BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Pháp luật’ Category

2916. NGHIỆP VỤ ĐIỀU TRA NHÌN TỪ MỘT VỤ ÁN

Posted by adminbasam on 01/09/2014

LS Ngô Ngọc Trai: Ở Bắc Giang có hai vụ án Nguyễn Thanh Chấn đã được minh oan và Hàn Đức Long đang kêu oan, cùng được điều tra truy tố và xét xử bởi một hệ thống cơ quan tố tụng. Vậy liệu Hàn Đức Long có bị oan như Nguyễn Thanh Chấn không, tôi thì tin đúng là như vậy. Xin mời mọi người xem bài này để biết cơ quan điều tra đã làm ăn như thế nào và có đúng cơ quan điều tra VN thuộc hàng giỏi nhất thế giới như lời ông Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền nói không.

31-08-2014

Hai tử từ Hàn Đức Long và Nguyễn Thanh Chấn - một người đã thoát án tử.

Hai tử từ Hàn Đức Long và Nguyễn Thanh Chấn – một người đã thoát án tử.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Bắc Giang đang mang tiếng xấu bởi đã gây ra vụ án oan cho ông Nguyễn Thanh Chấn.

Cũng chính cơ quan này trước đây từng bị một người khác là Hàn Đức Long tố cáo bức cung nhục hình trong quá trình điều tra vụ án giết người và hiếp dâm trẻ em xảy ra tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang từ năm 2005.

Ngay trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng đã xác minh lời tố cáo của Hàn Đức Long nhưng rồi đi đến kết luận là việc tố cáo không có cơ sở.

Xác minh bằng cách nào

Hàn Đức Long khai rằng trong các lần đi hỏi cung đều bị điều tra viên đánh bằng hung khí là gậy lim dài 70cm bản rộng 03 ngón tay (thước thợ xây) và cờ lê, bật lửa đốt râu, bút bi để đập bẻ ngón tay. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2911. An-nam thời mạt giáo

Posted by adminbasam on 30/08/2014

Baron Trịnh

30-08-3014

H11. Đề án “Thí điểm mô hình đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục tiểu học từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM năm học 2014-2015” với kinh phí thực hiện là khoảng 4.000 tỉ đồng và áp dụng cho 327.127 học sinh đang gây nhiều tranh cãi lẫn bức xúc trong dư luận.

Tranh cãi không phải vì đổi mới hay đổi cũ, cải tiến hay cải lùi, cũng như cần-lao An-nam đã quá quen với những chính sách trên trời hay sặc mùi lợi ích nhóm trong ngành giáo dục. Mà là vì không hiểu tại sao Tp.HCM lại chọn và quyết liệt áp dụng cho toàn bộ các cháu học sinh từ lớp 1 đến lớp 3. Trong khi vấn đề này còn chưa rõ ràng về tính hiệu quả lẫn tác hại của nó, kể cả ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Hoa Kỳ.

Mạng xã hội và báo chí gần như vỡ tung khi một Facebooker đưa tin về một loại máy tính bảng có thương hiệu AIC Group – Smart Education được nhập về từ Đài Loan với giá 900.000 đồng bởi Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc Tế (AIC) – một đơn vị tư vấn cho Đề án trên. Dư luận nghi ngờ rằng, đây chính là loại máy tính bảng được đề xuất trong Đề án “sặc mùi tiền, thiếu tình người” nêu trên với giá đề xuất tận… 3 triệu đồng.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục, Pháp luật, Đảng CSVN | 1 Comment »

2910. Hiến pháp 2013 – Sửa nhầm hay đổi thiệt?

Posted by adminbasam on 30/08/2014

Hoàng Xuân Phú

29-08-2014

Vậy là  đã được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Nếu coi là “Hiến pháp mới”, thì e rằng ăn quá non nên gạo còn sống sượng. Còn nếu gọi là “Hiến pháp sửa đổi”, thì có lẽ hâm quá đà nên cơm cũ đã cháy khê.

Dù muốn hay không, Hiến pháp 2013 cũng chi phối cuộc sống của Nhân dân ta và sự phát triển của Dân tộc ta trong thời gian tới. Do đó, thay vì ca ngợi ngất trời hay chê bai triệt để, nên tìm hiểu những biến đổi về nội dung của Hiến pháp, để đoán biết hệ quả mà phòng xa hay tận dụng, đồng thời để thấy rõ hơn tâm và tầm của bộ máy lập hiến.  Theo tinh thần ấy, bài này trao đổi về hệ quả của một số thay đổi trong Hiến pháp 2013.

Phần 1 nhận diện mấy nội dung vốn tồn tại trong Hiến pháp 1992, nay bị Hiến pháp buông rơi, mặc dù vẫn còn cần thiết. Chẳng hạn:

-       Đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”;

-       Qui định trách nhiệm của công an nhân dân là phải “bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân;

-       Cam kết “Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”.

Phần 2 điểm mặt ba thay đổi theo hướng tiến bộ liên quan đến quyền sau song sắt, mà những người dính vòng lao lí nên biết để đấu tranh đòi thực hiện.

Phần 3 đề cập đến hiện tượng rộ nở thuật ngữ “công khai” trong Hiến pháp 2013. Đáng lưu ý là hai khoản hiến định mà công dân quan tâm đến vận nước nên tận dụng, đó là:

-       Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác… phải được sử dụng… công khai” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013),

-       Quốc hội họp công khai” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013).

Phần 4 cảnh báo nguy cơ quyền con người và quyền công dân có thể bị khước từ hay cản trở bởi mệnh đề: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” – Một mối họa chỉ tương xứng với chính trường hoang dã và xa lạ với nhà nước pháp quyền đích thực. Buồn thay, căn cứ vào nguyên tắc lập hiến và lập pháp, thì mưu mô đó thuộc loại mánh lới bất thành.

Phần 5 phân tích sai lầm tai hại trong việc dùng Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 để hiến định khả năng hạn chế quyền con người và quyền công dân. Sơ sẩy khi hiến định quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở” tại Điều 22 Hiến pháp 2013 là ví dụ điển hình, cho thấy có những thay đổi chưa chắc đã phản ánh đúng dụng ý của tác giả. Do đó, thay vì ghi nhận một số thể hiện có vẻ tiến bộ trong Hiến pháp 2013, ta lại phải băn khoăn với câu hỏi: Thực ra họ sửa nhầm hay đổi thiệt?

  1. Hiến pháp buông rơi

Chẳng nhất thiết và cũng chẳng thể ghi hết mọi điều quan trọng vào Hiến pháp. Nhưng khi Lời nói đầu khẳng định rằngHiến pháp 2013 “kế thừa… Hiến pháp năm 1992″, thì việc nó buông rơi một số nội dung vẫn còn hợp lý và cần thiết của Hiến pháp 1992 có thể bắt nguồn từ dụng ý sâu xa, mà ta không thể làm ngơ.

  1. 1.

Lạm dụng quyền lực là xu hướng mang tính bản năng của thế lực cầm quyền. Do đó, với tư cách là công cụ pháp lý cơ bản để điều khiển hoạt động của Nhà nước, một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp phải là kiểm soát và kiềm chế bộ máy Nhà nước. Trong hoàn cảnh nhà cầm quyền hay hành động bất chấp Hiến pháp và pháp luật, thì khoản hiến định sau đây tại Điều 12 Hiến pháp 1992 là rất cần thiết:

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phảinghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật.”

Tiếc rằng, như đã trao đổi ở bài “Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp”, khi liệt kê những đối tượng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, cả Hiến pháp 1992 lẫn Hiến pháp 2013 đều chừa lại thế lực “siêu nhà nước”, cần phải kiềm chế nhất, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Điều ấy cũng phi lý như chỉ nhìn nhận cái “nhà” (“nhà ngói” thay vì“nhà nước”) từ “trần giả” trở xuống và cố tình bỏ qua cái “nóc”, rồi khi bị “dột” thì lại giả vờ ngu ngơ “không rõ nước rơi từ đâu”. Đáng tiếc hơn nữa, đòi hỏi Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật (trong Hiến pháp 1992) đã bị bỏ rơi, và được nới lỏng trong Hiến pháp 2013 như sau:

“Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013)

Điều tệ hại là, sau khi cố tình bỏ đi chữ “phải”, điều khoản trên không còn thể hiện trách nhiệm hiến định, bắt buộc Nhà nước phải thực hiện, mà trở thành mệnh đề khẳng định, công chứng cho một trạng thái phi thực tế, như thể nó đã mặc nhiên tồn tại. Hơn nữa, cho dù hiểu đó là một yêu cầu, thì các cơ quan Nhà nước “muốn theo” hay “theo được” bao nhiêu thì “theo”, không nhất thiết phải “chấp hành”, càng không cần phải “nghiêm chỉnh”. Vậy là tấm gương xấu của Điều 4 dành cho ĐCSVN đã phản chiếu sang Điều 8 dành cho các cơ quan Nhà nước.

Vốn dĩ đã quen hành động bất chấp pháp luật, nay được Hiến pháp “giải thoát” khỏi nghĩa vụ “nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”, thì các “con trời” sẽ còn lộng hành đến mức nào nữa?

Từ lúc Hiến pháp 2013 có hiệu lực, các vụ tử vong trong khi hoặc sau khi “làm việc” với công an diễn ra dồn dập hơn, mặc dù “đang xét xử 5 công an… đánh chết anh Ngô Thanh Kiều” (vào ngày 13/5/2013 tại Phú Yên). Nếu không cóthương tích đầy mình làm bằng chứng, như trường hợp Huỳnh Nghĩa (39 tuổi, ở tỉnh Đắk Nông, chỉ vì bị nghi là hái trộm hạt tiêu mà tử vong sau khi “làm việc” với công an vào ngày 13/2/2014), thì lý do tử vong được công bố “đương nhiên” là do “tự tử”. Chẳng hạn, Huỳnh Nhất Trung (20 tuổi, ở tỉnh Bình Định) “treo cổ tự tử chết trong nhà tạm giữ công an huyện Vân Canh” vào tối 11/3/2014. Sáu ngày sau (tức 17/3/2014), Bùi Thị Hương (42 tuổi) “được công an phường Tân Đồng (thị xã Đồng Xoài, Bình Phước) mời lên trụ sở làm việc vì nghi ngờ liên quan đến việc đem đi bán 2 chỉ vàng giả… chết trong tư thế treo cổ bằng áo gió trên cửa phòng tạm giữ hành chính.”

Phải chăng, sự gia tăng tử vong do “làm việc” với công an là hệ quả của việc Hiến pháp 2013 bỏ rơi đòi hỏi “Các cơ quan Nhà nước… đơn vị vũ trang nhân dân… phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật”?

  1. 2.

Vốn dĩ, Hiến pháp 1992 quy định về lực lượng công an như sau:

Điều 47  Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều này được “đơn giản hóa” đáng kể trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 67  Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.”

Vậy là, khi đã được nuôi no đủ, có vũ khí tối tân, thậm chí sắp được trang bị cả máy bay, tàu thủy, thì cũng qua cái thời hiến định “công an nhân dân” phải “dựa vào nhân dân”. Đồng thời, Hiến pháp 2013 cũng “giải phóng” công an khỏi trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa.

Thực ra, thiên hạ vẫn thường chứng kiến công an xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, còn chuyện công an “bảo đảm” các quyền đó thì nghe giống như cổ tích. Cho nên, có lẽ sẽ trung thực hơn nếu xóa bỏ chuyện hoang đường ấy ra khỏi Hiến pháp.

Nhưng tại sao lại “giải phóng” lực lượng công an khỏi cả trách nhiệm bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, trong khi họ sống và hành nghề bằng tiền của Nhân dân? Đừng ngụy biện rằng nội dung ấy đã chứa đựng trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm”. Bởi vì nhiệm vụ còn sót lại này cũng đã từng tồn tại song song trong Hiến pháp 1992 cùng với nội dung vừa bị bỏ rơi. Hơn nữa, đối với những tay súng“chỉ biết còn Đảng, còn mình” (xem Ảnh 1) thì trật tự, an toàn xã hội” trước hết là sự an toàn của lãnh đạocủa chế độ,và “chống tội phạm” trước hết là chống những người mà giới cầm quyền không ưa nên quy kết là “thù địch”.

H1Ảnh 1: “CÔNG AN NHÂN DÂN CHỈ BIẾT CÒN ĐẢNG, CÒN MÌNH” (Nguồn: Internet)

Nếu có biểu tình, dù chỉ lác đác mươi người thực thi quyền hiến định và chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo hay phản đối tham nhũng, thì họ cũng coi đó là hành động đe dọa sự an toàn của chế độ, và ngay lập tức huy động lực lượng đông đảo để giải tán, thậm chí để đàn áp. Còn nếu tính mạng và tài sản của Nhân dân bị đe dọa, thì điều động lực lượng“mỏng” và can thiệp “thận trọng” đến mức… trật tự xã hội ngày càng thêm hỗn loạn. Viết như vậy, bởi tin rằng: Nếu thực sự muốn thì lực lượng công an thừa sức để điều tra và khống chế nhiều tệ nạn xã hội đang hoành hành.

Thay vì bảo vệ, họ lại cư xử với nạn nhân như với kẻ thù của chế độ. Họ đang tâm xả đạn như mưa vào nhà dân, để mở đường cướp tài sản hợp pháp của dân, như đã diễn ra ở Tiên Lãng ngày 5/1/2012. Coi người dân như hình nộm để tập bắn, nên gọi cuộc xả đạn về phía người dân là “diễn tập”, và cao hứng tự ca rằng “không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Rồi còn công khai tuyên bố rằng: “Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách… rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả.” Cứ tưởng, hành động và phát ngôn như vậy trong Nhà nước của Nhân dân thì bị cách chức, thậm chí bị loại khỏi ngành công an và bị truy tố trước pháp luật. Ai dè sau một thời gian ngắn còn được vinh danh bởi quân hàm Thiếu tướng.

Chưa đầy năm tháng sau trận xả đạn ở Tiên Lãng, vào ngày 24/4/2012, họ lại điên cuồng đánh đập dã man cả hai phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam đến tác nghiệp ở Văn Giang, vì tưởng đó là dân đen, dám đứng nhìn bầy quân cướp đất.

Những hành động ngạo ngược hại dân diễn ra nơi nơi, nhiều không kể xiết… Khi còn hiến định trách nhiệm “bảo đảm… các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân” mà họ còn hành động như vậy, thì rồi đây sẽ còn tệ hại đến mức nào nữa?

  1. 3.

Hiến pháp 1992 quy định về quyền bầu cử và ứng cử như sau:

Điều 54  Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.”

Điều này được viết lại trong Hiến pháp 2013 như sau:

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”

Nghĩa là bỏ đi mệnh đề không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú”, vốn dĩ đã xuất hiện tại Điều 23 Hiến pháp 1959, sau đó được tiếp tục duy trì trongĐiều 57 Hiến pháp 1980 và Điều 54 Hiến pháp 1992.

Thuở còn quy định không phân biệt… thành phần xã hội…” thì đã rất phân biệt, đến mức khó lòng tự ứng cự nếukhông thuộc “thành phần xã hội” được bộ máy cầm quyền lựa chọn và đề cử. Vậy thì rồi đây sẽ ra sao?

  1. 4.

Về quyền khiếu nại, tố cáoĐiều 74 Hiến pháp 1992 quy định:

“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.”

“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh.”

Nội dung trên được thay bằng một câu gọn lỏn như sau trong Điều 30 Hiến pháp 2013:

“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo.”

Nghĩa là đòi hỏi “xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định” và “kịp thời xử lý nghiêm minh” bị loại bỏ ra khỏi Hiến pháp 2013. Để thấy rằng việc loại bỏ này không phải là vô tình, hay do các tác giả của Hiến pháp 2013 muốn lược bớt tất cả các ràng buộc về thời gian, chỉ cần lưu ý rằng quy định những người bị chất vấn “có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định” tại Điều 98 Hiến pháp 1992 vẫn được bảo lưu nguyên vẹn tại Điều 80 Hiến pháp 2013.

Bấy lâu nay, khiếu nại, tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm quá lâu, khiến nhiều người phải lang thang khiếu kiện suốt chục năm trời. Rồi đây, khi ràng buộc về thời gian xử lý đã bị xóa khỏi Hiến pháp, thì người dân sẽ phải mòn mỏi chờ đợi thêm bao lâu nữa?

  1. 5.

Đáng lưu ý là quy định

“Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”

tại Điều 70 Hiến pháp 1992 đã bị loại bỏ ra khỏi điều hiến định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp 2013 (tức là Điều 24). Tại sao lại như vậy? Chẳng nhẽ quy định ấy không còn cần thiết trong chế độ đã từng diễn ra phong trào đập phá đền chùa nhân danh chống mê tín dị đoan? Hay là để tránh mâu thuẫn với thực tế chiếm đất tôn giáo vẫn xảy ra đó đây?

Mấy vị Hòa thượng, Thượng tọa, Linh mục… trong Quốc hội có đấu tranh đòi bảo lưu điều hiến định bảo hộ nơi thờ tự hay không? Hay vì quá mải lo thực hiện sứ mạng bảo vệ chế độ, mà quên mất vai trò phải đóng trong Quốc hội, là đại diện và bảo vệ tín ngưỡng, tôn giáo?

Điều đáng lo ngại là: Liệu việc chiếm đất của các cơ sở tôn giáo có gia tăng sau khi xóa bỏ hiến định “nơi thờ tự… được pháp luật bảo hộ” hay không?

  1. Quyền sau song sắt

Một trong những tên gọi trớ trêu nhất trong tiếng Việt thời nay là “cơ quan bảo vệ pháp luật”, vì chính các cơ quan đó lại hay vi phạm pháp luật nhất. Vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn chỉ là một ví dụ điển hình trong muôn vàn vụ việc, đã và đang xảy ra thường xuyên trên mọi miền Tổ quốc. Tại sao nhân danh bảo vệ pháp luật mà lại vi phạm pháp luật như vậy? Chắc hẳn, pháp luật chỉ là thứ mà họ vin vào, chứ không phải là cơ sở pháp lý mà họ tôn trọng và tuân theo khi thao túng quyền lực.

  1. 1.

Những người bị bắt, bị giam “thân cô thế cô” trong chốn ngục tù, dù “đúng người đúng tội” cũng rất cần được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý. Nếu bị bắt oan thì lại càng cần luật sư bênh vực. Thế nhưng, bộ máy điều tra, giam giữ thường cô lập nghi can, bị can, bị cáo, không cho họ có điều kiện lựa chọn và tiếp xúc với luật sư, đặng dễ bề tra hỏi, ép cung, dàn dựng… Thậm chí, nhiều người bị ép buộc phải khước từ luật sư do người nhà đứng ra mời và chấp nhận luật sư do bên điều tra áp đặt, nên dù có bào chữa cũng bằng… âm.

 

Về “quyền bào chữa”, Hiến pháp 1992 quy định như sau, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án:

Điều 132  Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình…”

Như vậy, Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến “quyền bào chữa của bị cáo, tức là của “người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử” (theo định nghĩa tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự). Nếu Hiến pháp chẳng hề đề cập tới “quyền bào chữa” thì có thể cũng chẳng hề chi, nhưng khi đề cập một cách không đầy đủ thì lại trở thành tai hại, vì có thể tạo ra cách nghĩ sai lầm là người bị bắt, người bị tạm giam giữ (theo định nghĩa tại Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự) và bị can (tức là “người đã bị khởi tố về hình sự” – theo định nghĩa tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự) không có “quyền bào chữa”.

Tuy nhiên, hạn chế của Hiến pháp 1992 không phải là lý do duy nhất khiến “quyền bào chữa” của “người bị tạm giữ, bị can” bị xâm phạm tràn lan. Bởi vì Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ ràng rằng:

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.”

“Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này.”

Hạn chế kể trên của Hiến pháp 1992 được khắc phục một phần bởi Khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân:

“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.”

(Tức là ngoài “bị cáo” thì thêm đối tượng “bị can” cũng được bảo đảm “quyền bào chữa”.) Và nó được khắc phục nhiều hơn bởi Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, trong khuôn khổ hiến định quyền con người:

Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.”

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013, kể từ khi “bị bắt” đến khi “bị xét xử”, mọi người đều “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.

Có điều, một khi đã đề cập đến quyền con người trong vòng lao lí, thì Hiến pháp viết như vậy vẫn chưa đầy đủ. Từ “bào chữa” khiến người ta chỉ chú tâm vào việc “bênh vực cho đương sự trước tòa án”, tức là khi xét xử, và cùng lắm là mở rộng ra lúc điều tra, khi công an thẩm vấn đối tượng để xác định tội phạm. Nhưng lúc ở sau song sắt, ngoài giờ hỏi cung hay xét xử, dù trước khi ra tòa hay đang thi hành án, thì đương sự vẫn cần được luật sư trợ giúp và bảo vệ trước sự cư xử trái pháp luật của bộ máy điều tra và giam giữ. Vậy nên cần sửa lại Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013, bằng cách bổ sung thêm thời gian “thi hành án” cũng như “quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý”, đại loại có thể viết như sau:

“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, hoặc thi hành án có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa, có quyền được luật sư bảo vệ và trợ giúp pháp lý.”

  1. 2.

Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luậtnghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

 

Vốn dĩ, quy định “xét xử độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” đã có trong Điều 130 Hiến pháp 1992, song khoản hiến định đó tỏ ra vô dụng trên thực tế. Các thẩm phán vẫn hay bị các loại cấp trên chi phối.

 

Nay có thêm quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử”, liệu nó có thể góp phần kích hoạt lòng tự trọng của các thế lực quen thói lộng quyền và đánh thức lương tâm nghề nghiệp của các thẩm phán quen phán xử theo lệnh trên hay không?

Ít nhất, về mặt pháp lý, các thẩm phán không thể biện hộ cho hành vi uốn cong cán cân công lý để xử sai, và các tầng thượng cấp không thể chối tội nếu bất chấp Hiến pháp để can thiệp vào việc xét xử của tòa án. Và họ không thể dùng pháp luật hiện hành để gỡ tội khi đứng trước vành móng ngựa trong chế độ kế tiếp.

  1. 3.

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 hiến định:

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.”

“Nguyên tắc tranh tụng” là gì? Trong bài “Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa, cơ sở hình thành phán quyết của Tòa án”, Tiến sĩ Nguyễn Sơn – Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao – đã giải thích:

Tranh tụng trong tố tụng hình sự: là sự tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa, dựa trên những chứng cứ được đưa ra trước phiên tòa do các bên thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để Tòa án ra phán quyết có hiệu lực thi hành, nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con người.”

Khi viết “là cơ sở…”, chứ không phải “là một trong những cơ sở…”, thì có nghĩa đó là “cơ sở duy nhất”. Tức là: Khi phán quyết, Tòa án phải dựa và chỉ được dựa trên kết quả tranh luận trước tòa giữa bên buộc tội và bên bào chữa.Không được khăng khăng bám vào những chứng cứ hay lời khai nhận do bên điều tra và công tố đưa ra, bất chấp lập luận của bên bào chữa. Càng không thể phán quyết theo “bản án bỏ túi”, được thế lực nào đó ấn định từ trước khi diễn ra tranh luận tại phiên tòa.

Hệ quả của Điều 103 Hiến pháp 2013 là: Những thẩm phán chân chính có thêm cơ sở pháp lý để phán xử tử tế, theo đúng lương tâm nghề nghiệp. Còn những thẩm phán bù nhìn thì mất bớt đường biện hộ cho bản lĩnh kém cỏi và hành động vô lương của mình. Số phận dân oan sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào việc họ có được thẩm phán chân chính xét xử và được luật sư đủ tài năng bào chữa hay không.

  1. Rộ nở“công khai”

Một trong những nét đặc biệt trong Hiến pháp 2013 là từ “công khai” đột nhiên “nở rộ”. Từ này vốn chỉ xuất hiện hai lần trongHiến pháp 1946 và đúng một lần trong mỗi bản Hiến pháp 1959Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992. Nhưng nó xuất hiện đến 7 lần trong Hiến pháp 2013.

  1. 1.

Về cơ bản, đó là một triệu chứng tốt. Nhưng đôi khi, ý nghĩa của từ “công khai” lại khá khó hiểu, chẳng hạn:

“Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.”  (Khoản 2 Điều 28 Hiến pháp 2013)

“Công khai… trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” có nghĩa là thế nào? Nếu công dân “kiến nghị” về vấn đề gì đó, thì cứ việc lặng lẽ mà “tiếp nhận”, xem xét và giải quyết nghiêm túc, rồi “phản hồi” trực tiếp cho người có kiến nghị. Như vậy đã có thể coi là đủ. Có nhất thiết phải “công khai”, công bố với thiên hạ, rằng ông nọ bà kia kiến nghị cái ấy,nhưng chẳng được chấp thuận vì lý do nào đấy, khiến người đó bị cười chê, hay không? Đặc biệt, khi công dân muốn kiến nghị, tố cáo một cách kín đáo về hành vi tham nhũng của quan chức, thì có nên “công khai” cho tham quan biết để trả thù hay không?

Và đây nữa:

Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phảicông khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật.” (Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp 2013)

Tại sao lại đưa ra đòi hỏi “phải công khai” (khi đã có yêu cầu “minh bạch”) trong hoàn cảnh này? Nếu không hiến định “công khai”, thì người dân có thể chấp nhận để cho việc thu hồi đất” diễn ra kín đáo, vụng trộm hay không? Và “phải công khai” đến mức độ nào? Điều mà người dân muốn biết là danh tính của các thế lực nấp sau “việc thu hồi đất” để chia chác lợi lộc, vậy thì có định “công khai” về chúng hay không?

  1. 2.

Có một yêu cầu “công khai” đã trở thành kinh điển, đó là:

Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.” (Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp 2013)

Nội dung Tòa án nhân dân xét xử công khai” đã xuất hiện trong tất cả các hiến pháp của chế độ này, tại Điều 67 Hiến pháp 1946Điều 101 Hiến pháp 1959Điều 133 Hiến pháp 1980 và Điều 131 Hiến pháp 1992. Tiếc rằng, cái đòi hỏi chính đáng đó đã trở thành hiện thân của sự dối trá trắng trợn. Tuyên bố là “xét xử công khai”, nhưng lại tung ra lực lượng dày đặc để ngăn cấm những người quan tâm tiếp cận khu vực xử án, đến mức cả bố mẹ, anh chị em ruột của bị cáo cũng không được vào phòng xét xử. Thực tế đó diễn ra triền miên, ngang nhiên… Ấy vậy mà các cấp lãnh đạo vẫn cứ làm ngơ, như thể không hề hay biết. Trớ trêu hơn, với tư cách “đại biểu cao nhất của Nhân dân”, “thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” và “giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (Điều 69 Hiến pháp 2013), đại biểu Quốc hội vẫn bỏ qua, không đòi hỏi Thủ tướng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Công an (là những chức vụ do Quốc hội “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm” hoặc “phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức” theo quyền hạn được hiến định tại Điều 84 Hiến pháp 1992 và Điều 70 Hiến pháp 2013) ra lệnh thuộc hạ chấm dứt cái tệ nạn vi hiến, phi pháp ngang nhiên ấy.

Lần này, bên cạnh đòi hỏi “xét xử công khai” trong khuôn khổ hiến định trách nhiệm của tòa án, Hiến pháp 2013 còn bổ sung thêm quy định “xét xử công khai” vào quyền con người, là “được… xét xử công khai”:

Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai. Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai.” (Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp 2013)

Hy vọng rằng, khi được nhấn mạnh đến hai lần trong Hiến pháp, nhà cầm quyền sẽ không tiếp tục coi quy định “xét xử công khai” như một trò đùa pháp lý. Và người dân cũng ý thức rõ hơn quyền hiến định của mình, để mà cương quyết đấu tranh, đòi nhà cầm quyền phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh.

  1. 3.

Đòi hỏi “công khai” mới mẻ sau đây kéo theo một hệ quả quan trọng:

Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.” (Khoản 1 Điều 55 Hiến pháp 2013)

Có nghĩa là từ nay, các cơ quan Nhà nước phải “công khai” mọi khoản chi tiêu thuộc “ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý”.

Cơ sở chính đáng của quy định này là: Tiền bạc và của cải mà Nhà nước đứng ra quản lý chính là của Nhân dân, nênNhân dân có quyền biết và phải biết để giám sát xem Nhà nước chi tiêu có hợp lý hay không. Biết để còn can thiệp, hay ngăn chặn trong trường hợp cần thiết, chứ không phải biết chỉ để mà tức… Vì thế, Nhân dân phải biết đủ sớm, chứ không phải đợi đến lúc mọi chuyện trôi qua, khi tiền bạc, của cải của Nhân dân đã “không cánh mà bay”, và thủ phạm đã “hạ cánh an toàn”… Quy định phải được sử dụng… công khai” cần được hiểu là phải “công khai” từ trước khi “sử dụng”, tức là từ khi lập kế hoạch “sử dụng”. Điều đó cũng giống như việc người điều khiển phương tiện giao thông phải có tín hiệu báo hướng rẽ từ trước khi rẽ, chứ không phải rẽ xong rồi mới phát tín hiệu rẽ. Muộn nhất thì cũng phải “công khai” trong khi đang “sử dụng”, chứ không thể đợi đến lúc xong xuôi hay sau một thời gian thì mới “công khai”.

Cần phải nhấn mạnh, rằng Điều 55 Hiến pháp 2013 quy định phải “công khai” tất cả các khoản chi tiêu đó, không có ngoại lệ. Nghĩa là phải “công khai” cả các khoản chi cho đảng cầm quyền, cũng như chi cho bộ máy quốc phòng và bộ máy an ninh

Hệ quả hiển nhiên là: Không được coi những thông tin ấy là “bí mật Nhà nước” và không được phép đóng dấu “mật” hay “tuyệt mật” lên các tài liệu liên quan, bởi vì như vậy là vi hiến. Hơn thế nữa, không được kết tội những công dân lưu trữ hay công bố tài liệu liên quan là “chiếm đoạt bí mật Nhà nước” hay “làm lộ bí mật Nhà nước”(theo Điều 263 Bộ luật hình sự).

  1. 4.

Với việc thông qua Hiến pháp 2013, Quốc hội đã tự dành cho mình một cam kết “công khai”, đó là:

Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.” (Khoản 1 Điều 83 Hiến pháp 2013)

Việc hiến định Quốc hội họp công khai” không phải là ngoại lệ hiếm hoi, mà là thông lệ khá phổ biến trong hiến pháp của các nước trên thế giới, ví dụ như Hiến pháp Ba Lan (Điều 113), Hiến pháp Bỉ (Điều 47), Hiến pháp Bồ Đào Nha (Điều 116), Hiến pháp Đan Mạch (Điều 49), Hiến pháp Đức (Điều 42), Hiến pháp Hungari (Chương Nhà nước, Điều 5), Hiến pháp Hy Lạp(Điều 66), Hiến pháp Na Uy (Điều 84), Hiến pháp Nhật (Điều 57), Hiến pháp Pháp (Điều 33), Hiến pháp Thụy Điển (Chương 4, Điều 9)…

Ở Việt Nam, nội dung Quốc hội họp công khai” đã xuất hiện trong Hiến pháp 1946 (Điều thứ 30), nhưng nó bị thủ tiêu trong ba bản hiến pháp kế tiếp (từ năm 1959), để rồi sau 54 năm mới lại được tái hiện trong Hiến pháp 2013.

Quốc hội họp công khai” có nghĩa là thế nào? Có thể tìm thấy câu trả lời rõ ràng ngay trong Hiến pháp 1946 của chính chế độ này:

Điều thứ 30  Nghị viện họp công khaicông chúng được vào nghe. Các báo chí được phép thuật lại các cuộc thảo luận và quyết nghị của Nghị viện. Trong những trường hợp đặc biệt, Nghị viện có thể quyết nghị họp kín.”

Vâng, đặc điểm tối thiểu của “họp công khai” là “công chúng được vào nghe”

Hiển nhiên phải là như vậy! Vì “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân”, do Nhân dân bầu ra, để thay mặt Nhân dân đóng vai trò “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” trong đất nước mà “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”, nên tất nhiên Nhân dân có quyền chứng kiến “cơ quan đại biểu” của mình họp hành, hoạt động như thế nào.

Nếu muốn thì công chúng phải được chứng kiến trực tiếp. Tức là “vào nghe” trực tiếp ngay trong phòng họp của Quốc hội, chứ không phải gián tiếp, qua thông tin tường thuật của tivi, đài, báo, đã bị biến dạng qua lăng kính chủ quan của nhà báo và bị bóp méo bởi cái gọi là “định hướng tuyên truyền”. Kể cả xem “truyền hình trực tiếp” trong phòng cách biệt (với phòng họp Quốc hội) hay qua chương trình TV cũng không phải là “chứng kiến trực tiếp”, vì tín hiệu truyền hình có thể “bị trục trặc” đúng những lúc gay cấn, hay ống kính ghi hình có thể bị quay lệch khỏi hướng đáng quan tâm.

Để công chúng có thể “vào nghe” trực tiếp thì phòng họp của Quốc hội phải được thiết kế và xây dựng tương ứng, có đủ chỗ cho công chúng “vào nghe”. Một hình mẫu có thể tham khảo là phòng họp của Quốc hội CHLB Đức, trong đó 6 khán đài với khoảng 430 chỗ ngồi (chưa kể chỗ đứng) được dành cho công chúng, khách và nhà báo, để họ có thể trực tiếp chứng kiến toàn cảnh phiên họp công khai của Quốc hội (xem Ảnh 2). Đương nhiên, công chúng phải tiến hành đăng ký và đợi đến lượt mình; còn Quốc hội thì phải có hướng dẫn cụ thể và cung cấp công cụ đăng ký trực tuyến để công chúng có thể đăng ký thuận lợi.

Liệu Nhà Quốc hội Việt Nam đang được xây dựng có phù hợp với tinh thần “Quốc hội họp công khai” (nghĩa là có chỗ cho công chúng “vào nghe”) hay không? Nếu không phù hợp, thì nhân dịp đề nghị bổ sung hơn 2.000 tỷ đồng cho Dự án Nhà Quốc hội, với lý do “thiết kế công trình Nhà Quốc hội được điều chỉnh theo hướng điều chỉnh lại công năng cho phù hợp với yêu cầu sử dụng mới”, phải nhanh chóng tạo dựng thêm chỗ cho công chúng “vào nghe”. Nếu phớt lờ, không chịu hiệu chỉnh theo tinh thần của Hiến pháp mới được thông qua, thì những người chịu trách nhiệm xây dựng Nhà Quốc hội và điều khiển các cuộc họp Quốc hội trong tương lai sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp.

Điều đáng lo hơn là liệu những người lãnh đạo Quốc hội đã thực tâm chấp nhận việc “Quốc hội họp công khai” hay chưa? Vốn dĩ, nhân danh “bảo vệ an ninh”, họ có thể chặn cả đường giao thông công cộng, ngăn không cho dân chúng đi qua khu vực mà Quốc hội họp. Thậm chí, họ từng ngang nhiên đưa ra lệnh cấm: “Phóng viên không được phỏng vấn và chụp ảnh đại biểu Quốc hội trong khu vực sảnh trước của hội trường – nơi đại biểu Quốc hội giải lao”. Phóng viên của báo chí chính thống, vừa thực hiện nhiệm vụ của bộ máy tuyên truyền “lề đảng” và thực thi quyền tự do báo chí, vừa đáp ứng yêu cầu truyền tải thông tin để cử tri cả nước theo dõi và giám sát hoạt động của Quốc hội, mà còn bị cản trở thô bạo như vậy, thì làm sao người lao động chân quê có thể len vào chốn “Quốc hội họp công khai”?

Đây là một trong những thử thách đầu tiên đối với Quốc hội sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Người dân có thể kiểm nghiệm thái độ tôn trọng và chấp hành Hiến pháp của chính bản thân Quốc hội, bằng cách sớm đăng ký tham gia chứng kiến trực tiếp các cuộc “họp công khai” của Quốc hội. Để tránh ngụy biện về hoàn cảnh chật chội, do chưa xây xong Nhà Quốc hội mới, có thể viết thẳng vào đăng ký rằng sẵn sàng đứng nghe hoặc mang theo ghế xếp để ngồi nghe.

Nếu Quốc hội viện cớ quanh co, không chịu thi hành cái điều khoản hiến định có thể dễ dàng thực hiện ngay lập tức, chẳng bị ai cản trở ngoài chính bản thân, thì chứng tỏ họ coi Hiến pháp vừa thông qua chỉ là trò đùa. Và nếu cơ quan lập hiến nhìn nhận như vậy thì đừng có hy vọng hão huyền vào sự tôn trọng Hiến pháp của bộ máy cầm quyền.

Ngược lại, nếu Quốc hội thực sự chấp nhận để người dân nào “vào nghe” các cuộc họp được hiến định là “công khai”, thì đó là một tín hiệu tốt, chứng tỏ Quốc hội cũng muốn xây dựng nhà nước pháp quyền.

  1. Mánh lới bất thành

Trong Hiến pháp 2013, có ba điều hiến định về quyền công dân được kèm theo câu “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” hay “… do luật định”, đó là:

Điều 23  Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 25  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.

Điều 27  Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.

Câu kèm theo đó mang dụng ý gì?

  1. 1.

Để trả lời câu hỏi trên, ta điểm lại quá trình thay đổi, biến dạng của điều hiến định về quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” qua các đời Hiến pháp của chế độ này.

Trong hai bản hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959), các quyền công dân thuộc thể loại này được hiến định một cách vô điều kiện, không bị hạn chế (xem Phụ lục I). Có lẽ, đó là biểu hiện của thế hệ cầm quyền mới thoát thân từ cương vị bị trịchưa kịp lĩnh hội đầy đủ kỹ năng quản lý xã hội, và cũng chưa bị nhiễm nặng “hội chứng cầm quyền”.

Hiến pháp thứ ba được thông qua vào năm 1980, giữa lúc đất nước đã thống nhất dưới sự lãnh đạo độc quyền của ĐCSVN. Trên đỉnh cao quyền lực, nhà cầm quyền không cần lấy lòng dân chúng như thời kỳ còn phải tranh chấp, nên một số quyền tự do của công dân trong Hiến pháp 1980 được hiến định kèm theo ràng buộc:

Điều 67  Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình,phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân.”

Tức là “các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình” của công dân phải “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân”, trong đó “lợi ích của chủ nghĩa xã hội” chiếm vị trí hàng đầu, còn “lợi ích của nhân dân” chỉ đứng hạng hai. Cả hai loại lợi ích đó và cái gọi là “lợi ích của Nhà nước” đều trừu tượng, nên dễ quy chụp những hành động của dân chúng mà nhà cầm quyền không thích là “không phù hợp” hay “xâm phạm”các lợi ích đó.

Hiến pháp thứ tư – Hiến pháp 1992 – ra đời vào lúc Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở châu Âu đã sụp đổ đồng loạt,“chủ nghĩa xã hội” trở nên tai tiếng. Vì vậy, các nhà lập hiến Việt Nam đã xóa bỏ điều kiện “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội” và thay bằng ràng buộc “theo quy định của pháp luật”:

Điều 69  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Việc đột nhiên hủy bỏ nội dung “Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó” (vốn có trong Điều 67 Hiến pháp 1980 và Điều 25 Hiến pháp 1959) cho thấy: Ngay từ khi ban hành Hiến pháp 1992 nhà cầm quyền đã không muốn chấp nhận người dân thực thi các quyền hiến định ấy. Trên thực tế, họ đã dựa vào điều kiện “theo quy định của pháp luật” để “câu giờ”, cố tình không ban hành các luật liên quan, để lập luận rằng: Khi chưa có pháp luật quy định cụ thể thì chưa thể hành động “theo quy định của pháp luật”.

Nguy hiểm tiềm tàng của thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” ẩn chứa trong không gian bao la của cái gọi là “pháp luật”. Theo Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 172008/QH12, thì trong “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” không chỉ có Hiến pháp và các luật, mà còn có cả “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân”. Hơn nữa, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 cho phép

“Hội đồng nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong những trường hợp… quyết định những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp…”

và cho phép

“Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản quy phạm pháp luật… để thi hành Hiến pháp…”

Như vậy, cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp phường, xã cũng có thể viện cớ hiến định để hạn chế quyền công dân. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, nên khó chỉ ra một cách trực tiếp rằng các hành vi sai trái hạn chế quyền công dân của các cơ quan đó là vi hiến.

Trong khi trì hoãn hơn nửa thế kỷ, cố tình không ban hành luật để bảo đảm thực hiện các quyền hiến định, thì nhà cầm quyền lại sinh ra một số nghị định và thông tư để hạn chế quyền tự do của công dân. Điển hình là cặp Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA nhằm ngăn cấm thực thi quyền hội họp, biểu tình, và cặp Nghị định số 136/2006/NĐ-CP và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP nhằm cản trở khiếu nại có nhiều người tham gia. Song bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng các nghị định và thông tư đó vi phạm Hiến pháp và luật.

Như đã khẳng định trong bài “Quyền biểu tình của công dân”Chừng nào chưa có “quy định của pháp luật”, thì chừng ấy chưa có hạn chế đối với quyền biểu tình, nên công dân có quyền biểu tình một cách hoàn toàn tự do, theo đúng tinh thần của Hiến pháp 1992, không phải đợi đến lúc có Luật biểu tình hay một văn bản tương tự.

Sau mấy phương án dự thảo nhằm khắc phục tình trạng đuối lý (xem Phụ lục II), cuối cùng Hiến pháp 2013 (Điều 25)quy định:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.”

Mệnh đề “theo quy định của pháp luật” (trong Điều 69 Hiến pháp 1992) được xóa đi, không phải vì sự hào phóng đột biến, mà để thay bằng câu sau:

Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Nghĩa là vẫn bảo lưu khả năng thao túng bao la của cái gọi là “pháp luật”. Đáng nói hơn, là ba chữ “việc thực hiện” được huy động vào cuộc. Để làm gì?

Một mặt, mục tiêu đặt ra chỉ là sửa đổi chứ không phải viết mới Hiến pháp, nên những chỗ thực sự cần thiết mới được sửa, nghĩa là thay đổi kể trên không thể vô tình, mà chắc đầy dụng ý. Mặt khác, bộ máy đương quyền càng tỏ ra ngu ngơ và gắn bó với đồng chí phương bắc bao nhiêu, thì lại càng ranh mãnh và đối kháng với Dân ta bấy nhiêu, cho nên chẳng ngạc nhiên khi năng lực sáng tạo của nhà cầm quyền lại được huy động để đối phó với Dân ta. Vì thuật ngữ “theo quy định của pháp luật” vẫn chưa đủ thuyết phục, nên nay thay nó bằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, hẳn là để nhấn mạnh rằng “các quyền này” chỉ được “thực hiện” khi có “pháp luật quy định”.

Với mánh lới mới mẻ này, một bức tường pháp lý vững chắc hơn trước được dựng lên vô thời hạn để cản công dân đến với quyền tự do. Nếu sau này bất đắc dĩ phải để công dân “thực hiện” quyền nào đó, thì họ sẽ dùng pháp luật để hạn chế đáng kể quyền ấy.

Đó có lẽ cũng là chìa khóa để giải mã thâm ý của Điều 23 (về quyền tự do đi lại và cư trú, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước) và Điều 27 (về quyền bầu cử và ứng cử) trong Hiếp pháp 2013.

  1. 2.

Nếu đấng sinh thành ra Hiến pháp 2013 nghĩ như vậy, thì đấy chỉ là ý muốn chủ quan của họ.

Không thể trì hoãn mãi mãi việc ban hành các luật liên quan. Chớ viện cớ thiếu thời gian hay thiếu kinh phí. Gần 70 năm đã trôi qua kể từ khi chế độ này ra đời, chẳng nhẽ vẫn chưa đủ thời gian để làm các luật bảo đảm thực thi quyền công dân hay sao? Bỏ hàng núi tiền của Nhân dân nuôi béo tham nhũng thì được, chẳng nhẽ trích một phần nhỏ kinh phí để làm luật lại không được hay sao? Hơn nữa, nhiều người sẵn sàng cùng nhau viết luật, và có đủ khả năng hoàn thành sản phẩm với chất lượng tốt trong thời gian ngắn. Chỉ cần Quốc hội chân thành đề nghị, thì họ sẽ ra tay. Nếu quả thật Quốc hội thiếu tiền, thì họ sẵn sàng làm không công, giống như bỏ công viết những bài như thế này.

Trong một thể chế xưng danh “Nhà nước pháp quyền” (Điều 2 Hiến pháp 2013) thì đảng cầm quyền cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Một khi đã hiến định rằng “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” và “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị” (Điều 16 Hiến pháp 2013), thì không thể đòi hỏi các tổ chức và cá nhân khác phải thực hiện những điều mà đảng cầm quyền và các đảng viên của nó không cần thực hiện.

Nếu đòi hỏi các tổ chức khác phải đăng ký và chỉ được hoạt động sau khi được cấp phép, thì sẽ vấp phải các câu hỏi sau đây: ĐCSVN đã làm thủ tục đăng ký thành lập khi nào? Đã được chính quyền thời đó cấp phép hay chưa? Cho đến nay, Luật quy định quyền lập hội, ban hành bởi Sắc lệnh số 102/SL-L004 do Chủ tịch Quốc hội Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1957, vẫn còn nguyên hiệu lực, và nó được lấy làm căn cứ cho Nghị định số 33/2012/NĐ-CP, mới được ký vào ngày 13/4/2012. Sắc lệnh này quy định:

Điều 4. Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.”

Rõ ràng, ĐCSVN là “hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này” và “đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến”. Vậy thì, sau ngày 20/5/1957, ĐCSVN đã làm thủ tục “xin phép lại” hay chưa?

Điều 4 Hiến pháp 2013 quy định:

“Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Cho đến tận bây giờ, Hiến pháp vẫn chưa xác định nhiệm vụ và quyền hạn của “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, trong khi hiến định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp và pháp luật cũng chưa hề ban hành “khuôn khổ” hoạt động của đảng. Song ĐCSVN không hề chờ đợi, mà vẫn ngang nhiên “hoạt động”. Vậy thì tại sao lại không chấp nhận cho công dân thực thi các quyền hiến định, mà đòi họ phải chờ đợi, đến khi có “pháp luật quy định” thì mới được “thực hiện các quyền này”?

  1. 3.

Như đã viết ở trên, các quyền công dân tại Điều 23Điều 25 và Điều 27 được hiến định không kèm theo ràng buộc, chẳng phải vì hào phóng bất thường, mà do dự định dùng luật và các văn bản dưới luật để “siết lại”. Tiếc thay, hiện trạng của Hiến pháp 2013 không cho phép bất kỳ ai triển khai ý đồ “siết lại” nữa. Vì sao?

Nguyên tắc sơ đẳng trong kỹ thuật lập hiến và lập pháp là: Luật và các văn bản dưới luật chỉ có thể hạn chế một quyền hiến định nào đó, nếu Hiến pháp cho phép hạn chế đích danh quyền ấy. Ví dụ, Hiến pháp CHLB Đức quy định như sau:

Điều 5

(1) Mọi người có quyền tự do phát biểu và phổ biến quan điểm của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh, và tự do tìm hiểu thông tin từ các nguồn có thể truy cập phổ thông. Tự do báo chí và tự do thông tin được đảm bảo. Không được kiểm duyệt.

(2) Những quyền này bị hạn chế bởi quy định trong các luật phổ quát, bởi quy định của Luật bảo vệ thanh thiếu niên, và bởi quyền được bảo vệ danh dự cá nhân…”

 “Điều 8

(1) Mọi người Đức đều có quyền tụ họp một cách hòa bình và không mang theo vũ khí, mà không cần phải trình báo hay được chuẩn y.

(2) Đối với các cuộc tụ họp ngoài trời, quyền này có thể bị hạn chế bằng luật hoặc trên cơ sở của một luật.”

Nguyên tắc sơ đẳng đó không phải là quá xa lạ với các nhà lập hiến Việt Nam. Có điều, lẽ ra phải được trình bày một cách rõ ràng và chính xác, Hiến pháp Việt Nam lại bị lây nhiễm cái ngôn ngữ của chính trường hoang vắng lòng trung thực: Khi nói thẳng thì không thật, còn sự thật thì lại bị úp mở, trình bày quanh co… Thay vì viết rõ là “quyền… có thể bị hạn chế bằng pháp luật”, thì lại che dấu sau thuật ngữ “có quyền… theo quy định của pháp luật”.

Trong Hiến pháp 1992, cụm từ “theo quy định của pháp luật” đã được viết kèm theo một số quyền công dân, đó là:

-       Quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Điều 54);

-       Quyền tự do kinh doanh (Điều 57);

-       Quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp (Điều 63);

-       Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 68);

-       Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 69).

Và quyền xây dựng nhà ở thì được gắn với điều kiện “theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 62). Viết như vậy có nghĩa là có thể dùng pháp luật để hạn chế các quyền ấy.

Hiến pháp 2013 bỏ hiến định về quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp, đồng thời bỏ hiến định về quyền xây dựng nhà ở của công dân. Quyền tự do kinh doanh được hiến định đơn giản và rõ ràng hơn:

Điều 33  Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.”

Đây cũng là một cách hiến định, rằng có thể ban hành pháp luật để hạn chế quyền tự do kinh doanh.

Cách hiến định này cũng “tế nhị” như thuật ngữ “trái luật” trong hai ngữ cảnh sau đây:

“Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.” (Điều 19 Hiến pháp 2013)

“Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.” (Điều 21 Hiến pháp 2013)

Ngụ ý là: Có thể ban hành luật để “tước đoạt tính mạng” của ai đó và cho phép một số đối tượng được quyền “bóc mở, kiểm soát, thu giữ… thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”.

Rõ ràng là Hiến pháp 2013 không lãng quên nguyên tắc lập hiếnĐể có thể hạn chế một quyền hiến định bằng luật hay văn bản dưới luật, thì trước hết phải hiến định về khả năng hạn chế ấy. Vậy mà Hiến pháp 2013 lại hiến định mấy quyền một cách vô điều kiện tại Điều 23Điều 25 và Điều 27, không kèm theo hạn chế và cũng không có hiến định về khả năng hạn chế các quyền ấy bằng pháp luật.

Mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” được kèm theo chỉ cho phép ban hành pháp luật để hướng dẫn cách “thực hiện”, mà kết quả cuối cùng phải là người dân được “thực hiện” các quyền đó. Luật và các văn bản dưới luật không được phép gây khó dễ, nhằm cản trở hay tạo cớ ngăn cấm “thực hiện”, vì như vậy là vi phạm Hiến pháp 2013.

Có thể một số vị sẽ cố lập luận, rằng mệnh đề “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” chứa đựng khả năng dùng pháp luật để hạn chế hay khước từ “việc thực hiện các quyền này”. Song họ sẽ vấp phải câu hỏi: Tại sao không viết thẳng, viết rõ dự định hạn chế hay khước từ ấy trong Hiến pháp? Cố tình mập mờ để đánh lừa ai?

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 quy định:

“Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.”

Theo đó, nếu nhà cầm quyền dự định dùng pháp luật để hạn chế một quyền hiến định nào đó, thì phải trình bày dự định ấy trong Hiến pháp một cách “rõ ràng, dễ hiểu”, chẳng hạn: “Quyền này có thể bị hạn chế bằng pháp luật.”

Hiến pháp đích thực phải được viết một cách trung thực. Hiến pháp dành cho toàn thể Nhân dân, nên nó phải được “diễn đạt… rõ ràng, dễ hiểu” đến mức dân thường cũng có thể hiểu để thi hành. Không được vận dụng kỹ năng lập lờ lươn lẹo từ chính trường vào Hiến pháp nhằm đánh lừa người dân.

Có lẽ các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam chẳng có ý định đi xa đến mức chấp nhận những quyền con người, quyền công dân hoàn toàn “bao la”, không hề bị hạn chế. Nhưng “bút sa gà chết”, câu chữ mà họ sử dụng trong Hiến pháp 2013 chỉ cho phép kết luận như trên.

  1. Sai lầm tai hại

Điều gì khiến các nhà lập hiến sơ suất như vậy? Hẳn là do chủ quan, quá ỷ lại vào khả năng thao túng của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, quy định rằng:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

Ý đồ và hệ quả của nước cờ lạ lẫm này là gì?

  1. 1.

Vốn dĩ, nội dung của điều khoản trên được thể hiện trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013) tại Khoản 2 Điều 15 như sau:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.”

Bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” đã phê phán khoản dự thảo này và chỉ rõ: Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân. Và bất cứ lúc nào họ muốn thì đều quan niệm là “trường hợp cần thiết”. Vì vậy, việc nhét chữ chỉ vào điều khoản ấy chẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà cốt để ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân. Hơn nữa, dự thảo không hề đề cập ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.

  1. 2.

Để khắc phục nguy cơ tùy tiện, các nhà lập hiến đã bổ sung thêm ràng buộc “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013. Điều kiện này kéo theo hệ quả gì?

Trước kia, bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã dựa vào nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ được hiến định tạiĐiều 112 Hiến pháp 1992 để chỉ ra tính vi hiến của Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Nghị định số 136/2006/NĐ-CP. Vì Hiến pháp không quy định nhiệm vụ và quyền hạn của bộ máy nhà nước từ cấp bộ và tỉnh thành trở xuống, nên không thể sử dụng cách lập luận này để chỉ ra tính vi hiến của văn bản pháp quy do các cấp dưới ban hành.

Nhưng bây giờ thì việc chứng minh tính vi hiến trở nên đơn giản hơn. Theo Điều 14 Hiến pháp 2013, ngoài Hiến pháp, chỉluật mới được hạn chế quyền con người, quyền công dân. Có nghĩa là: Tất cả các nghị quyết, pháp lệnh, lệnh, quyết định, nghị định, thông tư… đều trở nên vi hiến nếu chúng hạn chế quyền con người, quyền công dân. Chẳng hạn như các văn bản hạn chế quyền hội họp, biểu tình (Nghị định số 38/2005/NĐ-CP), hạn chế quyền khiếu nại, tố cáo (Nghị định 136/2006/NĐ-CP), hạn chế quyền lập hội (Quyết định 97/2009QĐ-TTgNghị định 45/2010/NĐ-CPNghị định 33/2012/NĐ-CP), hay hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin trên mạng internet (Nghị định 72/2013/NĐ-CP)…

Đáng lưu ý là: Giữa thời buổi bộ máy cầm quyền đã tha hóa, phạm trù “công vụ” thường bị lạm dụng để ngụy trang cho những hành động xấu xa và thuật ngữ “chống người thi hành công vụ” hay bị lạm dụng để vu khống dân lành, thì Chính phủ lại mới ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP, trong đấy cho phép:

“… người thi hành công vụ được nổ súng để phòng vệ chính đáng, tấn côngkhống chế, bắt giữ người có hành vi chống người thi hành công vụ.”

Có nghĩa là nghị định này cho phép người thi hành công vụ xâm phạm “quyền bất khả xâm phạm về thân thể” (hiến định tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013), thậm chí có thể “tước bỏ tính mạng”  “quyền sống (hiến định tại Điều 19 Hiến pháp 2013) của người dân trong một số trường hợp. Như vậy là vi phạm Điều 14 Hiến pháp 2013.

Nghị định 208/2013/NĐ-CP có quy ước:

“Việc nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ được thực hiện theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Nhưng pháp lệnh không phải là luật, nên việc Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 cho phép “nổ súng” vào người dân cũng là trái với quy định của Điều 14 Hiến pháp 2013. Do đó, viện dẫn pháp lệnh đó không có tác dụng cải thiện tình trạng vi hiến của Nghị định 208/2013/NĐ-CP.

Điều nghiêm trọng là: Nghị định 208/2013/NĐ-CP được ban hành vào ngày 17/12/2013, tức là 19 ngày sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 2013, và nó có hiệu lực từ ngày 1/2/2014, tức là một tháng sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Như vậy, việc ban hành Nghị định 208/2013/NĐ-CP rõ ràng là một hành vi vi phạm Hiến pháp 2013 trong thế chủ động, không phải bị động như những nghị định đã được ban hành từ trước khi Hiến pháp 2013 được thông qua. Vì sao Chính phủ lại hành động bất chấp Hiến pháp như vậy? Quốc hội định “xử lý” thế nào đối với “hành vi vi phạm Hiến pháp” đó của Chính phủ?

  1. 3.

Như đã viết trong phần 5.1, khi được đưa vào dự thảo, mục đích nguyên thủy của Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 lànhằm hiến định khả năng hạn chế các quyền con người, quyền công dân. Song họ đã đi sai nước cờ, chọn nhầm cách thể hiện.

Với cách viết như hiện nay, họ mới thể hiện điều kiện cần, là nếu được phép hạn chế thì “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật. Nó chưa thể hiện được điều kiện đủ cho việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, tức làchưa hề cho phép ban hành luật để hạn chế các quyền ấy.

Những ai đã lĩnh hội kiến thức ở trường phổ thông đều phân biệt được giữa “điều kiện cần” và “điều kiện đủ”, và đều hiểu rằng “chỉ có thể…” không có nghĩa là “có thể…”. Ví dụ: Chắc mọi người đều đồng ý là chỉ có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”. Nhưng như vậy không có nghĩa là thừa nhận mệnh đề “có thể làm Chủ tịch Quốc hội nếu không mù chữ”.

Để thể hiện “điều kiện cần và đủ”, lẽ ra phải viết thêm vào Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 một từ “có thể” nữa, chẳng hạn:

“Quyền con người, quyền công dân có thể và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”

  1. 4.

Nhưng đấy chỉ là xét về lô-gíc ngôn ngữ thuần túy. Còn về mặt pháp lý, thì không thể hiến định như vậy. Bởi lẽ, nếu chấp nhận việc hiến định một cách chung chung, thì có thể thay điều khoản trên bằng một câu còn tổng quát hơn nữa, đó là:

“Mọi quy định của Hiến pháp đều có thể thay đổi trong trường hợp cần thiết.”

Và khi đó Hiến pháp cũng trở nên vô dụng, chẳng cần tốn công bàn luận về nó làm gì nữa.

Khoản 2 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 12/2008/QH12 viết rõ:

“Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung.

Trong Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013, phạm trù “quyền con người, quyền công dân” quá chung chung và các “nội dung cần điều chỉnh” không hề được “quy định trực tiếp”. Chùm “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” cũng quá chung chung, bao la đến mức có thể quy chụp mọi hoàn cảnh. Khi nhà cầm quyền muốn, thì tất nhiên họ coi đó là “trường hợp cần thiết”. Cho nên, nếu hiến định như vậy, thì bất cứ quyền con người và quyền công dân nào cũng có thể bị chà đạp một cách “hợp pháp”.

Có thể ai đó sẽ ngụy biện, rằng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới phải phù hợp với Hiến pháp, còn Hiến pháp không cần phải phù hợp với luật ấy. Đừng quên, rằng khi viết và thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, thì Hiến pháp 1992 vẫn còn có hiệu lực, và Khoản 2 Điều 5 Luật số 12/2008/QH12 hoàn toàn hợp hiến, nên họ vẫn phải tuân theo.Nội dung Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể không cần phải tuân theo luật, nhưng hành vi của những người viết và thông qua Dự thảo thì vẫn phải tuân theo luật hiện hành.

Thế nào mới có thể coi là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung”? Thông thường, trong điều hiến định về quyền nào đó thì cần quy định luôn hoàn cảnh và hình thức có thể hạn chế quyền ấy – Như vậy là“trực tiếp” nhất. Nếu có một hoàn cảnh cần phải hạn chế một số quyền khác nhau, thì có thể sinh ra một điều hiến định cho hoàn cảnh ấy, nhưng trong đó phải nêu đích danh các quyền cần phải hạn chế một cách cụ thể (tức là “không quy định chung chung”). Như vậy mới là “quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh”.

Một ví dụ minh họa là Điều 17a Hiến pháp CHLB Đức. Khoản 2 của điều này viết rằng:

“Các luật phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân có thể quy định hạn chế quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11) và bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13).”

Ở đây, hoàn cảnh “có thể quy định hạn chế quyền cơ bản” được viết cụ thể là “phục vụ mục tiêu quốc phòng và bảo vệ thường dân”. Hình thức, phương tiện hạn chế được quy định cụ thể là “luật”“Nội dung cần điều chỉnh” được quy định cụ thể là “quyền cơ bản về tự do cư trú, đi lại (Điều 11) và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 13)” – Nghĩa là không chỉ nêu đích danh quyền bị hạn chế, mà còn phải viết rõ là quyền đó được quy định ở điều nào của Hiến pháp. Như thế mới có thể coi là “quy định trực tiếp”, “không quy định chung chung”.

Trong thể chế Cộng hòaNhà nước phải là “của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, và đương nhiên Hiến pháp cũng phải là “của Nhân dân” và “vì Nhân dân”, bất kể nó “do” ai viết ra và “do” ai thông qua. Vì vậy, nhiệm vụ của Hiến pháp là hạn chế sự tùy tiện của bộ máy Nhà nước, để bảo vệ Nhân dân, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, chứ không phải là khống chế Nhân dân, hạn chế quyền con người và quyền công dân, để bảo vệ Nhà nước và để bộ máy ấy dễ hành xử tùy tiện.

Tóm lại, không thể biến báo Điều 14 Hiến pháp 2013, hay tạo mới một điều khoản duy nhất, để hiến định khả năng hạn chế tất cả các quyền con người và quyền công dân một cách chung chung! Do đó, không tồn tại khả năng hợp hiến nào để nhà cầm quyền có thể hạn chế các quyền được hiến định tại Điều 23Điều 25 và Điều 27 của Hiến pháp 2013.

  1. 5.

Để ý thức rõ hơn hậu quả tai hại của nước cờ lập hiến sai lầm, hãy xem xét điều khoản hiến định về “quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở”.

Vốn dĩ, Điều 71 Hiến pháp 1980 quy định:

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật.”

Sau đó, Điều 73 Hiến pháp 1992 bỏ bớt câu thứ ba và chỉ giữ lại hai câu đầu:

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Nghĩa là cả hai Hiến pháp “tiền nhiệm” đều “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” ra khỏi phạm trù “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý”.

Nhưng bây giờ mệnh đề “trừ trường hợp được pháp luật cho phép” bị xóa khỏi Hiến pháp 2013:

Điều 22  

  1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
  2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
  3. Việc khám xét chỗ ở doluậtđịnh.”

Như vậy, Hiến pháp 2013 quy định dứt khoát rằng: “Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.” Và không hề loại trừ bất cứ trường hợp nào.

Hệ quả pháp lý của Khoản 3 Điều 22 chỉ là: “Việc khám xét chỗ ở” phải “do luật định”, tức là phải dùng luật, chứ không được dùng các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư…, để quy định việc khám xét chỗ ở. Khoản 3 không hề hạn chế hay phủ định Khoản 2, nghĩa là không hề cho phép ban hành luật quy định “việc khám xét chỗ ở” của bất kỳ người nào trong trường hợp “không được người đó đồng ý”.

Vậy thì nhà cầm quyền sẽ làm thế nào khi cần khám xét chỗ ở của nghi can nhưng “không được người đó đồng ý”?

Trong tiếng Việt thì “không ai…” có nghĩa là “không người nào…”, kể cả công an và các loại “tay chân” của họ. Cho đến nay, họ thường cho người đóng vai “quần chúng bức xúc”hay giả dạng “côn đồ tự phát”, thậm chí huy động cả côn đồ đích thực, để đàn áp công dân thực thi các quyền hiến định. Bây giờ, khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, nếu cần khám xét chỗ ở của đối tượng nào đấy nhưng “không được người đó đồng ý”, chẳng nhẽ lại bắt con người đóng con vật hay sao? Hay tự phủ định tư cách “người” của mình? Hay ngang nhiên hành động bất chấp Hiến pháp?

Ai cũng biết cái thông lệ được thừa nhận khắp thế giới, là bộ máy công an, cảnh sát phải được Hiến pháp và luật cho phép khám xét chỗ ở trong một số trường hợp cần thiết, cho dù chủ nhân có đồng ý hay không. Vậy mà, thông qua câu chữ đã thể hiện trong Hiến pháp 2013, Quốc hội khóa XIII đã tước bỏ mất khả năng khám xét hợp lý ấy. Buồn thay…

*

*     *

Những điều đã trao đổi trong bài này dựa trên tư duy và lô-gíc thông thường, dưới giả thiết là nhà cầm quyền thực tâm tôn trọng và chấp hành Hiến pháp. Tiếc rằng, bằng hành động thực tế, họ thường xuyên phủ định giả thiết đó. Hiển nhiên, nếu nhà cầm quyền chỉ coi Hiến pháp là một thứ “tập làm văn”, thì mọi suy luận về hệ quả của nó đối với thực tế cuộc sống là hoàn toàn vô nghĩa.

Đọc những điều mà ta đã và sẽ còn tiếp tục rút ra, chắc hẳn nhiều vị đại biểu Quốc hội giật mình, khi thấy rõ hơn hình hài cái Hiến pháp mà mình đã tắc trách nhấn nút “tán thành” lúc mới hiểu lõm bõm. Ngược lại, có thể một số vị đã trực tiếp tham gia viết và chỉnh sửa dự thảo Hiến pháp sẽ phản ứng và quả quyết rằng họ nghĩ hoàn toàn khác. Nhưng đối với văn bản Hiến pháp thì các tác giả nghĩ ra sao chỉ là chuyện phụ, điều quyết định là họ đã viết như thế nào. Bởi không phải cái tư duy quanh co hay ý đồ mập mờ của phía lập hiến, mà chính câu chữ, lời văn được thể hiện trong Hiến pháp mới xác định nội dung hiến định. Do đó, dù tuân theo nguyên tắc khách quan, ta chỉ cần dựa trên thực trạng văn bản Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua và đang có hiệu lực để suy luận, chứ không phải lệ thuộc vào những gì đã diễn ra trong đầu của thế lực cầm quyền và quân sư của họ.

Có lẽ do ỷ thế lập pháp, nên chủ quan mà đi sai nước cờ lập hiến. Bây giờ biết tính sao đây? Vừa thông qua Hiến pháp 2013 với sự tán thành gần như tuyệt đốichẳng nhẽ bây giờ Quốc hội lại đem nó ra mà tẩy xóa? Đã quả quyết rằngHiến pháp 2013 thể hiện được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, ý Đảng hợp với lòng dân”, thì bây giờ Quốc hội có quyền bất chấp “nguyện vọng của Nhân dân” và “lòng dân” để sửa chữa nó hay không?

Trước sự cố ngoài ý muốn kiểu này, thông thường có ba cách xử lý như sau.

(1)  Quân tử nhất ngôn: Đành chấp nhận hậu quả do sai lầm của chính mình gây ra, thực hiện đúng văn bản Hiến pháp mà mình đã ban hành, dù trái ý và bất lợi cho nhà cầm quyền.

(2)  Kiên định & trung thực: Không muốn rời bỏ ý định vốn có, nên thẳng thắn thừa nhận sai lầm, xin lỗi và xin phép Nhân dân cho sửa chữa các lỗi đã phạm phải, để Hiến pháp thể hiện đúng ý định của thế lực cầm quyền, dù nó mới được thông qua, còn chưa ráo mực.

(3)  Ù lì bất chấp: Không chịu thừa nhận sai lầm, mà vẫn hành động theo ý mình, bất chấp hiện trạng của văn bản Hiến pháp.

Không hiểu Quốc hội (với tư cách cơ quan lập hiến) và thế lực thực quyền (điều khiển hành vi của Quốc hội) sẽ chọn cách nào?

* * * * * * * * * *

Phụ lục I

Điểm chung trong hai bản hiến pháp đầu tiên của chế độ này là một số quyền công dân được hiến định một cách đơn giản, vô điều kiện, không bị hạn chếHiến pháp 1946 quy định như sau:

Điều thứ 10

Công dân Việt Nam có quyền:

- Tự do ngôn luận

- Tự do xuất bản

- Tự do tổ chức và hội họp

- Tự do tín ngưỡng

- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.”

Mười ba năm sau, Hiến pháp 1959 sửa lại thành:

Điều 25  Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.”

Phụ lục II

Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2/1/2013)Điều 69 Hiến pháp 1992 đã được sửa lại như sau:

Điều 26  Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Điều gì thay đổi ở đây? Như đã phân tích trong bài “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp”, họ xóa đi hai chữ “có quyền” trước đoạn “được thông tin” và trước đoạn “hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ “được thông tin”) thay cho hai chữ “có quyền” ấy. Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn “có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước“quyền”, và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà “được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là “chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành “quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành “quy định của pháp luật”, thì người dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”. Qua đó ta thấy, nhà cầm quyền vẫn duy trì ý chí cản trở công dân thực thi các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình.

Cuối cùng, trong Hiến pháp 2013 mới được thông qua, các tác giả đã bỏ từ “được” và thay nó bằng từ “tiếp cận”:

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.” (Điều 25)

Như vậy là cụm từ “Công dân có quyền” ở đầu câu không còn bị chữ “được” chặn đường, mà có thể tác động liên thông tới tận từ “biểu tình” ở cuối câu.

Ngày 29 tháng 8 năm 2014

Cùng tác giả:

Đảng và Nhân dân – Vị thế bị tráo

Uẩn khúc trong Điều 4 Hiến pháp

Rủi cho Phương Uyên – May cho Dimitrov

Quốc hiệu nào hội tụ lòng Dân?

Chỗ đứng của Nhân dân trong Hiến pháp

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

Hai tử huyệt của chế độ

Bài học tồn vong từ thảm họa

Lực cản Nhà nước pháp quyền

Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng

Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ

Quyền biểu tình của công dân

Phiêu lưu điện hạt nhân

Về huyền thoại điện hạt nhân giá rẻ

Mạn bàn về an toàn điện hạt nhân

 

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2901. MỘT VẤN NẠN CỦA NỀN TƯ PHÁP – GIẢI QUYẾT ÁN KÉO DÀI

Posted by adminbasam on 27/08/2014

LS Ngô Ngọc Trai

26-08-2014

H1Trong những vụ án có thời gian giải quyết kéo dài như vụ Hàn Đức Long ở Bắc Giang (9 năm) hay vụ án Lê Bá Mai ở Bình Phước (10 năm) bị cáo phải chịu khổ là đương nhiên rồi. Nhưng phía gia đình bị hại cũng phải gánh chịu sự đau đớn kéo dài khi vết thương lòng không khép miệng mà cứ bị moi khoét ra mãi.

Đó là minh chứng rõ ràng cho thấy ngành tư pháp đang tồn tại một tệ trạng xấu là nhiều vụ án cứ giải quyết kéo dài mãi không có điểm dừng.

Chưa xử đã trả hồ sơ

Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện tại, tòa án sau nghiên cứu hồ sơ nếu thấy chưa đủ căn cứ để kết tội thì trả lại và yêu cầu điều tra bổ sung. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 2 Comments »

2897. Tướng cướp đã từng được Ban Tuyên giáo Trung ương tặng danh hiệu “Nhân tố mới thời đại Hồ Chí Minh”

Posted by adminbasam on 26/08/2014

Đôi lời: Bài viết này đã được đăng trên báo Bắc Ninh và các trang mạng khác hồi tháng 11 năm 2013, nhưng đã bị gỡ bỏ. Hiện chỉ còn tìm thấy nội dung trên Facebook “Đất Bắc Ninh : Người Xinh – Cảnh Đẹp“. Trong bài có đoạn: “Liên tục gần 10 năm qua, ông đã đóng góp nhiều công sức, xây dựng quê hương đổi mới, xứng đáng với danh hiệu ‘Nhân tố mới thời đại Hồ Chí Minh’ mà Ban Tuyên giáo Trung ương đã chứng nhận đầu năm 2013“. Như vậy là Ban Tuyên Giáo Trung ương đã từng vinh danh một tướng cướp, lại còn ban tặng cho tướng cướp này danh hiệu ‘Nhân tố mới thời đại Hồ Chí Minh’?

——

NGUYỄN THÀNH HƯNG – NHÂN TỐ MỚI THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

06-11-2013

H1Ở thôn Phù Khê Thượng, xã Phù Khê (thị xã Từ Sơn), ai cũng biết đến Nguyễn Thành Hưng – con người một thời “lầm đường lạc lối” được chính người dân trong thôn tín nhiệm bầu làm Trưởng thôn. Liên tục gần 10 năm qua, ông đã đóng góp nhiều công sức, xây dựng quê hương đổi mới, xứng đáng với danh hiệu “Nhân tố mới thời đại Hồ Chí Minh” mà Ban Tuyên giáo Trung ương đã chứng nhận đầu năm 2013.

Phù Khê Thượng hôm nay rộn ràng tiếng máy đục, máy xẻ từ những xưởng mộc, đường làng được đổ bê tông vào tận ngõ xóm, nhiều công trình công cộng được xây dựng khang trang, sạch đẹp. Vậy là giấc mơ có đường rộng, nhà lầu, xe hơi… của người dân Phù Khê Thượng bao đời nay đã thành sự thật. Một trong những người góp công lớn làm thay đổi sắc diện quê hương là Trưởng thôn Nguyễn Thành Hưng. Kể về vị trưởng thôn một thời lạc bước, người dân Phù Khê Thượng đều chung niềm tự hào, tin yêu, cảm phục.

Sinh ra và lớn lên ở làng quê nghèo lam lũ, từ thơ ấu, chàng trai làng luôn tự vấn sao người dân quê mình quanh năm vất vả mà vẫn không đủ ăn. Lớn lên, được ra thị xã học, tận mắt chứng kiến cuộc sống an nhàn, no đủ của bạn bè, bị một số phần tử xấu lôi kéo, anh dần dấn thân vào con đường trộm cắp để tiêu xài cho bản thân. Hành động của anh đã phải trả giá bằng những năm tháng “ăn cơm tù, mặc áo số”. Nhờ cải tạo tốt, giữa năm 1995, anh được giảm án trước thời hạn. Ngày ra tù, bà con đến thăm hỏi, động viên anh và có nhiều lời khuyên thấu tình, đạt lý. Với tâm trạng của một người thấm thía nỗi đau, anh quyết tâm làm lại cuộc đời. Từ đây, cuộc đời Nguyễn Thành Hưng bước sang một trang mới.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hồ Chí Minh, Pháp luật, Đảng CSVN | 12 Comments »

2892. Tại sao người ta thích vuốt ve, bao che cho sai phạm? (*)

Posted by adminbasam on 24/08/2014

GDVN

Xuân Dương

24-08-2014

(GDVN) – Đã uyển chuyển, mềm mại, dễ vuốt ve như tóc, như khói, như áo dài, như … thì làm sao có thể đều nhau, làm sao có thể vào khuôn vào phép được!

Những tưởng chuyện chống tham nhũng đã có một bước tiến (dù là nhỏ nhoi) từ lời nói đến quyết tâm của cán bộ, công chức, của các cơ quan công quyền và đoàn thể, đặc biệt là người đứng đầu các đơn vị này. Tuy nhiên nhìn vào cách thức xử lý những vụ việc vi phạm đạo đức, pháp luật vừa qua tại nhiều địa phương, cơ quan, có thể thấy còn lâu mong muốn này mới thành sự thực.

Có một chuyện ngoại lệ tưởng chẳng ăn nhập gì với chủ đề bài viết, ấy là khi biểu diễn các điệu múa ba lê cổ điển hay hiện đại, các buổi thi thể dục nhịp điệu của học sinh trung học… ở các nước Âu-Mỹ, người ta biễu diễn theo đúng nhạc, đều tăm tắp, còn các điệu múa của Việt Nam, từ chuyên nghiệp đến các buổi truyền hình trực tiếp xem mà thật buồn, may mà chưa có cảnh diễn viên va đến uỵch vào nhau, ngã bổ chửng trên sân khấu.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 2 Comments »

2866. Người tốt, kẻ xấu và tên vô lại – The Good, the Bad and the Ugly

Posted by adminbasam on 15/08/2014

Hiệu Minh

Xem những gì trải qua trong nhà tù, tại phiên tòa, rồi điều tra, thành án, có thể thấy có dấu vết chỉ đạo từ rất xa. Nhất định Việt Nam không có đường hướng sang phương Tây. Mọi thứ đều do diễn biến hòa bình, một con ngáo ộp… Đang là người tốt bỗng mang tiếng xấu chỉ có thể do kẻ vô lại dựng chuyện. Người ta nể trọng người tốt, không sợ kẻ ác nếu biết cách chống, nhưng ghê tởm và rất sợ kẻ vô lại.  Không thể lấy lòng tốt để đối đãi kẻ vừa Bad vừa Ugly, bởi đó là tự sát.

14-08-2014

H1Tôi không phải là fan của nghệ thuật thứ 7. Cứ vào rạp là ngủ. Ngồi trên sofa xem tivi với bọn trẻ, phim rùng rợn, đầu rơi máu chảy, nổ đoàng đoàng, nhưng chỉ một lúc là ngáy khò khò. Đến nỗi cu Bin phải thốt lên, he does not like movie – lão khốt không thích phim.

Thế nhưng phim “The Good, the Bad and the Ugly – Người tốt, kẻ xấu và tên vô lại ” của diễn viên kiêm đạo diễn Clint Eastwood, tôi xem không biết bao nhiêu lần mà không chán. Cao bồi giơ súng bắn phát nào trúng phát đó, nhằm vào mũ trúng mũ, vào dây thắt cổ, đứt luôn, trong khi mặt lạnh tanh. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng CSVN | 1 Comment »

2860. Nhớ anh Nguyễn Văn Hải – Điếu Cày

Posted by adminbasam on 14/08/2014

LS Lê Công Định

14-08-2014

H1Tôi đã theo vụ án “trốn thuế” của anh Hải Điếu Cày từ những ngày anh chưa bị bắt (tháng 5/2008), cho đến khi anh ra tòa (tháng 11/2008). Trong vụ án này tôi gặp nhiều trở ngại và áp lực từ nhiều phía. Đầu tiên, với tư cách luật sư, tôi bị gây khó khăn vô lý để không tham gia vào giai đoạn điều tra ban đầu mà luật pháp cho phép trong các vụ án phi chính trị.

Sau đó, trước ngày xét xử, một quan chức cao cấp của Tòa án TPHCM đã gọi điện thoại cho luật sư Nguyễn Đăng Trừng, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Sài Gòn, yêu cầu Đoàn Luật sư cấm tôi biện hộ cho anh Hải. LS Trừng hỏi lại quan chức ấy rằng họ dựa trên cơ sở pháp lý nào để cấm luật sư Định biện hộ thì chỉ giúp ông. Quan chức đó đành ngậm ngùi trước sự bảo vệ tôi mạnh mẽ của LS Trừng. Nhân đây, tôi đang tự hỏi, nếu ai thay thế LS Trừng ở vị trí Chủ nhiệm Đoàn Luật sư trong tương lai, liệu người ấy có đủ dũng khí và lý lẽ nặng ngàn cân của một vị thủ lĩnh như vậy để chống lại sự can thiệp vô luật pháp kiểu đó?

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 2 Comments »

2858. Tôi đã bị buộc tội hoạt động “bí mật” như thế nào?

Posted by adminbasam on 13/08/2014

LS Lê Công Định

12-08-2014

H1Vừa rồi một người bạn của tôi, đảng viên ĐCSVN, hỏi vì sao ngày xưa tôi dùng chi cả 7 điện thoại, đến nỗi khi bị bắt phía công an bày lên bàn chụp hình tất cả. Câu hỏi này tôi cũng thường nghe nhiều từ lúc ra tù. Nhân đây xin kể sự thật. Cho đến tháng 6/2009 tôi có hai số điện thoại, một cho giao dịch công việc và một cho quan hệ bạn bè, nên chỉ dùng 2 máy điện thoại mà thôi. Khi công an ập vào bắt tôi và khám xét văn phòng làm việc, họ lục tung các tủ đựng đồ đạc cá nhân của tôi và lôi ra mọi thứ, trong đó có 5 điện thoại đã hư mà tôi không còn sử dụng nữa.

Tôi giải thích đó là các điện thoại hư và không có sim bên trong, họ mở ra kiểm tra và cũng biết tình trạng như thế. Tuy nhiên, sau đó một người trong số họ bỗng dưng bày hết cả 7 điện thoại lên bàn và yêu cầu tôi ngồi yên phía sau. Tôi chưa kịp suy nghĩ mục đích của hành động đó, thì một người cầm máy ảnh từ ngoài cửa phòng bước vào chụp nhanh một tấm hình. Đến lúc ra tù tôi mới thấy bức ảnh này xuất hiện khắp nơi trên mạng như một bằng chứng rằng tôi đã có nhiều hoạt động bí mật, không đường đường chính chính, nên mới sử dụng cùng lúc nhiều điện thoại như vậy. Quả là khôi hài! Nghe tôi kể, người bạn đảng viên ĐCSVN lắc đầu, kết luận: “Nhà sản lắm chiêu trò quá! Tôi cũng thuộc nhà sản nhưng không nghĩ ra nổi mấy trò đó!”

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 1 Comment »

2856. Thông tư 28 cho thấy điều gì?

Posted by adminbasam on 12/08/2014

BBC

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt

12-08-2014

Công an tại Việt Nam đã nhiều lần bị phản ánh về hành vi không tuân thủ luật pháp

Công an tại Việt Nam đã nhiều lần bị phản ánh về hành vi không tuân thủ luật pháp

Ngày 7/7 Bộ Công an ban hành Thông tư 28 quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân dự kiến có hiệu lực từ ngày 25/8 tới đây.

Nhưng ngay khi nội dung thông tư công khai nhiều luật sư đã phản ứng cho rằng Thông tư 28 quy định cho phép điều tra viên lập biên bản khi luật sư có việc làm sai sẽ dẫn đến sự lạm dụng gây bất lợi cho luật sư khi hành nghề.

Liên đoàn luật sư Việt Nam sau khi nhận được nhiều ý kiến đề nghị liên đoàn phải có ý kiến về vấn đề này đã nhanh chóng có công văn gửi Bộ trưởng Bộ Công an đề nghị xem xét sửa lại nội dung thông tư.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 2 Comments »

2837. Tương lai nào cho luật sư Việt Nam?

Posted by adminbasam on 06/08/2014

BBC – Việt Ngữ

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt

06-08-2014

H2Trong buổi tọa đàm giữa Đoàn luật sư Hà Nội và Đoàn luật sư thành phố Paris của Pháp, cử tọa đã hết sức thán phục khi được biết Đoàn luật sư Paris có lịch sử đã 800 năm.

Hãy hình dung, khi mà vua quan quân lính nhà Trần còn đang rong ruổi thanh gươm yên ngựa để chống giặc, thì ở thủ đô Paris của nước Pháp, đã có những người mặc áo choàng đứng ở phiên tòa mà biện hộ cho người bị cáo.

Tức là khi ở Việt Nam sự sống còn của quốc gia dân tộc còn chưa được đảm bảo chứ đừng nói gì đến quyền của kẻ tội nhân ở chốn công đường, thì ở nước Pháp đã hình thành nên một thiết chế mà sự đúng đắn là bệ đỡ đã giúp nó tồn tại cho tới tận ngày nay. 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Pháp luật, Đảng CSVN | 3 Comments »

2826. LS Nguyễn Đăng Trừng luôn chống lại sự can thiệp thô bạo của nhà cầm quyền để bảo vệ sự độc lập và tự quản của giới luật sư

Posted by adminbasam on 02/08/2014

LS Lê Công Định

02-08-2014

Nhân sự việc Luật sư Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi Đảng CS, tôi nhớ lại một giấc mơ kỳ lạ đã đến với tôi vào đêm thứ hai sau ngày bị bắt. Trong giấc mơ, tôi gặp Luật sư Triệu Quốc Mạnh và được mời đi ăn tối. Bữa ăn chưa kịp bắt đầu, bỗng LS Trừng đến ngồi cùng bàn. Thế là tôi được dịp ngồi ăn và trò chuyện cùng lúc với hai vị sếp cũ. LS Mạnh ít nói, chỉ nhìn như chia sẻ nỗi niềm của tôi. Còn LS Trừng khuyên một câu thật giá trị: “Trên võ đài khi bị đối thủ đánh ngã, cố gắng đừng để bị gục hẳn và hãy tìm cách đứng lên. Trụ lại được, nếu thời cơ đến với mình, sẽ đến lượt đối thủ phải gục!”

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng CSVN | Tagged: , | 5 Comments »

2820. Tuyên bố báo chí về chuyến thăm Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo hay tín ngưỡng

Posted by adminbasam on 01/08/2014

United Nation Human Rights

Heiner Bielefeldt

StatementVietnameseVersion31July2014-page-001
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Tôn giáo, Đảng CSVN | 6 Comments »

2819. Kết quả của việc tranh đấu độc lập cho Đoàn Luật sư TP.HCM: LS Nguyễn Đăng Trừng bị khai trừ khỏi đảng

Posted by adminbasam on 31/07/2014

Tuổi Trẻ

Khai trừ Đảng ông Nguyễn Đăng Trừng

31/07/2014 18:53 (GMT + 7)

H1TTO – Ban thường vụ Thành ủy TP.HCM vừa có thông báo kết luận về thi hành kỷ luật đảng viên Nguyễn Đăng Trừng (bí thư Đảng đoàn, Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM).

Theo đó, Ban thường vụ Thành ủy TP quyết định thi hành kỷ luật đối với ông Trừng bằng hình thức khai trừ.

Theo kết luận trên, từ năm 2012, trong lãnh đạo, điều hành hoạt động của Đảng đoàn, ông Trừng đã có khuyết điểm, vi phạm, trong đó có việc thực hiện công tác phân công, bổ nhiệm, đề bạt một số cán bộ tại Đoàn Luật sư TP vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ của Đảng, vi phạm qui chế làm việc của Đảng đoàn; chỉ đạo chuẩn bị nhân sự Đại hội Đoàn Luật sư TP nhiệm kỳ VI (2013 – 2018) không đúng qui trình, thiếu công khai, minh bạch; phong cách lãnh đạo thiếu dân chủ, độc đoán, gia trưởng… Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng CSVN | 10 Comments »

2808. Tản mạn: cảnh sát Tây, cảnh sát Ta

Posted by adminbasam on 29/07/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

“Nhưng trong một xã hội mà người dân sợ cảnh sát / công an là xã hội bất bình thường. Đáng lí ra công an / cảnh sát có nhiệm vụ bảo vệ người dân, đảm bảo an ninh cho xã hội, mà người dân lại sợ? Có lẽ nhiệm vụ hàng đầu của họ không phải là bảo vệ dân, dù mang danh nghĩa là ‘công an nhân dân’.”

28-07-2014

H1Mỗi lần có bạn bè đồng nghiệp từ VN sang đây công tác, họ thường nhờ tôi khi có dịp chở đi vòng Sydney, qua các khu phố Việt, có khi đi xa thử rượu đỏ ở vùng Hunter Valley. Ai cũng bày tỏ ngạc nhiên là không thấy bóng dáng cảnh sát / police ở đâu (1). Thật ra, thì thỉnh thoảng cũng có, nhưng họ cũng đi trên xe như mình, và họ bận tuần tra, chứ đâu có thì giờ “đứng đường” như cảnh sát ở Việt Nam.

Sống ở đây lâu, tôi cũng không để ý sự hiện diện của cảnh sát. Đi chợ (shop) thì thỉnh thoảng gặp họ đạp xe đạp hay cưỡi ngựa tuần tra, nhưng cả tháng mới thấy họ một lần. Còn trên xa lộ thì thỉnh thoảng cũng gặp xe cảnh sát, nhưng họ cũng lái xe vù vù như mình, nên cũng không ai để ý ai. Tuy nhiên, với công nghệ scan, họ chỉ cần chạy ngang một xe là biết xe đó đã hết hạn đăng kí hay chưa! Còn xe cảnh sát chìm thì không biết được. Loại cảnh sát chìm này cũng dùng xe như dân thường, cũng có khi “chơi” xe sport xịn, ăn mặc bụi đời, nhưng súng ống thì trang bị tận răng. Họ thường có nhiệm vụ đi bắt những tội phạm nguy hiểm, tội phạm liên quan đến ma tuý, và hành tung rất “xuất quỉ nhập thần”. Nói chung là rất ít thấy cảnh sát trên đường phố. 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng CSVN | Tagged: , | Leave a Comment »

2804. Vấn nạn bức cung nhục hình ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 27/07/2014

BBC – Việt Ngữ

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Bài tham gia Diễn đàn BBC Tiếng Việt

27-07-2014

H1

Ông Nguyễn Thanh Chấn đã phải chịu oan ức trong nhiều năm

Trong vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn, ông này đã phải khai nhận một tội mà mình không hề phạm. Vậy ông Chấn có phải đã bị bức cung nhục hình hay không, và có câu hỏi là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh hành vi bức cung nhục hình?

Quy định của luật

Hiện chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể hình dung số lượng các vụ án có tình trạng bức cung nhục hình ở Việt Nam là vô cùng lớn. Số trường hợp bị nhục hình thì không dám chắc nhưng nạn bức cung có khả năng xảy ra ở 100% các vụ án.

Vấn nạn bức cung phổ biến lớn rộng như thế không phải do một vài sai phạm nghiệp vụ mà nó có nguyên nhân từ chính sự cho phép của luật. Điều này có vẻ vô lý, luật nào cho phép được bức cung? Nhưng sự thực đúng là như thế.

Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, tức là chỉ chấp nhận những lời khai tự nguyện. Nếu bị cáo không tự nguyện khai báo thì thôi, không được sử dụng bất kỳ thủ pháp nghiệp vụ nào buộc người ta phải khai, vì luật cấm mọi hình thức truy bức.

Nhưng Bộ Luật Hình sự lại có điều luật xử phạt tù đối với hành vi từ chối khai báo, theo đó Điều 308 quy định về tội từ chối khai báo đã viết rằng: “Người nào từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể bị phạt tù từ ba tháng đến một năm”.

Lý do chính đáng ở đây là gì? Để tự bảo vệ tính mệnh và tự do của mình có phải là một lý do chính đáng không? Trường hợp nào mà bị cáo chẳng có lý do chính đáng là tự bảo vệ mình? Như thế thì trường hợp nào bị cáo cũng phải có quyền từ chối khai báo chứ?

Tại sao bị cáo lại phải nói ra những điều mà nó chính là chứng cứ để người ta kết tội lại mình? Có ai là người tự nguyện trong việc này?

Dọa nạt bỏ tù người ta nếu không chịu tự nguyện khai báo, đó chẳng phải là một hình thức bức cung thì là gì?

Như thế, chính quy định của luật đã tạo ra tình trạng bức cung nhục hình. Quy định như thế đã tạo cho điều tra viên tính hợp pháp về mặt luật pháp để bức cung, và giải thoát cho họ mặc cảm tội lỗi về mặt đạo đức nếu có. Và đó là lý do vì sao vấn nạn bức cung phổ biến ở hầu như 100% các vụ án.

Vấn đề của năng lực

Bí cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

Bí cáo Dương Chí Dũng cũng từng tố cáo trước Tòa mình bị bức cung

Quy định của luật lệch lạc như thế không phải nhà làm luật không biết, mà họ có lý do để duy trì điểm mâu thuẫn vô lý đó.

Sự vô lý của luật thực ra là hệ quả phản ánh thực tế năng lực thực thi pháp luật của hệ thống tư pháp Việt Nam. Về mặt nghiệp vụ nếu không buộc được bị can khai báo thì điều tra viên không có đủ khả năng để xét đoán sự việc và điều tra nghi phạm.

Hoạt động điều tra là lần theo manh mối dấu vết tội phạm, mà muốn làm được điều này thì phải có khả năng xét đoán, ngoài ra cần có trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho công tác điều tra.

Nhưng ở Việt Nam thì cả hai vấn đề này đều thiếu, điều tra viên thì kém năng lực, thế mạnh chủ yếu dựa vào việc áp chế người khác, thể hiện qua việc bắt bớ giam cầm, bức cung nhục hình buộc phải khai nhận. Về mặt trang thiết bị máy móc thì có lẽ cũng còn thiếu sự đầu tư nhất định.

Vì tình hình thực tế như vậy cho nên khi soạn luật người ta đã lần lựa đưa vào hay bỏ ra các quy định như thế nào để phù hợp với năng lực thực tế của cơ quan điều tra.

Tức là nhà làm luật đã không được tự do thoải mái đứng hẳn về phía các chế định pháp lý văn minh tiến bộ.

Hệ quả là có những quy định luật mang tính nửa vời, vừa tỏ ra tiến bộ, nhưng xét kỹ lại là lổng hổng.

Tại sao luật không quy định bị cáo được quyền giữ im lặng và chỉ đồng ý khai báo khi có sự tham gia của luật sư bào chữa, như vậy sẽ đảm bảo tiệt nọc tình trạng bức cung nhục hình? Mà lại chỉ quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình, trong khi cả hai lối quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là đảm bảo những lời khai phải là tự nguyện?

 

Đây là một chế định pháp lý văn minh tiến bộ để bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, không thể không đưa vào luật. Nhưng các nhà làm luật đã sử dụng xảo thuật để vừa tỏ ra tôn trọng chân giá trị vừa tìm cách đáp ứng đòi hỏi thực tế của hoạt động điều tra trong khi giải thoát cho mình khỏi mặc cảm tội lỗi ở khâu làm luật.

Các nhà soạn luật hẳn đã tự biện minh rằng, chúng tôi đã quy định nghiêm cấm mọi hình thức bức cung nhục hình rồi, còn thực hiện như thế nào là do thực tế và đó là trách nhiệm của cơ quan điều tra.

Họ đã bỏ qua tình hình thực tế về điều kiện giam giữ người và quy trình làm việc không bị giám sát của cơ quan điều tra. Thực tế như vậy cộng hưởng với quy định lập lờ nửa vời của luật đã dẫn đến vấn nạn bức cung nhục hình phổ biến rộng khắp.

Cho nên vấn nạn bức cung nhục hình phải giải quyết ở khâu soạn luật chứ không chỉ giải quyết ở khâu thực thi pháp luật.

Các nhà soạn luật cũng tìm cách để xoa dịu hậu quả của tình trạng bức cung nhục hình bằng cách đưa vào chế định rằng nếu thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải sẽ được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ để giảm mức án cho bị cáo.

Việc này cũng giúp lấp liếm đi tình trạng bức cung của cơ quan điều tra. Có những vụ án bị cáo ban đầu chối bay chối biến, sau khi bị bức cung nhục hình thì đã khai nhận hành vi phạm tội, đến khi xét xử lại được đánh giá là thành khẩn khai báo và được giảm án.

Biết bao nhiêu vụ án đã như vậy, nhưng chẳng mấy ai thắc mắc là vì đâu bị cáo thay đổi lời khai từ chối tội sang nhận tội.

Vấn đề niềm tin

Vấn nạn bức cung nhục hình không chỉ phản ánh năng lực trình độ của cán bộ điều tra mà nó còn phản ánh nhận thức lệch lạc của những người giải quyết án, bao gồm cả kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư.

Ở Việt Nam lâu nay người ta đặt rất nặng vấn đề chứng cứ và yêu cầu việc xử án phải theo chứng cứ. Nhận thức này xem qua thì cho đó là lối làm việc khách quan khoa học đảm bảo tính chắc chắn và thực ra thì việc đòi hỏi phải có chứng cứ là tốt và đương nhiên.

Nhưng nó sẽ là sai lầm nếu coi chứng cứ là vấn đề duy nhất khi giải quyết một vụ án.

Trong vụ oan sai của ông Nguyễn Thanh Chấn, khi nêu ra vấn đề cần xử lý các điều tra viên về tội bức cung nhục hình thì có ý kiến thắc mắc là lấy đâu ra chứng cứ chứng minh việc bức cung nhục hình?

Đây thực ra là một nhận thức sai lệch nghiêm trọng của không chỉ người dân mà cả các chuyên gia về luật, mà từ đó góp phần tạo nên vấn nạn bức cung nhục hình.

Chúng ta biết rằng chứng cứ nhằm để chứng minh, chứng minh nhằm để thuyết phục, vậy nếu sự việc đã đủ sức thuyết phục rồi, sự thật đã hiển nhiên rồi thì không cần phải chứng minh nữa và không cần chứng cứ.

Ông Chấn nếu không bị bức cung nhục hình thì tại sao lại nhận một tội mà mình không hề phạm? Mà cái tội đó nào có nhẹ nhàng gì, nếu bố ông Chấn không phải là liệt sĩ nên ông Chấn được giảm án thì có lẽ ông đã bị tử hình rồi.

Việc ông Chấn bị bức cung nhục hình là điều không còn có thể tranh cãi nữa.

Mặc dù không hề có chứng cứ nhưng chúng ta có thể xác quyết bằng niềm tin.

Niềm tin nội tâm

Trong lĩnh vực tư pháp có một khái niệm là “niềm tin nội tâm”. Niềm tin này là cơ sở xét đoán của mọi người tham gia vào hoạt động xét xử. Cả điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư đều phải dựa vào niềm tin nội tâm để xét đoán sự việc.

Bởi vì tất cả những người này dù thế nào đi nữa thì họ cũng không phải là bị cáo, họ không thể chắc chắn bị cáo có phải là hung thủ hay không. Cho nên khi quy kết buộc tội hay bào chữa gỡ tội chỉ có thể dựa vào niềm tin nội tâm.

Niềm tin nội tâm được tạo thành từ những hiểu biết về vụ án thông qua các tài liệu chứng cứ, qua nghiên cứu hiện trường, hồ sơ vụ án, thông tin về nhân thân bị cáo …

Ở Việt Nam lâu nay, khi xét xử người ta ít sử dụng đến niềm tin nội tâm, và khái niệm niềm tin nội tâm chỉ nằm gọn hạn hẹp trong các nghiên cứu về học thuật. Lý do có lẽ vì niềm tin là thành tố có tính tôn giáo trong khi chính thể hiện tại là vô thần.

Thay vì xét xử dựa vào niềm tin nội tâm trong đó chứng cứ chỉ là một thành tố tạo thành (ngoài chứng cứ còn cần trình độ kinh nghiệm để tạo nên niềm tin xét đoán), việc xét xử hiện nay đặt nặng vào chứng cứ, chứng cứ thế nào không quan trọng, miễn là phải có chứng cứ.

Nếu giải quyết án cứ phải có chứng cứ rõ ràng thì chỉ cần một người phán quyết là đủ, cần gì phải hội đồng nhiều người, và cũng chỉ cần một lần xét xử là được cần gì phải qua hai cấp?

Cái lối xét xử đặt nặng chứng cứ mà không dựa vào niềm tin nội tâm sẽ không lý giải được là dựa vào đâu mà người ta có thể tuyên án trong khi vụ án có cả chứng cứ kết tội và chứng cứ gỡ tội.

Vì nhận thức như thế nên trong lối làm việc người ta phải tìm ra bằng được chứng cứ. Luật cũng phụ họa cho việc này khi bỏ qua đòi hỏi về tính khách quan đã quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ.

Và khi gặp khó khăn trong các lối điều tra khác thì dễ dàng nhất là tiến hành bắt giam bức cung buộc bị can phải khai báo.

Đó là lý do vì sao tình trạng bức cung nhục hình tràn lan như hiện nay.

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

2803. Toà án KHÔNG nhân danh công lí!

Posted by adminbasam on 27/07/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

27-07-2014

Hôm qua, đọc bài của Ls Ngô Ngọc Trai làm tôi giật mình chú ý đến một chi tiết mà mình không để ý: toà án VN không nhân danh công lí. Quả thật, xem lại những văn bản toà án lâu lâu xuất hiện trên mạng, tôi không hề thấy toà án VN nhân danh công lí. Xử án mà không nhân danh công lí thì chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều sai lầm tai hại. Chúng ta thử điểm qua vài bản án để xem công lí ở đâu:

Võ Mỹ Xuân (bán dâm): 2.5 năm tù.
Nguyễn Thanh Thuý (bán dâm): 2.5 năm tù
Nguyễn Thuý Hằng (bán dâm): 3 năm tù
Sầm Đức Sương (mua dâm): 9 năm tù
Nguyễn Trường Tô (mua dâm): 0 năm tù – thật ra ông này không ra toà.
Ngô Tuấn Dũng (hiếp dân): 2 năm tù
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 4 Comments »

2799. Toà án VN ‘không nhân danh công lý’

Posted by adminbasam on 26/07/2014

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 5 Comments »

2788. CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ KHÍA CẠNH LUẬT PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA VÀ QUYỀN CHỦ QUYỀN Ở VÙNG BIỂN CHUNG QUANH. TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT HÒA BÌNH CÁC TRANH CHẤP ĐÃ VÀ CÓ THỂ XẢY RA VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC BẰNG THƯƠNG NGHỊ, HÒA GIẢI HAY TÀI PHÁN

Posted by adminbasam on 24/07/2014

GS Tạ Văn Tài

18-07-2014

Chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại phần lớn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (không phải là trên tất cả các đá, bãi ngầm – phải nói thế mới đúng về mặt sự kiện thực tại và về mặt pháp luật và mới tôn trọng các quốc gia khác trong vùng) và các quyền chủ quyền (sovereign rights, về tài nguyên) đi liền với các vùng biển chung quanh chúng, mà luật dành cho Việt Nam, thì có căn bản chắc chắn trong các chứng cớ sự kiện lịch sử và trong quốc tế công pháp truyền thống và luật quốc tế mới của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea,UNCLOS).

Ở đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày những điểm chính trong một bài viết ngắn, vì trình bày chi tiết sẽ cần một bài dài hơn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng đề ra các căn bản vững chắc cho việc xác lập chủ quyền Việt Nam và do đó sẽ tỏ rõ thiện chí của lập trường Việt Nam khi nói đến các đường lối thương nghị, hòa giải và tài phán về chủ quyền quốc gia và khai thác chung quốc tế. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

2787. Tăng “quyền nhục hình” cho công an?

Posted by adminbasam on 24/07/2014

BBC – Việt Ngữ

Phạm Chí Dũng – Nhà báo Tự do từ Tp HCM

24-07-2014

H1Công an phường xã có quyền “tiến hành kiểm tra, xác minh ban đầu” là nội dung quan trọng nhất và cũng khiến gây tranh cãi nhiều nhất trong giới đại biểu Quốc hội và chuyên gia pháp luật chưa đến nỗi hoàn toàn vô cảm.

Nội dung đầy tính “sáng tạo” trên nằm trong khoản 2 Điều 25 của Dự thảo Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, theo đó ngoài quy định công an xã, phường, thị trấn, đồn công an, trạm công an có các quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập hồ sơ, phân loại và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm xác định có dấu hiệu tội phạm…, công an xã, phường còn được tăng quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu.
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng CSVN | Tagged: | 2 Comments »

2778. Tranh chấp biển Đông và hội nhập tư pháp quốc tế

Posted by adminbasam on 18/07/2014

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

18-07-2014

*Phần I: Quyền luật định, quyền án định, và quyền thực tế

Tranh chấp Việt-Trung liên quan tới biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa bùng phát, khi ngày 1.5.2014 Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý của Việt Nam. Cả hai bên đều dẫn liệu lịch sử, các công ước quốc tế, văn bản giữa 2 nước, viện đến Liên hiệp quốc, trù bị tới toà án, để bảo vệ quyền chủ quyền của mình, đòi bên kia chấm dứt. Quyền đó vì vậy thuộc phạm trù pháp lý, phân theo quy trình giải quyết tranh chấp, gồm có: „quyền luật định“, „quyền án định“, và „quyền thực tế“. Có thể hiểu ba khái niệm trên qua vụ tai nạn ô tô đâm ngược chiều gần đây ở Đức: Hai xe chạy ngược chiều nhau tốc độ 75-81 km/giờ, tới đoạn đường hẹp chỉ 4,56 m, có phân luồng, xe thứ nhất lấn sang luồng xe thứ 2, đâm nó gây tai nạn. Hai bên tranh cãi nhau, xe thứ hai viện dẫn luật giao thông khẳng định mình có quyền chạy trong phạm vi luồng mình, đòi bên kia bồi thường. Xe thứ nhất, cũng viện dẫn luật giao thông quy định tài xế còn phải căn cứ vào tình trạng giao thông để tránh nhau; phần luồng họ quá hẹp phải tránh cây ven đường nên họ có quyền lấn, từ chối bồi thường. Quyền đòi và từ chối bồi thường cả hai viện dẫn từ luật giao thông trên được gọi là „quyền luật định“ áp dụng cho mọi đối tượng mọi hoàn cảnh mà nó điều chỉnh, nên cả hai đều cho mình đúng luật. Đáng tiếc, khi áp dụng vào trường hợp cụ thể này, quyền hai bên đối chọi, loại trừ nhau, gây tranh chấp. Một khi không thể cùng nhau tự giải quyết, thì chỉ còn cách viện tới toà án vốn đóng vai trò trọng tài, không thiên vị bên nào, dùng cán cân công lý đo lường quyền luật định mỗi bên được hưởng, nhằm: – bảo đảm công lý cho cả 2 bên; – đóng vai trò tối hậu chấm dứt tranh chấp.
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật | 2 Comments »

2754. Công lý và quan trí

Posted by adminbasam on 12/07/2014

Baron Trịnh

12-04-2014

H21. Tuần qua, báo chí liên tục đưa tin về những bản án mà các bị cáo hoặc người bị hại không đồng tình với những phán quyết của tòa. Nhiều bài báo đã đưa ra những “nghi vấn” về công tác điều tra, công tố và xét xử đối với các vụ án này. Những cái title của các bài báo đã nói lên điều đó.

Từ vụ “Giật hai chiếc mũ, 4 học sinh bị phạt tù: quá nặng?” ở Hải Phòng đến vụ “1 câu nói, 5 năm tù” ở Hà Nội. Từ vụ “Buộc tham ô không được thì cột tội khác” ở Bình Thuận đến vụ “Bắt giam thai phụ, nay ép án để phủi trách nhiệm” ở Phú Thọ. Hay từ việc “Hủy án, điều tra lại vụ ‘5 công an đánh chết người’” ở Phú Yên đến “Kỳ án 194 phố Huế” ở Hà Nội đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực của báo chí lẫn bình luận đa chiều của các nhà chuyên môn. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2748. VỢ ÔNG NGUYỄN HỮU VINH: HÃY TRẢ TỰ DO NGAY CHO CHỒNG TÔI!

Posted by adminbasam on 10/07/2014

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 
———————————-

TP.Hà Nội, ngày  05 tháng 06 năm 2014

 ĐƠN KHIẾU NẠI

V/v:  khởi tố bắt oan sai đối với chồng tôi là Nguyễn Hữu Vinh,  

đề  nghị trả tự do ngay.

                       

Kính gửi:

-         Ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch nước, Trưởng ban cải cách tư pháp;
–         Ông Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an;
–         Ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng ban nội chính Trung ương;
–         Ông Nguyễn Hòa Bình, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao;
–         Ông Nguyễn Văn Hiện, Chủ nhiệm ủy ban tư pháp Quốc Hội.

Tôi là Lê Thị Minh Hà, sinh 1958. Trú tại: 5/2/4D phố Đặng Văn Ngữ, phường Trung Tự, quận Đống Đa, TP.Hà Nội; là vợ của anh Nguyễn Hữu Vinh đang bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam theo điều 258 Bộ luật hình sự: “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 4 Comments »

2743. Bàn về tự do báo chí

Posted by adminbasam on 08/07/2014

Nguyễn Vạn Phú

07-07-2014

H2Tự do báo chí là một đề tài rất nhạy cảm nhưng đó là bởi chúng ta nhìn nó theo nghĩa hẹp. Cứ thử nhìn rộng ra ngoài lãnh vực chính trị, sẽ thấy rất nhiều yếu tố bất ngờ đang tác động lên tự do báo chí.

Đầu tiên là lười và tay nghề yếu làm nhiều phóng viên đánh mất sự tự do của mình. Nói cụ thể, muốn viết một bài điểm sách có chất lượng thì điều kiện tiên quyết là phải đọc cuốn sách đó, muốn phê bình một bộ phim mới ra rạp, chắc chắn phải xem trọn vẹn bộ phim. Thế nhưng với nhiều phóng viên, bỏ vài ba ngày để đọc cuốn sách rồi viết một mẩu lọt thỏm là chuyện khó lòng xảy ra. Thế là họ đành bỏ sự tự do phóng bút để buộc mình vào trang thông cáo báo chí mà nhà xuất bản đã gởi sẵn vào hộp thư cho họ, kể cả những đoạn chê một chút, lên án “sự trần trụi” một chút cho thu hút người đọc. Một khi họ tự nguyện cắt và dán từ các bài báo chuẩn bị sẵn cho họ thì làm gì còn tự do báo chí đúng nghĩa nữa. Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 2 Comments »

2717. Xung đột giữa Đoàn Luật sư TP.HCM và Liên Đoàn Luật sư Việt Nam

Posted by adminbasam on 28/06/2014

 

H1 Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật | 12 Comments »

2701. Kiện Trung Quốc về Biển Đông : Lợi nhiều hơn hại

Posted by adminbasam on 24/06/2014

RFI – Việt Ngữ

Trọng Nghĩa

23-06-2014

Sau khi đưa giàn khoan HD-981 vào cắm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ngoài khơi Biển Đông vào đầu tháng 05/2014, Trung Quốc duy trì thái độ cứng rắn. Ngoài các hành vi đe dọa Việt Nam tại vùng tranh chấp, Bắc Kinh còn cử lãnh đạo ngành ngoại giao đến Hà Nội để đòi Việt Nam không được cản trở hoạt động của giàn khoan và nhất là không được phản đối hành vi đơn phương của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Theo các chuyên gia phân tích, trong thế yếu về mặt quân sự, biện pháp tốt nhất hiện nay mà Việt Nam có thể tiến hành để ngăn chặn mưu đồ bành trướng của Trung Quốc, là kiện Bắc Kinh ra trước các định chế tài phán quốc tế, và đưa vấn đề Trung Quốc đe dọa an ninh khu vực bằng giàn khoan HD-981 ra trước Hội đồng Bảo an cũng như Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.  Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 5 Comments »

2665. Phản bác luận điểm của Tàu cộng như thế nào?

Posted by adminbasam on 14/06/2014

Nguyễn Văn Tuấn

13-04-2014

Đọc bài gọi là “phản biện” của ông Trần Công Trực (1) tôi thấy có phần hời hợt và thiếu tính thuyết phục. Những điểm trình bày trong bài viết có lẽ chỉ nói cho “phe ta” đọc cho vui mắt thôi, và tạo ấn tượng học thuật qua danh xưng. Nhưng đứng trên phương diện học thuật thì bài phản biện này chưa đạt chuẩn để lên võ đài tranh luận với các học giả Tàu. Đây chính là vấn đề của VN: chỉ thích nói cho nhau nghe, mà không phản bác đối phương một cách trực tiếp. Hệ quả là chính ta ru ngủ ta (hay có người nói là “tự sướng”).

Sự hời hợt được phản ảnh qua phần phản bác thông tin trong sách giáo khoa lớp 9. Chẳng hạn như câu “Các tài liệu khác như Sách giáo khoa địa lý lớp 9, Tập bản đồ thế giới…thực chất đây là những tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu, học tập…”.  (Ôi! Sao tôi ghét cái dấu ba chấm này quá [2]). Tôi sợ giải thích này không thuyết phục. Ở một nước mà thông tin bị kiểm soát nghiêm ngặt và tất cả tin tức đều qua kiểm duyệt của bộ máy đảng và Nhà nước thì lí lẽ gọi là “tham khảo” không có giá trị pháp lí không thuyết phục được ai. Nên nhớ rằng tài liệu tham khảo là một chứng từ, và theo tôi thấy, chứng từ vẫn có giá trị nào đó ở pháp đình. Vấn đề là giá trị của nó cao thấp cỡ nào. Bọn Tàu cộng đọc xong câu này chắc chúng sẽ cười, vì chúng thầm nghĩ “chiêu này chúng tao dạy cho tụi bây mà”. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung | 4 Comments »

2662. PHẢI KIỆN NHƯNG KIỆN CÁI GÌ KIỆN NHƯ THẾ NÀO KHI NÀO?

Posted by adminbasam on 14/06/2014

Tô Văn Trường

13-06-2014

Việt Nam chúng ta tuy có đông dân, nhưng kinh tế, và nhiều mặt còn chưa phù hợp với vai trò mà chúng ta nên có trong một thế giới sôi động ngày nay. Người làm chính trị có thể coi như lái thuyền giữa biển khơi, sự tỉnh táo, linh hoạt, là không thể thiếu.

Sự kiện giàn khoan khổng lồ Haiyang Shiyou (HS) 981 của Trung Quốc ngang nhiên đặt vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam hơn tháng này kèm theo các hành động ngang ngược tấn công bằng vòi rồng phun nước, đâm thủng các thuyền chấp pháp và ngư dân của ta gây nên làn sóng phẫn nộ phản đối của nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Có nhiều ý kiến khác nhau về kiện hay không kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế và thời điểm kiện cần chờ ý kiến của Bộ Chính trị? Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung | 10 Comments »

2659. “CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG”: Góp ý về việc giải thích

Posted by adminbasam on 13/06/2014

Diễn Đàn

Cao Huy Thuần

12-06-2014

Thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Ngoại trưởng Chu Ân Lai ngày 14-9-1958 tạo lý lẽ pháp lý cho phía Trung Quốc để quả quyết rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên Hoàng Sa và Trường Sa. Lý lẽ pháp lý căn bản để Việt Nam bác bỏ luận điệu của Trung Quốc là : nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không có tư cách pháp lý để nhường cho Trung Quốc một quyền mà mình không có ở thời điểm 1958. Ở thời điểm ấy, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục lịch sử chiếm giữ từ bao đời và hành xử chủ quyền toàn vẹn trên hai đảo ấy. Lý lẽ rất xác đáng này, nhiều người đã nói rồi, tôi không nhắc lại ở đây nữa. Ở đây, tôi chỉ góp thêm chút ít ý về những vấn đề phụ, để bổ túc cho lý lẽ chính vừa nói ở trên. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng CSVN | 13 Comments »

2656. ĐỀ XUẤT MỜI LS LÊ CÔNG ĐỊNH VÀ TS. CÙ HUY HÀ VŨ THAM GIA VỤ KIỆN TQ

Posted by adminbasam on 12/06/2014

Nguyễn Xuân Diện

 Về nhân sự của nhóm luật sư, luật gia người Việt này, tôi đề xuất luật sư Lê Công Định (giỏi tiếng Anh, có kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quốc tế), tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ (giỏi tiếng Pháp, chuyên gia về công pháp quốc tế) và một số luật sư khác, kể cả người đã từng làm việc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa và đang hành nghề luật sư tại Mỹ (ví dụ luật sư Nguyễn Hữu Thống, đã có nghiên cứu sâu về biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa), và luật sư thành thạo tiếng Trung.

Trần Vũ Hải

12-06-2014

1. Một ngày u ám, một quan chức cao cấp của Chính phủ (xin giấu tên) nhắn qua một khách hàng Vip của tôi, rằng cấp trên định mời luật sư tham vấn để hình thành một nhóm luật sư chuẩn bị kiện Trung Quốc ra tòa án  hoặc trọng tài quốc tế.

2. Tại một nhà hàng trong một tòa nhà của khách hàng vip này, vị quan chức cao cấp này cùng một vị trung tướng an ninh (cũng xin được giấu tên) nói chuyện thân mật với tôi. Hai vị ngỏ ý:

a. Dư luận và người dân Việt Nam đang gây sức ép yêu cầu Nhà nước Việt Nam kiện Trung Quốc do những vấn đề tại biển Đông. Cá nhân ông có thể giúp Nhà nước như thế nào, ví dụ có thể lập một nhóm luật sư để giúp Nhà nước chuẩn bị kiện Trung Quốc được không? Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 7 Comments »

2653. Những điểm yếu của Việt Nam trong vấn đề kiện tụng (2)

Posted by adminbasam on 11/06/2014

Trương Nhân Tuấn

10-06-2014

Xem lại: Những điểm yếu của Việt Nam trong vấn đề kiện tụng (1)

Vấn đề « chủ quyền lịch sử ».

Nếu tranh chấp giữa VN và Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa được đưa ra phân xử trước một Tòa án quốc tế, nếu phía VN sử dụng những « công trình nghiên cứu » của các học giả VN (thuộc Quĩ Nghiên cứu Biển Đông) hiện nay, theo tôi, VN không có hy vọng bao nhiêu để thắng. Các học giả VN chỉ chú trọng đến « bằng chứng lịch sử » và bỏ qua các yếu tố quan trọng quyết định khác.

Các học giả VN thường dẫn trong « công trình » của họ các « bằng chứng lịch sử » nhằm chứng minh VN có chủ quyền không thể chối cãi ở HS. Các bằng chứng này hầu hết dẫn từ tác phẩm của các học giả VNCH, viết sau khi TQ dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa năm 1974. Việc làm của học giả tiền bối đó, tương tự công việc mà các học giả Phi hiện nay đang làm, mục đích để phản biện lý lẽ của TQ, khi nước này cho rằng TQ có « quyền lịch sử bất khả tranh nghị » tại các đảo TS.

Các học giả Phi (cũng như các học giả VNCH ngày trước) đưa ra những bằng chứng như bản đồ, các sử liệu… chứng minh lãnh thổ TQ, cho đến đầu thế kỷ 20, chưa bao giờ xa hơn Hải Nam. Chứng minh rằng tên « biển Hoa Nam » chỉ là tên gọi của các nhà hàng hải Châu Âu đặt ra, không có nghĩa là biển này thuộc về TQ. Chứng minh tên biển Hoa Nam đã từng được người Hoa gọi là biển Giao Chỉ (người viết đã từng đề cập việc này ở đây) và sử sách người Hoa cũng gọi là Nam Hải (biển phía Nam…). Các học giả TQ vô cùng lúng túng để phản biện lại. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung | 6 Comments »

2650. Bộ Chính trị định đoạt về Biển Đông?

Posted by adminbasam on 10/06/2014

BBC

TS. Dương Danh Huy – Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

10-06-2014

Tường thuật của ngư dân và clip về việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc bao vây, đuổi và đâm chìm làm tôi nhớ lại một chuyện thời sinh viên.

Hôm đó, tôi thấy trong một thư viện của đại học một quyển sách với một chuỗi hình chụp từ máy bay. Những hình này chụp lại cảnh một chiếc thuyền cuả người Việt tỵ nạn trong thập niên 1980 bị nhiều thuyền hải tặc bao vây. Thuyền hải tặc dùng bạt che số hiệu và đâm húc cho đến khi chiếc thuyền xấu số chìm. Không biết bao nhiêu sinh mạng đã bị dập tắt trong lòng biển. Lần này may mắn là các nạn nhân được cứu.

Từ năm 2009, Trung Quốc đã đâm húc tàu thuyền ngư dân Việt Nam, bắn họ, đánh đập họ, bắt họ, đòi tiên chuộc, cướp phá hoại tài sản của họ biết bao nhiêu lần. Hoàng Sa thì từ khi Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, họ khăng khăng là không có tranh chấp, không có gì để đàm phán. Trong cuộc đối đầu về giàn khoan HD-981, họ đã đâm hư hại 24 tàu của cơ quan nhà nước Việt Nam, coi nhà nước Việt Nam không ra gì.
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 5 Comments »

2649. BẠO LOẠN ĐÁM ĐÔNG VÀ BẠO LỰC NHÀ NƯỚC

Posted by adminbasam on 10/06/2014

Phạm Đình Trọng

10-06-2014

Để xảy ra cuộc bạo loạn kéo dài suốt hai ngày, trên phạm vi rộng từ Bắc vào Nam, gây thiệt hại lớn về chính trị, kinh tế, xã hội nhưng những địa chỉ có trách nhiệm đã hồn nhiên đứng ngoài cuộc, không mảy may chịu trách nhiệm, không nghiêm túc nhìn vào thực chất vụ việc. Để rồi người dân phải gánh hậu quả là những cuộc biểu tình chính đáng, ôn hòa của người dân yêu nước càng bị đàn áp phi pháp, tàn bạo. Rồi ông tướng công an Hoàng Kông Tư quen mặt lại nói trong cuộc họp báo của Chính phủ rằng: Cuộc bạo loạn xảy ra là do tổ chức phản động có tên Việt Tân kích động, xúi giục thì dư luận đã bị dẫn dắt đi quá xa sự thật. Bản chất vụ việc càng bị che khuất. Trách nhiệm của công an trong vụ bạo loạn không những càng lu mờ mà vai trò của công an càng được đề cao, dùi cui của công an càng được vung lên trước nguy cơ “tổ chức phản động có tên Việt Tân”. Và người dân yêu nước càng bị đặt trong vòng ngắm của công an, càng được công an “chăm sóc” kĩ càng, chặt chẽ hơn. Quyền con người, quyền công dân của người dân càng bị ngang nhiên xâm phạm!

1. THỰC CHẤT CUỘC BẠO LOẠN

Những gì diễn ra trong cuộc bạo loạn của đám đông hung hãn mặc sức đập phá các doanh nghiệp nước ngoài diễn ra suốt hai ngày 13 và 14 tháng năm, năm 2014 ở khu tam giác kinh tế Bình Dương – Đồng Nai – Sài Gòn, nơi tập trung các doanh nghiệp nước ngoài đông nhất, lớn nhất, làm ăn hiệu quả nhất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam, có thể nhận rõ hai điều quan trọng là: Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chủ quyền đất nước, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 7 Comments »

2632. Những điểm yếu của Việt Nam trong vấn đề kiện tụng (1)

Posted by adminbasam on 08/06/2014

Trương Nhân Tuấn

07-06-2014

H2Dư luận gần đây, trên báo chí hay trên mạng internet, cho rằng cần phải kiện Trung Quốc về giàn khoan 981. Vấn đề là ta có thể kiện TQ về việc gì ? Nếu dựa vào các công bố của các học giả VN, trước hay trong những ngày gần đây, (đặc biệt là của Quĩ Nghiên cứu Biển Đông), nhắc trường hợp Phi kiện TQ để thúc đẩy VN làm tương tự.

Theo tôi, nếu VN làm như vậy, sác xuất thắng kiện là vô cùng nhỏ.

Phi kiện TQ ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) gồm mười điều. Một số điểm chính : yêu sách đường 9 đoạn (là không phù hợp với luật biển), về quyền chiếm hữu các cấu trúc địa lý lúc chìm lúc nổi ở trong hải phận của Phi, về việc chiếm đóng và xây dựng trên các bãi lúc chìm lúc nổi, về hiệu lực của các bãi đá, về quyền tự do hàng hải v.v…
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung | 11 Comments »

2628. Đụng tới Bộ Công an, báo Pháp Luật & Xã Hội dám “mò dái ngựa”, nên bị khởi tố

Posted by adminbasam on 06/06/2014

Cái “gương” của nhà báo Nguyễn Hùng bên BBC còn sờ sờ ra đó mà nhà báo Minh Thắng, báo Pháp Luật & Xã Hội không “ngán”, dám “mò dái ngựa”, đụng tới Bộ Công an? Blogger Đồng Phụng Việt đã có bài viết Bác Hồ không bằng bác Quang, để thấy rằng các nhà báo muốn nói lên sự thật ở cơ quan nào cũng được, ngoại trừ Bộ Công an.

Vì bài báo này, mà nhà báo Minh Thắng đã bị Bộ Công an khởi tố tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo điều 258 BLHS. Bài báo đã bị gỡ bỏ. Mời bà con đọc tại đây:

PL&XH

Luật sư “tố” DN của Bộ Công an kinh doanh kiểu “bầu Kiên”

Thứ Hai, 02/06/2014 23:11

(PL&XH) – Vụ án Nguyễn Đức Kiên được tòa “hẹn” tuyên án vào sáng 9-6. Trước giờ “G”, luật sư lại tìm được bằng chứng ngay cả DN của Bộ Công an cũng không đăng ký kinh doanh đầu tư tài chính mà vẫn góp vốn, mua cổ phần, chẳng khác nào “bầu Kiên”.

Xin nhắc lại, diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, luật sư Bùi Quang Nghiêm, Hoàng Đôn Hùng đều khẳng định quy buộc của VKS về tội danh “Kinh doanh trái phép” cho ông Kiên là không có căn cứ pháp luật. Theo VKS thì 5 công ty của ông Kiên trong giấy phép đăng ký kinh doanh, không có đăng ký kinh doanh đầu tư góp vốn, mua cổ phần cổ phiếu, do vậy quy buộc ông Kiên tội “Kinh Doanh trái phép”, trong khi đó, các luật sư chứng minh trên cơ sở pháp lý, thì đầu tư góp vốn, mua cổ phần cổ phiếu không cần phải đăng ký giấy phép kinh doanh. Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 6 Comments »

2614. Dương Danh Huy – Bình luận về phản biện của Ngô Viễn Phú

Posted by adminbasam on 03/06/2014

Dân Luận

Dương Danh Huy

02-06-2014

H11. Luận điểm 1 của phía Việt Nam: Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ thừa nhận chủ quyền 12 hải lí của Trung Quốc, mà không hề thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bời vậy, về cơ bản, công hàm không đề cập đến vấn đề lãnh thổ, không đề cập đền quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Phản luận của Ngô: Đoạn thứ nhất trong “Tuyên bố lãnh hải”, mà chính phủ Trung Quốc đã công bố vào tháng 9 năm 1958, đã nói rất rõ rằng, phạm vi bao quát trong 12 hải lí của lãnh hải Trung Quốc là thích dụng cho tất cả lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

2603. Vài giải pháp cho Việt Nam

Posted by adminbasam on 30/05/2014

Jonathan D. London và Vũ Quang Việt

30-05-2014

Những hỗn loạn và bạo lực bùng nổ ở Việt Nam cách đây hai tuần đã hút sự quan tâm của thế giới khỏi các nguyên nhân căn bản của căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, và thật ra là giữa Trung Quốc và khu vực. Về bản chất, chúng xuất phát từ yêu sách vô căn cứ pháp lý của Bắc Kinh, đòi chủ quyền đối với hơn 80% biển của khu vực, và từ ý đồ của Bắc Kinh nhằm áp đặt tính chính đáng cho các yêu sách đó thông qua các biện pháp vũ lực.

Trên bình diện quốc tế, việc Bắc Kinh cho quân đội canh giữ giàn khoan dầu khổng lồ của họ trong vùng biển tranh chấp được hiểu là một hoạt động mang tính chính trị, nhằm thay đổi hiện trạng ở Đông Á. Còn đối với Việt Nam, hành động của Bắc Kinh buộc giới lãnh đạo Việt Nam phải suy nghĩ lại một cách cơ bản về tầm nhìn chiến lược của họ – một công việc vừa nguy hiểm vừa mang lại cơ hội. Hiện tại, lãnh đạo Việt Nam đối mặt với ba thách thức. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

2598. Vì sao VN vẫn trì hoãn kiện TQ?

Posted by adminbasam on 28/05/2014

BBC

28-05-2014

Việt Nam vẫn e ngại làm mất lòng Trung Quốc và muốn giữ quan hệ hữu nghị, theo nhà bình luận

Việt Nam vẫn e ngại làm mất lòng Trung Quốc và muốn giữ quan hệ hữu nghị, theo nhà bình luận

Việt Nam vẫn ‘chần chừ’ chưa kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế về vụ giàn khoan Hải Dương 981 cũng như vụ Hoàng Sa bị ‘cưỡng chiếm’ là do lãnh đạo còn ‘e ngại’ động chạm tới ‘quan hệ hữu nghị với Trung Quốc’ và thiếu một sự thống nhất ‘quyết tâm’ trong nội bộ lãnh đạo từ Đảng tới Quốc hội, theo một nhà nghiên cứu từ trong nước.

Tình trạng thiếu thống nhất về ‘quyết tâm’ chính trị này này cũng làm Việt Nam ‘bỏ lỡ’ cơ hội phối hợp lập trường với Philippines khi nước này kiện Trung Quốc về vụ bản đồ đường lưỡi bò, theo một chuyên gia luật quốc tế, cựu Phó Vụ trưởng Ban Biên giới chính phủ của Việt Nam. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Chủ quyền đất nước, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | 12 Comments »

2590. Có phải bản chất của xã hội dân sự là “khoảng đệm” và phi chính trị?

Posted by adminbasam on 26/05/2014

Boxit Vietnam

Tống Văn Công

26-05-2014

Phóng sự “Đe dọa từ phương Bắc và xã hội dân sự Việt Nam” của ký giả Trọng Thành (RFI ngày 21-5-2014) có nhiều thông tin bổ ích và nhận định sắc sảo. Để hiểu xã hội dân sự là gì, tại sao xã hội dân sự lại hệ trọng đến vậy, và những gì làm nên xã hội dân sự Việt Nam, tác giả đã mời nhà nghiên cứu Lữ Phương giải đáp một cách rất ngắn gọn, rành mạch và dễ hiểu. Đặc biệt tác giả quan tâm một số nhận định rất hệ trọng trong bài “Những ước vọng của một người dân” của Tiến sĩ Phạm Gia Minh:

“Ở Việt Nam xã hội dân sự đang bị chính trị hóa bởi cả hai phía – Nhà nước thì quản lý chặt chẽ một hệ thống các cấp Hội và Hiệp Hội nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị đề ra, trong khi đó phong trào tự phát trong dân thành lập các tổ chức như Diễn đàn xã hội dân sự, Hội các bloger, Hội dân oan… nhìn chung cũng mang nặng màu sắc chính trị và bầu không khí chung là nghi kỵ và đối đầu nhau một cách không đáng có”. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật | 4 Comments »

2589. TS. Nguyễn Quang A: “TRÁI TIM NHẦM CHỖ ĐỂ TRÊN ĐẦU”

Posted by adminbasam on 26/05/2014

Dân Quyền

Nguyễn Quang A

26-05-2014

Không đứa trẻ Việt Nam nào không biết câu đánh giá “trái tim nhầm chỗ để trên đầu” về sai lầm của Mỵ Châu và vua cha đã dẫn đến thảm họa cho dân tộc. Đó là một nét hay trong văn hóa Việt Nam: chúng ta biết tự phê phán mình. Và tư duy phê phán ấy phải được nuôi dưỡng, khuyến khích để tạo nên sức mạnh của dân tộc này.

Đáng tiếc chế độ toàn trị đã tìm mọi cách hủy diệt tư duy phê phán và trong cái tội tầy đình này với dân tộc thì cảnh sát tư tưởng đứng ở vị trí hàng đầu. Cảnh sát thông thường cung cấp cho dân chúng những dịch vụ thiết yếu: buộc thực thi pháp luật, trật tự, sự bình yên, trấn áp tội phạm; để đổi lại nhân dân phải đóng thuế để nuôi lực lượng đó và trong bất cứ chế độ nào đều cần đến cảnh sát. Tuy vậy, cảnh sát tư tưởng, lực lượng phản động nhất, phản dân tộc và dân chủ nhất chỉ tồn tại trong các chế độ độc tài và nó không mang lại bất cứ giá trị nào cho xã hội ngoài sự hủy hoại và sự đồi bại. Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Chủ quyền đất nước, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

2554. TUYÊN BỐ CHUNG CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ

Posted by adminbasam on 16/05/2014

Trong những ngày vừa qua, hàng vạn công nhân trên cả nước đã tự tổ chức biểu tình chống việc nhà cầm quyền Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực quần đảo Hoàng Sa, xâm phạm chủ quyền của đất nước ta. Hành động dũng cảm đó thể hiện lòng yêu nước thiết tha tiềm tàng trong nhân dân ta nói chung và tầng lớp công nhân Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, do thiếu các công đoàn thật sự đại diện cho quyền lợi của công nhân, một số cuộc biểu tình không được tổ chức chặt chẽ đã bị kẻ gian lợi dụng, kích động; chúng gây ra những hành động cực đoan như đập phá nhà máy, thậm chí bạo động gây thương vong, gây rối loạn xã hội.

Hiện tượng này làm bộc lộ hai khuyết điểm căn bản của xã hội Việt Nam hiện nay:

1) Các quyền tự do căn bản của người dân – như tự do tư tưởng và tôn giáo, tự do ngôn luận và báo chí, tự do hội họp và lập hội, tự do biểu tình,… đã không được thực thi. Đảng CSVN và Chính phủ tìm mọi cách để ngăn cản các cuộc biểu tình – kể cả biểu tình để thể hiện lòng yêu nước, chống lại âm mưu xâm lược của ngoại bang; nhưng đến khi cần đến tiếng nói của người dân thì lại có những hoạt động khiến ai cũng hoài nghi rằng một mặt ngầm cho phép, mặt khác lại tìm cách khống chế và lèo lái các cuộc biểu tình theo hướng ca ngợi đảng cầm quyền.

2) Lực lượng công nhân tại Việt Nam hiện nay chưa có cơ quan đại diện đủ uy tín và năng lực để bảo vệ cho quyền lợi của họ. Trong thực tế, hầu hết các cuộc đình công trong thời gian qua đều do công nhân tự phát đấu tranh. Quyền đình công chỉ là một thứ quyền mang tính “hình thức”, có trên giấy tờ chứ không có trong thực tế. Đời sống công nhân cơ cực, khi bị bóc lột không có ai lo toan, khi bị đàn áp cũng không có tổ chức nào đứng ra bảo vệ. Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 4 Comments »

2552. Biểu tình ở Bình Dương: Đi giữa dòng bạo động

Posted by adminbasam on 16/05/2014

Dân News

Đi giữa dòng bạo động (Phần 1)

Tuấn Khanh

H1Lúc 10g sáng ngày 14/5, Tôi cùng 2 người bạn là Thiên Văn và Phạm Thy quyết định chạy xuống khu Gò Vấp, gần Lái Thiêu, khi nghe nghe tin các công ty ở khu Tân Thới Hiệp bắt đầu có đình công. E rằng sẽ có đập phá và bạo động, chúng tôi không dám mang theo nhiều máy móc, chủ yếu là mang theo sự liều lĩnh, để tìm hiểu vì sao lại có những chuyện đập phá và cướp bóc như trên các trang mạng xã hội mô tả.

Lý do của chuyến đi này được thôi thúc từ đêm trước. Ngay khi chúng tôi nhận được những hình ảnh những chiếc thiết giáp tiến vào Sài Gòn, những đoàn xe biểu tình được dẫn đầu bởi một chiếc xe Matiz bí ẩn, được chuẩn bị hình cờ búa liềm và ngôi sao, làm náo loạn nhiều con đường. Trong đêm, nhà văn Nguyễn Đình Bổn nhắn tin “anh buồn quá, công nhân bị lợi dụng, rồi sẽ có người chết”. Nhà báo Mạnh Kim thì gọi, giọng lo lắng “tôi quá sốt ruột nên làm một vòng coi tình hình, có gì mình liên lạc nhau nhé”. Lúc đó, tôi cũng đang chạy trên các con đường dẫn đến tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc. Thành phố im lặng, nhưng nặng nề trong lòng những người đang quan tâm đến thời sự đất nước.

Trên đường đi đến Tân Thới Hiệp, chúng tôi được Huy Đoàn, một người bạn ở gần đó cho biết tình hình vắng lặng. Các công ty đã cho công nhân nghỉ việc và dán thông báo giới thiệu mình không là người Trung Quốc trong sự lo sợ. Chúng tôi quyết định đi ngõ ra Sóng Thần, Bình Dương, vì nghe nói có một đoàn biểu tình đang tụ tập ở đó. Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 20 Comments »

2515. KHUYẾN NGHỊ Về việc chấm dứt các hành vi xâm phạm nhân quyền ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 07/05/2014

Washington DC, 05/6/2014

H1Tôi, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, công dân Việt Nam, bị Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cầm tù về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại Điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam, có một số khuyến nghị sau đây nhằm chấm dứt các hành vi xâm phạm nhân quyền ở Việt Nam.

Cụ thể là trong khuôn khổ đối thoại nhân quyền giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Mỹ cần yêu cầu chính quyền Việt Nam:

  1. Hủy bỏ các điều luật phản nhân quyền của Việt Nam và trả tự do vô điều kiện cho các tù nhân lương tâm;
  2. Luật hóa Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn.

I. HỦY BỎ CÁC ĐIỀU 88, 258, 79 BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ TRẢ TỰ DO VÔ ĐIỀU KIỆN CHO CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

2513. Sự nguy hiểm của Điều 258

Posted by News on 07/05/2014

Blog Đoan Trang

Trịnh Hữu Long – Phạm Đoan Trang

27-10-2013

Lập luận căn bản mà một số người ủng hộ Điều 258 Bộ luật Hình sự đưa ra là: 258 là điều luật bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; kẻ nào xâm phạm những giá trị ấy thì phải bị trừng phạt. Tuy nhiên, trái với lập luận căn bản này, 258 lại là một điều luật xâm phạm nghiêm trọng các quyền tự do của công dân, chứ không hề bảo vệ.

Nếu chỉ xét về khía cạnh tinh thần và lý tưởng lập pháp, Điều 258 Bộ luật Hình sự tỏ ra rất thuyết phục. Ta hãy xem:

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

2511. Phản ứng về vụ bắt giữ blogger Anh Ba Sàm

Posted by adminbasam on 07/05/2014

VOA

Hoài Hương

6-5-2014

Nghe audio

Blogger Anh Ba Sàm, tức Nguyễn Hữu Vinh, người sáng lập trang blog Anh Ba Sam được nhiều người truy cập, và một blogger khác đã bị bắt giữ tại Hà Nội.

Báo chí nhà nước Việt Nam tường thuật rằng Bộ Công an đã thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp và bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Hữu Vinh, biệt danh blogger Anh Ba Sàm, và trong cùng ngày cũng bắt giữ bà Nguyễn Thị Minh Thúy tại Hà Nội.

Bài báo dẫn lời Cơ quan An ninh điều tra nói cả hai bị bắt vì đã có hành vi ‘đăng tải các bài viết trên mạng Internet với nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân’ theo quy định của Điều 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Vụ bắt giữ người sáng lập ra trang Anh Ba Sàm, được coi là một trang mạng có uy tín, đã gây chấn động trong thế giới mạng quan tâm tới tình hình Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

2507. Tuyên bố của Con Đường Việt Nam về việc chính quyền bắt giữ ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn thị Minh Thúy

Posted by adminbasam on 06/05/2014

Ngày 5/5/2014, một lần nữa sử dụng điều luật 258 mơ hồ để đàn áp những tiếng nói phản biện trong nước, cơ quan An ninh điều tra thuộc Bộ Công an Việt Nam vừa bắt giữ ông Nguyễn Hữu Vinh, blogger, chủ trang điểm tin Anh Ba Sàm và bà Nguyễn Thị Minh Thúy, cộng tác viên của ông.

Ông Nguyễn Hữu Vinh, một người viết blog tự do, ngoài việc thường xuyên đăng tải những ý kiến trái chiều, ông còn nổi tiếng là người chuyên đưa tin về các hành động khiêu khích thù địch của Trung Quốc đối với chủ quyền lãnh thổ Việt Nam mà chính quyền thường cố lờ đi vì tính nhạy cảm trong quan hệ giữa hai chính phủ.

Trước sự việc này, phong trào Con Đường Việt Nam tuyên bố:

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 1 Comment »

2500. Hãy cứu lấy chị Hồ Thị Bích Khương

Posted by adminbasam on 08/04/2014

Nguyễn Trung Tôn

Tôi thật sự đau lòng; khi lại phải ngồi đây để viết những dòng chữ này để kính chuyển tới những đọc giả thân quên, những cơ quan tổ chức nhân quyền, các cá nhân, tổ chức trong cũng như ngoài nước yêu chuồng tự do; một thông tin khẩn cấp về tình hình sức khỏe và tính mạng của người nữ tù nhân lương tâm Hồ Thị Bích Khương, là một trong 3 nữ tù nhân lương tâm Việt nam vừa được Liên đoàn quốc tế nhân quyền (FIDH) đưa vào trong danh sách  yêu cầu nhà cầm quyền Việt nam phóng thích.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Leave a Comment »

2492. Viết khi nhận giấy mời của công an

Posted by adminbasam on 05/04/2014

Phạm Đình Trọng

21 giờ khuya ngày 2.4.2014, ông công an khu vực đến nhà đưa cho tôi Giấy Mời: 8 giờ 30 ngày 4.4.2014 đến trụ sở công an để “trao đổi liên quan đến một số bài viết”. Giấy mời có hai Liên. Tôi nhận Liên 2 và kí vào Liên 1 để người chuyển Giấy mời mang về trình. Trước khi kí, tôi ghi: Tôi đã nhận. Công an có việc cần trao đổi xin mời đến nhà tôi. Tôi không có việc cần gặp công an.

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , | Leave a Comment »

2491. Thư của TS Hà Sỹ Phu khước từ “làm việc” với cơ quan an ninh

Posted by adminbasam on 22/03/2014

Thư ngỏ gửi cơ quan An ninh điều tra

Hà Sĩ Phu

Ngày 20-3-2014 tôi lại nhận được “Giấy mời” của cơ quan An ninh điều tra, “mời” nhưng YÊU CẦU phải có mặt đúng giờ (mời đến lần thứ 3 chắc chuyển sang Triệu tập?) (hình 1). Trong hơn 20 năm nay tôi không thể nhớ được đây là “Giấy mời” lần thứ bao nhiêu nữa? 

H1Tôi vốn không muốn kể những tai họa mà cá nhân mình phải chịu đựng, dù rất vô lý, nhưng nay tôi đã già yếu, 75 tuổi với đủ thứ bệnh tật, tôi buộc phải có thái độ dứt khoát để yêu cầu chấm dứt những phiền toái vô lý kéo dài hết năm này đến năm khác như vậy. Chỉ xin tạm đề cập đến hai lĩnh vực: lĩnh vực vi phạm quyền tự do đi lại và lĩnh vực hình sự hóa những vấn đề dân sự. dẫn đến điều tra xét hỏi liên miên, Những vi phạm khác khi cần sẽ xin nói sau. 

1/ Bị cản trở quyền Tự do đi lại

- Năm 1998, tôi được ông Thị trưởng thành phố Genève mời sang du lịch tham quan (hình 2), nhưng phía Việt Nam không cho phép đi, công an lâm Đồng trả lời như vậy, đồng thời Sứ quán Thụy Sĩ cho biết đã can thiệp nhưng thẩm quyền cho phép là thuộc phía Việt Nam ! (hình 3). 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

2470. Thư của Mạng Lưới Blogger Việt Nam mời tham dự buổi thảo luận về quyền tự do đi lại của công dân

Posted by adminbasam on 18/03/2014

Các bác, cô, chú và bạn bè thân mến,

Buổi thảo luận đầu tiên về chủ đề quyền tự to đi lại của công dân tại Sài Gòn do Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức đã nhận được sự ủng hộ và khích lệ của những người quan tâm đến tình hình nhân quyền.

Cho đến nay, các công dân bị cấm xuất cảnh tuỳ tiện bởi Bộ Công An vẫn chưa nhận được lời giải thích hợp lý, đúng thủ tục pháp luật bằng văn bản, vì thế chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận về vấn đề cấm xuất cảnh kỳ này.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: