Chuyện kể về nỗi ô nhục: Văn hóa chiến lược của Trung Quốc và Nhật Bản
Tác giả: Tom French
Người dịch: Đan Thanh
Ngày 23-4-2012
Trong khi Nhật Bản mượn những câu chuyện lịch sử về nỗi nhục để trở thành một nhà nước nhu hòa, thì Trung Quốc coi đó là cơ hội để củng cố địa vị siêu cường quốc tế của họ. Tuy nhiên, những động cơ này có lẽ sắp thay đổi.
Trong bài giới thiệu, chúng tôi đã bàn sơ qua về chuyện khái niệm văn hóa chiến lược đã bị phê phán mạnh mẽ trong những năm gần đây như thế nào. Một số lớn học giả, cũng như các chuyên gia về an ninh quốc phòng, đã bác bỏ lý thuyết này, coi nó là lỗi thời, hoặc chỉ đơn giản là không chính xác trong việc mô tả hành vi của các nhà nước.
TT – Đó là câu chuyện đầy bi tráng về những người nông dân đứng lên chống áp bức, bất công để giành lại mảnh đất mà họ đã đổ xương máu gầy dựng. Chiều sắp tắt. Trước cửa khu di tích lịch sử Nọc Nạng (xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai, Bạc Liêu), có ba người khách phương xa vừa đến xin vào thắp nhang, viếng đền.
Nhân viên khu di tích Nọc Nạng giới thiệu với khách tham quan về trận quyết tử của gia đình ông Mười Chức năm 1928 được tái hiện qua mô hình – Ảnh: Chí Quốc.
Họ là ba người của ba thế hệ: cụ Hai Long (83 tuổi), ông Lư Đình Một (45 tuổi, con rể cụ Hai Long) và em Lư Thanh Huệ (học sinh, 13 tuổi, con gái ông Một) ở thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai.
“Ngày 16-2 là lễ giỗ của những người nông dân đã dám đứng lên chống áp bức bất công giành lại mảnh đất mà họ đã đổ xương máu gầy dựng. Dù không quen biết nhưng năm nào cha con, ông cháu tôi có bận cách mấy cũng đến bày tỏ lòng kính trọng đối với bậc tiền nhân” – cụ Hai Long tâm sự.
” … một ông hàm Thứ trưởng làm Phó Chủ tịch thành phố Hải Phòng mà dám đổ tội cho dân rằng dân phá nhà dân. Đấy là một cái tội vừa tội danh về luật pháp, vừa về mặt đạo đức. Mà một người như thế mà lại lên đến một vị trí như thế. Đấy là một điều kỳ lạ mà chưa bao giờ người ta trắng trợn như thế, và thậm chí người ta ngỗ ngược, láo xược với dân như thế. Thế mà người ta dám làm đấy, mà chưa chắc ông này đã việc gì đâu.”
(Mời xem lời giới thiệu cuộc Gặp gỡ đầu xuân Nhâm Thìn 2012, do Tia sáng và Trung nguyên tổ chức và phát biểu của ông Dương Trung Quốc).
Kính thưa các bậc trưởng thượng, thưa tất cả các anh các chị.
Tôi nhớ cách đây khoảng hơn một năm cũng ở cái chốn này đây, thì tôi có ra mắt cái cuốn sách của tôi, “Thực thể Việt nhìn từ các tọa độ chữ”. Hôm đấy cũng rất may mắn và vinh dự được chị Nguyễn Thị Bình và nhiều người ở đây cũng có mặt để cổ vũ.
Và ở cuốn sách của tôi thì có tự đặt ra cho mình một cái yêu cầu là nghiên cứu thực thể hiện từ nhiều góc nhìn khác nhau và chủ yếu trên bình diện văn hóa theo nghĩa rộng. Nhưng trong cuốn sách đó thì có một ý tưởng nó ám ảnh tôi từ lúc bắt đầu cầm bút cho đến bây giờ mà tôi vẫn chưa nói được. Mà đến giờ tôi vẫn chưa viết ra thành văn bản về chuyện đó.
Tình cờ, trong thời điểm dư luận đang rất quan tâm đến lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về chủ quyền không thể tranh cãi được của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, tôi tìm thấy trong tủ sách cũ của anh tôi cuốn sách Les archipels de Hoàng – Sa et de Trường – Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d’ histoire et de géographie” (Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ của Việt Nam về lịch sử và địa lý – ảnh) của học giả Võ Long Tê được xuất bản tại Sài Gòn năm 1974.
Bạn đọc hôm nay có thể ít biết về tác giả Võ Long Tê nhưng từ trước năm 1975, ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu công phu về văn học – văn hóa có giá trị. Trên một trang mạng, ông Hồ Bạch Thảo đã gọi Võ Long Tê là một “cây đại thụ về văn hóa Á Âu”. Khi tôi sắp viết những dòng này, trong cuộc vui nhân gặp nhau ngày Noel, nghe tôi nhắc tên “Võ Long Tê”, dịch giả – nhà văn Bửu Ý và nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng cùng tỏ thái độ thích thú.
Vẫn đọc anh với lòng quí mến như xưa nay. Những dòng này vẫn trên tinh thần ấy. Chỉ có vài ý kiến riêng.
Thưa anh,
Tôi không thuộc thế hệ đấu tranh của các anh. Tôi kính trọng sự dấn thân của một tầng lớp trí thức (xã hội nào thì sinh viên cũng là trí thức, chả cần phải có học vị hay bằng cấp). Trong một giai đoạn của đất nước. Lịch sử đã qua. Đúng sai, phán xét nó giờ đây cũng thuộc về lịch sử. Tôi cũng không thích đem những “ ân oán cũ “, nếu có, thay cho lịch sử để châm biếm bôi nhọ nhau của những ai còn nặng “ ân oán “ cũ. Những dòng này chỉ có vài ý trao đổi sau.
Mưu đồ can thiệp Đại Việtcủa nhà Thanhcuối thế kỷ XVIII
SỐ 393 THÁNG 12 – 2011
Nguyễn Duy Chính
Đường lối bành trướng của Trung Quốc
Trước tình hình rối ren của Đại Việt cuốỉ thế kỷ XVIII, việc đem binh xuống phương nam không phải chỉ vì cái cơ hội nhất thời, mà đã nằm trong kế hoạch mở rộng biên cương của nhà Thanh từ lâu. Vua Càn Long muốn tỏ ra mình là một vị vua dũng liệt nên tìm đủ mọi cách để bành trướng thế lực và lãnh thổ ra mọi phía.
Nhà Thanh trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã có ảnh hưởng quan trọng đối với Xiêm La khi một người Tàu gốc Quảng Đông tên là Trịnh Chiêu vì có công đánh đuổi quân Miến Điện nên lên làm vua (tức vua Taksin). Ồng ta sai sứ sang Bắc Kinh cầu phong nhưng sứ giả chưa kịp về đến nhà thì Trịnh Chiêu đã bị một tướng lãnh của ông ta là Maha Kasatsuk lật đổ lên làm vua tức Chakri(1) hay Rama I. Chakri cũng sợ nhà Thanh truy cứu việc giết vua Taksin nên đổi tên Hán là Trịnh Hoa, mạo xưng là con của Trịnh Chiêu để nối ngôi và được phong làm Xiêm La quốc vương. Nhà Thanh cũng nhân cơ hội tìm cách vươn dài ảnh hưởng tới thành phần Hoa kiều ngày càng trở nên có thế lực cả kinh tế lẫn chính trị ở vùng Đông Nam Á(2).
THÁNG 6 NĂM.2011, CỘNG ĐỒNG TÍN HỮU ĐẠO TIN LẦNH Ở VIỆT NAM LONG TRỌNG KỶ NIỆM 100 NĂM ĐẠO TIN LÀNH TRUYỀN VÀO VIỆT NAM. NHÂN DỊP SỰ KIỆN NÀY CHÚNG TÔI XIN CUNG CẤP MỘT SỐ THÔNG TIN KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM THÔNG QUA MỘT TỔ CHỨC GIÁO HỘI TIÊU BIỂU CÓ SỐ LƯỢNG TÍN ĐỒ LỚN NHẤT LÀ HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM LÀM ĐẠI DIỆN NHẰM GIÚP NGƯỜI ĐỌC CÓ MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠO TIN LÀNH 100 NĂM QUA.
Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 1 triệu người theo đạo Tin lành thuộc hơn 70 tổ chức, nhóm Tin lành khác nhau, đa sô các tổ chức Tin lành hiện nay được hình thành chủ yếu sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước. Hiện tại đã có 9 tổ chức Tin lành được Nhà nước công nhận về tư cách pháp nhân, số còn lại thường được gọi là hội thánh Tin lành tư gia với số lượng từ vài trăm cho đến vài ngàn tín đồ. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu đề cập đến những vấn đề lịch sử của Hội thánh Tin lành Việt Nam thành lập năm 1927 (nguồn gốc CMA, tên gọi trước năm 1954) – tiền thân của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) hiện nay.
Thời gian qua, có nhiều giải thích khác nhau chung quanh Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng gửi Quốc vụ viện Trung Quốc liên quan đến lãnh hải Trung Quốc vào năm 1958, khiến nhiều người hiểu không đúng bản chất vấn đề. Qua nghiên cứu tài liệu, bước đầu chúng tôi xin có một số ý kiến giải thích sau đây:
TẠP CHÍ XƯA & NAY -CƠ QUAN HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
SỐ 391 THÁNG 11-2011
Vua Tự Đức với việc bảo vệ an ninh biên giới phía Bắc
Mai Thị Huyền
Thời Nguyễn, Việt Nam đã trở thành một quốc gia thống nhất về mặt lãnh thổ. Triều Nguyễn trong quá trình xây dựng và củng cố chính quyền luôn đặt vấn đề duy trì và bảo vệ vững chắc cương giới làm nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều vấn đề nảy sinh khiến triều đình gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó. Trong khoảng thời gian 1848-1883, thời trị vì của Tự Đức, tình trạng mất ổn định về an ninh quốc phòng đã diễn ra một số tỉnh biên giới phía Bắc: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hoá(1), Tuyên Quang và Quảng Yên(2).
Các tỉnh biên giới phía Bắc của nước ta đều nằm ở vị trí có đường biên giới giáp với phía nam Trung Quốc. Qua biên giới các tỉnh này, việc thông thương với Trung Quốc tương đối thuận tiện, song những vùng này có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt; là địa bàn quan trọng trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ về quân sự, nhưng do địa hình hiểm trở nên cũng hạn chế tầm nhìn, tầm bao quát của nhà nước phong kiến trung ương, các nhóm phản loạn vì vậy dễ có điều kiện trú ẩn lâu dài.
BTV: Ngày 22-11-1963, cách nay 48 năm, John F. Kennedy, Tổng thống Mỹ đã bị ám sát, sau 1.037 ngày nắm quyền. Gần ba năm trước đó, ngày 20-01-1961, ông Kennedy đã tuyên thệ nhậm chức, trở thành tổng thống thứ 35 của Mỹ. Ở tuổi 43, ông Kennedy là vị tổng thống trẻ thứ hai trong lịch sử nước Mỹ, sau ông Theodore Roosevelt, tổng thống thứ 26.
Đây là bài diễn văn TT Kennedy đọc trong buỗi lễ tuyên thệ nhậm chức, mà các nhà sử học bình chọn là một trong bốn bài diễn văn nhậm chức hay nhất trong lịch sử nước Mỹ. Một trong những câu nói nổi tiếng trong bài này là: “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho các bạn, mà hãy hỏi các bạn đã làm được gì cho đất nước mình”. Theo báo Associated Press thì câu nói này của ông Kennedy bắt nguồn từ một câu nói tương tự của thầy hiệu trưởng ở trường ông Kennedy học hồi thập niên 1930, nhưng ông Michael O’Brien, người viết tiểu sử cho TT Kennedy thì cho rằng, không có mối liên hệ giữa câu nói của hai người. Xin giới thiệu cùng quý độc giả toàn bộ bản dịch diễn văn nhậm chức của Tổng thống Kennedy.
Đôi lời: Nhân dịp Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ra văn bản số 738/BVHTTDL-ĐA, chính thức cho phép phổ biến bộ phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”, chúng tôi xin đăng một bản dịch của Quốc Trung, dịch từ báo mạng Phượng Hoàng năm ngoái (bài đã được trích đăng trên Tuần VN). Bài báo cho biết, bộ phim nói trên do Đông Minh Vệ Thị phía Trung Quốc cùng với Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành, phía Việt Nam, đầu tư, nhưng báo Người Hà Nội thì nói rằng, bộ phim 19 tập “do Đài Truyền hình Việt Nam và Công ty CP Truyền thông Trường Thành phối hợp sản xuất”.
NGHI THỨC BẤM MÁY VỞ KỊCH LỊCH SỬ CỠ LỚN “LÝ CÔNG UẨN” DO TRUNG-VIỆT HỢP TÁC QUAY SẼ ĐƯỢC TỔ CHỨC Ở HOÀNH ĐIẾM VÀO NGÀY 9 THÁNG 1
07-01-2010
Lý Công Uẩn là quân chủ khai quốc của triều Lý Việt Nam, niên hiệu Thuận Thiên. Năm 1010, tương truyền Lý Công Uẩn đích thân tới La Thành, bỗng nhìn thấy Rồng Vàng từ hồ bay lên, vụt thẳng lên trời. Thế là ông liền dời kinh thành đến La Thành, đồng thời đổi tên là Thăng Long, cũng chính là Hà Nội ngày nay. Lý Công Uẩn đổi thành Nguyên Thuận Thiên, kiến lập triều Lý, trở thành vương triều phong kiến thứ tư của Việt Nam. Việt Nam bắt đầu bước vào cường quốc theo chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền trung ương phong kiến. Thế nước mỗi ngày một mạnh lớn, xưng bá ở Nam cương (biên giới phía Nam – ND).
Để kỷ niệm 1000 năm lập kinh đô Hà Nội, do Đông Minh Vệ Thị (SEASTV) cùng Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành của Việt Nam đầu tư, vở kịch truyền hình lấy sinh thời Lý Công Uẩn làm đề tài đang được chính thức bấm máy tại Hoành Điếm, Trung Quốc vào ngày 9 tháng Giêng.
Trái với nho sĩ Trung Quốc, nhà nho Việt Nam thời Lê – Nguyễn thường bám rễ ở nông thôn dân dã, mặc dù đời sống thành thị đã bắt đàu manh nha vào cuối thế kỷ XVII, các thương cảng như Phố Hiến, Hội An được tàu bè lớn ngoại quốc thăm viếng, buôn bán. Tuy nhiên, kho mục chí của Lịch triềuhiến chương loại chí chỉ ghi tên ba ông Tiến sĩ nguyên quán tại Thăng Long từ 1442 đến 1787. Dưới Nguyễn triều, số lượng các đại đăng khoa cũng xuất thân từ đồng ruộng và sĩ tử vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh vượt qua thí sinh gốc Huế hay Thừa Thiên theo bảng thống kê sau: