BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Khối XHCN sụp đổ’ Category

2461. MẤY SUY NGHĨ VỀ TÌNH HÌNH, NHIỆM VỤ HIỆN NAY

Posted by News on 28/03/2014

Lê Hồng Hà

Việc phân tích tình hình đất nước và tìm con đường tiến lên là một vấn đề cực kỳ phức tạp, khó khăn, đòi hỏi một sự tổng hợp và đóng góp của hàng trăm ngàn người. Đây chỉ là một sự tham gia nhỏ nhoi vào công việc chung đó mà thôi. Dù sao thì đó cũng là 1 sự phản biện.

 ***

I

 1. Nhờ sự phát huy truyền thống cứu nước của cha ông ta trong lịch sử, mà nhân dân ta đã tiến hành Cách mạng Tháng 8 và giải phóng đất nước thành công. Đó là công lao vĩ đại của nhân dân ta, có sự đóng góp quan trọng của các nhà yêu nước, đặc biệt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Chúng ta phải biết ơn nhân dân, các nhà yêu nước, đặc biệt là Đảng Cộng sản dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Hiến pháp, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 1 Comment »

2035. QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Posted by adminbasam on 16/09/2013

Chu Chi Nam

«Lòng tin tưởng thái quá vào một chủ thuyết là kẻ thù lớn nhất của chân lý và sự thật, đồng thời còn nguy hiểm hơn cả sự lừa đảo».  (Friedrich Nietzsche)

Tổng thống Hoa kỳ Ronald Reagan có nói: «Trong lịch sử nhân loại có nhiều trang sử đau thương và đẫm máu. Nhưng trang sử đau thương và đẫm máu nhất, chính là trang sử cộng sản». Một sử gia cũng viết : «Trong lịch sử nhân loại có nhiều cuộc lừa đảo, đàn áp, giết chóc và thủ tiêu. Nhưng cuộc lừa đảo, giết chóc lớn nhất vẫn là cuộc lừa đảo, giết chóc của cộng sản».

Nói đến cộng sản là nói chung chung, vì nói đến cộng sản thì chúng ta không thể không nói đến Quốc Tế Cộng sản. Tuy nhiên trong tổ chức này có ít nhất 4 Quốc tế Cộng sản, như Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam và Đệ Tứ. Hai tổ chức Đệ Nhị và Đệ Tứ không những không đàn áp, giết người, mà còn là nạn nhân tàn khốc của Đệ Tam.

Đọc tiếp »

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

2005. Bức tranh “CNXH giàu sinh lực” của ông Trần Hữu Phước

Posted by adminbasam on 30/08/2013

VÕ VĂN TẠO

Trong dàn đồng ca đang rộ lên ở các báo lề đảng, tập trung chỉ trích, chụp mũ luật gia Lê Hiếu Đằng, khi ông đề xuất những đảng viên còn lương tri nên rời bỏ Đảng CSVN để thành lập đảng mới kiểu dân chủ xã hội – làm đối trọng, như nhiều quốc gia dân chủ và tiến bộ trên thế giới, nổi lên giọng lĩnh xướng ghê tai của “hét sĩ” Trần Hữu Phước, nguyên thư ký của cố Trưởng ban Tổ chức trung ương Đảng CSVN Lê Đức Thọ.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , | Phản hồi đã bị khóa

1917. VÌ CHỦ NGHĨA XàHỘI

Posted by adminbasam on 23/07/2013

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

23-07-2013

1

Hội Nhà Văn Việt Nam có tờ tuần báo Văn Nghệ. Hội làm báo, Hội lại xin tiền từ ngân sách Nhà nước mua báo gửi cho hội viên. Vì thế từ nhiều năm nay, hằng tuần tôi đều đặn nhận được một tờ báo Văn Nghệ, hằng tháng tôi đều nhận được các ấn phẩn khác của hội Nhà Văn Việt Nam như tạp chí Thơ, tạp chí Nhà Văn… gửi từ Hà Nội vào Sài Gòn theo đường bưu điện. Đúng là chỉ có Chủ nghĩa Xã hội mới có sự “ưu việt” đó. Vì Chủ nghĩa Xã hội “ưu việt” như vậy nên báo Văn Nghệ từ mấy chục năm nay đã đưa lên trên cùng manchette của báo hàng chữ đậm: Vì Tổ quốc. Vì Chủ Nghĩa Xã hội!

Chủ nghĩa Xã hội đã sụp đổ ở ngay chính quê hương người khai sinh ra lí thuyết Chủ nghĩa Xã hội, nước Cộng hòa Dân chủ Đức.

Chủ nghĩa Xã hội đã sụp đổ ở ngay chính quê hương của cuộc cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, sụp đổ ở ngay trung tâm, ở ngay thành trì bền vững nhất của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa thế giới, thành trì Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết.

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí, Khối XHCN sụp đổ, Văn hóa | Tagged: , | 36 Comments »

1488. Sổ hưu

Posted by adminbasam on 21/12/2012

Dân luận

Sổ hưu

Xuân Thọ

Bài thuyết trình của đại tá PGS-TS Trần Đăng Thanh đang là đề tài nóng trên mạng khiến tôi phải vào Ba Sàm để đọc, chứ lâu nay tôi chẳng bao giờ màng đến các bài nói chuyện, các buổi phổ biến nghị quyết kiểu đó. Về tất cả những điều bỉ ổi kiểu: „Tầu xâm lược nước ta, nhưng ta phải nhớ ơn Tầu“, hay „Ta phải học tập Triều Tiên, tuy để dân chết đói, nhưng đủ sức làm cho các cường quốc mất ăn mất ngủ“ thì tôi không cần phải bàn vì chúng không đáng để nói.

Nhưng việc ông Đăng Thanh lấy chuyện sổ hưu của cán bộ ra để hô hào họ phải „chiến đấu“ để bảo vệ nó, rồi ông lại lôi chuyện Đông Âu ra để dọa họ thì tôi buộc phải nêu vài ví dụ chính tôi chứng kiến để chứng minh là ông đại tá này cố tình bịa đặt, xuyên tạc lịch sử.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 255 Comments »

1122. ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC CÓ THỂ QUA ĐƯỢC MẤY LẦN SINH NHẬT NỮA?

Posted by adminbasam on 05/07/2012

Boxun

ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC CÓ THỂ QUA ĐƯỢC MẤY LẦN SINH NHẬT NỮA?

Tác giả:  TS Bành Đào

Người dịch:  Quốc Thanh

2-7-2012

Hôm nay là ngày sinh lần thứ 91 kể từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay. Trong ngày này, người ta không thể không muốn hỏi, Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách là đảng cầm quyền rốt cuộc sẽ còn qua được mấy lần sinh nhật nữa? Bởi vì xã hội Trung Quốc ngày nay đang ngày càng không dung chứa chuyên chế và cường quyền, người dân Trung Quốc ngày nay đang ngày càng bất bình và bất đồng với sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bởi vì, xã hội Trung Quốc bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện rủi ro và vấp phải bất trắc, người dân đại lục bất cứ lúc nào cũng có thể giận dữ mà nổi dậy, phát động một cuộc cách mạng xã hội.

Đọc tiếp »

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | 27 Comments »

965. Ngài Tổng bí thư và sự “khốn cùng” của “đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận”

Posted by adminbasam on 06/05/2012

“Đang ở địa ngục nên mơ thiên đàng, đó vừa là thực tế vừa là tâm bệnh.

Đó là sự đánh tráo có ý thức, hoặc là vô thức.

Đó cũng là một loại giấc mơ của người muốn được làm kẻ chăn cừu.

Đó là sự lẫn lộn giữa nói dối và ngụy tín.

… Do đó, bài nói chuyện quan trọng nhanh chóng chìm vào quên lãng, như chiếc tên lửa lệch đường đi.”

Boxitvn

Ngài Tổng bí thư và sự  “khốn cùng” của “đúc kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận”

Hạ Đình Nguyên [1]

Tháng 4-2012

Có lẽ nhiều người bị chứng trầm cảm sau khi đọc “bài nói chuyện quan trọng[2] của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Cuba vừa rồi.

Sự quan trọng của bài nói chuyện quan trọng là sự mất phương hướng quan trọng. Vì điểm xuất phát thì không rõ ràng, mà đích đến lại mơ hồ. 

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 237 Comments »

934. BẮC TRIỀU TIÊN: CHẾ ĐỘ KIM CHÂNG UN CÓ THẾ TỒN TẠI LÂU DÀI?

Posted by adminbasam on 28/04/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

BẮC TRIỀU TIÊN: CHẾ ĐỘ KIM CHÂNG UN CÓ THẾ TN TẠI LÂU DÀI?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 24/4/2012

TTXVN (Brúcxen 18/4)

Tạp chí Europe ’s World s ra mới đây đã đăng bài của Tiến sỹ Hanns Gunther Hilpert, Phó ban Nghiên cứu Châu Á thuộc Học viện các vn đề quốc tế và An ninh của Đức, phân tích về khả năng tồn tại của Chính quyền Kim Châng Un. Sau đây là nội dung bài viết:

Đây là năm 2012-21 năm sau sự sụp đổ của Liên bang Xôviết. Chiến tranh Lạnh, chạy đua vũ trang hạt nhân và Chủ nghĩa Xtalin, tất cả đều đã thuộc về quá khứ.

Đọc tiếp »

Posted in Bắc Triều Tiên, Chính trị, Khối XHCN sụp đổ | Tagged: , , , | 9 Comments »

751. TRUNG QUỐC ĐÃ RÚT RA ĐƯỢC BÀI HỌC TỪ SỰ SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ?

Posted by adminbasam on 22/02/2012

THÔNG TẤN XÃ XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC ĐÃ RÚT RA ĐƯỢC BÀI HỌC TỪ S SỤP Đ CỦA LIÊN XÔ?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ ba, ngày 21/2/2012

TTXVN (Niu Đêli 19/2)

Dưới đu đ trên, tờ “The Indian Express ” số ra gần đây đăng bài của giáo sư Minxin Pei, trường Đại học Clamont McKenna (Mỹ), cho rằng là sai lầm nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc tin rằng bài học quan trọng nhất h rút ra được từ sự sụp đổ của Liên Xô: một chế độ cộng sản sẽ sụp đổ nếu tìm cách thực hiện các cải cách dân chủ. Nội dung bài viết như sau:

Hầu hết thế giới đều vui mừng trước sự sụp đổ của Liên Xô cách đây 2 thập kỷ. Tuy nhiên, không khí ở Bắc Kinh khi đó khá u ám. Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) cầm quyền vừa mới vượt qua cuộc khủng hoảng Thiên An Môn vào Mùa Xuân 1989, rõ ràng bị chấn động mạnh. Đó không phải là do các nhà lãnh đạo Trung Quốc đồng cảm với những người đồng chí Liên Xô. Trung Quốc và Liên Xô từng là kẻ thù của nhau trong suốt gần 3 thập kỷ (từ 1960 đến 1980). Lý do chính khiến Bắc Kinh thương tiếc sự sụp đổ của nhà nước Liên Xô là vì lợi ích của chính họ. Ngoài việc mất đi lợi thế địa chính trị như một nước giữ vai trò cân bằng của phương Tây chống Mátxcơva, Bắc Kinh lo sợ rằng tới một thời điểm nào đó họ cũng sẽ gặp phải số phận tương tự.

Đọc tiếp »

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Tài liệu TTXVN, Trung Quốc | 17 Comments »

561. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NƯỚC SNG SAU HAI MƯƠI NĂM ĐỘC LẬP

Posted by adminbasam on 15/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 14/12/2011

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NƯỚC SNG SAU HAI MƯƠI NĂM ĐỘC LẬP

TTXVN (Mátcơva 10/12)

“Báo độc lập” (Nga) gần đây đăng bài của giáo sư, tiễn sĩ Viachíelav Vashanov, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề kinh tế của các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) trực thuộc bộ phát triển kinh tế và Viện Hàn lâm khoa học Nga, nội dung như sau:

Trong thế kỷ XX trên thế giới đã diễn ra hai sự kiện địa chính trị quan trọng nhất – cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917 ở Nga, với sự hình thành Liên Xô, và sự tan vỡ của Liên bang Xôviết năm 1991 thành 15 quốc gia có chủ quyền.

Hai mươi năm đã trôi qua. Từ năm 1991, nền kinh tế của các nước cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây đã vận hành theo thể chế kinh tế thị trường và đạt được những kết quả khác nhau.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ | 3 Comments »

474. Tại Nga, cách mạng tháng 10 được xem là đồng nghĩa với tội ác

Posted by adminbasam on 09/11/2011

RFI Tiếng Việt

Tại Nga, cách mạng tháng 10 được xem là đồng nghĩa với tội ác

Thứ ba 08-11-2011
.
Còn rất ít người ở Nga nhớ về ngày kỷ niệm cuộc Cách mạng tháng 10. REUTERS/Denis Sinyakov
.

Audio phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần

Hôm qua, 07/11/2011 theo lịch chính thống giáo là ngày mà cách nay 94 năm, phong trào cộng sản Nga đã lật đổ chế độ Nga Hoàng, mở đầu một thời kỳ «vàng son» cho đến khi Liên Xô tan rã vào năm 1991. Hiện nay, đảng Cộng sản Nga vẫn tồn tại nhưng người dân không còn mơ hồ về cuộc cách mạng gọi là «vô sản» này mà thực chất là một cuộc «đảo chính». Các tài liệu mật, các nhân chứng sống đã phô bày tội ác của Lê-nin.

Từ thủ đô nước Nga, nhà báo Nguyễn Minh Cần * phân tích :

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ | Tagged: , , | 174 Comments »

355. Trao đổi qua bài viết của Hoàng Lại Giang

Posted by adminbasam on 13/09/2011

Đôi lời:  Dưới đây là ý kiến của độc giả LBS đăng trong mục “Phản hồi”của bài Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi của Nhà văn Hoàng Lại Giang. Nhận thấy nội dung có nhiều thông tin đáng suy ngẫm, nên BS xin đăng lại.

Trao đổi qua bài viết của Hoàng Lại Giang

Bài của bác Hoàng Lại Giang thể hiện tâm huyết rất đáng quý của một người trí thức cộng sản trước hiện tình đất nước. Đáng tiếc là những gì bác viết về Mác, Ăng-ghen và Lênin lại không hoàn toàn chính xác. Các vị này không «sáng suốt», không tự nhận thức được sự sai lầm của mình như bác tưởng. Xin trả lời vài câu hỏi mà bác đặt ra :

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ | Tagged: , , , | 76 Comments »

344. Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi

Posted by adminbasam on 11/09/2011

Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!

(Những người cộng sản Việt Nam nên đọc lại thật kỹ học thuyết Mac và Anghen)

Hoàng Lại Giang

    Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước …. Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ.” Và trên tinh thần dân tộc ấy, năm 1945 ,sau khi giành lại chính quyền từ tay thực  dân Pháp, ông đã đặt tên nước là Việt Nam – Dân chủ – Cộng hòa và sau đó vào năm 1951 ông thuyết phục những người cộng sản đổi  tên Đảng là Lao Động. Tên nước và tên đảng cho đến giờ vẫn được nhân dân trân trọng và bảo vệ . Đấy chính là lòng dân. Thời nào cũng vậy, lòng dân là cái không mua được, dù bất cứ giá nào. Lịch sử đã chứng minh qua nghìn năm đô hộ giặc Tàu và trăm năm đô hộ giặc Tây. Lịch sử cũng đã chứng minh khi lòng dân không yên  thì mọi thứ bạo lực chỉ là hành động cứu cấp cho một thứ quyền lực phi nhân tính, vết nhơ không bao giờ rửa sạch. Lịch sử vẫn còn đó một Tần Thủy Hoàng, một Nê rô, nhà thơ bạo chúa, ở thời hiện đại là Hitle, là Stalin, là Mao trạch Đông  là Ponpot!

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Việt-Trung, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , | 202 Comments »

180. PHÂN HOÁ XÃ HỘI HAY QUẢ BOM NỔ CHẬM TẠI TRUNG QUỐC VÀ NGA

Posted by adminbasam on 13/07/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư, ngày 13/07/2011

PHÂN HOÁ XÃ HỘI HAY

QUẢ BOM NỔ CHẬM TẠI

TRUNG QUỐC VÀ NGA

(Đài Tiếng nói nước Nga 10/7)

Trung Quốc và Nga đã vượt cả Mỹ và Liên minh châu Âu về mặt tiêu thụ hàng xa xỉ. Trong khi đó 200 triệu người Trung Quốc, gấp rưỡi toàn bộ dân số Nga, lại đang sống trong cảnh bần cùng. Ở nước Nga cũng có thực trạng tương tự. Chỉ 1/100 người Nga đủ khả năng dùng những thứ hàng cao cấp với cuộc sống vương giả. Sự phân hoá xã hội như vậy sẽ dẫn đến những hậu quả gì? Phóng viên Đài tiếng nói nước Nga Leonid Kovachich đã đi tìm giải đáp cho câu hỏi đó.
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Gia đình/Xã hội, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ quốc tế | 19 Comments »

163. Không có đảng nào như Đảng Cộng Sản

Posted by adminbasam on 07/07/2011

Foreign Policy

PHÓNG SỰ ẢNH

Không có đảng nào như Đảng Cộng Sản

Nhìn lại 90 năm Đảng Cộng Sản ở Trung Quốc

Người viết các chú thích ảnh: Ty McCormick

Ngày 1 tháng 7 năm 2011
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | Tagged: , , , , , , , | 34 Comments »

149. NHỮNG THÁCH THỨC LỚN CỦA ĐCS TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 02/07/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NHỮNG THÁCH THỨC LỚN

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 30/06/2011

TTXVN (Luân Đôn 23/6)

Theo tạp chí “Nhà Kinh tế” (Anh) ngày 23/6, Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc đang đứng trước một thách thức lớn nảy sinh trong quá trình nền kinh tế nước này tăng trưởng nhanh chóng qua 2 thập kỷ. Đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp trung lưu và giai cấp nông dân nghèo sẽ khiến việc giữ ổn định chính trị trở nên khó khăn hơn. Dưới đây là nội dung bài viết:
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | 10 Comments »

101. Người dân Trung Quốc đang thách thức xu thế độc tài của nhà cầm quyền Trung Quốc

Posted by adminbasam on 12/06/2011

Asia Times

Người dân Trung Quốc đang thách thức

xu thế độc tài của nhà cầm quyền Trung Quốc

Willy Lam

Ngày 10 tháng 6 năm 2011

Trong một cuộc đối đầu được giới học giả ví với hình ảnh của David và Goliath, các công dân Trung Quốc giờ đây dường như đang phản công lại cái bộ máy Đảng-nhà nước thâu tóm mọi quyền lực đang ngày càng trở nên vô cảm với những khát vọng của nhân dân.

Những nỗ lực thách thức quyền lực tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đang dâng cao cho dù cảnh sát, mật vụ và quân cảnh đang tăng cường triển khai những phương pháp tàn bạo để bịt miệng những tiếng nói gây mất ổn định hoặc “bất đồng”. Mặt khác, giới lãnh đạo dưới thời Hồ Cẩm Đào hình như đang dẫn đầu một chiến dịch toàn quốc nhằm khôi phục lại những chuẩn mực độc tài.

Trong vài tuần qua đã có những sự kiện khủng khiếp cho thấy những người dân Trung Quốc bình thường đã cực chẳng đã phải dùng đến những phương sách khủng khiếp để trút nỗi bất mãn đối với chính quyền. Sự kiện gây chú ý nhất là cuộc bạo động nổ ra ở khu Tự trị Nội Mông (IMAR) – nơi có sáu triệu người Mông Cổ đang sinh sống – được coi là tồi tệ nhất kể từ khi kết thúc cuộc Cách mạng Văn hóa. Từ đầu tháng 5 khi hai người chăn gia súc người Mông Cổ bị xe tải của người Hán cán chết thì đã có những cuộc biểu tình của hàng ngàn cư dân làm rung chuyển thị xã Tích Lâm [Xilinhot] và các quận Zhenglan và Xiwu ở gần đó.

Người biểu tình, họ là những người nông dân chăn nuôi gia súc và sinh viên đại học, đã phản đối các công ty khai thác mỏ của người dân tộc Hán với lý do đã bóc lột những người chăn nuôi gia súc hầu hết đều là những người Mông Cổ.

Khác với Tây Tạng hoặc Tân Cương, Nội Mông hầu như tránh được bạo lực sắc tộc trong vòng 30 năm qua. Do ở Nội Mông có một phong trào bí mật đấu tranh vì dân tộc Mông Cổ và phong trào này đang tìm cách để Nội Mông được sáp nhập với Mông Cổ ở nằm ở ngay phía bắc của Nội Mông cho nên chính quyền ở Nội Mông trong đó có bí thư Đảng ủy Nội Mông Hồ Trung Hoa [Hu Chunhua] đã tìm cách xoa dịu sự căng thẳng do sự cố nói trên gây ra bằng lời hứa “kiên quyết bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật và các quyền lợi của nạn nhân”. Họ Hồ cũng hứa sẽ ủng hộ những người chăn gia súc bị ảnh hưởng đòi các công ty khai thác mỏ phải đền bù vì làm ô nhiễm những cánh đồng cỏ.

Lãnh đạo Đảng cũng lo lắng trước một loạt ít nhất năm vụ đánh bom trong vòng hai tuần qua ở các tỉnh Giang Tây [Jiangxi], Sơn Đông [Shandong], Thành Đô [Sichuan], Hắc Long Giang [Heilongjiang] và Thiểm Tây [Shaanxi]. Hầu hết các vụ đánh bom này, gây ra tổng số người chết là 10, dường như đều được thực hiện bởi những người chống đối chính quyền do có những nỗi bất bình oan ức.

Vụ gây xôn xao nhất đã xảy ra ở thành phố Phúc Châu [Fuzhou] thuộc Giang Tây [Jiangxi]. Hôm 26 tháng 5, Tiền Minh Kỳ [Qian Mingqi] đã liều chết cho nổ ba quả bom tại hai tòa nhà công sở tại thành phố hạng trung này. Ngoài Kỳ ra còn có ít nhất một người nữa bị chết và sáu người bị thương. Người đàn ông họ Tiền này đã nhận được rất nhiều “còm” bày tỏ sự ủng hộ và chia sẻ qua mạng Internet ở Trung Quốc bởi một điều anh là nạn nhân của nạn “chiếm đoạt đất đai”, một cách nói ám chỉ tới việc các quan chức thông đồng với các nhà đầu tư để ăn cướp đất đai của người dân. Không lâu trước khi thực hiện hành động giống như khủng bố nói trên, Kỳ đã viết trên mạng Internet rằng suốt mười năm qua anh đã gửi đơn khiếu kiện tới các quan chức ở Giang Tây và Bắc Kinh mà không có kết quả.

Trong vòng khoảng một tháng nay có tin đồn về “các cuộc tụ tập của người dân” dẫn đến sự đụng độ giữa người biểu tình và cảnh sát tại các tỉnh và thành phố trong đó có Giang Tây [Jiangsu], Quảng Châu [Guizhou], Hồ Nam [Hunan], Hồ Bắc [Hebei], Lan Châu [Gansu], Hà Nam [Henan], Quảng Đông [Guangdong], Tây Tạng [Tibet], Liêu Ninh [Liaoning], Bắc Kinh và Thượng Hải.

Mặc dù vẫn còn quá sớm để tiên đoán rằng tình hình bất ổn đột ngột xảy ra này sẽ thúc giục chính quyền hoặc là mở rộng tự do hoặc là tăng cường đàn áp hay không, song một điều đáng lưu ý là một số “trí thức công chúng” [public intellectuals: những trí thức ngoài công việc chuyên môn thì họ còn thường xuyên lên tiếng vì những vấn đề xã hội] có uy tín đã quyết định lợi dụng ngay chính những thể chế và các kênh chính thức để thúc giục đẩy mạnh cải cách chính trị.

Một số chủ bút, luật sư, giáo sư và nhà hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trong tháng qua đã tuyên bố họ có ý định tự ứng cử đại biểu của các cơ quan lập pháp ở cấp cơ sở. Trong số đó có năm trí thức có tầm ảnh hưởng tới công luận đang tự ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Trùng Khánh.

Ba ứng cử viên ở Bắc Kinh là Xiong We, nhà nghiên cứu thuộc một nhóm chuyên gia độc lập [think tank];  Wu Danhong, giáo sư môn chính trị học và luật học tại Đại học Trung Hoa và Yao Bo, một chủ bút kỳ cựu. Li Chengpeng, một nhà báo nổi tiếng và là một cây bút chính luận, đang có ý định ứng cử đại biểu ở Trùng Khánh, trong khi đó thì nhà văn tranh đấu cho nhân quyền Xia Shang đang hi vọng sẽ trở thành một đại biểu của hội đồng nhân dân ở một huyện thuộc Thượng Hải.

Cố gắng giữ vẻ bên ngoài sao cho không khiêu khích chính quyền, các nhà trí thức nói trên bám vào những chủ đề tương đối mang tính trung lập như “xúc tiến sự bình đẳng và công bằng xã hội” hiện đang là khẩu hiệu ưa thích của Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Hầu hết đều phát biểu “cương lĩnh tranh cử” của họ trên các blog cá nhân và các công cụ truyền thông xã hội khác.

Chẳng hạn, Li Chengpeng nói rằng ông hi vọng sẽ giúp người dân ở thành phố Trùng Khánh “thực hiện được những mong ước và nguyện vọng chính đáng, giám sát chính quyền và triển khai [những cải cách] xã hội.” Ứng cử viên Xiong We ở Bắc Kinh thì hứa sẽ cải thiện phúc lợi an sinh xã hội và các quyền công dân của những người “nhập cư” không được hưởng các quyền lợi pháp lý của người có hộ khẩu thường trú ở thủ đô.

Theo luật sư tranh đấu nhân quyền kỳ cựu Xu Zhiyong, người hiện đang hỗ trợ pháp lý cho các ứng cử viên tương lai nói trên, thì “sẽ còn có thêm những công dân hết lòng vì lợi ích chung đang cân nhắc tham gia cuộc bầu cử này”. Xu, nguyên là một đại biểu quốc hội của một huyện, nói thêm: “chỉ nguyên hành động ra trang cử” đã tạo ra một sự thúc đẩy cải cách. Zhang Minh, nhà nghiên cứu khoa học chính trị tại Đại học Nhân dân lưu ý rằng chính phủ nên khuyến khích thêm nhiều công dân thực hiện các quyền dân chủ của họ. “Nhưng đúng là không khí [chính trị] ít cởi mở quá,” ông nói. “chính quyền đã bị quen với những cuộc bầu cử do họ kiểm soát vì thế mà có lẽ họ không muốn [những trí thức công chúng] tham gia.”

Thực ra còn quá sớm để tiên đoán Li Chengpen, Xiong We và những người khác liệu có được là ứng cử viên chính thức hay không. Cho dù đúng là Bắc Kinh ngay từ đầu những năm 1980 đã cho phép – ít nhất là trên giấy tờ – mọi người dân Trung Quốc đều có thể ứng cử vào hội đồng nhân dân ở các quận, các thành phố cỡ trung bình và các huyện thuộc các thành phố lớn như Bắc Kinh hoặc Thượng Hải.

Chẳng hạn như vào hồi đầu tháng 5 thì Liu Ping, một người lao động thất nghiệp 47 tuổi đã bị từ chối quyền ứng cử vào cơ quan lập pháp của thị trấn Xinyu thuộc tỉnh Giang Tây. Vốn là một nhân viên cũ của Nhà máy Thép Xinyu, bà có thành tích quá khứ là đấu tranh vì các quyền lợi của công nhân. Năm ngoái, bà Liu đã nhiều lần tới Bắc Kinh để  trao tận tay đơn khiếu nại cho các bộ ngành ở trung ương sau khi bà bị phân xưởng đuổi việc.

Chính quyền Xinyu đã tuyên bố rằng bà không thể ra ứng cử với lý do được viện ra là trước đó bà đã từng bị cảnh sát địa phương bắt giam trong 10 ngày vì đã ” gửi đơn kiện tới Bắc Kinh trái với quy định”. Các nhà quan sát tình hình chính trị ở Bắc Kinh đã nói thẳng thừng là chính quyền đang hoảng sợ trước việc những trí thức có đầu óc tự do và các luật sư nhân quyền tự ra ứng cử một phần bởi vì những ký ức của phong trào dân chủ hồi năm 1989. Hai năm trước, một số nhà hoạt động, trong đó có Wang Dan là lãnh tụ sinh viên ở Đại học Bắc Kinh và Li Shuxian là vợ của nhà vật lý kiêm lý luận gia dân chủ Fang Lizhi, đã ra tranh cử – mặc dù không thành công – tại cuộc bầu cử hội đồng nhân dân quận Haidian ở Bắc Kinh.

Phản ứng của Bắc Kinh trước số lượng gia tăng các trí thức có đầu óc độc lập tham gia vào cuộc bầu cử hội đồng nhân dân có thể phụ thuộc vào ngọn gió chính trị đang xoay theo chiều nào. Bất chấp bộ máy Đảng -nhà nước rõ ràng là đang nghiêng ngả theo hướng những tư tưởng bảo thủ, song một số rất ít ỏi phương tiện truyền thông của nhà nước đã đăng những bài báo kêu gọi một đầu óc cởi mở theo hướng đa nguyên. Viết trên tờ Southern Weekend có trụ sở ở Quảng Châu, Zhang Lihua nói “chỉ trích [chính quyền] cũng là một cách yêu nước.”

Ông Zhang, hiện là ủy viên đảng bộ quận Deqing ở tỉnh Phúc Kiến, lập luận rằng “chỉ trích [đảng và chính phủ] không có nghĩa là chống lại [họ]; và không thể so sánh việc chống lại [những chính sách nào đó] với việc là kẻ thù [của chính quyền].” Ông Zhang nói thêm rằng “toàn xã hội nên đối xử với cách suy nghĩ yizhi [bất tuân phục] bằng một thái độ bao dung .”

Ông Zhang đang nhắc lại quan điểm của một bài báo xuất bản hồi cuối tháng Tư trên tờ Nhân dân Nhật báo đã gây ra nhiều tranh luận. Rõ ràng là bài báo đó phản ánh quan điểm của thiểu số những người có đầu óc tự do trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, bài báo đã kêu gọi chính quyền “chấp nhận một thái độ bao dung đối với cách suy nghĩ yizhi“. Viện dẫn câu châm ngôn nổi tiếng của Voltaire về bảo vệ tự do ngôn luận của người có quan điểm đối lập với mình, bài báo nói rằng “cái tâm lý coi ‘anh là kẻ thù của tôi nếu anh nghĩ khác tôi’ phản ánh một sự hẹp hòi và yếu kém – và tâm lý này chẳng có ích gì đối với việc xây dựng một xã hội hài hòa “.

Nhưng việc Đảng có lẽ đang thực hiện một một nhảy thụt lùi đáng kể – ít nhất là trên phương diện tư tưởng và thái độ bao dung đối với sự bất đồng ý kiến – được chứng minh bằng một bài bình luận của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật của Trung ương Đảng (CCDI) trên tờ Nhân dân Nhật báo hôm 25 tháng 5.

CCDI, là ủy ban chịu trách nhiệm về kỷ luật và chống tham nhũng, nói rằng “giữ vững kỷ luật chính trị của Đảng là một cuộc đấu tranh chính trị quan trọng”. Bài bình luận này đã khiển trách nhiều quan chức trong Đảng không được nêu tên vì đã “phát biểu vô kỷ luật – và theo đuổi những kế hoạch của bản thân mình – liên quan đến những lý luận cơ bản, những đường lối và nguyên tắc của Đảng.” Bài bình luận thậm chí còn buộc tội một số đảng viên và cán bộ đã “bịa đặt và tung tin đồn có mục đích chính trị” dẫn đến hậu quả là “bóp méo hình ảnh của Đảng và đất nước”.

Chính giới ở Bắc Kinh đã suy đoán là CCDI có thể đang nhằm vào Thủ tướng Ôn Gia Bảo là người gần đây đã kêu gọi công chúng hãy cảnh giác với “những tàn dư của xã hội phong kiến “cũng như “ảnh hưởng độc hại của Cách mạng Văn hóa”.

Trong một bài xã luận về sự kiện đánh bom ở Giang Tây, tờ Hoàn cầu Thời báo đã viết rằng “sự chống lại những hành động giết người vì mục đích trả thù ” nên được thừa nhận là một “giá trị phổ quát”. “Ở đâu cũng vậy, những tên sát nhân đều bị trừng phạt, điều này cho thấy rằng việc cấm giết người là một giá trị phổ quát của nhân loại, giá trị này cao hơn tất cả mọi giá trị khác.” Cái loa này của Đảng đã lưu ý rằng sự cảm thông dành cho kẻ thực hiện “hành động khủng bố,” như được bày tỏ qua những bài đăng trên Internet, là triệu chứng cho thấy “sự nhầm lẫn những giá trị trong xã hội Trung Quốc”.

Bài báo còn khẳng định rằng bởi vì “Trung Quốc đang trên đường trở thành một xã hội được cai trị bằng luật pháp”, cho nên mọi bất hòa đều có thể được giải quyết bằng các phương tiện pháp lý.

Nhưng vấn đề dường như chẳng cần phải bàn cãi gì nữa ấy là vô số những sự kiện bùng phát ở Trung Quốc bởi vì những người thuộc những khu vực chịu thiệt thòi đã không thể sửa được những điều bất công, chẳng hạn như “sự chiếm đoạt đất đai”, thông qua những con đường pháp lý đich thực. Mặt khác, các cơ quan đảng-nhà nước được xem như chính họ đang vi phạm phát luật khi họ tiến hành sự đe dọa một cách có hệ thống và bỏ tù các nhà hoạt động nhân quyền được cả thế giới kính trọng chẳng hạn như nghệ sĩ Ngải Vị Vị.

Nếu các chính quyền liên quan cứ tiếp tục sử dụng những lý do vu cáo để ngăn chặn những trí thức ôn hòa tham gia vào các cuộc bầu cử ở cơ sở, khi ấy lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc có nguy cơ bị buộc tội là báng bổ “những giá trị phổ quát” được trân trọng cất giữ trong cả hiến chương của Liên Hiệp Quốc lẫn hiến pháp của chính Trung Quốc.  

Tiến sĩ Willy Wo-Lap Lam là nghiên cứu viên cao cấp tại Quỹ Jamestown. Ông từng là biên tập viên lâu năm tại những tờ báo lớn như Asiaweek, South China Morning Post [Bưu điện Hoa Nam buổi sáng] và trụ sở của CNN tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ông là tác giả của năm cuốn sách về Trung Quốc, trong đó có cuốn được xuất bản gần đây nhất là Chinese Politics in the Hu Jintao Era: New Leaders, New Challenges [Nền chính trị của Trung Quốc dưới thời Hồ Cẩm Đào: Những lãnh đạo mới, những thách thức mới]. Hiện nay tiến sĩ Lam giảng dạy các môn học nghiên cứu về Trung Quốc tại Đại học Quốc tế Akita ở Nhật Bản và Đại học Trung Hoa ở Hồng Công.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | Tagged: , , , | 5 Comments »

100. Những hồi trống lệnh xung trận? Căng thẳng đang dâng cao ở Biển Đông

Posted by adminbasam on 12/06/2011

TIME

Những hồi trống lệnh xung trận?

Căng thẳng đang dâng cao ở Biển Hoa Nam

Austin Ramzy

Ngày 10 tháng 6 năm 2011
Những tranh chấp ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] thường gây ra cảm tưởng về sự lặp lại những chuyện giống hệt trong quá khứ. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp xảy ra trong tuần này khi Việt Nam cáo buộc một chiếc tàu của Trung Quốc đã cố ý cắt đứt cáp thăm dò của một chiếc tàu khảo sát địa chấn đang làm việc cho tập đoàn dầu khí quốc gia PetroVietnam. Việt Nam nói rằng sự cố hôm mồng 9 tháng 6 đã xảy ra trong phạm vi thềm lục địa 200 hải lý mà Việt Nam có các quyền lợi về kinh tế căn cứ theo Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.  

Trung Quốc đáp lại rằng Việt Nam đã khiêu khích các tàu đánh cá của Trung Quốc đang đánh bắt tại vùng biển mà họ đã làm ăn “từ nhiều thế hệ nay”, theo lời của một tuyên bố bằng văn bản của phát ngôn viên Hồng Lỗi của bộ ngoại giao Trung Quốc. Tàu của Việt Nam trong lúc đuổi các thuyền đánh cá của Trung Quốc đã khiến một chiếc thuyền bị mắc vào mạng cáp được kéo từ chiếc tàu khảo sát của PetroVietnam, phát ngôn viên họ Hồng này đã nói. Hồng Lỗi cáo buộc Việt Nam đang gây nguy hiểm tới cuộc sống của ngư dân Trung Quốc và tuyên bố rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam đã “xâm phạm một cách thô thiển” chủ quyền của Trung Quốc.

Nếu như sự cố ẩu đả nói trên nghe có vẻ quen thuộc thì đó là bởi vì sự cố đó có lý do chính đáng của nó. Chính phủ Việt Nam nói rằng một tàu tuần dương của Trung Quốc hôm 26 tháng 5 đã cắt đứt cáp thăm dò của một chiếc tàu thăm dò khác của Việt Nam. Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam đã than phiền về sự cố này tại cuộc gặp thượng đỉnh về an ninh Shangri-la ở Singapore vào tuần trước. Các cuộc phản đối đã được tổ chức tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và mấy ngày gần đây thì nhiều trang web của Việt Nam và Trung Quốc được cho là đã bị các hacker tấn công và để lại trên giao diện của trang chủ những thông điệp khích động tinh thần dân tộc.

Từ trước tới nay thì Việt Nam và Trung Quốc đã từng có vô số những cuộc đụng độ để tranh giành sự kiểm soát đối với Biển Hoa Nam. Năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực đuổi Việt Nam ra khỏi Quần Đảo Hoàng Sa ở phía bắc [của Biển Hoa Nam]. Còn năm 1988 thì hai bên đã đụng độ vũ trang ở Quần đảo Trường Sa ở phía nam là nơi cho đến nay nhiều nước vẫn đang tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với một phần quần đảo này. Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Đài Loan và Việt Nam tất tật đều tuyên bố có chủ quyền đối với ít nhất một phần nào đó của Biển Hoa Nam. Vùng biển này có những vỉa địa chất chứa nhiều dầu mỏ và khí thiên nhiên và đồng thời còn là một tuyến đường dành cho một phần quan trọng hàng hóa được vận chuyển bằng đường biển của toàn thế giới.

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippine liên quan đến những tuyên bố chủ quyền tranh chấp ở Biển Hoa Nam cũng lên đến đỉnh điểm trong những tuần lễ gần đây. Philippine mới đây đã than phiền về việc tàu hải quân Trung Quốc ở vùng biển tranh chấp và Philippine đã cử máy bay quân sự tới một khu vực có tên là Bãi Đá Rong [Reed Bank] hồi tháng Ba sau khi tàu chiến của Trung Quốc quấy nhiễu một tàu khảo sát của Philippine. Hôm Thứ Năm tuần trước, đại sứ Trung Quốc tại Philippine Lưu Kiến Siêu [Liu Jianchao] đã cảnh báo các nước trong khu vực hãy ngừng công việc tìm kiếm nguồn tài nguyên dưới đáy biển “tại những khu vực mà Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền” và phủ nhận việc Trung Quốc quấy nhiễu tàu của Philippine. Ông ta nói rằng các hoạt động của Trung Quốc ở vùng biển này là “phù hợp với việc thực thi quyền tài phán của chúng tôi,” hãng thông tấn Associated Press đã đưa tin như vậy.

Hồi năm 2002 các nước có tuyên bố chủ quyền đã đồng ý giải quyết tranh chấp một cách hòa bình về Biển Hoa Nam. Nhưng kể từ dạo đó đến nay hầu như không có sự tiến triển nào. Ngoại trưởng Hillary Clinton năm ngoái đã nói rằng Mỹ sẽ giúp đỡ với vai trò trung gian trong các cuộc đàm phán. Tuyên bố này đã làm Trung Quốc tức giận vì Trung Quốc muốn các cuộc đàm phán chỉ giới hạn trong các bên có tranh chấp với nhau. Thế nhưng phát biểu của Clinton có lẽ đã làm cho một số nước trở nên mạnh dạn đứng lên chống lại Trung Quốc, cụ thể là Việt Nam. Tại cuộc gặp thượng đỉnh Shangri-La, bộ trưởng quốc phòng sắp từ nhiệm của Mỹ  là Robert Gates đã bày tỏ mối quan ngại về tình hình căng thẳng đang dâng cao ở Biển Hoa Nam và rằng nếu không có những thỏa thuận tiếp tục được xúc tiến giữa các bên tuyên bố chủ quyền thì những tranh chấp chắc chắn sẽ tiếp tục kéo dài. “Tôi cho rằng nếu không có luật đi đường và nếu không có những cách tiếp cận được thỏa thuận với nhau để giải quyết những vấn đề này [tranh chấp] thì sự đụng độ chắc chắn sẽ xảy ra, ” ông Gates nói.

Người dịch: Hiền Ba
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Ghi chú: khi bài dịch này lên trang thì đã có 127 phản hồi trên bài gốc. Mời bấm vào tên tờ báo (TIME), trên đầu bài để truy cập.

Posted in Biển Đông/TS-HS, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , , , , , | 9 Comments »

99. Tình hình ở Biển Đông hiện nay: Đánh hay là bỏ chạy

Posted by adminbasam on 11/06/2011

Asia Times

Tình hình ở Biển Hoa Nam

hiện nay: Đánh hay là bỏ chạy

David Brown

Ngày 9 tháng 6 năm 2011

Mới đây Trung Quốc lại có những biểu hiện của một kẻ mắc chứng bệnh thần kinh rối loạn cảm xúc lưỡng cực [bipolar disorder] trong cách họ giải quyết cái vấn đề gai góc ấy là vấn đề chủ quyền đối với Biển Hoa Nam [Biển Đông].

Phát biểu trước các bộ trưởng quốc phòng của các nước Đông Nam Á vào tuần trước, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quảng Liệt đã nói về quan điểm của Trung Quốc đối với Biển Hoa Nam như thể ông ta đang lẩm bẩm những câu thần chú đã thuộc làu: Trung Quốc sẽ không bao giờ theo đuổi bá quyền hoặc bành trướng quân sự …Trung Quốc cam kết duy trỉ hòa bình và ổn định thông qua hợp tác an ninh… Trung Quốc kiên định thực hiện chính sách xây dựng quan hệ láng giềng tốt và hữu nghị.

Trong các cuộc tiếp xúc song phương tại cuộc đối thoại an ninh khu vực ở Singapore, tay họ Lương này dường như đã ra sức thuyết phục các nước thành viên của ASEAN phải loại bỏ Mỹ ra khỏi các cuộc thảo luận nhằm làm dịu tình hình căng thẳng [ở Biển Hoa Nam]. Ấy thế mà chỉ vài cách đây vài ngày thôi thì tàu hải giám của Trung Quốc lại giở cái trò du côn chẳng giống ai để phản đối các nước tranh chấp chủ quyền với họ đối với 3,5 triệu cây số vuông biển kéo dài từ phía nam Đài Loan cho tới Eo biển Malacca, Bắc Kinh gọi những hành động du côn của họ là “các hoạt động bình thường nhằm giám sát và thực thi luật hàng hải ở vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”.

Bốn nước ASEAN là Brunei, Malaysia, Philippine và Việt Nam đều có tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với một phần của vùng biển này, những tuyên bố chủ quyền của bốn nước này đều dựa trên sự áp dụng những nguyên tắc của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) về việc phân định ranh giới thềm lục địa của mỗi nước. Việt Nam ngoài ra còn khẳng định các quyền lợi của họ từ việc khai thác nguồn cá dồi dào ở vùng biển này và sự cư ngụ không thường xuyên của người Việt Nam ngay từ những năm 1600 trên một số hòn đảo nhỏ giàu nguồn phân dơi, bào ngư và hải sâm.

Mặc dù hễ thấy có lợi cho tuyên bố của mình là Trung Quốc vội vàng viện dẫn UNCLOS, thế nhưng họ vẫn coi công ước này là không liên quan tới “quyền tài phán không thể bác bỏ” của họ đối với Biển Hoa Nam. Để đối phó với hạn chót theo Luật về Công ước Biển là tháng 6 năm 2009 các nước phải đệ trình lên Liên Hiệp Quốc tuyên bố chủ quyền biển của mình, Trung Quốc chỉ đơn giản đệ trình một tấm bản đồ bôi bác thô thiển và chẳng buồn đề cập các tiêu chí địa chất và địa mạo được xác lập trong công ước nói trên.  

Bất chấp tín hiệu rành rành rằng Trung Quốc đâu có quan tâm tới việc thỏa hiệp, nhưng tập thể ASEAN vẫn cố bám lấy hi vọng rằng có thể thuyết phục được cái cường quốc mới nổi này ở châu Á để họ chịu đàm phán. Các nước ASEAN chỉ mới một lần duy nhất thành công để cho thấy họ hi vọng là đúng: năm 2002, sau nhiều năm nỗ lực, các nước ASEAN cuối cùng đã thuyết phục được Trung Quốc chịu ký một  “Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Hoa Nam”, được gọi tắt là DOC. Các nước ký DOC đồng ý “tự kiềm chế để không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm hoặc làm leo thang các tranh chấp”. Ngoài ra Trung Quốc cũng thề bồi là không sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ.

Bước tiến bộ tiếp theo của DOC sẽ phải là sự thỏa thuận về các phương thức giải quyết tuyên bố tranh chấp chủ quyền. Nhưng cho tới nay thì ASEAN vẫn chưa thể dỗ dành được Bắc Kinh để họ quay trở lại bàn đàm phán. Trung Quốc khăng khăng cho rằng họ chưa bao giờ có ý định giải quyết vấn đề “ai sở hữu cái gì” ở một diễn đàn đa phương song họ sẵn sàng giải quyết vấn đề đó bằng các cuộc đàm phán song phương với các nước có tuyên bố tranh chấp chủ quyền. Trong lúc chờ đợi, Bắc Kinh đã cố tình tạo ra “những sự đã rồi” một cách rất có phương pháp để hỗ trợ luận điểm của họ rằng toàn bộ Biển Hoa Nam tính đến tận vùng biển cách bờ biển của các quốc gia có chung biển với họ là 12 hải lý là đều của họ hết.

Chiến thuật du côn của Trung Quốc dường như đã thành công ở phần phía bắc của vùng biển tranh chấp. Bắc Kinh đã tuyên bố Quần đảo Hoàng Sa, một tập hợp những bãi đá ngầm và đảo nằm giữa Đảo Hải Nam của Trung Quốc và bờ biển miền trung của Việt Nam, giờ đây đang mở cửa cho các công ty của Trung Quốc tới phát triển du lịch và kinh tế. Hồi năm 1974 Trung Quốc đã đánh bật một đơn vị quân đội ít ỏi của Nam Việt Nam ra khỏi Quần đảo Hoàng Sa và trong những năm gần đây họ hầu như đã xua đuổi ngư dân Việt Nam ra khỏi các vùng biển lân cận. Hà Nội kiên trì bám lấy tuyên bố chủ quyền của mình, song các nước đối tác trong khối ASEAN lại không có dấu hiệu bày tỏ sự đoàn kết để ủng hộ Hà Nội.

Vì thế mà cho đến lúc này thì cả một vùng quần đảo Trường Sa rộng lớn gồm vô số những hòn đảo và một vùng lãnh hải nằm ở phía nam Quần đảo Hoàng Sa – chiếm xấp xỉ hai phần ba Biển Hoa Nam – vẫn đang bỏ ngỏ để mạnh ai người ấy cướp. 

Những sự cố xảy ra vào tháng trước nhằm vào ngư dân không phải là người Trung Quốc và các tàu thăm dò dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế của Philippine và của Việt Nam chỉ là mới mẻ ở chỗ những sự cố đó là một kiểu làm giờ đây chẳng ai lạ gì song được mở rộng sâu hơn xuống phía nam gần với bờ biển của các nước đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Bắc Kinh đã cảnh báo không úp mở các công ty dầu khí nước ngoài là không được ký hợp đồng thăm dò ở những khu vực mà Việt Nam tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế của mình. Các nguồn tin từ Manila cho biết hải quân của Trung Quốc đang đặt các tiền đồn mới ở vùng biển thuộc chủ quyền của Philippine mà không thèm đếm xỉa đến sự giữ nguyên hiện trạng được quy định bởi DOC.

Sự tiền hậu bất nhất quá ư nghiêm trọng giữa những gì Trung Quốc nói và làm đang khiến cho những khẳng định của viên Tướng họ Lương tại diễn đàn cuối tuần qua ở Singapore rằng “các nước liên quan nên giải quyết tranh chấp về chủ quyền hàng hải thông qua đàm phán hữu nghị và hội đàm song phương” trở thành một điều rành rành là giả dối.

Điều gì đang thúc đẩy Trung Quốc giả dối như vậy? Một số nhà phân tích cho rằng chính sách tiền hậu bất nhất đó là một biểu hiện nhất thời cho thấy các trung tâm quyền lực ở Bắc Kinh đang đấu đá nhau. Số khác bày tỏ tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ không tuyên bố hoặc đẩy quá xa những tuyên bố chủ quyền của họ khiến cho Indonesia phải xa lánh, làm giới kinh doanh phải sợ hãi hoặc khiến Lầu năm góc của Mỹ buộc phải khôi phục tham vọng hợp tác với quân đội các nước trên quy mô toàn cầu.

Nhưng những điều nói trên đang mỗi lúc càng trở thành những niềm hi vọng đáng thương. Có đầy đủ những bằng chứng cho thấy Trung Quốc đang tính kế lâu dài và điều họ muốn chính là năng lượng – các lớp địa chất nằm sâu dưới đáy Biển Hoa Nam có chứa rất nhiều dầu mỏ và khí thiên nhiên được cho là chỉ còn chờ sự thăm dò và khai thác.

Người ta có thể biện luận – và đây chính là lý lẽ của các nhà địa chất dầu mỏ – rằng chưa chắc Biển Hoa Nam đã thực sự có dầu khí, thế nhưng điều chẳng cần phải bàn cãi nữa đó là Bắc Kinh đang đặt ưu tiên cao vào việc phải đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng. Từ năm 1993 Trung Quốc đã bắt đầu trở thành một nước nhập siêu dầu mỏ; hiện nay Trung Quốc nhập khẩu khoảng sáu triệu thùng dầu mỗi ngày, tức là 60% lượng tiêu thụ dầu mỏ của họ. Vào năm 2025, nền kinh tế của Trung Quốc sẽ cần một lượng nhập vào khoảng 15 tỉ thùng dầu mỗi ngày, theo báo cáo thường niên có uy tín của hãng BP.

Tình hình cũng xảy ra tương tự với khí đốt thiên nhiên song không gay gắt bằng, theo nguồn tin của hãng BP. Từ năm 2007 Bắc Kinh đã bắt đầu nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng và dự kiến đến năm 2025 thì 40% nhu cầu về khí đốt sẽ phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đối với một quốc gia sẵn sàng chi rất nhiều tiền để xây dựng một lực lượng hải quân đủ khả năng bảo vệ các tuyến đường cung ứng tới Trung Đông thì khí hydrocarbon được cho là có dưới lòng Biển Hoa Nam ắt phải giống như trái cây lủng lẳng ở tầm thấp dễ hái khó cưỡng nổi. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế thì nguồn hydrocarbon ở Biển Hoa Nam hầu như chưa ai biết là trữ lượng bao nhiêu. Một số báo cáo chưa chứng thực của Trung Quốc cho rằng dự trữ dầu mỏ có thể là 213 tỉ thùng, trong khi đó thì cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) hồi năm 1994 đã ước tính nguồn dự trữ đó là vào khoảng 28 tỉ thùng. Một số chuyên gia tin rằng khí đốt thiên nhiên chiếm thành phần nhiều nhất trong các lớp địa chất có hydrocarbon ở Biển Hoa Nam, nhưng các con số ước tính về nguồn dự trữ này cũng khác nhau rất nhiều. Vì vậy, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ [The US Energy Information Agency] bình luận rằng việc các khu vực ở xung quanh [Biển Hoa Nam] có những lớp địa chất nhiều dầu mỏ đã dẫn đến sự suy đoán rằng Quần đảo Trường Sa có thể là một khu vực có chứa dầu mỏ chưa được khai thác. Hầu như không có bằng chứng nào ngoài những tuyên bố của Trung Quốc để có thể chứng minh quan điểm cho rằng khu vực này có chứa những nguồn dầu mỏ lớn. Do không có giàn khoan thăm dò ở Hoàng Sa và Trường Sa cho nên không có những số liệu ước tính có đầy đủ chứng cứ.

Một cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi?

Việt Nam không bao giờ có ảo tưởng về sự sẵn sàng khiêu khích của Bắc Kinh. Việt Nam đã từng chống lại những cuộc xâm lăng của Trung Quốc nhằm khuất phục người Việt Nam trong suốt một ngàn năm. Xử lý mối quan hệ thất thường với cái nước láng giềng phương bắc này là mối quan tâm cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Hà Nội. Để tránh cuộc chiến tranh với gã to xác ở phương bắc này, như lịch sử đã gợi ý, Việt Nam sẽ quỵ lụy song cuối cùng sẽ đánh nhau chứ không đầu hàng.

Cách đây một năm, ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố rằng Biển Hoa Nam là một khu vực có “lợi ích quốc gia” của Mỹ – một thái độ hoàn toàn nhất quán với các mục tiêu của Mỹ ngay từ thế kỷ 19 là quyền tự do đi lại [hàng hải] ở châu Á, nhưng trong tình huống nói trên thì phát biểu của Hillary Clinton lại là một cái vả vào mặt người Trung Quốc. Phát biểu của Clinton được chủ nhà của Diễn đàn khu vực châu Á năm 20110 (ARF) là Hà Nội phối hợp chặt chẽ và được tô điểm thêm bằng một loạt các cuộc hội đàm song phương về mối quan hệ chiến lược mới Mỹ-Việt. Bà Hillary Cliton đề nghị Mỹ có thể đóng một vai trò như là một người đứng giữa trung thực trong việc giải quyết những tuyên bố chủ quyền ở Biển Hoa Nam.

Như vậy là Mỹ đang có mặt để sẵn sàng đóng vai trò đó. ARF 2011 chỉ còn cách không đầy một tháng nữa và sẽ do Indonesia chủ trì. Cuộc họp này sẽ là cơ hội tốt nhất để khôi phục lại một quá trình giải quyết một cách hòa bình những lợi ích và tuyên bố tranh chấp chủ quyền biển.

Có thể hình dung được rằng một kết quả đàm phán sẽ không thể thỏa mãn hoàn toàn một bên tranh chấp nào đó, song đủ để thỏa mãn tất cả các bên. Một kết quả như vậy sẽ bao gồm những yếu tố căn bản sau: các nước ASEAN có thể tìm được cách để đoàn kết với nhau và các nước tranh chấp thuộc ASEAN có thể thống nhất được cách tự chia nhau Quần đảo Trường Sa;  Mỹ sẽ tham gia một cách hiệu quả trên phương diện giàn xếp phù hợp với lương tri trong đó có việc các nước cùng nhau phát triển ở một số khu vực; và yếu tố khó khăn nhất ấy là Trung Quốc sẽ phải từ bỏ tuyên bố phi lý cho rằng toàn bộ Biển Hoa Nam là của họ.
Tại diễn đàn các bộ trưởng quốc phòng diễn ra tuần trước ở Singapore, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert Gates đã không có phát biểu nào về hành động “khoe cơ bắp” gần đây của Trung Quốc ngoài việc nói rằng ông chia sẻ những lo ngại của các nước khác và rằng có những cơ chế đa phương, tức DOC và UNCLOS, có thể được áp dụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến Biển Hoa Nam. Một số bài báo đã gọi đây là một dấu hiệu cho thấy Mỹ đang lùi bước để tránh một sự đối đầu.

Đó có lẽ là một cách giải thích không đúng. Đối với Mỹ thì thách thức trước mắt là phải hợp tác với Indonesia để đưa các vấn đề lãnh thổ theo hướng các giải pháp được dựa trên luật pháp quốc tế và lương tri ngoại giao. Mỹ phải trấn an Việt Nam và Philippine rằng Mỹ sẽ không thoái lui. Mỹ phải thuyết phục phái ôn hòa của Trung Quốc rằng dù ai là chủ của Trường Sa đi nữa thì các công ty của Trung Quốc vẫn sẽ có những cơ hội không bị cản trở để tham gia vào việc khai thác nguồn khí hydrocarbon theo giả thuyết.
Điều quan trọng không kém đó là Washington cần có lập trường cứng rắn với phái hiếu chiến của Trung Quốc, phải kín đáo cho Bắc Kinh biết rằng những hành động khiêu khích chỉ có thể dẫn đến sự đoàn kết của các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, sẽ lôi cuốn Mỹ tiến gần hơn sự xung đột và làm trì hoãn sự phát triển nguồn tài nguyên ở Biển Hoa Nam vì lợi ích qua lại của các nước.

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã hồi hưu. Ông thường xuyên viết về tình hình hiện nay ở Việt Nam. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ email: nworbd@gmail.com.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , , | 12 Comments »

95. Việt Nam và Con Rồng

Posted by adminbasam on 09/06/2011

THE WALL STREET JOURNAL

Việt Nam và Con Rồng

Đông Nam Á cần sự ủng hộ của Mỹ để đứng lên chống lại hành xử côn đồ của Trung Quốc

Ngày 8 tháng 6 năm 2011

Việc công khai bày tỏ sự phản đối là điều xảy ra hiếm hoi tại Việt Nam là nơi mà chính quyền cộng sản thường xuyên theo dõi và hạn chế mọi sự tụ tập ở nơi công cộng, nhất là khi sự tụ tập là vì một mục đích chính trị. Vì thế khi các cuộc biểu tình xuất hiện thì đó là một dấu hiệu cho thấy chính quyền đã bắt đầu coi sự công khai bày tỏ sự phản kháng là một vấn đề nghiêm túc để cho phép một sự náo động nào đó không quá ầm ĩ và kết thúc chóng vánh.

Vào hôm Chủ nhật vừa qua tại Hà Nội, hàng trăm người đã tập hợp để phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Hoa Nam [Biển Đông]. Hôm 26 tháng 5, một tàu tuần tra của Trung Quốc được cho là đã cắt đứt cáp thăm dò của một chiếc tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam khi nó đang tiến hành công việc nghiên cứu địa chấn trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam còn tuyên bố rằng tàu của Trung Quốc hôm 1 tháng 6 đã nã đạn cảnh cáo vào ngư dân Việt Nam đang đánh bắt cá ở vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Biểu tình cũng diễn ra tại Thành Phố Hồ Chí Minh vào hôm Chủ Nhật tuần qua và báo chí Việt Nam do nhà nước quản lý chỉ đến lúc ấy mới vội vội vàng vàng công khai chỉ trích cách hành xử kiểu côn đồ của Bắc Kinh.

Những tranh chấp chủ quyền ở Biển Hoa Nam từ lâu nay đã là một vấn đề dễ gây ra sự căng thẳng trong khu vực, song chính sách ngoại giao trong những năm gần đây đã đột ngột rẽ sang một bước ngoặt mang màu sắc gây gổ. Ngay cả trước khi Trung Quốc hồi năm ngoái đã gọi vùng biển giàu tài nguyên mỏ này là một “lợi ích cốt lõi” thì chính sách hàng hải ngớ ngẩn của Bắc Kinh đã dẫn đến những tình huống khó xử không kéo dài song nhiều khi máu đã đổ và báo hiệu một sự xung đột nghiêm trọng hơn.  

Mỗi khi căng thẳng xảy ra thì Việt Nam hầu như đều giữ im lặng. Mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có một lịch sử lâu dài những cuộc xâm lăng của Trung Quốc, thế nhưng mối quan hệ được cải thiện gần đây vẫn khiến Hà Nội e ngại tự khẳng định rõ ràng thái độ chống lại kẻ thù truyền kiếp này. Điều này giờ đây dường như đã sắp sửa thay đổi. Trước đây chính quyền Việt Nam đã bỏ tù các blogger và nhà hoạt động vì họ chỉ trích chính sách bạc nhược của Việt Nam đối với Trung Quốc. Nay thì Hà Nội có vẻ như đã sẵn sàng để kêu gọi sự chú ý trên quy mô rộng hơn tới trường hợp của Việt Nam. 

Điều nan giải nằm ở chỗ Việt Nam có nguy cơ phải chịu sự rủi ro ấy là Việt Nam đang đẩy cao sự quan tâm của nhiều người theo cách đất nước này tự để lộ ra điểm yếu của mình. Mặc dù sáu nước hiện đang có tuyên bố chủ quyền chồng chéo đối với các hòn đảo ở Biển Hoa Nam, song chính sách ngoại giao ở khu vực này hầu như đều lựa chọn hình thức thỏa thuận song phương giữa các bên tranh chấp. Song, giống như các nước khác ở Đông Nam Á đang có tranh chấp chủ quyền như  Philippine, Malaysia và Brunei, Việt Nam một thân một mình đã không có dũng khí để đi đến những thỏa thuận có tính xây dựng với Trung Quốc. Hiện trạng thỏa thuận cho tới lúc này chỉ là dựa trên những tuyên bố khẳng định quyền sử dụng thuộc về lịch sử là điều hoàn toàn không đủ rõ ràng để bắt các bên phải chấp hành.

Vì thế đối với Hà Nội thì việc đặt mối quan hệ song phương ôn hòa nếu không muốn nói là quá ư ôn hòa vào tình thế rủi ro qua việc tán thành tình cảm công khai chống Trung Quốc sẽ dường như là một sự tự sát – trừ phi, dĩ nhiên, Việt Nam có những lý do để tin rằng họ có nhiều bạn bè đứng về phía mình hơn là những gì mà một mối quan hệ thuần túy song phương có thể đem lại. Tại cuộc Đối thoại thường niên Shangri-La tại Singapore vào cuối tuần qua, bộ trưởng quốc phòng của Việt Nam Phùng Quang Thanh đã hưởng ứng người đồng nhiệm của Philippine và Malaysia khi khẳng định rằng sự tranh cãi om sòm giữa nước ông với Trung Quốc được giải quyết mà không cần có sự can thiệp của các bên thứ ba.

Thế nhưng xu hướng rành rành khác xảy ra gần đây nhất lại cho thấy trong đó có một vai trò dứt khoát của các bên thứ ba – của một bên thứ ba, nói riêng. Có lẽ Hà Nội chỉ thừa nhận đãi môi tầm quan trọng của việc đàm phán song phương với Trung Quốc, song Hà Nội từ lâu nay đã nỗ lực tạo điều kiện chắc chắn để có được sự hỗ trợ của Mỹ. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ  Robert Gates đã nói tại Singapore rằng sự hòa giải trung gian hợp pháp của bên ngoài sẽ là chìa khóa để giải quyết sự tranh cãi. “Tôi lo sợ rằng nếu không có luật đi đường [rules of the road] và những cách tiếp cận được thỏa thuận để giải quyết những vấn đề này thì những va chạm chắc chắn sẽ xảy ra.”

Sự ủng hộ của Mỹ chắc chắn sẽ được chào đón. Hiệp hội các nước Đông Nam Á, gọi tắt là ASEAN, có bốn nước có tranh chấp chủ quyền với nhau song đã cố gắng gạt sự tranh cãi nhỏ nội bộ sang một bên để cùng nhau đối phó trước Trung Quốc như là một mặt trận thống nhất. Một bộ quy tắc ứng xử đa phương chính thức ở Biển Hoa Nam được thảo luận từ gần một chục năm nay mới đây đã được sửa lại song có lẽ rồi nó cũng lại chịu số phận bị chỉm nghỉm. Song, với sự ủng hộ của Mỹ, ASEAN có thể tập hợp được sự thống nhất để chủ động ngăn chặn trước một sự xung đột.

Còn về phía Trung Quốc thì bộ trưởng quốc phòng Lương Quảng Liệt đã nói tại  Singapore hôm Thứ Sáu rằng “Trung Quốc cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Hoa Nam,” trong khi ông ta lưu ý rằng những hành động gần đây của hải quân Trung Quốc ở vùng biển này là để theo đuổi “sự phát triển hòa bình.” Cách tốt nhất để đảm bảo các nước khác trong khu vực này đoàn kết được với nhau cùng với Mỹ là chống lại cách hành xử côn đồ của Trung Quốc.

Bài đăng trên trang 11, báo giấy The Wall Street Journal

Ảnh: Người dân Việt  Nam tổ chức một cuộc biểu tình chống Trung Quốc phía trước tòa Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội (AP)

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , , | 1 Comment »

93. Quân đội Mao trên đường chinh phạt

Posted by adminbasam on 09/06/2011

ASIA TIMES-Thời báo Châu Á

Quân đội Mao trên đường chinh phạt

Kent Ewing

Ngày 4-6-2011

HONG KONG – Mao Trạch Đông, người sáng lập Cộng hòa nhân dân Trung hoa, đã mất 35 năm, nhưng bóng ma của ông ta tiếp tục lởn vởn trên nền chính trị của đất nước này. Được minh họa trong các tiểu sử ấn hành gần đây ở nước ngoài như là một trong những kẻ tàn ác nhất thể kỷ  20, nhưng tại chính quốc vẫn là một biểu tượng được tôn kính và một quân đội của những kẻ cuồng Mao duy trì phương cách này. 

Những người bảo vệ huyền thoại Mao đã phát hiện ra rằng một trong những phương pháp tối ưu nhất để lưu giữ kỷ niệm về Người cầm lái vĩ đại luôn bừng sáng là đưa các hình ảnh lên mạng Internet. Nhiều website về Chủ nghĩa Mao đưa ra vô số lời tán dương về lời dạy và các chính sách của ông ta cho dù nó đã mang lại những hậu quả tệ hại. 

Đại nhảy vọt gây nên sự tụt hậu khủng khiếp và đã lấy đi sinh mạng của hàng chục triệu người nhưng những tín đố của Chủ nghĩa Mao vẫn cho rằng nó đã mang lại thành công. Cách mạng văn hóa đã quấy phá, ngược đãi và tàn sát nhiều triệu người hơn thế nhưng các slogan của quân đội vẫn được tán dương bởi những kẻ bảo vệ Mao chủ tịch huyền thoại.    

Cho dù những nỗ lực của các tín đồ, tuy nhiên, những chỉ trích đối với  Mao bởi những nhà vận động cải cách chính trị đang thấm dần lên mức đối thoại quốc gia. Có một thực tế báo động là những kẻ biện hộ cho Mao  lập ra một website  sùng bái Mao có tên là Utopia và địa chỉ truy cập là wyzxsx.com, đã đưa chiến dịch sơ khởi ủng hộ Mao lên bước cao hơn bằng cách kêu gọi “khởi tố công khai” những người cả gan tụ tập chất vấn những vấn đề hóc búa về hình ảnh tôn kính của Mao trong đời sống Trung Quốc.  

Đến nay, chủ trang web, Fan Jinggang  khoe rằng anh ta đã thu thập hàng ngàn chữ ký yêu cầu phạt đối với 2 người chỉ trích Mao mạnh mẽ là kinh tế gia Mao Vu Thức và Tân Tử Linh-nhà văn và cựu quan chức Đại học quốc phòng Trung Quốc. Và Fan chưa dừng ở đó. 

Sau tháng này, Fan sẽ chính thức đệ trình tất cả những khiếu nại đối với những kẻ phỉ báng Mao lên Đai hội toàn quốc và Quốc hội cùng với lời kêu gọi hành luật đối với những người này. Fan cũng là một kẻ a dua nguy hiểm của “Ủy ban hành chính lân cận” bỉ ổi được thiết lập thời kỳ Cách mạng văn hóa để cung cấp số liệu của các hoạt động chống cách mạng cho chính quyền-  những công dân tố giác những kẻ chống Mao với các tổ an ninh công cộng địa phương.  

Không ai biết khi nào thì chiến dịch nhận được sự ủng hộ chính thức nhưng chúng tôi biết rằng một trong những chữ ký thu thập bởi Fan được báo cáo là của Lưu Tư Tề, góa phụ của Mao Ngạn Anh, con trai của Mao bị giết trong chiến tranh Triều Tiên. Việc vận động lấy chữ ký tương ứng với chiến dịch khôi phục niềm tin về Mao trên quy mô lớn do Bạc Hy Lai dẫn đầu-Bạc là  lãnh đạo Đảng cộng sản uy tín của thành phố tự trị Trùng Khánh nằm ở khu vực Đông Nam với 33 triệu dân. 

Bạc, 61 tuổi đã không dấu diếm tham vọng muốn vào Bộ chính trị trong Đại hội tới khi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo bước ra khỏi chính trường và thế hệ lãnh đạo thứ năm sẽ được sắp xếp. Nếu những dự kiến hiện tại theo đúng lộ trình, Hồ sẽ được thay thể bởi cấp phó-Tập Cận Bình và Ôn  được kế nhiệm bởi  phó thủ tướng   Lý Khắc Cường. Tuy vậy vẫn còn nhiều ghế cho người tham vọng trần trụi như Bạc, người hy vọng sẽ sử dụng lòng nhiệt thành của tư tưởng Mao cũng như thành tích chống tội phạm ở Trùng Khánh để đảm bảo một trong những chiếc ghế quyền lực còn lại. . 

Bạc Hy Lai là con trai Bạc Nhất Ba, một lãnh tụ cách mạng  thuộc  Bát lộ quân của Đảng Cộng Sản, trở thành lãnh đạo đảng của Trùng Khánh vào năm 2007. 2 năm sau đó, Bạc thực hiện chiến dịch chống các nhóm tội phạm có tổ chức với quy mô lớn nhất  so với  bất cứ thành phố nào của Trung Quốc. Hơn 2.000 đã bị bắt giữ, không chỉ những đầu đảng xã hội đen ở thành phố mà những quan chức tham nhũng và cảnh sát đã dung túng cho chúng. Tiến trình xử lý theo thủ tục có thể bỏ qua, bức cung và tra tấn được sử dụng để khép tội nhưng ông chủ của chiến chống tội phạm của đảng tại Trùng Khánh đã đưa Bạc lên thành biểu tượng quốc gia. 

Các chiến dịch chống tội phạm bộ ba một cách dày dạn của Bạc được song hành cùng  việc khôi phục tinh thần của  những người theo chủ nghĩa Mao và  những lời dạy dỗ của Người.  Để kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Trung Hoa vào tháng 10/2009, Bạc đã gửi tin nhắn gồm có những trích dẫn lấy từ Sách đỏ của Mao đến mọi người ở Trùng Khánh bằng di động. Thực tế cho thấy rằng, nhờ Bạc mà điện thoại của 13 triệu dân đầy ắp câu chữ của Chủ nghĩa Mao như là “Thế giới là của chúng ta; chúng ta nên đoàn kết để dành lấy các thành tựu”  và “ trách nhiệm và tận hiến có thể chinh phục thế giới và và những đảng viên đảng cộng sản Trung  Quốc có các phẩm chất đó 

Trong những năm gần đây, nhờ vào Bạc mà tượng Mao mọc lên nhiều hơn cây cối ở Trùng Khánh. Năm ngoái, Chiến dịch  phổ biến nhạc đỏ truyền cảm hứng Mao của Bạc đã bắt đầu. Hiện tại, các kênh truyền thanh và truyền hình trong thành phố được yêu cầu truyền đi những bài hát yêu nước kỷ niệm cách mạng và đảng. Các quan chức nhà nước  và học sinh, sinh viên từ tiểu học đến đại học đều phải hát những bài hát này. Bạc và dưới trướng ông ta đã thu thập toàn bộ 36 bài hát,  những bản nhạc trữ tình đệm cho các bài hát đã được phát theo giờ trên phương tiện đại chúng của thành phố phục vụ mục đích khai sáng và giải trí công cộng.   

”Chúng ta phải dùng mọi phương tiện nhằm tổ chức các bài học hát một cách nghiêm túc cho tất cả các cán bộ và nhân dân phục vụ văn hóa tinh thần cho mọi tầng lớp.” Một thông báo của chính quyền đã giải thích. 

Nhưng không phải tất cả mọi người ở Trùng Khánh hoặc các nơi khác của Trung đều muốn hát theo. Chiến dịch lấy chữ ký trên Utopia được khuấy động bởi bản nhận xét gần đây của Mao Vu Thức về cuốn sách của Tân Tử Linh. Sự sụp đổ của Mặt trời hồng phô ra một điểm quan trọng trong những năm tháng của Mao. Bản nhận xét 5.000 chữ, được đưa lên Caing.com, đúng là một văn bản phản bác di sản Mao như cuốn sách đưa ra.

Theo một đoạn trích, Mao Vu  Thức viết: “Mao Trạch Đông không phải là một ông thánh và ông ta sẽ bị hạ xuống bàn thờ, tước bỏ tất cả những huyền thoại được sử dụng nhằm che đậy ông ta và ông chỉ đáng nhận đánh giá như một người bình thường. 

Những gì mà những tín đồ lãng mạn theo Mao lo lắng là sự vạch trần chính thức và tỉ mỉ về huyền thoại của Người cầm lái vĩ đại. Và sự lo sợ của họ đã tăng cao bởi các báo cáo chưa được xác nhận trong một quyết định của  Bộ chính trị vào tháng 12 năm ngoái nhằm loại bỏ tất cả những tham khảo đối với “tư tưởng Mao”  trong các thông cáo của Đảng trong thời tương lai. . 

Cuối cùng, trong khi nhiệt huyết đầy mánh khóe chính trị của Bạc đối với tinh thần kỷ nguyên Mao-những bài hát  và cách ngôn có thể giúp Bạc trở thành một trong những người có quyền lực nhất Trung Hoa vào Đại hội Đảng quan trọng bậc nhất vào năm tới. Không có nhiều khả năng chiến dịch của các trang mạng nhằm ngược đãi những người phỉ báng Mao trong thế kỷ 21 sẽ luôn dành được sự thu hút chính thức. Các lãnh đạo Trung Hoa hiện tại như Bạc sẽ dùng Mao khi họ cần và quên Mao khi thấy không cần thiết. 

Thật vậy, ngoài cuốn sách của Tân Tử Linh hay phê bình của Mao Vu Thức là những điều thực sự gây rắc rối cho tân chủ nghĩa Mao ngày nay. Tinh thần  Mao chủ tịch có thể vẫn còn và mạnh mẽ ở Trùng Khánh nhưng các chính sách của Mao đã chết và bị chôn chặt ở đây và những nơi khác trên đất nước Trung Hoa. 

Kent Ewing là nhà văn kiêm giáo viên ở Hồng Kong. Liên lạc với Kent theo email kewing@netvigator.com

Người dịch: Nguyễn Quang Thạch

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | Tagged: | 7 Comments »

Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Posted by adminbasam on 10/11/2009

THE WALL STREET JOURNAL

Vì sao Bức tường Berlin sụp đổ

Từ Truman cho tới Reagan, những lợi ích của sự rành rẽ về đạo lý

Ngày 9-11-2009

Trong cuộc tranh luận quanh vấn đề xem ai xứng đáng được ghi danh trong việc đã gây nên sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào đêm mùng 9 tháng Mười một năm 1989, nhiều cái tên đã hiện diện trong tâm trí mọi người, cả ở cấp cao lẫn cấp thấp.

Có Günter Schabowski, phát ngôn viên của bộ chính trị Đông Đức khi tình tình trở nên hỗn loạn, người tham gia vào một cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp vào buổi tối hôm đó với việc loan báo bất ngờ rằng những hạn chế đi du lịch của nước này đã được dỡ bỏ “ngay tức khắc”. Có Mikhail Gorbachev, người đã tuyên bố rõ rằng Liên Xô sẽ không đàn áp khốc liệt sức mạnh của nhân dân tại các nước chư hầu như nó đã từng làm trong những thập kỷ trước tại Czechoslovakia và Hungrari. Có những người anh hùng trong phong trào công đoàn Đoàn Kết Ba Lan, ít nhất là có Giáo hoàng John Paul II, người đã làm được nhiều điều để phơi bày sự phá sản hoàn toàn về đạo đức của chủ nghĩa cộng sản.

Và có Ronald Reagan, người đã tin rằng công việc của nghệ thuật quản lý nhà nước phương Tây là tập trung tài lực tinh thần, chính trị, kinh tế và quân sự để không chỉ đơn giản là ngăn chặn khối Số Viết, mà còn phải chôn vùi nó. “Những gì tôi đang mô tả lúc này là một kế hoạch và một niềm hy vọng cho dự tính lâu dài – cuộc tuần hành vì tự do và dân chủ sẽ ném chủ nghĩa Marx-Lenin vào đống tro tàn lịch sử,” ông đã tuyên bố như vậy năm 1982, trước sự ngạc nhiên và chế nhạo của những người chỉ trích mình. Giờ đây, một niềm hy vọng táo bạo.

Tất cả các nhân vật này đã đóng vai trò riêng của mình, khi họ là thế hệ những nhà lãnh đạo đi trước từng khẳng định rằng phương Tây có một bổn phận đạo lý để bảo vệ cho vùng đất tự do nhỏ nhoi lọt thỏm giữa Berlin.

Việc làm trọn bổn phận đó đã phải trả một cái giá – 71 quân nhân Anh và Mỹ đã hy sinh cuộc đời mình trong thời gian thực hiện cuộc Không vận khẩn cấp vào Berlin * – mà những nhà chính trị “thực dụng” hơn có lẽ đã từ bỏ một cách vui vẻ trước lời hứa có những mối quan hệ tốt đẹp hơn với những người Sô Viết. Không phải chỉ có một ít các tướng lĩnh trong Khối NATO đã nghĩ rằng việc bảo vệ Berlin đã làm lộ ra một cách không cần thiết các lực lượng quân sự của họ tại một vị trí không thể chống giữ được về quân sự, khi đem tới cho người Nga một cơ hội tống tiền phương Tây như họ đã từng chủ động thực hiện tại địa điểm có ý nghĩa sống còn hơn về chiến lược, đặc biệt là Cuba.

Tuy nhiên, nếu như lập trường của phương Tây ở Berlin giải thích mọi điều, thì có nghĩa là lời cam kết đạo lý có một cách gặt hái những cổ tức chiến lược vượt thời gian. Bằng cách ra lệnh tổ chức cuộc không vận khẩn cấp vào năm 1948, Harry Truman đã cứu được một thành phố đang chết đói và bất chấp hành động bắt nạt của Liên Xô. Để có ý nghĩa quan trọng, ông đã cho thấy rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ rơi Âu châu lại cho những kẻ chuyên trả thù, như nó đã từng có sau cuộc Đệ nhất Thế chiến, vì vậy mà Hoa Kỳ đã giúp mở đường cho việc thành lập khối quân sự NATO vào tháng Tư năm 1949.

Với việc giữ vững trong 40 năm qua, Truman và những người kế vị ông đã biến đổi những gì được cho là điểm yếu nhất của khối liên minh Đại Tây Dương thành thứ vững mạnh nhất của nó. Để biết về những gì mà phương Tây đã phải chịu đựng trong hầu hết quãng thời gian của những năm đó, người ta đã phải tới Berlin, nhìn thấy Bức tường, xém xét mục đích của nó, và quan sát những sự tương phản giữa khung cảnh phồn vinh đầy sức sống ở bên này thành phố với trạng thái đơn điệu buồn tẻ trong cảnh bị áp bức ở phía bên kia.

Những tương phản đó thậm chí còn rõ ràng hơn đối với những người Đức mắc kẹt lại bị giam hãm bên kia Bức tường. Dây thép gai, những khu quân sự khép kín và cỗ máy tuyên truyền cộng sản có thể giữ cho khung cảnh thịnh vượng của phía Tây không lọt vào tầm nhìn của hầu hết người dân sống bên phía đông của Bức Màn Sắt. Song điều đó không đúng đối với người dân Đông Berlin, nhiều người trong số họ chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ nhà mình là hiểu được mức độ vô nghĩa và vô đạo lý ra sao trong những lời hứa hẹn về chủ nghĩa xã hội so với thực tế của hệ thống thị trường tự do.

Tuy nhiên điều này lại nảy sinh sự khơi gợi rằng thậm chí những thực tế chính trị hiển nhiên đó lại lờ mờ khó hiểu đối với nhiều người dân từng sống trong xã hội tự do và họ cần phải được biết rõ hơn nữa. “Bất chấp những gì mà nhiều người Mỹ suy nghĩ, hầu hết người Liên Xô không thấy khát khao chủ nghĩa tư bản hay nền dân chủ theo hình mẫu phương Tây,” đó là nhận xét của Dan Rather của đài CBS chỉ hai năm trước khi Bức tường sụp đổ. Và khi Reagan đọc bài phát biểu lịch sử của ông kêu gọi ông Gorbachev hãy “kéo đổ bức tường này,” ông đã làm như vậy sau khi được các cố vấn cao cấp của mình cảnh báo rằng cách diễn đạt đó “không phải là với cương vị tổng thống,” và sau khi hàng ngàn người biểu tình đã tuần hành trên khắp phía Tây Berlin với thái độ đối lập.

Nó là một thứ tặng vật cho phẩm hạnh và quyết tâm chiến lược của Reagan, như với bất cứ ai khác từng tham dự phần mình vào việc hạ bệ Bức tường, rằng họ có thể hiểu thấu những lời lẽ ngụy biện của các tuyên truyền viên Sô Viết, những gã du khách phương Tây của họ, và những bè lũ ăn nói đạo lý lập lờ và những kẻ xã giao xảo trá và đơn giản là hãy mở to mắt mà nhìn vào Bức tường.

“Để nhìn vào những gì ngay trước mũi của mình thì cần có một nỗ lực không ngừng,” George Orwell đã từng nói. Đó là những gì mà những người anh hùng của năm 1989 đã làm một cách bình thản với lòng trung thực và can đảm trong nhiều năm liên tục cho đến, ít nhất, là khi Bức tường đổ nhào.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


* The Berlin Airlift – còn được gọi là The Berlin Blockade (24 June 1948 – 12 May 1949): là chiến dịch bao vây phong tỏa Tây Berlin của Liên Xô, dẫn tới cuộc không vận khẩn cấp của Hoa Kỳ, một trong những cuộc khủng hoảng quốc tế lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh (wikipedia).

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Leave a Comment »

Hàn gắn những vết thương khổ đau từ Bức tường Berlin

Posted by adminbasam on 02/11/2009

Daily Mail

Hai mươi năm qua đi, người Đức đã

bằng cách nào hàn gắn những

vết thương khổ đau từ Bức tường Berlin

Chủ nhật, ngày 1-11-2009

Thứ Hai tuần tới là tròn hai mươi năm Bức tường Berlin – biểu tượng đáng sợ của Bức màn Sắt dài 96 dặm – sụp đổ, hợp nhất thành phố sau 28 năm và báo hiệu sự cáo chung của quyền lực cộng sản ở Đông Âu.

Ba bộ đôi hình ảnh đặc biệt này, được chụp tại cùng một địa điểm nhưng cách nhau hàng thập kỷ, tiết lộ về cách thức mà cuộc sống bình thường đã trở lại ra sao cho thành phố từng bị chia cắt trong những năm tháng bị can thiệp, với cuộc đi bộ tuần hành không gì ngăn cản được trong tiến trình dần dần phá hủy hoàn toàn bức tranh của cuộc Chiến tranh Lạnh nghiệt ngã.

Cổng Brandenburg – khởi đầu được xây dựng bởi Vua William Frederick II của nước Phổ năm 1788 – là vật tượng trưng có sức thuyết phục nhất cho sự chia cắt.

CỔNG BRANDENBURG

Trong bức ảnh đầu tiên, được chụp năm 1988, những khách tham quan leo lên một chiếc bục quan sát đặt bên khu vực do người Anh kiểm soát ở Tây Berlin để nhìn được rõ hơn cái biểu tượng qua bức tường cao 12 bộ. Trên chiếc bục quan sát đó, một tấm biển đề nhắc nhủ những người dân Berlin: “Tự do của các bạn là nhiệm vụ của chúng tôi.”

Giữa thời điểm kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến và việc xây dựng lên Bức tường vào năm 1961, đã có 3,5 triệu người Đông Đức chạy trốn sang phía tây. Sau khi nó được dựng lên, có chưa tới 5.000 người trốn thoát.

Hôm nay, quảng trường Pariser Platz, nơi có chiếc Cổng Brandenburg, lại lần nữa là một quảng trường đông đúc nhộn nhịp.

Chiếc cổng giờ đây được bao bọc bởi những tòa nhà mới với kiến trúc cổ điển: phía bên trái là bảo tàng Liebermann Haus, trong khi bên phải là Sommer Haus, nơi trú đóng đại bản doanh của một ngân hàng và tòa đại sứ Hoa Kỳ. Tòa đại sứ các nước Anh, Pháp và Hungari quây tụ ở gần đó.

PHỐ BERNAUER

Tầng trệt của khu nhà ở nằm bên phải bức ảnh đầu tiên – được chụp từ khu vực do người Pháp trú đóng ở Tây Berlin năm 1985 – đã bị nhà chức trách Đông Đức xây bít kín lại sau khi nó được sử dụng cho một loạt các cuộc đào thoát liều lĩnh.

Vào hai đêm của tháng Mười năm 1964, 57 người Đông Đức đã tìm cách trốn thoát sang phía Tây qua một loạt những đường hầm được đào từ tòa nhà chung cư. Những nỗ lực đó đã bị phát hiện và có những phát súng nổ qua lại giữa lính gác biên giới và những người đào hầm.

Dần dần, những tòa nhà nằm kế bên Bức tường đã bị phá hủy nhằm tránh việc có những người trốn chạy liều lĩnh nhảy qua các cửa sổ và nóc nhà – để hoặc là được tự do hoặc là chết. Quân đội Anh đã giúp phá hủy phần Bức tường ở khu vực này, và ngày nay Bernauer Strasse là một con đường và tuyến xe điện chính đông đúc.

Phía nam của Phố Bernauer đã trở thành bộ phận của “mảnh đất chết” ô nhục – một khu vực cấm qua lại, rộng tới 500 thước Anh mà nhiều điểm đã bị dọn sạch để cho lính biên phòng của Đông Đức có được không gian quan sát ngắm bắn thuận lợi, với mệnh lệnh phải bắn những đối tượng nằm trong tầm ngắm của mình. Tổng cộng, đã có 239 người chết khi cố gắng vượt qua Bức tường. Người cuối cùng là Chris Gueffroy, ngày 6 tháng Hai, năm 1989.

Đường băng này có đèn pha chiếu sáng và được kiểm soát chặt bởi 116 tháp canh, 20 trung tâm chỉ huy và chó canh phòng. Nó bao gồm cả những chướng ngại vật ngăn chặn xe cộ – có thể nhìn thấy cận cảnh trên bức ảnh đầu tiên – và được rải sỏi dày kín, khiến ta không thể chuyển động mà không gây nên tiếng ồn được, trong khi đinh được rải bên dưới các ban công nhô ra từ tầng các tòa nhà.

PHỐ EBERT

Bức ảnh thứ nhất được chụp năm 1962, một năm sau khi “Hàng rào Bảo vệ Chống Phát-xít” – là cái tên mà bộ chính trị Đông Đức đặt cho Bức tường – được dựng lên, và cho thấy trọn vẹn quy mô của con đường băng chết chóc này.

Nhìn dọc theo Phố Ebert về phía Cổng Brandenburg, hướng bên trái chỉ còn lại tòa nhà từ thời trước Đệ nhị Thế chiến nằm trong khu vực này. Còn hầu hết đều hoặc bị phá hủy hoặc bị cảnh sát biên phòng dọn sách để làm nhụt chí những người chạy trốn.

Ngày nay, khu vực này đã được gìn giữ và quy hoạch lại để trở thành một khối nhà làm văn phòng nhìn xuống con phố giờ đây đông đúc, đầy những cửa hàng mua bán, các du khách tới thăm và những doanh nhân. Những tòa nhà mới bất ngờ mọc lên trên nền đất hoang cũ – những công trình kỷ niệm một nước Đức mới, và tất nhiên, về chủ nghĩa tư bản phương Tây đã mang tới cho nó.

Sau khi tái thống nhất, Berlin đã chi ra 50 triệu bảng Anh để giật đổ Bức tường, xóa bỏ những dấu vết của nó và trang trí lại những công trình kiến trúc mà chủ nghĩa cộng sản đã để cho rơi vào tình trạng đổ nát, với việc con đường băng chết chóc trở thành thứ bất động sản được săn lùng và đắt đỏ nhất của thành phố.

Ở cuối Phố Ebert, cách xa nửa dặm, là Potsdamer Platz nổi tiếng, nơi từng là một trong những khu mua sắm bận rộn nhất ở Berlin thời tiền chiến.

Trong suốt những năm tháng dài của cuộc Chiến tranh Lạnh, giao lộ và quảng trường đông đúc bận rộn đó đã bị con đường băng chết chóc nuốt chửng – song giờ đây nó đã lần nữa lại vươn dậy như trái tim mới đầy sức sống của thành phố được trẻ lại này. 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Leave a Comment »

Lenin đã chết vì căn bệnh giang mai

Posted by adminbasam on 23/10/2009

Daily Mail

Lenin, lãnh tụ cách mạng Nga đã chết do

căn bệnh tình dục giang mai, chứ không phải

vì một cơn đột quỵ, các sử gia tuyên bố

Phóng viên Daily Mail

Ngày 23-10-2009

Các sử gia từ lâu đã thống nhất rằng lãnh tụ Cách mạng Nga Vladimir Ilyich Lenin đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông.

Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lenin qua đời vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai.

Liên Xô đã cố gắng hết sức để che giấu lý do thực sự cho lối hành xử bất thường và những cơn thịnh nộ xảy ra thình lình trong nhiều năm của Lenin đã dẫn đến cái chết của ông vào năm 1924.

Nhưng giờ đây tác giả người Anh tên là Helen Rappaport tin rằng cô đã tìm thấy bằng chứng, chứng minh rằng Lenin bị luetica endartitis – giang mai thần kinh – một loại bệnh có ảnh hưởng đến não.

Trong hồ sơ lưu trữ tại Đại học Columbia ở New York, cô [Helen Rappaport] đã tìm thấy bản tham chiếu liên quan đến sự thật hiển nhiên về căn bệnh của Lenin do nhà khoa học lỗi lạc người Nga Ivan Pavlov (*) ghi lại.

Chủ nhân giải Nobel – người nổi tiếng với thí nghiệm về phản xạ có điều kiện của chó – đã có lần nói rằng ‘cách mạng đã được thực hiện bởi một người điên rồ mắc bệnh giang mai não,’ cô [Helen] đã phát hiện ra [Pavlov nói vậy].

Rappaport – người đã viết vài cuốn sách về lịch sử Nga – tin rằng: có khả năng ông ta (Lenin) đã bị lây bệnh từ một gái mại dâm ở Paris vào khoảng năm 1902.

Liên Xô quy cho những hành vi thất thường của Lenin là do xơ cứng động mạch – một căn bệnh ảnh hưởng đến não và có nhiều đặc tính giống như bệnh giang mai.

Từ cuối năm 1921 ông ta đã bị những cơn đau dữ dội dẫn đến bại liệt.

Rappaport  nói rằng vào lúc cái chết đến với mình, ông ta đã bị tàn tật, bất lực, không thể tự đi đứng được, và bệnh tật đã tước đi cái tài diễn thuyết và ông thường có cái nhìn chòng chọc, điên dại.
Rappaport đã tiết lộ sự thật này tiếp theo sau việc xuất bản cuốn sách của mình nhan đề: ‘Âm mưu: Lenin sống tha hương’ như cô ấy đã khẳng định để chứng minh cho những gì cô xác nhận.

Cô nói: “Đó là niềm tin ngấm ngầm của các nhà khoa học và bác sĩ hàng đầu trong điện Kremli rằng Lenin chết vì bệnh giang mai, nhưng nhiều thập kỷ qua họ đã bị các nhà chức trách bắt buộc phải giấu đi.

Nhưng xem qua tất cả [hồ sơ], không có tiếng nói nào mạnh hơn việc khẳng định về sự thật này là Ivan Pavlov, vị giáo sư vĩ đại phát minh ra học thuyết [phản xạ có điều kiện] về chó.

Lenin nói chuyện các chiến sĩ quân đội Liên Xô tại Quảng trường Đỏ ở Matxcơva ngày 25 tháng 5 năm 1919

Thi hài của lãnh tụ Bôn-sê-vích Vladimir Lenin nằm trong lăng bên trong Quảng trường Đỏ ở Matxcơva

‘Sau cuộc cách mạng năm 1917, Pavlov đã trở nên chống đối quyết liệt với những người Bôn-sê-vích (Bolshevic) và những gì ông nhìn thấy đều như là ‘Phòng thí nghiệm kiểu Sô Viết’ khổng lồ mà ở đó con người bị đối xử còn tệ hơn cả lũ ếch nhái trong phòng thí nghiệm.

‘Tuy nhiên, nhận thấy thiên tài và khả năng hữu ích của Pavlov đối với đất nước, nên Lenin đã không ngừng ve vãn ông’.

Rappaport kể rằng Pavlov đã được phép đưa ra tuyên bố gây tranh cãi như thế về tình trạng của Lenin là vì lãnh tụ nước Nga đã ban cho ông quyền miễn trừ do đã nhận ra sự hữu dụng của ông đối với đất nước này như thế nào.

Trên đường tới một cuộc họp ở London, Pavlov đã dừng lại để thăm một người bạn cũ ở Paris, bác sĩ Mikhail Zernov.

‘Trong cuộc trò chuyện, Pavlov đã xác nhận với Zenov rằng Lenin đã mắc bệnh giang mai và trong thời gian là nhà lãnh đạo Sô Viết, ông đã biểu lộ tất cả những dấu hiệu thông thường của những người bị bệnh với chứng bại liệt ngày càng lộ rõ do hậu quả của căn bệnh xã hội mang lại,’ Rappaport nói.

‘Pavlov biết rằng từng có các nhà khoa học xuất chúng được mời tới để nghiên cứu bộ não Lenin sau cái chết của ông năm 1924 và tất cả đều đồng ý với chẩn đoán này

‘Đó là một bí mật mà ai cũng biết trong số chúng tôi, song tất nhiên là không ai công bố công khai và không có hồ sơ chính thức nào của Liên Xô chứng minh điều này.

‘Các bác sĩ của Kremlin từng nghiên cứu về Lenin đều bị cấm nói về chuyện này -  có thể phải chịu hình phạt tử hình – và đã bị buộc phải tiêu hủy tài liệu chính thức.’

Có nhiều tên tuổi nổi tiếng khác trong quá khứ, từng mắc phải chứng bệnh giang mai như Nietzsche, Maupassant, Goethe và Donizetti (**), những người đã phải trải qua những giai đoạn có những hành vi bất thường khủng khiếp, tiếp theo sau những cơn vật vã do cơ thể bị suy sụp hoàn toàn.

—–

Ba Sàm chú thích:

* Ivan Pavlov: là nhà sinh lý học, tâm lý học, thầy thuốc người Nga. Ông là người đã giành giải Nobel về Sinh lý và Y khoa năm 1904 về công trình nghiên cứu hệ tiêu hóa. Thập niên 1890, Pavlov đã nghiên cứu chức năng dạ dày của chó bằng cách quan sát dịch vị của chó tiết ra. Ông để ý rằng chó thường tiết dịch vị khi phát hiện ra các tín hiệu báo sự xuất hiện của thức ăn. Ông đã làm hàng loạt thí nghiệm trên loài chó để sau đó cho ra định luật cơ bản mà ông gọi là “phản xạ có điều kiện”.

** Nietzsche (1844-1900): triết gia đồng thời là tác gia văn chương vĩ đại người Đức

Henri René Albert Guy de Maupassant (1850-1892): Nhà văn Pháp nổi tiếng

Domenico Gaetano Maria Donizetti (1797-1848): Nhà soạn nhạc người Ý

Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832): Nhà thơ, kịch tác gia, triết gia, nhà thần học, … vĩ đại người Đức


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Bài được dịch đăng trên Ba Sàm từ năm 2009, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, phải đăng lại, nên những phản hồi ban đầu không còn.

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | 8 Comments »

Phỏng vấn cựu Ngoại trưởng LX Shevardnadze

Posted by adminbasam on 22/10/2009

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Cựu Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze:

“Tôi đã góp phần vào việc

kết thúc chiến tranh lạnh”

Thứ Hai, ngày 19-10-2009 *

Trong phòng làm việc của cựu ngoại trưởng Liên Xô, nguyên tổng thống Grudia Eduard Shevardnaze có một mảnh bức tường Berlin với dòng chữ “Eduard, danke” (Eduard, cảm ơn ông), và các bức chân dung của những nhân vật đã gắn liền với sự kiện lịch sử ấy vào cuối thế kỷ 20, Baker, Reagan, Gorbachev, Giáo hoàng John Paul II. Shevardnadze, mái tóc đã bạc trắng nhưng đôi mắt còn rất sáng và nói năng hết sức minh mẫn, bình luận: “Lịch sử không có sự khoan dung. Đó là một quá trình dài và không ai có thể ngăn cản được, và nó mạnh hơn con người. Chúng ta đã đi qua được cuộc Chiến tranh Lạnh và rồi một cuộc chiến khác lại đang mở ra. Bao thập kỷ sau Chiến tranh lạnh, con người chẳng học được gì từ bài học lịch sử”.

Ngôi nhà của vị ngoại trưởng cuối cùng của Liên bang Xô viết nằm trên một ngọn đồi ở thủ đô Tbilisi của Grudia, được bảo vệ nghiêm ngặt bởi những con chó hung dữ giống Cápcadơ và những cây thông cổ thụ. Tại đó, người đàn ông 81 tuổi từng có một thời có ảnh hưởng hết sức lớn lao lên nhân loại đã đưa ra từ hồi ức của mình về các sự kiện của những năm cuối thập niên 1980. Được coi là một trong những kiến trúc sư của thời kỳ lịch sử ấy, “con sói già” của ngành ngoại giao Liên Xô không hề ngạc nhiên trước sự sụp đổ của bức tường Berlin: “Tôi biết là trước sau gì thì điều đó cũng sẽ xảy ra. Trách nhiệm của một nhà ngoại giao là phải nhìn thấy được những diễn biến của tương lai, nhưng Moscow không hề giúp đỡ hay tìm cách ngăn chặn quá trình đó và để cho sự việc xảy ra theo cách đó là chuyện riêng của những người Đức”. Vành đai sắt bao quanh Đông Âu và khối XHCN bấy giờ bung từng mảng một, từ Tiệp Khắc cho đến Hungari, và dòng người Đông Đức ùa vào. Buổi sáng ngày 10/9/1989, khi Budapet mở cửa biên giới với Áo, chỉ trong vài tuần lễ, 67 nghìn người đã tràn qua ngả đó, và rồi, ngày 9/11/1989 … Shevardnadze trả lời phỏng vấn nhật báo Italia “Il Riformista”.

- Ngài ở đâu vào thời điểm đó?

+ Tại Moscow, khi vừa trở về từ Berlin. Sự sụp đổ của bức tường trên thực tế chỉ là bước cuối cùng của một quá trình, mà điểm khởi đầu của nó đã diễn ra từ trước. Tôi nhận được thông tin một cách chi tiết và cập nhật thông qua đại sứ quán Liên Xô ở Berlin. Sự thay đổi lúc ấy diễn ra từng giờ, ai cũng có thể cảm nhận được, thậm chí nghĩ là sờ mó được, nhưng không ai biết là sự việc sẽ đi đến đâu.

- Bức tường sụp đổ. Suy nghĩ của ngài lúc đó ra sao?

+ Đấy là sự kết thúc của một thời kỳ, nhưng cũng là sự mở ra của một thời kỳ khác. Gió đã đổi chiều. Bức tường trở thành một biểu tượng cần phải đạp đổ.

- Người ta đã tính tới khả năng sử dụng can thiệp quân sự hoặc can thiệp của KGB?

+ Nguy cơ ấy là có, vì thời điểm đó có 500 nghìn quân Liên Xô đồn trú ở Đông Đức. Gorbachev và tôi bay tới Berlin để tránh cho điều xấu nhất xảy ra. Nếu tôi đến đó một mình thì không ăn thua, còn ông ấy là người đứng đầu Liên Xô và quân đội không được phép chống lại ông ấy. Quân đội, do đó, đã không hề can thiệp và chúng tôi đã tránh được một cuộc chiến tranh.

- Phản ứng của Moscow lúc đó ra sao?

+ Thất vọng tràn trề. Đối với những ủy viên trung ương đảng đã ủng hộ tiến trình perestroika (cải tổ chế độ kinh tế và chính trị của Liên Xô) của Gorbachev, thì việc đập bỏ bức tường Berlin chỉ là sự khởi đầu cho quá trình kết thúc Chiến tranh Lạnh, nhưng hầu hết các thành viên cao cấp của đảng thì bị sốc. Họ tự hỏi, sau sự sụp đổ của bức tường sẽ là gì?

- Các ngài có sợ sự ra đời của một nhà nước Đức mới và thống nhất nằm ở trung tâm của châu Âu?

+ Hơn 20 triệu người Liên Xô đã thiệt mạng trong Chiến tranh thế giới thứ 2, đừng quên điều đó. Đối với nhiều người, để mất Đông Đức cũng là một cách chứng tỏ hy sinh của hàng triệu người chống chủ nghĩa phát xít là vô ích.

- Sau khi bức tường sụp đổ, là quá trình thống nhất nước Đức … [đoạn này có thể được TTXVN cắt bỏ? - BS]

- Bức tường sụp đổ thì quá trình tái thống nhất là không thể tránh khỏi. Vài tháng sau đó, vào tháng 2/1990, tôi có mặt ở Ottawa, Canada, để thảo luận về một vấn đề khác, dự án “những bầu trời rộng mở”, do tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) đề xuất, nhưng trên thực tế, các nhà ngoại giao bàn luận về vấn đề nước Đức thống nhất ra sao. Trong suốt mấy tháng trước đó, Mỹ đã ra sức thuyết phục Anh và Pháp ủng hộ việc này. Cuối cùng, OSCE đề nghị lập ra một nhóm có tên gọi tắt là 2+4, nghĩa là 2 nước Đức và 4 nước chiến thắng trong cuộc Thế chiến II là Pháp, Anh, Liên Xô và Mỹ, sẽ chịu trách nhiệm về các vấn đề lớn mang tính đối ngoại của quá trình tái thống nhất (gia nhập NATO ra sao, quân đội thế nào …). Nhưng trách nhiệm thực hiện các công việc chính là do 2 nước Đức tự thu xếp với nhau.

- Gorbachev có đồng ý không?

+ Lúc đầu thì không. Tôi gọi điện cho ông ấy từ Ottawa để có được sự chấp thuận của Gorbachev. Tôi giải thích cho ông ấy dự án của “nhóm liên lạc”. Chúng tôi nói chuyện trong chưa đầy 2 phút, nhưng cảm thấy đấy là một cuộc điện đàm dài kinh khủng. Thế rồi ông ấy bảo, “được rồi, cứ tiến hành đi.”

- Ngài và Gorbachev đã tiến hành quá trình perestroika để chấm dứt sự tồn tại của chủ nghĩa cộng sản. Thế nhưng, trong chính hệ thống ấy, ngài đã lớn lên và nhờ nó mà ngài leo lên đến đỉnh cao chính trị. Điều này có phải trái ngược không?

+ Liên bang Xô viết lúc ấy đang trở thành một đế chế suy tàn, một cỗ xe lớn cần phải được tu sửa. Lịch sử dạy chúng ta rằng, các đế chế không thể tránh khỏi sụp đổ.

- Ngài đã nhắc đến một cuộc Chiến tranh lạnh mới …

+ Thế giới ngày nay chắc chắn là an toàn hơn, nhưng không hề dễ dàng đạt được điều ấy. Trong những năm qua, gió đã đổi chiều, mối căng thẳng giữa Mỹ và Nga đã trở lại. Và rồi Obama xuất hiện.

- Điều gì đã thay đổi với sự xuất hiện ấy?

+ Obama chính là niềm hy vọng, một tổng thống trẻ và khôn ngoan. Quyết định không tiếp tục theo đuổi việc đặt hệ thống lá chắn tên lửa ở Ba Lan và Cộng hòa Séc đã làm thay đổi lại cán cân lực lượng và bàn cờ ngoại giao. Nước Nga không thể không tiến hành một hành động như thế, do đó có lẽ sẽ dừng kế hoạch hoặc làm chậm lại chương trình lắp đặt tên lửa của mình ở Kaliningrad.

- Hiện nay, Nga và Mỹ đang đối đầu nhau …

+ Nhưng bây giờ có thêm nhiều nhân vật mới xuất hiện, như Trung Quốc và Liên minh châu Âu, những người có vai trò then chốt trên bàn cờ ngoại giao. Điều quan trọng nhất là chúng ta không trở về với quá trình chạy đua vũ trang. Số tiền dành cho trang bị quân sự nên được dành cho nhân dân.

- Liên Xô là một đế chế suy tàn như ngài nói, nhưng rất nhiều người nhớ tiếc nó.

+ Những khó khăn trong cuộc sống làm sống lại các hồi ức là điều đương nhiên, ở Nga cũng như ở Đông Đức trước đây. Nhưng giấc mơ lớn của người Đức là thống nhất đất nước, và họ đã làm được điều đó.

- Ngài tự hào về điều gì?

+ Về việc tôi đã đóng góp phần quan trọng trong quá trình thống nhất nước Đức, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và đã ngăn chặn được quá trình chạy đua vũ trang và mối đe dọa hạt nhân. Tôi đã gặp Reagan 8 lần và thành công trong việc thuyết phục người Mỹ rằng chúng tôi không phải là một chế độ xấu xa.

- Những sai lầm và nuối tiếc của ngài?

+ Trên bình diện quốc tế thì không. Nhưng với Grudia thì có. Nhưng đấy lại là một câu chuyện khác.

——

* Mời xem thêm: Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”.

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Tagged: , , , | 4 Comments »

Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”

Posted by adminbasam on 20/10/2009

Tuyệt!

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Mikhail Gorrbachov: “Tôi đã để cho

Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”

Thứ Năm, ngày 8-10-2009

Dưới đây là bài trả lời trên nhật báo La Repubblica (Italia) của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, nguyên Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorrbachov nhân kỷ niệm 20 năm ngày sụp đổ Bức tường Berlin. Gorrbachov sẽ đến Italia vào giữa tháng 10 để tham dự một hội thảo quốc tế do Diễn đàn chính trị thế giới (WPF) mà ông làm chủ tịch tổ chức để nhìn lại sự kiện lịch sử này.

20 năm sau, Mikhail Gorrbachov hồi tưởng lại những sự kiện đã xảy ra mà ít người biết đến trong sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Ngồi trong phòng làm việc của mình ở Moscow, ông nói về những diễn biến của ngày ấy với một sự bình thản. Nhưng bản thân những lời nói của ông lại toát ra biết bao nhiêu tình cảm, sự hài lòng và cả những uất ức về những gì ông đã chứng kiến trong các năm 1988 và 1989, những năm tháng không thể nào quên đã tạo ra một phần của lịch sử thế kỷ 20. Ông nhớ lại những người dân Berlin đã hướng về phía ông mà kêu lên “Gorby”, hãy ở lại cùng với chúng tôi”, “Gorby tự do”. Ông nhớ lại những cuộc gặp mặt với các đảng cộng sản Đông Âu khác trong thời điểm lịch sử thế giới chuẩn bị sang trang mới, những cuộc điện đàm kéo dài với Thủ tướng Đức Helmut Kohl, với “đồng chí” Erich Honecker, người đứng đầu đảng cộng sản Đông Đức, những cuộc chiến nhằm duy trì “perestroika” (sự cải tổ chế độ kinh tế và chính trị của Liên Xô) trong đảng cộng sản Liên Xô và cả những nỗ lực của phương Tây trong việc ngăn chặn quá trình thống nhất nước Đức. “Tất cả đều chống lại tiến trình ấy. Thatcher khẳng định điều đó từ London, Mitterrand từ Paris, Andreotti từ Roma. Họ sợ. Họ muốn ngăn chặn người Đức thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh trở lại và họ chờ đợi Liên Xô đưa xe tăng vào Đức cùng với quan lính của Gorrbachov. Trong những cuộc gặp gỡ chính thức, tôi luôn nói thẳng thắn với họ, từng người một về vấn đề nước Đức thống nhất. Thậm chí Mitterrand còn đến gặp tôi ở Kiev. Về câu chuyện này, tôi xin nói thẳng, chỉ có 2 dân tộc anh hùng, là người Đức và người Nga.”

- Gorrbachov, từ khi nào ngài nhận thấy rằng đã đến thời điểm để nước Đức thống nhất?

- Lịch sử không thể diễn ra trong một ngày và tôi không thể chỉ ra chính xác một ngày cụ thể nào. Trên thực tế, sự sụp đổ của Bức tường Berlin chỉ là hồi chót của một quá trình đã diễn ra từ rất lâu. Khi Liên Xô bắt đầu tiến hành một loạt thay đổi mang tính bước ngoặt, như tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên, thì ở các nước Đông Âu khác, những cuộc cách mạng đầu tiên cũng diễn ra, theo cả cách êm đẹp và không êm đẹp, khi bắt đầu tiến trình giải trừ quân bị giữa Mỹ và Nga để chấm dứt Chiến tranh Lạnh, với việc tháo bỏ các đầu đạn hạt nhân, thì chúng tôi đứng trước một thực tế hết sức buồn bã, là nước Đức, chỉ nước Đức, đang đứng trước con đường lịch sử. Người Đức cảm thấy bị xúc phạm. Và tôi hiểu điều đó.

- Theo ngài, đâu là thời điểm bắt đầu cho việc tái thống nhất nước Đức?

- Chúng ta đang nói về năm 1988. Đấy là lúc ở Đức bắt đầu xuất hiện những cuộc biểu tình đầu tiên. Tại Moscow, chúng tôi nhận được các tin tức nói rằng các công dân Đông Đức đang tìm cách sang Cộng hòa Liên bang Đức thông qua ngả biên giới Hunggari, lúc đó đã mở cửa biên giới với Áo. Điều tương tự cũng xảy ra với đại sứ quán Đức ở Ba Lan và Tiệp Khắc, nơi mà người Đông Đức có thể xin tị nạn chính trị dễ dàng hơn. Số người làm đơn xin sang Tây Đức theo dạng này ngày càng lên cao và tới một con số khổng lồ vào mùa Hè năm 1989. Những điều đó xảy ra trước khi báo chí nắm được tình hình, rất lâu trước khi Hans-Dietrich Genscher (ngoại trưởng Đức bấy giờ) tuyên bố tại Praha, Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia), rằng nước này sẽ mở cửa biên giới với Cộng hòa liên bang Đức. Lịch sử đã được viết theo cách ấy và các sự kiện tiến triển theo từng ngày, với 2 khả năng duy nhất xảy ra, hoặc là chúng ta tìm cách để chế ngự chúng và phát triển theo ý chúng, hoặc là chúng ta bị chúng cuốn trôi.

- Như vậy là vào lúc đó, ngài cho rằng việc thống nhất nước Đức là không thể tránh khỏi?

- Những gì mà tôi biết được vào cuối năm 1988 là đã quá muộn để ngăn chặn các sự kiện này lại. Người Đông Đức không hề có ý định chấm dứt các cuộc biểu tình để trở về nhà và họ đấu tranh đến cùng, cho đến khi đạt được mục đích mới thôi. ngày 26/1/1989, trong khi ở Berlin đang diễn ra những cuộc biểu tình mới, tôi triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của trung ương đảng cộng sản Liên Xô mở rộng, với sự có mặt của các đại diện tướng lĩnh quân đội, để hỏi ý kiến của họ. Tất cả cùng thống nhất rằng người Đức sẽ không chịu buông xuôi và họ không còn tuân lệnh của Liên Xô nữa.

- Đảng cộng sản Liên Xô không cảm thấy sợ hãi trước sự thống nhất của nước Đức sao?

- Đấy là một thời điểm hết sức nóng bỏng. Trong đảng nổ ra những cuộc đấu tranh nảy lửa chống lại tôi và chống lại perestroika. Lúc đó, hàng loạt cải cách về chính trị cũng như những cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của chúng tôi được đưa ra bàn luận. Năm 1989, trung ương đảng họp ngay sau khi diễn ra cuộc bầu cử vào tháng 3 với kết quả rất đáng chú ý, là bầu cử tự do, danh sách ứng cử từ 7 đến 27 thành viên, thay vì một cái tên duy nhất như trước đây. Lần đầu tiên tất cả các tổ chức và lực lượng chính trị đưa ra các ứng viên của họ và cuối cùng, 35 bí thư ở các vùng của đảng không trúng cử. 84% các nghị sĩ quốc hội Liên Xô là đảng viên đảng cộng sản. Trong cuộc họp ấy, trung ương đảng không chấp nhận cho nước chúng tôi cũng như các quốc gia khác cấu thành khối các quốc gia trong hiệp ước Vacsava, có thể quyết định quyền tự chủ nếu như thay đổi những người lãnh đạo. Đấy là cơ hội để những người chống đối trong đảng đứng lên chống lại những cải cách chính trị và coi đó như là những đe dọa chết người đối với họ, và họ chống đối rất quyết liệt. Họ đã từng im lặng trong một thời gian dài, vì không có đủ can đảm để bước lên đấu tranh. Rất nhiều lần tôi đã phải dùng nắm đấm để đập lên bàn nhằm giữ trật tự.

- Thế còn những nhà lãnh đạo Đức thì sao?

- Năm 1989, tôi sang Đức 2 lần. Tháng 6/1989, tôi sang Bonn và gặp Kohl. Đó là một cuộc nói chuyện rất chân tình. Các nhà báo có hỏi tôi về việc liệu chúng tôi có bàn với nhau về các sự kiện xảy ra trên đất Đông Đức không. Dĩ nhiên là chúng tôi có thảo luận về điều ấy, nhưng chúng tôi không quyết định điều gì cả. Đấy không phải là một vấn đề có thể bàn bạc trên bàn. Chính lịch sử sẽ phán xét chúng tôi. Khi nào ư? Tôi và Kohl cùng đưa ra câu trả lời cứ như là chúng tôi cùng một lúc nhất trí với nhau về điều ấy: không phải thế kỷ 21. Tuy nhiên, các sự kiện đi theo một con đường khác. Điều mà chúng tôi thấy rõ ràng là không thể ngăn cản được những gì xảy ra trên đất Đức. Kohl đã gọi điện cho tôi nhiều lần và câu hỏi mà tôi luôn nghe là “Chúng ta phải làm gì đây?”. Tôi nói với ông ấy: “Ngài cứ bình tĩnh và không được làm bất cứ điều gì manh động, nếu không chúng ta sẽ gặp rắc rối lớn đấy”. Chính vào lúc ấy, ông ấy đưa ra 10 điểm bàn về việc để cho 2 nước Đức sát lại gần nhau, với một loạt lộ trình quan trọng cho việc thống nhất. Ở Moscow, chúng tôi không cảm thấy hào hứng lắm với việc làm của Kohl, nhưng chúng tôi hiểu là việc tiến hành bầu cử ở nước Đức thống nhất sau này đã buộc ông ấy phải hành động.

- Ngài thấy điều gì khi đến Berlin?

- Tôi tới Berlin vào ngày 6/10/1989, để kỷ niệm 40 năm ngày thành lập nước Cộng hòa dân chủ Đức. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, tôi nhận thấy một bầu không khí bất ổn. Quyền lực của đảng đã không còn giúp họ kiểm soát được đất nước nữa. Đấy là một thực tế được thừa nhận, chưa nói gì đến các vấn đề có liên quan trực tiếp đến Bức tường Berlin. Có cảm giác là người Đức cảm thấy dường như mình đã bị bỏ rơi và lãng quên, chỉ riêng họ thôi, trong khi thế giới xung quanh đã thay đổi nhanh chóng, mà điều ấy thì bức tường lại ra sức ngăn cản. Người dân không còn chịu đựng được nữa. Từ nhiều tháng trước đó, các quảng trường luôn chật cứng những người biểu tình chống chế độ. Khi tôi sang đó, trong những sự kiện được tổ chức nhân 40 năm quốc khánh Đông Đức, có cả Fackelzug, lễ rước đuốc tuần hành, với sự tham gia của các đại diện từ 28 vùng trong cả nước. Đứng trước tôi có một nhóm thanh niên trẻ trung gào lên bằng tiếng Đức, “Gorrbachov, hãy ở đây một tháng nữa thôi”, “Gorby, tự do”. Thủ tướng Ba Lan Tadeusz Mazowiecki đến gặp tôi và nói: “Mikhail Sergeevich, ngài có hiểu tiếng Đức không?”. Tôi trả lời: “Đọc hiệp định bằng tiếng Đức thì khó, chứ những gì mà họ gào lên với tôi, tôi hiểu cả”. Ông ấy trả lời: “Thế thì bây giờ ngài sẽ hiểu rằng đấy chính là sự kết thúc”.

- Có đúng là Honecker đã tiết lộ với ngài một trong những rắc rối lớn nhất của ông ta không?

- Tôi đã gặp ông ấy trong những ngày đó và nói chuyện khá dài, ít nhất là 3 tiếng. Tôi quan sát ông ấy khá kỹ và tôi cảm thấy ông ấy không ổn lắm, tôi có cảm giác là dường như tất cả không hiểu được sự vĩ đại của những sự kiện đang xảy ra quanh họ, không biết được những gì mà họ phải đối đầu ở phía trước. Chính vì thế, ngày hôm sau, tôi đề nghị được gặp tất cả các ủy viên trung ương đảng cộng sản Đông Đức. Tôi không buộc tội ai cũng như không buộc ai phải phản ứng. Trung thành với nguyên tắc mà tôi đã chọn, tôi kể lại cho họ nghe về perestroika, về việc tại sao và như thế nào mà trong một số trường hợp, chúng ta đưa ra những quyết định chậm trễ khiến phải trả giá đắt và nếu ngược lại thì như thế nào. Trong một số trường hợp, chúng ta lại tỏ ra quá vội vã, tự đẩy chúng ta vào những tình huống hết sức khó khăn. Tôi nói rằng để nắm bắt được tiến trình đang xảy ra, cần phải hết sức thông minh. Thế rồi bài nói chuyện hôm đó trở nên nổi tiếng, và được đúc kết lại thành công thức “Ai đến chậm, lịch sử sẽ trừng phạt người đó.”

- Mikhail Sergeevich, các nhà lãnh đạo châu Âu phản ứng như thế nào. Họ muốn duy trì sự tồn tại của Bức tường Berlin ư?

- Ngoại trừ Mỹ ra, tất cả đều phản đối. Thacher khẳng định là bà không ủng hộ. Bà không nói điều này một cách công khai, mà nói trong một cuộc gặp chính thức với tôi. Andreotti chống lại và đặc biệt Mitterrand chống kịch liệt. Ông nói: “Tôi yêu nước Đức rất nhiều. Tôi muốn cứ duy trì hai nước Đức cùng lúc. Tất cả các nhà lãnh đạo Âu châu đều sợ, nhưng họ lại không đưa ra được bất cứ đề xuất nào về việc làm sao để đối phó với tình hình. Tôi nói rõ với họ là tôi muốn bức tường sụp đổ và nước Đức cần thống nhất, nhưng họ muốn chúng tôi ngăn cản họ lại, bằng quân đội của Gorbachov. Tất cả đều đến gặp tôi, từng người một, và yêu cầu một cách công khai. Mitterrand thậm chí còn sang tận Kiev để bàn bạc với tôi về vấn đề này.

- Ngài có hối hận điều gì không?

- Tôi đã nghĩ đến điều này hàng nghìn lần trong những năm qua, rằng điều gì có thể sẽ xảy ra, nếu như quân đội và xe tăng sẽ rời trại để lên đường đến Berlin. Chắc chắn sẽ có đổ máu. Thế chiến thứ 3 có thể sẽ tới. Tôi bây giờ có thể tin chắc vào điều đó. Phần còn lại, thì tôi đã nói ngay từ đầu, với lãnh đạo các nước trong khối Vácsava, rằng Liên Xô sẽ không can thiệp vào nội tình nước họ. Họ có thể không tin tôi, nhưng tôi luôn giữ lời. Chúng tôi không hề nhúng tay vào bất cứ việc gì liên quan họ. Và đấy chính là bi kịch lớn của họ.

* Mời đọc thêm: Cựu Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze: “Tôi đã góp phần vào việc kết thúc chiến tranh lạnh”.

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , | 3 Comments »

Trung Quốc-một đế chế đang tự chối bỏ mình

Posted by adminbasam on 14/07/2009

Financial Times

Trung Quốc một đế chế đang tự chối bỏ mình

Gideon Rachman

Ngày 13-7-2009

 

Khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, thì có một bất ngờ hiển nhiên là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết chưa bao giờ là một quốc gia đích thực. Nó từng là một đế chế gồm nhiều quốc gia được gắn kết lại với nhau bằng vũ lực. Liệu có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ lại nói lên điều tương tự với Trung Quốc hay không?

Tất nhiên, bất cứ gợi ý nào như vậy cũng đều được chào đón bằng cơn giận dữ nổi lên ở Bắc Kinh. Các nhà chính trị của Trung Quốc là những người theo chủ nghĩa thực dụng có khuynh hướng hiện đại khi khuynh hướng này trở thành thứ mánh lới trong quản lý kinh tế. Thế nhưng chúng trở lại thứ ngôn ngữ của chủ nghĩa Mao khi những câu hỏi về sự toàn vẹn lãnh thổ được đề cập đến một cách khái quát. Những người ủng hộ cho độc lập của Đài Loan là “những kẻ gây chia rẽ”. Đức Dalai Lama, nhà lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, đã được mô tả như là một “quái vật với một khuôn mặt người và một trái tim dã thú”. Những người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đã nổi loạn dữ dội vào tuần trước bị tố cáo như là những công cụ của các thế lực nước ngoài nham hiểm.

Theo David Shambaugh, một giáo sư đại học, bài học chính mà người Trung Quốc rút ra được từ việc nghiên cứu sự sụp đổ của Liên Xô là phải ngăn ngừa “tư tưởng giáo điều, tầng lớp tinh hoa xã hội được củng cố, các tổ chức đảng không hoạt động, và một nền kinh tế trì trệ”.

Đó là một danh mục ấn tượng. Thế nhưng nó lại bỏ sót một điều hiển nhiên. Liên Xô rốt cục đã sụp đổ phần vì sức ép từ các dân tộc khác nhau của mình. Năm 1991, Liên Xô đã bị tách ra thành các nước cộng hòa độc lập.

Dĩ nhiên, những so sánh không phải là chính xác. Những tộc người Nga chỉ hình thành nên hơn nửa dân số Liên Xô. Người Hán của Trung Quốc chiếm trên 92% dân số. Tuy nhiên Tây Tạng và Tân Cương là những biệt lệ. Khoảng 90% dân số Tây Tạng vẫn là người thuộc các dân tộc Tây Tạng. Những người Duy Ngô Nhĩ chỉ chiếm chưa tới nửa dân số Tân Cương. Không đâu trong cả hai khu vực này thấy dễ chịu khi hòa nhập vào phần còn lại của đất nước – tức thực hiện nó một cách nhẹ nhàng. Những cuộc nổi loạn vào tuần trước tại Tân Cương đã đưa đến những cái chết của hơn 180 người, cuộc dấy loạn dân sự đẫm máu nhất được biết đến ở Trung Quốc kể từ vụ [thảm sát trên] Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Cũng có những cuộc dấy loạn nghiêm trọng tại Tây Tạng ngay trước Thế vận hội năm ngoái.

Trong một đất nước có hơn 1,3 tỉ người, thì 2,6 triệu ở Tây Tạng và 20 triệu ở Tân Cương nghe như có vẻ không quan trọng. Thế nhưng cùng với nhau, những nơi giải thích cho nguyên nhân khi chiếm tới một phần ba khu vực đất đai rộng lớn của Trung Quốc – và khi một tỉ lệ rộng lớn những nguồn dự trữ không tương xứng của nó với dầu lửa và khí gas. Đúng như những người Nga lo sợ ảnh hưởng của Trung Quốc lên vùng Siberia, thì theo cách đó người Trung Quốc lo sợ rằng vùng Tân Cương theo đạo Hồi có thể bỏ theo Trung Á.

Những dân Hán Trung Quốc nhập cư đã phải chịu đựng tình cảnh nguy ngập trong các cuộc bạo động sắc tộc làm náo động xứ Tân Cương. Song phản ứng lăng mạ và dễ gây xúc động của Trung Quốc đối với các biến động ở Tân Cương là điển hình của một đế chế đang ở trong tình trạng bị thách thức. Với nước Anh ở Ireland, Thổ Nhĩ Kỳ ở châu Phi và nhiều nơi khác, điệp khúc luôn luôn là những người địa phương tỏ ra vô ơn đối với mọi lợi ích được đổ xuống cho họ.

Vào giữ những năm 1990 tôi đã có một cuộc trò chuyện với một vị tướng người Indonesia từng bị xúc phạm thực sự bởi những gì mà ông nhìn nhận như là thái độ vô ơn của các cư dân hung bạo ở Đông Timor, sau tất cả những con đường và ngôi trường đẹp đẽ được Jakarta bỏ tiền ra xây dựng.

Đặc biệt Trung Quốc đã không được trang bị những gì để hiểu về chủ nghĩa dân tộc nội trong đường biên giới của mình do nhiều quan chức chính phủ đơn giản không chấp nhận, hoặc thậm chí hiểu thấu, cái tư tưởng “tự quyết”. Qua nhiều năm tuyên truyền của nhà nước về sự cần thiết phải hợp nhất với đất mẹ, và những hệ quả lịch sử tàn khốc của một nước Trung Hoa bị phân liệt, mang ý nghĩa rằng những quan điểm tuyên truyền đó được chia sẻ rất rộng khắp. Tôi từng gặp một người bất đồng chính kiến Trung Quốc từng chống đối mạnh mẽ quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản. Nhưng khi tôi gợi chuyện rằng có lẽ Đài Loan cần được độc lập, nếu như điều đó là thứ mà người dân mong muốn, thì tức khắc cái chủ nghĩa tự do trong anh ta biến mất. Điều đó là không thể tưởng tượng nổi, tôi tin chắc vậy. Đài Loan là một phần không thể chuyển nhượng của Trung Quốc.

Tuy nhiên tư tưởng cho rằng Tây Tạng và Tân Cương có thể khao khát trở thành những dân tộc tự quyết không phải là chuyện vô lý. Trung Quốc khăng khăng rằng cả hai khu vực này đã là một phần không thể tách rời của tổ quốc qua nhiều thế kỷ. Dù thế nào, thì cả hai nơi này cũng đã trải qua những thời kỳ độc lập trong thế kỷ 20. Đã có một nước Cộng hòa Đông Thổ tồn tại ngắn ngủi ở Tân Cương, rồi bị tiêu diệt bởi sự có mặt của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc năm 1949. Tây Tạng từng trải qua thời kỳ độc lập trên thực tế giữa năm 1912 và 1949.

Trong hoàn cảnh hiện nay, sự tan rã của Trung Quốc có vẻ rất không chắc xảy ra. Về lâu dài, một dòng di dân người Hán đều đặn tới Tân Cương và Tây Tạng sẽ làm suy yếu đi những khuynh hướng ly khai. Đức Dalai Lama, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng, thậm chí đang không còn đòi độc lập nữa. Một số người Duy Ngô Nhĩ có thể muốn tranh đấu hơn – nhưng họ thiếu người lãnh đạo và sự đồng cảm của quốc tế là thứ từng bênh vực cho sự nghiệp của Tây Tạng.

Những năm tháng dưới thời Mikhail Gorbachev và sự biến mất đế chế Sô Viết ở đông châu Âu từng tạo nên một mức độ rối loạn chính trị trong lòng Liên Bang CHXHCN Sô Viết thì lại không tồn tại trong nước Trung Hoa hiện thời. Nhà nước Trung Quốc thành công nhiều hơn về kinh tế, liều lĩnh hơn và quyết chí hơn bằng đổ máu để giữ cho đất nước không bị chia cắt.

Đàn áp bằng bạo lực đối với chủ nghĩa ly khai có thể rất có hiệu quả trong một thời gian. Thế nhưng nó có nguy cơ tạo nên những mối bất bình nuôi dưỡng những hoạt động đòi độc lập tồn tại qua nhiều thế hệ.

Trong khoảng khắc ngắn ngủi, những nhà hoạt động tranh đấu cho Tân Cương hay Tây Tạng có vẻ như tuyệt vọng và thất bại. Đó thường là số phận của những chiến sĩ nằm trong những người dân vô danh và bị áp bức. Những người Baltic và Ukraina lưu vong từng nuôi dưỡng những khát vọng của dân tộc mình trong suốt kỷ nguyên Sô Viết dường như có vẻ kỳ quặc và không đáng sợ trong nhiều thập kỷ. Họ là những chiến sĩ nguyên mẫu của những sự nghiệp bị thất bại. Cho đến một ngày, họ đã chiến thằng.

Hiệu đính: Trần Hoàng

———————-

 

Financial Times

China is now an empire in denial

By Gideon Rachman

Published: July 13 2009 19:06 | Last updated: July 13 2009 19:06

When the Soviet Union collapsed in 1991, it suddenly became obvious that the USSR had never been a proper country. It was a multinational empire held together by force. Might we one day say the same of China?

Of course, any such suggestion is greeted with rage in Beijing. Chinese politicians are modern-minded pragmatists when it comes to economic management. But they revert to Maoist language when questions of territorial integrity are touched upon. Supporters of Taiwanese independence are “splittists”. The Dalai Lama, the spiritual leader of the Tibetans, has been described as a “monster with a human face and an animal’s heart”. The Muslim Uighurs who rioted violently last week were denounced as the tools of sinister foreign forces.

According to David Shambaugh, an academic, the main lesson that the Chinese drew from studying the collapse of the USSR was to avoid “ dogmatic ideology, entrenched elites, dormant party organisations, and a stagnant economy”.

It is an impressive list. But it misses out one obvious thing. The Soviet Union ultimately fell apart because of pressure from its different nationalities. In 1991, the USSR split up into its constituent republics.

Of course, the parallels are not exact. Ethnic Russians made up just over half the population of the USSR. The Han Chinese are over 92 per cent of the population of China. Yet Tibet and Xinjiang are exceptions. Some 90 per cent of the population of Tibet are still ethnic Tibetans. The Uighurs make up just under half the population of Xinjiang. Neither area is comfortably integrated into the rest of the country – to put it mildly. Last week’s riots in Xinjiang led to the deaths of more than 180 people, the bloodiest known civil disturbance in China since Tiananmen Square in 1989. There were also serious disturbances in Tibet just before last year’s Olympics.

In a country of more than 1.3bn people, the 2.6m in Tibet and the 20m in Xinjiang sound insignificant. But together they account for about a third of China’s land mass – and for a large proportion of its inadequate reserves of oil and gas. Just as the Russians fear Chinese influence over Siberia, so the Chinese fear that Muslim Xinjiang could drift off into Central Asia.

Han Chinese immigrants suffered badly in the race riots that convulsed Xinjiang. But China’s emotional and affronted reaction to the upheavals in Xinjiang is typical of an empire under challenge. With the British in Ireland, the Portuguese in Africa and many others besides, the refrain was always that the locals were ungrateful for all the benefits that had been showered upon them.

In the mid-1990s I had a conversation with an Indonesian general who was genuinely outraged by what he regarded as the ungrateful attitude of the brutalised population of East Timor, after all the lovely roads and schools that had been paid for by Jakarta.

China is especially ill-equipped to understand ethnic nationalism within its borders because many government officials simply do not accept, or even grasp, the idea of “self-determination”. Years of official propaganda about the need to reunify the motherland, and the disastrous historical consequences of a divided China, means that these attitudes are very widely shared. I once met a Chinese dissident who was strongly opposed to Communist party rule. But when I suggested that perhaps Taiwan should be allowed to be independent, if that was what its people wanted, his liberalism disappeared. That was unthinkable, I was assured. Taiwan was an inalienable part of China.

Yet the idea that Tibet and Xinjiang could aspire to be separate nations is by no means absurd. China insists that both areas have been an inseparable part of the motherland for centuries. However, they both experienced periods of independence in the 20th century. There was a short-lived East Turkestan Republic in Xinjiang, which was extinguished by the arrival of the Chinese People’s Liberation Army in 1949. Tibet experienced de facto independence between 1912 and 1949.

As things stand, the break-up of China looks very unlikely. Over the long term, a steady flow of Han immigrants into Xinjiang and Tibet should weaken separatist tendencies. The Dalai Lama, Tibet’s spiritual leader, is not even calling for independence. Some Uighurs may be more militant – but they lack leadership and the international sympathy that bolsters the Tibetan cause.

The Mikhail Gorbachev years and the loss of the Soviet empire in eastern Europe created a degree of political turmoil inside the USSR that does not exist in contemporary China. The Chinese state is much more economically successful, more confident and more willing to shed blood to keep the country together.

Violent repression of separatism can be very effective for a while. But it risks creating the grievances that keep independence movements alive across the generations.

For the moment activists campaigning for Xinjiang or Tibet look forlorn and defeated. That is often the fate of champions of obscure and oppressed peoples. The Baltic and Ukrainian exiles who kept their countries’ aspirations alive during the Soviet era seemed quaint and unthreatening for decades. They were the archetypal champions of lost causes. Until, one day, they won.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Posted in Khối XHCN sụp đổ, Trung Quốc | Tagged: , | Leave a Comment »

Tự Do báo chí ở Nga (2)

Posted by adminbasam on 15/06/2009

SPIEGEL

“Không có bài báo nào là đáng phải trả giá bằng cả một sinh mệnh”

(Tiếp theo phần 1-197)

Matthias Schepp, từ Moscow

Ngày 9-6-2009

 

“Lebedev đã trở nên quan tâm tới tờ Novaya khi ông bước vào con đường chính trị,” theo lời của một trong những đồng sự của ông trùm tư bản này từ những ngày ông còn làm cho cơ quan tình báo đối ngoại.

Khi ông nắm được ngân hàng National Reserve Bank vào những năm giữa 1990, Lebedev đã tuyển một số người trong cộng đồng tình báo vào nắm những vị trí giám đốc hàng đầu cho ông.

Người đứng đầu hội đồng quản trị ngân hàng, một người bạn cũ của Lebedev, đã cưới người chị em gái của Anna Politkovskaya, một nhà báo hàng đầu của tờ Novaya Gazeta, cô Anna đã bị bắn chết vào tháng Mười năm 2006. Lebedev đã đưa ra đề nghị cho một khoản tiền thưởng hơn 980.000 đô la cho thông tin đưa tới việc bắt giữ được những kẻ giết người.

Một trong những đồng sự cũ của ông từ thời ông còn làm ở ngành tình báo, người yêu cầu giữ kín danh tính, nhớ lại thời cùng làm việc với Lebedev tại tòa Đại sứ Liên Xô ở London vào những năm cuối 1980. Vào những ngày tháng đó, hầu hết nhà ngoại giao Liên Xô đều mặc những bộ đồng phục rộng thùng thình và đeo những cặp kính mát có gọng sừng. Thế nhưng, Lebedev tự thết đãi mình bằng một cặp kính hiệu Cartier vào ngày sinh nhật của ông, và tiếp đó ông bắt đầu giải thích cho những người khác lý do vì sao lại có chuyện đó.

“Ông ấy vượt xa những người còn lại trong đám chúng tôi, và ông ấy cứ đều đặn đưa ra  nhiều ý tưởng khác nữa,” theo nhận xét một cựu đồng chí của ông trong cơ quan tình báo Liên Xô KGB. Lebedev vẫn có một điểm yếu về tình cảm giành cho thủ đô London, nơi ông đã giành được một tờ báo khác, tờ Evening Standard, vào tháng Một 2009.

Các địch thủ thực sự của ông là ở trong nước, đặc biệt có kẻ thù không độ trời chung với ông là Yuri Luzhkov, thị trưởng Moscow đầy quyền lực. Lebedev từng cho xuất bản một cuốn sách mỏng trong đó ông liệt kê tất cả những lời hứa suông, không bao giờ làm của Luzhkov.

Thế nhưng có một vài lời chỉ trích quá mức được viết về  Luzhkov trên tờ Novaya. Tòa nhà nơi trú ngụ của toà soạn báo, được thuê với mức giá thấp, là thuộc về thành phố. Điều ấy cho thấy rằng Novaya có những hạn chế của nó khi tờ báo phơi bày những những điểm yếu của giới quyền lực.

Tìm kiếm để thay đổi thực tế

Tuy nhiên, không có tờ báo của Nga nào làm cho đời sống của giới quyền thế trên đất nước này khá là không thoải mái giống như tờ báo Novaya. Và không có ai tượng trưng cho cuộc chiến đấu giữa David-và-Goilath có hiệu quả hơn là Elena Milashina. Cô ta chỉ mới 31 tuổi, cao 1m59 – và đã bắt quả tang được chính phủ Nga  nói dối. Bà cũng đã dũng cảm đối diện với một tổng thống Hoa Kỳ.

Sau một buổi lễ trao các giải thưởng để tưởng niệm cho nhà báo bị sát hại Anna Politkovskaya, nhà báo trẻ này đã lợi dụng một buổi tiếp tân do cựu Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush thết đãi để giải thích với tổng thống lý do vì sao bà coi Vladimir Putin là “một kẻ tội phạm.” Bà đã làm vài cuộc nghiên cứu về cuộc khủng hoảng con tin ở Beslan.

Vào tháng Chín năm 2004, lực lượng vũ trang của điện Kremlin đã đột kích tấn công một ngôi trường ở Beslan nơi bị các phần tử khủng bố Chechen chiếm giữ. Thế nhưng Malashna đã tìm ra thông tin gợi lên rằng những kẻ khủng bố đã không kích hoạt quả bom mà chúng đã cài đặt trước đó. Thay vì đó, những đòn tấn công của các tay súng của lực lượng đặc biệt Nga rõ ràng đã châm ngòi cho thảm hoạ. Ngoài 31 kẻ khủng bố, 334 học sinh, cha mẹ, thầy cô giáo và các binh lính đã chết trong vụ Beslan.

Sau vụ chiếc tàu ngầm nguyên tử Kursk bị chìm vào tháng Tám năm 2000, Milashina đã nói chuyện với 53 sĩ quan và chuyên gia, trong đó có 27 đô đốc và thiếu tướng hải quân cùng với hạm đội Nga, cho mãi tới khi, như bà nói, bà “có thể nhắm mắt để hướng dẫn mọi người đi một vòng tham quan chiếc tàu ngầm nguyên tử đó.” Cuối cùng, bà đã có thể chứng minh rằng một số ít trong 118 thuỷ thủ đã bị mắc kẹt trong chiếc tàu ngầm chìm sâu 108m dưới biển vẫn còn sống từ ba tới bốn ngày – chứ không chỉ vài ba giờ, như chính phủ đã khăng khăng trong nỗ lực nhằm bào chữa cho khẳng định của họ rằng một sứ mệnh giải cứu là không thể thực hiện được.

Cô Malashina lúc đó mới 22 tuổi. “Novaya là tờ báo duy nhất mà tôi có thể hành nghề báo thực sự,” hiện giờ, cô ta phát biểu như thế. “Chúng tôi giúp đỡ người dân theo những cách rất đặc biệt.” Các biên tập viên của tờ báo tìm cách thay đổi thực tại, thay vì chỉ mô tả nó.

Vì lý do đó, mà một số nhà báo đôi khi phải từ bỏ vai trò của một nhà quan sát và tự đặt bản thân mình vào trong một phần của những câu chuyện của họ. Đấy là một trong những  chỉ trích về nhà báo đã bị sát hại Anna Politkovskaya, cả ở Nga lẫn tại phương Tây. Bà đã giúp di tản những người già đã về hưu ra khỏi thành phố Grozny đang xảy ra giao tranh và đưa họ tới những ngôi nhà dành cho người đã nghĩ hưu ở Nga.

Bà Politkovskaya không phải là trường hợp đơn lẻ. Đồng nghiệp của bà là Vyacheslav Izmailov, một cựu binh của cuộc chiến Chechen và là một chuyên gia về khu vực Caucasus, đã giúp giải thoát cho 170 con tin từ quân Chechen. Ông đã khám phá ra bằng chứng về vai trò liên quan của Tổng thống chuyên chế Chechen Ramzan Kadyrov với những vụ tra tấn, và ông đang đoan chắc rằng cái dấu vết trong vụ sát hại Politkovskaya đều dẫn tới Kadyrov và đội quân của ông ta.

Thế nhưng bài báo của Izmailov vẫn chưa được đăng, chắc có lẻ bởi vì bằng chứng hổ trợ (cho quan điểm của ông ta) vẫn chưa đủ sức kết luận về chuyện ấy. Bởi có thể, theo như Mutarov nói, “không một bài báo nào là đáng giá bằng một sinh mệnh nào khác.”

Mutarov, Lebedev và Gorbachev tạo nên bộ ba lãnh đạo để bảo vệ cho Novaya trong những thời điểm đen tối, khi tờ báo đã từng gần như đi tới phá sản, hoặc khi những tin đồn không đúng làm lung lay sự tín nhiệm về ban biên tập của tờ báo.

Trong một sai lầm nổi tiếng, tờ báo đã cho đăng một bài về người đứng đầu chương trình hạt nhân của Nga, người nầy dường như đã bị cáo buộc về hành động biển thủ tiền viện trợ quốc tế và tìm cách xin vào làm công dân Hoa Kỳ. Vấn nạn duy nhất là bài báo này không đúng sự thực, đã và đang được thêu dệt và pha chế bởi một ấn phẩm trào phúng bằng tiếng Anh được xuất bản tại Moscow.

Những thất bại như vậy khá là đau đối với bộ ba lãnh đạo bởi vì ba người đàn ông này đã từng biết nhau trong hai chục năm qua. Hai mươi năm trước, Gorbachev vẫn còn là tổng thống và tổng bí thư Đảng Cộng sản. Vào một buổi tối, trong một chuyến viếng thăm London để tham dự một hội nghị thượng đỉnh các nước công nghiệp, nơi ông đang tranh đấu để có một khoản vay hàng tỉ đô la, ông đã phải nghỉ lại tại tòa đại sứ. Mọi người tán dương Gorbachev, người mà theo thể cách điển hình, là đã đề nghị các khách mời có lời phê phán ông. Một viên bí thư sứ quán mảnh khảnh đã đứng dậy và giải thích rằng khoản vay có thể sẽ đưa đất nước vào một cái bẫy nợ nần và có lợi cho những kẻ cho vay hơn là cho nhà nước ở Moscow. Người đàn ông đó là Lebedev.

“Những người còn lại trong chúng tôi đã phải nín thở. Một nhà ngoại giao còn trẻ đang có ý kiến trái ngược với người lãnh đạo nhà nước Liên Xô,” một đồng nghiệp cũ của Lebedev trong KGB kể lại.

Novaya Gazeta đại diện cho một sự tiếp nối của cuộc chạm trán đó. Gorbachev đang sử dụng tờ báo để chiến đấu cho công việc cuộc đời ông, và đảm bảo rằng ít nhất một số dấu vết của chính sách công khai của nhà nước về sự không dấu diếm và bàn bạc thảo luận về các thực tế chính trị và kinh tế cho dân chúng biết[glasnost], sự cởi mở và dân chủ vẫn còn có trong kỷ nguyên của Putin.

Gorbachev, người giành Giải thưởng Hòa bình Nobel, từng biếu tặng 300.000 đô la từ tiền nhuận bút cuốn sách của ông cho các biên tập viên của tờ Novaya để từ đó họ có thể mua sắm các computer (để làm việc). Hôm nay, ông ngồi trong phòng làm việc của mình, một bức tranh chân dung của ông với người vợ quá cố Raisa treo trên tường sau lưng. Bà Raisa cũng đã có một mối quan hệ đặc biệt với tờ báo: trong những năm 1990, bà đã biếu cho ban biên tập tờ báo chiếc điện thoại di động đầu tiên của tờ báo.

Và Lebedev thì thế nào? Ngày nay, ông vẫn còn đang có khả năng đóng vai một phần tử vô chính phủ gây động chạm, như ông đã từng làm một lần nọ (đối với Gobachev) tại Tòa Đại sứ Liên Xô ở London (trong chuyện mượn nợ 1989).

Hiệu đính: Trần Hoàng

————————

 

SPIEGEL

PRESS FREEDOM IN RUSSIA

Part 2: ‘No Story Is Worth another Life’

By Matthias Schepp in Moscow

“Lebedev became interested in Novaya when he went into politics,” says one of the magnate’s colleagues from his days working for the foreign intelligence agency. When he took over the National Reserve Bank in the mid-1990s, Lebedev recruited some of his top managers from the intelligence community. The head of the bank’s administrative board, an old friend of Lebedev, is married to the sister of Anna Politkovskaya, a star reporter for Novaya Gazeta who was shot dead in October 2006. Lebedev offered a reward of more than €700,000 ($980,000) for information leading to the arrest of the murderers.

One of his former colleagues from his days in intelligence, who insists on remaining anonymous, remembers working with Lebedev at the Soviet Embassy in London in the late 1980s. In those days, most Soviet diplomats wore baggy suits and

horn-rimmed glasses. Lebedev, however, treated himself to a pair of Cartier glasses for his birthday, and then proceeded to explain to the others why appearance matters. “He was far ahead of the rest of us, and he was constantly coming up with ideas,” says his former KGB comrade. Lebedev still has a soft spot for London, where he acquired another newspaper, the Evening Standard, in January.

His real rivals are at home, especially his archenemy Yuri Luzhkov, the powerful mayor of Moscow. Lebedev once published a pamphlet in which he listed all of Luzhkov’s broken promises.

But there are few overly critical words written about Luzhkov in Novaya. The building that houses the paper’s editorial offices, for which it pays a low rent, belongs to the city. It appears that even Novaya has its limits when it comes to exposing the foibles of the powerful.

Seeking to Change Reality

Nevertheless, no other Russian newspaper makes life quite as uncomfortable for the country’s power elite. And no one symbolizes this David-and-Goliath struggle more effectively than Elena Milashina. She is 31, a diminutive 1.59 meters (5′2″) in height — and she has already caught the Russian government in a lie. She has also boldly confronted a US president.

After an awards ceremony to commemorate the murdered journalist Anna Politkovskaya, the young journalist took advantage of a reception given by former US President George W. Bush to explain to the president why she considers Vladimir Putin to be “a criminal.” She had done some research on the Beslan hostage crisis.

In September 2004, the Kremlin had its forces storm a school in Beslan that was occupied by Chechen terrorists. But Milashina found information suggesting that the terrorists did not set off the bomb they had installed. Rather, ricochets coming from the guns of the Russian special forces apparently triggered the catastrophe. In addition to 31 terrorists, 334 schoolchildren, parents, teachers and soldiers died in the Beslan incident.

After the sinking of the Kursk nuclear submarine in August 2000, Milashina spoke with 53 officers and experts, including 27 admirals and rear admirals with the Russian fleet, until, as she says, she “could have led a tour through that nuclear submarine with my eyes closed.” In the end, she was able to prove that a few of the 118 sailors trapped in the submarine 108 meters (354 feet) below sea level were alive for three to four days — not just a few hours, as the government had insisted in an effort to justify its claim that a rescue mission was impossible.

Milashina was 22 at the time. “Novaya is the only place where I can truly practice journalism,” she says today. “We help people in very specific ways.” The paper’s editors seek to change reality, instead of merely describing it. For that reason, some of the journalists occasionally abandon the role of observer and make themselves into part of their stories. This was one of the criticisms of slain journalist Anna Politkovskaya, both in Russia and in the West. She evacuated retirees from the embattled city of Grozny and placed them in Russian retirement homes.

Politkovskaya was no isolated case. Her colleague Vyacheslav Izmailov, a veteran of the Chechen war and an expert on the Caucasus region, helped liberate more than 170 hostages from the Chechens. He uncovered evidence linking despotic Chechen President Ramzan Kadyrov to torture, and he is convinced that the trail in Politkovskaya’s murder leads to Kadyrov and his cohorts.

But Izmailov’s story hasn’t been printed yet, perhaps because the supporting evidence is not yet conclusive enough. Of perhaps, as Muratov says, “no story is worth another life.”

Muratov, Lebedev and Gorbachev make up the triumvirate that protected Novaya in bad times, when the newspaper almost went out of business, or when inaccurate reporting shook the credibility of its editorial team. In a famous blunder, the paper ran a story on the head of the Russian nuclear program, who had apparently been accused of embezzling international aid money and seeking US citizenship. The only problem was that the story wasn’t true, having been concocted by a Moscow-based English-language satirical publication.

Such fiascos are all the more painful to the trio because the three men have known each other for the past two decades. Twenty years ago, Gorbachev was still president and the general secretary of the Communist Party. One evening, during a visit to London to attend a summit of industrialized nations, where he was fighting for a loan worth billions, he was unwinding at the embassy. Everyone praised Gorbachev who, in his typical manner, asked the guests for their criticism. A slim embassy secretary stood up and explained that the loan would lead the country into a debt trap and was more beneficial to the lenders than to Moscow. The man was Lebedev.

“The rest of us held our breath. A young diplomat was contradicting the leader of the Soviet Union,” says Lebedev’s former KGB colleague.

Novaya Gazeta represents a continuation of that encounter. Gorbachev uses it to fight for his life’s work, and to ensure that at least some vestige of glasnost, openness and democracy is retained in the Putin era. Gorbachev, a winner of the Nobel Peace Prize, once donated $300,000 (€215,000) from his book royalties to the Novaya editors so that they could buy computers. He sits in his office today, a portrait of his late wife Raisa on the wall behind him. She too had a special relationship with the paper: In the 1990s, she gave the editorial staff its first mobile phone.

And Lebedev? He is still capable of playing the impudent anarchist today, just as he once did at the Soviet Embassy in London.

Translated from the German by Christopher Sultan

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Báo chí, Khối XHCN sụp đổ | Tagged: , | Leave a Comment »

Tự do báo chí ở Nga (1)

Posted by adminbasam on 09/06/2009

SPIEGEL

Tờ báo được yêu thích ở phương Tây,

nhưng bị căm ghét tại nước nhà (phần 1)

Các phóng viên của tờ Novaya Gazeta cần có những sợ dây thần kinh vững vàng – bốn trong các phóng viên của tờ này thường trú tại Moscow đã bị sát hại. Thế nhưng tờ báo lại có những người bạn quyền lực, trong đó có Mikhail Gorbachev và nhân vật chính trị đầu sỏ Alexander Lebedev.

Matthias Schepp, từ Moscow

Ngày 9-6-2009

Olga tỏ ra vừa khiếp sợ vừa lo lắng khi cô lướt những ngón tay quanh chiếc phong bì. Người gửi có vẻ là nhân vật quyền thế: “Phủ Tổng thống”. Nó có phải là thư gửi từ Kremlin hay không? “Nhưng sao cảm thấy chiếc phong bì là lạ,” theo lời kể của Olga, thư ký của tổng biên tập tờ báo tiếng Nga Novaya Gazeta.

Khi cuối cùng cô mở chiếc bì thư, cô liền có cảm giác ớn lạnh và sởn gai ốc: những chiếc tai lừa. “Ở đây ai đó cũng cần có những sợi dây thần kinh vững vàng,”cô nói. Bốn trong số các nhà báo của tờ báo này đã bị sát hại, và một trong số các luật sư của bản báo đã bị bắn chết giữa ban ngày ban mặt.

Những chiếc tai lừa đã được nối tiếp sau đó ít ngày bằng một mẩu thịt vấy máu. Lần này không có địa chỉ nơi gửi trên phong bì. Và rồi một người đàn ông kỳ dị đã đề nghị với tổng biên tập tờ báo một khoản tiền hối lộ.

Khi tờ báo điều tra vụ việc, họ đã phát hiện ra rằng có một nhà hoạt động chính trị với một nhóm được gọi là Nashi đứng đằng sau những hành động bí ẩn. Nishi, một tổ chức thanh niên được Kremlin kiểm soát, trước đó đã tiến hành các hoạt động phản kháng trước cửa văn phòng ban biên tập tờ báo và phát động một chiến dịch chống lại tờ Novaya Gazeta. Một quãng thời gian ngắn sau đó, Tổng thống Dmitry Medvedev đã có một quyết định cho bản báo này một cuộc phỏng vấn.

Tình hình tỏ ra không rõ ràng. Một mặt, tờ báo, được phát hành ba lần một tuần và có một số ấn phẩm đáng nể là 270.000 bản, là mục tiêu của thái độ tức giận của giới quyền thế ở Moscow, do nhiều lần họ thấy có những bài viết chỉ trích họ trên báo. Mặt khác, tờ Novaya Gazeta bất ngờ đang được hưởng sự bảo vệ từ các quan chức ở những cấp cao nhất trong chính phủ.

Có phải đúng là do vai trò của Novaya Gazeta, giờ đây là tờ báo nổi tiếng nhất của Nga ở nước ngoài hay không? Có phải Novaya đúng như các nhà lãnh đạo vẫn gọi nó, là một pháo đài của tiếng nói tự do dân chủ hay không?  Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier, ứng cử viên thủ tướng thuộc Đảng Dân chủ Xã hội trong các cuộc bầu cử vào tháng Chín tới tại Đức, đã loan báo những kế hoạch viếng thăm các văn phòng toà soạn báo vào tuần này. Và thậm chí có một cơ hội là Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama có thể ghé qua vào đầu tháng Bảy này.

Bơi cùng lũ cá mập

Ngay trước buổi trưa khi Sergei Sokolov, với hiệu lệnh như một viên hạ sĩ quan huấn luyện tại một doanh trại quân đội, anh loan báo “hội nghị xuất bản” trong hành lang tòa soạn báo. Trước đó, trong thời gian nghỉ, anh đã gửi một bức bưu ảnh tới các bạn đồng nghiệp với những câu anh viết trong đó “Tôi đang bơi cùng với lũ cá mập”. Chiếc bưu ảnh đã được ghim lên tấm bảng trong tòa soạn báo. Bên cạnh nó, có ai đó viết: “Những con cá mập tội nghiệp.”

Sokolov là nhà tư tưởng số hai trong ban biên tập. Ông hướng những luồn ý tưởng đến từ tổng biên tập Dmitry Muratov mà không phải thách thức vai trò quyền lực của tổng biên tập. Khi Muratov đưa các ý tưởng cho bài báo tới 60 thành viên ban biên tập, là nó báo hiệu như là một âm mưu hạ bệ chính phủ – hoặc ít nhất cũng là một vài bộ trưởng trong chính quyền.

Một trong những bài báo của tờ báo này đã tiết lộ rằng một nhà quản trị của ngân hàng thuộc nhà nước, cũng như vài bộ trưởng có ảnh hưởng, được viện dẫn đã cho xây dựng những tòa biệt thự xa xỉ dọc bên sông Moskva – tại một khu bảo tồn thiên nhiên mà trên thực tế đã có một lệnh cấm xây dựng công trình. Trong một vấn đề mới đây của tờ báo, Roman Shleinov, một trong những ngôi sao trong một tập hợp các nhà báo có tài năng và táo bạo khác thường của tờ báo, đã bóc trần một mạng lưới các công ty mà ông khẳng định là họ đại diện cho một mối liên hệ giữa một nhóm mafia với những bà con thân thuộc của Thủ tướng Vladimir Putin.

Shleinov cũng đã chỉ trích gay gắt những mưu đồ của hãng năng lượng khổng lồ Gazprom, và ông thậm chí đã miêu tả những vụ bắt cóc và tống tiền những nhà lãnh đạo doanh nghiệp được thực hiện bởi các sĩ quan cơ quan của FSB, cơ quan tình báo trong nước của Nga. Những phát hiện là đáng chú ý, song những phản ứng thì sao? Trên thực tế chẳng có gì.

“Chúng tôi có thể cho đăng một bức ảnh cho thấy Putin đang nhận một va-li tiền mặt. Nhưng không ai quan tâm tới điều này,” ông nói. Ahleinov là một Sisyphus [một nhà vua thời Hy Lạp cổ đại-BS] trong nghề báo chí điều tra – một Sisyphus phải chịu những áp lực.

Có được cách tiếp cận thông tin báo chí không phải là một vấn đề khó ở Nga, ví dụ như so với Trung Quốc. Mặc dù truyền hình bị nhà nước kiểm soát trên diện rộng, nhưng phạm vi của những quan điểm trên các tờ báo và trên Internet là rộng hơn, lấy ví dụ như ở Đức.

Đất nước này phải chịu đựng một loại tai ách khác biệt hoàn toàn: đó là ngay cả những tiết lộ về những vụ tai tiếng nhất, lớn nhất cũng không dẫn tới bất cứ kết quả gì.

Phương tiện truyền thông tự do và có ảnh hưởng nên nó là một thứ công cụ quan trọng trong cuộc chiến đấu với nạn tham nhũng đã trở nên quá mức. Thế nhưng tại nước Nga, phương tiện truyền thông thiếu những sức mạnh cần thiết. Boris Yeltsin, với vai trò là tổng thống đầu tiên của Nga, đã bắt bộ tư pháp phải trả lời trong vòng 10 ngày đối với những cáo buộc tham nhũng được báo chí đưa ra. Người kế nhiệm ông là Putin đã nhanh chóng huỷ bỏ mệnh lệnh của Yeltsin ngay sau khi nhận chức.

“Tìm ra ai là kẻ liên quan”

Tổng biên tập Muratov của tờ Novaya Gazeta đang để ý đến một trong những biên tập viên kỳ cựu của mình, người vừa nhận được một tin nhắn từ một vụ tai nạn kỳ lạ tại Kutuzovssky Prospekt, một con phố dẫn tới điện Kremlin. Một thanh niên 20 tuổi đã đâm hỏng chiếc xe Ferrari còn mới của mình trong lúc đang lao với tốc độ 200 km một giờ. Người cha của gã thanh niên này hình như là một thành viên trong hội đồng quản trị của một nhóm các nhà băng.

Đối với Muratov, câu chuyện còn là một ví dụ về sự thừa mứa những gì mà ông gọi là “một tầng lớp quyền thế tự đặt mình lên trên luật pháp.” “Hãy tìm ra kẻ nào liên quan tới vụ này!” ông ra lệnh cho các biên tập viên của mình. “Và tôi sẽ hỏi Lebedev.”

Trong giây lát, đã cho thấy là Alexander Lebedev, một cựu thành viên của cơ quan tình báo nước ngoài của Liên Xô và làm một chủ sở hữu 30% hãng hàng không quốc gia Aeroflot, chỉ là một trong nhiều nguồn tin của Muratov trong vòng xác minh. Tuy nhiên, trên thực tế, tay trùm nhà băng lại là cái gì đó như một chiếc máy in tiền cho Novaya Gazeta.

Ông ta đã giúp tờ báo này từ những năm 1990. Vào tháng Sáu năm 2006, ông ta và cựu lãnh đạo Liên Xô Michail Gorbachev đã giành được một cổ phần chiếm 49% trong tờ Novaya Gazeta, khi nó suýt phá sản vào thời điểm đó. Những người làm công trong tòa báo sở hữu phần còn lại.

Lebedev đã mua các cổ phần của những nhân công này với trị giá 2,1 triệu đô la. Kể từ đó, hàng năm ông đã bơm hàng triệu đô là vào tờ báo đang làm ăn thua lỗ này. Không ai mua quảng cáo; mọi người lo sợ phải gánh lấy thái độ tức giận của Kremlin. “Miễn là tôi có tiền, là tôi sẽ giúp,” Lebedev nói, trong một phòng tiếp khách sang trọng của tòa biệt thự lộng lẫy của ông gần Bộ Ngoại giao. Ông đang mặc bộ đồ bò, một chiếc áo lót có hoa văn và đôi giày quần vợt đen hợp thời trang.

Ông trùm này tán dương “đội quân những nhà báo kỳ lạ, can đảm” của mình, khi ông nói rằng mục tiêu của ông là làm cho tờ báo trở thành “người đi đầu có chính kiến ở Nga”, và ông dẫn ra nhà thơ và là nhà phê bình Stalin Osip Mandelstam. Ông thích được thấy các biên tập viên của mình như là bộ phận của truyền thống đối kháng với ngai vàng quyền uy này, và bản thân ông như là một tia sáng chiếu rọi tới nền tự do báo chí.

Thế nhưng các chính trị gia, các nhà quản trị truyền thông và các nhà báo ở Moscow thường có những câu chuyện khác để nói về Lebedev. Thứ nhất, họ nói rằng ông chủ này, người đã mất nhiều nỗ lực để trở thành thị trưởng Moscow và Sochi, địa điểm tổ chức Thế vận hội Olympic mùa Đông 2014, muốn giữ tờ báo để xúc tiến những tham vọng chính trị của ông ta. Họ cũng khẳng định rằng, trong cuộc chơi của các chính trị gia quyền lực ở Moscow, ông đã được chọn để giữ cho tờ báo hay gây phiền phức nằm dưới sự kiểm soát nhân danh Putin.

Lebedev và Gorbachev bác bỏ những khẳng định này, cho nó như là “trò ngớ ngẩn.” Hãy nhìn vào các bài báo trên Novaya,” Lebedev lưu ý. Ví dụ, ông nói, vua báo chí của Putin, Alexei Gromov, đã phải tức giận khi tờ báo phanh phui những lợi ích thương mại được cho là của ông trong hệ thống truyền hình kỹ thuật số.

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Khối XHCN sụp đổ | Tagged: , , | Leave a Comment »

K.Marx dưới con mắt của một trí thức Đông Âu

Posted by adminbasam on 10/05/2009

K.Marx dưới con mắt của một trí thức Đông Âu

Kornai János

Trình bày tại Đại học Kanagawa, Yokohama, 6-12-2009*

Dẫn nhập[1]

Tôi e rằng tất cả những gì có thể nói về Karl Marx đã được viết cả rồi. Hàng ngàn bài báo, bài nghiên cứu và hàng trăm cuốn sách đã được xuất bản trong đó có thể thấy đủ mọi thứ từ ca tụng cuồng nhiệt, phân tích khách quan, đến căm thù giận dữ. Cái tôi có thể thêm vào kho tài liệu mênh mông này chỉ là quan điểm cá nhân mà từ đó tôi xem xét công trình của Marx. Tôi là một người Hungary, một người Đông Âu, sinh năm 1928, tôi bắt đầu trở thành người lớn vào cuối Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Những diễn biến lịch sử lớn đã gây những ấn tượng sâu sắc lên tư duy của tôi: chiến tranh tàn phá đất nước chúng tôi, Holocaust (vụ tàn sát hàng loạt [người Do thái]), giải phóng khỏi ách thống trị Nazi, đảng cộng sản lên nắm quyền với hệ thống xã hội chủ nghĩa của nó, cách mạng Hungary 1956 và việc đánh gục nó, sự khôi phục hệ thống xã hội chủ nghĩa, các cuộc cải cách trong các năm 1960 về chủ nghĩa xã hội thị trường và chủ nghĩa xã hội với khuôn mặt người và sự thất bại của chúng, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa và sự trở lại của hệ thống tư bản chủ nghĩa, nền dân chủ thế chỗ cho chế độ độc tài, và khủng hoảng tài chính và kinh tế hiện nay. Chỉ chúng tôi, những người sống ở Đông Âu và bây giờ vào tuổi bảy tám mươi, có thể nói rằng chúng tôi đã đích thân trải nghiệm, không phải một vài lần mà tám lần, những thay đổi hệ thống, những sự biến đổi vĩ đại, hay chí ít các bước ngoặt đột ngột tiến và lùi, rẽ sang và quay lại của chế độ chính trị có nghĩa là gì. Đối sánh chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, so sánh các đặc tính của hai loại hệ thống này, những biến đổi vĩ đại: đấy là những thay đổi có tầm quan trọng lịch sử thế giới mà Marx quan tâm nhất và cố thử để hiểu. Chúng tôi, tuy vậy, không chỉ quan tâm đến chúng về mặt trí tuệ – chúng tôi đã trải nghiệm những thay đổi đó. Có lẽ lượng kinh nghiệm sống này, chứ không phải khả năng phân tích đặc biệt nào đó, khiến cho tôi có thể thêm nét đặc sắc nào đó vào kho tàng tài liệu lớn và có giá trị về Marx.[2]

Khi các vị chủ nhà Nhật mời tôi trình bày báo cáo này, họ nhấn mạnh rằng có hai sự kiện gắn với nhau. Một là có một hội thảo chuyên môn về Karl Marx, và báo cáo của tôi sẽ được trình bày trong khuôn khổ hội thảo đó. Sự kiện khác là Đại học Kanagawa kỷ niệm tám mươi năm thành lập. Khi họ biết rằng năm nay các nhà kinh tế học Hungary đã mừng sinh nhật lần thứ 80 của tôi, tức là chính xác tôi cùng tuổi với đại học của họ, có lẽ hợp nếu tôi có thể tham gia lễ kỷ niệm thành lập với báo cáo của mình. Đó là một niềm vinh hạnh lớn và tôi rất cảm ơn các vị chủ nhà đã mời. Tôi chào mừng các bạn nhân dịp sinh nhật này với những lời chúc nồng nhiệt và với sự đồng cảm của một người 80 tuổi.

Bởi vì bản thân lời mời có tính chất cá nhân, có lẽ có thể chấp nhận được, nếu giọng bài trình bày của tôi mang tính chủ quan. Tôi không truyền đạt lập trường tập thể loại nào đó của các trí thức Đông Âu, mà tôi kể chuyện cá nhân của chính mình. Cuộc sống của mỗi cá nhân là đơn nhất và khác với cuộc sống của mọi người khác. Thế nhưng, tôi có thể nói thêm rằng từ nhiều khía cạnh câu chuyện của riêng tôi có tính điển hình. Nếu không phải là toàn bộ đường đời của tôi, nhưng các pha khác nhau của nó có thể đại diện cho các pha tương tự của cuộc sống của nhiều người khác. Khi hồi ký tự sự của tôi, cuốn Bằng sức mạnh tư duy, được xuất bản, nhiều người tìm đến và nói với tôi rằng đọc ký sự cá nhân của tôi về một giai đoạn hay giai đoạn khác họ nhận ra câu chuyện của chính họ.[3] Tôi hy vọng điều này cũng đúng hôm nay, khi tôi kể về: quan hệ của tôi đã như thế nào với những tư tưởng của Marx trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đời riêng của tôi (và của lịch sử mà đã ảnh hưởng rất lớn đến đời tôi).

Tôi chỉ lựa ra vài tư tưởng trong sự nghiệp vô cùng phong phú của Marx. Chỉ để trình bày những nhận xét riêng của tôi liên quan đến mỗi tư tưởng này thực ra cũng cần đến một hai tiểu luận, thế mà trong khung khổ hiện tại tôi chỉ có nhiều nhất vài phút cho mỗi ý đó. Vì thế tôi không thể đưa ra những lập luận phân tích chi tiết. Tôi hy vọng rằng thể loại được chọn – tường thuật câu chuyện chủ quan về mối quan hệ của tôi với công trình của Marx – sẽ cho phép việc thảo luận các đề tài lớn với nhịp độ rất cao.

Cái gì thu hút tôi đến với Marx…

Tôi đã là một cậu bé, một con mọt sách. Thực sự tôi đã đọc ngiến ngấu không chỉ những kiệt tác văn học, mà cả các tác phẩm triết học và lịch sử nữa, nhưng trước 1945 tôi đã chẳng đọc một bài viết nào của Marx cả. Ở nhà, trong gia đình khá giả, đã chẳng có ai, ở trường, nơi người ta dạy con em của giới trung lưu, cũng đã chẳng có ai giới thiệu cho tôi một tác phẩm Marxist nào. Thế mà, một vài năm sau tôi đã tự nhận là một người Marxist có ý thức.

Cái gì đã gây ra sự thay đổi nhanh chóng này và đã thu hút tôi vô cùng mạnh mẽ đến với Marx?

Trong thời dậy thì nhạy cảm nhất của mình, đầu tiên tôi đối mặt với các luật phân biệt đối xử với người Do Thái, sau đó là những trải nghiệm nhục nhã của sự săn đuổi, sự ẩn náu, trốn chạy, khiếp sợ. Khi cuộc bao vây Budapest chấm dứt, chẳng bao lâu trở nên rõ ràng là, họ đã đưa cha tôi đi Auschwitz và ông bị giết ở đó, còn anh cả tôi đi nghĩa vụ lao động thì không trở về. Ngần ấy tôi đã hiểu từ việc học lịch sử và từ những trải nghiệm cá nhân rằng chế độ Hitler và những kẻ đồng lõa Hungary của nó đã kéo chúng tôi vào chiến tranh và diệt chủng. Nhiều đảng đã hình thành, và tôi rất nhanh chóng trở thành người ủng hộ đảng cộng sản. Ý nghĩ đầu tiên hướng tôi tới đó là: đảng cộng sản là đảng duy nhất, bất chấp rủi ro bị truy bắt, đã kiên định đấu tranh suốt hàng thập kỷ chống lại chế độ Horthy – chế độ đã liên minh với Hitler và sau đó đã đưa sự cai trị Nazi vào Hungary. Họ đã là những người chống phát xít kiên định nhất. Chỗ của tôi là ở trong hàng ngũ của họ. Vì thế tôi đã gia nhập, chứ không phải vì cương lĩnh cải biến xã hội xã hội chủ nghĩa của họ đã cổ vũ, cương lĩnh mà khi đó tôi ít biết đến và bản thân những người cộng sản cũng ít nói tới.

Sau đó khi tôi bắt đầu đi dự các buổi họp và thuyết trình của phong trào thanh niên do đảng cộng sản lãnh đạo, tôi bắt đầu đọc các cuốn sách mỏng do đảng phát hành. Tôi có thiện cảm với hệ tư tưởng của đảng, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa có vẻ thuyết phục. Chưa đầy một năm sau giải phóng tôi đã đến với Marx như vậy. Tôi mười tám tuổi, khi lần đầu cầm cuốn Tư bản luận (bằng tiếng Đức, vì khi đó vẫn chưa có bản dịch ra tiếng Hungary) trong tay, và cùng với bạn thân nhất của mình chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng từng dòng một và ghi chép rất chi tiết.

Tôi dừng lại ở đây một chút để lưu ý bạn đọc về thứ tự thời gian. Không phải kinh nghiệm trí tuệ đã cho tôi, một con mọt sách trẻ, cú hích khởi động đầu tiên đến với Marx, mà đầu tiên là sự tiếp cận chính trị, sự tham gia vào hoạt động của đảng cộng sản, và sau đó mới là ảnh hưởng của việc đọc sách, đọc tác phẩm của Marx. Tôi đã không bắt đầu với việc lựa chọn Marx giữa các trào lưu tư tưởng khác nhau, giữa các trường phái kinh tế học hay triết học khác nhau. Tôi đã bắt đầu với việc lựa chọn đảng cho bản thân mình giữa các phong trào chính trị, các đảng và các hệ tư tưởng khác nhau, và đảng cộng sản đã đặt các công trình của Marx lên bàn của tôi.

Tôi có thể liệt kê dài dài về những đặc điểm mà Tư bản luận đã có ảnh hưởng mạnh nhất khi đó lên tôi, nhưng bây giờ ở đây tôi chỉ lựa ra vài điểm trong số đó.

Việc đọc càng tiến triển tôi càng mê logic sắc sảo, dòng suy nghĩ và lập luận chặt chẽ, việc sử dụng khái niệm chính xác của tác phẩm. Ngay từ khi còn rất trẻ tôi đã có tính mà các thành viên gia đình và các cộng sự của tôi chế nhạo là “cuồng ngăn nắp”. Tôi khó lòng chịu nổi sự lộn xộn, lang thang trong các bài viết hay bài nói nghiêm túc, thậm chí trong cả các cuộc trò chuyện không gò bó. Marx đã ngay lập tức chinh phục tôi với cấu trúc lập luận sáng sủa, trong sáng, với các khái niệm sắc bén. Chỉ rất lâu sau tôi mới biết các tác phẩm đã chuyển hóa một số phần của lâu đài trí tuệ đồ sộ của Marx sang ngôn ngữ mô hình toán học. Thí dụ các nhà kinh tế học Hungary Bródy (1969) và nhà kinh tế học Nhật Bản Morishima (1973) đã diễn đạt lý thuyết tái sản xuất của Marx bằng các mô hình input-output, nhà kinh tế học Mỹ Roemer (1986) đã sử dụng cả các công cụ tiêu chuẩn của kinh tế học vĩ mô dòng chủ lưu để diễn đạt lại kinh tế học chính trị của Marx. Việc sử dụng ngôn ngữ toán học nghiêm ngặt của các nhà lập mô hình được dễ dàng bởi vì Marx đã trình bày nguyên liệu tư duy ban đầu (thí dụ lý thuyết tái sản xuất) theo một trật tự có logic, cố gắng dùng các định nghĩa chính xác ngay từ đầu.

Nếu không phải ngay từ lần đọc đầu tiên, thì muộn hơn, khi tôi đã đọc khá nhiều và đã học được từ công trình của các tác giả Marxist, còn một hiện tượng nữa đã có tác động lớn đối với tôi. Tôi đã có cảm tưởng, rằng một nhà Marxist có trong tay một chìa khóa có thể mở mọi cánh cửa. Nhà Marxist có một bộ máy phân tích và một hệ thống khái niệm mà sức mạnh giải thích của nó là vạn năng. Bất luận đó là đánh giá một sự kiện lịch sử, một vấn đề kinh tế hay một buổi biểu diễn vừa xem xong, trong tay nhà Marxist có các công cụ mà với chúng có thể giải quyết vấn đề phân tích. Điều này tạo cảm giác tự cao trong ông ta. Có thể là X. Y. biết giai đoạn ban đầu của chủ nghĩa tư bản một cách chi tiết bởi vì anh ta đã bỏ hàng năm ra nghiên cứu tỷ mỷ, nhưng anh ta không phải là nhà Marxist, còn tôi là, và vì thế tôi hiểu thời kỳ lịch sử này đúng hơn. Có thể nhà mỹ học N. N. có khiếu thẩm mỹ văn học chắc chắn hơn, và là chuyên gia về kịch, nhưng anh ta không phải là nhà Marxist, còn tôi là, và vì thế tôi nhận ra đúng hơn các giá trị đích thực và những thiếu sót của vở kịch.

Các trí thức trẻ thèm khát loại giải thích thế giới chung nào đó. Có người tìm thấy lời giải thích tổng quát trong niềm tin vào Chúa, hay có lẽ trong một tôn giáo nào đó. Ngày nay nhiều nhà kinh tế học hay nhà khoa học xã hội khác được đào tạo một cách hiện đại cho rằng có thể tìm thấy lời giải thích cho mọi hành động con người và sự kiện xã hội trong lý thuyết quyết định duy lý. Đối với tôi nhu cầu mạnh mẽ về công cụ giải thích vạn năng đã được chủ nghĩa Marx thỏa mãn, chính xác hơn là loại chủ nghĩa Marx mà các nhà Marxist sống trong môi trường trí tuệ của tôi khi đó đã coi là của mình và đã sử dụng. Tôi không nghĩ đến những kẻ không chuyên tầm thường, mà nghĩ đến những đồng bào của mình, như Lukács György, nhà triết học, hay Varga Jenő nhà kinh tế học – đều là những người nổi tiếng thế giới trong ngành của mình. Tôi đã cảm thấy rằng, tôi càng hiểu biết Marx và các môn đồ xuất sắc của ông cặn kẽ hơn, thì tôi càng có thể nắm chắc hơn chiếc chìa khóa mở mọi cánh cửa.

Trong số các lực lôi cuốn, tôi nhắc đến cái thứ ba, tuy thực ra nó tác động song trùng với hai lực kia: sự cam kết đầy nhiệt huyết của Marx với những người bị áp bức, bị bần cùng cũng đã tác động sâu sắc đến tôi về mặt tình cảm. Số phận run rủi là, năm 1944, năm cuối cùng của chiến tranh đã tách tôi khỏi sự tiện nghi của một gia đình trung lưu. Trong vài tháng tôi đã làm công việc chân tay nặng nhọc trong một nhà máy gạch. Những công nhân khác đã thân thiện tiếp nhận một thanh niên gầy gò, nhưng chăm chỉ. Tôi đã đến thăm nhà của họ, và dù muốn hay không tôi đã không thể không so sánh căn hộ quen thuộc, rộng rãi, thanh lịch của chúng tôi với nhà ở chật chội của họ, thức ăn sung túc ở nhà với thức ăn ít ỏi của họ. Hình thành và từ đó vẫn sống trong tôi ý thức đoàn kết. Tư bản luận đã là sách đọc cảm động về khía cạnh này nữa, vì trong đó có sự kết hợp không thể tách rời của sự phân tích kinh tế học lạnh lùng, cảm giác con người nồng ấm và sự phẫn nộ đối với bóc lột.

… và cái gì đã làm tôi vỡ mộng với các tư tưởng của Marx

Bây giờ tôi nhảy qua thời gian. Ở trên tôi kể về các năm đầu sau chiến tranh, tôi đã thử nhớ lại bức chân dung trí tuệ của mình khi đó. Khi thời gian trôi đi, tôi đã nắm vững nhiều và nhiều hơn những giáo huấn của Marx và các môn đồ của ông – và cho đến 1953, đến khi Stalin chết, rồi đến các năm đầy bão tố, đánh dấu điểm ngoặt trong đời sống của các đảng cộng sản và các nước dưới sự cai trị của các đảng đó. Chúng cũng tạo ra điểm ngoặt trong tư duy của tôi.

Bước ngoặt bây giờ cũng chẳng bắt đầu trên bình diện trí tuệ, thí dụ giả như tôi đã đọc các tác phẩm phê phán các học thuyết của Marx. Không phải sự phê phán được xuất bản trong các sách hay các tạp chí đã thuyết phục tôi, rằng Marx đã nhầm về những vấn đề cơ bản. Hoàn toàn là các tác động khác đã làm lung lay – không phải hệ thống tư duy mà tôi đã xây dựng một cách vững chắc cho đến khi đó, mà làm lung lay niềm tin của tôi. Tôi đã gặp một đồng nghiệp già, một người cộng sản từ xưa, người đã bị tù và bị tra tấn tuy đã chẳng phạm tội gì. Cho đến thời điểm đó tôi đã không biết, rằng bằng tra tấn cảnh sát mật chính trị nhân danh các tư tưởng cộng sản đã buộc các tù nhân thú nhận tội giả, theo lệnh trực tiếp của các lãnh đạo tối cao. Nền tảng đạo đức của lòng tin của tôi sụp đổ. Nếu điều này có thể được làm nhân danh đảng cộng sản, thì ở đây hẳn phải có tai họa lớn khác!

Nhìn lại tôi thấy rằng trước bước ngoặt này đã hình thành một cơ chế tự vệ đặc biệt trong đầu óc tôi. Tôi đã tin vào các tư tưởng cộng sản không chỉ bằng trí tuệ, mà bằng cả tấm lòng và trái tim, và vì thế đã hình thành các hàng rào bảo vệ ngăn cản sự thâm nhập của các tư tưởng xa lạ với chủ nghĩa Marx và các học thuyết xã hội chủ nghĩa. Một tác phẩm tranh luận với Marx có đến với tôi cũng vô ích. Tôi không coi nó ra gì, tôi gạt bỏ nó, cho rằng đấy là tiếng nói đầy thành kiến của kẻ thù. Tôi cảm thấy mình được miễn thứ khỏi phải so đọ các tư tưởng có thể được tôi chấp nhận với các tư tưởng đối lập. Trạng thái tâm thần này không chỉ đặc trưng cho những người cộng sản vững tin, mà ít nhiều cũng đặc trưng cho những người cuồng tín khác nữa.[4] Biện lý hay thẩm phán của tòa dị giáo, viên chức của tổ chức khủng bố phái những kẻ đánh bom liều chết, người truyền giáo, người thuyết giáo theo thuyết chính thống, hay một chính trị gia vững tin có sức thu hút quần chúng có thể là người có học thức và thông minh, có thể có khả năng trí tuệ cao, nhưng niềm tin cuồng tín riêng của họ gạt bỏ các lý lẽ đối lập khỏi suy nghĩ của họ. Họ không thể được thuyết phục bằng bất cứ lý lẽ duy lý, điềm tĩnh nào cho đến khi những trụ đỡ đạo đức của niềm tin đó còn vững chắc trong tâm khảm họ.

Khi nền tảng đạo đức đột ngột sụp đổ dưới chân tôi, thì cùng lúc các cửa cống mở ra, và dòng các tư tưởng phê phán tràn vào. Ở đây tôi lại dừng lại một chút để lưu ý bạn đọc về bài học của câu chuyện của riêng tôi. Lại lần nữa đã có cái gì đó đi trước bước ngoặt trí tuệ hiểu theo nghĩa hẹp. Sự kiện đi trước lần này không xảy ra trên bình diện chính trị, mà trên bình diện đạo đức. Một khi các cửa cống đã mở, tôi đã cởi mở trước các lý lẽ. Từng mục một, tôi đối sánh những tư tưởng và các phương pháp Marxist mà tôi đã biết trước đây với sự phê phán mà tôi mới biết. Các ý tưởng mới thâm nhập vào tôi, và đột nhiên tôi cũng trở nên phê phán trên bình diện trí tuệ nữa. Tôi bắt đầu đối mặt với các vấn đề mà trước kia tôi luôn xua đuổi tuy chúng vẫn lởn vởn đâu đó ở bên rìa suy nghĩ của tôi.

Thời đó tôi là một nhà báo viết về đời sống kinh tế. Nhiều lần tôi đã bắt gặp những hiện tượng trái khoáy: hàng trăm loại thể hiện của sự lãng phí, vô kỷ luật, chất lượng kém, sự thiếu hụt. Toàn những vấn đề mà kinh tế học chính trị của Marx chẳng cung cấp cho tôi loại công cụ nào để phân tích. Đây là kinh tế học loại gì mà lại chẳng có nội dung đáng kể nào về các vấn đề hiển nhiên mang tính kinh tế này? Tai họa không phải là nó đưa ra các câu trả lời sai cho những câu hỏi này, mà là nó chẳng thèm nêu ra chúng. Tôi bắt đầu nghiên cứu nghiêm túc và học các lý thuyết khác kình địch với lý thuyết của Marx, và đột nhiên thấy một thế giới trí tuệ mới mở ra trước mắt mình. Chúng đề cập, đúng hay tồi, đến các vấn đề thực sự là các vấn đề rõ ràng còn bỏ ngỏ của cuộc sống kinh tế hoạt động xung quanh tôi. Đúng là một phần các vấn đề do chúng thảo luận chỉ nảy sinh trong các điều kiện của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng cũng thảo luận một cách có hệ thống các vấn đề chung nữa (thí dụ, tính hiệu quả, hay các khía cạnh của sản xuất và nhu cầu, các vấn đề của mối quan hệ cung và cầu), mà các vấn đề đó cũng không kém quan trọng trong hoàn cảnh kinh tế xã hội chủ nghĩa so với chủ nghĩa tư bản.

Những nghi ngờ của tôi cũng nổi lên liên quan đến những luận đề lý thuyết mà Marx và các môn đồ của ông đã không bỏ qua, ngược lại được đưa ra sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng. Tôi chỉ nêu một thí dụ, những khẳng định của Marx được trích dẫn nhiều lần về sự tích tụ nghèo khổ. Nói về “quy luật chung về sự tích tụ tư bản” Marx khẳng định: “Sự tích tụ của cải ở một cực, vì thế, đồng thời là sự tích tụ nghèo khổ, lao động thống khổ, nô lệ, ngu dốt, tàn bạo và sự thoái hóa đạo đức, ở cực bên kia…” (Tư bản luận, I, (1867) [1967] trang 645). Các môn đồ của Marx thường nói về sự nghèo khổ tương đối và tuyệt đối của giai cấp lao động – và điều này không mâu thuẫn với gợi ý của câu trên. Ngược với khẳng định này, không chỉ những cảm nhận hời hợt thu được qua các cuộc du ngoạn nước ngoài, mà tất cả các số liệu thống kê đáng tin cậy cũng chứng minh rằng mức sống trung bình của những người sống bằng sức lao động của mình ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển trong một thế kỷ đã tăng lên rất đáng kể. (Trong khi đó tất nhiên không thể chối cãi là ở đó sự nghèo khổ cũng chẳng biến mất đi). Đây không phải là một sự hiểu lầm nhỏ nhặt, không phải là một sự nhầm lẫn có thể dễ sửa. Luận đề tiên đoán sự bần cùng hóa của giai cấp vô sản có vai trò cốt yếu trong việc rút ra kết luận cuối cùng của dòng tư duy Marxian. Giả như đúng là sự bần cùng tăng liên tục, và trở thành hàng loạt, thì sự giận dữ của hàng triệu người đã quét sạch chủ nghĩa tư bản từ lâu rồi.

Tôi đã tiến triển liên tục trong tìm hiểu sự phê phán các học thuyết Marxian, và quá trình học này kéo dài nhiều năm. Ngày càng nhiều luận đề – đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết kinh tế học Marxian – trở thành không thể chấp nhận được đối với tôi. Cuối cùng tôi đã đạt đến điểm để bác bỏ học thuyết giá trị lao động cùng với việc làm quen với các lý thuyết giải thích tốt – và với nhịp độ tiến triển của việc nghiên cứu ngày càng giải thích tốt hơn – sự vận động thực tế của giá cả, lương, các chi phí, và lợi nhuận.[5]

Trách nhiệm trí tuệ đối với hệ thống xã hội chủ nghĩa

Hãy quay lại những năm ngay trước cách mạng Hungary 1956. Từ một người xây dựng xã hội chủ nghĩa nhiệt thành và ngây thơ trước kia, kể từ giữa các năm 1950 tôi đã trở thành nhà phê phán gay gắt – và ngày càng gay gắt hơn – đối với hệ thống.

Các thành viên của thế hệ tôi đã trải qua sự biến đổi tư tưởng không phải với cùng nhịp độ và với cùng hình thức. Có người ngay lập tức vứt bỏ quan niệm cũ, có người chỉ từng bước một, bảo vệ từng mẩu tư tưởng khỏi sự hủy diệt. Có người, tự mình bắt đầu cải cách tư tưởng của mình từ sớm, và có người trì hoãn và chỉ sau nhiều thập kỷ mới bắt đầu. Nhưng rốt cuộc các tấn kịch lịch sử vĩ đại, mà họ đã cùng trải nghiệm, đã tạo ra sự biến đổi tư tưởng của cả nhóm trí thức này và của mọi thành viên của nó.[6] Đối với những trí thức khởi đầu như các nhà Marxist và cộng sản vững tin thì sự kiện choáng váng là cách mạng Hungary 1956 và sự đàn áp đẫm máu, rồi đến phong trào Mùa xuân Praha năm 1968 và sự đè bẹp nó, sau đó là phong trào Đoàn Kết ở Ba Lan và những cuộc bắt bớ và ban bố tình trạng khẩn cấp kế tiếp. Những sự nghi ngờ ngày càng mạnh ngay cả trong những người cố thử giữ gìn dù cho chỉ một mẩu thế giới quan một thời của họ. Câu hỏi giày vò chúng tôi là một trong những câu hỏi cơ bản của thế kỷ 20: thực ra hệ thống mà người ta gọi là “chủ nghĩa xã hội hiện tồn” là loại hệ thống gì? Liệu nó có đi cùng một cách không tránh khỏi với nhiều đau khổ mà chúng ta đã phải chịu đựng, từ nạn đói, sự lạc hậu kỹ thuật, đến thiếu hụt kinh niên, từ bóp nghẹt tự do tư duy đến sự khủng bố tàn bạo của cảnh sát và Gulag hay không? Hay tất cả những kinh nghiệm đau xót này chỉ là sự méo mó do việc thực hiện tồi một cách tội lỗi gây ra, chứ thực ra chẳng liên quan gì đến Marx, đến học thuyết của ông và đến cương lĩnh hành động mà ông công bố?

Diễn đạt theo cách khác: Marx có chịu trách nhiệm không về những gì đã xảy ra ở Liên Xô của Lenin, Stalin, Khrushev và Brezhnev, ở Trung Quốc của Mao và ở các nước cộng sản khác do các học trò của họ cai trị?

Nhiều người đã diễn toàn bộ câu chuyện trong trí tưởng tượng của mình: giả như nếu với cùng thân thể và tâm hồn thời xưa của ông, giả như ông không sống vào thời đó, mà đã sống trong thế kỷ 20, thí dụ ở Budapest, thì Marx đã ứng xử thế nào? Có thể phỏng đoán rằng ông đã bắt đầu như một người cộng sản, nhưng tinh thần phản kháng của ông mau chóng kéo ông vào hàng ngũ những người chống lại chế độ cộng sản. Có lẽ ông phải vào trại tập trung trong các năm 1950, nhưng thoát ra được, ông đã tham gia các cuộc tranh luận trí tuệ hồi hộp trước và chuẩn bị tinh thần cho cách mạng 1956. Chắc ông đã ở giữa các nhà cách mạng khi đó, và nếu tránh được làn sóng bắt bớ sau đó, thì chắc ông đã xuất bản chui những phê phán của mình với dọng châm chọc chua cay chống lại nền kinh tế kiểu Soviet. Đây là một dòng suy nghĩ lý thú, trong trí tưởng tượng nó miễn thứ cho Marx, cho con người, cho tính cách rất đặc trưng đối với ông, và khính trọng lòng dũng cảm và lòng trung thành với nguyên tắc của ông. Nhưng đồng thời nó cũng lảng tránh câu hỏi thực sự xác đáng được nêu ra ở trước: quan hệ giữa những tư tưởng lý thuyết của Marx và thực tế lịch sử của hệ thống xã hội chủ nghĩa là gì? Trong phép xấp xỉ đầu tiên, tôi sẽ thử trả lời một cách ngắn gọn: hệ thống xã hội chủ nghĩa (không phải loại hệ thống không tưởng đẹp đẽ trong trí tưởng tượng, mà là hệ thống đã tồn tại mà trong đó bản thân tôi đã sống) đã thực hiện kế hoạch của Marx.

Tôi biết rằng nghe câu chắc nịch này nhiều người sẽ sửng sốt, có lẽ cả một số người ngồi đây nữa. Nhưng tôi vẫn nhắc lại. Theo niềm tin của tôi, khẳng định đó là đúng và có thể được hậu thuẫn bằng những sự thực kinh nghiệm lịch sử, rằng cái đã hình thành sau 1917 trong khu vực cộng sản của thế giới, và đã tồn tại đến 1989, về cơ bản đã thực hiện cái mà Marx đã coi là hệ thống xã hội chủ nghĩa sẽ hình thành như cái đối lập của chủ nghĩa tư bản.

Cái nhân cốt lõi của dòng tư duy Marxian là sở hữu tư nhân đặc trưng cho các mối quan hệ sở hữu của chủ nghĩa tư bản. Để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản phải chuyển tư liệu sản xuất thành công hữu. Chừng nào sở hữu tư nhân còn chiếm ưu thế, thì thị trường điều phối sự hợp tác con người, sự trao đổi tài sản, sự phân bổ lực lượng sản xuất. Thị trường là nhà điều phối hoạt động không tốt, thị trường rắm rối, không rõ ràng, hỗn loạn. Sở hữu công sẽ cho phép phân bổ lực lượng sản xuất và rốt cuộc lao động con người trở nên minh bạch, rõ ràng và có kế hoạch.

Tôi đưa ra vài trích dẫn để hậu thuẫn cho những điều mà tôi nhắc đến ở trên đúng là các tư tưởng riêng của Marx (chứ không chỉ là các tư tưởng Marxian có lẽ do những môn đồ của ông đã pha loãng hay đã hiểu nhầm chúng). Tôi trích Tư bản luận: “Độc quyền tư bản trở thành xiềng xích của chính phương thức sản xuất đã nảy sinh và thịnh vượng với nó và dưới nó… Giờ tận số của sở hữu tư nhân tư bản đã điểm. Những kẻ chiếm đoạt bị tước đoạt.”  (Capital Vol. 1 (1867) [1967], p. 763). Hay một trích dẫn quan trọng khác:  “…sự hỗn loạn liên tục và những biến động chu kỳ là những thứ đi cùng chí tử của sản xuất tư bản chủ nghĩa…” – Marx viết trong nghiên cứu về “Nội chiến ở Pháp” ((1871) [1988], p.61). Và trong cùng đoạn văn vừa được trích dẫn có thể thấy cụm từ kế hoạch chung các từ mà người ta hay nhắc đến: “…các hiệp hội hợp tác điều tiết nền sản xuất quốc dân theo một kế hoạch chung, đặt nền sản xuất ấy dưới sự điều khiển của mình…”

Bây giờ chúng ta hãy so sánh các luận đề lý thuyết nêu trên với thực tế của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành ở Liên Xô và các nước cộng sản khác! Hai nét đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống hiện thực chính là cái Marx đã kỳ vọng và chỉ dẫn:

1)      Đã tiến rất gần đến việc xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất (tuy những tàn tích què quặt, bị siết chặt của nó vẫn tồn tại đó đây), và thay vào đó sở hữu công, chủ yếu dưới dạng sở hữu nhà nước, trở nên áp đảo.

2)      Đã tiến rất gần đến việc xóa bỏ hoàn toàn điều phối thị trường (tuy những tàn tích vẫn còn trong nền kinh tế đen và xám), và thay vào đó kế hoạch hóa tập trung, điều phối quan liêu, nền kinh tế chỉ huy trở nên áp đảo.

Tôi đã không tùy tiện đưa ra hai đặc điểm trong số các đặc điểm thứ yếu của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ở đây tôi nói về hai đặc điểm cơ bản của hệ thống kinh tế.[7]

Nếu tôi đã tranh luận với các nhà Marxist thiển cận về điều này, thì một trong những lập luận phản lại quen thuộc đã là: chế độ Stalinist hay Maoist đã sử dụng tên của Marx chỉ như biểu tượng đánh lạc hướng, đã chỉ nhắc đến như thánh bảo trợ, mặc dù trong thực tế chúng chẳng có gì chung với ông cả. Ở trên tôi đã cố gắng đối chọi với lập luận này bằng những lời lẽ của chính Marx và Engels. Các chế độ đó có toàn quyền để dẫn chiếu đến Marx, vì chúng đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử vĩ đại do ông đề ra.

(Tôi lưu ý chỉ trong ngoặc đơn, rằng phân tích đặc điểm nêu trên phù hợp với đảng cộng sản Trung Quốc ngày nay, cái đảng trương ảnh Marx trên tường như “thánh bảo trợ” trong các dịp nghi lễ chính trị để che dấu chính sách thực của nó. Đảng cộng sản Trung Quốc trình bày ý thức hệ giả mạo khi dẫn chiếu đến chủ nghĩa Marx. Cái hệ thống mà đảng cộng sản ngự trị về cơ bản mang tính tư bản chủ nghĩa, vì sở hữu tư nhân đã trở thành hình thức sở hữu áp đảo, và bởi vì cơ chế điều phối chính là cơ chế thị trường. Như thế, chính xác là cái đối lập đã được thực hiện trong mười-hai mươi năm so với cái Marx đã nêu thành cương lĩnh, cũng như cái đã thực sự hình thành ở các nước xã hội chủ nghĩa trước kia.)

Những người bảo vệ kiên định các học thuyết của Marx không thích đối mặt với khẳng định đanh thép rằng đảng Bolshevik Nga và các đảng đi theo ở các nước khác đã thực hiện cương lĩnh biến đổi của Marx. Không phải một lần tôi đã đích thân trải nghiệm điều này. Tại vài đại học Mỹ tôi đã gặp các sinh viên thông minh và quan tâm, những người tự coi mình là “các nhà kinh tế học cấp tiến”. Họ tận tâm đọc và học các tác phẩm mà họ cho là có thể chấp nhận được về mặt chính trị. Họ đã sẵn sàng tìm hiểu, thậm chí nghiên cứu kỹ lưỡng cả các lý thuyết kinh tế học và các phương pháp của dòng chủ lưu nữa. Thế nhưng, họ không thèm nghiên cứu sâu nền kinh tế của Liên Xô hay của các nước Đông Âu. Trong con mắt của họ đấy là cái gì đó không đáng quan tâm, hay có lẽ trúng hơn, nếu tôi nói: là hiện tượng khả ố, ghê tởm chẳng liên quan gì đến họ và chẳng có quan hệ gì với các tư tưởng của Marx mà họ kính trọng và chấp nhận. Theo quan điểm của tôi họ chúi đầu vào cát như những con đà điểu.

Tôi bắt gặp hiện tượng này không chỉ ở các sinh viên trẻ. Bây giờ, khi chuẩn bị cho báo cáo này, tôi đọc lại các công trình của các nhà bác học có đầu óc cởi mở, có học thức cao, diễn giải lại các lý thuyết Marxist, tôi chợt thấy rằng ngay các công trình xuất sắc nhất cũng hoàn toàn bỏ qua sự đối sánh những kinh nghiệm lịch sử của Liên Xô, của Trung Quốc và các nước Đông Âu trước cải cách với cương lĩnh xã hội chủ nghĩa của Marx. Những tên như Lenin hay Stalin chẳng hề xuất hiện trong các tác phẩm này.

Theo quan điểm của tôi, sự chính trực trí tuệ và chính trị đòi hỏi chúng ta phải đối mặt một cách tận tâm với câu hỏi: những tư tưởng của Marx có liên quan gì đến hệ thống xã hội chủ nghĩa đã được thực hiện? Marx có liên quan gì đến Lenin và Stalin? Tôi đã thử đưa ra câu trả lời thẳng thắn của mình. Có thể tranh luận về câu trả lời của tôi, song tính chính đáng của câu hỏi thì khó có thể tranh cãi.

Một nền kinh tế, nơi người ta loại bỏ sáng kiến tư nhân và sự điều phối thị trường, buộc phải dựa vào sự điều chỉnh hành chính, từ trên xuống. Trong một cơ chế như vậy, phải cưỡng bức kỷ luật và thực hiện các mệnh lệnh từ trên xuống bằng con đường hành chính. Hệ thống xã hội chủ nghĩa không thể hoạt động mà không có sự trấn áp. Nếu nới lỏng bộ máy trấn áp, chẳng sớm thì muộn hệ thống sẽ sụp đổ. Điều này đã xảy ra ở Liên Xô, và khi nó bắt đầu tan rã, ở các nước cộng sản Đông Âu cũng thế.

Gắn vào đây là lập trường của Marx về vấn đề nền độc tài [chuyên chính] và dân chủ. Có lẽ, bản thân ông cũng rùng mình, nếu giả như với chính mắt mình ông nhìn thấy cái gì xảy ra trong các phòng tra khảo của Cheka hay tại các trại tù ở Siberia. Thế nhưng trong khi cần diễn đạt chỉ trên tờ giấy, thì cả Marx lẫn Engels đều khinh miệt nói về chủ nghĩa lập hiến, chế độ đại nghị, nền dân chủ tư sản sáo rỗng và hình thức, và ủng hộ tư tưởng của nền độc tài [chuyên chính] vô sản.

Những ngày qua tôi đọc lại tranh luận nổi tiếng của Kautsky và Lenin, cuốn Nền chuyên chính vô sản của Kautsky (1918), và cuốn Cách mạng vô sản và tên phản bội Kautsky đáp lại của Lenin (1918). Kautsky viết với giọng khách quan, điềm tĩnh, ông kiên định tin vào tư tưởng xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời là tín đồ tận tâm của dân chủ đại nghị. Ông lên tiếng ái ngại rằng nhân danh quyền lợi của giai cấp vô sản người ta có thể bóp nghẹt ý chí của đa số, có thể lạm dụng quyền lực, thiểu số bị bỏ rơi không được bảo vệ. Lenin với giọng mỉa mai khinh miệt, chà đạp lên danh dự của đối thủ, bẻ lại từng lý lẽ của Kautsky. Đọc với con mắt hôm nay, mọi lo sợ của Kautsky tỏ ra chính đáng. Ông đã đúng trong mọi vấn đề ngược với Lenin, trừ một chủ đề quan trọng duy nhất, cụ thể là trong lý giải lập trường của Marx và Engels. Không phải Kautsky, mà Lenin mới là người đã có thể đưa ra các trích dẫn thuyết phục từ tư tưởng của hai nhà tiên tri vĩ đại này để ủng hộ cho lý lẽ của mình. Ông nhắc tới những lời nổi tiếng của Marx: “…những người công nhân sẽ thay thế nền độc tài của giai cấp tư sản bằng nền độc tài cách mạng của mình…” (Marx (1873) [1974] p. 300). Ông trích dẫn Engels: “…đảng chiến thắng không muốn phải chiến đấu vô ích, nó phải duy trì sự thống trị của mình bằng nỗi sợ hãi do vũ khí của nó tạo ra trong những kẻ phản động.” (Engels (1872) [1978] p. 733). Và một trích dẫn Engels nữa mà Lenin dụi vào mũi Kautsky một cách nhạo báng: “Nhà nước không là gì khác bộ máy đàn áp của một giai cấp đối với giai cấp khác, và quả thực trong một nền cộng hòa dân chủ cũng chẳng kém hơn trong nền quân chủ.” (Engels (1891) [1988], p. 22).

Kautsky không thể đưa ra các trích dẫn của Marx để hậu thuẫn cho lý lẽ của ông ở đây. Ông cũng trích dẫn các lời của Marx về nền độc tài cách mạng của giai cấp vô sản, và buộc phải đưa thêm bình luận chua chát sau: “Đáng tiếc, Marx đã bỏ quên việc nêu chính xác ông hình dung nền độc tài này thế nào.” (Kautsky (1919) [1964] p. 43). Cả ở Kautsky, lẫn ở các nhà nghiên cứu–Marx đương đại, thực sự rất khách quan và trong nhiều khía cạnh có cảm tình với Marx, tôi cũng chẳng tìm thấy trích dẫn nào, trong đó Marx – nhà phân tích chính trị vô cùng lỗi lạc, người đã thảo luận toàn diện đến vậy về sự cầm quyền chính trị, nhà nước, và các mối liên hệ giữa áp bức và tự do – giả như đã khảo sát nghiêm túc mối quan hệ giữa các định chế dân chủ và quyền con người, và các mối đe dọa của nền độc tài. Marx đã bỏ qua bản thân vấn đề, bỏ qua toàn bộ lĩnh vực vấn đề khó giải quyết về sự bảo vệ chế định của các quyền tự do và quyền con người. Sự khinh thường nhạo báng này [của Marx] đã ăn sâu vào Lenin và vào những môn đồ trung thành của ông.

Sự khẳng định, rằng nền dân chủ là nền độc tài của giai cấp tư sản, thế chỗ cho nó phải đưa một nền độc tài khác vào bằng con đường cách mạng, đã làm mờ đi sự phân biệt sắc nét giữa nền dân chủ và nền độc tài. Chỉ sau khi Hitler lên nắm quyền, những người cộng sản phương tây mới đột nhiên nhận ra rằng nền dân chủ “hình thức”, “tư sản”, chế độ đại nghị, nhà nước pháp quyền, sự hợp pháp không phải là trò viển vông, mà là giá trị không thể thay thế được. Một trong những lý do là vì nó cung cấp sự bảo vệ chế định cho những người muốn nói và viết, cho những người phê phán chính phủ mọi thời, cho những người làm thay đổi xã hội triệt để, trong đó có các trí thức bức xúc về lẽ phải như Marx đã là trong thời của ông.

Có thể, trong thời của Marx cặp đối lập dân chủ–độc tài, nền độc tài của giai cấp tư sản hay của giai cấp vô sản mới chỉ có vẻ là cuộc đấu khẩu. Ngày nay trong con mắt của những người đã sống và đã sống sót dưới các chế độ chuyên quyền của Stalin, Mao, Rákosi và của những kẻ khác, thì các từ này có nghĩa khác. Ngày nay đã có thể thấy rằng sự khinh bỉ dân chủ trong các bài viết của Marx dường như đã chuẩn bị mặt bằng mà trên đó tòa nhà chuyên chế Leninist–Stalinist–Maoist được dựng lên, đã làm tê liệt sự kháng cự chống áp bức trong những tín đồ của tư tưởng Marxian.

Hiển nghiên tôi dùng từ “trách nhiệm” không theo nghĩa hình sự. Bản thân việc công bố một tư tưởng sai lầm không phải là một hành vi tội phạm. Vấn đề “trách nhiệm” cũng chẳng nổi lên ngay cả theo nghĩa đạo đức học. Marx không vi phạm các mệnh lệnh đạo đức bằng việc lên tiếng đòi xóa bỏ sở hữu tư nhân và thị trường, và đã không nhận ra tầm quan trọng của dân chủ đại nghị và nhà nước pháp quyền trong bảo vệ các quyền con người. Tôi chỉ nói về trách nhiệm trí tuệ. Nếu tôi công bố một tư tưởng thúc đẩy hành động xã hội, thì không chỉ những người trực tiếp thực hiện hành động đó, mà cả tôi cũng chịu trách nhiệm về cái xảy ra, và tôi cũng chịu trách nhiệm về những hệ quả của những cái xảy ra này. Lời tôi càng có ảnh hưởng, thì trách nhiệm của tôi càng lớn. Thế mà, chưa bao giờ, chẳng có ai bằng tư tưởng của mình, bằng cương lĩnh được công bố của mình, lại có ảnh hưởng đến những con người lớn hơn Karl Marx đã ảnh hưởng.

Cái tiếp tục sống từ các học thuyết của Marx

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, quan điểm khá phổ biến trong giới trí thức khắp thế giới rằng các tư tưởng của Marx đã sụp đổ một lần và mãi mãi. Thấy đấy, lịch sử đã phủ nhận điều đó. Không phải một lần tôi bắt gặp những bài viết huyênh hoang hay bài nói ngạo mạn: Marx đã là “passé –quá khứ”, lỗi thời, và không cần quan tâm thêm.

Trong những ngày này, khi khủng hoảng diễn ra, hình thành đúng là tâm trạng ngược lại. Marx lại trở thành mốt. Trong các giới chính trị gia và nhà báo, việc dẫn chiếu đến những tiên đoán mang tính tiên tri của Marx trở nên sang trọng, khi người ta vẽ ra những cảnh tượng kinh hoàng về sự sụp đổ đến nơi của chủ nghĩa tư bản. Đột nhiên Tư bản luận trở thàng sách bán chạy nhất.[8]

Cả hai trào lưu mốt này đều không có căn cứ. Với công trình của ông Marx đã không chỉ ghi tên mình vĩnh viễn vào lịch sử chính trị và tư tưởng, mà nhiều tư tưởng của ông ngày nay cũng vẫn đứng vững, và giúp cho sự hiểu biết thế giới đương đại. Tôi sẽ quay lại ngay vấn đề này. Nhưng trước đó tôi muốn nói vài lời về sự phục hưng gần đây nhất của Marx. Đúng là Marx thường đưa ra các lời tiên tri được lặp đi lặp lại, theo đó trong chủ nghĩa tư bản có các lực tự hủy diệt hoạt động, các lực đó sẽ dẫn hệ thống đến khủng hoảng chí tử và sụp đổ. Ngay cả một vài trong số các nhà nghiên cứu-Marx, những người khính trọng các tư tưởng của Marx nhất, cũng thừa nhận rằng dòng tư duy giải thích sự sụp đổ cuối cùng là khó theo dõi, bí ẩn, khó hiểu, hay đơn giản là sai lầm.[9]

Tôi không thích tiên tri, và tôi đã học được ngần ấy từ kinh nghiệm riêng của mình rằng những thay đổi có tầm quan trọng lịch sử thế giới nhiều khi lại diễn ra một cách đột ngột không ngờ được. Tôi không biết cơ cấu xã hội sẽ như thế nào trong tương lai. Tôi chỉ có thể nói ngần này: trong tầm nhìn của tôi không xuất hiện sự kết liễu của chủ nghĩa tư bản, và lời tiên tri của Marx về sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội còn ít có khả năng trở thành hiện thực hơn. Theo tôi những nền tảng của chủ nghĩa tư bản tỏ ra vững chắc hơn thế nhiều. Tất nhiên vấn đề sẽ không thể được giải đáp bởi cuộc đấu khẩu, tranh luận giữa các lời tiên tri tranh cãi nhau, mà bởi lịch sử tương lai. Ngày nay chúng ta chỉ có thể khẳng định ngần này với sự chắc chắn hoàn toàn rằng hiện thời chủ nghĩa tư bản đang co giật – nhưng vẫn sống.

Trong báo chí hàng ngày chúng ta có thể đọc thấy những tuyên bố của các chính trị gia và các nhà báo rằng sự “soviet hóa” của thế giới phương tây đã bắt đầu. Bởi vì cái gì khác có thể giải thích cho sự thực rằng chính phủ của một số nước không cho không các khoản cứu trợ, mà thay vào đó đòi quyền sở hữu [các doanh nghiệp được cứu trợ]. (Hãy để tôi nói thêm: muộn hơn chính phủ có thể tư nhân hóa [bán] sở hữu nhà nước này, trừ trường hợp có loại đảng cộng sản nắm được quyền ở Hoa Kỳ và ở Anh mà đảng đó kiên quyết áp dụng mô hình Soviet bằng mọi giá). Những kẻ huyên thuyên về “soviet hóa” và về việc đưa chủ nghĩa xã hội vào, là những kẻ tự bộc lộ về mình rằng họ không những không hiểu Marx, mà cũng chẳng biết gì về lịch sử của Liên Xô và các nét đặc trưng thực sự của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, đáng nhấn mạnh rằng có thể thấy những nhận xét thiên tài trong tập I và tập III của Tư bản luận về sự bành trướng tín dụng quá đáng lúc này lúc khác và về tác động gây khủng hoảng của nó. Có lẽ ông là người đầu tiên, hay chí ít cũng là một trong những người đầu tiên, chú ý đến hiện tượng rằng bành trướng tín dụng dẫn đến sản xuất thừa (theo thuật ngữ Marxian) như thế nào, tức là dẫn đến sản xuất vượt cầu thực sự, hay là dẫn đến thừa năng lực cần thiết để đạt mức sản xuất quá cao. Và quá trình bành trướng gia tăng này tiếp tục cho đến khi chuỗi cho vay bắt đầu đột ngột đứt tung.[10]

Trong một–hai thập kỷ qua đã có các kinh tế gia hàn lâm và các chuyên gia tài chính thực tiễn nhận ra những mối nguy hiểm tiềm ẩn trong việc cho vay vô trách nhiệm, tính toán sai lầm những rủi ro, và trong yếu kém của sự điều tiết hệ thống tín dụng, thậm chí đã đưa ra những kiến nghị để ngăn ngừa tai họa, nhưng người ta đã không lắng nghe họ. Những lời cảnh báo tỉnh táo này không đến từ các giới Marxist, cũng chẳng đến từ những kẻ thù cấp tiến của chủ nghĩa tư bản, mà đến từ những tín đồ chăm lo bảo vệ chủ nghĩa tư bản, từ các nhà phê phán tập quán cho vay hiện hành, từ các nhà cải cách hệ thống.

Còn bây giờ quay trở lại khung khổ kể chuyện chủ quan, tôi muốn nói vài lời về các tư tưởng đáng làm bài học nhất cho tôi từ những tư tưởng ngày nay vẫn còn đúng của Marx. Nhà bác học thiên tài này đã thực sự làm tràn ngập chúng ta với những dòng thác ý tưởng và các công cụ phân tích. Trong tiểu luận ngắn này tôi đã tranh luận với vài tư tưởng rất quan trọng của ông, và tôi đã ra hiệu rằng về phần mình tôi không chấp nhận chúng. Thế nhưng – nếu tôi vẫn có thể tiếp tục nói nhân danh cá nhân mình –  có nhiều đóng góp quan trọng của Marx đối với tư duy khoa học, mà tôi vẫn tiếp tục chấp nhận, và tôi cố gắng sử dụng chúng. Tôi chỉ giới hạn ở vài thí dụ sau đây.

Hầu hết chúng ta thường dẫn chiếu đến Schumpeter, khi nói đến “sự sáng tạo hủy diệt”. Chúng ta nghĩ đến các nhà kinh doanh, các nghiệp chủ, những người tổ chức việc đưa ra các sản phẩm mới, các công nghệ mới, phương thức quản lý mới, chiếm lĩnh các thị trường mới. Và bên cạnh đó chúng ta nghĩ đến sự phát triển tư bản chủ nghĩa do Schumpeter mô tả, nó phá hủy thế giới cũ, tạo ra thế giới của riêng nó, phương thức sản xuất của riêng nó thế vào đó, áp đặt chúng lên xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải nói ngay, Marx và Engels đã mô tả quá trình này, lực lượng tạo ra và lực lượng hủy diệt của chủ nghĩa tư bản, trước rất lâu rồi, trong những dòng đầu tiên đầy quyến rũ của Tuyên ngôn Cộng sản. Theo quan niệm của kinh tế học chính trị Marxian các nhà tư bản có vai trò nổi bật trong tổ chức quá trình đổi mới kỹ thuật.

Trước và sau Marx sự chú ý của đa số các nhà kinh tế tập trung vào các trạng thái cân bằng, mà cụ thể là vào một trường hợp đặc biệt của cân bằng thị trường, khi cầu và cung cân bằng với nhau. Muộn hơn kinh tế học gọi trạng thái cân bằng đặc biệt này là cân bằng Walrasian. Bên cạnh Malthus, Marx là người mở đường của hướng nghiên cứu phân tích các trạng thái lệch khỏi cân bằng thị trường, cụ thể là không chỉ nghiên cứu những thăng giáng ngẫu nhiên xung quanh cân bằng thị trường (Walrasian), mà cả những sự lệch kéo dài nữa. Marx đặc biệt quan tâm đến thị trường sức lao động về khía cạnh này, trong đó cung cao hơn cầu không chỉ tạm thời mà kéo dài. Marx đã không thử đưa ra lời giải thích nhân khẩu học, mà đưa ra lời giải thích kinh tế học khi ông khảo sát hiện tượng mà ông gọi là “nạn nhân mãn [quá nhiều người] tương đối”. Ngày nay cũng tình trạng này, tình trạng dư cung sức lao động kéo dài, được kinh tế học sức lao động gọi là cân bằng thất nghiệp. (Xem thí dụ, Layard-Nickell-Jackman 2005, p. 8 và 11). Ít người nhớ rằng Marx là ông tổ mở đường. Về phần mình, tôi nhấn mạnh, trước hết tôi học từ Marx rằng đáng chú ý nhường nào đến những sự lệch kéo dài khỏi cân bằng thị trường.[11]

Tôi không biết chính xác lịch sử về khái niệm “chủ nghĩa tư bản” hình thành ra sao và được đưa vào tư duy khoa học như thế nào. Tôi tin, tôi không nhầm, nếu tôi khẳng định: từ lâu hầu hết các chính trị gia, các nhà bình luận và các nhà khoa học xã hội gắn sự đưa vào khái niệm “chủ nghĩa tư bản” với Marx và trào lưu tư tưởng Marxist, và đối sánh hệ thống tư bản chủ nghĩa thực sự hình thành về mặt lịch sử với một thế giới mới, với hệ thống xã hội chủ nghĩa mà trước đó Marx mới chỉ tiên tri và ao ước. Marx không hình dung cái sau (hệ thống xã hội chủ nghĩa) như một sự không tưởng, mà như một thực tế lịch sử chắc chắn sẽ xuất hiện.

Sự tạo khái niệm này gắn mật thiết với học thuyết liên quan đến các phương thức sản xuất kế tục nhau, khác nhau về những đặc trưng quan trọng nhất.

Thành phần quan trọng này của tòa lâu đài trí tuệ của Marx ngày nay vẫn có ảnh hưởng mạnh đến tư duy của tôi. Trong một bài viết của mình tôi gọi cách xem xét này là “khung mẫu hệ thống–system paradigm”, tức là cách xem xét không tách một lát (cắt) duy nhất, phần được giới hạn duy nhất của xã hội, ấy là lĩnh vực chính trị, lĩnh vực văn hóa và tư tưởng hay nền kinh tế, mà tập trung vào cái toàn thể do các phần đó tạo nên. Nó tập trung chú ý đến các phần khác nhau phụ thuộc lẫn nhau thế nào, những mối quan hệ nào hình thành giữa chúng. Nó không mô tả hệ thống trong bức ảnh tĩnh chụp chớp nhoáng, mà nó cố hiểu động học của hệ thống, như hệ thống diễn ra trong lịch sử. Marx là người mở đường vĩ đại và bậc thầy vô song của system paradigm. Cùng một lúc, trong một cá nhân, ông vừa là nhà kinh tế, nhà xã hội học, nhà khoa học chính trị và nhà sử học. Thời đó, đã chẳng ai dùng từ “liên ngành–interdisciplinary”, nhưng ông đã nêu một tấm gương về làm thế nào để vượt lên trên giới hạn chuyên ngành hạn hẹp và nghiên cứu với tư cách một nhà khoa học xã hội toàn diện.

Người ta thường hỏi, tôi có là nhà Marxist hay không? Câu trả lời của tôi dứt khoát là không.[12] Những người khác nói: tôi thuộc trường phái Áo, hay tôi là người theo trường phái Keynes, tân cổ điển hay tân tự do, và v.v. Tôi lắc đầu từ chối trong mỗi trường hợp. Tôi không là một tín đồ vô điều kiện của một trường phái hay chủ nghĩa nào cả. Nếu những người khác thử làm việc đó, tôi cũng chẳng để mình bị nhốt trong một cái hộp nào. Tôi ưa thú nhận rằng các thành tố của tư duy của tôi – mượn các từ châm biếm của Engels – hòa lẫn thành cháo biện chứng của kẻ ăn mày. Nếu tôi có thiện chí hơn với bản thân mình, tôi vui lòng nói rằng tôi cố gắng tích hợp nhiều loại trào lưu tư tưởng. Khi phải nêu tên những người đã có ảnh hưởng nhiều nhất đến tôi, tôi thường nhắc đến tên Schumpeter, Keynes, Hayek, nhưng cùng trong danh sách này tên của Karl Marx luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

Tài liệu tham khảo

BENCE, G. – KIS, J. [1978]: Towards an East European Marxism, under the pseudonym Marc Rakovski, London: Allison and Busby.

BRÓDY, ANDRÁS [1970]: Proportions, Prices and Planning: A Mathematical Restatement of the Labor Theory of Value, Budapest – Amsterdam: Akadémiai Kiadó – North Holland.

BRUS, W. (1961) [1972]: The General Problems of the Functioning of the Socialist Economy, New York -London: Routledge.

COLLINS, P. [2008]: Karl Marx: Did he get it all right? Times, October 21, 2008. http://www.timesonline.co.uk (Downloaded November 4, 2008.)

ELSTER, J. [1991]: Making Sense of Marx, Cambridge – Paris: Cambridge University Press – Maison des Sciences de l’Homme.

ENGELS, F. (1872) [1978]: On Authority, in Marx-Engels Reader, second edition (first edition in 1973), pp.730-733. New York: Norton.

ENGELS, F. (1981) [1988]: Introduction, in Karl Marx: The Civil War in France: The Paris Commune, pp.9-22. , New York: International Publishers..

FOLEY, D. [1986]: Understanding Capital: Marx’s Economic Theory, Cambridge MA: Harvard University Press.

KAUTSKY, K. (1918) [1964]: The Dictatorship of the Proletariat, University of Michigan Press.

KORNAI, J. [1980]: Economics of Shortage, Amsterdam: North-Holland

KORNAI, J. [1993]: The Socialist System, Princeton – Oxford, Princeton: University Press – Oxford University Press. (Hệ thống xã hội Chủ nghĩa, NXB Thông tin, 2002)

KORNAI, J.(2005) [2007]: By Force of Thought – Irregular Memoirs of an Intellectual Journey, Cambridge, Massachusetts and London, England: The MIT Press. (Bằng sức mạnh Tư duy, NXB Thanh Hóa, 2008)

LAYARD, R. – NICKELL, S. – JACKMAN, R. [2005]: Unemployment. Macroeconomic Performance and the Labor Market. Oxford: Oxford University Press.

LENIN, V. I. (1918) [1964]: The Proletarian Revolution and the Renegade Kautsky, Moscow: Foreign Languages Press.

MANDEL, E. [2008] Marx, Karl Heinrich (1818–1883), in Durlauf, S.N. – Blume, L.E. (eds.) The New Palgrave Dictionary of Economics. Second Edition. Vol. 5. pp. 384-405. Palgrave – Macmillan.

MARX, K – F. ENGELS (1848) [1969]: The Communist Manifesto, Marx-Engels Selected Works, Volume One, Moscow: Progress , pp. 98-137.

Marx, K. (1871) [1988]: The Civil War in France, in Karl Marx: The Civil War in France: The Paris Commune, New York: International Publishers.

MARX, K (1873) [1974]: Political Indifferentism, in Karl Marx: The First International and After, New York: Vintage Books

MARX, K. (1867) [1967]: The Capital: A Critique of Political Economy Vol. 1., New York: International Publishers.

MARX, K. (1863-1883) [1967]: The Capital: A Critique of Political Economy Vol. 3, New York: International Publishers.

MORISHIMA, M. [1973]: Marx’s Economics: A Dual Theory of Value and Growth, Cambridge: Cambridge University Press.

OZ, A. [2006]: How to Cure a Fanatic, Princeton: Princeton University Press.

ROEMER, E. J. (ed.) [1986]: Analytical Marxism, Cambridge, UK: Cambridge University Press.

ROEMER, E. J. (ed.) [1994]: Foundations of Analytical Marxism, Brookfield: Elgar.

TABBIT, F. [2006]: A Brief History, Scope, and Peculiarities of „Analytical Marxism”, Review of Radical Political Economics, http://www.sagepublications.com


*Nguyễn Quang A dịch dựa vào nguyên bản tiếng Hungary, “Marx egy ketet-erópai értelmiségi szemével” và bản dịch tiếng Anh, “Marx through the eyes of an east european intellectual”. Có thể tiếp cận cả hai bản tại:  http://www.colbud.hu/fellows/kornai.shtml

[1] Tôi cảm ơn Dániel Zsuzsa, Madarász Aladár, và Nagy Eszter vì sự giúp đỡ quý báu của họ cho việc soạn tiểu luận này. Tôi cảm ơn Brian McLean đã dịch sang tiếng Anh, cảm ơn Collegium Budapest và Đại học Trung Âu đã hỗ trợ nghiên cứu của tôi.

[2] Tôi chọn ra các công trình sau từ văn liệu gần đây và đương đại: Elster (1991), Foley (1986), Kolakowski (1978), Mandel (2008), Roemer (1986 và 1994) và Tabbit (2006).

Các sách giáo khoa về lịch sử lý thuyết được dùng ở các đại học phương Tây – hay chí ít các sách giáo khoa được xuất bản trong mười năm lại đây – có nhắc đến các công trình của Marx nhưng thường không phân tích hay đánh giá chúng một cách sâu sắc. Xem, thí dụ, Backhouse (2002) và Vaggi and Groenewegen (2006)

[3] Hồi ký tự sự của tôi được xuất bản bằng tiếng Hungary năm 2005. Kế tiếp là các lần xuất bản bằng tiếng Nhật và tiếng Anh, rồi đến tiếng Nga, Ba Lan và tiếng Việt. Bản tiếng Trung Quốc đang chuẩn bị. Cuốn sách được Tsuneo Morita dịch ra tiếng Nhật và được Nippon-Hyoron-Sha xuấ bản ở Tokyo.

[4] Amos Oz, nhà văn lớn của Israel, cũng rút ra những kết luận tương tự trong kiệt tác của ông: How to Cure a Fanatic [Chữa trị một kẻ cuồng tín thế nào] (2006).

[5] Không chỉ những người chưa bao giờ chịu ảnh hưởng của Marx có lập trường này, mà cả hầu hết các đại diện của cái gọi là “chủ nghĩa Marx giải tích – analytical Marxism” cũng có lập trường như vậy cho dù họ coi hầu hết các yếu tố của lý thuyết xã hội và triết học của Marx là của mình.

[6] Cuộc vật lộn với các tư tưởng của Marx và sự vượt từ từ qua chủ nghĩa Marx có thể thấy trong các công trình của nhiều nhà khoa học xã hội Đông Âu. Tôi chỉ nhắc đến hai công trình đáng chú ý và có ảnh hưởng, là cuốn sách của W. Brus (1972), xuất bản lần đầu tiên ở Ba Lan năm 1961, và nghiên cứu của G. Bence và J. Kis (1978). Bản xuất bản chui (samizdat) của cuốn sau đầu tiên được lưu truyền bất hợp pháp ở Hungary, rồi được xuất bản dưới một bút danh trong một tạp chí của người Hung di tản ở Paris.

[7] Tôi đã thử nêu các đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa bằng vài dòng ngắn gọn. Các ý tưởng của tôi được trình bày chi tiết trong cuốn Hệ thống xã hội chủ nghĩa (1992, 2002).

[8] Về sự quan tâm được hun nóng đột ngột đến Marx, xem, thí dụ bài báo của tờ Times ở London (Collins 2008).

[9] Các ý tưởng của Marx về vấn đề này thường được diễn giải rằng xu hướng suất lợi nhuận giảm dần cuối cùng sẽ dẫn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến mất khả năng. Dựa vào những cân nhắc lý thuyết cũng như các sự thực lịch sử, đa số các nhà phê phán nghi ngờ bản thân xu hướng này. Về phần mình, tôi đồng ý với các nhà phê phán.

[10] Marx đã không tổng kết các ý tưởng của mình về các cuộc khủng hoảng có chu kỳ. Có lẽ những chỗ quan trọng nhất để dẫn chiếu đến ở đây là Tư bản luận tập III, chương 30. Mandel (2008) cho một tổng kết ngắn gọn về các ý tưởng của Marx liên quan đến các cuộc khủng hoảng.

[11] Hiện tượng trung tâm đối với nghiên cứu của tôi (Kornai 1980) là sự thiếu hụt kinh niên về hàng hóa và sức lao động xuất hiện trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chính là ảnh đối xứng của hiện tượng dư thừa kéo dài do Marx và Keynes mô tả, tức là hiện tượng đối xứng với nó và có dấu ngược lại.

[12] Ngày nay ở Đông Âu, ngay cả những người năm 1989 vẫn bình tĩnh dạy “chủ nghĩa duy vật biện chứng” hay “kinh tế học chính trị” [Marxist] cũng trả lời là không. Tuyên bố trên của tôi có những tiền đề cá nhân khác. Như tôi đã nói ở đầu: tôi bắt đầu như một người Marxist. Thế nhưng, tháng 11-1956, sau khi các xe tăng Soviet đã tràn vào Budapest, tôi đã tuyên bố với bí thư đảng bộ địa phương lập trường chính trị của mình: hãy ghi nhận tôi không còn là người Marxist nữa. Tuyên bố này đã gây nhiều khó khăn cho đời sống của tôi sau đó, trong một thế giới hàn lâm nơi mà theo nghĩa đen của từ bắt buộc phải là người Marxist.

Ghi chú của Ba Sàm:

- Viện sĩ Kornai János, người Hungari, có nhiều sách rất có giá trị đã được dịch ra tiếng Việt (mời xem bài 10:Điểm sách – Bằng Sức Mạnh Tư Duy).

- TS Nguyễn Quang A, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, cũng là người dịch nhiều cuốn sách của Viện sĩ Kornal János.

Một vài ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu (ngày 11,12-5-2009) sau khi đọc bài này:

1 – Tiến sĩ kinh tế Vũ Quang Việt:

Đúng như ông Kornai nói, Marx chính là đưa ra các biện luận để sau này Lenin, Stalin, Mao sử dụng xây dựng một thể chế độc tài, không phải của giai cấp mà của một hoặc một thiểu số người.   “Các chế độ đó có toàn quyền để dẫn chiếu đến Marx, vì chúng đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử vĩ đại do ông đề ra.”
…….

Tranh luận giữa  Kautsky và Lenin mà Kornai nhắc tới thì đúng là tranh luận của một con người còn quan tâm đến con người nhân bản  ” ái ngại rằng nhân danh quyền lợi của giai cấp vô sản người ta có thể bóp nghẹt ý chí của đa số, có thể lạm dụng quyền lực, thiểu số bị bỏ rơi không được bảo vệ.” với một người  như Lenin hiểu rõ quyền lực là gì nhưng lại tin  tưởng ngờ nghệch rằng (nếu ta còn có cảm tình với Lenin) con người “cách mạng ” có thể dùng quyền lực đúng đắn.

Đúng như Kornai viết:

Marx đã bỏ qua bản thân vấn đề, bỏ qua toàn bộ lĩnh vực vấn đề khó giải quyết về sự bảo vệ chế định của các quyền tự do và quyền con người. Sự khinh thường nhạo báng này [của Marx] đã ăn sâu vào Lenin và vào những môn đồ trung thành của ông.

……

Ngày nay đã có thể thấy rằng sự khinh bỉ dân chủ trong các bài viết của Marx dường như đã chuẩn bị mặt bằng mà trên đó tòa nhà chuyên chế Leninist–Stalinist–Maoist được dựng lên, đã làm tê liệt sự kháng cự chống áp bức trong những tín đồ của tư tưởng Marxian.

Vấn đề không chỉ là dân chủ vì số đông có thể bỏ phiếu đa số truất quyền của phụ nữ, truất quyền suy nghĩ độc lập như trong xã hội muslim quá khích hiện nay, và có khi có lúc trong xã hội cộng sản thời Stalin và Mao dân chúng cũng có thể sẵn sàng bỏ phiếu như thế. Vấn đề còn là quyền (tự do) của thiểu số, quyền (tự do) của cá nhân, hay nói chung là quyền con người. Tức là làm sao hạn chế quyền của những người nắm quyền lực của nhà nước. Ở chủ nghĩa xã hội thì đây là vùng trắng, vì không có thể chế cân bằng và kiểm soát quyền lực.

Các đóng góp khác về kinh tế của Marx như động lực phát triển, business cycles, phân tích động thay vì phân tích tĩnh, v.v. vẫn có giá trị về mặt tư tưởng, nhưng tôi nghĩ về mặt chuyên môn chỉ còn giá trị lịch sử.

Điều này cho thấy cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện nay sẽ đưa đến một chủ nghĩa tư bản với các pháp qui cần thiết nhằm hạn chế sự thao túng thị trường tài chính chứ không thể dẫn đến một loại chủ nghĩa Marx kiểu mới được.

2- Nhà nghiên cứu Lữ Phương:

Nhân đọc bài của Kornai viết về Marx do Nguyễn Quang A dịch, sau đó đọc thêm được mấy dòng nhận định cùa Vũ Quang Việt, do có quan tâm chút ít đến vấn đề này, tôi cũng có mấy ý nghĩ sau đây, mạo muội gửi đến quý vị tham khảo:

Trong kinh nghiệm của tôi, tôi cho rằng những nhà kinh tế, những người hoạt động chính trị, nhân danh cho những lợi ích thực tiễn để đọc Marx, rồi khen hay chê phần nhiều  đều hời hợt, không nghiêm chỉnh, không thật đáng tin. Chủ đề mà Marx đề cập là kinh tế chính trị chứ không phải kinh tế thực hành và chỗ đứng mà ông dựa vào để phê phán thứ kinh tế chính trị ấy chính là cái quan điểm triết học-chính trị của ông về con người, về lịch sử.

Những người cộng sản kiểu Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… khi theo Marx để chống lại những chính sách tư bản ăn cướp, thực dân, đế quốc đã xử sự với tư tưởng của ông theo kiểu chính trị  thực dụng. Những  tệ hại  mà họ gây  ra là sau khi đạt được mục đích rồi họ vẫn xài Marx theo cách đó: họ xem những  suy lý triết học chính trị của Marx như là kinh thánh và dùng bạo lực áp dụng vào cái gọi là “xây dựng kinh  tế”. Chẳng có gì là kinh tế trong chính sách tập thể hoá của Stalin.  Chẳng có gì là kinh tế trong những lò luyện thép gia đình của Mao. Kể cả cái gọi là “cải cách ruộng đất” của Bắc Việt Nam v.v…

Cũng xin nói thêm: cũng chẳng có gì là “mácxít’ trong những thứ quỷ quái ấy cả!

Những người theo kinh tế tư bản, dựa vào những nguyên lý kinh tế  tự do, hay  dẫn ra  một số câu của Marx để so sánh, rồi cho rằng chính Marx phải chịu trách nhiệm về những gì mà những kẻ độc tài đã nhân danh Marx để gọi là”vận dụng” vào việc xây dựng nên cái mô hình mácxít về “chủ nghỉa xã hội”, những nhà kinh tế này cũng chỉ lý sự một cách “vô duyên” không kém gì những kẻ độc tài mà họ chống lại: họ cũng hoàn toàn không chú ý gì đến cái tính chất  lôgích trong biện luận cùng với hàng loạt những điều kiện Marx đã  hình dung cho cái viễn cảnh, cũng lôgích, mà ông suy ra trong quá trình phê phán kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa thời ông.

Cũng xin nói thêm: những nhà kinh tế ấy chỉ chống một hình rơm của Marx!

Đưa ra những kết luận về sự lỗi thời của học thuyết Marx cũng là vớ vẩn – triết học không phải  là cái kiểu áo ta mặc, không có thứ triết học nào hợp thời hay lỗi thời cả – cách diễn đạt đó không khác gì cách ăn nói của những kẻ mộng du nhắm mắt nhắm mũi bảo vệ Marx như một chân lý ngàn năm. Điều đáng suy ngẫm về Marx sau hơn 150 chủ nghĩa Marx ra đời, với bao nhiêu đổi thay xảy ra trên mặt đất, không còn phải là tính khả thi hay không của nó nữa mà là sự tồn tại của những cơn đau có thật do một chế độ tư bản vô tâm, vô cảm, ngạo mạn, huênh hoang  gây ra cho con người, vẫn còn kéo dài từ khi Marx nêu ra như một nghiệm sinh,  cho đến nay có vẻ như vẫn vô phương chấm dứt.

Cũng xin nói thêm điều này:  cái thứ chủ nghĩa tư bản ấy không phải chỉ lộng hành bên Mỹ mà đang tác oai tái quái trên đất nước Việt Nam, tệ hại hơn nhiều lần!

Tất cả những xét đoán về Marx, với chúng ta ngày nay, thiết nghĩ chỉ có  bấy nhiêu đó mới đáng gọi là  quan trọng. Tôi cho rằng Kornai đã suy nghĩ về Marx như một nhà kinh tế tầm thường: theo sự trình bày của ông thì  ông theo  Marx cũng chỉ vì chính trị thực dụng, nay ông bỏ Marx mà vẫn vớt vát mấy điều để xài cho  được thì cũng chỉ vì lý do đó thôi –  chẳng có gi khác cả.

3- Trao đổi lại của Tiến sĩ Vũ Quang Việt:

Xin góp lại vài lời với anh Lữ Phương. Có những cái tôi đồng ý và có những cái không.

Marx vừa là nhà triết học, nhà kinh tế chính trị học, và nhà vận động cách mạng.

Marx với tư cách là nhà triết học thì các nhà tư tưởng và trường học sẽ không bao giờ bỏ qua được. Biện chứng pháp duy vật là đóng góp lớn của Marx và là một trong những phương pháp (không phải duy nhất) phân tích xã hội có giá trị lớn.  Điều này tôi đồng ý với anh Lữ Phương.

Với tư cách là nhà kinh tế chính trị học thì việc phân tích kinh tế tư bản ở thời Marx sống và ảnh hưởng của chúng đến xã hội và chính trị là điều các học giả vẫn cần tiếp tục học tập, kể cả phương pháp lý luận, mà có cái đã được các nhà kinh tế hiện đại sử dụng và phát triển (tôi thí dụ như mô hình vào ra và cả một phần quan trọng trong hệ thống tài khoản quốc gia nhằm đo lường nền kinh tế đang là chuẩn mực quốc tế là dựa vào Marx). Tuy nhiên nhiều phương pháp dùng để phân tích kinh tế và nhiều kết luận đã lỗi thời không còn phù hợp. Có lẽ chúng ta cũng dễ đồng ý về nhiều điểm ở đây.

Nhưng cái quan trọng có thể nói là đã ảnh hưởng lớn đến thế kỷ 20 là Marx với tư cách là nhà vận động cách mạng, mà tư tưởng của ông đã được các nhà chính trị như Lenin, Stalin, Mao tiếp nhận. Điểm này là điều không thể bỏ qua, và không thể cho rằng nó không nằm ngay trong tư tưởng của Marx. Đây chính là điều mà Kornai viết về nó. Tôi cho rằng bất cứ một nhà triết học nào bàn về con người, bàn về mâu thuẫn, bàn về biện chứng, rồi cổ võ cho một hình thức xã hội nhất định mà không bàn về quyền lực và lạm dụng quyền lực thì là điều thiếu sót lớn.

Cải cách ở Việt Nam hiện nay và trong tương lai về cơ bản cũng đòi hỏi việc giải quyết vấn đề quyền lực và lạm dụng quyền lực trong xã hội. Và nói theo kiểu Marx thì đây là cuộc vận động biện chứng giữa các lực lượng trong xã hội. Tôi nói “theo kiểu” có nghĩa là tôi không dùng quan niệm đấu tranh giai cấp ở đây.

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ, Lịch sử | Tagged: , , , , , , | 4 Comments »

Báo động họa Cộng sản

Posted by adminbasam on 17/04/2009

National Interest Online

Báo động họa Cộng sản

Lời tựa của TTX Vĩa Hè:

Chúng ta đang sống trong thời kỳ lo sợ về hiểm họa Cộng sản

1919-1920 chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ đã lùng bắt và trục xuất mấy trăm người di dân có các quan điểm chính trị cực tả. Sự lo lắng nầy đã bị gây ra bởi các nỗi sợ về một sự lật đổ của những người cộng sản ở Mỹ sau cuộc Cách Mạng Nga 1917Tựa đề Red Scare xuất phát từ 1919-1920.

*Quan điểm của tác giả là : Nếu TQ đe dọa bất cứ nước nào ở Đông Á, thì Mỹ đừng nên xía vào, mặc kệ nó. Hãy lo cho quốc nội.

Doug Bandow

Ngày 15-4-2009

Chi phí quân sự của Hoa Kỳ tiếp tục tăng lên mặc dù những mối đe doạ tiềm tàng chống lại nước Mỹ đã giảm xuống mức tối thiểu.

Những người biện hộ cho một lực lượng quân sự lớn mạnh hơn đang kêu gọi sự chú ý tới những kẻ thù cũ và mới, mà Trung Quốc là đối thủ hàng đầu đại diện cho loại Kẻ Thù Số Một.

Thế nhưng nếu Bắc Kinh đại diện cho một mối đe doạ, thì sự đe dọa ấy là đối với sự thống trị của Hoa Kỳ ở Đông Á, chứ không phải với nước Mỹ. Tuy nhiên, chỉ khi nào Trung Quốc gây ra mối đe dọa tại đất Mỹ thì mới đáng giá để giao tranh.*

Một số người tán thành cho chính sách này đã coi Trung Quốc như là một mối nguy hiểm tiềm tàng, trong khi những người khác coi cuộc chiến tranh với Bắc Kinh là chắc chắn phải xẩy ra.

Sự gia tăng các chi tiêu quân sự của Trung Quốc là nỗi lo sợ chung đối với tất cả mọi người. Ngũ Giác Đài đã nêu bật mối quan ngại của họ qua bản báo cáo thường niên mới đây nhất về ngân sách quốc phòng của Trung Quốc.

Bắc Kinh đã đáp trả bằng việc gọi bản báo cáo này là một “sự bóp méo cực độ về các sự kiện” và là sản phẩm của “lối tư duy Chiến tranh Lạnh”, thứ đóng vào vai trò “lợi dụng ảo tưởng về mối đe doạ quân sự của Trung Quốc.”

Để làm cho mọi người tin, Bộ Quốc phòng (BQP) đưa ra một giọng điệu có cân nhắc tính toán khi họ trình bày chi tiết về những nỗ lực quân sự gia tăng của Trung Quốc.

Các lực lượng lục quân của Bắc Kinh đang thực hiện nhiều tiến bộ thực sự — song vẫn còn còi cọc so với quân đội Mỹ, lực lượng Mỹ khởi đầu với một cơ sở to lớn vững mạnh và chi tiêu gấp nhiều lần hơn (TQ).

Bản báo cáo này của Hoa Kỳ tương tự như (báo cáo) của nước Anh ở thế kỷ 19, với đế chế trải rộng trên toàn cầu của họ, (khi ấy) Anh công khai than phiền về lực lượng hải quân đang bành trướng của Mỹ. Cuối cùng, Washington đã qua mặt cường quốc Anh, nhưng chỉ sau hai cuộc chiến tranh thế giới đã cùng lúc đánh thức nước Mỹ trỗi dậy và làm nước Anh kiệt sức.

Bản báo cáo của Ngũ Giác Đài mở đầu bằng cách công khai tuyên bố rằng “Hoa Kỳ chào đón sự trỗi dậy của một nước Trung Hoa ổn định, hòa bình, và thịnh vượng, và khuyến khích Trung Quốc tham gia một cách có trách nhiệm vào hệ thống quốc tế.” Tuy nhiên, Ngũ Giác Đài nói thêm rằng, “nhiều biểu hiện không rõ ràng bao quanh hướng đi tương lai của Trung Quốc, đặc biệt liên quan tới việc sức mạnh quân sự đang bành trướng của Trung Quốc có thể được sử dụng ra sao.”

Thật là đầy đủ, song làm cách nào Washington định nghĩa chữ “có trách nhiệm”?  (thì) Bản báo cáo không cho biết. Tuy nhiên, người ta hoài nghi rằng chữ “trách nhiệm” có nghĩa là sự chấp nhận quyền bá chủ quân sự của Mỹ ở Đông Á. Và với điều này, Bắc Kinh chắc chắn hầu như là không đồng ý.

Việc xây dựng lực lượng quân đội của Trung Quốc từ đó đến giờ là quan trọng song vẫn còn ở mức độ có tính toán. “Quân Giải phóng Nhân dân (QGPND) đang theo đuổi một sự chuyển đổi toàn diện từ một đội quân khổng lồ đã được xây dựng dành cho các cuộc chiến tranh tiêu hao sinh lực kéo dài trên lãnh thổ của họ sang một quân đội có khả năng chiến đầu và giành chiến thắng trong thời gian ngắn hạn, những xung đột ở cường độ cao chống lại các kẻ thù có công nghệ cao,” theo như giải thích của Ngũ Giác Đài.

Cuộc chuyển đổi của quân đội Trung Quốc “được nạp thêm năng lượng bằng việc thu đoạt được các vũ khí tối tân của nước ngoài, bằng tiếp tục đầu tư cao độ vào nền công nghiệp quốc phòng và khoa học công nghệ, và những cải cách sâu về tổ chức và học thuyết quân sự của lực lượng lục quân.” Cuối cùng, là các lực lượng vũ trang của Trung Quốc tiếp tục phát triển và chọn lựa những công nghệ quân sự có tính chất tàn phá, bao   gồm những vũ khí như tàu ngầm, các hỏa tiễn bay thấp để tránh ra đa, hỏa tiển có gắn đầu đạn hạt nhân hay các đầu đạn có ngòi nổ như trong chiến tranh qui ước, và các hỏa tiễn có gắn  bộ phận hướng dẫn chính xác *, cũng như vũ khí hạt nhân, trên vũ trụ, và chiến tranh trên mạng toàn cầu, là những thứ  đang thay đổi các cán cân quân sự khu vực trong miền (Á châu) và tất cả những sự kiện quân sự ấy đang có những hàm ý  vượt quá khu vực châu Á-Thái Bình Dương **.

Tuy nhiên, sự bành trướng có kế hoạch này chỉ đe doạ chút ít tới an ninh của Hoa Kỳ. Chỉ có lực lượng hạt nhân của Trung Quốc ngày nay là có thể tấn công nước Mỹ về mặt lý thuyết.

Bắc Kinh hiện sở hữu vào khoảng 40 hỏa tiễn xuyên lục địa, một số có tầm bắn hạn chế, và từ 15 tới 20 tàu ngầm có khả năng phóng được các hỏa tiễn. Trung Quốc đang cải thiện các tiềm năng chiến lược, “hiện đại hóa lực lượng tên lửa có tầm bắn xa hơn bằng việc bổ sung thêm những hệ thống duy trì hoạt động,” Ngũ Giác Đài cho biết, song trên thực tế, kết quả sẽ là một lực lượng phòng thủ, chứ không phải để tấn công.

Ngược lại, kho chứa vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ bao gồm hàng ngàn đầu đạn tinh vi được gắn trên hàng trăm tên lửa. Có một “khoảng cách về tên lửa” nguy hiểm (giữa Hoa kỳ và Trung Quốc), nhưng nó lại theo chiều hướng thuận lợi hoàn toàn cho Washington, và Bắc Kinh sẽ phải mất nhiều năm để xây dựng một lực lượng quân sự ở mức khiêm nhường có khả năng đơn giản ngăn ngừa nước Mỹ.

Dĩ nhiên, Trung Quốc có khuynh hướng hoạt động vượt quá vùng bờ biển của riêng họ. Trung Quốc đang “phát triển những vũ khí có tầm bắn xa hơn để có các khả năng vượt quá lãnh thổ Đài Loan,” những thứ vũ khí ấy, Ngũ Giác Đài cảnh báo rằng, “có thể cho phép Trung Quốc hướng sức mạnh của mình nhằm đảm bảo quyền sử dụng các nguồn tài nguyên hoặc yêu sách chủ quyền trên những vùng lãnh thổ đang tranh chấp, (TS & HS)”. Bắc Kinh “đang có được một số lượng lớn các tên lửa tầm thấp với độ chính xác cao.”

Ngoài ra, các hệ thống ra đa gắn trên phi cơ đang bay ở cao có khả năng phát hiện và phân biệt được phi cơ của địch và bạn cách xa 350-500 km và hệ thống tiếp nhiên liệu trên không sẽ cho phép các hoạt động trên không (của phản lực cơ) được nới rộng tới vùng Biển Đông và xa hơn nữa,” trong khi “các khu trục hạm và tàu ngầm tiên tiến phản ánh tham vọng của Bắc Kinh muốn bảo vệ và phát triển các quyền lợi trên biển của họ tới Trường Sa, và vượt quá quần đảo Trường Sa.”

“Các đơn vị tên lửa mới của Trung Quốc được trang bị những loại tên lửa có tầm bắn quy ước” vượt quá cả lãnh thổ Đài Loan. Bắc Kinh cũng đang phát triển những khả năng tham gia vào cuộc chiến tranh không qui ước, bao gồm công nghệ chống vệ tinh và tiềm năng tác chiến trên mạng internet toàn cầu.

Những bước đi này nghe qua thì đầy hăm dọa, song Trung Quốc vẫn còn một chặng đường dài để đi trong việc tạo ra một lực lượng quân sự có khả năng cao. Theo những ghi nhận từ Bộ Quốc Phòng Mỹ, quân đội Trung Quốc “tiếp tục phải đối mặt với những khiếm khuyết thiếu hụt trong khâu phối hợp tác chiến giữa các lực lượng (hải, lục, không quân, và tiếp liệu) và kinh nghiệm thực tế trong các cuộc diễn tập chung và những cuộc hành quân chiến đấu,” và họ phải tiếp tục thay thế “những phi cơ và tàu chiến đã lỗi thời,” điều chỉnh “học thuyết hành quân để đạt được và hiểu biết các năng lực  mới của họ,” và biến đổi cho thích ứng “trang thiết bị hậu cần và công tác huấn luyện.”

Bắc Kinh chưa có khả năng “đánh thắng một đối thủ ở mức độ trung bình.” Thêm vào đó, “Trung Quốc có thể sẽ không đặt kế hoạch và hỗ trợ những đơn vị quân đội nhỏ đóng quá xa lãnh thổ Trung Quốc trước 2015, và sẽ không thể đặt kế hoạch và hỗ trợ những lực lượng lớn trong các cuộc hành quân chiến đấu xa khỏi Trung Quốc cho mãi tới khi bước vào thập niên tiếp theo.” (ý nói từ năm 2020-2030).

Trong bất cứ trường hợp nào, các khả năng như thế sẽ dường như phù hợp với quyền lợi kinh tế và địa-chính trị của một quốc gia bị bao bọc bởi các nước đã từng đánh nhau trong quá khứ.

Thậm chí nếu có ai đang nghi ngờ rằng các hoạt động quân sự của Bắc Kinh là “phòng vệ một cách thuần túy,” như Bắc Kinh đang nhấn mạnh, các hoạt động quân sự ấy đặt ra chút ít nguy hiểm trực tiếp đối với nước Mỹ*.

Sau cùng, Trung Quốc có đạt được thành công tối thiểu về qui ước chiến lược. Mặc cho những lời phát biểu về chuyện quan tâm từ các viên chức Trung Quốc khác nhau trong việc thủ đắc một hàng không mẫu hạm, từ đó đến nay Bắc Kinh đã và đang có làm chút ít để gia tăng khả năng nầy.Trái lại, Hoa Kỳ đang sở hữu 7 nhóm hàng không mẫu hạm.

Trung Quốc cũng thiếu một khả năng không quân chiến lược quan trọng.  Sẽ không có các lực lượng tấn công người Trung Quốc đang hướng tới các vùng đất đai sở hữu ở Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, như Hawaii chẳng hạn, trong đời sống hiện nay của chúng ta (ý nói 30-40 năm nữa, Trung Quốc cũng chưa đủ khả năng tấn công Hawaii).

Các quốc gia Đông Á (Việt Nam, Lào, Kampuchea, Đại Hàn, Nhật, Malaisia,…) có thể ở vào tình trạng nguy hiểm lớn hơn, vì Trung Quốc chắc chắc đang muốn hỗ trợ lời nói của họ bằng sự hiện diện, (nếu như không muốn nói sử dụng khi cần thiết), của lực lượng quân sự trong việc giải quyết những vụ tranh chấp đất đai ở trong vùng này.

Nhưng bảo vệ các con cọp Đông Á – các quốc gia nầy (Đài Loan, Nam Hàn, Nhật) phần lớn đều có khả năng tự bảo vệ họ  –  không phải là giống như việc bảo vệ nước Mỹ.

Thêm vào đó, từ đó đến nay chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã và đang có tính thực dụng (làm theo quyền lợi) và có tính chất giới hạn. Mục tiêu hiển nhiên nhất của Trung Quốc là gia tăng một quân đội có khả năng củng cố ước muốn của họ lên Đài Loan*, vùng đất đang bị cách ly khỏi lục địa Trung Quốc trong 60 năm qua.

Tuy nhiên, các căng thẳng ở eo biển Đài Loan đang giảm dần nhờ những thay đổi chính trị ở thủ đô Đài Bắc, mặc dầu sự hăm dọa về hoạt động quân sự chưa biến mất.

Thêm vào đó Bộ Quốc Phòng Mỹ đang thừa nhận rằng “một nỗ lực xâm lăng Đài Loan sẽ làm tổn thương các lực lượng bộ binh vũ trang chưa được thử sức của Trung Quốc và mời mọc sự can thiệp của quốc tế.” Đài Bắc cũng có thể làm rất nhiều hơn nữa để tự bảo vệ chính họ. “Các cuộc đầu tư của Đài Loan để làm vững chắc thêm hạ tầng cơ sở, làm gia tăng sức mạnh các khả năng phòng vệ cũng có thể làm giảm khả năng của Bắc Kinh để đạt được các mục đích của họ.”

Bi kịch thay, về mặt nguyên lý, Trung Quốc dường như nhái lại giống hệt thái độ của Mỹ. David Isenberg báo cáo rằng tại một cuộc họp báo của Bộ Quốc Phòng, nhân viên Ngũ Giác Đài đã cắt nghĩa rằng các ưu tiên của Trung Quốc là “ để bảo vệ và duy trì vai trò của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, tiếp tục phát triển kinh tế, bảo đảm sự ổn định trong nước, bảo vệ chủ quyền đất đai của quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ và có được vị thế siêu cường”

Chỉ có điều thứ nhất (bảo vệ và duy trì vai trò cầm quyền của đảng) là khác với các mục đích của Hoa Kỳ trong bối cảnh, và trong khi Washington thích chọn lựa ngoại giao (đàm phán) để cải thiện xa hơn các quyền lợi theo nhận thức của họ, dẫu vấn đề ấy là đất đai hay địa chính trị, Mỹ chưa sẵn sàng sử dụng lực lượng quân đội để tăng cường cho các đòi hỏi hay sự khẳng định của họ.

Chính quyền Mỹ có thể bảo đảm niềm tin lớn hơn Bắc Kinh, nhưng Mỹ không thể nhấn mạnh rằng Mỹ luôn luôn đúng, còn Trung Quốc luôn luôn sai, và bởi vậy chỉ có Mỹ là xứng đáng tự vũ trang cho chính họ.

Thực tế, Bắc Kinh có thể bàn cãi rằng việc xây dựng quân đội của họ làm giảm bớt nguy cơ xảy ra chiến tranh với Mỹ. Mục đích quan trọng nhất của Trung Quốc (tương tự với Washington) không phải là tấn công nước Mỹ, mà  là ngăn chận Mỹ không tấn công Trung Quốc.

Ngũ Giác Đài đang thừa nhận tương tự như thế mà không nói một cách rõ ràng và đầy đủ rằng Bắc Kinh hiện đang tập trung vào chuyện ngăn ngừa Mỹ (bằng cách):

Kể từ năm 2000, Trung Quốc đã và đang mở rộng các kho vũ khí như tàu ngầm, các phi đạn có tầm thấp để tránh ra đa, các phi đạn có gắn đầu đạn hạt nhân hay các đầu đạn thường, và các hỏa tiễn có gắn  bộ phận hướng dẫn đi đến mục tiêu một cách chính xác. Trung Quốc đang biểu lộ và đặt kế hoạch được tin tưởng là ngày càng gia tăng. Họ phân chia thành lớp lang các lực lượng tấn công dọc theo biên giới của họ và triển khai vào trong miền Tây Thái Bình Dương.

Trung Quốc có, hay đang thủ đắc phương tiện:

1./ Có khả năng gây nguy hiểm cho những tàu có bề mặt rộng, bao gồm các tàu sân bay, (các khả năng gây nguy hiểm là: các tàu ngầm có trang bị các hỏa tiển bay rất nhanh, bay rất thấp để chống tàu sân bay và các chiến hạm), các thủy lôi được hướng dẫn bằng các bộ cảm ứng phát hiện các dòng nước xoáy là dấu vết của sóng để lại sau lưng các con tàu lớn đang di chuyển, và thủy lôi ấy có thể lượn qua lượn lại như con rắn chạy vào đỉnh của cái hính nón nằm sau tàu, hay các tên lửa mang đầu đạn chống lại các tàu chiến;

2./ Trung Quốc chối là không sử dụng các sân bay đặt căn cứ gần biển, các cứ điểm an toàn và các trung tâm tiếp liệu quân dụng trong miền (bằng cách đặt ở trong các căn cứ nầy các hỏa tiễn có đầu đạn qui ước có tầm bay xa và chính xác, và các hỏa tiễn có đầu đạn được hướng dẫn để tấn công vào đất liền); và

3./  Có khả năng gây nguy hiểm cho các máy bay đang bay trên bầu trời hay gần lãnh thổ của Trung Quốc hay các lực lượng khác (bằng các phi cơ phản lực thế hệ thứ 4 chế tạo trong nước hay nhập khẩu của nước ngoài, các hệ thống phòng không dùng tên lửa tầm xa từ mặt đất tấn công bắn lên không, các hệ thống theo dõi giám sát các máy bay, các đơn vị phòng không từ các tàu chiến). Các tiến bộ trong lãnh vực khảo sát, định vị, hướng dẫn, và đo thời gian, cũng như hệ thống nhắm các mục tiêu trên đất liền, đang dần dần đuổi kịp để tạo ra khả năng tấn công chính xác.

Nước nào đã gởi những “tàu chiến có bề mặt rộng” sử dụng “các sân bay gần bờ biển, các cứ điểm an toàn, và các trung tâm tiếp liệu trong miền,” và triển khai các phản lực cơ chống lại Trung Quốc? Không cần phải hỏi (cũng biết là chỉ có Mỹ mới làm thế- người dịch TH)

Kết quả của thế kỷ 21 lệ thuộc rất nhiều vào bản chất của mối quan hệ giữa các siêu cường hiện nay của toàn cầu, là Mỹ, và siêu cường sắp tới đây chắc chắn là Trung Quốc.

Sự phát triển của Mỹ đã biến đổi trật tự thế giới mà không gây ra mối xung đột trên thế giới. Trong lúc sự nổi lên của Đức đã châm ngòi hai trận hỏa hoạn hủy hoại địa cầu. Có phải Mỹ sẽ giúp đỡ một cách thành công cho sự gia tăng ảnh hưởng  của Trung Quốc hay không?

Washington có các quyền lợi quan trọng để bảo vệ, nhưng không phải tất cả các quyền lợi của Mỹ là có tính chất sống còn. Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, các quyền tự do, và dân chúng ở quốc nội mới là quan trọng; bảo đảm ảnh hưởng thống trị của Mỹ cách xa nửa vòng thế giới không phải là có tính chất sống còn. Và thực hiện việc bảo đảm ảnh hưởng thống trị của Mỹ cách xa nửa vòng thế giới tại cái giá chấp nhận được sẽ làm sự phát triển (bên trong nước Mỹ gặp) nhiều khó khăn hơn nữa.*

Bằng cách chi tiêu chỉ bằng một phần ngân sách quốc phòng của Mỹ, Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể ngăn chận sự can thiệp của Mỹ chống lại Trung Quốc. Để vượt qua lực lượng nầy, Washington phải chi tiêu nhiều tiền hơn nữa, mà tiền nhiều hơn thì Mỹ lại không có.

Đây là một điều cần hỏi dân chúng Mỹ hy sinh để bảo vệ quốc gia của chính họ. Có một điều khác đặt ra những đòi hỏi cao hơn về tài chánh để bảo vệ các nước đồng minh thịnh vượng và đông dân. Đặc biệt, kể từ khi  nước Trung Quốc ngày một trở nên giàu có, và Trung Quốc đang bắt đầu thách thức tình trạng lãnh đạo kinh tế của Mỹ. (Vì vậy) Trung Quốc không chắc là rút lui một cách đầy biết ơn và chấp nhận sự lãnh đạo tiếp tục của Hoa Kỳ.

Với Trung Quốc đang ở trong tình trạng tiến bộ, Bộ Quốc Phòng Mỹ quan sát rằng “Mỹ tiếp tục làm việc với các đồng minh và các bạn bè trong miền Đông Á để theo dõi những sự tiến triển nầy và điều chỉnh lại các chính sách của chúng ta một cách thích hợp .”

Nhưng sự điều chỉnh chính sách phải nên giảm bớt các tham vọng quốc tế của Mỹ thay vì gia tăng việc chi tiêu quân sự của Mỹ. Washington phải nên thay thế sự thống trị bằng sự phòng vệ như là một phần trọng tâm của chính sách đối ngoại của họ.

[Doug Bandow là một thành viên lão thành tại Học Viện Cato. Một cựu phụ tá đặc biệt của Tổng thống Reagan, ông ta là tác giả cuốn sách: Những Hành động Sai lầm ở Nước ngoài: Đế chế Toàn cầu Mới của Mỹ (Nhà xuất bản Xulon)]

Người dịch: Trần Hoàng

[1] Doug Bandow là một thành viên lão thành tại Học Viện Cato. Một cựu phụ tá đặc biệt của Tổng thống Reagan, ông ta là tác giả  cuốn sách: Những Hành động Sai lầm ở Nước ngoài: Đế chế Toàn cầu Mới của Mỹ

Lời bình:

* Mặc dầu  Doug Bandow  đã từng là một cựu phụ tá đặc biệt của TT Reagan, là TT thuộc đảng cộng hòa, rất cao bồi và diều hâu, nhưng Doug Bandow không có khuynh hướng mạnh mẻ của đảng Cộng Hòa. Ông muốn nói với chính phủ Obama rằng:

1./  Nếu TQ đe dọa bất cứ nước nào ở Đông Á, thì Mỹ đừng nên xía vào, mặc kệ nó.  Và ông nói rõ thêm:

2./ Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, các quyền tự do, và dân chúng ở quốc nội mới là quan trọng; bảo đảm ảnh hưởng thống trị của Mỹ cách xa nữa vòng thế giới không phải là có tính chất sống còn. Và thực hiện việc bảo đảm ảnh hưởng thống trị của Mỹ cách xa nữa vòng thế giới tại cái giá chấp nhận được sẽ làm sự phát triển (trong nước Mỹ gặp) nhiều khó khăn hơn nữa.

3./ Nên giảm bớt các tham vọng quốc tế của Mỹ thay vì gia tăng việc chi tiêu quân sự của Mỹ vì (Bằng cách chi tiêu chỉ một phần của ngân sách quốc phòng của Mỹ) Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể ngăn chận sự can thiệp của Mỹ chống lại Trung Quốc. Để vượt qua lực lượng nầy, Washington phải chi tiêu nhiều tiền hơn nữa, mà tiền nhiều hơn thì Mỹ lại không có.

4./ Trong toàn bài báo nầy, người ta thấy tác giả cho rằng khuynh hướng mở rộng quân sự của TQ là cẩn thận, ôn hòa và hợp lý.  Ông cho rằng việc mở rộng quân sự của TQ là chính đáng, không có tính hăm dọa Mỹ. Như vậy, tác giả có quan điểm ngồi chờ TQ đến tận nước Mỹ gây hấn rồi hãy tính. Đây cũng là một dẫn chứng cho thấy  quan điểm của tác giả không phải là quan điểm của một nhà quân sự và lãnh đạo của một nước lớn: “Muốn hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh”.

Tác giả lại càng không phải là một nhà kinh tế. Vì từ xưa tới nay, kinh tế và chính trị luôn đi kèm với nhau.  Nước lớn và giàu mạnh bao giờ cũng có quân đội hùng mạnh để bảo vệ hàng hóa, lãnh thổ, người dân, sĩ diện quốc gia và quyền lợi của họ ở quốc ngoại. Không cần phải trích dẫn, đọc lại lịch sử ai ai cũng có thể nhận ra điều ấy.

Ngân sách quốc phòng của Mỹ năm 2009 là 515 tỉ đô la, gia tăng 74% so với năm 2001. Bộ Quốc Phòng chi ra 20 tỉ đô năm 2009 để gia tăng thêm số lượng quân đội hiện dịch [1]

Trong bài diễn văn của Obama ngày 27-2-2009, ông cũng nói rõ là sẽ gia tăng số lượng quân đội để làm nhẹ bớt đi gánh nặng của các quân nhân đang tại ngũ.

Rút lui khỏi Iraq 130.000 quân, nhưng gia tăng số lượng quân nhân tại ngũ thì hẳn có nghĩa là số quân đội ấy sẽ được huấn luyện, chuẩn bị và chờ đợi để triển khai quân đội qua một chỗ khác khi cần.

Tóm lại, quan điểm của tác giả không thích hợp với địa vị siêu cường quốc số một của Mỹ.

[1] http://www.whitehouse.gov/omb/budget/fy2009/defense.html

——————————

Lược dịch từ báo Bloomberg online :

Sự nổi dậy của Trung Quốc là một mối lo của giới chức quốc phòng và Hải Quân của Mỹ. Hai bài báo trong tháng 3-2009 của hãng tin và truyền hình Bloomberg (và tờ Washington Post) cho thấy điều lo lắng bất an đó.

Những nhân viên thử vũ khí của Ngũ Giác Đài đã nhắc nhở Hải Quân Mỹ phải đưa ra kế hoạch làm thế nào ngăn chận các hỏa tiển bay rất thấp nhằm tránh sự phát hiện của ra đa, hỏa tiển này có khả năng thay đổi hướng bay, và bay với tốc độ siêu thanh, hơn 1200 km/ giờ, gọi là Sizzler của Nga.

Hỏa tiển Sizzler có khả năng đánh chìm các tàu sân bay và các chiến hạm. Hơn 6 năm qua, Hải Quân Mỹ vẫn chưa tìm ra cách nào để ngăn chận các hỏa tiển Sizzler.

Theo một tài liệu của văn phòng ngân sách của bộ quốc phòng Hoa Kỳ, thứ trưởng Bộ quốc phòng Gordon England đã ra thời hạn cho Hải Quân Mỹ vào trước ngày 29-4-2009, phải cắt nghĩa cho ông ta biết làm cách nào Hải Quân Mỹ có thể (chế tạo một vũ khí có thể) tấn công ngăn chận các loại hỏa tiển Sizzler (nếu hỏa tiễn nầy nhắm bắn các tàu sân bay của  Mỹ). TQ mua hỏa tiển Sizzler của Nga và 8 tàu ngầm trang bị các hỏa tiển nầy vào năm 2002.

Đô đốc Michael Mullen, trưởng phòng hành quân của Hải Quân Hoa Kỳ phát biểu vào ngày hôm nay rằng.

“Thứ trưởng Quốc Phòng England đã yêu cầu chúng tôi đến gặp ông ta trước cuối tháng 4 nầy cùng với kế hoạch (chống lại hỏa tiển Sizzler) của chúng tôi,”

Mullen đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn với đài truyền hình Bloomberg. “Có thể không phải là một câu trả lời đơn độc. Chắc có lẻ đó là một câu trả lời liên hệ tới nhiều mặt. Hỏa tiển Sizzler bay rất nhanh và nó thay đổi được hướng bay với nhiều đặc tính rất đáng quan ngại. Chuyện ấy đang đặt chúng ta vào trong một tình huống rằng chúng ta cần phải đánh giá nó một cách nhanh chóng và cụ thể”

Charles McQueary, giám đốc văn phòng thử nghiệm vũ khí, đánh giá rằng các mối hăm dọa ấy  nghiêm trọng quá đến nổi ông đã cảnh báo  trưởng ban mua vũ khí của Bộ Quốc Phòng Mỹ rằng ông đã có hành động chận đứng lại việc đóng tàu sân bay và các khu trục hạm trị giá vài chục tỉ đô la, và chận đứng các chương trình chế tạo tên lửa khác cho đến chừng nào mà vấn đề chống lại các phi đạn Sizzler của Nga được giải quyết xong.

Orville Hanson, một sĩ quan đánh giá các loại vũ khí trong 38 năm qua, nói “Đấy là một loại vũ khí hủy diệt tàu sân bay. Đó là mục đích duy nhất của hỏa tiển sizzler ấy”

Ông nói thêm “Sau khi hủy diệt xong tàu sân bay, TQ có thể bước vào Đài Loan”.

Theo phát ngôn viên của Văn phòng Tình Báo của Hải Quân, Robert Althage, thì Trung Quốc đã mua được các hỏa tiển tầm thấp, bay với tốc độ siêu thanh nầy của Nga vào năm 2002, TQ mua cùng với 8 tàu ngầm chạy bằng dầu diesel được chế tạo đặc biệt để trang bị và bắn ra các tên lửa nầy,

Charles McQueary, giám đốc văn phòng thử nghiệm vũ khí, viết trong một thông báo rằng trừ phi sự hăm dọa của hỏa tiển Sizzler được (hải quân Mỹ đưa ra các kế hoạch để) giải quyết, văn phòng thử nghiệm vũ khí của ông sẽ không chấp thuận các kế hoạch thử nghiệm cần thiết dành cho việc sản xuất được bắt đầu trên nhiều dự án khác, bao gồm dự án đóng một tàu sân bay CVN mang được 21 chiến đấu cơ trị giá 35,8 tỉ đô la của hãng North Grumman Corp; dự án chế tạo các khu trục hạm DDG-1000 mang được các đầu đạn hướng dẫn bằng hệ thống computer, trị giá 36,5 tỉ đô la, của hãng Northrop và hãng General Dynamics Corporation; và hai dự án của hãng Raytheon Corporation, chế tạo hệ thống tự bảo vệ tàu, giá 1,1 tỉ đô la, và chương trình chế tạo hỏa tiền SM-6 trị giá 6 tỉ đô la.

“Hỏa tiển Sizzler là loại hỏa tiển bay rất nhanh, và bay rất thấp. Nó sẽ không được nhìn thấy cho mãi tới khi hỏa tiền nầy đến khá gần. Vào lúc mà quí vị phát hiện ra nó và cho tới lúc mà nó chạm vào quí vị là một khoảng thời gian rất ngắn. Quí vị muốn biết khả năng của quí vị để đương đầu với hỏa tiển Sizzler” Cựu đô đốc Eric Mc Vadon phát biểu.

Hệ thống hỏa tiển Aegis của Hải Quân Mỹ trang bị trên các tuần dương hạm và khu trục hậm bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 1980, đang được chế tạo để bảo vệ các nhóm tàu sân bay khỏi sự tấn công của tên lửa. Nhưng, các cựu sĩ quan và các sĩ quan hải quân hiện nay nói rằng Hải Quân không đảm bảo Aegis, được chế tạo bởi Lockheed Martin Corporation, có khả năng phát hiện, theo dõi và đối đầu ngăn chặn hỏa tiển Sizzler.

“Đây là một đề tài vào lúc tôi mới vào làm việc thử nghiệm vũ khí vào năm 2001,”  Thomas Christie nói, ông ta là nhân viên thử nghiệm vũ khí hàng đầu của Bộ Quốc Phòng từ giữa năm 2001 đến đầu năm 2005, đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn.

“Hải Quân Mỹ đã nhận ra rằng đây là một đề tài chính và qua nhiều năm, họ đã từng tiếp tục hứa hẹn rằng  họ sẽ cung cấp tiền bạc đầy đủ để chế tạo và sản suất” những hỏa tiển có thể có khả năng  như Sizzler, để giúp hình thành sự phòng vệ chống lại Sizzler. Nhưng cho đến nay, Hải Quân Mỹ vẫn không chế tạo được thứ hỏa tiển có chức năng tương tự như Sizzler.”  Christie nói.

Hậu quả là: trong một cuộc xung đột, “Hoa Kỳ sẽ gởi một tàu sân bay chất đầy đủ các dụng cụ và thủy thủy đoàn đi vào trong một tình thế nguy hiểm mà không có niềm tin rằng họ có khả năng chiến thắng những gì đang là một niềm hăm dọa rất gần ở chân trời (hỏa tiển Sizzler).”  Christie cho biết.

——————————————–

Trên tờ Washington Post, tháng 3-2009, viết:

“Trung quốc dàn 400.000 bộ đội TQ và 1100 hỏa tiển ở bờ biển đối diện với Đài Loan…”,  nhưng thật ra đây là chiến lược dương đông kích tây trong hơn 20 năm  qua của TQ. Chiến lược nầy giúp TQ nhiều mối lợi.

Thứ nhất, TQ làm cho chính phủ Đài Loan phải mua vũ khí của Mỹ để phòng vệ. Đây là một cách làm cho chính phủ suy yếu vì bị các phe đối lập thân TQ, hoặc có đường lối ôn hòa ở Đài Loan chỉ trích. Vì nhóm ôn hòa muốn dùng tiền để cải thiện các điều kiện xã hội cho tốt hơn thay vì mua vũ khí. Lợi thứ nhì của TQ là viện cớ Đài Loan mua vũ khí, thì TQ cũng sẽ mua vũ khí của Nga để hiện đại hóa hải quân và lục quân; TQ cũng có cớ gia tăng ngân sách quốc phòng mà các nước phương Tây và láng giềng nếu có quan ngại thì TQ có cớ để trưng ra.

Các doanh gia Đài Loan đầu tư hơn 100 tỉ đô la vào TQ kể từ 1983. TQ ngoài miệng nói như vậy, nhưng trong vài chục năm tới, TQ cũng chẳng xâm lăng Đài Loan cho mất lợi về kinh tế, vì Đài Loan là một nguồn nhân lực quản lý, các ông chủ điều hành các hãng xưởng và giúp TQ giải quyết công an việc làm cho người TQ và đem lại sự ổn định.

Một trong những mục đích chính của sự hiện đại hóa quốc phòng của TQ là để thọc sâu về phương Nam, xuống vùng  Biển Đông để tranh đoạt Trường Sa, Hoàng Sa và để chiếm nguồn tài nguyên dầu- khí ở biển ở cùng biển nầy.

Việc thiết lập các căn cứ trên các quần đảo có mục đích phòng thủ ở phương nam và làm an ninh hải lộ chở hàng hóa xuất khẩu của TQ. Đây cũng là hải lộ chính chở hàng nhập khẩu và các nguồn nhiên liệu và nguyên liệu thô từ khắp nơi về để cung ứng cho nền kinh tế Trung Quốc.

Trung Quốc sẽ trở nên an ninh hơn nếu tạo ra một vùng đệm an toàn nằm quanh TQ. Bắc Triều Tiên, Miến Điện, Tây Tặng là những nước dùng làm vùng đệm an toàn cho TQ. Có thêm Việt, Miên, Lào nữa thì phía  Nam của TQ coi như an toàn hơn. Và các thủy lộ ở Biển Đông hoàn toàn an ninh.

Năm 2007, TQ đã đầu tư 500 triệu đô la vào hải cảng Sihanouk ở phía Nam của  Kampuchia. Việc phát triển hệ thống đường cao tốc và đường xe lửa từ cực nam Kampuchea (ngang với tỉnh Rạch Giá (Cà Mau) xuất phát từ hải cảng nầy, chạy thẳng lên hướng bắc, đi qua Lào, và chạy thẳng lên các tỉnh phía Nam Trung Quốc là cũng nằm trong mục đích vừa quốc phòng vừa giải quyết kinh tế cho các tỉnh phía Nam (không nằm dọc theo bờ biển) và phía Tây của TQ đang còn rất nghèo.

TQ xâm nhập và di cư dân TQ vào  3 nước Đông Dương bằng kinh tế và tài chánh. TQ cấp viện trợ kinh tế cho 2 nước Miên và Lào rất hậu hỉnh. Kể từ 1993, TQ đã xây dựng đường sá, nhà máy điện, cầu,… và cho chính phủ Kampuchea và Lào vay với lãi suất thấp để các viên chức trong chính phủ lập công ty hãng xưởng làm ăn riêng hoặc chung với các công ty của TQ.

Ngoài ra, TQ trả toàn bộ ngân sách lương bổng cho Lào và Kampuchea, mỗi nước được nhận mỗi năm từ 500 triệu-1 tỉ đô la kể từ 2007, so với vài trăm triệu đô la hàng năm trong nhiều năm trước đó. Nhờ các món tiền lót tay ấy, chính phủ Lào và Kampuchea đã hoàn toàn im lặng để TQ di dân hơn 800.000 người vào  Kampuchia và Lào từ 1993- nay.

Các nhân vật cao cấp nhất của Kampuchea và Lào đều nằm trong tay của Trung Quốc. Báo chí phương Tây chụp hình căn nhà của TT Hunsen và tự hỏi: làm sao một thủ tướng lương có 400 đô, mà có thể xây một cung điện trên đồi, trị giá nhiều triệu đô la; sàn nhà và quầy rượu lót bằng đá granite của Ý; đặc biệt, trên sân thượng của biệt thự nầy có chỗ dùng cho trực thăng đậu. Nơi làm việc của Hun Sen là một chỗ tòa nhà khác.  Ở Lào, Phó thủ tướng là người gốc Trung Quốc. Các hợp đồng xây dựng lớn của Lào đều do ông phó Thủ Tường nầy vay mượn từ ngân hàng của Trung Quốc. (xem bài về Lào đã post tuần trước).

Ở Việt Nam, trong 2 tháng qua, báo chí VN đều đồng loạt đăng tin là các công ty Trung Quốc năm nay đã  giành được tất cả hợp đồng thầu làm các công ty hóa chất, cầu đường, xây dựng, (các hãng may xuất khẩu thì đã thuộc về TQ từ lâu rồi.)

Các hãng TQ hiện nay đã và đang có mặt trên khắp cả ba miền ở VN. Ở Tây nguyên, Trung quốc hiện đang khai thác bô xít (Alumin) của Trung Quốc từ 2007 cho đến nay tại Đắc Nông và Bảo Lộc.

Ở Miền Tây,  các hãng Trung Quốc cũng đã có mặt ở Tiền Giang và Cà Mau vào năm 2009. Việc chính quyền địa phương tịch thu đất đai của dân miền Tây và trao lại cho các công ty TQ xây hãng xưởng đã làm dân chúng đi khiếu kiện về việc bị mất đất và không bồi hoàn tiền bạc thỏa đáng.

——————————————————–

National Interest Online

Red Scare

by Doug Bandow

04.15.2009

U.S. military spending continues to increase even though conventional threats against America are de minimis. Advocates of a bigger military point to supposed adversaries old and new, with China the leading contender for Enemy Number One. But if Beijing poses a threat, it is to U.S. domination of East Asia, not America. Only the latter, however, is worth fighting for.

Some policy advocates identify the People’s Republic of China (PRC) as a potential danger, while others view war with Beijing as likely. Common to all is the fear of growing Chinese military outlays. The Pentagon highlighted its concern with the latest annual report on the PRC’s defense budget. Beijing responded by calling the document a “ gross distortion of the facts” and product of “Cold War thinking” which plays “up the fallacy of China’s military threat.”

To its credit, the Department of Defense (DOD) takes a measured tone as it details China’s increased military efforts. Beijing’s armed forces are making real strides —but remain dwarfed by America’s military, which starts at a vastly higher base and spends several times as much. The U.S. report is equivalent to nineteenth century Great Britain, with its globe- spanning empire, publicly complaining about America’s expanding navy. Washington eventually did surpass British power, but only after two global wars simultaneously roused America and exhausted Britannia.

The Pentagon report opens by proclaiming that “the United States welcomes the rise of a stable, peaceful, and prosperous China, and encourages China to participate responsibly in the international system.” However, the Pentagon adds, “much uncertainty surrounds China’s future course, particularly regarding how its expanding military power might be used.”

True enough, but how does Washington define “responsibly”? The report doesn’t say. However, one suspects it means accepting American military hegemony in East Asia. And with this Beijing isn’t likely to agree.

The PRC military build up so far has been significant but measured. “The People’s Liberation Army (PLA) is pursuing comprehensive transformation from a mass army designed for protracted wars of attrition on its territory to one capable of fighting and winning short-duration, high-intensity conflicts against high-tech adversaries,” explains the Pentagon. This transformation is “ fueled by acquisition of advanced foreign weapons, continued high rates of investment in its domestic defense and science and technology industries, and far-reaching organizational and doctrinal reforms of the armed forces.” Finally, China’s armed forces continue to develop and field disruptive military technologies, including those for anti-access/area-denial, as well as for nuclear, space, and cyber warfare, that are changing regional military balances and that have implications beyond the Asia-Pacific region.

Yet this concerted expansion little threatens U.S. security. Only the PRC’s nuclear force is theoretically able to strike America today. Beijing possesses about forty intercontinental ballistic missiles, some of limited range, and fifteen to twenty submarine-launched ballistic missiles. China is improving its strategic capabilities, “modernizing its longer-range ballistic missile force by adding more survivable systems,” observes the Pentagon, but in practice the result will be a defensive, not offensive, force. The U.S. nuclear arsenal, in contrast, includes thousands of sophisticated warheads on hundreds of missiles. There is a dangerous “missile gap,” but it runs entirely in Washington’s favor, and Beijing is going to have to spend years to build a modest force simply capable of deterring America.

Of course, China intends to move beyond its own shores. The PRC is “developing longer range capabilities that have implications beyond Taiwan,” which “could allow China to project power to ensure access to resources or enforce claims to disputed territories,” warns the Pentagon. Beijing “is acquiring large numbers of highly accurate cruise missiles.”

Moreover, the PRC’s “airborne early warning and control (AEW&C) and aerial-refueling programs would permit extended air operations into the South China Sea and beyond,” while “advanced destroyers and submarines reflect Beijing’s desire to protect and advance its maritime interests up to and beyond the second island chain.” China’s “new missile units outfitted with conventional theater-range missiles” reach past Taiwan. Beijing also is developing asymmetric war capabilities, including antisatellite technology and cyberwarfare potential.

These steps sound ominous, but the PRC still has a long way to go in creating a highly capable military. Notes DOD, China’s military “continues to face deficiencies in inter-service co operation and actual experience in joint exercises and combat operations” and must continue replacing “outdated aircraft and maritime vessels,” adjusting “ operational doctrine to encompass new capabilities,” and tailoring “logistics equipment and training.” Beijing is not yet capable of “defeating a moderate-size adversary.” Moreover, “China will not be able to project and sustain small military units far beyond China before 2015, and will not be able to project and sustain large forces in combat operations far from China until well into the following decade.”

In any case, such capabilities would seem consistent with the economic and geopolitical interests of a country bounded by nations that it has battled in the past. Even if one doubts that the PRC’s military activities are “purely defensive,” as Beijing insists, they pose little direct danger for America. After all, the PRC has minimal strategic conventional reach. Despite expressions of interest from various Chinese officials in acquiring an aircraft carrier, so far Beijing has done little to add this capability. In contrast, the United States possesses eleven carrier groups. China also lacks a significant strategic air capability. There will be no Chinese strike force heading towards America’s Pacific possessions, let alone Hawaii, in our lifetime.

East Asian countries may be at greater risk, since the PRC likely wants to back up its words with the presence, if not necessarily the use, of military force in settling territorial disputes in the region. But defending the East Asian Tigers—who are largely capable of protecting themselves—is not the same as defending the United States.

Moreover, so far the PRC’s foreign policy has been pragmatic and restrained. China’s most obvious objective is to create a military capable of enforcing its will on Taiwan, separated from the mainland for most of the last century. However, tensions in the Taiwan Strait are abating thanks to political changes in Taipei, though the threat of military action has not disappeared. Moreover, DOD admits that “an attempt to invade Taiwan would strain China’s untested armed forces and invite international intervention.” Taipei also could do significantly more to protect itself: “Taiwan’s investments to harden infrastructure and strengthen defensive capabilities could also decrease Beijing’s ability to achieve its objectives.”

Ironically, in principle China appears to be mimicking America’s behavior. David Isenberg reports that at the DOD press briefing, the Pentagon official explained that China’s priorities appeared to be “perpetuating the role of the Chinese Communist Party, continuing economic development, ensuring domestic stability, protecting national sovereignty and territorial integrity and obtaining great-power status.” Only the first differs from U.S. objectives in the abstract, and while Washington prefers diplomacy to advance its perceived interests, whether explicitly territorial or more broadly geopolitical, it is ever-ready to use military force to enforce its claims. The U.S. government may warrant greater trust than Beijing, but it cannot insist that America automatically is right and China automatically is wrong and therefore only the former is entitled to arm itself.

In fact, Beijing can argue that its military buildup reduces the likelihood of war with the United States. The PRC’s most important goal vis-à-vis Washington is not attacking America, but preventing America from attacking China. The Pentagon admits as much without explicitly saying that Beijing is focused on deterring Washington:

Since 2000, China has expanded its arsenal of anti-access and area-denial weapons, presenting and projecting increasingly credible, layered offensive combat power across its borders and into the Western Pacific. China has or is acquiring the ability to: 1) hold large surface ships, including aircraft carriers, at risk (via quiet submarines, advanced anti-ship cruise missiles (ASCMs), wire-guided and wake-homing torpedoes, or anti-ship ballistic missiles); 2) deny use of shore-based airfields, secure bastions and regional logistics hubs (via conventional ballistic missiles with greater ranges and accuracy, and land attack cruise missiles); and 3) hold aircraft at risk over or near Chinese territory or forces (via imported and domestic fourth generation aircraft, advanced long-range surface-to-air missile systems, air surveillance systems, and ship-borne air defenses). Advances in China’s space-based reconnaissance and positioning, navigation, and timing, as well as survivable terrestrial over-the-horizon targeting, are closing gaps in the creation of a precision-strike capability.

Who would be sending in “large surface ships” using “shore-based airfields, secure bastions and regional logistics hubs,” and deploying aircraft against the PRC? Don’t ask.

The outcome of the twenty-first century depends much on the nature of the relationship between the globe’s current superpower, the United States, and the globe’s likely next superpower, China. America’s growth transformed the international order without causing world conflict, while Germany’s rise triggered two global conflagrations. Will the United States—and the larger existing order—successfully accommodate the PRC’s growing influence?

Washington has vital interests to protect, but not all of its interests are vital. Defending American territory, liberties and people at home is vital; ensuring dominant American influence half-a-world away is not. And doing the latter at acceptable cost will grow ever more difficult. By spending a fraction of America’s defense budget, Beijing is constructing a military able to deter U.S. intervention against China. To overcome this force, Washington will have to spend far more money which it does not have. It is one thing to ask the American people to sacrifice to defend their own nation. It is quite another to impose ever higher financial exactions to protect populous and prosperous allied states. Especially since an increasingly wealthy China, which is beginning to challenge America’s lead economic status, is unlikely to retreat gracefully and accept perpetual U.S. hegemony.

With China on the move, DOD observes that “The United States continues to work with our allies and friends in the region to monitor these developments and adjust our policies accordingly.”  But the resulting policy adjustment should be reducing America’s international ambitions rather than increasing America’s military spending. Washington should replace dominance with defense as the core of its foreign policy.

Doug Bandow is a senior fellow at the Cato Institute. A former special assistant to President Reagan, he is the author of Foreign Follies: America’s New Global Empire (Xulon Press).

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

Posted in Chính trị, Khối XHCN sụp đổ | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: