BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Giáo dục’ Category

2964. LAI RAI THẬT VÀ GIẢ, NÓI VÀ LÀM

Posted by adminbasam on 15/09/2014

Phạm Ngọc Luật

15-09-2014

Chuyện này có lẽ phải viết kiểu lai rai, viết đến đâu thì viết, dừng ở đâu thì dừng. Viết mà chả biết nó ngắn dài thế nào vì sự thực nó quá nhiều nên phải tìm đến cái “bút pháp lai rai”, viết tựa như hơi thở, như ăn uống, như tiêu hóa, vệ sinh… diễn ra hàng ngày hàng giờ với cả đời người, với bất cứ ai.

Chuyện gì vậy. Chuyện thật và giả, nói và làm thời nay ấy mà. Nhiều lắm. Nhiều khủng khiếp. Nhiều đến mức thật hư dễ lẫn lộn kiểu “Lộng giả thành chân”, có khi giật mình như đã thành miễn dịch với xã hội. Vậy nên vừa tự răn vừa khuyên nhủ ai đó: Dám nhìn cái xấu để sửa mình hay là tự sướng đề ru ngủ mình đó là tùy theo cách nhìn của mỗi công dân, mỗi chế độ, mỗi chính quyền… có trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.
Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Giáo dục, Pháp luật, Đảng/Nhà nước | 3 Comments »

2936. Người Việt tập đi và tập thay đổi tư duy

Posted by adminbasam on 06/09/2014

TVN

Kỳ Duyên

06-09-2014

Người Việt không chỉ cần tập cách đi khi tham gia giao thông. Mà quan trọng hơn, cần tập cách đi trên hành trình tiến tới những giá trị văn minh, khoa học, văn hóa mang tính phổ quát của nhân loại. Con đường này xa hay gần, phụ thuộc vào cách thay đổi tư duy của nước Việt.

I-Không có ai hình dung hết được, trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, lại xảy ra liên tục những mất mát đau đớn với con người,  gây sốc cho xã hội. Nghiêm trọng nhất là vụ tai nạn giao thông xảy ra tại con đường rừng thuộc địa phận xã Tòng Sành, huyện Bát Xát (Lào Cai), khiến cùng lúc 12 người tử nạn, 41 người bị thương, khi chiếc xe biển kiểm soát 29B- 08582 của công ty Sao Việt chở 53 người, va quệt với một chiếc xe con 04 chỗ, rồi lao xuống vực sâu 200 m.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Gia đình/Xã hội, Giáo dục, Kinh tế Việt Nam, Văn hóa | 4 Comments »

2921. Để canh tân đất nước, chỉ còn làm theo con đường khai dân trí ôn hòa của cụ Phan Chu Trinh

Posted by adminbasam on 02/09/2014

LS Lê Công Định

02-09-2014

H1Lúc sinh thời, vào những ngày cuối tháng 8 và đầu tháng 9, ba tôi thường kể về các cụ Phạm Quỳnh, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu và những chí sĩ yêu nước khác cho anh em chúng tôi nghe. Ông nhận định rằng tiền đồ dân tộc Việt Nam lẽ ra tươi sáng hơn nếu các bậc trí thức ấy lèo lái con thuyền quốc gia. Biết tôi có thiên hướng chính trị hơn cả trong các con, ba thường dặn dò tôi tìm hiểu con đường canh tân đất nước bằng sách lược khai dân trí ôn hòa của cụ Phan Chu Trinh. Từ thiếu thời tôi đã mang hoài bão cải cách xã hội ôn hòa như vậy.

Cụ Phan Chu Trinh từng có công lao dẫn dắt ông Hồ Chí Minh trên bước đường hoạt động chính trị ban đầu khi các ông cùng ở Pháp, nhưng về sau các vị chủ trương đường lối tranh đấu giành độc lập cho đất nước hoàn toàn khác nhau. Cụ Hồ đã thành công hơn cụ Phan, tạo ảnh hưởng lớn, song cũng gây nhiều sóng gió cho vận mệnh dân tộc từ năm 1945 đến nay. Môn sử được giảng dạy tại các trường trung học và đại học ở Việt Nam bấy lâu tuy vẫn chê trách cụ Phan Chu Trinh, nhưng kể ra đã khá nhẹ lời hơn nếu so với thái độ luôn hằn học dành cho các nhà yêu nước phi cộng sản khác đương thời. Đường lối của cụ Phan bị phê phán là “cải lương” trong định đề tưởng tượng về “chủ nghĩa yêu nước cải lương đầu thế kỷ 20”.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Giáo dục, Văn hóa, Xã hội | 4 Comments »

2891. Xuất bản khoa học: một mạo hiểm cần sự cẩn thận

Posted by adminbasam on 24/08/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

24-08-2014

H1Xin giới thiệu một bài tôi viết cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần (tuần này 22/8) về tạp chí khoa học. Hiện nay, nhiều đại học Á châu và Trung Đông có phong trào lập tạp chí khoa học, nhưng trước mắt là một mạo hiểm có thể nói gần như vô định. Thành ra, cần phải cẩn thận khi bắt đầu. Kinh nghiệm của những tạp chí trước chỉ ra đời vài năm thì đóng cửa. Ở VN bây giờ có vài đại học đang lăm le làm tạp chí khoa học, nhưng khả năng sống sót thì hình như chưa được xem xét cẩn thận.

Nhiều đại học ở Á châu lập tạp chí khoa học để quảng báo nghiên cứu của trường và qua đó nâng cao uy danh của trường trên thế giới. Ở Việt Nam một số trường đại học cũng có ý định lập tạp chí khoa học quốc tế. Tuy nhiên, đằng sau ý tưởng là những khó khăn trong việc điều hành và duy trì sự sống còn của tạp chí mà có khi ít ai nghĩ đến.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Khoa học | 3 Comments »

2880. Bao giờ Việt Nam có đại học đẳng cấp quốc tế?

Posted by adminbasam on 20/08/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

20-08-2014

H1Đại học Giao thông Thượng Hải của Tàu mới công bố danh sách “top 500” đại học trên thế giới (1). Không có một đại học VN nào trong danh sách. Câu hỏi mỗi năm lại đặt ra: bao giờ VN có đại học nằm trong top 500? Câu trả lời đơn giản là “còn rất lâu”. Phải cần một thời gian dài, một cuộc cách mạng trong suy nghĩ, những hành động tích cực về nghiên cứu khoa học, chúng ta mới có thể nghĩ đến đại học VN có tên trong các bảng xếp hạng top 500. Còn hiện tại, chỉ nên lo cải tổ và làm nghiên cứu khoa học cho thật tốt, chứ đừng đặt câu hỏi “bao giờ cho đến bao giờ”.

Báo Lao Động (2) có đặt câu hỏi theo kiểu khiêu khích Bộ trưởng (“Top 500 chờ “trận đánh lớn” của Bộ trưởng Luận”). Cần nhắc lại rằng cách đây vài tháng, ngài Bộ trưởng GDĐT tuyên bố rằng cải cách giáo dục là một “trận đánh lớn”. (Ông bộ trưởng này có vẻ thích quân sự, vì mới đây vài ngày ông có một phát ngôn mang mùi súng đạn). Nay nhà báo đem chữ đó ra làm cái “twist of the tongue” hỏi ngài bộ trưởng. Tuy nhiên, bài báo viết rằng do chất lượng đào tạo còn thấp nên các đại học VN chưa có trong top 500. Theo tôi quan điểm đó chưa hẳn đúng. Vấn đề “top 500” không phải là chất lượng đào tạo, mà là nghiên cứu khoa học.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | Tagged: , | 3 Comments »

2875. Thư của GS Pierre Darriulat gửi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam

Posted by adminbasam on 19/08/2014

18-08-2014

Gửi tới: Ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Kính thưa Bộ trưởng,

Xin thứ lỗi cho tôi vì làm mất thời gian của Bộ trưởng.

Là một công dân Pháp nhưng tôi đã sống ở Hà Nội 15 năm nay, một cách tự nguyện, tôi dành phần lớn thời gian và công sức của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển vật lý thiên văn ở Việt Nam -qua đào tạo và nghiên cứu- đặc biệt tôi đã tập hợp và đào tạo một nhóm các nhà vật lý trẻ bao gồm ba thực tập sinh sau tiến sĩ, hai nghiên cứu sinh (sẽ bảo vệ vào cuối năm nay và năm sau) và một học viên cao học.

Trong suốt thời gian sống ở Việt Nam, tôi tiếp xúc gần gũi với nhiều sinh viên và nhà khoa học trẻ Việt Nam -đặc biệt những bạn ở nhóm nghiên cứu nhỏ của chúng tôi- và tôi rất lo lắng về khả năng mang lại tương lai mà họ xứng đáng được hưởng. Tôi luôn cố gắng hết sức để ngăn chặn nạn chảy máu chất xám nghiêm trọng mà đất nước đang phải hứng chịu và góp phần nâng cao chất lượng đại học, hiện tại còn thấp hơn rất nhiều so với mức độ mà đất nước xứng đáng có được.
Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | Tagged: | 5 Comments »

2859. Đại học VN không giống ai

Posted by adminbasam on 13/08/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

13-08-2014

Tôi có một ước vọng nho nhỏ: đó là sưu tầm và hệ thống hoá những qui định lạ lùng, nhưng câu chuyện “không giống ai” trong vài đại học ở VN. Có thể chỉ là những chuyện nhỏ, nhưng ý nghĩa thì không nhỏ chút nào, vì nó liên quan đến cái mộng đại học đẳng cấp quốc tế của VN.

Qui định về thời gian đào tạo tiến sĩ. Trước đây tôi đã bày tỏ ngạc nhiên về qui trình và thời gian đào tạo tiến sĩ ở một vài đại học trong nước. Ở một trường đại học có tiếng tại Sài Gòn, người ta qui định rằng thời gian đào tạo tiến sĩ là 4 năm nếu nghiên cứu sinh (NCS) có bằng tốt nghiệp đại học. Điều còn ngạc nhiên hơn là nếu NCS đã có bằng thạc sĩ [tức master] thì thời gian học chỉ … 2 năm.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | 2 Comments »

2851. Không thể lắp “cỗ máy” đại học nước ngoài vào Việt Nam

Posted by adminbasam on 10/08/2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

10-08-2014

Tôi nghĩ những đề nghị cải cách giáo dục theo hướng các nước “tiên tiến” sẽ không bao giờ thành công ở VN. Xin nói rõ “tiên tiến” ở đây là các nước Âu Mĩ hay các nước theo thể chế và hệ thống Âu Mĩ, nói thẳng ra là các nước theo tư bản chủ nghĩa (TBCN). Vì thể chế VN căn bản vẫn là XHCN, nên không thể nào lắp đặt bộ máy của TBCN vào XHCN được. Chính sự khác biệt căn bản này có thể giải thích cho rất nhiều bất cập hiện nay ở VN.

Thử nhìn cái vỏ tắc ráng ở miền Tây. Nó được thiết kế chở khoảng 4-5 người hoặc ít hơn, dài độ 5 thước, bề ngang khoảng là 1.5 m. Vỏ tắc ráng có máy đuôi tôm như máy BS9 hay BS10. Thử tưởng tượng, chúng ta đem đầu máy xe hơi như Toyota gắn vào vỏ tắc ráng thì chuyện gì sẽ xảy ra. Thứ nhất là họ gây ô nhiễm môi trường, rất ồn ào, tiếng máy lớn đến nỗi đinh tai nhức óc cư dân hai bên bờ sông. Nó chạy rất nhanh, nhưng đồng thời gây sóng lớn, và làm chìm xuồng và gây thiệt hại cho những người bơi xuồng. Về thẩm mĩ, cái đầu máy bự “tổ chảng” trong khi cái vỏ thì chỉ nhỏ thó, nhìn rất dị hợm, chẳng giống ai. Nói tóm lại, gắn cái đầu máy xe hơi vào vỏ tắc ráng chẳng những làm cho hình ảnh cái vỏ bị méo mó, mà còn gây tác hại đến môi trường và người dân. Điều này chắc không khó hiểu, vì cái động cơ đó được thiết kế cho xe hơi trên đường bộ, chứ đâu được thiết kế cho vỏ tắc ráng trên sông.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục, Đảng/Nhà nước | 5 Comments »

2769. TẨY CHAY HỆ TẠI CHỨC?

Posted by adminbasam on 17/07/2014

Tô Văn Trường

16-07-2014

Vấn đề nhân sự là nguyên nhân của hàng loạt nguyên nhân! Lục ra, xới lên thì chỗ nào cũng lủng cà, lủng củng . Quả thật, việc nhặt những hạt sạn ra khỏi gạo đã khó khăn nhọc nhằn lắm, huống hồ lại phải lựa tìm từng hạt gạo trong đống sỏi . Từ xa xưa, người ta vẫn kỵ chữ nửa: nửa vời, nửa chừng và còn thậm tệ hơn, như một lời nguyền rủa “nửa đời, nửa đoạn”!

Vậy mà, ngày nay có bao nhiêu thứ đang “ứng”, đang “khớp” với cái nửa chết tiệt ấy! Khôn chẳng bằng ngoan, cử chẳng cần thi, không “lách” được thì đừng có viết vv kể khôn xiết! Cái từ ghép giả dối thì ngày nay người ta chỉ săm soi vào cái sự giả, còn những cái dối thì phơi bày nhan nhản ra đó! Cái thứ bằng cấp “dối” này khó phân loại vô chừng. Đã vậy, những người đứng ra tuyển lại nhằm vào phe cánh hơn chức năng công việc! Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 4 Comments »

2484. TẠI SAO PHẢI CẢI CÁCH GIÁO DỤC

Posted by adminbasam on 21/03/2014

Lê Khánh Luận

Cải cách giáo dục, một vấn đề rất thời sự hiện nay . Vì nó là yêu cầu bức bách của toàn thế giới, một yêu cầu của thời đại. Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là thời kỳ chín rộ của khoa học kỹ thuật. Nhiều thành tựu đạt được một cách đột phá, nhất là về mặt tin học. Quốc gia nào sớm nắm lấy về trình độ tin học, thì tất nhiên cũng nắm lấy những kết quả khác của khoa học kỹ thuật. Vì mọi lãnh vục của khoa học kỹ thuật ngày nay đều sử dụng đến tin học. Do đó giáo dục phải thay đổi nhằm đáp ứng nhu cầu này, hay có thể nói thời điểm này là bước ngoặt của  giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | Tagged: , | 4 Comments »

2146. GS Tương Lai gửi thư ngỏ cho Bộ trưởng GD-ĐT về vụ đuổi học Phương Uyên

Posted by adminbasam on 08/12/2013

Nghĩ về quyết định buộc thôi học sinh viên Nguyễn Phương Uyên:

THƯ NGỎ GỬI ÔNG BỘ TRƯỞNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

Kính gửi Bộ trưởng Phạm Vũ Luận,

Anh Phạm Vũ Luận thân kính,

Tôi xin được xưng hô như vậy vì tôi nghĩ anh và tôi là chỗ thân tình, tuy không nhiều nhưng cũng biết nhau, đã đôi lần trò chuyện với nhau. Thực ra nói “chỗ thân tình” là qua Hồ Ngọc Đại, bạn tôi. Nhiều lần chúng tôi nói về anh. Tôi đánh giá cao sự mạnh dạn và sâu sát của người đang gánh vác trách nhiệm nặng nề đối với sự nghiệp “trồng người” đã có sự nhìn nhận và ra quyết định dứt khoát về việc phổ biến triết l‎ý giáo dục cùng với mô hình thực nghiệm “công nghệ giáo dục”.

Đọc tiếp »

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Giáo dục | Tagged: , | Phản hồi đã bị khóa

1503. Cô giáo giao học sinh lớp 2 cho công an hỏi cung – Nỗi nhục của những ai?

Posted by adminbasam on 27/12/2012

Đôi lời: Về vụ việc quá tệ hại này, hôm qua, chúng tôi nhận được một bài bình luận của tác giả Nguyễn Thu Trâm. Nhưng xét thấy nội dung bài có phần gay gắt quá, lại dựa vào và tầm chương trích cú quá nhiều thứ luân lý Nho giáo cổ lỗ và các nhân vật trong sử Tàu, nên chỉ xin điểm trong phần bản tin, khi bài được đăng ở một trang khác.

Rồi sáng nay, chúng tôi nhận được tiếp một bài của Nhạc sĩ Tuấn Khanh, về cùng chủ đề, với mấy lời  trao đổi riêng với chúng tôi, băn khoăn không biết có thể đăng ở đây khi nó là “một đề tài rất nhỏ”, giữa lúc bao nhiêu sự việc to tát, quốc gia đại sự nóng hổi đang được bàn luận sôi nổi.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 74 Comments »

1398. Khoa học Việt Nam mắc kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi

Posted by adminbasam on 19/11/2012

Khoa học Việt Nam mắc kẹt trong phi chuẩn mực, hành chính hóa và tư duy ăn xổi

Phạm Duy Hiển *

Việt Nam là nước đi sau về khoa học và công nghệ (KH-CN). Ta du nhập cách làm KH-CN, ban đầu từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu (ở miền Bắc), gần đây từ các nước tư bản Âu-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa học lại khá giống nhau. Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của mình.

Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học

Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012). Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu. Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê, đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).   

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | 28 Comments »

1360. Hiện tượng Phương Uyên và cú hích đào tạo giáo dục

Posted by adminbasam on 08/11/2012

“Nhà trường, đoàn thanh niên và thầy cô của Phương Uyên không thuộc cơ quan tư pháp, vậy văn bản luật nào cho phép họ có thẩm quyền của cơ quan tư pháp can thiệp vào mối quan hệ giữa sinh viên với Phương Uyên, vốn không nằm trong hợp đồng đào tạo? Trường ĐHCNTP  vốn chỉ có chức năng đào tạo nhưng đã kiêm luôn chức năng nhà nước, biến sinh viên của mình thành đối tượng điều tra, xét hỏi, mà lẽ ra tình người phải bảo vệ họ, nếu thấy đúng, còn không thì không được phép can thiệp, bởi không đúng thẩm quyền, trái pháp luật.”

Hiện tượng Phương Uyên và cú hích đào tạo giáo dục

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức *

Cách đây gần 30 năm, đoàn vài chục nghiên cứu sinh Việt Nam, tuổi trên dưới 30, toàn giáo viên đại học, hoặc ở viện, cục, trong đó đa số đạt điểm cao thi tuyển được ưu tiên chọn sang Đức, đầu tiên tới học viện Herder Institut học tiếng.

Bà Maria, giáo viên chủ nhiệm lớp, được học sinh Việt qúy mến, thế hệ nọ truyền thế hệ kia, luôn gọi là mẹ. Sau buổi làm quen tại trường, mẹ mời đoàn tới thăm nhà riêng cách viện chừng vài chục km đi tầu điện.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | Tagged: | 27 Comments »

1243. Bài phát biểu của bà Michelle Obama tại Đại hội Toàn quốc của Đảng Dân chủ, Hoa Kỳ

Posted by adminbasam on 07/09/2012

NPR

Bài phát biểu của bà Michelle Obama tại Đại hội Toàn quốc của Đảng Dân chủ, Hoa Kỳ

04-09-2012

.
Cảm ơn bà Elaine rất nhiều. (Nói với các quân nhân: ND) Chúng tôi rất biết ơn sự phục vụ và hy sinh của gia đình quý vị và chúng tôi luôn mong muốn quý vị trở lại [phục vụ].

Trong vài năm qua, với tư cách là đệ nhất phu nhân, tôi có được đặc ân rất lớn là đi khắp đất nước này. Và tất cả những nơi tôi đã đi qua, những người mà tôi đã gặp, và những câu chuyện mà tôi đã nghe, tôi đã thấy được những điều tốt đẹp nhất về tinh thần nước Mỹ.

Tôi đã thấy nó (tức tinh thần nước Mỹ: ND) trong lòng tốt đáng kinh ngạc và sự ấm áp mà mọi người đã cho tôi thấy và gia đình tôi, đặc biệt là hai con gái của chúng tôi.

Tôi đã nhìn thấy nó bên trong các giáo viên ở một học khu gần như phá sản, những người đã thề sẽ tiếp tục giảng dạy mà không nhận lương.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Giáo dục | 80 Comments »

1136. Phát biểu của Ngoại trưởng Clinton tại lễ kỷ niệm 20 năm Chương trình Fulbright Việt Nam

Posted by adminbasam on 12/07/2012

Human Rights – USG

Phát biểu của Ngoại trưởng Clinton tại lễ kỷ niệm 20 năm Chương trình Fulbright Việt Nam

Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton

Hà Nội – Việt Nam

10-07-2012

Người dịch: Dương Lệ Chi

.

Cảm ơn rất nhiều. Ôi, tôi rất vui khi có mặt tại đây trong dịp này, hai năm sau khi chồng tôi đã ở đây (cười). Và tôi nghĩ rằng, như cô Thảo nói, gia đình Clinton và Việt Nam có mối quan hệ rất thân mà tôi hy vọng [mối quan hệ này sẽ] tiếp tục thêm nhiều năm nữa trong tương lai. Có mặt ở đây, tại trường đại học lớn này, tôi thực sự rất cảm kích ông Chủ tịch, Chủ tịch Hoàng Văn Châu, cảm ơn ông rất nhiều, cảm ơn ông và sự lãnh đạo của ông, và cảm ơn tất cả các sinh viên và cựu sinh viên Fulbright, những người đang có mặt ở đây để chúng ta kỷ niệm 20 năm Chương trình Fulbright Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Quan hệ Mỹ-Việt | 33 Comments »

1033. Lãnh đạo Trung Quốc lên án các giá trị Mỹ nhưng gửi con cái học ở các trường Mỹ

Posted by adminbasam on 26/05/2012

Washington Post

Lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc lên án các giá trị Mỹ nhưng gửi con cái học ở các trường Mỹ

Tác giả: Andrew HigginsMaureen Fan

Người dịch: Dương Lệ Chi

18-05-2012

CAMBRIDGE, Massachusetts – Khi các môn sinh tụ họp tại trường Harvard hồi tháng trước để thảo luận về sự hỗn loạn chính trị làm rung chuyển Đảng Cộng sản Trung Quốc, một nữ sinh kín đáo, với kết quả ảnh hưởng trực tiếp, đang chăm chú lắng nghe từ hàng ghế trên cùng của giảng đường. Cô chính là con gái của Tập Cận Bình, Phó Chủ tịch Trung Quốc, và là người chắc chắn sẽ nắm giữ chức vụ hàng đầu trong đảng.

Con gái của Tập Cận Bình, cô Tập Minh Trạch, đã ghi danh theo học ở trường Đại học Harvard năm 2010, theo những người quen biết cô ở đó nói là tên giả, đã gia nhập vào một danh sách dài của những “thái tử đảng” Trung Quốc, là con cái của các quan chức cao cấp trong đảng được biết đến, những người đã đến Mỹ để học hành.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục, Trung Quốc | Tagged: , , , | 38 Comments »

1015. Truyện tranh “Bé lợn, lớn bò” của họa sĩ Nguyễn Thành Phong

Posted by adminbasam on 20/05/2012

Khuyến khích tự do cá nhân, hồn nhiên, hay cứ mãi lối mô phạm, đưa vào “khuôn khổ” ngay từ khi mới nứt mắt cho tới lúc … sắp xuống lỗ, vẫn là dấu hỏi không phải chỉ cho nền giáo dục, mà là cho cả chế độ chính trị. Nó đơn giản như câu hỏi rằng chấp nhận ngu si hay chọn lựa tri thức.

Để trả lời, Ba Sàm đã phải dài dòng trong “Đúc người vì lợi ích dăm năm” từ 5 năm trước. Còn với Thành Phong, chỉ kiệm lời, cùng những hình ảnh ngộ nghĩnh cũng đủ nhẹ nhàng gắn những thông điệp riêng vào tâm trí người đọc. Hay như mới đây, những phụ huynh học sinh đã đạp đổ cổng trường Thực nghiệm, bởi họ muốn tìm chút hy vọng nơi có thể cho con em mình được học thật, sống thật.



Họa sĩ Thành Phong là tác giả của cuốn sách đã xuất bản “Sát thủ đầu mưng mủ”, từng gây nhiều tranh cãi trong năm qua
Mời ghé thăm blog của anh.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 22 Comments »

950. Xã hội không cần người giỏi thì đạo học rất khó phát triển

Posted by adminbasam on 02/05/2012

Xã hội không cần người giỏi

thì đạo học rất khó phát triển

(VNT phỏng vấn giáo sư Nguyễn Minh Thuyết)

 Ở Việt Nam, phần đông đi học chỉ để lấy tấm bằng tiến thân. Do đó, bao nhiêu năm nay giáo dục đại học (GDĐH) không có gì thay đổi, ngay cả Dự thảo Luật GDĐH lần này cũng chưa đưa ra được những quy định có khả năng tạo ra những thay đổi căn bản. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chính sách phát triển kinh tế – xã hội và chính sách nhân lực của ta. Nếu kinh tế nước ta chỉ dừng lại ở khai khoáng và gia công, lắp ráp thì các trường vẫn chỉ đào tạo như lâu nay họ vẫn làm. Còn về chính sách nhân lực, nếu tiêu chí tuyển dụng, sử dụng, cất nhắc chỉ xoay quanh mấy chữ “quan hệ”, “tiền tệ”, còn “trí tuệ” xếp chót bảng thì con em chúng ta cũng chẳng cần  học nhiều, học giỏi làm gì.

- Thưa ông, Thủ tướng vừa có công điện yêu cầu các tỉnh thành phải khẩn trương rà soát tình hình, nắm chắc từng trường hợp cụ thể, có giải pháp hỗ trợ thiết thực, hiệu quả, không để trường hợp học sinh, sinh viên nào phải bỏ học, thôi học vì lý do không có khả năng đóng học phí và bảo đảm cuộc sống tối thiểu. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Với công điện này, rõ ràng Chính phủ đã rất quan tâm đến giáo dục bậc đại học. Tuy nhiên, dư luận xã hội không khỏi lo ngại trong quá trình triển khai thực hiện sẽ  nảy sinh tiêu cực. Quan điểm của ông  vấn đề này thế nào, thưa ông?

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 68 Comments »

885. Sai phạm tí ti 18.000 tỷ đồng, “mất trinh” hay là…”thiếu trinh”?

Posted by adminbasam on 11/04/2012

Phụ nữ Today

Sai phạm tí ti 18.000 tỷ đồng, “mất trinh” hay là…”thiếu trinh”?

Thứ Ba, 10/04/2012, 23:01

Tam Thái

(Trái hay Phải) - Trong lúc đám học trò hứng khởi với đề thi về trinh tiết như thể chưa bao giờ được làm văn, thì người lớn, như mọi ngày, vẫn miệt mài cãi cọ về đủ thứ trên trời dưới biển của kiếp nhân sinh.

Đọc tiếp »

Posted in Gia đình/Xã hội, Giáo dục, Tham nhũng, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , , , , , | 89 Comments »

851. Thua đau TQ về giáo dục chủ quyền biển đảo

Posted by adminbasam on 30/03/2012

Có ai gọi kẻ co ro rúm ró một xó, cố bưng tai bịt miệng là người “chậm trễ”? 

Nó bắt bớ, cướp bóc ngư dân mình, phải cam chịu

Một điều nhịn là chín điều nhục,

Thế mà còn không biết giáo dục!

.

Thanh niên

Posted in Biển Đông/TS-HS, Giáo dục | Tagged: , , | 82 Comments »

744. Từ Chiếu Lập học của hoàng đế Quang Trung nghĩ về nền giáo dục nước ta hôm nay

Posted by adminbasam on 19/02/2012

Từ Chiếu Lập học của hoàng đế Quang Trung nghĩ về nền giáo dục nước ta hôm nay

Hoàng Lại Giang *

18-02-2012

Thời Quang Trung việc sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài gắn kết chặt chẽ

Trước khi ra Chiếu Lập học, Quang Trung ra Chiếu Cầu hiền. Nói cách khác, sử dụng nhân tài và đào tạo nhân tài thời đại Quang Trung  gắn kết chặt chẽ theo quy luật nhân quả. Ở nước ta, từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, ở những mức độ khác nhau đều có Chiếu Cầu hiền gắn liền với chính sách giáo dục.

Riêng thời đại Quang Trung, Chiếu Cầu hiền và Chiếu Lập học là rõ ràng, sáng sủa và rất khoa học. Trước tiên, trong Chiếu Cầu hiền ai cũng  thấy tấm lòng chân thành của một nhà vua mong ước được sự cộng tác của người tài, của kẻ sĩ, để cùng với nhà vua xây dựng đất nước cường thịnh giữa thời loạn lạc, dân đang đói khổ, cùng cực … “ Trẫm đương để ý lắng nghe, sớm hôm mong mỏi. Thế mà những người  tài cao, học rộng, chưa ai đến. Hay trẫm là người ít đức, không xứng phò tá chăng? Hay đương thời loạn lạc, họ chưa thể phục sự vương hầu chăng?

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Giáo dục, Pháp luật | 34 Comments »

669. Giáo Sư Ngô Bảo Châu, dư luận và tâm lý nhà cầm quyền

Posted by adminbasam on 29/01/2012

Người Việt

GS Ngô Bảo Châu, dư luận

và tâm lý nhà cầm quyền 

Song Chi

Saturday, January 28, 2012 7:13:51 PM

Thực tế, một sự ưu đãi đặc biệt dành cho cá nhân Ngô Bảo Châu không thể xóa đi cái “thành tích” luôn coi rẻ trí thức, không hề lắng nghe những lời phân tích, phản biện có tình có lý trước mọi vấn đề xã hội của giới trí thức, thậm chí sẵn sàng chà đạp nếu họ trở thành cái gai trong mắt nhà cầm quyền, từ xưa đến nay.

Cả tuần nay các trang mạng xã hội, blog cá nhân cứ sôi lên quanh những tranh cãi thế nào là trí thức, vai trò của người trí thức trong xã hội… khởi đầu từ bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ của Giáo Sư Ngô Bảo Châu.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | Tagged: , | 203 Comments »

664. Lực của người trí thức trong thế giới toàn trị

Posted by adminbasam on 25/01/2012

Đôi lời: Một thông điệp rõ ràng về “một thông điệp hết sức sáng sủa”! “Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng”, nhưng “tôi” chấp nhận cái chết đó.

Tại sao cứ bắt/muốn người ta nghĩ, làm như ta (muốn). “Người ta” đã chót dại, muốn bằng danh tiếng của mình để hòng mau chóng biến đổi xã hội cho bằng thiên hạ, nhưng giờ đã tỉnh ra rồi, chấp nhận cũng với danh tiếng, chuyên môn ấy, chỉ xin làm cái chức phận nhỏ nhoi thôi.

Tội lỗi tất cả là ở những kẻ khốn cùng quá khát khao có được người nói thay cho mình, khi có thì quá vội tin, rồi vỡ mộng. Đừng có mà nguyền rủa “người trong mộng”!

Lực của người trí thức trong thế giới toàn trị

Phạm Toàn

Tại sao một thông điệp hết sức sáng sủa, mạch lạc của giáo sư Ngô Bản Châu lại bị rất nhiều người hiểu lầm, hiện tượng tâm lý đó rất cần được phân tích.

Đây là quan điểm gốc đã được Ngô Bảo Châu nói trên Tuổi trẻ cuối tuần:

Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. […]  giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.

Nghĩ rằng ý tứ của mệnh đề gốc này thế là quá rõ: trí thức là người lao động (dĩ nhiên, đó là loại lao động trí óc) – và đã là người lao động thì phải làm ra sản phẩm (dĩ nhiên, đó là loại sản phẩm của trí óc, và thuộc chuyên ngành của mình).

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | Tagged: , , , , , , , , , | 245 Comments »

663. VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆN TOÁN CAO CẤP VÀ GIÁO SƯ NGÔ BẢO CHÂU

Posted by adminbasam on 24/01/2012

Đôi lời: Vụ này hồi mới nghe đã thấy tức cười, muốn bình mà giờ có người nói hộ rồi, tuy mới là khía cạnh khoa học, giáo dục. Còn … chính trị? Thôi thì đây cũng là rơi rớt cái căn bệnh của hệ thống XHCN, luôn muốn kiếm những thứ “đỉnh cao” để chứng tỏ chế độ mình là “đỉnh cao nhân loại”, ưu việt hơn tụi “giãy chết”. Không đâu xa, mới Olympic Bắc Kinh 2008, cố thể hiện “tính ưu việt” thành thử bao nhiêu trò giả dối phơi bày làm trò cười cho thế giới. Xin mời xem tạm vài bài BS đã dịch đăng: +  Sự thật trần trụi từ lễ Khai mạc Thế vận hội;  + Lễ khai mạc Olympic sử dụng giọng hát của cô bé mà không cho cô xuất hiện;  + Phải trả giá đắt để có những chiếc huy chương vàng cho Trung Quốc;  +Tin tặc Hoa Kỳ khuấy động cuộc tranh cãi về vận động viên thể dục Trung Quốc;  + Trung Quốc bênh vực cho đội bóng đá của mình.

Sô Viết, thành trì phe XHCN, đã sụp đổ cũng phần vì cố gồng mình lên kiểu này.

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 116 Comments »

444. Thời của lý luận và lý thuyết nào?

Posted by adminbasam on 28/10/2011

Thời của lý luận và lý thuyết nào?

 (Thư riêng gửi bạn Tống Văn Công để đọc chung)                                     

Phạm Toàn

Ông Công à,

Nói thật đấy nhé: ngày nay, trong đội ngũ những người còn xuất hiện trong cái thần thái đáng được chú ý về sự xả thân cho lý luận và lý thuyết, có lẽ chỉ còn một ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, và một ông Tống Văn Công (xem bài: Thế nào là đột phá về lý luận. Suy nghĩ từ ý kiến Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo Hội đồng lý luận trung ương” – Trần Hữu Dũng, 24-10-2011).

Mặc dù lĩnh vực đề tài mà ông Trọng cũng như ông Công quan tâm trên phương diện lý luận đều thuộc chính trị và tuyên truyền, song chỉ khi bỗng dưng hai ông cùng một lúc phát biểu về một chủ đề và theo định hướng ấy, thì tôi mới có thể góp chuyện hầu một trong hai ông (tức ông Công – nói rõ cho khỏi hiểu nhầm). Nói như vậy cũng để phân định một điều này: cùng chuyện “lý luận”, “lý thuyết”, điều ông Công cũng như ông Trọng quan tâm, ấy là tuyên truyền. Đó tức là công việc tìm cách thuyết phục cho mọi người có một niềm tin, trong khi đối với tôi, nếu cũng phải làm gì dính dáng tới “lý luận” hoặc “lý thuyết”, điều tôi quan tâm lại là làm cách gì cho con người biết hoài nghi niềm tin của họ.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | 64 Comments »

409. Xe Cá Nhân và Vết Xe Nguyễn Thiện Nhân

Posted by adminbasam on 09/10/2011

Xe Cá Nhân và Vết Xe Nguyễn Thiện Nhân

Huy Đức

Người dân có lẽ cũng chia sẻ khi nghe nói Bộ trưởng Đinh La Thăng và các quan chức trong Bộ rồi đây sẽ đi xe bus tối thiểu một lần trong tuần. Nhưng nhớ, các nhà kinh tế đã từng tính toán, nếu Bill Gates đánh rơi tờ 100 dollars thì thay vì cúi xuống nhặt mà tiếp tục đi thì cái đầu của ông sẽ kiếm được nhiều hơn như thế. Lâu lâu “vi hành” để biết đứng trên xe bus thường dân nó khác với ngồi xe hơi Bộ trưởng như thế nào thì cũng cần. Nhưng, Bộ trưởng nên dành thời gian để tư duy. Mặt khác, một “tư lệnh” mà đến cơ quan với áo xống xộc xệch, mồ hôi nhễ nhại, thì cũng không “uy” cho lắm.

Năm 1993, khi vào Sài Gòn Công tác, ông Nông Đức Mạnh đã mất hơn một giờ để di chuyển từ trung tâm xuống Bình Thạnh thăm công ty Vissan. Cảnh sát hụ coi thì cứ hụ còi, đầy đường xe cộ, người dân có muốn tránh xe Chủ tịch Quốc hội cũng không có chỗ. Vừa tới Vissan, ông Mạnh nói, Bộ Chính trị vừa họp phê duyệt Quy hoạch, theo đó dân số Sài Gòn tới năm 2000 là 5 triệu người. Ông thú nhận, khi ngồi trong phòng họp Bộ Chính trị ông không hình dung được Sài Gòn lại đông như vậy. Ông Mạnh có cảm nhận đó cũng nhờ một chuyến “vi hành”. Nhưng lẽ ra, những người giữ cương vị như ông phải thấy rằng, dự báo mức tăng trưởng dân số ở các đô thị là trách nhiệm của các nhà chuyên môn thay vì phó thác cho một cơ quan nhiều việc như Bộ Chính trị.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Gia đình/Xã hội, Giáo dục | 150 Comments »

406. Bài phát biểu của tổng thống Barack Obama nhân dịp năm học mới

Posted by adminbasam on 08/10/2011

The White House/ Blog Phạm Nguyên Trường

Bài phát biểu của tổng thống Barack Obama

nhân dịp năm học mới (2011-2012)

Barack Obama

28-09-2011

.

.

Xin cám ơn. (Vỗ tay). Xin cám ơn rất nhiều. Xin mời các vị an tọa. Xin cám ơn chủ tịch (ý nói cô Donae, có lẽ là chủ tịch hội học sinh -ND), đây là bài giới thiệu rất hay. (Cười). Chúng ta rất tự hào về Donae vì cô đã có một bài giới thiệu rất hay về trường học này.

Ngoài ra, tôi muốn cám ơn bà hiệu trưởng nổi tiếng của các cháu, bà đã làm việc ở đây 20 năm – ban đầu là cô giáo và bây giờ là một hiệu trưởng nổi tiếng – đấy là bà Anita Berger. Xin một tràng pháo tay nồng nhiệt để chúc mừng bà. (Vỗ tay). Tôi cũng muốn cám ơn ông Gray, thị trưởng Washington, D.C. cũng có mặt ở đây. Xin một tràng pháo tay nồng nhiệt để chào mừng ông. (Vỗ tay). Và tôi muốn được cám ơn người sẽ đi vào lịch sử như là một trong những vị bộ trưởng giáo dục tuyệt vời nhất của chúng ta, đấy là ông Arne Duncan, cũng có mặt ở đây. (Vỗ tay).

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | 147 Comments »

353. Giáo sư Chu Hảo nói về giáo dục

Posted by adminbasam on 13/09/2011

Chương trình Sự kiện văn hóa – Nhân vật của VTV1, ngày 11-8-2011

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục | Tagged: | 46 Comments »

206. NHỚ LẠI NHÀ BÁO ĐÀO TRINH NHẤT

Posted by adminbasam on 22/07/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 382, tháng 6 – 2011

NHỚ LẠI NHÀ BÁO ĐÀO TRINH NHẤT

Trần Thái Bình

Trong văn học Việt Nam hiện đại, rất ít nhà nghiên cứu giới thiệu Đào Trinh Nhất với độc giả. Duy nhất, chỉ có Vũ Ngọc Phan không quá 5 trang in ở bộ Nhà văn hiện đại, đã viết về ông, nhưng cũng rất sơ lược (in năm 1942). Từ năm 1945 đến nay, cũng không có nhà biên khảo nào nhắc đến Đào Trinh Nhất, tuy rằng tác phẩm của ông có nhiều, và lại đang rất đa dạng. Ngày nay, nhìn lại những tác phẩm của ông để lại, chúng ta sẽ có thể thấy tính đa diện phong phú trong một cây viết vừa là nhà văn, nhà báo, vừa là nhà nghiên cứu: ông đã từ vườn văn làng báo đến với địa hạt nghiên cứu lịch sử, xã hội, triết học và là người bạn đường đã có phần đóng góp quan trọng đối với sử học Việt Nam.

Đọc tiếp »

Posted in Chính trị, Giáo dục | 8 Comments »

Tin thứ Ba, 19-07-2011

Posted by adminbasam on 19/07/2011

Thông báo: Quý độc giả có thể vào xem 5 video, trong số các video biểu tình hôm Chủ Nhật vừa qua, đã được lưu trữ ở cột bên trái của trang này. Năm video này được đặt cố định ở đó cho tới khi đổi video mới, nên độc giả có thể xem bất cứ lúc nào.

Tin thứ Ba, 19-07-2011

CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT

* ĐẶC BIỆT VỀ BIỂN ĐÔNG:

- Bài của Nguyễn Tường Thụy hôm qua đã điểm rồi nhưng cần điểm lại: Nhật ký biểu tình (DLB). Trong bài tác giả có nói đến người đàn ông đã bị các “bạn dân” khiêng và đạp vào mặt là Nguyễn Trí Đức, sinh năm 1976. Tác giả còn cho biết nghi vấn về an ninh Trung Quốc có mặt cùng với các “bạn dân” ở Mỹ Đình. “Khi xe đi về Mỹ Đình, chúng tôi kiểm quân, đếm được 21 người, tất nhiên không tính những người áp giải chúng tôi. Có một tay thanh niên chừng ngót 30 tuổi. Hỏi gì hắn cũng không nói, chỉ ngơ ngác nhìn. Mọi người  bảo, nó không nói được, vậy đúng là an ninh TQ rồi. Chợt nhớ tới cuộc biểu tình lần thứ 5, có nghi vấn rằng an ninh TQ cũng tham gia giám sát biểu tình. Nếu vậy thì … thôi rồi, đất nước ơi!” Cũng xin nhắc tác giả rằng, “nó không nói được” biết đâu nó bị câm? Cũng có thể nó là người nước khác, không phải TQ? Cũng có thể nó là người TQ vào giúp dân ta vì “láng giềng hữu nghị” mà!  He He! Lần sau các bác có gặp những người này ráng tìm hiểu kỹ hơn. Và đây là thông tin về người đứng trên xe buýt đã đạp vào người đàn ông biểu tình (DLB). Thông tin về người tên Minh này đúng, sai, nhờ độc giả kiểm chứng.

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Giáo dục, Trung Quốc, Văn hóa | 244 Comments »

159. Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Posted by adminbasam on 06/07/2011

Dừng cuộc thi nói không với chữ U

Đỗ Trung Quân

Từ sáng kiến của tiến sĩ Nguyễn Quang A: “Sản xuất  20 triệu áo, mũ in chữ U-NO, U gạch chéo giúp ngư dân bám biển “ do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức và thực hiện. Đại học Hoa Sen thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức một  cuộc thi Thiết Kế Logo Non-U, “Nói KHÔNG với đường lưỡi bò” kêu gọi tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam thể hiện qua những việc làm, hành động cụ thể đối với việc xác định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, góp phần bảo vệ hòa bình, hợp tác và phát triển trong cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á…”
Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Giáo dục | 65 Comments »

158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Posted by adminbasam on 06/07/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 381 Tháng 6 – 2011

Trần Trọng Kim và bộ sách

giáo khoa bậc sơ học

Phan Trọng Báu

BỘ SÁCH GIÁO KHOA BẬC SƠ HỌC CỦA TRẦN TRỌNG KIM CHỦ BIÊN MÀ CHÚNG TÔI MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ NHỮNG CUỐN: SỬ KÝ GIÁO KHOA THƯ, LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ VÀ QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ CỦA CÁC TẦNG LỚP ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) DO NHA HỌC CHÍNH ĐÔNG PHÁP QUẢN LÝ. NGOÀI TRẦN TRỌNG KIM CÒN CÓ CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN NGỌC, ĐẶNG ĐÌNH PHÚC VÀ ĐỖ THẬN THAM GIA BIÊN SOẠN.

Sách giáo khoa bậc sơ học trước Trần Trọng Kim

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Lịch sử | 39 Comments »

158. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học

Posted by adminbasam on 06/07/2011

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Số 381 Tháng 6 – 2011

Trần Trọng Kim và bộ sách

giáo khoa bậc sơ học

Phan Trọng Báu

BỘ SÁCH GIÁO KHOA BẬC SƠ HỌC CỦA TRẦN TRỌNG KIM CHỦ BIÊN MÀ CHÚNG TÔI MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ NHỮNG CUỐN: SỬ KÝ GIÁO KHOA THƯ, LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ VÀ QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ CỦA CÁC TẦNG LỚP ĐỒNG ẤU (LỚP NĂM), DỰ BỊ (LỚP TƯ) SƠ ĐẲNG (LỚP BA) DO NHA HỌC CHÍNH ĐÔNG PHÁP QUẢN LÝ. NGOÀI TRẦN TRỌNG KIM CÒN CÓ CÁC ÔNG NGUYỄN VĂN NGỌC, ĐẶNG ĐÌNH PHÚC VÀ ĐỖ THẬN THAM GIA BIÊN SOẠN.

Sách giáo khoa bậc sơ học trước Trần Trọng Kim

Đọc tiếp »

Posted in Giáo dục, Lịch sử | Leave a Comment »

PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

Posted by adminbasam on 15/07/2009

VỊ TRÍ QUAN TRỌNG CỦA PHONG TRÀO DUY TÂN ĐẦU THẾ KỶ XX

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VĂN HOÁ VIỆT NAM

PGS.TS. Chương Thâu, Viện Sử học *

 

Khoảnh khắc giao thời giữa hai thế kỷ (XIX và XX) ở vùng Đông Á lúc bấy giờ diễn ra nhiều sự kiện trọng đại, nhất là ở Nhật và ở Trung Quốc. Vận động duy tân ở Nhật Bản, bắt đầu tới Minh Trị Thiên hoàng, đưa đến kết quả rực rỡ. Nước Nhật tiến lên thành một cường quốc, đánh thắng được nước Nga. Cả thế giới, đặc biệt là Đông Á và Đông Nam Á, thừa nhận là nhờ có duy tân, nước Nhật mới đạt được thành tựu lớn như vậy. Vận động duy tân ở Trung Quốc, bắt đầu với vua Quang Tự, gặp sự cản trở của thế lực phong kiến, rồi sự xâu xé của các liệt cường, trải nhiều biến cố mới đi đến cuộc Cách mạng Tân Hợi. Nhưng chính cuộc vận động này đã dồn dập xuất hiện rất nhiều tác phẩm lý luận chính trị xã hội, làm cho giới nho sĩ ở Trung Quốc sực tỉnh, chuyển biến theo đường lối mới, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước ở trong vùng. Cả khu vực Đông Á đang bắt đầu thức tỉnh, trong đó có Việt Nam.

Riêng ở đất nước ta, tình hình đầu thế kỷ này cùng đầy biến động. Phong trào Cần Vương đã bị dập tắt, nhưng tinh thần diệt thù cứu nước vẫn chưa chìm xuống. Tiếng vang từ các cuộc khởi nghĩa (từ Phan Đình Phùng đến Đề Thám) vẫn còn ảnh hưởng lớn, vẫn thôi thúc mọi người. Lớp văn thân trước kia, có vai trò chỉ đạo các cuộc nổi dậy, tuy không còn người lãnh tụ tiêu biểu nữa, song cái chí nguyện độc lập, tự do, chống bọn xâm lăng của họ vẫn còn đó, còn nung nấu chí nguyện phục thù. Một số nhà nho kế cận vẫn còn bị hấp dẫn bởi những ngọn cờ quật khởi, vẫn ước mong được vì “non nước tuốt gươm ra”. Tuy nhiên, đã phảng phất cái quan niệm nhận thấy rằng những biện pháp đấu tranh: lập căn cứ riêng, cướp thành, giành đất như các cuộc khởi nghĩa trước đây có lẽ là không ổn. Phải gánh đích bằng những phương sách khác phải tiến hành cách mạng bằng các hình thức đấu tranh khác. Thời kỳ bình định cơ bản đã qua rồi, chính quyền thực dân đang chuyển sang đường lối khai thác, và vì thế mà đất nước này mang thêm những cục diện mới. Vừa muốn kìm hãm xã hội, nhưng lại cũng vừa cần phải có sự đổi thay mới hợp với sự điều hành của kẻ cầm quyền. Miền Bắc, miền Trung chưa có bao nhiêu, nhưng miền Nam đã đổi thay nhiều lắm. Tổ chức quản lý khác việc học hành phải theo chương trình Pháp, khoa cử bị bỏ, việc đào tạo trước nhất là kiếm người phục vụ cho bọn thực dân. Việc kinh doanh được mở mang, các đồn điền, nhà máy bắt đầu phát triển. Khá quan trọng là sự ra đời của những người làm nghề tự do, và sự tiếp thu văn hoá mới từ phương Tây đưa đến. Bấy nhiêu biến cố đã làm cho các nhà nho phải nhìn thế cuộc bằng con mắt khác. Rõ ràng là xã hội đang có cái mới, ngày càng nhiều và phát triển, nhà nho không muốn chấp nhận cái mới ấy cũng không được. Đúng lúc ấy thì có khuynh hướng duy tân – nhất là từ bên Nhật đưa sang. Những nhà nho còn dồi dào nhiệt huyết nhất bỗng thấy tăng sức mạnh cho “giống da vàng đánh bại bọn da trắng”. Vậy là phải duy tân, và có thể bắt chước hướng duy tân của Nhật Bản. Một số nhà nho mạnh bạo nhất, có ý chí phục thù quyết liệt nhất, đã thiên về khuynh hướng ấy.

Nếu tấm gương duy tân Nhật Bản kích thích một bộ phận nhà nho Việt Nam một cách sôi nổi, thì ở một bộ phận nhà nho khác, tình huống cuộc duy tân Trung Quốc lại có phần đậm đà hơn. Lý do đơn giản là vì sách báo của Trung Hoa vào Việt Nam dễ hơn, đọc nhanh và cũng hiểu nhanh hơn. Chưa thấy nói có tác phẩm nào của Nhật Bản bằng tiếng Nhật được lưu hành ở nước ta, và những hiểu biết về Nhật Bản lúc đó, cũng chủ yếu bằng phương tiện ngôn ngữ của Trung Quốc. Lúc đó, ở Trung Quốc tư tưởng duy tân càng thêm sôi nổi. Một loạt tác giả mới, sách báo mới của những hội nghiên cứu, hội chính trị mới đã ra đời, đều có tính hướng đến Việt Nam. Tất cả đều nhất loạt hô hào cái mới, lên án Thanh triều hủ bại, đòi bỏ khoa cử, phủ nhận chế độ phong kiến, đề cao dân chủ, tán thành dân quốc. Các tác phẩm phương Tây cổ xuý cho tư tưởng dân chủ đều được dịch ra, những tên tuổi mới lạ được phiên âm thành Hán tự ta trở nên quen thuộc: Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa (J.J Rousseau), Phúc Lộc Đắc Nhĩ (Voltaire), v.v… Các nhà nho Việt Nam đã được đọc những sách ấy và hào hứng tiếp thu, trân trọng những kiến giải mà họ cho là hợp lý nhất, mới nhất đúng nhất với lịch sử nhân loại tiến hoá. Họ cảm thấy phải đi theo con đường này, và đó cũng là con đường cứu nước hiệu nghiệm. Cũng như một số nhà nho trên, lòng yêu nước của họ chưa hề nguội lạnh, con đường duy tân này cũng là con đường thích hợp mà có phần nào chưa phải trực tiếp đương đầu với gươm súng của bọn thực dân.

Thế là hình thành ra hai phái trong công cuộc vận động cứu nước. Một phái chủ trương giành độc lập trước nhất, phải vũ trang bạo động, nếu sức mình chưa đủ thì tìm viện trợ ở ngoài. Hoạt động theo hướng này, nếu ở ngay trong nước thì phải tiến hành một cách bí mật, nếu ở ngoài nước thì hăng hái học tập Nhật Bản và Trung Quốc, tất nhiên phải đề phòng sự khủng bố truy lùng của địch. Những nhà nho đi con đường này được xem là nằm trong tổ chức bí mật, gọi là ám xã. Phe ám xã sang Tàu, nhất là sang Nhật, tức là làm nhiệm vụ Đông du. Còn phe kia, tiến hành vận động đổi mới ngay trong nước, tìm cách khai thác triệt để những điều kiện công khai, hô hào nâng cao dân trí, với danh nghĩa là thúc đẩy cho quần chúng thấy rõ cái hủ bại của đất nước dưới chế độ phong kiến quân chủ. Việc làm này có thể tiến hành đàng hoàng trước bộ máy chính quyền thực dân và tay sai. Vì thế, người ta gọi họ là ở trong phái minh xã. Minh xã hay ám xã, thì vẫn cùng chung mục đích đổi mới đất nước, giải phóng dân tộc.

Trong quá trình tuyên truyền giải thích chủ trương, có trường hợp các nhà nho trong hai phái này tranh luận với nhau, thậm chí phản đối nhau kịch liệt, nhưng thật ra thì họ “tương phản nhi tương thành” (chữ dùng của Huỳnh Thúc Kháng). Dân chúng không hề nhầm lẫn điều đó, mà vẫn kính trọng, vẫn ủng hộ cả hai với nhiệt tình ca ngợi và tuân thủ như nhau. Họ đều được xem là những nhà chí sĩ cứu nước. Có người còn nghĩ rằng, chính các nhà nho phân công nhau, chia việc cho nhau và để cùng đi tới kết quả. Bản thân hai phái nhà nho này, trong nhiều trường hợp, đã có cách nói như nhau, đặt vấn đề phục vụ dân tộc như nhau, chứ không hề trái ngược gì nhau cả.

Hai ông Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu không nhất trí với nhau về đường lối, nhưng vẫn là bạn đồng chí, đồng tâm, và phong trào được gọi là Duy Tân (bao gồm cả Đông Kinh nghĩa thục) cũng có quan hệ với Duy Tân hội và với Quang Phục hội. Bọn thực dân và tay sai, hiểu rõ điều này hơn ai hết, và đã tìm cách khủng bố cả hai phái ám xã, minh xã với biện pháp khắc nghiệt như nhau.

Việc vận động duy tân trong nước chủ yếu là do phái minh xã. Cách tiếp nhận tư tưởng duy tân của hệ, chủ yếu là bằng tân thư, nghĩa là bằng sách báo ở Trung Quốc, ở Nhật Bản truyền sang. Có thể nhận ra trong kho sách này những loại tài liệu sau đây:

1. Loại sách giới thiệu, thuyết minh về tư tưởng duy tân dân chủ (tân thư). Có những bộ phận sách tiêu biểu như Đại đồng thư của Khang Hữu Vi, nhất là bộ sách Ẩm Băng Thất tùng thư của Lương Khải Siêu. Bộ sách này có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà nho Việt Nam. Đọc Trung Quốc hồn, người ta cảm thấy Lương Khải Siêu không chỉ nói về Trung Quốc mà đang nói về Việt Nam với tất cả các lạc hậu của xã hội, những hiểm hoạ đối với nòi giống trước tình hình mới. Quyển sách Mậu Tuất chính biến ký, kể rõ cuộc vận động duy tân thất bại của Quang Tự, cho thấy được những xáo động lớn lao của Trung Quốc và đã thôi thúc nho sĩ Việt Nam cần phải kịp thời đổi mới, thấy rõ hơn bộ mặt và bản chất phản động của chế độ phong kiến quân chủ. Hai tác giả Khang, Lương trở thành những lý thuyết gia chỉ lối đưa đường cho các nhà nho duy tân.

2. Cùng với Mậu Tuất chính biến ký, còn có một số sách có tính cách là những tập vịnh sử, ký sự về tình hình hiện đại của Nhật Bản như Nhật Bản duy tân tam thập niên sử (bản dịch chữ Hán của La Hiếu Cao), v.v… Tấm gương duy tân của các nước láng giềng được các sách này vẽ ra trước mắt các nhà nho, càng tăng thêm hào hứng và quyết tâm đi vào hoạt động.

3. Nhiều tập sách nêu những tấm gương chiến đấu của các chí sĩ các nhà hoạt động chính trị, hoạt động cách mạng của toàn thế giới cũng được các nhà nho đón đọc một cách say sưa. Có tập như Kinh quốc mỹ đàm, nêu gương phụ nữ: Các bà Qua Đặc (Jeane d’Arc), bà La Lan (Roland); có tập như Cận thế chi quái kiệt, đề cập đến đủ loại anh hùng, đều là những người anh hùng có công đổi mới đất nước của họ, dù đó là vua chúa hay tổng thống, giám quốc: Vua Bỉ Đắc (Pierre le Giand) ở Nga, Hoa Thịnh Đốn (Washington) ở Mỹ, Nã Phá Luân (Napoléon) ở Pháp, Tỉ Sĩ Mạch (Bismarck) ở Đức v.v… Nhiều sách báo khác cũng nêu những tấm gương như Mã Chí Nê (Mazzini), Gia Lý Ba Đích (Garibaldi) ở Ý, như Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi), Cát Điền Tùng Âm (Yoshida Syoin) ở Nhật, v.v… Tóm lại, nhà nho Việt Nam lúc này đã được làm quen và sùng mộ tất cả những nhà ái quốc cổ kim. Tất cả đều được xem là thần tượng và đều được đưa vào văn chương cổ động Việt Nam: người đọc nếu không hiểu, phải tìm lấy mà hiểu 1. Thậm chí, có những người lấy ngay tên các thần tượng ấy đặt làm biệt hiệu của mình. Phan Châu Trinh tự đặt tên mình là Hy Mã (Mã Chí Nề: Mazzini).

4. Cùng với loại sách này là những tập sách dịch các luận thuyết của các nhà tư tưởng thế kỷ XVIII ở phương Tây (có nhiều bản dịch ra Hán văn của nhiều tầng lớp dịch giả). Được quen thuộc nhất là bộ Vạn pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cứu (Esprit aes Lois của Montesquieu), bộ Dân ước của Lư Thoa (Contrat social của J.J. Rousseau). Rồi những sách của Đạt Nhĩ Văn (Đarwin), Tư Tân Tắc Nhĩ (Spencer), v.vTư tưởng dân chủ trong các lý thuyết này có giá trị chi đạo rất lớn, và các lý thuyết gia này luôn được ca ngợi. Phan Bội Châu khi viếng Phan Châu Trinh đã phải viết:

Cậy Tây học dặn dò phương tự chủ, Lư Thoa, Mạnh Đức so sánh người xưa.

Câu văn ấy đã nói đủ ý tứ sùng mộ của các nhà nho thời ấy.

5. Cuối cùng, còn phải nhắc đến các báo chí (tân văn) nhất là của Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lúc bấy giờ, đều là tài liệu quý được các nhà nho đón nhận. Đặc biệt là tờ Dân báo của Trung Quốc Đồng minh do Chương Thái Viêm làm chủ bút. Cùng với các ông Đàm Tự Đồng, Trâu Dung, Lương Khai Siêu, v.v… Chương Thái Viêm là một kiện tướng xuất sắc trong trường ngôn luận lúc bấy giờ.

Cùng với những loại sách báo này, người ta cùng tìm cách cho lưu hành những văn bản của những người Việt Nam tiên giác như Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ, bản Thiên hạ đại thể luận của Nguyễn Lộ Trạch. Ngoài ra, khuynh hướng chú trọng về thực nghiệm khiến cho một số nhà nho cũng tìm cách nghiên cứu một số vấn đề khoa học. Các sách cũ (không thuộc thời kỳ duy tân) ở Trung Quốc lại được lục ra để tìm hiểu về nhiều lĩnh vực: Sách nông nghiệp như Nông chính toàn thư, sách thiên văn như Quản khu trắc lệ. Rồi những sách theo dạng tu tri (toán pháp, cách trí, v.v…) đều được tìm đọc. Đã nói cách học xưa là học hư văn, thì học mới phải chuyên về thực nghiệp. Điều đó được các nhà nho nhận thức một cách sâu sắc và cảm động, khiến cho họ phải tìm cách tự trang bị kiến thức, trong hoàn cảnh giáo dục lúc bấy giờ.

Tiếp thu tân thư tân văn như vậy, đồng thời các nhà nho minh xã cũng bắt tay vào hành động. Việc làm của họ tập trung vào một chủ đích lớn là thức tỉnh đồng bào, cốt nhằm cho nhân dân quần chúng cả nước thấy rõ nguyên nhân vì đâu mà chúng ta sống trong tình trạng “người ngu, nước yếu “(chữ dùng của Ngô Đức Kế). Họ trực tiếp đả kích cái học cũ, đầu óc hủ nho và lối văn chương bát cổ làm mê muội con người. Họ công kích những thói hư tật xấu và lên án chế độ phong kiến, chế độ quân chủ, nhắc nhở đến lịch sử cha ông, vạch rõ những thảm cảnh của đất nước lâm vòng nô lệ. Hướng đi của họ là nhằm cổ động cái học mới (tân học) và cổ động cho thực nghiệp. Để thực hiện cho chủ trương này, việc làm cụ thể của họ là:

- Mở các trường học: Các nhà Duy Tân ở Quảng Nam (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) đi đầu trong việc đề xướng khai dân tự với việc mở hàng loạt trường ở hầu khắp các làng quê của xứ Quảng. Đó là các ngôi trường kiểu mới của dân tộc đầu thế kỷ trước. Nhưng tiêu biểu hơn cả là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội (đã có nhiều tài liệu viết về trường này). Nhà trường có chương trình đường lối như Văn minh tân học sách, có tổ chức quy mô thu nhận hàng nghìn học sinh, có nhiều hình thức hấp dẫn: “Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ bình văn khách tới như mưa

- Nhà trường có nhiều tác phẩm xuất sắc được lưu hành, phổ biến ra cả ngoài trường như những tài liệu tuyên truyền cứu nước. Nhiều địa phương khác trong Nam ngoài Bắc đã cố gắng phỏng theo mô hình này, dù ở quy mô nhỏ hẹp hơn. – Tổ chức diễn thuyết ở nhiều nơi, nói về các đề tài liên quan đến vận động học mới, đả kích tư tưởng, phong tục cổ hủ, đề cao dân chủ dân quyền. Rất nhiều nhà nho có uy tín (các vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, các ông đốc học, giáo thụ, huấn đạo) tham gia công việc này, gây một phong trào truyền bá tân học rất sôi nổi.

- Lập các hội buôn, các nhà hàng để giới thiệu, thông thương các hàng nội hoá, bán sách tân thư. Cửa hàng Hồng Tân Hưng (nối theo Đông Kinh nghĩa thục) miền Bắc, cửa hàng Triệu Dương thương quán (Nghệ An), cửa hàng Liên Thành (miền Nam Trung Bộ),là những thí dụ.

- Ngoài những hình thức trên đây, ở một số nơi khác trong nước, còn có những phong trào đột khởi, cũng do những nhà nho duy tân tiến hành. Khởi đầu, có lẽ là do sáng kiến của một vài vị thân sĩ nào đó, sau được lớp nhà nho trẻ tuổi thực hiện một cách ào ạt. Thí dụ như phong trào cắt tóc: cắt cái búi tóc được xem là một hình thức tiêu biểu cho cái cục hủ cổ truyền của Việt Nam.

Những hành động như trên, cố nhiên là do sự chỉ đạo, sự thôi thúc của các nhà nho trong phái minh xã. Nhưng trong phạm vi bí mật, không phải không có tác động của phái ám xã. Tài liệu học tập ở Đông Kinh nghĩa thục có những thơ văn cổ động của phái Đông Du được dịch và lưu hành (Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch). Có cả những liên lạc kín đáo giữa phong trào Đề Thám với trường này. Và ở miền trong, sự thân tình của Phan Bội Châu (lãnh tụ phái ám xã) cùng các ông Đặng Nguyên Cẩn, Trần Quý Cáp càng chứng tỏ họ cùng chung mục đích. Bản án kết tội Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành, Lê Bá Trinh của thực dân, nói rõ là những người này (minh xã) đã thông đồng với Phan Bội Châu (ám xã).

Rồi như chúng ta đã biết, tất cả thế hệ nhà nho này, từ Nam chí Bắc, đều bị khủng bố. Hàng trăm nhà nho đều bị đưa ra Côn Đảo giam cầm. Trong cuộc đàn áp phong trào chống thuế, một số nhà nho cầm đầu đã bị địch tử hình (Trần Quý Cáp, Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Bá Loan…). Huỳnh Thúc Kháng nói đây là giai đoạn “mạt kiếp của chữ Hán” (Thi tù tùng thoại).

Điều đặc biệt đáng ghi nhận ở đây là những nhà nho trong phái duy tân, có khá nhiều là những cây bút văn chương xuất sắc. Họ trung thành với chủ trương đánh thức đồng bào, bài xích hư văn, hô hào thực nghiệp. Có lẽ lần đầu tiên đất nước Việt Nam này mới có một chương trình vận động văn hoá có bài bản, có lý luận hẳn hoi. Trước đây, văn chương và học thuật Việt Nam không đề xuất được một tí lý luận nào, ngoài cái phương châm “văn dĩ tải đạo” quen thuộc từ bên ngoài đưa đến. Mãi sau này, vào giữa thế kỷ XX, một vài năm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản mới đưa ra Đề cương văn hoá, đề xuất lý luận quan điểm tiến bộ về phương diện này. Vinh dự cho các nhà nho duy tân, cho Đông Kinh nghĩa thục là đã đưa ra bản Văn minh tân học sách, chỉ rõ được bốn nguyên nhân kìm hãm văn hoá dân tộc và đề ra sáu phương châm vận động văn hoá mới. Giờ đây, ta có thể thấy nhiều bất cập trong đường lối chính sách đó, nhưng đặt vào hoàn cảnh đương thời, thì đó phải xem là một thành tựu lớn trong lịch sử phát triển văn hoá Việt Nam. Tiếp theo đường lối cơ bản đó là những tác phẩm có giá trị nhất định cả về văn chương và tư tưởng. Các nhà văn của Đông Kinh nghĩa thục có rất nhiều sáng kiến biến hoá, sử dụng nhiều thể loại phục vụ mục đích tuyên truyền giáo dục của mình:

- Họ viết rất nhiều các bài thơ cổ động, dùng vần điệu lục bát, nhắc nhở quần chúng về từng nhiệm vụ duy tân cụ thể. Họ có sáng kiến tìm những đầu đề hấp dẫn, khêu gợi, rất hợp với tâm lý quần chúng. Bài thơ ngắn này là Kêu hồn nước, bài ca trù gọn nhẹ kia là để hú hồn thanh niên. Rồi những lời mẹ dạy con, vợ khuyên chồng rất thích hợp với sự tiếp nhận của đại đa số quần chúng.

- Họ viết những bài thơ có tính cách chuyên đề, đi hẳn vào những yêu cầu tố cáo thói hư tật xấu, hoặc hướng dẫn một nhiệm vụ cụ thể, chỉ rõ từng vấn đề thiết cốt trong nhiệm vụ duy tân. Đây là bản Cáo hủ lậu văn, kia là bản Giác thế tân thanh, rồi đến những bài Khuyên học quốc ngữ, học chuyên môn, học công nghệ, học buôn bán. Kia là những bài khuyên đoàn kết, khuyên hợp quần. Tất cả những gì cần thiết cho sự đổi mới, Đông Kinh nghĩa thục tiêu đề cập đến một cách gọn gàng, thiết thực.

- Đông Kinh nghĩa thục là một trường học. Nhà trường phải có tài liệu giáo dục, có sách giáo khoa. Cũng là lần đầu tiên mà đất nước ta có những bài dạy lịch sử, địa lý Việt Nam bằng văn chương quốc ngữ. Những tập sách như Quốc dân độc bản đã được biên soạn và phát hành với số lượng lớn, được quần chúng cả nước hoan nghênh. Nhiệm vụ duy tân thể hiện bằng phương pháp giáo dục công khai trước mũi của chính quyền thực dân, phải nói là sáng kiến tài tình và là điều rất mới trong lịch sử giáo dục. Từ xưa, các nhà nho chỉ biết giáo khoa là Ngũ kinh Tứ thư quá lắm nữa là các bài giảng về đạo đức, các sách gia huấn hoặc sách từ vựng chứ đã biết đến những hình thức giáo khoa này đâu. Đó thực sự là nét duy tân của phong trào, có ý nghĩa lịch sử.

- Ngoài ra, tài liệu của Đông Kinh nghĩa thục còn là những tài liệu cổ động của các nhà cách mạng ở nước ngoài, như bản Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, Tỉnh quốc hồn ca của Phan Châu Trinh đã được các thầy giáo Đông Kinh nghĩa thục cho phổ biến rộng rãi. Còn phải nhắc đến những bài nói chuyện, bài diễn thuyết của nhiều trí thức, có chân trong phong trào Duy Tân hay không, đều dược chấp nhận, miễn là góp phần vào sự thức tỉnh quốc dân mà các chí sĩ duy tân đang thiết tha cổ vũ. Chắc có thể có cả những tài liệu của các học giả nước ngoài, những loại tân thư của Trung Quốc như trên đã nói.

Có kế hoạch tổ chức quy mô như vậy, có trình độ biên soạn, tuyên truyền và huấn luyện như vậy, điều không đáng ngạc nhiên là Đông Kinh nghĩa thục đã đạt được những thành công. Chính quyền thực dân nhất định phải e sợ tổ chức của các nhà duy tân, và đã thành lập những kiểu trường gọi là trường Tân Quy 2 đã tranh giành ảnh hưởng. Nhưng tranh giành sao được, khi mà những con người do đế quốc thực dân chỉ định không có lý tưởng duy tân, và nhất là không có được niềm tin của quần chúng. Bọn cầm quyền chỉ có cách cuối cùng là bóp chết Đông Kinh nghĩa thục. Nhưng cũng không có cách nào để bóp chết, mà chỉ mượn cớ vu vạ cho các chí sĩ duy tân đã chỉ đạo phong trào chống thuế, liên lạc với phái ám xã, để dồn tất cả vào ngục tù, không cho phát huy ảnh hưởng nữa. Đông Kinh nghĩa thục bị dập tắt, nhưng thành tích của nó là to lớn. Những tác phẩm của nó đã tồn tại với thời gian, trong đó ngoài những giá trị lịch sử, còn phải nói đến giá trị n chương. Một số người như Nguyễn Quyền, Lê Đại, Ngô Quý Siêu,xứng đáng là những ngòi bút xuất sắc. Thêm một điểm cũng đáng lưu ý nữa, là với văn chương của Đông Kinh nghĩa thục, các thể văn như lục bát, song thất lục bát, ca trù, v.vđược có thêm một giá trị sử dụng hơn. Trước đây, ta chỉ gặp nó trong những truyện Nôm, những bài ca phong hoa tuyết nguyệt, thì giờ đây, nó thực sự trở thành văn chương cổ động – điều mà trước đây văn học Việt Nam chưa biết đến, và sau này các chiến sĩ trong phong trào vận động cách mạng phản đế, cách mạng vô sản sẽ rút kinh nghiệm để phục vụ chính trị một cách tích cực hơn.

Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, trên dưới chục năm, những hoạt động của các chiến sĩ duy tân ở cả ba miền Trung Nam Bắc đã viết nên những trang sử đẹp đẽ cho đất nước này ở cả hai bình diện chính trị và văn học (nói chung là văn hóa). Lịch sử Việt Nam ở đầu thế kỷ XX này ghi nhận công lao của họ, và lịch sử văn hoá cũng phải thừa nhận sự đóng góp của họ là to lớn.

Vấn đề trước nhất, xứng đáng được tôn vinh là tinh thần yêu nước, nguyện vọng thiết tha của họ đối với độc lập tự do của xứ sở, với danh dự của dân tộc, của giống nòi. Nói minh xã hay ám xã thực ra là để cho dễ nhận, dễ phân biệt phạm vi lĩnh vực hay biện pháp hoạt động mà thôi, chứ thực ra cả hai phái này đều chung mục đích phấn đấu, cùng chung đối tượng đấu tranh. Giữa một số người lãnh đạo phong trào, có khi có sự không nhất trí trong cách thức điều hành, trong phương pháp vận động, nhưng họ vẫn nhận là bạn trong tâm, đồng chí với nhau. Thậm chí có khi họ kịch liệt phê phán nhau một cách công khai, nhưng chỉ là để cho tiện xử lý một vài trường hợp cụ thể (như việc Phan Châu Trinh sang Nhật để gặp Phan Bội Châu), chứ thực ra yêu cầu khôi phục nền độc lập, lật đổ chế độ quân chủ, đưa nước nhà lên cõi văn minh, vẫn là mục tiêu chung của tất cả những người yêu nước. “Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn (chữ dùng của Phan Bội Châu) là điều mà có lẽ tất cả những người được xem là trong phái minh xã hay ám xã đều nhất trí. Có một sự thực là minh hay ám, chỉ là để gây ấn tượng với kẻ địch mà thôi, chứ với nhân dân quần chúng thì không hề có sự phân biệt này. Người duy tân hay người đông du trước dân tộc, trước đồng bào đều là những chí sĩ và chiến sĩ. Đối với chính quyền thực dân hay với bọn tay sai cũng vậy. Chúng vẫn nhận ra được: minh hay ám, đều là những người đang gây nguy hiểm cho chúng, và chúng đã thẳng tay đối phó, không trừ một hành động tàn bạo nào. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là không thế căn cứ vào những hoạt động cụ thể của các thành phần chí sĩ đầu thế kỷ XX này để nhận chân những đóng góp của họ đối với quốc gia dân tộc.

Mặt khác, bên cạnh những thành tựu rực rỡ của các nhà chí sĩ theo khuynh hướng bạo động, chúng ta cũng phải định vị cho các chiến sĩ văn hoá trên mặt trận đấu tranh công khai này. Họ là những chiến sĩ duy tân tiên phong của đất nước, họ xứng đáng nhận được sự tôn vinh của các thế hệ. Những nhà duy tân đã làm cho chúng ta được làm quen với văn hoá thế giới, văn hoá khu vực.

Người Pháp đem văn hoá của họ sang ta, cho đến thời điểm đó đã có đến trên bốn mươi năm, nhưng ngoài những chương trình đào tạo những kẻ tay sai, những người giúp việc, nào có giới thiệu cho chúng ta được gì. Phải có các nhà duy tân, chúng ta mới được làm quen với những lý thuyết mới, những nhân vật mới trên khắp toàn cầu. Cho đến những thập kỷ 30 trở về sau, thì cái mới theo âu hoá, theo văn minh tư sản, cũng không phải là những cái mới tiến bộ nhất, phù hợp với cuộc tiến hoá của lịch sử nhân loại. Công lao của phái duy tân đầu thế kỷ này chính là ở đó.

Và cũng chính ở hướng tiến bộ đó, mà các nhà duy tân phát hiện ra được căn bệnh truyền kiếp loay hoay với cách học từ chương khoa cử, cái căn bệnh hư văn làm thui chột những tài năng, làm lệch lạc những tâm hồn. Sự “nhiệt thành cáo hủ” ở đầu thế kỷ này, xét về một mặt nào đó, có giá trị như một cuộc cách mạng. Phải nhờ có các cuộc duy tân này, mà lớp trí thức – loại ông nghè, ông cống – và cả đại đa số quốc dân nữa mới hiểu cái câu “thiên ngoại hữu thiên”! Trên cái đà đổi mới nhận thức này, chúng ta mới thực sự được tiếp xúc nơi khoa học, kỹ thuật (tuy chỉ là ở bước đầu), và nhất là đối với khuynh hướng thực nghiệp. Phải nói rằng đây cũng chính là điều mà hàng trăm năm qua, những thức giả Việt Nam không phải là không biết đến. Dưới các triều đại cũ đã có những học giả mong muốn thay đổi cách học, thay đổi thể văn. Cả thế kỷ XIX, đã có những nhà nho “Giật mình khi ở xó nhà, văn chương chữ nghĩa khéo là buồn tênh” (Cao Bá Quát); đã có những con người tiên giác viết ra những điều trần tâm huyết. Nhưng tất cả hoặc chìm trong quên lãng, hoặc bị rẻ rúng nghi ngờ, thì đến đây mới thực sự được các nhà duy tân thức tỉnh. Ưu điểm của phái duy tân là biết khai thác lòng yêu nước để hướng dẫn vấn đề, biết đi vào quần chúng để vận động. Đó là cái rất mới trong sự nghiệp vận động văn hoá ở nước ta. Dựa vào lòng yêu nước, dựa vào lực lượng quần chúng thì có thể thổi những tia le lói thành ngọn lửa. Đông Kinh nghĩa thục gây được phong trào, tân thư trở thành động lực thôi thúc quần chúng Nam Ngãi, Nghệ An rồi cả Bắc, Trung, Nam chính là vì lẽ đó.

Và cũng chính trên cơ sở của khuynh hướng cơ bản đó, mà phái duy tân, đã cùng với phái bạo động xuất dương viết nên trang sử hiện đại, mở đầu cho thế kỷ XX ở đất nước này. Cả hai phái đều xứng đáng với quê hương, với dân tộc và trong thực tế đã gây nên bước chuyển mạnh mẽ trong tiến trình lịch sử và lịch sử văn hoá nước nhà.

 

* Ghi chú của Ba Sàm:  Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” . Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị gỡ bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Và các bài tham luận trong Hội thảo đã được đăng trên Nhật báo Ba Sàm:

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

93:QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

149:QUAN HỆ VN-LX ‘65-’75

150:SÁCH ĐỊA CHÍ Ở MIỀN NVN(’54-’75)

156.CHỦ NGHĨA HỢP HIẾN Ở VN

162.TỪ NHÀ NƯỚC TOÀN TRỊ TỚI THỜI ĐẠI DÂN DOANH

191.CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TẠI VIỆT NAM ĐỔI MỚI

217.VN-TQ THẾ KỶ XIX THỂ CHẾ TRIỀU CỐNG, THỰC VÀ HƯ

219.TUẦN TRA,KIỂM SOÁT VÙNG BIỂN THỜI NGUYỄN SƠ:1802-1858

224.SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGƯỜI HOA Ở VN

229.NGƯỜI HOA TRUNG-NAM BỘ VN(XVII-XIX)

232.LỊCH SỬ TRANH CHẤP HOÀNG SA,TRƯỜNG SA:NGUYÊN NHÂN-GIẢI PHÁP

1 Thí dụ hai câu trong một bài hát nói: Tỉ diện, Cách mi quân đối cánh Qua tình, La tứ thiếp tân trang Nghĩa là: – Bộ mặt của ông Ti Tư Mạch (Bismarck), lông mày của ông Cách Lan Tư Đốn (Gladstone), anh nên soi gương. – Tấm tình của bà Qua Đặc (Jeana d’Ars), tinh thần của bà La Lan (M. Roland), thiếp xin tô điểm theo. Trong phong trào cố động đương thời, những điển tích ấy trở nên dễ hiểu và rất được ưa chuộng.

2 Trường Tân Quy (Học quy tân trường) được toàn quyền Beau ra Nghị định thành lập ngày 24-91907 do Nguyên Tái Tích (anh ruột nhà thơ Tản Đà) làm Hiệu trưởng. Trường khai giảng ngày 11-11-1907, nhằm “đối trọng” với Đông Kinh nghĩa thục, nhưng số “sinh viên” đăng ký chưa đầy 50 người. Và chỉ hoạt động được vài tháng thì phải đóng cửa, trường phải giải thể!

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

Posted in Giáo dục, Lịch sử | Tagged: , , | Leave a Comment »

Xây trường không có phòng vệ sinh…

Posted by adminbasam on 01/07/2009

IRIN NEWS

Việt Nam: nơi các trường học không có nhà vệ sinh

Integrated Regional Information Networks (IRIN),

United Nations, 17-6-2009

 

Hà Nội-Đối với em Nguyễn Công Tuấn, 10 tuổi, một học sinh tiểu học ở Hà Nội, sử dụng cầu tiêu ở trường học là một kinh nghiệm đáng sợ.

Rác rưỡi và mùi hôi thúi đã làm em sợ không dám tới gần. Vì thế Tuấn chờ đợi cho tới khi em về tới nhà; một cách rất có lý, má của em đã lo ngại rằng, em Tuấn có thể mắc các bệnh đường tiểu.

Nhưng em Tuấn có thể được xem là một trong những người may mắn nhất – nhiều trường học ở Hà Nội, ngay cả ở thủ đô Hà Nội, cũng không có cầu tiêu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (MoET) gần đây đã kiểm tra các phòng vệ sinh trong 11.200 trường học khắp nước. ông Lã Quý Đôn, vụ phó vụ công tác học sinh và sinh viên, đã cho biết:

“Vào khoảng 30% của các trường học đã được kiểm tra là không có nhà vệ sinh hay không có những nhà vệ sinh thích đáng.”  (tức là khoảng 3360 trường ở tình trạng nầy)

Một cuộc khảo sát riêng được tiến hành ở Hà Nội đã phát hiện ra rằng gần như tất cả 1400 trường học đã không có đủ các nhà vệ sinh, ông Nguyễn Như Hòa, phó phòng kế hoạch và tài chánh thuộc sở giáo dục của thành phố Hà Nội, đã cho biết thế.

Không Đạt Tiêu Chuẩn

Các qui định đòi hỏi rằng: phải có một chỗ đi cầu cho mỗi 100 học sinh, và có một vòi nước rửa tay cho mỗi 60 học sinh.

“Hiện nay có rất ít trường học ở Hà Nội đạt được các tiêu chuẩn đó,” ông Hòa nói. “Và nhiều trường học trong những huyện nằm ngoài Hà Nội không có một cầu tiêu nào hết.”

Trần Thu An, một nhân viên của chương trình vệ sinh làm việc cho Quỹ Phát Triển Giáo Dục Trẻ Em của Liên Hiệp Quốc, cho biết rằng: vấn đề các cơ sở vệ sinh hiếm khi nhận được sự quan tâm mà nó xứng đáng cần phải có.

Liên Hiệp Quốc, là một thành phần trong  chương trình vận động các trường học “thân thiện với trẻ em”, đã và đang tập trung vào việc xây dựng các nhà vệ sinh sao cho đúng tiêu chuẩn. Năm ngoái, (các nhân viên của) chương trinh nầy đã và đang làm việc với Bộ Giáo Dục và Đào tạo, đang giúp đỡ để thiết kế và xây dựng các nhà vệ sinh tốt hơn khắp toàn quốc.

Các Ưu Tiên

Một phần của vấn nạn là: có quá nhiều nhu cầu cấp bách khi nói đến giáo dục đến nổi mà vấn đề vệ sinh thường thường là điều cuối cùng được quan tâm xem xét. [1]

Hiện vào lúc nầy, ưu tiên của chính quyền là thay thế tất cả các lớp học tạm thời đang được sử dụng như các phòng học bằng các ngôi trường xây bằng bê tông để các trường nầy có thể chống chọi được với bảo và mưa, cô Thu An cho biết. Nhưng, khi các ngôi trường mới nầy được xây dựng, các nhà vệ sinh không được thiết kế trên các bản vẽ. [2]

Trách nhiệm cho việc xây cất các nhà vệ sinh (một phần nào đó) nằm trong tay của chính quyền địa phương, những nơi nầy thường thường thiếu tiền bạc hay thiếu sự quan tâm. Cô Thu An nói tiếp: vì vậy, cuối cùng, các nhà vệ sinh không được xây dựng.

Kết quả là các học sinh đang buộc phải dùng “các bụi rậm chung quanh các trường học”, cô Thu An cho biết. “Thật khó lòng mà tin được.” [3]

Trần Duy Tạo, vụ trưởng vụ Xây dựng cơ bản và thiết bị trường học thuộc bộ Giáo Dục và Đào tạo, nói rằng: vấn đề không phải luôn luôn là thiếu tiền bạc. Mặt bằng cũng là một đề tài (phải nói đến). Trong các khu vực đô thị giàu có, các trường học có thể có ngân quỹ nhưng không có đủ chỗ để xây thêm nhiều nhà vệ sinh. (trong khi đó) Các chính quyền vùng thôn quê thường có đất đai (rộng lớn) để xây dựng các nhà vệ sinh, nhưng lại không có tiền.

Vấn Đề Sức Khỏe

Chính quyền đang cố gắng chận đứng vấn nạn nầy, ông Lã Quý Đôn, vụ phó vụ công tác học sinh và sinh viên, cho biết.

Năm 2006, nhà nước đã tuyên bố rằng tất cả các nhà trẻ và các trường học sẽ có các nhà vệ sinh và tất cả các học sinh sẽ có nước sạch để dùng trước năm 2010.

Nhưng ông Đôn nói rằng tại tốc độ hiện nay của việc xây cất, chắc chắn rằng mục địch nầy sẽ không đạt được.

“Điều nầy gây ra một hiệu quả tiêu cực lên sức khỏe của các học sinh cũng như khả năng học hành của các em. Các học sinh có thể cố nín vì sợ các nhà vệ sinh dơ bẩn. Và ở nơi nào mà các trường học không có nhà vệ sinh, các học sinh phải đi tiểu và đi cầu ở một chỗ nào khác và điều nầy gây ra các vấn nạn về môi trường.” [4]

Trong trường hợp của em Tuấn, em không còn phải chờ đợi cho tới khi em về tới nhà (để đi tiểu hay đi cầu). Các bậc cha mẹ ở trường tiểu học Hà Nội đã rất bất mãn về chuyện các nhà vệ sinh quá dơ bẩn và quan tâm đến sức khỏe của con cái họ, vì thế cách đây một vài tháng, họ đã quyết định nhúng tay vào, và họ trả một lệ phí hàng tháng để thuê người đến chùi rữa dọn sạch phòng vệ sinh. [5]

Với việc mỗi gia đình đóng góp 50 cents mỗi tháng, em Tuấn và các bạn cùng lớp của em hiện giờ không còn sợ để đi vào nhà vệ sinh nữa.

Người dịch: Trần Hoàng

 

Lời bình của BBT

[1] Ha ha có việc gì cấp bách nữa sao? Giáo sư Hoàng Tụy đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn vào tháng trước. Giáo sư nói đại khái là Gs và 25 người (bao gồm  các nhà giáo dục, các giáo sư trong nước và 5 nhà giáo dục và giáo sư Việt Kiều) đã kiến nghị vào năm 2004 lên nhà nước và yêu cầu cải cách giáo dục gấp.

Nhưng tới nay, 5 năm trôi qua, nhà nước cũng vẫn không nhắc nhở gì đến chuyện đó. Gs Hoàng  Tụy nói thêm rằng việc cải thiện giáo dục đã được đề nghị suốt 30 năm nay, mà giờ nầy GD  vẫn chưa có gì thay đổi hết. Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu qua thăm Việt Nam mới đây cũng đã nhắc VN nên cải cách và đầu tư vào giáo dục, vì đó là con đường tốt nhất để giúp đất nước đẩy mạnh phát triển. Nhưng vô ích, đối với nhà nước ta, ai khuyên gì thì khuyên, chuyện cải cách  giáo dục chưa có gì cấp bách hết.

[1] và [2] Ta cứ tạm tin là ngành giáo dục chỉ “vừa mới phát hiện” 3360 trường học trong (tổng số 11.200 trường) không có nhà vệ sinh cho các em học sinh hoặc thiếu phòng vệ sinh hoặc phòng vệ sinh ở trường quá dơ bẩn các em không dám đi tiểu. Thế rồi bộ GD ĐT sửa sai bằng cách đề ra kế hoạch 4 năm, đến 2010 là chấm dứt nạn nầy.

Nhưng đọc qua đoạn văn kế tiếp, ta sẽ thấy lỗi lầm được lập lại: “Hiện vào lúc nầy, ưu tiên của chính quyền là thay thế tất cả các lớp học tạm thời đang được sử dụng như các phòng học bằng các ngôi trường xây bằng bê tông để các trường nầy có thể chống chọi được với bảo và mưa, cô Thu An cho biết. Nhưng, khi các ngôi trường mới nầy được xây dựng, các nhà vệ sinh không được thiết kế trên các bản vẽ. [2]

Vậy là sau năm 2010, chắc chắn là việc: xây trường học mà không xây  phòng đi tiêu và đi tiểu cho các em sẽ là chuyện ác mộng dài dài cho các em học sinh.

Mọi chuyện xảy ra theo kiểu vòng tròn; đi trên vòng tròn ấy thì chẳng bao lâu sẽ trở lại điểm xuất phát, là chỗ cũ. Như vậy, tuyển người không đúng chuyên môn vào làm việc chính là mẹ đẻ của các vấn nạn hôm nay.

[2] Đã bao năm qua, nhà nước có thói quen tuyển người vào làm việc ở tất cả các ngành theo chính sách “hồng tốt hơn chuyên”. Chính sách ấy tràn lan suốt hơn 60 năm qua, từ quận huyện phường xã lên tới tỉnh, bộ, trung ương… và gây tác hại to lớn khôn cùng cho xã hội, văn hóa, luật pháp, hành chánh, đời sống của tuyệt đại đa số tất cả mọi người Việt. Bài báo của Liên Hiệp Quốc nầy  là một thí dụ cho thấy: chính sách “hồng tốt hơn chuyên”, tuyển người thiếu khả năng vào làm việc trong các ban ngành, đã gây thất bại về mặt xây dựng con người và xã hội dân sự.

Trong việc xây trường học mà không xây nhà vệ sinh, sự sai lầm xảy ra ít nhất là 2 lần. Hai lần lầm lỗi nầy đều có thể tránh được nếu sử dụng chính sách tuyển người có chuyên môn thích hợp vào làm việc.

Lần thứ nhất. Trước khi cho thi công, người có chuyên môn về xây dựng (thuộc sở GDĐT hoặc do bộ giáo dục thuê mướn duyệt công trình) khi duyệt bản vẽ, hoặc chính quyền địa phương quận huyện có các thanh tra về xây dựng, sẽ bắt buộc trong bản thiết kế xây dựng trường học phải có phòng vệ sinh.

Nếu nhà cầu và phòng vệ sinh cho trường học không có trên bản vẽ, thì phòng thanh tra về xây dựng của quận huyện làm biên bản không đồng ý cấp giấy phép cho xây thì ai mà dám xây? Và phòng xây dựng cơ bản trực thuộc sở giáo dục cũng không đồng ý phê chuẩn cho xây dựng trường và sẽ không trả tiền cho công ty xây dựng. Nếu cả hai chuyện nầy  có văn bản, có giấy tờ công khai, thì không một công ty xây dựng nào dám thi hành việc xây trường không có phòng vệ sinh.

Chuyện thiếu mặt bằng cơ sở và thiếu tiền bạc chỉ là chuyện lấp liếm bao che một chính sách tuyển người vào làm việc không đúng với khả năng chuyên mơn, và tham nhũng là kết quả tất yếu  phải xẩy ra của chính sách tuyển dụng “hồng tốt hơn chuyên”.

Còn thêm một khả năng nữa có thể phát hiện và ngăn chận lỗi lầm tái phạm ở các trường sắp được xây dựng, nhưng đã không có ai và không có nhà báo nào dám viết lên: Ai là người đến cắt băng khánh thành trường học mới? Người nầy có đi tham quan một vòng các phòng ốc, nhà vệ sinh hay không để tận mắt nhìn thấy thành quả của việc xây dựng trường?

[3] Hi Hi. Chuyện nầy đã xẩy ra ít lắm là hơn 30 năm qua. Báo chí VN chỉ mới nhắc tới năm 2006, nhưng Cô An cứ làm như đây là chuyện mới mẻ, và ta mới phát hiện vấn nạn nầy vào tháng trước!

Các bà con cô bác nào ở tuổi 40-50 trở lên, bị bệnh đi tiểu són;  mỗi lần cười là són nước tiểu; chưa kịp bước tới phòng vệ sinh, hoặc chỉ cần hơi cảm xúc một chút là són một chút nước tiểu ra quần…mặc dầu không có nghiên cứu và thống kê, nhưng trường học không có phòng vệ sinh làm cho mọi người phải nín tiểu…có lẻ đóng một vai trò quan trọng cho nguyên nhân gây ra nhiều bệnh và trong đó có bệnh tiểu són (dẫu cho bệnh nầy có nhiều nguyên nhân, nhưng NÍN … quá lâu, làm cho bọng đái bị dãn nở, về sau khi lớn tuổi, dễ bị mắc bệnh đái són hơn các người khác chăng? )

[4] Thật là tắc trách, vô nhân đạo và khó tin. Thế kỷ 21 rồi mà cung cách làm việc còn tệ hơn năm 1800. Thời Pháp thuộc, Pháp xây trường học cho ta còn tốt hơn thời hiện tại. Bây giờ, ta bước chân vào trường học nào của Pháp, ta cũng có thể thấy nhà vệ sinh cho học sinh rất khang trang và sạch sẽ. Cũng vậy, các trường học ở miền Nam được xây dựng trước năm 1975 cũng không bao giờ có vấn nạn: xây trường học, mà không xây nhà vệ sinh cho học sinh và thầy cô giáo.

Thực tế, trong các trường học được xây dựng từ thời Pháp, trước 1954 và các trường học ở miền Nam, trước năm 1975, các thầy cô giáo và nhân viên làm việc trong văn phòng trường có phòng vệ sinh riêng của họ và không cần phải dùng chung với học sinh. Các học sinh nam và nữ ở các trường tiểu học có các phòng vệ sinh riêng được lau chùi hàng ngày và giữ gìn rất sạch sẽ. Hóa ra, tới thế kỷ 21, ta vẫn còn thua xa thời Pháp thuộc và dĩ nhiên là thua miền Nam ít nhất là nửa thế kỷ về mặt xây phòng vệ sinh trong trường học cho các em học sinh.

Hóa ra, 35 năm qua ta xây dựng xã hội mới trên toàn cả nước, xây dựng con người mới, xây dựng con người có nội dung XHCN là: không cần đi cầu, không cần đi tiểu ở …trường học. Học sinh của ta là những người NÍN…suốt 12 năm trời, hoặc đi tiêu đi tiểu trong các bụi rậm quanh trường.

Tóm lại, muốn thay đổi đất nước, muốn cho mọi việc đâu vào đó, trong giáo dục và trong công tác tuyển người vào làm việc, hãy bỏ chính sách “hồng tốt hơn chuyên”, và dùng chính sách “cử hiền dữ năng”. Nghĩa là dùng người có tài và có học bổ nhiệm vào các chức vụ chuyên môn của họ, những người nào không có chuyên môn thì nên chuyển qua các việc khác hoặc cho về hưu sớm mà cũng được hưởng lương như khi đi làm để tránh cho họ khỏi sự bất mãn và duy trì được cuộc sống của họ và gia đình… thì dần dần 2, 3 năm sau, xã hội sẽ thay đổi tới một mức tốt đẹp hơn hiện nay.

[5] Nếu ở nước ta coi chuyện giải quyết đóng 50 cents (hay 10000 đồng) là yên chuyện, là một giải pháp bình thường, thì đây là một cú tát vào mặt của nền hành chánh địa phương quận huyện, trung ương và nền giáo dục hiện nay. Việc xây trường học mà không xây phòng vệ sinh đi tiêu và đi tiểu cho trẻ em đã từng được báo chí VN loan tin ra mấy năm nay, khá lâu, nhưng không một ai trong chính quyền dám đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Không một ai dám đứng ra nói đại khái một vài câu như sau: “Đây là lầm lỗi của tôi (hoặc của người tiền nhiệm).  Tôi chân thành xin lỗi các em học sinh và các bậc phụ huynh. Giờ đây tôi loan báo là bất cứ trường học nào chưa có phòng vệ sinh cho các học sinh, việc xây cất sẽ được lên kế hoạch để thi hành vào ngày mai, và sẽ hoàn tất trong thời hạn 30 – 45 ngày. Và kể từ hôm nay, tất cả những nhà vệ sinh ở trường học đều phải được lau chùi hàng ngày để giữ cho không có mùi hôi. Nếu các việc nầy không được sửa sai trong thời hạn nói trên, điều ấy chứng tỏ tôi thiếu năng lực quản lý và điều hành, hoặc tôi không có quyền hạn thật sự để thi hành, và nếu như thế tôi sẽ xin từ chức.”

Kế hoạch dùng tiền để kích thích nên kinh tế không có gì tốt hơn bằng chuyện  xây dựng phòng vệ sinh trong các trường học, xây dựng thêm trường học để giảm sĩ số học sinh mỗi lớp xuống còn 20 em, và cải tiến giáo dục ngay theo hướng đề nghị của giáo sư Hoàng  Tụy và các nhà giáo dục khác.

————————

 

VIETNAM: Where the schools have no loos

Lucky break for him. This school in Hanoi has proper facilities for students. Many schools in Vietnam, even in the capital, lack toilets

HANOI, 17 June 2009 (IRIN) – For Nguyen Cong Tuan, 10, a primary school student in Hanoi, using the toilets at school was a frightening experience.

The filth and stench made him afraid to go near them. So Tuan would wait until he got home; his mother rightly worried that he could develop urinary tract problems.

Yet Tuan could be considered one of the lucky ones – many schools in Vietnam, even in the capital, Hanoi, lack any toilets at all.

The Ministry of Education and Training (MoET) recently surveyed sanitation facilities in 11,200 schools across the country.

“About 30 percent of inspected schools had no toilets or inadequate toilets,” says La Quy Don, deputy head of the ministry’s student affairs department.

A separate survey conducted in Hanoi found that of 1,400 schools nearly all failed to have enough sanitation facilities, says Nguyen Nhu Hoa, deputy head of the office for planning and finance in the city’s education department.

Failed standards

Regulations require one toilet for every 100 students and one tap for every 60 students.

“There are few schools in Hanoi that meet these standards,” says Hoa. “And many schools in the outlying districts have no toilets at all.”

Tran Thu An, a sanitation programme officer with the UN Children’s Fund (UNICEF), says the issue of toilet facilities rarely gets the consideration it deserves.

The UN, as part of its “child-friendly” schools campaign in Vietnam, has been trying to focus on proper sanitation facilities. In the past year, it has been working with MoET, helping to design and build better toilet facilities across the country.

Priorities

Part of the problem is that there are so many pressing needs when it comes to education that sanitation is often the last thing considered.

At the moment, the government’s priority is to replace all the makeshift shelters that serve as classrooms with concrete schools that can withstand monsoon winds and rains, says An. Yet when these new schools are built, toilets are not part of the plans.

The responsibility for building latrines lies in part with local authorities and communities, who often lack the funds or interest. So in the end, says An, toilets just do not get built. The result is that students are forced to use “the bushes surrounding the schools”, she says. “It’s hard to believe.”

Tran Duy Tao, head of administration for the school infrastructure and equipment department at the education ministry, says it is not always a lack of money. Space is also an issue. In crowded, yet wealthier, urban areas, schools may have the funds but no room to build more toilets, he says. The rural authorities often have the land to build sanitation facilities but no money.

Health issues

The government is trying to tackle the problem, says Don, at MoET’s student affairs department. In 2006, the government declared that all kindergartens and schools would have hygienic toilets and all children would have access to clean water by 2010.

But Don says at the current rate of construction, it is highly unlikely this goal will be met.

“This has a negative effect on students’ health as well as their studying ability,” says Don. “Students may try to hold it in due to their fear of dirty toilets. And where schools do not have toilets, students have to do it somewhere else and it causes environmental problems.”

As for Tuan, he no longer has to wait until he gets home. Parents at the Hanoi elementary school were so upset over the dirty facilities and concerns for their children’s health that a few months ago they decided to chip in and pay a monthly fee to have them cleaned.

For US50 cents a month per family, Tuan and his classmates are no longer afraid to go to the bathroom.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Posted in Giáo dục, Uncategorized | Leave a Comment »

24:Tham nhũng trong Nhà trường Một vấn nạn lớn ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 29/12/2008

aleqm

Thầy giáo dạy toán và địa lý Đỗ Việt Khoa, trong ngôi nhà của mình tại huyện Thường Tín, Hà Nội, Việt Nam, hôm thứ Tư, mùng 10-12-2008. Thầy đang cố gắng trừ tiệt nọc những hành động hối lộ và gian dối lặt vặt loang ra như bệnh dịch tại các trường ở khắp đất nước Việt Nam, nơi mà những thầy cô giáo và các cán bộ quản lý giáo dục với mức lương còm cõi phải bóp nặn những đồng tiền từ các bậc cha mẹ khốn khó không có đủ điều kiện để lo cho con nhưng cảm thấy họ không có lựa chọn nào khác. (AP/Chitose Suzuki)

San Francisco Chronicle / Press Democrat

————————————————————————————————————

Tham nhũng trong

Nhà trường Một vấn nạn

Lớn ở Việt Nam

BEN STOCKING, Phóng viên Hãng thông tấn Associated Press [AP]

Thứ Bảy, ngày 27-12-2008

HÀ NỘI, Việt Nam – Những kẻ côn đồ đã tới sau khi trời sập tối, lúc ông Đỗ Việt Khoa và gia đình đang sắp sửa đi ngủ.

Ông kể là chúng đã đấm, đá ông, ăn cắp chiếc máy ảnh của ông và làm cho vợ con ông khiếp sợ.

Ông Khoa, một giáo viên toán và địa lý, đã nghĩ là thông điệp của chúng thật rõ ràng: chấm dứt việc tố cáo hiện tượng tham nhũng tại nhà trường và ở những nơi khác.

Trong nhiều năm qua, thầy Khoa đã và đang phải chiến đấu với những hành động mua chuộc hối lộ và gian lận lặt vặt lây lan như bệnh dịch trong các nhà trường trên khắp đất nước Việt Nam, nơi mà những thầy cô giáo và những nhà quản lý giáo dục được trả mức lương còm cõi nên phải bóp nặn những đồng tiền thậm chí trong số những bậc cha mẹ nghèo khó.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã phê chuẩn một bộ luật chống tham nhũng chung trong năm 2005, thế nhưng việc thi hành nó không đồng đều. Đất nước này vẫn được xếp vào loại yếu kém trong các cuộc khảo sát về nạn tham nhũng toàn cầu, và đối với những người Việt Nam bình thường, vốn trân trọng việc học hành, thì tệ nạn tham nhũng trong nhà trường là điều đáng căm giận nhất cho tất cả mọi người.

Ít ai dám chống lại hành động tham nhũng, do họ lo sợ hành động trả thù.

Một người đàn ông mảnh khảnh, có vẻ bên ngoài bình thường ở một làng quê thuần nông, thầy Khoa, 40 tuổi, đã mở ra một trang đầy kịch tính trên bối cảnh đất nước này hai năm về trước. Ông đã quay phim những học sinh gian lận trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học của mình trong lúc các thầy cô giáo khác coi thi đã không làm gì. Các đài truyền hình của nhà nước đã phát đi phát lại đoạn băng này.

Với những ống kính truyền hình đi theo sau, vị bộ trưởng giáo dục của Việt Nam đã tới nhà thầy Khoa để trao cho ông một tấm giấy khen ca ngợi tinh thần dũng cảm của ông. Thầy Khoa đã xuất hiện trên một chương trình kiểu như của Larry King tại Việt Nam. Vị hiệu trưởng của trường Trung học Vân Tảo, nơi thầy Khoa dạy từ năm 2000, đã bị thuyên chuyển công tác.

Thế nhưng khi trở lại với làng quê Vân Hòa của mình, vùng ngoại ô cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 dặm, thầy Khoa đã chẳng nhận được một lời chào đón như một người anh hùng.

Các thầy cô giáo và những cán bộ quản lý giáo dục đã tỏ ra bực bội về địa vị nổi bật của con người không biết xu nịnh này. Thậm chí trong số phụ huynh và học sinh, những người đã giữ lập trường ủng hộ đến mức tuyệt đối trước các nỗ lực của thầy Khoa, thì chỉ có ít người bảo vệ ông.

Tất cả những gì mà các bậc cho mẹ mong muốn là cho con em họ ra trường và kiếm được việc làm, thậm chí nếu như họ phải dối trá để qua được kỳ thi cử, thầy Khoa nhận xét.

“Cả cộng đồng xa lánh tôi, thầy Khoa kể. “Họ quấy rối tôi qua điện thoại, họ gửi cho tôi những bức thư. Họ nói là tôi đã đặt ham muốn nổi danh của mình lên trên hạnh phúc của con cái họ. Một vài người trong số họ thậm chí còn doạ giết tôi nữa.”

Anh Thinh Văn Nam, 27 tuổi, một giáo viên của trường, thì cho là thầy Khoa đã tự chuốc lấy phiền toái vào mình.

“Thầy Khoa nói là chúng tôi cô lập thầy ấy, nhưng điều đó không đúng,” thầy Nam nhận xét. “Khi ai đó cảm giác là bị những người ngang hàng với mình tẩy chay, thì anh ta cần tự hỏi mình là vì sao.”

Các vụ việc đã diễn ra theo chiều hướng leo thang trong tháng qua, khi bốn người đàn ông tới nhà thầy Khoa – hai trong số họ là bảo vệ nhà trường, theo như tin tức báo chí cho hay. Hiện công an vẫn đang điều tra vụ việc.

Thầy Khoa cũng đã động chạm tới vị hiệu trưởng mới, ông Lê Xuân Trung, sau khi gửi một bức thư cho các giới chức trung ương và địa phương, khẳng định rằng ông Trung đã áp đặt nhiều khoản lệ phí không đúng nguyên tắc nhằm làm giàu cho cán bộ nhân viên nhà trường từ chi phí của cha mẹ học sinh.

Trong những lời phàn nàn mạnh mẽ nhất của thầy Khoa là về “những lớp mở thêm” được thực hiện ở trường của mình và những nơi khác trên khắp đất nước, mà tại đó các thầy cô giáo trong biên chế nhà trường đã dạy thêm học sinh để kiếm tiền.

“Nếu các em không học, thì các thầy cô giáo sẽ cho điểm kém,” thầy Khoa nói.

Một giáo viên có thể tăng lên gấp ba lần khoản thu nhập của mình bằng cách nhồi nhét các học sinh vào trong những buổi học thêm đó. Điều này đã làm tốn kém cho các bậc cha mẹ khoảng 6 đô la một tuần – nhiều gần bằng số tiền họ kiếm được từ nghề nông.

Thầy Trung hiệu trưởng đã không trả lời trước yêu cầu có một cuộc phỏng vấn. Thế nhưng ông đã được trích lời trên tờ báo Công an Nhân dân khi nói rằng các học sinh tham gia những lớp học này là tự nguyện.

Theo bài báo thì ông Trung cho rằng thầy Khoa “thường không tập trung vào việc dạy học và không tuân theo các quy định của nhà trường,” và “thầy đã sử dụng máy ảnh và máy ghi âm của mình quá nhiều, nên làm cho mọi người không cảm thấy thoải mái khi nói chuyện với thầy.”

Một người đang bảo vệ thầy Khoa là ông Vũ Văn Phúc, có con trai đang học ở trường Vân Tảo. “Thầy giáo đang lên tiếng chống lại những đòi hỏi vô lý mà nhà trường đã áp đặt này,” ông nói.

“Thầy thực sự là người can đảm,” đó là nhận xét của ông Giang Xuân Dũng, một thầy giáo dạy toán. “Tôi khâm phục tinh thần dũng cảm và bền bỉ của thầy.”

Các trường khác đã đưa ra đề nghị mời thầy Khoa về làm việc.

“Tôi nghĩ là chúng ta phải ủng hộ thầy Khoa,” ông Văn Như Cương, một hiệu trưởng nhà trường ở Hà Nội, người từng cố gắng mời thầy Khoa về trường mình, đã nói. “Chúng tôi thực sự cần những người dám nói thẳng nói thật.”

Thầy Khoa đã từ chối bởi vì trường này quá xa nhà thầy.

Vợ thầy, bà Nguyễn Thị Nga, đã lo lắng cho “cuộc thập tự chinh” của chồng mình.

“Chuyện này đã gây ra cho chúng tôi nhiều phiền toái,” bà kể. “Tôi mong mọi người sẽ hưởng ứng cuộc đấu tranh chống lại tham nhũng để chúng tôi sẽ không trở thành những kẻ lẻ loi.”

Chẳng có chuyện gì xảy ra, thầy Khoa nói, ông sẽ không ngừng đấu tranh để ủng hộ cho tinh thần trung thực và chính trực đã được đẩy mạnh bởi những người làm cuộc cách mạng vô sản giải phóng Việt Nam từ chế độ thuộc địa.

“Nhiều thầy cô giáo đang làm nhơ bẩn hình ảnh của ngành giáo dục,” ông nhận xét. “Tham nhũng là một hành động phản bội lại tư tưởng cộng sản và phản bội đất nước.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

———————–

Do Viet Khoa, a high school math and geography teacher,sits in his house in Thuong Tin district in Hanoi, Vietnam, Wednesday, Dec. 10, 2008. Khoa has been trying to root out the petty bribery and cheating that plagues schools across Vietnam, where poorly paid teachers and administrators squeeze money out of impoverished parents who can’t afford to pay but feel they have no choice. (AP Photo/Chitose Suzuki)

San Francisco Chronicle / Press Democrat / Star Tribune /

————-

Corruption in schools a big problem in Vietnam

By BEN STOCKING Associated Press Writer

Published: Saturday, December 27, 2008 at 11:39 a.m.
Last Modified: Saturday, December 27, 2008 at 11:39 a.m.

HANOI, Vietnam – The thugs came after dark, as Do Viet Khoa and his family were getting ready for bed.

He says they punched him, kicked him, stole his camera and terrified his wife and children.

Khoa, a high school math and geography teacher, thinks the message was clear: Stop blowing the whistle on school corruption – or else.

For several years, Khoa has been fighting the petty bribery and cheating that plagues schools across Vietnam, where poorly paid teachers and administrators squeeze money out of even poorer parents.

Vietnam’s leaders approved a sweeping anti-corruption law in 2005, but implementation is uneven. The country still ranks poorly on global corruption surveys, and for ordinary Vietnamese, who treasure education, school corruption is perhaps the most infuriating of all.

Few dare to fight it, for fear of retaliation.

A slight, ordinary-looking man from a farming village, 40-year-old Khoa made a dramatic entrance onto the national scene two years ago. He videotaped students cheating on their high school graduation exams while their teachers watched and did nothing. State-owned TV stations played the tape repeatedly.

With TV cameras in tow, Vietnam’s education minister went to Khoa’s house to hand him a certificate praising his courage. Khoa appeared on Vietnam’s version of the Larry King show. The principal of the Van Tao High School, where Khoa has taught since 2000, was transferred.

But back in his farming village of Van Hoa, about 15 miles outside Hanoi, Khoa got anything but a hero’s welcome.

Teachers and administrators resented the unflattering spotlight. Even among parents and students, who stood to gain most from Khoa’s efforts, few came to his defense.

All the parents wanted was to get their children through school and into jobs, even if they had to cheat to pass their exams, Khoa said.

“The entire community has shunned me,” Khoa said. “They harass me on the phone, they send me letters. They say I put my thirst for fame ahead of their children’s welfare. Some of them even threatened to kill me.”

Thinh Van Nam, 27, a teacher at the school, thinks Khoa has brought his problems on himself.

“Khoa says we isolated him, but it is not true,” Nam said. “When someone feels ostracized by his peers, he needs to ask himself why.”

Matters escalated last month, when the four men came to Khoa’s house – two of them guards at his school, according to news reports. Police are still investigating.

Khoa has also run afoul of the new principal, Le Xuan Trung, after sending a letter to national and local officials alleging that Trung imposed various unfair fees to enrich school staff at parents’ expense.

One of Khoa’s biggest complaints is the “extra classes” implemented at his school and others across the country, in which regular school teachers tutor students for money.

“If they don’t go, the teachers give them bad grades,” said Khoa.

A teacher can triple a salary by packing students into the sessions. These cost parents about $6 a week – nearly as much as they earn farming rice.

Principal Trung did not respond to an interview request. But he was quoted in the People’s Police newspaper as saying enrollment in the classes is voluntary.

Trung reportedly said Khoa “did not always concentrate on his teaching and follow the school regulations,” and “he used his camera and recorder too much, so people did not feel comfortable talking to him.”

One man defending the teacher is Vu Van Thuc, whose son goes to the school. “He is raising his voice against these absurd requirements imposed by the school,” he said.

“He is really brave,” said Giang Xuan Dung, a math teacher. “I admire him for his courage and patience.”

Other schools have offered to hire Khoa.

“I thought we should support him,” said Van Nhu Cuong, a Hanoi headmaster who tried to hire him. “We really need people who dare to speak out.”

Khoa refused because the school is too far from his home.

His wife, Nguyen Thi Nga, worries about her husband’s crusade.

“This has caused us a lot of stress,” she said. “I wish everyone would join the fight against corruption so that we wouldn’t be the odd ones out.”

No matter what happens, Khoa said, he won’t stop fighting to uphold the ideals of honesty and integrity promoted by the communist revolutionaries who freed Vietnam from colonial rule.

“Many teachers are soiling the image of education,” he said. “Corruption is a betrayal of communist ideology and of the country.”

Posted in Giáo dục, Tham nhũng | Leave a Comment »

Bịt mắt bắt sâu

Posted by adminbasam on 20/11/2007

Bịt mắt bắt sâu *


Con: con chào bố, chào cả nhà …

Bố: vui thế, điểm 10 nữa hả ?

Con: còn gấp nghìn lần điểm 10 ấy chứ ạ …

Bố: chà … chà … được đi báo cáo thành tích chứ gì ?

Con: không … mà là ngược lại đấy bố ạ. Tức là giờ người ta phát động “tuyên chiến với bệnh thành tích” này, rồi “nói không với gian dối trong thi cử” nữa. Như vậy là con vừa không phải “cá mè một lứa” với mấy đứa chuyên quay cóp, mà bọn con cũng chả phải báo cáo thành tích học tập, thầy cô cũng đỡ đi thi “giáo viên giỏi” cấp nọ cấp kia, phát mệt.

Bố: vớ vẩn ! Tất cả chỉ như trò “vạch là tìm sâu”. Chả đi đến đâu.

Con: bố bi quan quá …

Bố: chúng mày ngây thơ quá đi thì có. Cái trò gian dối, thành tích này có mới mẻ gì đâu, có phải chưa phát động phát đậy đâu. Rồi thì đâu lại hoàn đấy thôi … Vẫn muốn cãi à ? … Thế thì bây giờ tao hỏi thế này thôi nhá. Là có bao nhiêu cái trò gian dối trong dạy, trong học ? “Bệnh thành tích” nó gồm những cái gì, có rõ ràng không hay là mờ mờ ảo ảo, đầy dẫy ra đấy ? Có cái luật nào để mà “tuyên chiến” với nó không, hay chỉ hô khẩu hiệu cái mồm ? Rồi tại sao lại sinh ra những trò gian dối này, “thành tích” này … ? Đủ thứ tệ nạn trong giáo dục ấy chứ.

Con: … nhưng chúng con là trẻ con thì làm sao mà biết được …

Bố: đấy, rõ là khó chưa ? Làm sao dễ thấy được hết những cái căn nguyên của nó. Chẳng khác gì cái cây, nó có cái cành bị sâu đục thân mục ruỗng ra, thấy lá héo úa, thế là lăn vào nhặt mấy con sâu vớ vẩn trên lá thôi, chả giải quyết được gì.

Con: bố nói nghe cũng hay đấy. Thế thì phải làm thế nào ạ ?

Bố: chả làm thế nào cả.

Con: … à, con nghĩ ra rồi ! Chỉ có cách là ta chặt béng nó … cả cái cây đi, giồng cây khác là xong …

Bố: ừ … nhưng mà mày chặt cái cành sâu … của mày thôi chứ. Chứ chặt cả cây thì … mày chặt cả tao … tao ở cái cành khác mà … ?

Con: vâng ! … Sâu nó từ đấy sang mà. Từ cành của bố, cành của mẹ, từ nhiều cành lắm … từ tận gốc lên nữa đấy bố ạ.

Bố: …

Ba Sàm

.—

* Từ nhiều cành lắm (Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 37-2006);  *(Diễn Đàn – ngày 24/11/2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Giáo dục | Leave a Comment »

“Sử gia” viết “Gia sử”

Posted by adminbasam on 06/11/2007

“Sử gia” viết “Gia sử”

Hôm lâu

Con: bố ơi, “lịch sử” là gì hả bố ?

Bố: à … là … tất cả những chuyện xảy ra từ hôm qua trở về … ngày xưa, của một … cái gì đó, chẳng hạn của một nước (gọi là “Quốc sử”) … Người ta ghi lại, nghiên cứu, thành cả môn khoa học. Hình như là sang năm con sẽ được học môn sử đấy.

Con: thế thì có lịch sử … nhà, tức là gia đình không ạ ?

Bố: ừ … nếu thích thì cũng có. Nhưng chả thấy ai làm cái này cả. Chỉ có cái “gia phả” thôi, nhưng nó cũng không được chi tiết như lịch sử.

Con: thế thì con thử làm cho nhà mình bố nhá ?

Bố: tuyệt vời con tôi, còn gì bằng. Thằng này có chí hướng quá đi mất. Cố mà tập con ạ, sẽ có nhiều ích lợi vô cùng, lại đỡ đi chơi lêu lổng. Nào là gương chiến đấu, vào tù ra tội của ông, bà … rồi những quá trình đóng góp, cương vị của bố … cũng kha khá đấy nhá ! Các con sẽ nhìn vào mà tự hào, mà noi theo … Mình gọi nó là “gia sử”, nhẩy ?

Hôm nọ

Con: bố ơi, bố thử nghe con đọc “gia sử” nhà mình con ghi bố nhé.

Bố: chà chà, con tôi giỏi quá. Nào đọc ngay đi, hồi hộp quá !

Con: “… ông tôi già yếu lắm, xưa ông đi cách mạng bị đi tù …”

Bố: đấy, phải nói được những cái quan trọng như thế …

Con: “… bố tôi chưa bị bỏ tù nhưng chắc cũng có công to nên đi đâu cũng có ô tô cơ quan chở cả. Bố chăm làm việc lắm. Tối đến là có nhiều người đến nhà làm việc, đem đến cả các thứ, lại đưa cả thư nữa, nhiều lắm. Mà sao thư không gửi bưu điện mà lại đưa tận tay tôi cũng không biết, chắc là quan trọng lắm …”

Bố: hừ … không ổn rồi …

Con: “… thế mà ông vẫn cứ hay mắng bố, hôm nọ mắng là “mày là cái thằng tiêu cực”, “mày lợi dụng danh tiếng tao” …” (tiêu cực, danh tiếng là gì hả bố ?)

Bố: chết, chết thật ! … Mà này … bố bảo nhá. Con ghi thế này là không đúng … kiểu “lịch sử” rồi. Đưa đây bố, rồi bố bầy cho ghi. Chưa được học có khác.

Con: thế thì ghi thế nào hả bố ?

Bố: là … là … phải ghi những cái gì … tốt này, vui vẻ này để nêu gương … À, với lại phải những việc lớn cơ, chứ chuyện nói năng, khách khứa … nó … vớ vẩn quá.

Con: … nhưng hôm nọ bố bảo là phải ghi tất cả cơ mà … À, con có cách rồi !

Hôm nay

Con: ông ơi, bố ơi, nghe con đọc “gia sử” nhà mình nhá.

Ông: ôi, ngạc nhiên quá nhẩy. Thằng này đặc biệt lắm đây.

Bố: con dạy nó đấy bố ạ. Nào, con đọc cho ông tự hào về “sử gia” của ông đi.

Con: “… ngày xưa ông đi hoạt động bị tù tội …”

Ông: tốt quá !

Con: “… hôm nọ tôi đọc cho bố tôi nghe, nhưng có nhiều đoạn về bố thì bố bảo không được đưa vào, nên tôi ghi riêng ra quyển khác tên là “gia sử bí mật” …

Bố: cái thằng mày làm trò gì …

Ông: yên nào !

Con: … giờ cháu đọc cái quyển “gia sử bí mật” ông nhá “… Quyển sử này để cất bí mật trong nhà không cho người ngoài xem … Bố làm việc vất vả, tối cũng làm, lại có nhiều người đến làm cùng, đem cho bố nhiều đồ dùng mới nguyên, cả thư từ nữa. Ông mắng bố “mày là thằng tiêu cực”. Nhưng bố bảo tôi là không được ghi thế, lịch sử phải ghi những cái gì tốt đẹp thôi. Tôi nghe lời bố nhưng tôi không hiểu gì cả. Chẳng nhẽ ông mắng bố, là bố dạy con mà lại không tốt à ? …”

Ông (chỉ bố): á, thằng đểu, nó viết đúng quá mà mày dám dạy nó lếu láo, dối trá hả. Cút ngay khỏi nhà này !

Bố: này cụ ơi, cụ cổ lỗ lắm rồi … Mà con cút thì ai nuôi cả cái nhà này … , ai xe đưa xe đón oách-xì-dầu cho cụ đi họp hành “cựu” nọ “cựu” kia ? …

Con: … ông ơi, bố ơi … thế con nghe lời bố, con ghi luôn là … hôm nay ông với bố cãi nhau như thế …. vào cái quyển “Gia sử bí mật” bố nhá ?

Ông: này, tao cấm! Để đấy, hôm nào ông bảo cho mà ghi. Chúng mày … bố lếu bố láo hết. Học với chả hành !

Con: hay là ông cho cháu lại ghi vào một quyển nữa, gọi là “Gia sử bí mật nữa“, ông nhá ?

Ông/Bố: …

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 40-2006)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Lịch sử | Leave a Comment »

Đúc người vì lợi ích dăm năm

Posted by adminbasam on 22/10/2007

Đúc người vì lợi ích dăm năm

(Thư ngỏ – Kính gửi các bác lãnh đạo ngành giáo dục từ xưa cho tới mai sau)

Nguyễn Hữu Vinh

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này. Ngành giáo dục mà các bác lãnh đạo cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ.

  • Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.
  • Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.
  • Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.

1. Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (giáo dục) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ – “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”. Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”…?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen… Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo. Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên… kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp… (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu. Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ… (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có… “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao… cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới… vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc…, dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa.” May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa). Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi – tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”… cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

2. Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khỏe hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy nó cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai. Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng… “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi… “chạy”. Anh nào “chạy” khỏe là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khỏe thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có “cương vị” sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là sì-chét, là tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng kiếm ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc… Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: Đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được). Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra. Có điều, thi thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng…” là khỏe. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

3. Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẳn đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng gần trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi bị nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn…?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)… cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này nó như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”… Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị… ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên… thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội – giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn… rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quít mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khỏe, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.

© 2007 talawas

-

Bài được đăng trên blog Ba Sàm từ năm 2007, nhưng do bị tin tặc đột nhập, xóa mất, nay đăng lại nên không còn các phản hồi ban đầu.

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | 3 Comments »

Tự giáo dục

Posted by adminbasam on 19/10/2007

Tự giáo dục


Thế là vụ việc đình đám về cái website của Bộ Giáo dục – Đào tạo bị học trò Minh Trí “nghịch ngợm” (tạm gọi là vụ Hacker Trí*) đã coi như được khép lại sau những tranh cãi kéo dài, cả những thông tin trái chiều. Duy chỉ có một điều khá thú vị mà không cần phải đợi tới khi mãn cuộc mới đánh giá được. Đó chính là sự cần thiết vô cùng phải Tự Giáo Dục (trước hết) cho ngành giáo dục của chúng ta.

Ngôn từ nghe có vẻ lạ. Bởi xưa nay, người ta thường nói tới chuyện “tự học”, đã ai bảo rằng phải “tự giáo dục” ? Ví như chỉ trong hơn một thế kỷ qua, bao nhiêu bậc thức giả của đất nước để lại bao công trình văn hóa, tư tưởng văn minh tiến bộ mà đến hôm nay chúng ta còn chưa học hỏi, truyền thụ, áp dụng được nhiều (từ những Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, cho đến Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Ngọc, Nguyễn Hiến Lê…), vậy mà trong số họ, phỏng có được mấy người có những học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ này nọ ? Rõ là chủ yếu bằng con đường tự học mà các vị đã có những kiến thức uyên bác. Nhưng lâu nay ta đã quen khi dùng từ “học” thường hàm ý chỉ kiến thức, còn nói tới giáo dục là nói tới điều to tát hơn, bao gồm cả nhân cách nữa. Tựa như câu “Tiên học lễ, hậu học văn” vậy – tức giáo dục dạy cả “lễ” và “văn”. Đương nhiên, không ai không hiểu rằng các vị tiền bối đó ngoài thuần túy tự học kiến thức, đã phải tự rèn nhân cách đến thế nào mới có thể để lại cho hậu thế từ tri thức uyên thâm tới lòng kính trọng vô cùng.

Vậy thì ta cần học tập ở các vị tinh thần “tự học”, “tự giáo dục” bản thân – tự học kiến thức và tự rèn nhân cách. Mà muốn “tự” được thì không phải chỉ ở trường lớp, mà còn ngoài xã hội, qua sách vở… Không phải chỉ khi còn tuổi cắp sách tới trường, mà phải luôn học khi vào đời, bất kỳ ở địa vị nào trong xã hội, cho tới nhắm mắt xuôi tay.

Và quanh vụ Hacker Trí, cái sự “tự giáo dục” đã trỗi dậy trong lòng người để biết ơn nghĩa, tự nhận lỗi, rộng lượng, trung thực, dẹp bỏ lối đố kỵ, ganh ghét, thù vặt, sĩ diện – giấu dốt, đạo đức giả,… Cụ thể:

1. Với em Trí: Có được sự tự học kiến thức ngoài nhà trường thì em mới có được khả năng “hack” như vậy. Nhưng còn những khiếm khuyết từ ý thức tôn trọng pháp luật, đến bản tính hiếu thắng của tuổi trẻ, hay cả sự thiếu “khôn ngoan” cần thiết của một con người để có được một cuộc sống bình an trong xã hội này… thì Trí còn phải tự học, tự rèn rất nhiều.

2. Với ông Quách Tuấn Ngọc: Cái học là học kẻ “dưới cơ” mình, một tay “mơ” thôi nhưng cũng làm những chuyên gia hàng đầu về công nghệ thông tin của Việt Nam phải một phen rát mặt. Sự rèn là ở phép ứng xử. Từ chỗ vội phản ứng nặng nề, thái quá, ông đã bình tĩnh lại, có lời xin lỗi trên báo chí(2). Quả là đáng quý !

3. Với ông Nguyễn Tử Quảng: trong khi nhiều sự còn chưa rõ ràng, ông đã ném ra một “quả bom”. Đó là việc Trí sử dụng thẻ tín dụng của người khác(3). Nếu ông thực công tâm, hiểu hơn về pháp luật, về cả đạo lý ở đời thì chắc chắn sẽ không vội tung ra thông tin này; chưa nói tới việc đối tượng mà ông vội ám chỉ như kẻ tội đồ (ăn cắp?) cũng như một học trò của ông thôi. Đến như ông thượng tá trưởng phòng Chống tội phạm cộng nghệ cao-C15 Bộ Công an, người nắm rõ và có trách nhiệm nhất trong việc này, mà cũng còn phải rất thận trọng, khi được hỏi mới dè dặt rằng “việc đó chúng tôi đang tiến hành điều tra“(4).

Liên tưởng tới điều mà dân gian hay chê cười, là lối “bới lông tìm vết” và “tung hỏa mù”. Tựa như chuyện B tố cáo A ném đất vào nhà mình, trong khi mọi người đang nghi hoặc thì, để có thêm trọng lượng cho lời tố cáo của mình, B kể thêm “tội” là hình như năm ngoái A ăn trộm gà ở làng bên. Vậy là A rất dễ… ăn đòn đủ. Với cái lối tư duy và hành xử đó, nếu là ở một vị quan tòa thì không biết sẽ có bao nhiêu người phải chịu oan gia?

4. Với ông Nguyễn Thiện Nhân: Những cố gắng xông xáo, đưa ra nhiều thông điệp gắng bắt kịp với nhiệm vụ gian nan, mới mẻ từ khi chấp chính đến giờ của ông, chưa hẳn đều thuộc về cái bản lĩnh cao của một “chính khách”. Thêm vụ Hacker Trí cho hiểu hơn điều này. Tuy chuyện có vẻ như “con trẻ”, nhưng lại cho ông một bài học mới về việc cần phải “tỉnh” của một vị lãnh đạo đầu ngành.

Trong toàn bộ nội dung bức thư của ông, những nhầm lẫn về thời điểm em Trí đột nhập trang web của Bộ, rồi thái độ phê phán nghiêm khắc với Trí mà lại “quên” phê cái tắc trách, chê cái kém cỏi của thuộc cấp của mình, “quên” làm cho rõ thực hư việc em Trí đã cảnh báo bằng nhiều cách với người có trách nhiệm của trang web để mà … cám ơn em, kể cả lời đính chính vụng về của ông sau đó (nhưng lại cũng “quên” làm gương bằng việc xin lỗi em Trí vì mình đã nhầm lẫn nên đã tạo ra một “tình tiết tăng nặng” cho cái “tội” của em (5) thực tình vẫn chưa đáng gọi là bài học lớn lắm so với tầm cỡ lãnh đạo như ông. Mà là ở chỗ: như một vị tướng chỉ huy binh chủng, năng lực bao quát và tầm nhìn cho cả chiến cuộc mới là quan trọng, chứ không phải là nhảy vào những sự vụ, ôm súng xông lên bắn vào lô-cốt địch – những việc của mấy anh binh nhì, cao hơn thì cấp trung, đại đội. Thậm chí trong “chiến dịch” này, dường như nhiệm vụ “đánh địch” chủ yếu lại không phải thuộc về “binh chủng” của ông, cùng lắm là “hiệp đồng tác chiến” thôi – nó thuộc về công ty VDC, ngành Bưu chính Viễn thông, Tòa Dân sự (nếu như thuộc cấp của ông – chứ không phải đến ông – chọn giải pháp khởi kiện).

5. Với cơ quan tố tụng: Đã rõ là sai phạm của Trí theo luật pháp hiện hành chưa đến mức xử lý hìnhsự, mà chỉ ở mức hành chính-dân sự. Đành rằng trong hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn còn nhiều khiếm khuyết, nhưng không thể vì vậy mà có thể vi phạm những thủ tục tố tụng, và quan trọng hơn là phạm vào những quyền tự do cá nhân, dù đó là một “đứa trẻ”. Việc gọi hỏi, hay niêm phong và kiểm tra máy tính của Trí là liên quan đến điều đó, nhất là sự vụ lại được thực hiện bởi cơ quan CSĐT. Có lẽ sự việc mang màu sắc nghiêm trọng bởi đã động đến một cơ quan lớn, mà kẻ dám “hỗn” lại quá ư “thấp cổ bé họng” nên đã làm nhiều người quên đi những nguyên tắc tố tụng này, hoặc muốn bỏ qua để cho nhanh được việc.

6. Với báo chí: Những phản ứng quá sớm ở vài tờ báo khi nhiều tình tiết vẫn chưa được làm rõ chưaphải là điều đáng nói. Có hai thái cực, một “bênh” em Trí, một “bênh” những người quản trị trang web. Có những báo đã đăng tải rất nhiều ý kiến phản hồi của độc giả trong nhiều kỳ; dù cái sự “quá tốn nhiều giấy mực” cho một vụ việc không lớn, trong khi còn bao tiêu cực ghê gớm cần giành diễn đàn lên án (như vụ Bệnh viện Chợ Rẫy, hay ngay trong giới chức từ ngành Giáo dục cho tới chínhquyền tỉnh Bạc Liêu, trường Cao đẳng VHNT Đăk Lăk chẳng hạn), thì vẫn chưa phải là đáng bàn bằng việc báo đó chỉ đăng ý kiến một chiều mà thôi. Và vậy là cái tính khách quan tối quan trọng của báo chí đã bị đánh mất, đi liền đằng sau là một dấu hỏi của dư luận!

7. Với địa phương, nhà trường, Cty VDC: Một hình ảnh chung là bình tĩnh, thận trọng và có chừng mực (6).Tuy nhiên, việc nhà trường kỷ luật em Trí (ngoài việc xử phạt hành chính của cơ quan có trách nhiệm) cũng cần được xem lại về quyền hạn qua Nội quy nhà trường và Luật Giáo dục 2005, cácNghị định 75, 139 đi kèm. Bởi vì em Trí thực hiện việc xâm nhập trang web này ở ngoài giờ học, ngoài cổng trường. Nên cái sự “tự giáo dục” nó đã có ý nghĩa ngay ở chỗ: hành xử công minh, đúng mực (đặc biệt là với lớp trẻ, người yếu thế) cho ta kinh nghiệm về sau, với những việc tương tự; cả cho người khác nhìn vào đó mà tự giáo dục mình.

Thế mới biết sự tự học, tự giáo dục ở nước ta nó quan trọng đến thế nào, kể cả khi những mục tiêu hoành tráng như đến năm 2015 sẽ có thêm những 20 nghìn tiến sĩ có phải là thực chất (hay chỉ góp phần làm trầm trọng thêm hai cái “bệnh” mà ngành Giáo dục đang phát động tuyên chiến, là “thành tích” và “gian dối trong thi cử”?). Nhất là trong khi cả xã hội lại đã quá quen tới hơn nửa thế kỷ rồi lĩnh hậu quả khôn lường từ lối học thụ động (bị giáo dục), lười suy nghĩ, sợ ý kiến trái chiều, ham chạy theo bằng cấp, thành tích, hư danh…; lại thêm nặng về trí dục mà đức dục thì sao lãng hoặc “rèn” theo lối áp đặt, “hô khẩu hiệu”, dễ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, “ăn theo nói leo”, “đặt đâu ngồi đó”.

(1) Em Trí, học sinh lớp 12 trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long, phát hiện lỗi bảo mật trên website của Bộ GD-ĐT, đã để lại file cảnh báo, liên hệ với VDC(Cty đồng quản trị website này) từ tháng 7-2006. Thấy không có phản ứng sửa lỗi, ngày 27-11-2006 Trí đã can thiệp vào website, thay ảnh bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân bằng ảnh của mình.(2) Ông Ngọc (giám đốc Trung tâm CNTT-Bộ GD-ĐT) dùng những từ ngữ nặng nề như “tội phạm”, “bố con chúng nó”, “nó” để nói về em Trí. Sau đó ông đã có thư xin lỗi trên mạng Edunet.(3) Trong một bài báo dài ngót một trang báo, ông Quảng (giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS) đã đưa ra nhiều “dấu hiệu” về Trí, như “… không chỉ tấn công các website như chúng ta biết mà còn có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài để mua bán trên mạng với số tiền lên tới hàng nghìn USD…”(4)Khi được hỏi việc ông Quảng đưa thông tin Trí có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài, thượng tá Trần Văn Hòa: “Khi chưa có kết luận cuối cùng, chúng tôi không thể trả lời ngay được”.(5) Trong bức thư “Nỗi đau của tôi trong ngày 20-11-2006″, ông Nhân nói rằng em Trí đã phá website vào đúng ngày Nhà giáo 20-11 (“Khoảng 12 giờ trưa ngày 20-11, tôi được tin website của Bộ đã bị tấn công”). Sau đó, ông đính chính là “vào dịp 20-11″(?). Như vậy thì cái thư của ông sẽ phải có nhanđề là “Nỗi đau của tôi saungày 20-11″ và nội dung phải được sửa lại… rất nhiều!!!(6) Giám đốc Sở Bưu chính-viễn thông Vĩnh Long “chúng tôi sẽ (…) xử lý trên tinh thần vừa răn đe vừa tạo điều kiện phát triển cho một tài năng tin học tương lai”. Phó giám đốc Sở GD-ĐT Vĩnh Long: “… Trí là một học sinh ngoan hiền, có năng khiếu đặc biệt về tin học (…) đã kiên trì cảnh báo các đơn vị quản trị mạng. Đó là đức tính đáng quý…”. Trưởng phòng phát triển dịch vụ của VDC: “… Dưới góc độ công việc, chúng tôi phải cảm ơn Trí…”.

Nguyễn Hữu Vinh

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 46)

Bài được đăng từ năm 2007, nhưng do blog bị tin tặc phá xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu.

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Tagged: | 4 Comments »

Đạo đức cởi truồng

Posted by adminbasam on 17/10/2007

Đạo đức cởi truồng *

Con: bố ơi, hồi con bé bố mẹ không cho con mặc quần à, lại còn chụp ảnh con cởi truồng nữa ?

Bố: ừ …

Con: sao thế ạ ?

Bố (cau mày): cái thằng hỏi buồn cười. Trẻ con mà …

Con: thế sao cứ lớn lên thì mới phải mặc quần ạ ?

Bố (cười, lúng túng): à, là vì không mặc thì ngượng lắm. Nhớn mà cởi truồng ra đường thì … nhất là bạn bè người quen bắt gặp cười cho, xấu hổ có mà chui xuống đất cũng không hết.

Con: thế trẻ con thì không biết xấu hổ hả bố ?

Bố: cũng gần đúng thế, càng lớn càng khôn ra là càng biết xấu hổ.

Con: thế ngộ nhỡ ai không biết xấu hổ mà cứ cởi truồng thì sao ạ ?… Mà người ta đeo mặt nạ vào, như mặt nạ Trung thu bố mua cho con ấy, thì ai biết họ là ai ?

Bố (cười lớn): ái, chà chà … thằng này hỏi quái phết … Thế này nhá … Trong cuộc sống ấy con ạ, ngoài cái xấu hổ, sĩ diện, tự trọng, nặng nữa gọi là nhục, thì còn có luật pháp nó bắt buộc mình phải làm gì, không được làm gì nữa. Chứ không phải là cứ tự ý mình thấy hay thì làm, không hay thì thôi đâu. Học lên nữa con sẽ biết. Nên cu cậu giờ nhớn rồi, mà không biết xấu hổ, cứ tồng ngồng ra đường là bị … “luật pháp” phạt tiền đấy, mà không có tiền nộp phạt là chú công an sẽ tóm cái này của cậu, nhốt lại là hết cả … tè.

Con: thế thì cái “luật pháp” với cái “xấu hổ” thì cái nào to hơn hả bố ?

Bố (trố mắt): khiếp cái thằng, định làm triết gia hay sao đây ! … Chuyện này hơi khó … đại để là mỗi cái đều có cái hay của nó, đều cần thiết. Nếu ai cũng biết xấu hổ mà tránh đừng làm thì chả phải cần đến luật pháp. Nên từ xưa hàng nghìn năm tới giờ mới có cả những học thuyết, rồi cả tôn giáo nữa, khuyên răn đạo đức, dạy phép tắc, lễ nghi, ứng xử … thế nào là hay, là dở cho con người ta kỹ lưỡng kinh khủng. Chỉ bất đắc dĩ ai không biết thế nào là xấu hổ, là sai thì mới phải đưa luật ra. Thành thử cả hai đều quan trọng, cái thì có tính chất dạy dỗ, khuyên bảo, cái thì kiểu đe nẹt, trừng phạt.

Con: thế sao con thấy trên vô tuyến dạo này người lớn toàn cãi nhau là ông này làm thế này là đúng luật, ông kia là sai luật, cả nhiều ông bị đi tù nữa. Nhưng chả thấy nói là ông này xấu hổ, ông kia không biết nhục, rồi có đáng … “chui xuống đất” hay không. Họ không có học thuyết, tôn giáo hả bố ? Họ làm sai nhưng chưa nặng bằng cởi truồng nên chưa xấu hổ à ? Mà bố còn bảo càng lớn càng biết xấu hổ cơ mà ?

Bố: …

Con: bố còn bảo càng khôn thì càng biết xấu hổ nữa …

Bố: à, bố nói thế là nói chung thôi. Chứ bây giờ nhiều người càng khôn thì lại càng không biết xấu hổ ấy chứ lị …

Con: sao người lớn rắc rối thế hả bố ? Mà như thế thì làm sao người lớn dạy cho trẻ con được ạ ?

Bố (thở dài): ừ … gay thế đấy …

Con: thế những ông “không biết xấu hổ” thì họ dạy con họ thế nào ạ ?

Bố: à … Sẽ có hai loại. Một loại thì họ dạy con họ là … là … “chúng mày mà nghe lời tao, làm theo tao là nhục lắm đấy nhá !” Còn loại thứ hai thì họ dạy con họ cứ làm … y như họ.

Con: thế thì loại nào là khôn hả bố ?

Bố: ngu hết !

Con (tròn mắt): ???

Bố: khôn á, thì chỉ có mỗi cách là …. “ngậm miệng … “

Con: là không dạy gì cả ?

Bố:

Con: … à, là “chui xuống đất” luôn !

Ba Sàm

*(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 50-2006: Đạo đức có tuổi tác)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Leave a Comment »

Hỏi ý con Kiến con

Posted by adminbasam on 06/10/2007

Hỏi ý con Kiến con


Con: bố ơi, bố nhìn này … con sâu to thế mà bọn kiến nó khiêng được, nom cứ như thể là nó đưa đám ấy bố nhỉ …

Bố: ối giời ơi … Biết cái quái gì mà đưa đám … Mà đưa tao cái điếu cày đã nào, cả tăm nữa … Nó đem về nhà nó chén đấy …

Mẹ: này mình ơi, ra em bàn cái vụ “nghỉ hè, nghỉ Tết” cái xem nào. Chứ người ta hỏi ý kiến phụ huynh, vô tuyến đài cứ là loạn cả lên chả biết thế nào cả.

Bố: ối giời ơi … lại cũng “kiến” với chả “voi”. Mấy chục năm nay vưỡn thế, giờ các bố muốn làm gì cứ làm, giỏi thì cứ thử đi. Sai thì lại sửa …

Mẹ: nhưng mà nó là cái chuyện thiết thân, giảm nghỉ hè cho chúng nó thì mình đỡ lo cái đận học hè, chơi bời lêu lổng, “chữ thầy giả thầy”, chán bi đáo rồi lại ra sông ra hồ vầy nước thì không khéo … Với lại Tết mình lại có thêm thì gian cho chúng nó lên thị xã chơi nữa chứ …

Con: a, hoan hô ! Tết này được nghỉ thêm hả mẹ ?

Bố: yên nào, nhóc con hóng chuyện người nhớn …

Con: con tưởng là bàn chuyện chúng con được nghỉ Tết thêm chứ ạ ?

Mẹ: đúng rồi … Việc của chúng mày đấy … là giảm … là nghỉ hè in ít thôi, tăng cái nghỉ Tết, nghỉ lễ lên cho nó “giảm tải” học hành … Ừ mà lạ nhỉ, sao nhà trường với lại ở “trên” người ta không hỏi ý kiến chúng nó nhỉ …

Con: hỏi ý kiến con thì con cứ là giơ cả hai tay …

Bố: này, mẹ con mày ở trên giời xuống đấy hở, mà háu bở thế ? Gớm … ý-kiến-con … có mà ý-con-kiến thì có ! Các “ông Nhà nước”, các ông í như voi như hổ, còn mình chỉ phận “con sâu cái kiến” thôi nhá. Các bố quyết gì, bảo gì thì chúng con phải theo thôi … Cái ngữ suốt ngày vục mặt xuống bùn với phân gio mà cày bừa đồng áng thì biết đằng mò nào mà …

Con: thế còn trẻ con … ?

Bố: chúng tao là “kiến” … thì chúng mày chỉ là phận … con của con kiến chứ còn gì … là con ấu trùng í. Ai điên mà đi hỏi cái lũ ấu trùng. Hiểu chửa ?

Con: à … có khi bố nói đúng thật đấy. Cô giáo con cô í dạy những câu như là “người đông như kiến cỏ” này, … rồi phải chịu khó “kiến tha lâu đầy tổ” … , “con kiến mà kiện củ khoai” … “con kiến mà leo cành đa” … là nói người dân đấy bố ạ.

Bố: thì chả là dân đen này chứ còn thằng nào vào đấy nữa … Là “dân đen” tức là nó nghèo khổ bửn thỉu, đen nhẻm như cái lũ kiến đen kia kìa …

Con: thế nhưng cô giáo lại bảo là đừng tưởng con kiến bé nhỏ là yếu ớt, ngu ngốc đâu. Cô kể cái chuyện “Voi-Kiến”buồn cười lắm cơ … Là lũ Kiến sợ Voi lắm, nhưng chúng nó biết đoàn kết, lại khôn đáo để. Nên một hôm chúng nó chui được vào tai con Voi …

Bố: … rồi nó đốt chứ gì ?

Con: không đâu ạ. Nó không đốt … Nhưng Voi thì tức lắm, chỉ chờ chúng nó ra là trị tội dám láo …

Bố: đúng quá !

Con: thế mà bọn Kiến nó còn đẻ ra đấy nhung nhúc những lũ Kiến con nhá ….

Mẹ: rõ khiếp !

Con: vâng … nó làm tổ luôn trong í, ngày ngày ra ra vào vào kiếm ăn tha mồi về mà Voi lại chả dám làm gì …

Bố: sao thế ?

Con: … vì duyên do là lũ Kiến con í, chúng nó suốt ngày nô đùa, nhảy nhót, tranh ăn … lại còn tẩn nhau khóc lóc loạn cả lên. Thế là anh Voi đinh tai nhức óc, điên đầu nhưng chả làm được gì, lại còn sợ nữa chứ …

Mẹ: ừ nhỉ ?

Con: … từ đấy giở đi Voi ta rõ là hiền lành ngoan ngoãn, nhũn như con … giun. Đi đâu, làm gì cũng phải rón rén se sẽ thôi, cũng phải hỏi-ý-kiến lũ Kiến con, chỉ lo chúng nó mà tức lên … nó lại la hét …

Bố: ối giời … Lại còn mai kia chúng nó nhớn lên, không biết điều là nó còn … đốt cho, thì có mà …

Con: đúng đấy ạ !!!

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 10-2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 1 Comment »

Giả Dối là cha Gian Dối

Posted by adminbasam on 02/10/2007

Giả Dối là cha Gian Dối

- Út Măng ơi, ăn mừng đi, quả này thắng lớn rồi …

- Oáo, sếp Phó Bí tôi hồi này còn chơi lô-tô Kiến thiết Thủ đô nữa hay sao đây ?

- … Cậu biết không, các thầy vừa thông báo quyết định đặc cách cho tớ …

- Thành “Ông Trạng” luôn khỏi học ?

- Không, có mà điên ….

- Được làm … thầy luôn ?

- Cậu cứ lăng nhăng. Tức là giờ tớ chả phải thi thố, “vượt rào” vượt cạn môn nào hết. Một phát luận án tốt nghiệp là xong !

- Dóc tổ … à, xin lỗi … là sếp nói chơi hay thiệt dzậy ?

- Tớ có nói dối … mà làm gì … Nhưng mà có điều làm tớ hơi băn khoăn …

- Băn khoăn là không “quay” mà phải chuyển qua “cọp” luận án chớ gì ?

- Không phải, mà là cái tên của nó cơ, là “CHỐNG-GIAN-DỐI-TRONG-THI-CỬ”.

- ???

- Làm sao mà mắt trợn ngược thế ? Cậu cho là khó quá à ? Không biết là tớ đang bán tín bán nghi đây này, là có phải các bố muốn “chơi” mình, thấy mình “dính” mấy quả thi mấy môn trước nên giờ …

- Sếp lại đa nghi rồi. Theo thằng em thì đây là chiến thuật gọi là”dĩ độc trị độc” và “nhất cử lưỡng tiện” cực hay. Tức là các thầy biết sếp quá siêu cái dzụ … “ảo thuật” trong thi cử, giờ vừa khó đối phó với sếp, lại vừa muốn “tìm kiếm tài năng”… trẻ để chống gian dối …, nên mới quyết dzậy.

- Cậu nói nghe có lý … Thôi, giờ mình bàn thẳng luôn vào nội dung nhá. Là theo cậu, sẽ viết gì đây, chẳng nhẽ mình lại … không giữ “bản quyền” các “chiêu” của mình à ?

- … Đúng là khó … À, mà được rồi … em có cách cực hay, đi vào bản chất vấn đề mà lại không lộ “chiêu” …

- Được lắm, nói đi !

- Giờ bắt đầu, mình phải xác định xem căn nguyên làm sao mà sinh ra cái dzụ gian dối này. Nên em hỏi sếp nghen. Sếp có thích đi học không ?

- Có mà điên, vì sự nghiệp … là phải thăng tiến thì đi chứ. Tần này tuổi rồi, lại chả có năng khiếu khỉ gió gì …

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,

Ham rong chơi qua mỗi lần trốn học” …

- Đó … vấn đề là ở đó đó … Dzậy nếu sếp không đi học thì sao ?

- Cậu hỏi ngớ ngẩn quá. Thứ nhất là cái bằng này là bắt buộc này, nếu không có nó là … nghỉ khỏe. Thứ hai, cái học vị kia mà không có, thì … mình như cái thằng “vô học”, chúng nó có cả. Lúc đưa lên “bàn cân”, người ta cân nhắc … là mình thua. Ai mà đánh giá rõ được năng lực, tư cách … với lại nói chung cái khoản này, nếu xét kỹ thì mình cũng … hơi bị gay.

- Dzậy là xong, đó là một phần của cái Luận án này, nó được đổi tên là “DIỆT-GIẢ-DỐI-ĐỂ-CHỐNG-GIAN-DỐI” …

- Nghe lạ quá. Giả dối cái gì ?

- Tức là cái chuyện sếp đi học chớ cái gì nữa, đâu phải do nhu cầu nâng cao kiến thức, rồi chuyện đánh giá cán bộ qua bằng cấp, cũng dễ bị “dỏm” theo cái bằng của sếp luôn. Giờ tiếp nghen. Thế em hỏi sếp là nếu sếp, sếp A, sếp B … nhiều sếp bự đi học, mà thi đều bị rớt thì có ảnh hưởng gì không ?

- Ảnh hưởng quá đi chứ. Nhà trường sẽ bị đánh giá chất lượng dạy này, rồi … người ta cười cho … toàn thằng tai to mặt nhớn mà … dốt, lười.

- Quá chuẫn đi. Nghĩa là các thầy cũng sẽ phải tìm cách dạy, thi cử kiểu du di cho các cha đậu “chăm phần chăm” là thầy trò cùng dzui cả. Dzậy là được ba mục trong luận án rồi. Tiếp … Còn sắp nhỏ ở nhà, tụi nó có thắc mắc chuyện sếp đi học không ?

- … À, chúng nó cứ trêu tớ. Thằng nhớn nó còn bảo “bố cứ yên tâm đi, khi nào thi, con chỉ cần đeo râu mang kính vào, con vào con thi hộ bố là … ngon hết”. Bọn trẻ giờ khôn đáo để, gì cũng biết hết !

- Đó, chúng nó “khôn” là tại sếp, tại người lớn hết … Tức là nội cái dzụ “giả đi học” của sếp cũng thành như “vẽ đường hươu chạy” cho tụi trẻ, nó sẽ coi gian dối trong thi cử là … chân-lý-sáng-ngời. Rồi nó cũng phải “phấn đấu” học … “quay” sao cho giỏi, cho hơn cha thì sau này nhà mới có phước chớ. Sơ sơ vài mục dzậy là cũng thấy được tình trạng giả dối tràn lan trong xã hội nó là căn nguyên của chuyện gian dối thi cử, học hành … Tức là mấy thằng Giả Dối nó là cha cái tụi Gian Dối đó. Mình muốn chống Gian Dối, thì trước tiên, mình phải phăn cho ra hết mấy thằng cha … mắc dịch của nó đã. Diệt được thằng cha rồi thì làm sao có được thằng con. Khỏi chống với đỡ gì luôn, khỏe re à !…

- Ấy, hượm đã. Thế còn mẹ nó, mẹ mấy thằng Gian Dối ấy ? Mình mà diệt mẹ nó đi thì có phải tốt hơn không ?

- Á, ý hay tuyệt ! Chứng tỏ là sếp cũng … đâu đến nỗi. Đây chính là phần hai của luận văn. Nhưng hơi bị kẹt đây …

- Kẹt gì ?

- Kẹt vì mẹ tụi nó … là … chính là sếp đó, chớ còn ai …

- Cái gì ???

- … Tức là mấy thằng Giả Dối ấy, nó … “tằng tịu” với sếp, sếp cũng “thương” lại nó luôn, rồi sếp mới mang “bầu”, mới “đẻ” ra mấy thằng Gian Dối … Ghê chưa ?

- Trời ơi ! Nghe khủng khiếp quá ! Thế chả nhẽ …

- … “chả nhẽ” sếp tự diệt sếp chớ gì ? Rồi sếp cũng tội nghiệp cho “người tình” của sếp nữa phải hông ? Dzụ này thì em chịu … xin để sếp quán triệt cái “phê, tự phê” coi …

- Hượm đã ! Út Măng, hượm đã … Thế … thế còn ông nội nó, cụ cố nội nó, cả lò nhà nó … của mấy thằng Gian Dối í … còn sống cả không ?

- Trời ơi Trờ … ời … ! … Bộ sếp muốn “tiêu” luôn hay sao mà hỏi dzậy ??

Ba Sàm

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | Leave a Comment »

Tự lập,độc lập suy nghĩ

Posted by adminbasam on 27/09/2007

Tự lập, độc lập suy nghĩ…

TT – Đọc trên Tuổi Trẻ bài giới thiệu cuốn phim của Nhật sẽ chiếu trên VTV, toàn những cảnh quay “lén” hoạt động tự nhiên hằng ngày của lũ trẻ: tự lập làm việc, độc lập suy nghĩ… Chưa xem mà đã thấy ham. Người ta cũng “máu đỏ da vàng” như mình, chứ đâu có kiểu tự do như Tây! Vậy mà… Chợt nghĩ đến “chiến lược phát triển con người” của chúng ta, không thể không có những điều cần suy ngẫm:

Ngay từ bé thơ, trẻ đã được “ngấm” câu hát buổi đầu vào nhà trẻ – mẫu giáo: “…cô yêu cháu vì cháu không khóc nhè…”, hay “thứ hai… bé hứa cố gắng chăm ngoan, thứ ba… càng ngày cháu càng cố gắng, …thứ bảy cô cho cháu phiếu bé ngoan,… cả nhà đều vui vì bé ngoan suốt tuần”.

Những câu hát đó minh họa thật chính xác cho phương pháp dạy dỗ từ mẫu giáo cho đến hết phổ thông: không khóc, ngồi im, muốn nói phải giơ tay đúng kiểu chờ cô cho phép, khoanh tay lắng nghe không được tranh luận với cô, hạn chế cười đùa, luôn được theo dõi bằng hệ thống điểm, phiếu, cán bộ cờ đỏ… (vậy nên những vụ bắt trò liếm ghế, đánh đòn hạ nhục lẫn nhau mà ta đã được biết gần đây không phải lạ).

Trẻ thơ hồn nhiên và ngây thơ, khóc – cười, nghịch ngợm nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, vui – buồn – yêu – ghét rõ ràng nơi chúng, thậm chí đánh nhau đôi khi là thể hiện một nhân cách đáng nể. Thay vì quá khuôn mẫu trong mọi hoạt động hằng ngày, hãy cho chúng nhiều hơn những không khí vui tươi tự nhiên, tính trung thực thẳng thắn.

Trong giáo dục từ lâu dường như đang có một xu hướng: cố giữ cho trường lớp một cái vẻ ngoài tĩnh lặng, nghiêm túc, mà ngầm chấp nhận tình trạng quay cóp, nâng điểm, làm bài theo mẫu, “đóng kịch” với đoàn tham quan dự giờ…; nặng hơn là một lối sống ù lì, thụ động, giả tạo nơi học sinh, hay ngược lại là hiện tượng “bùng nổ” khi ra khỏi cổng trường bằng đua xe, phạm tội. Tất cả là vì thành tích và sự dễ dàng hơn cho việc dạy dỗ của thầy cô. Tựa như đại dương, lặng sóng phía trên nhưng bên dưới có thể là những đợt sóng ngầm nguy hiểm.

Hãy nhìn những hiện tượng tha hóa hằng ngày ngoài xã hội, nơi cán bộ có chức quyền, hoàn toàn có cội rễ bởi cách giáo dục con người từ thời tấm bé. Nếu cứ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, luôn tỏ ra “ngoan ngoãn”, “gọi dạ bảo vâng”, đe nẹt những người có chính kiến riêng, nhiều tài năng nhưng thiếu khả năng “đặt đâu ngồi đó”, chúng ta sẽ bị mất nhân tài ghê gớm, làm méo mó nhân cách con người ngay từ nhỏ, tạo môi trường thuận lợi cho những kẻ xu thời, cơ hội phát triển.

Nguyễn Hữu Vinh

(Báo Tuổi trẻ – Ngày 12-7-2004)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Leave a Comment »

“Phao” tuyệt mật

Posted by adminbasam on 14/09/2007

“Phao” tuyệt mật

Bữa nay Út Măng lái xe đưa anh Phó Bí đi thi để thăng “Ông Trạng”. Hắn lo dữ mà sao ảnh cười nói rổn rảng, lại còn góp ý cho hắn là cần nâng cấp con Cờ-Rao để làm sao có hệ thống ka-ra-ô-kê trong xe. Ảnh bảo là mới “cọp” được cái ý tưởng này trên mục “Mỗi ngày một ý tưởng” của vê-tê-vê. Rồi ảnh ngân nga “chưa có bao giờ đẹp như hôm nay … la lá la là … là là la la …” mà hổng có nhạc đệm thành thử nghe ẹ quá.

… Không lo sao được khi cũng ngày này năm ngoái, anh Phó Bí bị hỏng thi vì dính cái dzụ “đổi đen thay trắng” từ mớ giấy nháp … Mà thôi, hắn không dám nghĩ tới nữa, vì đó là chuyện “tuyệt mật”.

… Kia rồi ! Anh Phó bước ra khỏi phòng thi. Mà sao sớm dzậy ta, hay lại như năm ngoái ? Nhưng không phải, dáng ảnh hiên ngang, miệng hát “chưa có bao giờ …”

- Sao rồi sếp ?

- Tuyệt vời !

- Sếp xài chiêu gì mà độc dzậy ?

- Xuỵt, tuyệt mật ! … (Anh Phó Bí cười sảng khoái) … Mà đúng là tuyệt mật thật. Nhưng thôi thì chuyện cũng xong rồi, tớ kể cho mà nghe để mà học hỏi nhá … Đọc đề chưa xong mà tớ đã lấy “phao” ra … “quay” luôn …

- Trời, bạo liệt dzậy …

- Trật tự nào ! … Được một lát thì giám thị tới. Tớ “vô tư” đặt ngay tờ công văn lên trên …

Út Măng há hốc mồm miệng muốn hỏi.

- … Hượm đã. Tay giám thị tưởng quả này “ăn gỏi” ngay mình như năm ngoái rồi, ai ngờ vừa thấy chữ “tuyệt mật” ngay trên công văn, lại có cả tên nơi gửi to như mả thằng ăn mày nữa, nó mới hãi chứ … Thế là phải “lảng chân giò” ngay.

- Trờ … ời …

- … Nộp bài xong, tớ hùng dũng bước ra, cả tốp giám thị, thanh tra đứng như “chào cờ” hết.

- Dzậy là sếp bọc “phao” bằng cái công văn tuyệt mật mới nhận chiều qua ?

- Chứ sao nữa … đây này … Ối ! Thôi chết … nó đâu rồi nhỉ ? … Hay là mình nộp béng nó cùng mớ giấy nháp rồi ? … Làm sao giờ … ối … giời … ơi là … giờ … ời … ời …

- Trời … cũng … “bó tay” !!!

Ba Sàm

-

(Tạp chí Tia sáng – số 16/2006)

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 1/2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 1 Comment »

Từ chuyện buồn học sinh không thích môn Sử

Posted by adminbasam on 11/09/2007

Từ chuyện buồn học sinh

không thích môn Sử

 

Nguyễn Hữu Vinh

Ðó là điều mà công luận đã lên tiếng báo động cách đây ngót một năm trước con số 60% bài thi sử Ðại học – Cao đẳng 2005 dưới điểm 1. Nhưng rồi thời gian cứ bình thản trôi qua như cái bình thản của những người có trách nhiệm với nền sử học và sự nghiệp chấn hưng giáo dục nước nhà, để tới năm nay, một điệp khúc tương tự lại diễn ra. Trong bài báo này, chỉ xin đề cập chút ít về tư liệu sử hiện đại Việt Nam để lẩy ra vài lý do vì sao không phải chỉ học sinh, mà cả người lớn cũng không mấy quan tâm đến lịch sử nữa. Biết đâu trong đó có bóng dáng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó mới hình dung xem tình trạng này liệu có cứu vãn được hay không.

1. Trước hết điểm qua vài sách sử

Bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam – tập III: 1945-2000 [1] được soạn nhắm nhiều đến các nhà giáo-nhà sử học tương lai, người sẽ trực tiếp truyền vào tim thế hệ đi sau niềm hứng khởi với môn sử. Dù được dành một phần đáng kể (55 năm – nhưng chiếm già 1 phần 3 pho quốc sử 4000 năm. Quả là bất bình thường!), viết về hiện thời, với phương tiện thông tin, lưu trữ hiện đại, nguồn sử liệu vô cùng phong phú (trong, ngoài nước), thế mà đọc hết lại thấy một cảm giác rất lạ, như sau bữa ăn thời “bao cấp”, hiếm thịt cá, chỉ toàn rau mì, bụng căng mà mắt vẫn hoa, rõ là bị thiếu những chất đang rất cần cho cơ thể, mà quá thừa những gì không cần nữa, hay khó tiêu hoá nổi. Ðó là:

* Cuốn sách như để giảng dạy, ca ngợi về học thuyết chiến tranh cách mạng hơn là một thứ thông sử. Sử liệu thì ít, chủ yếu về chiến tranh, lại quá nhiều lời bình luận, đánh giá kiểu đại ngôn mang tính “định hướng tư tưởng” của những thập niên 50-60 thế kỷ trước.

* Tuy thiên về chiến tranh nhưng toàn thấy “ta thắng, địch thua”, làm giảm tính chất ác liệt của cuộc chiến, sự hy sinh, tổn thương ghê gớm của dân tộc.

* Tư liệu hầu hết là về cách mạng, miền Bắc, quá ít về xã hội thuộc Pháp, Mỹ – chính quyền Sài Gòn (chỉ chưa tới 10 trong 340 trang sách).

* Về kinh tế, xã hội ở miền Bắc, cả nước sau 1975 cũng toàn “thành công”, “đúng đắn”, còn tổn thất, sai lầm chỉ sơ qua vài trang (kể cả những sai lầm đã được công khai thừa nhận); đầy những trích dẫn (hoặc giọng văn) của các báo cáo tổng kết thành tích, Văn kiện Ðại hội.

* Ðáng lo nữa là với một cuốn chính sử mà lại toát lên một cách nhìn quá thấp về lớp trẻ hiện nay.

Ðọc thêm bộ Việt Nam những sự kiện lịch sử, cuốn 4: 1945-1975 [2] và cả bộ Những sự kiện lịch sử Việt Nam [3] . Tuy không dàn trải những bình luận, ngợi ca ngoài sử liệu (vì thuộc loại sử biên niên), nhưng hai bộ này đều mắc những “bệnh” hệt như bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam. Hãy thử nghe các tác giả giãi bày: “…có hai dòng trái ngược: dòng lịch sử chính thống, cách mạng… và dòng lịch sử đối lập, phản bội…” Lý do của sự thiên lệch quá mức về sử liệu là “vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách”(?) nên cái dòng gọi là “đối lập, phản bội” kia chỉ được đề cập “trong chừng mực có thể” (nghĩa là khoảng 5-7 trong 600 trang). Không hổ thẹn sao, với khoa học, với lịch sử mà có thể bằng giọng lấp liếm dễ dãi đến thế?

Bước qua một “địa hạt” khác, bộ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975 thì khác hẳn [4] . Mặc dù rất nhiều điều còn phải bàn về những sự thiên lệch cố hữu, nhưng dù sao trong bộ này cũng đã ít đi những mảng “tối” của sự thiếu vắng, sai lệch, che lấp tư liệu. Bên cạnh nỗ lực kiên cường của quân dân trong lao động và chiến đấu, những mất mát đau đớn trong những đợt cải cách ruộng đất, chỉnh đốn đảng, cải tạo tư bản, nền kinh tế bao cấp… cũng được nêu kha khá, kể cả đôi nét về vụ án bí ẩn được gọi là “nhóm xét lại chống Ðảng”. Ðặc biệt có hẳn một phần về vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát (những 250/1100 trang). Ngoài ra, cùng bộ sách này, còn có cuốn Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 rất công phu, cho ta biết được một nền kinh tế năng động và có khả năng hội nhập, có thể phát huy khi đất nước được giải phóng, nhất là từ khi đổi mới, như tác giả – chủ biên Ðặng Phong viết.

2. Vài chuyện sử bên ngoài sách sử

Ðể có được ham thích học, tìm tòi về lịch sử nói chung đã là vô cùng khó với lớp trẻ thời nay, nên không chỉ có những cuốn sử khô khan, mà rất cần nhiều đóng góp của báo chí-thông tin, văn hoá nghệ thuật, làm cho từng nhân vật, sự kiện lịch sử xa mờ sống động lại trong mắt hậu thế, khơi gợi trí tưởng tượng cho chính sử gia để có được lý giải, tìm tòi những trang sử bị khuất lấp. Vậy thử điểm vài món ăn tinh thần qua mấy chục năm nay.

* Cách đây khoảng phần tư thế kỷ, có hai vở kịch lịch sử của Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Trãi ở Ðông quan và Rừng trúc và bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt. Nhưng số phận chúng khá khốn khổ, không phải do giá trị nghệ thuật (vì người xem rất hưởng ứng), mà lại là những đánh giá không thuận của lãnh đạo.

* Cũng thời đó có bộ phim tài liệu Hà nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn Thủy, báo động về hiểu biết, thái độ của chúng ta đối với lịch sử. Bộ phim tạo nên một lúc hai làn sóng, một là sự thích thú của đại đa số công chúng, một khác là những bất đồng quá mức ở cấp cao nhất về việc có cho nó lưu hành không.

* Tiếp đến, trong không khí được “tự cởi trói” của giới văn nghệ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã làm sôi sục văn đàn bằng hàng loạt truyện ngắn; nhưng trong đó, những truyện có nhân vật Quang Trung, Nguyễn Du cũng đã chịu không ít “búa rìu” của giới phê bình quan phương. Ðơn giản vì người ta đã “phong thánh” những anh hùng, danh nhân dân tộc, sẽ không thể chịu nổi một tài năng nhưng có “tật” là muốn “lật đổ thần tượng” bằng lối “người hoá” trở lại nhân vật.

* Tương tự, cuốn Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, và gần đây là phim truyện về vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đều có đề cập đến người phụ nữ đầu tiên trong cuộc đời riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà từ lâu coi như húy kỵ. Chỉ tiếc rằng hai tác phẩm có lẽ ở vào hai thời điểm quá cách xa nhau, xuất phát từ hai chủ thể khác nhau (một đằng cá nhân, một đằng là Nhà nước) nên đã chịu hai thái độ nhìn nhận rất khác nhau của những người có trách nhiệm.

* Gần đây, qua văn học nước ngoài, ta cũng có thêm chút sử liệu quý giá, dù còn quá ít, dưới dạng hồi ký, như những cuốn Tại sao Việt Nam?, Cuộc chiến tranh Ðông Dương, Paris Saigon Hanoi… ít bị cắt xén, hoặc của những nhân vật tiếng tăm trong chế độ Sài Gòn được trích đăng báo, tập hợp thành sách như Ðỗ Mậu, Phạm Duy, Nguyễn Tiến Hưng… Có lẽ phải bằng việc gia nhập WTO thì chúng ta mới có thể dễ được tiếp cận hơn những tư liệu về chính mình đến từ bên ngoài?

* Có một thứ tuy không phải là món ăn tinh thần thuần túy như những tác phẩm văn học, điện ảnh, nhưng lại quá đặc biệt trong mối tương giao giữa chính trị-lịch sử-văn hoá truyền thống-tâm linh, đó là di chúc và ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghi ngờ gì nữa, việc thông tin sai lệch rồi miễn cưỡng trả lại tính chân xác hiển nhiên của những sự kiện này chính là điển hình nhất cho thái độ của chúng ta đối với lịch sử.

3. Mấy lời bàn

Chỉ qua một vài phác hoạ trên, dù cho thấy có những lối tư duy đã xa lạ với hôm nay, hay sự ấu trĩ mà chúng ta cứ mãi đối mặt, để rồi khi nhìn lại phải xót xa nuối tiếc cho bao mất mát, thì cũng góp phần nhận diện rõ thêm một phần bức tranh về nền sử học nước nhà, thường hay bị ám ảnh “duy cảm”, “duy tâm” thay vì “duy vật” như đáng ra nó phải là.

Trước hết ta thấy chút căn nguyên cho lời giải đáp vì sao học sinh không thích môn sử. Mới tạm điểm qua sách dành cho thầy cô, cho “người lớn” thôi mà đã thấy nặng tư duy “thời chiến”, “cái búa cái liềm” trong lối viết sử ở thời đại văn minh, bùng nổ thông tin này. Khi cả nước trải qua liên tiếp mấy cuộc kháng chiến trong hơn nửa thế kỷ, rồi đối đầu bằng chiến tranh lạnh, đời sống xã hội mọi mặt đã phải đặt “nhiệm vụ chính trị” lên hàng đầu. Ðó là minh hoạ đường lối, nhấn mạnh truyền thống chống ngoại xâm, kể cả cường điệu cái xấu của kẻ thù, vẻ đẹp của “ta”…, tạm gác lại thiên chức nhà sử học để mà viết ra những gì có lợi cho “ta” thôi. Mặt trái của “tấm huân chương” chính là cái giá đắt phải trả cho lối thực dụng tiểu nông đó. Nhưng không thể cứ tiếp tục trả giá mãi khi mà đất nước đã độc lập, thống nhất, chiến tranh lạnh cũng chấm dứt từ lâu. Việc xây dựng một xã hội văn minh hiện đại giờ là yêu cầu hàng đầu, nên thế hệ sau rất cần hiểu nhiều, đầy đủ, chính xác, khách quan nền tảng văn hoá, đời sống lao động sản xuất, giao thương… của tiền nhân (đủ cả cái hay, cái dở).

Thời “bao cấp” kéo dài từ trong chiến tranh cho tới giai đoạn 1975-1986, nhưng không phải chỉ trong kinh tế, mà mọi mặt, có sử học. Tiếp đến là thời “đổi mới”, nhưng những thay đổi mới tập trung cho phát triển kinh tế; tâm lý e ngại, những thói quen do tình trạng trì trệ quá lâu đã tự làm khó sử gia trong việc thay đổi căn bản lối tư duy-viết sử (nói rộng hơn là cả về khoa học xã hội). Phải chăng chúng ta mới chỉ đang xoá “bao cấp” trong kinh tế thôi chứ chưa dám xoá “bao cấp” về tư tưởng? Nghĩ giản dị rằng con người hễ “no cơm ấm áo” là khắc văn minh, vui tươi yêu đời? Có phải vì thế mà thông sử thì vẫn không thoát được cái “vòng kim cô” xưa cũ, nhưng chuyên sử kinh tế thì được “cởi trói” dần theo với nền kinh tế thị trường? Hay đó còn là cả một quan điểm giáo dục, muốn thông qua môn sử và vài môn xã hội khác để “đúc sẵn” vào đầu những nhận thức chính trị, lòng trung thành với chế độ cho lớp trẻ? Chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, rồi nào là “mở cửa”, hội nhập… mà vẫn quanh quẩn với lối nghĩ đó thì thật tai hại; khi mà cũng chỉ với từng đó thời gian thôi, nước Nhật phong kiến Minh trị Duy tân đã làm cuộc đổi thay cách mạng mới có được như ngày hôm nay, trước hết là do biết nâng cao dân trí, ý thức sớm việc bảo vệ độc lập quốc gia phải bằng một nền dân chủ văn minh tiên tiến thay vì bằng súng đạn, máu xương.

Một điều trái ngược với thực trạng đáng buồn này là lịch sử hiện đại của Việt Nam lại vô cùng đa dạng, phong phú, đầy “kịch tính” trên mọi lĩnh vực, là “đất màu mỡ” cho những khám phá, tranh luận… tạo hấp dẫn thêm cho mọi tìm tòi phát hiện táo bạo của các sử gia. Nhưng cũng ngược lại, với những đa dạng phức tạp đó, nếu ta không sớm định cho nó một “hình hài” đúng như nó vốn có mà để các sử gia tiền bối nhắm mắt xuôi tay, cả bao “pho sử sống” dần khuất núi đem theo xuống mồ bí ẩn lịch sử, rồi phó mặc cho hậu thế thì sẽ vô cùng nan giải cho cái việc nắn lại một “cơ thể” đã mang đầy khiếm khuyết, dị tật. Ấy thế mà ít nhất chúng ta vẫn đang có tới 2500 sử gia để mà lo lắng cho điều này!

Nhiều nhà nghiên cứu – trong, ngoài giới sử học – từng một thời phơi phới hăng say nghiên cứu khoa học mà không nhận ra sớm thực tế rằng phải “uốn mình” theo khuôn mẫu để phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên họ đã gặp bao khốn đốn. Giờ như “con chim đậu phải cành cong”, họ chọn giải pháp an toàn, dễ trở thành bảo thủ, thậm chí mang tiếng vô trách nhiệm mặc dù có thể chưa đến nỗi hoàn toàn buông xuôi. Vẫn còn đó không ít người đã, đang bị lương tâm cắn rứt trước những sự thật lịch sử bị che giấu, xuyên tạc! Họ quá hiểu đã là một sử gia, phải biết đặt mình ra ngoài mọi thiên kiến chính trị, để tìm kiếm, sắp xếp sử liệu sao cho đúng với sự thật khách quan. Làm sao khi đọc tác phẩm, chỉ thấy được nhà sử học hoàn toàn thuộc về nhân dân, dân tộc muôn đời, chứ không phải của nhất thời, làm tôi tớ cho chính trị đương quyền. Cách đây ngót 20 năm, nhà báo được kêu gọi “không bẻ cong ngòi bút”, vậy với nhà sử học “không bẻ cong sự thực lịch sử” âu cũng là cái đức để được sống mãi trong lòng hậu thế.

Thực trạng như mảnh đất màu mỡ cho những kẻ, những thói lười biếng, dối trá, kèn cựa địa vị, hư danh, nhiều khi còn nấp bóng “kiên định lập trường” để che đậy tha hoá. Sự đời chịu nhận cái xấu ở mình đã khó, huống hồ là của bề trên, thành thử hay có lối “mẹ hát con khen”. Chỉ so với các sử gia Việt Nam ta xưa mà cũng thấy thật xấu hổ, chưa nói tới nước ngoài. Như chuyện về quan chép sử nước Tề, chỉ có câu “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công” mà bị chém đầu, người em lên thay vẫn cứ viết vậy liền bị chém nốt, cho đến người em thứ ba thì Thôi Trữ đành “thua”. Họ quả là thánh nhân chứ đâu phải người trần nữa!

Nhưng “tiền hô hậu ủng”. Một khi các sử gia đã vậy thì thử hỏi liệu có được bao nhiêu nhà hoạt động văn hoá muốn đóng góp chút ít bằng tác phẩm của mình có đủ can đảm để “xông pha” như những tài năng Tào Mạt, Nguyễn Ðình Thi, Trần Văn Thủy, Nguyễn Huy Thiệp…?

Ðáng lo hơn cả là suy cho cùng, những người có trách nhiệm cao nhất hình như không muốn thay đổi thái độ trước những vấn đề liên quan đến sử học. Bởi thực trạng hôm nay với đầy dẫy tệ nạn tham nhũng luồn lách tới mọi ngõ ngách quyền lực chẳng lẽ không run sợ sự thực lịch sử sẽ ghi khắc cho muôn đời?

Qua phác hoạ như trên, để có được niềm say mê học, dạy môn sử, thầy trò sẽ phải nỗ lực rất nhiều để nhặt nhạnh thông tin, tìm kiếm nguồn cảm hứng ở bên ngoài môi trường học tập, bù đắp những gì mà hệ thống sách vở không đem lại, đem lại không đúng cho họ. Khốn nỗi, họ phải theo giáo án, đi đúng trong lằn ranh đã được vạch sẵn chứ khó dám liều để dạy “sử ngoài luồng”; cuộc sống khó khăn với đồng lương không nuôi nổi bản thân, điều kiện giảng dạy thì nghèo nàn không cho phép họ phiêu lưu lãng mạn với “tình yêu nghề nghiệp” duy ý chí. Và đáng lo ngại nữa là thế hệ trẻ ngày nay sẽ vẫn bằng mọi cách riêng để tự hiểu mình là ai, hiểu thế hệ cha ông; đương nhiên chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho điều đó: Là thái độ phản kháng bằng lên án, mất niềm tin và sự kính trọng thế hệ đi trước; nảy nở thói đạo đức giả, thực dụng, vô ơn… Còn một giá đắt nhãn tiền mà chúng ta đã phải trả từ lâu cho nhiều quyết định sai lầm để lại hậu quả nặng nề là từ sự chủ tâm coi thường tính thẩm định, dự báo, phản biện của khoa học xã hội (trong đó không thể thiếu sử học) mà chỉ sử dụng nó như thứ công cụ để tô hồng chế độ. Sẽ như “gậy ông đập lưng ông” cho một nền sử học-giáo dục minh hoạ phải đứng trước nhiều thế hệ nhắm mắt, bịt tai, quay lưng lại. Như câu bất hủ của Abutaliv “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác”. Ở góc nhìn khác, giản dị mà ý nhị, cố thủ tướng – giáo sư sử học Phạm Văn Ðồng lại nói: “Lịch sử là lịch sử”. Chứ lịch sử không được để bị chính trị hoá, không thể dối trá, có phải đó chính là điều ông ngụ ý đau xót? Bởi nó luôn không dễ nói, nên xưa Nguyễn Trãi mới từng than:

Ai ai đều đã bằng câu hết
Nước chẳng còn có Sử Ngư! [5]



[1]Nxb Giáo dục, 2005
[2]Nxb Giáo dục, 2004 (Viện Sử học)
[3]Phan Ðình Nhân, 2002
[4]Nxb Khoa học Xã hội, 2005 (Viện Kinh tế)
[5]Quan chép sử nổi tiếng ngay thẳng, trung thực, cùng Khổng Tử một thời dưới triều đại thối nát của vua Linh Công nước Vệ – thế kỷ thứ V trước Công nguyên.


Posted in Giáo dục, Lịch sử | 6 Comments »

 
%d bloggers like this: