay và các lễ hội truyền thống hay tôn giáo cũng ít rầm rộ , quy mô hoành tráng và phong phú  như bây giờ. Khi mà miếng cơm manh áo và những vật dụng sinh hoạt thiết yếu cùng cơ hội học hành , nghề nghiệp đã tạm ổn thì nhu cầu tinh thần của người dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng ( trong đó có các lễ hội tôn giáo, tâm linh và từ thiện  ) , nhu cầu được tôn trọng nhân phẩm và thể hiện khả năng sáng tạo  càng ngày càng có xu hướng gia tăng . Đó cũng là một quy luật xã hội mang tính toàn cầu.

Việc long trọng đón rước chín viên ngọc xá lợi Phật lần đầu tiên từ Ấn độ về Việt nam trước hết đã thể hiện cho thế giới thấy ở nước ta Phật giáo đang được xã hội  ( Nhà nước và nhân dân ) tạo điều kiện thuận lợi để phát triển . Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng sau những gì xảy ra ở tu viện Bát nhã tỉnh Lâm đồng gây ồn ào dư luận trong và ngoài nước. Thiết nghĩ đó cũng là sự kiện mang ý nghĩa đối ngoại khi những viên ngọc xá lợi  đã được phía bạn trao cho Phó chủ tịch nước Nguyễn thị Doan khi bà sang thăm Ấn độ.

Tuy nhiên hình thức long trọng, hoành tráng với chi phí hơn 1,9 tỷ VND cùng với việc huy động những chiếc xe hàng “ khủng” thời @ như Hummer , Limousine cho chuyến rước ngọc xá lợi đã gây nên những dư luận nhiều chiều trong xã hội. Tôi nghĩ rằng bình thường thì ít ai lại có thái độ khắt khe và so đo trước một sự kiện tôn giáo có ý nghĩa lớn lao như vậy . Nhưng có thể trong sâu thẳm tâm tư của một bộ phận không nhỏ dân cư hiện nay đang “gợn” lên những thắc mắc nho nhỏ khi thấy càng ngày càng  có nhiều nhà sư lái ôtô xịn, đi xe máy loại đắt tiền như SH, Spacy hay Honda@ tay cầm mobile phôn đời chót . Các Phật tử là những bà con nông dân vùng sâu vùng xa hay cán bộ về hưu hưởng trợ cấp nhỏ nhoi khi nhìn thấy cảnh này hẳn cũng phải suy nghĩ mông lung lắm …

Ở nhiều địa phương các quan tham coi thường kỷ luật tổ chức, quên lời thề đảng viên vì họ vẫn đinh ninh có các nhà sư cao tay “lập lễ giải hạn” cho họ mỗi khi gặp sự cố và không hiếm trường hợp những vị quan tham biến chất này đã vung vãi “tiền chùa” để cúng “công đức” xây dựng thiền viện nơi quê nhà theo đúng câu mà dân gian đã nói là “của người phúc ta “…

Tinh thần nguyên thủy của Phật giáo là sống Từ bi, Hỷ xả, Độ lượng và Thanh tịnh tránh Tham, Sân , Si… Những đức tính này có thể và nên mãi mãi là tấm gương cho mọi người cùng soi để mà hàng ngày sửa tâm của mình . Phật ở tại Tâm đơn giản là như vậy chăng ? đâu cần phải sắp mâm cao cỗ đầy, tiền công đức hậu hĩ và lễ nghi long trọng, hoành tráng. Tôi lại nhớ một câu nói bất hủ : “Ở đâu mà người ta trọng hình thức, lễ nghi hoành tráng,  ồn ào đại ngôn thì cái nội dung có giá trị đích thực sẽ len lén mà cắp nón ra đi …” .

Từ trước cho tới nay chân lý vẫn  đơn giản như vậy , thế nhưng hiểu được nó nói chung là phải trả giá.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Tôn giáo, Văn hóa | Tagged: | Leave a Comment »

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại VN

Posted by basamnews on 03/03/2010

FOREXPROS.COM

Những rủi ro chính trị quan trọng cần xem xét tại Việt Nam

John Ruwitch

Ngày 1-3-2010

 

Hà Nội ngày 1-3 (Reuters) Việt Nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tương đối tốt, GDP tăng trưởng 5,23% năm vừa qua, nhưng đất nước này vẫn còn bị xem như là một nơi đầu tư mạo hiểm và tương đối mù mịt.

Giao dịch trao đổi tín dụng mặc định loại 5 năm đang được thực hiện ở mức chênh lệch khoảng 254 điểm cho Việt Nam, cho thấy mức rủi ro cao đứng hàng thứ hai trong bảng liệt kê của Thomson Reuters dành cho các nước mới nổi lên ở châu Á, mức chênh lệch trung bình trong bảng liệt kê này là 140.

Dưới đây là tóm tắt các rủi ro chính cần lưu ý ở Việt Nam:

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ

Tỷ giá trao đổi cố định của Việt Nam thường xuyên gây áp lực kinh tế chồng chất. Ngân hàng trung ương đã giảm giá đồng bạc Việt Nam lần thứ ba hồi tháng hai, kể từ đầu năm 2008, để giảm áp lực về tiền tệ. Ngân hàng Trung ương sau đó đã đổ thêm tiền vào hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động thị trường mở. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế nói rằng trừ khi chính phủ khôi phục niềm tin về tiền tệ bằng cách kềm chế lạm pháp và giảm thâm thủng mậu dịch, nếu không thì sẽ phải giảm giá đồng bạc thêm nữa.

Chính phủ đã liên tục thực hiện các biện pháp khác để cố gắng khôi phục việc kiểm soát thị trường tiền tệ. Họ đã buộc các nhà xuất khẩu lớn thuộc sở hữu nhà nước bán đô la, và thuyết phục những ngân hàng do nhà nước điều hành đảm bảo đủ đô la cung cấp theo nhu cầu. Họ đã liên tục hứa hẹn thực hiện hình phạt đối với việc buôn bán tiền tệ ngoài biên độ chính thức. Họ đã ra lệnh đóng cửa sàn vàng vào cuối tháng ba. Nhưng hiệu quả của các biện pháp bị hạn chế.

Các phân tích gia nói rằng giá trị đồng bạc nước này vẫn còn được giữ ở mức cao và những vấn đề thuộc về cấu trúc vẫn chưa được giải quyết. Tuy nhiên, rủi ro về một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán không cao. Khi kinh tế đổi chiều, lượng ngoại tệ có khả năng tăng, sẽ hỗ trợ cho tiền đồng.

Cần lưu ý:

- Những bước mà ngân hàng trung ương sử dụng để kềm chế lạm phát và kiểm soát việc thâm thủng mậu dịch. Hầu hết các phân tích gia dự đoán có sự suy yếu tiền tệ vào năm 2010.

- Khoảng cách về tỉ giá đô la/ đồng giữa thị trường chợ đen và tỉ giá liên ngân hàng – thước đo chính về áp lực tiền tệ.

HIỆU QUẢ CỦA CHÍNH PHỦ

Thiếu trách nhiệm và thiếu minh bạch, và quan liêu nặng nề tác động lên hiệu quả của chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách. Cải cách kinh tế và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đang có nguy cơ bị hủy hoại bởi lợi ích xung quanh và các thành phần bảo thủ trong một chính phủ tập trung quá nhiều về vấn đề an ninh, đặc biệt trong những tháng chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản vào năm tới.

Các nhà phân tích nói rằng, có thể có một mức độ tê liệt chính sách, hoặc ít nhất là thái độ bảo thủ trong năm tới như là nạn bè phái và dùng thủ đoạn để tranh giành chức vụ trước Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc đầu năm 2011 sắp tới. Những vị trí lãnh đạo quan trọng và những thay đổi chính sách thường chỉ xảy ra khi có đại hội, năm năm một lần. Các đảng bộ ban ngành địa phương tổ chức hội nghị riêng trong năm nay.

Cần lưu ý:

- Trong khi các gói kích cầu kinh tế giúp đẩy mạnh nền kinh tế, đã có các câu hỏi đặt ra về việc làm cách nào thâm hụt ngân sách được cấp tiền bù đắp, làm cách nào áp lực lạm phát được kiềm chế, và làm sao tránh được nguồn vốn đầu tư tư nhân ào ạt rút đi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt tay vào một kế hoạch giảm bớt thủ tục quan liêu và đặc biệt các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ xem kết quả ra sao.

- Việc đàn áp bất đồng chính kiến đã dẫn tới một vấn đề gai góc, trong đó các nhà ngoại giao phương Tây và các phân tích gia xem các vụ kết án có động cơ chính trị. Điều này đã làm sôi động hơn trong việc kêu gọi Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao. Cũng vậy, vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ đang đẩy mạnh việc thông qua nghị quyết về nhân quyền. Những sự việc này làm sứt mẻ quan hệ thương mại.

- Các nhà đầu tư thường liệt kê cơ sở hạ tầng lạc hậu là một trong những rào cản lớn của Việt Nam. Khả năng của chính phủ phối hợp nhanh, phát triển hiệu quả trong lĩnh vực này sau khi cam kết trợ giúp phát triển chính thức là một vấn đề trọng điểm.

THAM NHŨNG

Tham nhũng là đặc tính cố hữu ở Việt Nam ở mọi cấp mọi ngành của chính phủ, và nó là rào cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Các nhà chức trách đã công bố kế hoạch tấn công chống tham nhũng, và khuyến khích các phương tiện truyền thông theo dõi và kiểm tra, nhưng những nỗ lực này đã tan thành mây khói, sau khi các nhà báo bị bắt giữ do viết bài về các vụ bê bối lớn. Tiến triển về vấn đề [chống] tham nhũng vẫn là một yếu tố quyết định quan trọng trong việc hấp dẫn đầu tư dài hạn.

Cần lưu ý:

- Thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng nhận thức về tham nhũng. Một sự cải tiến hay suy giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến đầu tư dài hạn. Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2009 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, thứ hạng của Việt Nam không thay đổi kể từ năm trước, được xếp hạng 120 trên 180 quốc gia.

BẤT ỔN XÃ HỘI

Các cuộc đình công ở Việt Nam gia tăng, biểu tình phản đối và tranh chấp đất đai trong những năm gần đây liên tục ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoài. Rối loạn nổ ra ở các vùng nông thôn do việc nhà nước chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng của các cán bộ địa phương.

Báo chí nhà nước trong tháng giêng nêu ra một quan chức Bộ Kế hoạch nói rằng kinh tế năm nay khó khăn có thể dẫn tới nhiều cuộc đình công hơn. Mặc dù hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng bất ổn lớn có khả năng xảy ra, hoặc có thể có bất kỳ rủi ro sắp xảy ra cho chế độ đang có thách thức ngầm từ bên dưới.

Cần lưu ý:

- Bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một phong trào phản kháng rộng lớn mang tính toàn quốc sắp sửa xảy ra do các tranh chấp địa phương. Cho tới nay, điều này dường như là chưa có.

- Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa – (Biển Đông). Vấn đề này được tích tụ cao độ tại Việt Nam, nơi mà sự ngờ vực Trung Quốc luôn luôn cao. Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), hay nhận thấy sự yếu đuối của Việt Nam về vấn đề này, đều có thể khơi dậy sự ủng hộ cho các cuộc biểu tình rộng lớn.

Vai trò của giáo hội Công giáo. Những người Công giáo đã tham gia vào những cuộc biểu tình định kỳ quanh việc đất đai của nhà thờ bị chính phủ chiếm đoạt sau 1954. Giáo hội Công giáo, trong khi chính thức không tham gia vào chính trị, có khoảng 6-7 triệu giáo dân tại Việt Nam và được tổ chức khá tốt.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Tôn giáo, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »