BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Bài của Ba Sàm’ Category

338. Ba Sàm 4 tuổi

Posted by basamnews on 09/09/2011

Ba Sàm 4 tuổi

Chào đời

Ngày 9-9-2007, hắn chào đời trong căn nhà nhỏ của Yahoo! 360, với Tuyên ngôn “Phá vòng Nô lệ” và “Đảng viên hay Ông chủ” – một trong nhiều bài viết của mình đã đăng báo trước đó.

Đọc tiếp »

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền | 483 phản hồi »

Ba Sàm giành lại được nhà

Posted by basamnews on 19/06/2011

Kính bà con:

Vậy là sau đúng 10 ngày bị tụi tin tặc cướp, bữa nay Ba Sàm đã giành lại được nhà.

Tệ hơn cả lần trước, tài sản nó cướp, đốt sạch, còn cái xác nhà thôi. Lại còn cướp mấy ngôi nhà phụ, lưu những TƯ LIỆU CHIẾN TRANH VN,  ĐI TÌM CÁI TÔI ĐÃ MẤT, HCM MỘT CUỘC ĐỜI, … cũng mất tiêu đi đời luôn, và cả mấy hộp thơ nữa.

Nhưng … Hề hề! Lo chi, mời bà con qua căn lều tạm một thời gian: Địa chỉ: basam.us ; basam.info; basam1.wordpress.com ;  Email: basamvietnam@gmail.com

Vì vẫn phải đảm bảo cập nhật tin, bài hàng ngày, nên việc gầy dựng lại căn nhà cũ nầy sẽ khá lâu. Mong bà con thông cảm.

Đa tạ vô cùng.

Ba Sàm

Đăng trong Bài của Ba Sàm | 47 phản hồi »

Yêu nhạc vàng: Máu và nước mắt / Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen, …

Posted by basamnews on 12/08/2010

Yêu nhạc vàng: Máu và nước mắt

Nguyễn Tuấn Ngọc

 

Với nhiều người Hà Nội, ‘vụ án Phan Thắng Toán và đồng bọn bị xét xử về tội truyền bá văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc, tuyên truyền phản cách mạng và chống lại các chính sách pháp luật của nhà nước’, họ vẫn chưa quên được.

Người đàn ông Nguyễn Văn Lộc năm xưa trong vụ án này bây giờ là chủ quán Lộc Vàng tại ven đường Hồ Tây (Hà Nội).
Hồi đó anh Lộc và những người bạn vì quá mê nhạc tiền chiến nên đã thành lập nhóm nhạc để tụ tập hát nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong,…và các nhạc sỹ miền Nam như Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng…

Ngày 27/3/1968, nhóm nhạc anh bị bắt và tạm giam ở Hỏa Lò 3 năm. Vào các ngày 6,7,8 tháng 1 năm 1971 Tòa án nhân dân Hà Nội mở phiên toà xét xử gồm 7 thành viên. Tòa tuyên án Toán ‘xồm’ 15 năm tù, Nguyễn Văn Đắc 12 năm tù, anh Lộc 10 năm tù… sau khi hiệp định Paris được ký kết, anh Lộc được giảm án xuống còn 8 năm tù. Năm 1976 anh ra tù.

Anh Lộc thương nhất là anh Toán ‘xồm’ ra tù, mất hết tất cả, không nơi nương tựa, sống nhờ cậy bàn bè và sau đó anh nằm chết ở vệ đường vào năm 1994.

Ra tù anh Lộc đi làm phụ hồ, nhưng tình yêu nhạc vàng, nhạc tiền chiến không hề nguội lạnh.

Anh quyết định mở quán Lộc vàng để hát dòng nhạc một thời được coi là ‘phản động’, nhưng anh coi đó là những tác phẩm quý hơn vàng. Bây giờ quán luôn đông khách và hằng đêm 3, 5, 7 dòng nhạc này vẫn cất vang với giọng hát đã đi qua âm nhạc Việt Nam với biết bao khổ đau. Máu và nước mắt.

Khi nhắc đến người vợ mình, anh Lộc đã khóc. Người vợ đã mất vào năm 2002 và để lại cho anh 2 đứa con tiếp tục theo nghiệp âm nhạc. Người vợ đã yêu anh trước khi anh bị bắt và chờ đợi anh trong 8 năm ngồi tù để cưới anh. Anh Lộc nói anh phải đi vào Quy Nhơn để làm thuê kiếm tiền về cưới vợ. Anh nói không bao giờ anh gặp lại được một người phụ nữ như thế: hy sinh cả cuộc đời cho một người đàn ông như anh. Anh coi vợ anh là ‘ người hùng’.

Vợ anh luôn thích anh hát bài ‘Niệm khúc cuối’ của Ngô Thụy Miên, và bây giờ anh không thể hát được bài hát đó nữa, vì khi anh cất lên thì anh lại vỡ òa khóc nức nở.

Tôi chưa nghe người nào hát nhạc phẩm ‘Gửi Người Em Gái’ của Đoàn Chuẩn- Từ Linh hay bằng anh. Một giọng hát quá trữ tình và sâu lắng. Anh đã hát đúng bản gốc của tác phẩm này, vì anh cho biết nhạc phẩm đang được thu âm và hát lại bây giờ đã bị thay lời quá nhiều, nhất cả khi các ca sỹ hải ngoại hát.

Hàng ngày, người đàn ông này vẫn hát lại những ca khúc cũ của một dòng nhạc đã đi qua bầu trời văn nghệ Việt Nam với biết bao trầm luân. Nó cũng giống như số phận của anh Lộc khi trót mang kiếp cầm ca.

Tôi tự hỏi trong đám văn nghệ tào lao và khoe mẽ trên truyền thông hôm nay, có mấy ai có được phẩm giá và đam mê âm nhạc như anh Lộc?

(Người Việt / blog Face Book Nguyễn Tuấn Ngọc)

—————————-

 

Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen, …

Nguyễn Hữu Vinh

 

Đó là về 4 “dòng” ca khúc ở ta một thời mà không biết có nên tự hào rằng chẳng có nước nào trên thế giới lại có được sự phong phú theo cái lối đó. Sự “phong phú” vương vấn hình ảnh “nồi da xáo thịt” (mà lại vương vào trong thơ ca mới đau chứ). Thiết nghĩ không thể không nói, chúng ta cứ tránh né mãi, tránh né nhiều chuyện quá, làm sao mở rộng cửa mà “ra biển lớn” được.

1. Mở cuốn Từ điển tiếng Việt thì chỉ duy nhất nhạc vàng được cắt nghĩa, là thứ “nhạc bi lụy“[1]. Nghe không ổn. Bực mình mua một quyển đời mới hơn, thì được “cập nhật” một nghĩa mới nữa là “có giai điệu buồn“[2]. Nghe càng tệ (dễ lẫn với cả nhạc … “đỏ” chứ chả chơi – như cái bài “Hồn tử sĩ” chẳng hạn, lễ tang các vị cấp cao là đều cử hành); mà dẫu có phải bổ sung thêm rằng khái niệm đó chỉ “sống” có một thời – thời chiến tranh 1954-1975, chủ yếu được các nhạc sĩ phía Nam sáng tác, thì cũng vẫn không thể đầy đủ cho cái sự “phức tạp” của nó. Vì nếu đi vào phân tích cái chất nhạc rất đặc biệt không lẫn đi đâu được của thể loại này thì phải giành cho các nhà chuyên môn.

2. Còn khái niệm nhạc đỏ, có lẽ là trong dân gian, để nói tới thứ nhạc có lời ca ngợi đất nước, “tăng gia sản xuất”, cách mạng, đảng, lãnh tụ, có yêu đương cũng gắn với lao động, chiến đấu … và tất tật những gì minh chứng rằng chế độ ta tươi đẹp; mà nhạc điệu thì đương nhiên là phải phù hợp với lời rồi, vui cùng vui, buồn cùng buồn (vẫn phải là điệu buồn bi tráng). Nhưng cẩn thận hơn, giở lại cuốn Từ điển đời mới, thì đã có thêm khái niệm nhạc đỏ, là “nhạc thường có âm điệu sôi nổi, mạnh mẽ, có nội dung ca ngợi tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc“2. Đơn giản thế là cùng. Thật là tiếc cho các nhà từ điển học dày công biên soạn cả chục năm !

3. Thế còn nhạc xanh ? Cái tên này cũng trong dân gian thôi, có lẽ đó là thứ nhạc về tình yêu đôi lứa, “mây gió trăng hoa” … linh tinh, mà lời ca không “động” tới những gì thuộc về … nhạc đỏ, nét nhạc cũng không có cái “bi lụy” đặc thù như nhạc vàng. Vậy mà một thời cũng ít nhiều bị “hạn chế”, vì dễ làm sao lãng tư tưởng cách mạng trong thanh niên, những người lính ra trận.

4. Nhạc đen ? Quả tình đây là khái niệm mà người viết bài này mạo muội đưa ra để chỉ tất cả những ca khúc chưa được các nhà quản lý “duyệt” cho … “sinh” hoặc “phục sinh”. Nên tới tận hôm nay, sau hơn 30 năm chiến tranh kết thúc mà ta vẫn chưa được thưởng thức hàng chục ngàn ca khúc – những đứa con tinh thần của các nhạc sĩ tài năng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, … – vì chúng vẫn đang nằm trong “bóng tối”. Nhưng vẫn phải nói cho rõ vì sao có những hai loại muốn được “sinh” và “phục sinh”. Đó chính là những ca khúc của các nhạc sĩ sống dưới chế độ Sài Gòn trong khoảng những năm 1954-1975 (cần “phục sinh”) và các nhạc sĩ ở hải ngoại sau 1975 (cần “sinh” … trong nước).

5. Nhưng, có chia như vậy mà thấy vẫn không ổn. Vì cũng có thể có người bảo: đã gọi là “đen” thì phải là thứ “phản động”. Còn không “phản động”, nhưng có “vấn đề”, chưa được duyệt thì phải gọi là “xám” chứ.Và như vậy thì phải có tới năm, bảy “dòng” nhạc chứ chả chơi. Người khác lại cãi: phân loại kiểu đó là kiểu”chính trị”, phi nghệ thuật … Càng rắc rối hơn nếu như có một nhạc sĩ hải ngoại nào đó (nhất là diện có lý lịch “xấu”) lại nổi hứng sáng tác một bài hát cực kỳ “đỏ” vào, thì không biết liệu có được … duyệt, đưa vào danh sách nhạc đỏ để lưu hành trong nước không ? Chưa hết ! Lại có người muốn phát hành cái đĩa CD gồm những ca khúc thuộc diện “đen”, “xám” nhưng người ta lại chơi nhạc không lời thôi (không hát) thì sao ? Cái “phản động” là nó ở trong lời ca chứ có phải do điệu nhạc đâu. Còn nếu sợ có tên bài “mang nội dung phản động” thì người ta chọn những bài có tên “không phản động” thì sao ? v.v.. Chà … quá là rối rắm phải không quý vị ? Nếu có nhiều kẻ thích sinh sự như kẻ viết bài này thì chắc các “quan văn hóa” phải xin bỏ hết chế độ kiểm duyệt đi mất. Mà không rõ cái chế độ kiểm duyệt của ta có cái “ba-rem” gì không, như lối chấm bài văn bao năm nay mà nhà văn Nguyên Ngọc [3] vừa mới “than Trời” ấy ? Giả sử có “ba-rem”, thì liệu có được xây dựng nên một cách nghiêm cẩn, chí ít bởi các nhà chuyên môn về âm nhạc, chứ không phải được tuỳ ý quyết định chỉ bằng vài ba cán bộ quản lý ? Còn nếu không có thì đã rõ là trong lĩnh vực âm nhạc này còn đáng phải “đổi mới” không thua gì là chuyện giáo dục ấy chứ. Chẳng nói đâu xa, như trong điện ảnh, cách nay hơn 20 năm, bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai đã phải “lên” đến các cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước để quyết định có được công chiếu hay không.

6. Còn nếu có ý thức nghiên cứu mang tính học thuật, lịch sử, gạt sang một bên những thiên kiến chính trị, thì không thể bỏ qua bất cứ thể loại âm nhạc nào nêu trên. Cùng với nhiều hiện tượng văn hóa khác, âm nhạc hiện đại của nước ta đã có bước nhảy vọt khác thường chỉ trong khoảng nửa thế kỷ, do chịu ảnh hưởng của trào lưu âm nhạc phương Tây, nhưng lại vẫn hòa quyện rất rõ với âm hưởng nhạc dân tộc. Ví như nhạc vàng, không biết đã có ai đi sâu nghiên cứu về nét gần gũi của nó với nhạc cải lương (đơn giản, dễ hát, âm điệu buồn phương Nam, nhưng không phải lúc nào cũng “uỷ mị”, hoặc thậm chí có “uỷ mị” nhưng lại thấy yêu đời hơn) ? Hay với nhạc đỏ, khó lý giải được vì sao trong đó có rất nhiều ca khúc tuy chất “chính trị” rất “nặng”, nhưng chất “nghệ thuật” vẫn cao, từ giai điệu cho tới hòa âm không khác gì những bản aria (có khi lại đầy chất dân tộc, vừa “tây” vừa rất “ta” nữa) mà lời ca cũng rất thơ. Nó đã đóng vai trò là một công cụ tuyên truyền rất mạnh. Càng khó lý giải hơn (?) khi chỉ sau năm 1975 không lâu, hầu như vắng bóng những ca khúc có được “đẳng cấp” nghệ thuật như vậy; nhiều nhạc sĩ cố công sáng tác phục vụ công tác tuyên truyền nhưng vẫn chẳng thể nào có được tác phẩm đáng để “đi vào lịch sử”. Một ví dụ dễ thấy là đợt vận động sáng tác quốc ca cách đây hơn 20 năm chẳng hạn, đủ các điều kiện thuận lợi, các giải thưởng chờ đón, thế mà chẳng có được bản nào sánh nổi với bản Tiến quân ca. Phải chăng đã có một “cơ duyên” lịch sử không bao giờ được lặp lại, khi mà cùng lúc, một thế hệ những nhạc sĩ, họa sĩ, nhà văn, thơ … Việt Nam phát lộ tài năng bởi tiếp thu nền văn minh, dân chủ phương Tây đồng thời hồ hởi với công cuộc giải phóng dân tộc nên đã có biết bao tác phẩm nghệ thuật “để đời” đến vậy (không phải chỉ trong âm nhạc) ?

Nhạc “ta” ít được nghiên cứu, tìm con đường phát triển hợp lý cho nó trong thời kỳ mới, trong khi những thể loại âm nhạc hàn lâm một thời dày công đào tạo, giờ không dễ tiếp tục theo lối đó; còn những “bài ca đi cùng năm tháng”, tuy giá trị nghệ thuật khá cao nhưng mang nhiều dấu ấn lịch sử, chính trị không thể cứ “ca” mãi. Tác động của âm nhạc lên đời sống tinh thần của mỗi con người Việt Nam ta là rất lớn chỉ trong một thế kỷ qua, thời tiền chiến, rồi thời chiến nó mang những ý nghĩa khác hẳn với thời nay. Không thể không suy nghĩ khi mà những giá trị đạo đức đang băng hoại nghiêm trọng đều có phần tác động không nhỏ bởi lối tư duy thực dụng coi thường giá trị thẩm mỹ (trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh …) qua hệ thống giáo dục, qua phương tiện thông tin tuyên truyền, hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Thế mới càng thông cảm với giới trẻ ngày nay cứ bị người già khó chịu vì hát hỏng nhạc tây chán lại thêm những trò break-dance, hip-hop … , có hát nhạc đỏ thì có khi nó lại xuyên tạc đi. Có thể vì chúng nhảy nhót hát hò mà không biết “quán triệt” như người lớn - “chẳng có chính chị, chính em gì sất”. Nhưng cũng chớ nên nghĩ rằng chúng không cảm thấy hẫng hụt, cô đơn khi cứ phải “xài đồ ngoại” mãi như vậy.

[1] Từ điển Tiếng Việt, 1997, Trung tâm Từ điển học

[2] Từ điển tiếng Việt, 2007, Trung tâm Từ điển học

[3] Tia Sáng, số 18/2007, Gỡ sao đây ?

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Ba Sàm quyết đi Nhà trẻ

Posted by basamnews on 09/05/2010

Ba Sàm quyết đi Nhà trẻ


 Vậy là đã 8 tháng, kể từ ngày BS tính đi Nhà trẻ khi vừa lên 2, rồi nghe lời khuyên nhủ của bà con, lại trốn học trở về với căn nhà bên cái VỈA HÈ thân thương này. Từ 6.000 lượt bà con ghé thăm mỗi ngày, tới nay đã lên đến 18.000 lượt/ngày, và quan trọng hơn cả là hàm lượng tri thức, tấm lòng với dân với nước trong từng độc giả trên trang BS, thiệt là cảm động! Tấm lòng đó cao tới đâu và sâu bao nhiêu, chắc chắn mỗi chúng ta đều cảm nhận được.

Vui vì nhờ có sự quan tâm, động viên, đóng góp tin/ bài/ ý kiến của rất nhiều bà con khắp trong và ngoài nước, nhưng BS lại thấy hình như mình đang bị … già trước tuổi. Căn nhà chật chội, thiếu tiện nghi tiếp đón bà con, giờ cần phải nâng cấp cho nó thôi, còn gia chủ thì cần phải học hỏi thêm nữa, đúng như những gì đã giãi bày cách nay 8 tháng.

BS đã rất áy náy trước khi đi tới quyết định này, biết là ít nhiều sẽ làm bà con mất vui. Hy vọng như lần trước, sẽ có những blogger khác nhào vô thế chân, lo phần điểm tin hàng ngày, và BS sẵn sàng khi rảnh sẽ xin phụ giúp hầu bà con.

Để tiện cho việc tham khảo gần 600 bài viết được lưu trữ, ngôi nhà này sẽ vẫn được ngỏ cửa, xin mời vô phần MỤC LỤC trên đầu trang để đọc kỹ từng bài.

Cám ơn bà con rất nhiều và hẹn ngày tái ngộ xôm tụ hơn.

BS

Đăng trong Bài của Ba Sàm | Leave a Comment »

Chủ nghĩa duy … vật chất

Posted by basamnews on 06/12/2009

Chủ nghĩa duy … vật chất

 

Sếp Phó Bí bận trăm công ngàn việc, nên đôi lúc cũng nhầm lẫn chút xíu, nhưng sếp là người rất quyền biến, luôn ứng phó kịp thời thành thử thường là “hại bất cập lợi”. Út Măng thì tánh thẳng ruột ngựa, lại chưa rành chuyện nầy, nên cũng làm sếp phiền lòng.

Bữa đó nhà Út Măng gặp đại họa. Vợ chồng thằng em dưới tỉnh lên thăm, ngang đường bị đụng xe, vô bịnh viện, nhưng cả hai đều không qua khỏi. Trong không khí tang tóc, cả nhà vô cùng xúc động khi sếp Phó Bí tới viếng. Út Măng kính cẩn đỡ nén nhang cùng cái bao thơ trên tay sếp. Ổng vừa ra khỏi, Út trân trọng đưa bao thơ lên ngang mặt cho cả họ cùng được ngắm dòng chữ giun dế uốn lượn … thì … tá hỏa!

Trên bao thơ đề “Chúc mừng hạnh phúc hai cháu”.

Út Măng liệng đồ tang cấp kỳ, lội bộ rượt theo đoàn xe sếp mới đi khỏi. Vừa bắt kịp đã thấy sếp Phó Bí ghé vô một đám cưới. Hắn thất kinh ngó ổng đang ban một cái bao thơ cho chú rể mặt mày cung kính hỉ hả. Bất chấp, Út nhào tới chụp vội bao thơ trên tay chú rể trong nỗi kinh hoàng của toàn thể quan khách tới dự.

Bên ngoài bì, cũng vẫn nét chữ giun dế đó, đề “Thương viếng hương hồn hai cháu”

… Tới chiều hôm sau, khi không khí ồn ào về cái sự cố đó đã lắng dịu, sếp Phó Bí mới kêu Út Măng vô phòng, ôn tồn răn dạy:“Cậu vưỡn chưa khắc phục được cái ‘chủ nghĩa hình thức’. Vấn đề là mình phải coi trọng cái nội dung, bản chất bên trong của nó là cái gì. Cậu hiểu chửa ? Tới đây cậu được rời vô-lăng mà sang làm công tác cán bộ thì cũng phải quán triệt như thế. Cái phong bì bên ngoài rồi người ta cũng vứt sọt rác thôi, có khác gì nhau đâu … Chỉ còn lại vật chất bên trong mới mang  những giá trị đáng trân quý. Nên giờ tớ mới bật mí cho cậu biết để mà … tiếc nhá, …  là cái phong bì tớ mừng đằng nhà kia là nó hơi bị … ‘nặng’ đấy … Bố thằng chú rể í, trước hắn từng cứu tớ một quả xít ‘chết’ đấy”

Út Măng tiếc hùi hụi. Hắn tiếc cho … sếp Phó Bí !

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Tiểu phẩm Tếu | Tagged: | Leave a Comment »

Cười như điên!

Posted by basamnews on 22/11/2009

Cười như điên!

Nhân ngày lễ lớn, cần có màn đi thăm một cơ sở nào đó đang có những khó khăn đặc biệt để báo chí, truyền hình đưa tin, bài, hình đặng động viên tinh thần dân chúng, sếp Phó Bí tham vấn Út Măng coi lựa cơ sở nào cho ngon.

Bài toán thiệt hóc búa vì Út Măng hiểu tánh sếp, thường phải đạt một lúc mấy yêu cầu, làm sao phải vừa nặng cái không khí “vui” lại cũng vừa đậm đà chất “nhân đạo”, chưa kể phải thuận tiện để sếp tranh thủ huấn thị. Út liều đề xuất nào là trại điều dưỡng các cụ già có công nhưng cô đơn không nơi nương tựa, hay là bịnh viện người nghèo, hoặc trại trẻ mồ côi, … cái nào mới nghe cũng bị sếp bác cái rẹc liền. Cuối cùng, sếp Phó Bí tự chấm cái nhà thương điên có tên rất ấn tượng, là Trâu Khùng. Út Măng nghe mà run giò muốn khùng luôn, liền phôn ngay cho bên quân đội chuẩn bị bố trí hỏa lực cực mạnh, lập các ổ đề kháng xung quanh để đề phòng, đồng thời báo Ban Giám đốc bịnh viện di lý đi bớt những bịnh nhân nặng. Có điều trong bụng hắn vẫn thắc mắc là sao sếp lại lựa nơi nguy hiểm vậy.

Chuyến đi thăm thiệt êm xuôi, báo chí đưa tin bài rầm rộ về sự quan tâm của sếp Phó Bí tới người nghèo khổ, có cái bức hình bự tổ chảng chiếm nửa trang nhứt các báo. Ngộ nhứt là ngó trong đó thấy sếp Phó Bí đứng dóng hàng ngang cùng đám bịnh nhân, ai ai cũng cười hết cỡ, miệng choạc oạc tới mang tai luôn, coi mà mắc cười nôn ruột, tinh thần dân chúng lên ào ào.

Dzậy mà Út Măng coi bộ còn bâng khuâng, sếp bèn ôn tồn dạy bảo:“Tớ hỏi cậu nhá … là nghe cậu mà đi thăm các cụ có công, sắp xuống lỗ cả, tuyền là thắc mắc xin xỏ chế độ chính sách, mặt mày lại chả méo xệch ra … Lên phim lên ảnh thì nó còn ra cái thể thống cống rãnh gì nữa ? … Còn thăm bệnh viện “bình dân” á? … Đã nghèo lại ốm đau quặt quẹo, đui què mẻ sứt, chụp ảnh thì nó có cười cũng ngang với mếu … Trại trẻ mồ côi lại rặt lũ nhóc ba tuổi ranh mũi rãi lòng thòng, khóc như ri cả ngày … Cậu dơ roi bắt chúng nó nhe răng cười để quay phim chụp ảnh chắc ?”…

“Trờ … ờ …ời !” Út Măng vội bụm miệng để khỏi thốt ra lời thán phục cụ Phó Bí rành đời và thâm hậu dzô cùng tận.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Tiểu phẩm Tếu | Tagged: | Leave a Comment »

Nhất cử đại tiện

Posted by basamnews on 08/11/2009

Nhất cử đại tiện *

Đang dùng bữa, sếp Phó Bí mắc đi cầu gấp. Ổng lao vội đi không kịp kêu Út Măng theo để đề phòng tụi “Diễn-Biến-Thời-Bình” nấp ngoài đó khủng bố tư tưởng làm giảm khoái cảm bài tiết.

Út Măng ăn dưới bếp, nhưng với ý thức cảnh giác, tinh thần trách nhiệm cực cao, liền quăng ào bát đũa, xách khẩu đại liên rượt theo. Ngồi trong cầu tiêu ngó ra thấy vậy thì sếp thương cảm vô cùng, bèn dõng dạc chỉ thị vọng ra: “Người xưa dạy ‘Giời đánh còn tránh miếng ăn’, ai lại khổ thế … Sao cậu không sáng kiến bưng mâm ra đây luôn, vừa xơi vừa ‘lo’ cho tớ“.

Út nghe mà niềm xúc động dâng trào, … chút ói!!!

Ba Sàm

—-

* Đại: rất, vô cùng, cực kỳ

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Chính trị | 1 Comment »

Mèo mả hạ gà đồng

Posted by basamnews on 25/10/2009

Mèo mả hạ gà đồng


Họp quyết định nhân sự. Cân nhắc giữa hai người là sếp Phó Bí và tay Ba Xạo. Biết chắc cuộc họp vô cùng hệ trọng, sẽ kéo dài cả buổi không nghỉ nên Út Măng đã tuân lệnh sếp thiết kế một cái bình nhựa mềm có ống dẫn lưu, dùng băng keo gắn sát vô bắp vế ổng phòng khi mắc tiểu thì khỏi ra ngoài ảnh hưởng chất lượng cuộc họp.

Thiệt là diệu kế! Vì báo hại cho Ba Xạo, ý kiến trong cuộc họp thì búa xua, bầu không khí như giữa cơn bão cấp mười hai, vậy mà hắn phải xin phép đi vệ sinh tới mấy lần. Mỗi lần đó là phe sếp Phó Bí tranh thủ kể tội Ba Xạo, nhiều đệ tử của hắn cũng thừa cơ trở mặt phản phé, tung ra vài lời bóng gió xếch mé hoặc cười đểu.

Hơi ấm râm ran từ bình nước tiểu như tiếp thêm sức mạnh cho Sếp Phó. Ổng rung rinh cái đùi nặng chịch nước mà lòng nhẹ lâng lâng, cầm chắc phần thắng.

Vừa qua hồi gay cấn, nhưng sắp tới màn biểu quyết sinh tử, thì bất đồ Út Măng nhận phôn từ bịnh viện tới. Tin sét đánh!!! Ông thân sinh sếp Phó đi chơi đụng xe, đang cấp cứu. Út nhào ngay vô phòng họp, khều sếp Phó Bí ra cấp báo. Như tia chớp xẹt ngang, mặt ổng biến sắc … rồi … lạnh tanh liền. Hổng nói hổng rằng, sếp quay ngay vô phòng họp tiếp, để lại Út Măng đứng ngó trân như cái cột đèn.

Chung cuộc, sếp Phó Bí thắng tuyệt đối.

Kỳ lạ hơn, cái tin ông già sếp Phó đụng xe, cấp cứu là … lầm. Nghe vậy, sếp cười ha ha, biểu:”Cậu rõ thật là hãy còn non nớt, … ‘thiếu bản lĩnh chính trị’ lắm. Tớ đã tiên đoán ngay mà. Trò của bọn thằng Ba Xạo cả thôi! Đầu năm đi ‘xem’ rồi, số ông già nhà này còn cao, sống dai đáo để“.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Tiểu phẩm Tếu | Tagged: | Leave a Comment »

Thương người như thể thương … heo

Posted by basamnews on 18/10/2009

Thương người như thể thương … heo


Bữa đó sếp Phó Bí đang ăn cơm nhưng đầu óc thì lo cho dân nghèo cơ cực, lụt lội, dịch bịnh  triền miên, nên sếp không kiểm soát được việc ăn, làm rớt xuống đất miếng thịt cọp đang nhai nửa chừng. Út Măng xách cây B40 đang đứng kế bên canh me đề phòng “Các-Thế-Lực-Kình-Địch” phóng tin tức bậy bạ vô hỏng bữa ăn ngon miệng của sếp. Thấy miếng thịt cọp rớt hắn liền mau lẹ lượm ngay, bọc vô cái khăn tay, kính cẩn xin phép sếp được đem về cho con heo nọc ở nhà đang cần bồi bổ, vì mấy bữa rày cho nó đi lấy giống nhiều quá thành thử xuống sức dữ.

Sếp Phó Bí nghe chưa hết lời đã nghiêm sắc mặt, huấn thị:“Cậu không lo cho bà con mình đang đói lả nơi miền quê lụt lội à, mà lại chỉ lo cho lợn nhà mình, sao lại ‘cá nhân chủ nghĩa’ thế ?”

Út Măng ngộ ra ngay, vội lụm cụm đem miếng thịt cọp nhét ngay vô cái “Hòm Từ thiện” dựng chình ình giữa bàn làm việc của sếp Phó Bí. Sếp nhìn theo Út Măng, ánh mắt thiệt là trìu mến …

Ba Sàm

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

Địa lý . Thiên lý

Posted by basamnews on 03/10/2009

Địa lý . Thiên lý

Trăm triu năm trước: lớp học trong nhà. Môn Địa lý.

Thầy (chỉ lên bản đồ): đất nước ta “rừng vàng biển bạc”

Trò: còn dưới lòng đất thì sao ạ ?

Thầy (hồ hởi): … rất đúng ! ” … đất kim cương”. Triệu triệu năm trước đã có những biến đổi địa chất tạo nên các trầm tích rồi để lại cho chúng ta ngày nay nguồn tài nguyên khoáng sản vô tận. Các em hãy nhớ lấy mà yêu đất nước giàu đẹp, vì đó mới là giàu thực sự trên rừng, trong lòng đất, ngoài biển, chứ không “phồn vinh giả tạo” ngoài phố như bọn tây. Cố học mà lớn lên rồi tìm cách khai thác thoải mái xây dựng đất nước…

Trăm triu năm sau: lớp học trên triền núi đá. Môn Thiên lý.

Thầy (chỉ lên trời): buôn làng ta “trời vàng gió bạc”

Trò: còn dưới lòng đất ạ ?

Thầy (buồn): … rất đúng ! ” … đất bê tông” các em ạ … Đó là cả một thiên lịch sử bi thương được để lại qua truyền thuyết, sử thi, kinh thánh. Cả trăm triệu năm trước, nơi đây dường như đã có một nền văn minh rực rỡ, lâu đài dinh thự nguy nga … Tổ tiên ta đã xây dựng nên chúng bằng sức lực, trí thông minh cùng những tài nguyên dưới lòng đất, trên núi rừng, ngoài biển khơi, được khai thác thoải mái vô cùng. Thế rồi đến một ngày, một cơn đại hồng hủy khủng khiếp ập đến …

Trò (rền rĩ): ôi, khủng khiếp quá ! Sao lại thế ạ ?

Thầy: … lòng đất, đáy biển khắp nơi bị khoét lấy khoáng sản, đến cả nước ngầm nữa, nên dần dần cả một vỉa địa tầng bao bọc Trái đất bị yếu đi, không ổn định, bất cân xứng. Đôi lúc cũng đã xảy ra những đợt sóng thần báo hiệu tình trạng này, nhưng mọi sự đã muộn, người người lao vào say sưa khai thác không dừng được nữa. Rồi cái ngày định mệnh đó đã đến, khi mà áp lực cực mạnh của cả bể nham thạch lỏng sôi bỏng khổng lồ dưới sâu từ trong tâm địa cầu bùng lên, đồng thời trọng lực của một thế giới bê tông sắt thép, của cả đại dương bao la, núi đá hùng vĩ … phía trên nén xuống, đổ ập xuống chính cái lớp vỏ bao bọc yếu ớt đó, tạo ra một vụ nổ khủng khiếp, xóa sạch tất cả …

Trò (rú lên): ối … ối …

… thưa thầy, thế còn chúng ta, … sao lại có ở đây ?

Thầy (bình thản): … đúng vậy … đó chẳng khác nào có bàn tay của … Ông Trời ! Tất cả, phía dưới kia, bị chôn vùi, không còn gì. Nghĩa là trong lòng đất chỉ có “bê tông” bị vùi lấp hàng triệu năm cùng với nền văn minh rực rỡ một thời. May thay, tổ tiên chúng ta, thực ra là một tộc người sống du canh du cư trên đỉnh ngọn núi chót vót này – lúc đó người ta gọi là “Nóc lâu đài của cả khu vực” – đã sống sót …

Trò (xuýt xoa): ôi, tuyệt vời làm sao ! …

Thầy (rạng rỡ): … đúng vậy ! Ông Trời trên cao muôn năm! … Và giờ các em hãy nhìn lên Trời kia, chúng ta bắt đầu vào học môn Thiên lý. Không còn gì, mong chờ gì ở Trái đất nữa, không còn môn Địa lý. Giờ chúng ta hy vọng vào Ông Trời, vào các vì tinh tú đang dần dần sa xuống, đem theo nhiều tài nguyên khoáng sản cho chúng ta tận hưởng …

Trò (ồn ào): như vậy khác gì “há miệng chờ sung” ạ ?

Thầy (mỉm cười): không hẳn, mà cũng gần đúng vậy ! Các triết gia của chúng ta đã nghiệm ra rằng: “Con người dù có trí khôn thì cũng chỉ là những sinh linh vô cùng nhỏ bé, yếu ớt trong Vũ Trụ bao la. Hãy dùng trí khôn Trời ban để lựa cách sống sao cho hài hòa với thiên nhiên Trời-Đất. Còn nếu ngạo mạn mà định thay đổi Trời-Đất thì ắt có ngày bị diệt vong”. “Sung” chính là các vì tinh tú, còn chúng ta chờ “sung” nhưng đâu có thụ động hoàn toàn, mà còn phải “há miệng”, rồi còn phải tìm cho ra chỗ nào “sung” có thể rơi, lại cả chuyện là làm sao cho trúng… miệng, rồi phải biết quả nào nó chín mà không thối thì mới … đón mà ăn chứ …

Vậy là chúng ta đã có cái sự chủ động trong cách sống rồi. Còn cứ hung hăng mà leo tận lên cây thì liệu có ngày … Câu ngạn ngữ này tổ tiên ta dạy từ lâu lắm rồi, nhưng cách nay cả trăm triệu năm đã có những cách hiểu khác đi. Đơn giản là khi các cụ nói vậy, thì có nghĩa là “hãy” (há miệng …), nhưng người ta lại hiểu ngược hẳn đi, thành ra là “đừng” (há miệng…). Có thế thôi, nên mới sinh ra cái hậu quả … “nạn đại hồng thủy” …

Trò: Ôi ! Thâm thúy làm sao !

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Tiểu phẩm Tếu | Tagged: | Leave a Comment »

Địch vận giặc nội xâm

Posted by basamnews on 27/09/2009

Địch vận giặc nội xâm

 

Hiếm có nước nào trên thế giới phải trải qua liên tiếp những cuộc chiến tranh ác liệt, lâu dài như nước ta. Nhiều biện pháp đấu tranh, nhiều lực lượng xã hội khác nhau, và cả những bước tiến thoái khôn ngoan về chính trị – ngoại giao đã được huy động để nhắm tới mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc.

Rồi chiến tranh chấm dứt chưa được bao lâu, dân ta lại phải đương đầu với một hiểm hoạ mới, họa tham nhũng, mà mức độ nguy hại, nan giải đến độ được ví như một thứ giặc giã (giặc nội xâm). Có điều, với bao nhiêu công trình nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, nhưng chưa nghe nói đến việc từ đó có thể áp dụng được một chút gì cho giải pháp chống nội xâm này. Hai cuộc chiến hoàn toàn khác nhau trên mọi phương diện, nhưng không phải là không có những nét tương đồng. Sẽ có rất nhiều điều để bàn về những nét tương đồng đó, nhưng trong phạm vi bài này chỉ xin có chút gợi ý. Đó là bàn về “địch vận”.

Địch vận là hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm lôi kéo người trong quân đội địch, làm tan rã hàng ngũ của chúng. Biện pháp này có tác dụng rất lớn làm giảm tổn thất xương máu đồng bào chiến sĩ, thậm chí tăng thêm lực lượng, trang thiết bị … cho ta. Đặc biệt hơn nữa, khi địch lại chính là những đồng bào cùng giống nòi với mình.

Thế nhưng, tại sao trong cuộc chiến chống nội xâm lại cần đến biện pháp đấu tranh này ?

Trước hết, xuất phát từ một đặc thù là ở đây kẻ thù như vô hình vô ảnh, ngay trong hàng ngũ chúng ta, thậm chí tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta, khó nhận thấy. Thứ hai, nhưng lại quan trọng nhất, đó là kẻ thù đã quá mạnh, xâm chiếm khắp “hang cùng ngõ hẻm” trong bộ máy nhà nước, có thể nắm những vị trí rất quan trọng, khuynh đảo được sách lược, cả chiến lược đấu tranh.

Đây là hệ quả của một thời gian dài chúng ta không có những biện pháp quyết liệt và khôn ngoan, lại mắc nhiều sai lầm trong chính sách nên đã đẩy nhiều người trong hàng ngũ chạy sang với địch. Ví như chính sách cán bộ nặng về hình thức giáo dục chính trị, “chủ nghĩa lý lịch”, nể nang thân quen, sợ người giỏi mà thẳng thắn, ưa dùng kẻ đạo đức giả, xu nịnh … Rồi giai đoạn bao cấp kéo dài, chính sách lương bổng phi lý triền miên, bắt buộc người người “đói ăn vụng, túng làm liều”, thành thói quen, cho tới mức tha hóa tràn lan v.v.. Thứ ba, không khí công khai dân chủ không được khuyến khích thường xuyên, khi thì trói chặt, đôi lúc nới lỏng, tạo nhiều khoảng tối cho chính kẻ địch ẩn nấp tấn công lại ta.

Thực trạng hiện nay, trong hàng ngũ cán bộ khó có thể tính được bao nhiêu phần trăm dính tới tham nhũng, tiêu cực, ít thì cũng tặc lưỡi bỏ qua cho kẻ phạm pháp để hy vọng mình được yên thân hay được hưởng cái lợi nào đó, còn nhiều thì có thể kiếm chác tới hàng triệu đô-la. Thêm nữa, trong nhân dân cũng vì nhiều lẽ không thiếu người tham gia tiếp tay cho tình trạng tham nhũng này. Sức hút của bức tranh giàu sang nơi đô thị, lối sống xa hoa, tha hóa đạo đức của các quan tham tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, quan niệm sống thấp hèn lôi cuốn người dân một tâm lý sống gấp, kiếm tiền bằng nhiều cách, coi thường pháp luật, có khi bất chấp đạo lý, sức khỏe, sinh mạng con người, thế hệ tương lai, môi trường sống …

Chúng ta như đang vướng vào một loại “chiến tranh nhân dân” của giặc nội xâm. Một ví dụ điển hình là nạn buôn lậu biên giới, “lâm tặc”, “khoáng tặc”, không cách gì ngăn cản nổi. “Tặc” ở đây lại chính là vô số người nông dân nghèo khổ, chỉ hy vọng kiếm chút tiền sống qua ngày, và từ đây nhiều cán bộ lại được “sống nhờ”. Từ đó mọi chủ trương đấu tranh chống tham nhũng đều dễ trở thành “giơ cao đánh khẽ”, nặng về hô hào, vận động mà không có hiệu quả bởi tình trạng “cùng hội cùng thuyền” với vô vàn thủ thuật trì níu, nhắm mắt, giả bộ làm ngơ từ nhiều cấp mà khó có thể phân định rõ ràng ra được; nó còn lan rộng ra trong dân chúng với một tâm lý phó mặc, buông xuôi.

Nhìn nhận thực trạng đó có thể cho ta một thái độ thực tế hơn trong đấu tranh chống tham nhũng. Đó là ngoài những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, cũng cần phải tính đến những chiến thuật khéo léo như đã từng áp dụng trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

Địch vận ở đây là biện pháp gắn liền với chính sách khoan hồng của Nhà nước. Tuy nhiên, trong đấu tranh chống nội xâm, lâu nay chúng ta mới chỉ thực hiện khoan hồng với những kẻ địch đã bị bắt, truy tố (thật thà khai báo sẽ được giảm án), mà chưa tính đến những kẻ còn đang ẩn náu chắc chắn trong dinh luỹ của chúng. Cụ thể, có những người đang được “tín nhiệm” ở cương vị lãnh đạo, nắm quyền lực nào đó, nhưng vẫn ngấm ngầm có những hoạt động thu lợi bất chính rất tinh vi, gây hại lớn thì ta chưa có giải pháp “địch vận” để họ từ bỏ hàng ngũ địch mà vẫn yên tâm không bị trừng trị nặng theo pháp luật. Vì nếu đang thuộc diện “chưa bị lộ” thì chắc chắn họ có tâm lý tiếp tục “chiến đấu”, chẳng tội gì bị “vác súng trở về với hàng ngũ cách mạng”, chỉ tổ bị đi tù theo đúng với luật pháp hiện hành, có giảm án thì cũng vẫn phải đi tù, mất hết tương lai, hổ thẹn với gia đình, bạn bè. Lực lượng này chiếm vị trí rất quan trọng, gây khó khăn ghê gớm cho cuộc chiến đấu của chúng ta, từ việc ra chính sách, pháp luật, bố trí sắp xếp tổ chức … cho tới phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Chúng ta chẳng khác nào như bị đâm dao sau lưng. Vậy cần phải phân hóa, làm suy yếu đội ngũ của chúng bằng chính sách khoan hồng táo bạo, rõ ràng hơn nữa.

Để giải pháp này được thực hiện hiệu quả đòi hỏi có những phương pháp đặc biệt, xin đơn cử hai biện pháp:

1. Sử dụng bộ máy đặc biệt của đảng. Đây là biện pháp tạm thời trước mắt, khi mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa cho phép có những “đặc ân” với những kẻ tự nguyện ra khỏi hang ổ vững chãi của mình để trở về với nhân dân. Như vậy, đòi hỏi trong tổ chức đảng phải hình thành được những lực lượng “đặc nhiệm” (có phần tựa như Ban chỉ đạo Trung ương 6(2) trước đây chẳng hạn), phải có nghị quyết đặc biệt đảm bảo cho những trường hợp “quay súng” trở về được an toàn, không bị … đi tù hay bêu riếu trên công luận. Nếu cần có thể có một sắc lệnh riêng do chủ tịch nước ban hành cho phép bộ máy đặc biệt này hoạt động và có những quyền hạn vượt trên bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

2. Sửa đổi hệ thống luật pháp cho phù hợp. Việc này cần sớm được thực hiện để tránh lạm dụng bộ máy của đảng can thiệp vào hoạt động tư pháp, thậm chí để tiếp tay cho kẻ địch.

Trong sắc lệnh, nhất là trong Bộ luật Hình sự và Tố tụng hình sự sửa đổi để phục vụ biện pháp địch vận này, cần có những điều khoản rất cụ thể về mức độ khoan hồng với những trường hợp “quay súng” trở về (không nói khoan hồng chung chung như các trường hợp “tự thú” trong Bộ luật Hình sự hiện hành), về những thủ tục có thể áp dụng đi trước hoặc bỏ qua các thủ tục tố tụng thông thường … Ví dụ: nộp lại bao nhiêu tài sản so với mức độ tham nhũng, khai báo đầy đủ về đồng bọn, các phương thức thủ đoạn tham nhũng, thì không những được miễn truy tố, mà còn được khen thưởng (cho tiếp tục công tác, hay bố trí nghề nghiệp kiếm sống, thậm chí có thể còn được tạo điều kiện thay đổi nơi cư trú, “mai danh ẩn tích” để đảm bảo an toàn …) Trong đó cũng cần có thời gian cụ thể cho chính sách địch vận-khoan hồng này, có điều khoản hồi tố, phạm vi áp dụng v.v..

Có thể sẽ còn có nhiều giải pháp khác nữa. Tuy nhiên, trong bất cứ giải pháp tích cực nào cũng đều có mặt trái của nó, như bị lạm dụng hoặc lợi dụng. Đó chính là công việc của những người có trách nhiệm xây dựng chính sách và thực hiện chính sách.

 

Nguyễn Hữu Vinh

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 41)

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Tham nhũng | Tagged: , | Leave a Comment »

Giáo dục Việt Nam: cải cách nửa phần

Posted by basamnews on 21/09/2009

Trần Hoàng, Hữu Vinh

Giáo dục Việt Nam: cải cách nửa phần

 

Nhiều năm nay, trong các trường phổ thông ở Việt Nam, câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã trở thành quen thuộc. Nhưng không rõ liệu có bao nhiêu thầy, trò tự giải thích cái ý nghĩa của câu ngạn ngữ ấy, và họ giải thích ra sao? “Văn” thì có vẻ dễ hiểu, nó là tri thức, nhưng còn “lễ” là cái gì thì không dễ giải thích.

Trong cuốn Nho Giáo của cụ Trần Trọng Kim về chữ Lễ được phân tích rất cầu kỳ, kỹ lưỡng, chỉ xin trích một đoạn tóm lược, gồm bốn ý:

  1. Hàm dưỡng tính tình;
  2. Giữ tình cảm cho thích hợp đạo trung.
  3. Định lẽ phải trái, tình thân sơ và trật tự trên dưới cho phân minh.
  4. Tiết chế cái thường tình của người ta.

Nhưng một khẩu hiệu mang hơi hướng đạo lý Nho giáo, được áp dụng dưới mái trường xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong một xã hội với nền kinh tế thị trường và bang giao quốc tế rộng mở, hiểu biết và quan niệm trong lớp trẻ về các quyền tự do cá nhân đã thay đổi rất nhiều so với chỉ mươi năm về trước, thì sẽ càng khó thêm để hiểu cho đúng, ngay cả với thầy chứ chưa nói tới trò.

Cho nên, nếu tìm một khái niệm cho đơn giản dễ hiểu, thì “học lễ” là rèn lối sống sao cho thành người tử tế, văn minh. Nhưng quan niệm về dạy chữ “lễ” ở mỗi người mỗi khác nhau. Có người thì cho là dạy theo đúng lễ giáo phong kiến xưa; người khác muốn phải như thời ở miền Bắc cách nay nửa thế kỷ; lại có người cho là phải học theo lối sống văn minh phương Tây (mà như Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia châu Á cũng có truyền thống Nho giáo lâu đời đã làm được).

Trên thực tế trong nhiều năm qua đã nổi lên hai mối nguy lớn qua việc soi chiếu vào câu khẩu hiệu này. Đó là: quá chú trọng “văn”, tức là trí dục, trong khi với “lễ” – đức dục – lại vừa quá coi thường, vừa tiếp tục đi theo lối mòn nguy hiểm. Điều này dễ thấy ngay trong các chương trình gọi là cải cách, hoàn toàn tập trung vào nội dung, chương trình dạy, học, thi cử. Nhiều kiến nghị của các bậc trí thức, nhà giáo uy tín, có kinh nghiệm cũng đều tập trung nói về trí dục, tức học văn, còn chữ lễ có nói tới cũng thường được lồng trong chương trình học, không có tính hệ thống. (Có chăng người ta chỉ sửa nội dung môn Giáo dục Công dân. Song, đâu phải chỉ môn này là tác động tới tư cách con người học sinh trong suốt 12 năm học?)

Không khó để giải thích vì sao. Đó chủ yếu là do tính nhạy cảm của vấn đề.

Bài này xin gợi mở một vài điều quanh khái niệm học lễ – đức dục – trong trường phổ thông. Nó liên quan tới một hệ thống từ tiêu chuẩn, quyền hạn, trách nhiệm của bộ máy quản lý giáo dục, của thầy cô, cho tới những nguyên tắc quản lý học sinh, tổ chức hoạt động của trường lớp,… rồi cả một hệ thống chính trị gồm Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên, tổ chức bộ máy trường lớp, tiêu chí đánh giá thầy cô, học sinh… Tầng tầng lớp lớp rất nặng nề, với vô vàn những quy định tùy tiện (tựa những văn bản dưới luật trong điều hành bộ máy nhà nước) kìm hãm sự phát triển tự nhiên từ trẻ thơ cho tới trưởng thành, thậm chí là căn nguyên lớn cho lối sống đạo đức giả, dối trá mà ngành giáo dục trong hơn một năm qua phát động tuyên chiến.

Tuy nhiên, để tiện hình dung, so sánh, rút kinh nghiệm, phần hai của bài sẽ dẫn chứng phương pháp dạy, học liên quan tới đức dục của nền giáo dục miền Nam trước 1975 và một vài dẫn chứng đối chiếu với giáo dục Mỹ (môi trường mà Chính phủ Việt Nam mới đây đã rất quan tâm và có những bước đi mạnh mẽ tìm sự trợ giúp).

Phần Một

1. Hạnh kiểm: đánh giá đạo đức học sinh.

Lớp mẫu giáo: đã có phương pháp sơ khai là phiếu bé ngoan được phát vào ngày cuối tuần. Trên thực tế phiếu bé ngoan có ít nhất năm điều tai hại:

  • Rất hình thức, gần như các cháu đều được.
  • Mang tính hù doạ (ít khóc, ít tè dầm- ị đùn… là được), tạo tâm lý lo sợ mỗi ngày, mỗi cuối tuần, thui chột bản chất hồn nhiên.
  • Trao quyền sinh sát quá lớn cho cô giáo khi không có tiêu chuẩn, cơ chế đánh giá gì rõ ràng, tạo dần thói quen e sợ cấp trên cho trẻ ngay từ bé.
  • Gây cảnh bất công phi lý (khi chỉ có hai loại: được hoặc không được phiếu, tức là “hư” hoặc “ngoan”).
  • Tác động xấu tới cả cha mẹ trong phương pháp giáo dục con cái.

Cấp 1, cấp 2, và cấp 3:

Từ lớp một đến mười hai, hạnh kiểm xếp theo 4 tiêu chuẩn: tốt, khá, trung bình, và yếu. Cách xếp loại này cũng khá hình thức, tuỳ thuộc nhận thức và tùy tiện ở thầy cô. Tai hại nhất là một quan niệm rất phổ biến: hễ học sinh nào hiền lành, ít đùa nghịch, không “cãi lại” thầy cô thì thường được gọi là “ngoan”, dễ được hạnh kiểm tốt. Trong khi việc đánh giá hạnh kiểm lại vô cùng quan trọng và đôi khi trở thành ác mộng cho các em vì ảnh hưởng việc chuyển cấp, chuyển trường, và vào đại học…

Hậu quả của vấn đề đánh giá hạnh kiểm này ở cấp 1, 2 , 3 là nảy sinh dối trá và tiêu cực. Thêm vào đó, việc đánh giá hạnh kiểm hoàn toàn bất công và không khách quan. Điển hình là một mình giáo viên chủ nhiệm mà được trao quyền quyết định sinh mệnh chính trị của năm sáu chục con người, trong khi với chính họ và đội ngũ công chức, để đánh giá tư cách phải có quy trình bình bầu rất công phu.

Đề xuất chung là nên bỏ hoàn toàn cách đánh giá hạnh kiểm này.

2. Quy chế. Kỷ luật:

– Học sinh lớp mẫu giáo được dạy phải ngồi im và khoanh tay nghe cô giảng, hát đồng ca, vỗ tay khi cô yêu cầu, cô hỏi thì phải thưa đồng loạt, ít được tự do chạy chơi vui đùa hồn nhiên. Phương pháp dạy dỗ này một phần bị ảnh hưởng bởi điều kiện dạy, học, đời sống giáo viên thấp kém.

– Vào trường phổ thông là hàng loạt quy định nghiêm ngặt từ nhà trường cho tới thầy cô chủ nhiệm, từ quy chế nhà trường cho tới quy định riêng tùy hứng của thầy cô. Học sinh có được biết, học và kiểm soát việc thi hành Luật Giáo dục để được tự bảo vệ mình không? E rằng điều này quá xa lạ với các em, trong khi những thứ dưới luật thì vô thiên lủng. Xin đơn cử:

  • Hàng tuần có buổi xếp hàng nghe đọc điểm thi đua rất chi tiết, nêu tên lớp, học sinh vi phạm… Mức độ nhiều ít, coi trọng tới đâu đều tùy trường – nông thôn hay thành phố, trường điểm hay bình thường, tư thục hay công lập – nhưng tóm lại là rất tùy tiện. Việc này vừa mất thì giờ, vừa gây tâm lý nặng nề, ý thức ganh đua hình thức, sinh bất công, thậm chí xúc phạm nhân phẩm học sinh.
  • Thầy cô (thường là chủ nhiệm lớp) hầu như được tuỳ ý đưa ra quy định đánh giá hoặc hình phạt với trò, từ không được nhuộm tóc; tóc ngắn quá / dài quá thì bắt kiểm điểm, đuổi về, xỉ vả; cho đến vui chơi đùa nghịch gây khó chịu cho thầy cô đều có thể bị nhận hình phạt dưới đủ mọi hình thức tùy theo tâm trạng, tính cách, thái độ yêu/ghét thầy cô, và cả “sáng kiến” một khi họ tự cho là mình “bất lực”, phải tìm phương pháp mới. Những hiện tượng hành hạ học sinh mà báo chí mấy năm nay đưa rất nhiều là minh chứng rõ nhất.
  • Một hiện tượng khá nghiêm trọng hiện nay liên quan tới vấn đề kỷ luật học sinh là: do hệ thống giáo dục Việt Nam từ nhiều năm không khuyến khích phát triển tư thục, nên nó như một thứ doanh nghiệp nhà nước độc quyền (bán một thứ hàng hóa quá ư đặc biệt, khách hàng không bao giờ được nắm đằng chuôi, như “đâm lao phải theo lao”) nên việc xin học, chuyển trường/lớp rất gian nan, phản ánh những sai trái của giáo viên, nhà trường là đối mặt với nguy hiểm. Từ đó, nảy sinh thái độ cửa quyền từ thầy cô, nhà trường.

Một khi học sinh bị vi phạm với mức độ nào đó, lớp, nhà trường có thể tìm cách ép dưới mọi hình thức để học sinh đó phải chuyển đi, đảm bảo không khí trong lành cho riêng mình. Đây là một thứ như “hù doạ” cho cả phụ huynh lẫn trò, từ đó họ phải chịu sức ép để mà ngoan ngoãn dưới mọi hình thức.

Muốn sửa căn bản thói quen lâu đời làm mụ mị lớp trẻ này, phải đảo ngược các quy định, đó là thay vì để cho giáo viên tự có quyền dường như vô hạn, thì nay hãy dần dần đặt ra các hình phạt với giáo viên nếu trong phương pháp giáo dục có biểu hiện xúc phạm hay hạn chế khả năng phát triển tính tự chủ của học sinh. Đồng thời có cơ chế thích hợp để học sinh được có ý kiến riêng của mình, tốt nhất là mở diễn đàn trên blog hoặc web cho trường, lớp, giao cho học sinh tự quản. Cách làm này cũng sẽ hạn chế phần nào tiêu cực từ phía thầy cô (ép học thêm, bạo hành…)

3. Hệ thống quản lý: quá nhiều, gồm có giáo viên chủ nhiệm, ban lãnh đạo lớp, giám thị, sao đỏ, sổ liên lạc, ban phụ huynh.

– Giáo viên chủ nhiệm: tình cảm của các em học sinh vui, buồn sướng khổ phụ thuộc vào giáo viên chủ nhiệm. Học sinh không được cãi lại thầy cô giáo, không biết nơi nào để có thể phản ánh những sai trái và bày tỏ sự tín nhiệm hay không với giáo viên chủ nhiệm. Trong khi đó, lương, điều kiện sống, làm việc của giáo viên lại kém so với rất nhiều ngành nghề khác, đem tới hậu quả tiêu cực dưới nhiều hình thức. Từ đó có hiện tượng tập trung quyền “sinh sát” trong tay của giáo viên chủ nhiệm. Trước hết liên quan tới hạnh kiểm – một vấn đề rất hệ trọng với học sinh, nhưng lại rất mơ hồ về cách xếp loại. Cần có thay đổi ngay quyền hạn, trách nhiệm của vị trí này. Tốt nhất giáo viên chủ nhiệm chỉ nên là người chăm sóc tinh thần cho học sinh, tuyệt đối không có quyền đánh giá hạnh kiểm. Việc này đi đôi với hủy bỏ chế độ đánh giá hạnh kiểm học sinh.

– Ban lãnh đạo lớp: nếu tính tất cả những học sinh có chức vị trong lớp thì có thể chiếm tới 1/4 sĩ số (lớp trưởng/phó, tổ trưởng/phó, cán bộ đoàn/đội, sao đỏ,…). Số này thường được thầy cô chủ nhiệm cử, nếu có được học sinh bầu cũng chỉ là hình thức. Tâm lý háo danh, ham quyền lực, tình trạng bất bình đẳng, mất đi chất hồn nhiên tuổi trẻ dễ phát sinh từ đây.

– Giám thị: nhiều năm nay có thêm hệ thống này, thường là các thầy giáo đã nghỉ hưu đảm trách, lãnh trách nhiệm như cảnh sát trật tự, nhưng quyền hạn không rõ ràng, hành xử hầu như theo cảm tính. Họ cần được hạn chế tối thiểu quyền, tốt nhất chỉ nên đóng vai trò quan sát, nhắc nhở chung.

– Sao đỏ: là những học sinh thường “ngoan”, có năng lực phát hiện và chịu mách thầy cô những vi phạm kỷ luật của bạn bè. Đội ngũ này hình thành trong hàng chục năm qua, góp phần giữ không khí kỷ luật trong trường, lớp. Thế nhưng, mặt trái của nó dường như chưa bao giờ được xem xét. Đó là gây không khí căng thẳng, ganh đua không cần thiết, mất hồn nhiên của tuổi trẻ, nghi kỵ lẫn nhau, kích thích thói đam mê quyền lực, cậy quyền cậy thế, nịnh hót, dò xét thóc mách… giữa học sinh với nhau. Cần bỏ hoàn toàn.

– Ban phụ huynh: nhiều năm nay, do những đặc thù nêu trên, nên vai trò như cầu nối giữa nhà trường với phụ huynh / học trò của tổ chức này rất yếu. Hầu như họ được cô chủ nhiệm chỉ định, chỉ làm nhiệm vụ giải quyết chính sách chế độ với thầy cô; khá hơn thì vài lần tổ chức cho trò đi cắm trại. Họ thường không dám phản ứng với thầy cô, nhà trường. Lý do có nhiều, từ thói quen chung của xã hội, sợ con bị trù úm, cho tới ảnh hưởng từ hệ thống quản lý, kỷ luật dễ nảy sinh tùy tiện như nêu trên.

– Sổ liên lạc: đây cũng là thứ rất hình thức, làm giáo viên mất nhiều thì giờ vô ích, song thêm tâm lý gò bó cho học sinh.

– Một cách gián tiếp, hệ thống quản lý giáo viên nhiều tầng nấc và khắt khe từ soạn giáo án, bình bầu, thanh tra… mang tư duy cũ cũng gây áp lực không tốt cho những thầy cô muốn mày mò tự cải tiến phương pháp dạy dỗ học sinh theo hướng chống lối hình thức giả tạo, khích lệ tính tự chủ hơn. Vậy cần giảm bớt quyền lực, tăng khả năng hướng dẫn cho các cấp quản lý giáo dục – từ Bộ cho tới nhà trường.

4. Phong trào: có quá nhiều đợt phát động phong trào thi đua trống dong cờ mở, mất thì giờ, tiền của. Nó tựa một bước tập dượt để sau này như ta thấy ở các cơ quan, địa phương cũng áp dụng, gây tốn kém hình thức, thậm chí giả tạo. Kể cả các cuộc thi giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp, các giờ dạy mẫu v.v… cũng nặng tính hình thức, thầy trò công khai hành động đối phó là rất phổ biến.

Để thay đổi, cần lưu ý vấn đề này có liên quan mật thiết với việc đánh giá hạnh kiểm và quy chế kỷ luật, do đó, phải có những thay đổi đồng bộ theo hướng giảm bớt dần. Thêm nữa, việc phát động phong trào cũng nằm trong cả hệ thống quy định của các cơ quan đoàn thể; vậy cần có quy định thí điểm áp dụng riêng cho ngành giáo dục.

5. Hệ thống chính trị: cụ thể là Đội Thiếu niên, Đoàn Thanh niên.

Đây là nét đặc thù và có lẽ là nhạy cảm nhất mà hiếm có nhà giáo dục nào muốn nêu ra.

Đội, Đoàn trước hết là những tổ chức xã hội tự nguyện. Nhưng hàng chục năm nay đã như thành lệ, ít nhất đó là nơi đánh giá hạnh kiểm học sinh, coi việc gia nhập như là lẽ đương nhiên để tiến thân, tới một lúc nào đó mà không được đeo khăn quàng, không có huy hiệu đoàn là trong con mắt mọi người, đó là kẻ chậm tiến, chưa nói tới sẽ ảnh hưởng việc lên lớp, vào lớp nào, thậm chí như bị cô lập. Ngược lại, với uy quyền này, những người có trách nhiệm trong tổ chức dễ nảy sinh thái độ ban ơn, quyền uy, đương nhiên bản chất thực của tổ chức bị mất nhiều.

Không hiếm chuyện khôi hài về lối “đánh trống ghi tên”, hoạt động rất hình thức. Hậu quả khó có thể kể hết, nhưng lớn nhất là thói đạo đức giả.

Không dễ để thay đổi thực trạng này, nhưng không thể cứ như vậy mãi. Thay đổi theo hướng nhỏ mà mạnh, chứ không phải lớn, đông mà yếu, thiếu thực chất (xin chớ lo sợ).

Nên trước tiên cần thay đổi từ điều lệ Đoàn, Đội để căn bản giảm bớt cơ cấu tổ chức trong nhà trường (ví dụ: bỏ chi đoàn lớp, chỉ có tổ chức đoàn của trường, chấm dứt vai trò vừa là giáo viên vừa làm lãnh đạo đoàn – giáo viên không nên tham gia cùng cơ cấu tổ chức đoàn với học sinh; tham khảo mô hình “hướng đạo sinh” đã có từ thời Pháp thuộc). Tiếp đến là những quy định trong ngành giáo dục, và cao hơn là đưa vào Luật Giáo dục liên quan tới hoạt động này.

6. Luật Giáo dục: Cũng như nhiều bộ luật, Luật Giáo dục Việt Nam có rất nhiều điều khoản quá chung chung như hô khẩu hiệu, giống với đường lối, chính sách trong các nghị quyết của Đảng, không có chế tài cụ thể cho những hành vi vi phạm mang tính đặc thù trong lĩnh vực này. Ví dụ: một số hình phạt nhục hình với học sinh như nhốt vào nhà xí, bắt học sinh tát lẫn nhau, bắt liếm ghế,… trong Bộ Luật Hình sự không có chế tài, vậy Luật Giáo dục phải có (cụ thể như trong những trường hợp này, giáo viên sẽ phải chịu những hình phạt từ phạt tiền, đuổi việc, cấm bao nhiêu năm không được đứng lớp, cải tạo lao động…) Hiện tượng học sinh tự vẫn, trò / phụ huynh đánh thầy cô một phần có lý do từ đây. Nói đơn giản là một khi luật nhà nước thiếu, không nghiêm, họ phải tự giải quyết bằng “luật rừng”.

7. Các trường sư phạm: Đây là khâu rất quan trọng, vì dù có những văn bản quy định, điều luật thích hợp để cải cách về đức dục như nói ở trên mà không thay đổi sớm nội dung, phương pháp đào tạo đội ngũ giáo viên thì cũng vô ích. Trong khi toàn bộ hệ thống giáo dục đại học hiện nay đang cực kỳ lạc hậu mà ngành giáo dục loay hoay nhiều năm vẫn chưa tìm được / chưa muốn tìm lối ra.

Trong những thay đổi thuộc hệ thống sư phạm liên quan tới đức dục này, một yêu cầu quan trọng là phải giảm nhẹ nhiều đòi hỏi không cần thiết, quá cũ kỹ cho giáo viên (như việc soạn giáo án), từ đó giảm áp lực trách nhiệm lên vai họ hơn, họ sẽ có nhiều thì giờ, tâm trí hơn để học hỏi cách dạy trò về đức dục theo phương pháp mới. Tốt nhất cần tham khảo phương pháp giáo dục tiên tiến, không phải chỉ phương Tây, các nước đi trước ở châu Á, mà cả dưới chế độ Sài Gòn trước 1975, thời Pháp thuộc.

8. Hậu quả: tất cả những điều nêu trên đã ăn sâu vào thói quen, quan niệm xã hội trong hàng chục năm của thế kỷ trước, đi vào bộ máy quản lý giáo dục, nhận thức, chương trình đào tạo của các trường sư phạm một triết lý giáo dục xuyên suốt chỉ nằm trong một chữ “ngoan” duy nhất khi nói về đức dục. Và chữ “ngoan” này luôn được hiểu là gọi dạ bảo vâng, đặt đâu ngồi đó, ít đùa nghịch, miễn sao càng tập trung vào “học gạo”, “thầy đọc trò chép” càng tốt. Thái độ này đi liền với cái được gọi là “bệnh thành tích” mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân khi mới nhận chức đã phát động tuyên chiến.

Quả tình, trong giai đoạn chiến tranh, thứ nguyên lý giáo dục này có tác dụng nhất định, tạo sự ổn định chính trị xã hội, đồng tâm hiệp lực phục vụ chiến tranh, trong khi nhu cầu phát triển tài năng, cá tính không quan trọng bằng yêu cầu đồng thuận. Thế nhưng chúng ta đã qua chiến tranh hơn 30 năm rồi, chế độ chính trị đã vững vàng, lại thêm mở cửa ra với thế giới, thực tế học sinh được chứng kiến từ ngoài xã hội cho tới các nước khác trái ngược với lối giáo dục trong nhà trường rất nhiều, nên không thể tiếp tục lối giáo dục cũ với nhu cầu cần những con người giỏi nghe mệnh lệnh hơn là biết chủ động sáng tạo, phát hiện và phản ánh những điều phi lý. Tình trạng thua kém mọi mặt trên thương trường, trong giao lưu quốc tế, trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là sự băng hoại đạo đức, tham nhũng tràn lan một nguyên nhân quan trọng là từ cái nguyên lý giáo dục coi trọng chữ “ngoan” này.

Còn một hậu quả rất lớn không thể coi nhẹ, đó là chính sự méo mó trong giáo dục nhân cách này lại tác động xấu ngay vào kết quả học tập, có nghĩa trí dục và đức dục luôn có mối quan hệ chặt chẽ, không thể quan niệm thô thiển là miễn sao nhồi được nhiều chữ vào đầu là tốt. Cũng như bởi chương trình học quá nặng, méo mó, không sát thức tế đang cùng với phương pháp rèn trí dục quá cũ kỹ làm khổ cả thầy lẫn trò. Và cải cách giáo dục phải là sự song hành cải cách cả phương pháp đào luyện trí dục lẫn đức dục, nó cũng là tiền đề cho những bước đổi mới kinh tế phải đi liền với đổi mới trong cơ cấu chính trị, xã hội.

Trong lúc việc cải cách từ nhiều năm nay chỉ toàn những giải pháp chắp vá, nửa vời, thiên về trí dục, mà nửa phần còn lại này – đức dục – rất cần cải cách nhưng cũng vô cùng khó khăn, đụng chạm nhiều đến nền tảng thiết chế chính trị, xã hội, nên nếu không có quyết tâm chính trị thực sự (và phải từ những cấp cao nhất), chắc chắn nền giáo dục nước nhà sẽ ngày càng đi xuống, tác động xấu ngay tới phát triển kinh tế, ổn định xã hội.

Vẫn còn chưa nói tới một điều, là nếu chấp nhận khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là coi chữ “lễ” (đức dục) phải đi trước, thì chúng ta đang đi ngược – chỉ lo cải cách trong trí dục, còn đức dục lại như bị lờ đi.

Như một hệ quả tất yếu, chúng ta đang rộng cửa giao lưu, mời gọi đầu tư, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân để hòng xây lên một tòa lâu đài nguy nga, nhưng lại trên cái nền móng là hệ thống giáo dục cũ kỹ kéo theo cả một lớp nhân công, công chức yếu kém. Đương nhiên tai hoạ kinh tế ập đến, song chắc chắn cũng chỉ mới như vài vết nứt rạn ban đầu của tòa lâu đài này.

Phần Hai

Từ trước năm 1975, trong mỗi lớp học ở miền Nam, hàng chữ “tiên học lễ, hậu học văn” nằm trang trọng trên tường, ngay trên bảng đen của mỗi lớp.

Để dạy được chữ “lễ” cho học sinh, thiết tưởng nên viết sơ lược về cách đào tạo thầy cô, trường đại học sư phạm, và các giáo sư ở miền Nam theo mức độ hiểu biết của tác giả bài này.

1. Sau khi thi xong tú tài 1 (cuối năm lớp 11), và đậu luôn tú tài 2 (cuối năm lớp 12), muốn dạy trường tiểu học hay trung học thì phải nộp đơn vào đại học. Trước năm 1960, muốn dạy tiểu học chỉ cần học xong tú tài 1 và nộp đơn vào Trường Sư phạm ở Qui Nhơn. Về sau, phải có tú tài 2 mới vào được trường này. Các thầy cô giáo phần lớn được đào tạo tại trường Sư phạm Qui Nhơn, hoặc đại học sư phạm Sài Gòn, hoặc Đại học Sư phạm Huế, và Sư phạm Cần Thơ (sau này mới có). Cũng có nhiều thầy cô được đi tu nghiệp về giáo dục ở Hoa Kỳ trong giai đoạn 1955–1974 và cũng có rất nhiều các cô giáo thầy giáo tốt nghiệp ở Hoa kỳ, Pháp, Úc, Canada, Tân Tây Lan, và các quốc gia Âu châu. Ngoài ra, các sinh viên học xong đại học ban cử nhân có thể lấy thêm chứng chỉ sư phạm và được đi dạy tại các trường trung học.

Các giáo sư giảng dạy đại học sư phạm miền Nam là các nhà giáo chuyên nghiệp thật sự được đào tạo ở nước ngoài, hoặc là những nhà giáo dục quá nổi tiếng và kỳ cựu và nhận được sự kính trọng của sinh viên và các thầy cô đang dạy ở trung và tiểu học. Mục đích duy nhất trong đời họ là giáo dục, sinh viên, và gia đình. Tài trí và đạo đức của các giáo sư đại học để lại những dấu ấn mạnh mẽ trong thế hệ các sinh viên được đào tạo trong giai đoạn trước năm 1975.

2. Chương trình học là sự cân bằng giữa Đông phương và Tây phương. Các môn khoa học, toán, tâm lý và triết lý giáo dục phương Tây, tâm lý học sinh được giảng dạy chung với các môn học thuần của phương Đông và của nước ta. Chương trình học của sinh viên không có môn chính trị hay ngợi ca chính phủ đương nhiệm.

Tất cả các trường Đại học đều được quyền tự trị. Tất cả các viên chức chính quyền hầu như không thể gây ảnh hưởng gì đến tiến trình tuyển chọn, thi tuyển, nhập học ở các cấp tiểu học, trung học, và đại học. Gần như các sĩ quan cao cấp trong quân đội, các tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng không thể ra lệnh cho các hiệu trưởng làm việc theo ý muốn của họ. Tất cả các hiệu trưởng đều không làm việc theo chỉ thị của các đảng phái. Nên thực tế con cái của các viên chức cao cấp ở các quận, các tỉnh, và thành phố lớn, nhỏ đều học chung trường với con cái của các nhân viên có cấp bậc thấp nhất. Các kỳ thi tú tài hầu như không thể quay cóp, đề thi không thể lộ ra ngoài trước, thí sinh không thể nhận được sự trợ giúp của bất cứ ai. Việc xét đơn nhập học vào trường đại học rất công bằng và hầu như không gây những tai tiếng trên báo chí và dư luận. Chuyện học sinh được xuất ngoại du học căn cứ trên tài năng thật sự. Con cháu của các nhân viên cao cấp, các nhân viên của bộ giáo dục, các trường đại học không thể lợi dụng chức vụ để chiếm lấy các học bổng của các đại học nước ngoài dành cho học sinh. Vì vậy, một số rất nhỏ các gia đình khá giả, đa số là các thương gia hoặc nhà giàu, phải gửi con đi du học dạng tự túc và trả học phí 100%. Con cái của tất cả các sĩ quan cao cấp và các nhân viên cao cấp trong chính phủ đều học ở trong nước vì hầu hết không đủ tiền để chi trả học phí đại học ở nước ngoài.

Học sinh tiểu học và trung học không đem chức vụ cha mẹ ra khoe với nhau, và bản thân mỗi học sinh cũng không có thói quen nói về cha mẹ của chúng trong các câu chuyện thường ngày với bạn bè ở lớp. Nói chung, bầu không khí học hành trong mỗi lớp, mỗi trường là thuần túy giáo dục.

3. Hạnh kiểm: đánh giá học sinh ở 4 mức: giỏi, khá, trung bình, và xấu.

– Ở lớp mẫu giáo chắc chắn là không có thầy cô nào đánh giá học sinh nhỏ ở lứa tuổi này và lấy tiêu chuẩn hạnh kiểm để xét nhập học vào một trường nào đó. Học sinh mẫu giáo không có phiếu khen thưởng hàng tuần.

Mục tiêu chính của trường mẫu giáo là làm cho các em thích đến lớp để học, vui chơi, đếm số, đọc các chữ cái a, b, c,… tập vẽ, tô màu, và về sau tập đánh vần khi học sinh sắp vào lớp một. Không có tiêu chuẩn thi đua trong lớp, giữa các lớp, và giữa trường này với trường kia.

Ở Mỹ, lớp mẫu giáo cũng không có đánh giá, không có phiếu khen thưởng, chỉ có nụ cười mà em nào cũng vẽ được trên giấy và các hình ảnh, huy hiệu (sticker) có nụ cười thân thiện cô giáo vẫn phát cho các em dán vào áo hay đem về nhà dán cho cha mẹ.

– Cấp 1, 2, 3: Từ lớp 1 đến lớp 12, ở miền Nam, việc đánh giá khả năng học tập (trí dục) của học sinh là chính và mỗi tháng một lần.

Hạnh kiểm của học sinh cũng được đánh giá tốt, khá, trung bình, xấu. Những đánh giá về hạnh kiểm của giáo viên chỉ dành riêng cho cha mẹ của học sinh biết con em của mình ra sao và tìm hiểu con cái của minh để khuyên và giúp chúng sửa đổi. Việc đánh giá này không phải là một tiêu chuẩn có một ảnh hưởng gì đến chuyện nhập học, chuyển trường, khi cha mẹ di chuyển đến một nơi khác.

Việc chuyển trường, xin nhập học trường mới thuộc về một qui định hành chính của địa phương quận, huyện kết hợp với ty giáo dục (hay sở giáo dục) của tỉnh hoặc thành phố.

Trong tổ chức hành chính điều hành không có phòng giáo dục quận hay phòng giáo dục huyện, chỉ có ty giáo dục của tỉnh và xuống thẳng đến hiệu trưởng của trường trung học, tiểu học.

Theo đúng qui định hành chính nói trên, cha mẹ hoặc học sinh có địa chỉ ở đâu, thì trường học ở nơi ấy phải thu nhận con em của họ. Chuyện này đã được phân định rõ ràng theo văn bản hành chính, nên nhân viên văn phòng của trường chiếu theo đó mà làm và cũng không có ai có thể làm khác được ngay cả hiệu trưởng (trừ trường hợp trường tư).

Vì qui định hành chính nghiêm ngặt và được tất cả tôn trọng, nên trên thực tế, hiệu trưởng của chính trường ấy và các giới chức cao cấp của tỉnh, thị xã, quận, phường và ngay các thầy cô giáo, nhân viên của trường cũng không thể dùng sự quen biết hay quyền lực gây ảnh hưởng về việc nhập học của bất cứ ai.

Tóm lại, vì cách tổ chức nói trên, tiêu chuẩn hạnh kiểm không có chỗ đứng trong việc xem xét nhập học. Thầy cô giáo không vì thế mà có cơ hội làm những chuyện tiêu cực.

Ở trường tiểu học (lớp 1 – lớp 5) không có danh xưng giáo viên chủ nhiệm. Không có thi đua giữa các lớp ở trong một trường. Có lẽ cách dạy và phương pháp dạy ở đại học sư phạm đã đào tạo ra đúng các nhà giáo dục thật sự. Và trường học không nhằm mục đích để phục vụ cho một đảng phái chính trị hay chính quyền đương nhiệm, và cũng không làm theo lệnh các viên chức các đảng chính trị, hoặc hành chính.

Ở Mỹ, việc cứu xét nhập học của các em học sinh, trường học không nhằm mục đích để phục vụ cho một đảng phái chính trị hay chính quyền đương nhiệm, và cũng không làm theo lệnh các viên chức các đảng chính trị, hoặc hành chính (giống y như miền nam Việt Nam). Trong trường học, cũng như trường học ở miền Nam Việt nam, trường học ở Mỹ không có sự thi đua giữa các lớp với nhau trong một trường, hoặc thi đua giữa trường này và trường kia.

Hiện nay, kể từ lớp 2 đến lớp 6, mỗi lớp có 6 thầy cô phụ trách dạy các môn khác nhau. Cô giáo chính của lớp, người phê hạnh kiểm thường là cô giáo dạy môn toán, Anh văn, khoa học, các môn học xã hội (social study). Từ lớp 7 đến lớp 12, cũng có đánh giá về hạnh kiểm, đạo đức, thói quen trong lớp, cách học tập của các em, cách cư xử của các em với bạn bè và trong lớp có tuân theo hướng dẫn của thầy cô hay không. Nhưng các đánh giá ấy cũng chỉ có mục đích giúp cho cha mẹ hiểu con cái của họ chứ không được nâng lên thành một tiêu chuẩn cho bất cứ chuyện gì khác hoặc ảnh hưởng đến chuyện nhập học vào trường này trường kia.

4. Quy chế. Kỷ luật:

Học sinh mẫu giáo 3, 4 tuổi đến trường chủ yếu là chơi đồ chơi trong lớp, vui vẻ với bạn bè, và được dạy ca hát. Chương trình lớp học như sau. Buổi sáng, khi mới vào lớp, các em được tập hát, tập đếm số, hoặc nhận ra các chữ a, b, c,… sau đó được tô màu, và chơi đồ chơi. Mỗi lớp có hàng trăm món đồ chơi. Mỗi cô trông nom 8 học sinh, và mỗi lớp có hai cô, 16 học sinh. Sau khi ăn trưa xong, các em được ngủ trưa 1 giờ hoặc 1 giờ 30 phút. 2 giờ, các em được đánh thức dậy, được xếp hàng đi tiểu, sinh hoạt đếm số hoặc vẽ hoặc chơi đồ chơi. Khoảng 2 giờ 30 các em được ăn thức ăn nhẹ, bánh và được uống nước trái cây và được ra sân chạy nhảy chơi đùa chờ cha mẹ hoặc gia đình đến đón vế nhà. Buổi sáng, sau khi ăn sáng, các em được vui chơi trong sân trường trước khi vào lớp học.

Ở trường tiểu học Mỹ, mỗi lớp có 16–20 em. Hợp đồng của thầy cô giáo và phòng giáo dục quy định mỗi lớp có dưới 25 học sinh.

Các cô giáo đứng lớp làm nhiệm vụ giảng dạy. Nếu trong lớp có học sinh quậy, phá, nói tục, đánh nhau… cô giáo bấm vào đường điện thoại liên lạc với văn phòng thư ký, và ban cố vấn học sinh (counselor). Cô giáo đứng lớp không phải là người xử phạt các trường hợp vi phạm nghiêm trọng của học sinh.

Các trường hợp nhẹ như nói chuyện trong lớp, làm ồn, hình thức kỹ luật rất đơn giản. Cô giáo nhắc nhở học sinh ấy không làm nữa, hoặc yêu cầu em ấy ra đứng ngoài hành lang ngay cửa ra vào trong 1 phút, hoặc cho em ngồi sát bàn của cô giáo, hoặc dời em đến ngồi một chỗ khác xa chỗ cũ.

Nếu các em không vâng lời, cô giáo gọi điện thoại xuống văn phòng trường và sẽ có nhân viên cố vấn giáo dục lên mời em ấy xuống văn phòng nói chuyện. Như vậy, cô giáo không phải là người làm chuyện xử phạt và sẽ dành toàn bộ thời gian để dạy các em khác, và học sinh bị phạt cũng không cảm thấy mất mặt trước các bạn.

(Mỗi 300 em học sinh, trường phải thuê 1 cố vấn về giáo dục, và 1 bảo vệ. Cố vấn giáo dục (high school counselor, tốt nghiệp đại học ngành tâm lý giáo dục) nhằm giúp học sinh chọn lớp học, ngành nghề, và lắng nghe lời giải thích của các em học sinh vì sao quậy phá, và đưa ra lời khuyên, đóng góp ý kiến giúp em chọn một lối cư xử hợp lý hơn và liên lạc với gia đình, mời phụ huynh đến trường để báo cho biết con cái của họ quậy như thế nào, và đề ra các biện pháp giúp đỡ. Cố vấn giáo dục tìm hiểu lỗi lầm của học sinh vi phạm kỷ luật, tìm phương cách giải thích cho học sinh hiểu vấn đề, và hiệu phó sẽ quyết định xử phạt đuổi học 1 ngày hoặc 3 ngày.

Trong trường học ở Mỹ, không có chuyện đánh đập, đá, bạt tai học sinh, không được hỏi với tính cách điều tra, hạch hỏi và kết tội. Thiển nghĩ, những chuyện ấy nằm ngoài lĩnh vực của trường học, không nằm trong số các môn học mà các thầy các cô đã được học ở trường sư phạm.

Như vậy, cô giáo, thầy giáo dạy các môn học khác và giáo viên của lớp (tương đương với giáo viên chủ nhiệm) chỉ việc chuyên tâm làm nhiệm vụ giảng dạy. Và giáo viên này không đưa ra các hình thức kỷ luật học sinh.

Từ lớp 1 đền lớp 12, tất cả đều diễn ra theo hệ thống kỷ luật như trên.

Thầy giáo cô giáo ký hợp đồng làm nhiệm vụ giảng dạy, ban cố vấn và hiệu phó làm nhiệm vụ kỷ luật. Hình thức kỷ luật là gửi em học sinh về nhà 1 ngày, 3 ngày.

Không có chuyện hiệu trưởng hay bất cứ ai ép cha mẹ phải chuyển học sinh đến trường khác. Vị trí địa lý nhà em ở đâu trong vùng ấy, đã được khoanh lên bản đồ, và mỗi cha mẹ cứ chiếu theo bản đồ ấy để chuyển con mình đến đấy học.

Nhân viên bảo vệ không mang súng, chỉ trang bị bằng điện thoại và trông coi học sinh trong giờ ra chơi, giải tán và can thiệp nếu các em đánh nhau.

5. Hệ thống quản lý:

Từ lớp 1 đến lớp 12, có bầu trưởng lớp và phó trưởng lớp, trưởng ban học tập của lớp. Vì mỗi lớp có 45–50 học sinh, chia làm 4 hoặc 5 đội, có đội trưởng và đội phó.

Mục đích chính và duy nhất là xếp hàng chào cờ ở sân trường vào mỗi sáng. Trưởng lớp đứng đầu trước mỗi lớp 1 bước, các đội trưởng đứng đầu hàng và sau lớp trưởng, đội phó đứng cuối hàng.

Các em này chỉ có nhiệm vụ giúp bạn bè xếp hàng khi chào cờ buổi sáng. Nhờ vậy các thầy cô được rảnh tay chuẩn bị giảng bài. Ngoài nhiệm vụ chào cờ ra, các em nói trên không có họp hành gì với nhau, và cũng không giúp thầy cô giữ nhiệm vụ kỷ luật của lớp. Học sinh quá kính trọng thầy cô giáo, ham học, các học sinh yếu kém và ở hạng trung bình các môn học thường có hạnh kiểm tốt để bù đắp cho học lực không có gì nổi bật, và số học sinh đi học hàng ngày gần như 100%, trừ khi bị bệnh. Chuyện đến lớp muộn cũng rất hiếm. Nên chỉ cần 2, 3 thầy giám thị trông coi việc kỷ luật học sinh cho cả trường. Thậm chí nhiều trường không cần có giám thị.

Thứ hạng của học sinh được chấm điểm và cộng lại hàng tháng. Các em học giỏi được phát bảng danh dự. Trong một lớp 50 em, 5 em có điểm hàng tháng cao nhất được phát bảng danh dự, từ hạng 6 đến hạng 10 được bảng tưởng lệ. Ngoài ra, các em có nhiều cố gắng trong một tháng nào đó, thí dụ tháng trước đứng hạng 30 hay 40, tháng sau lên hạng 15, thầy cô giáo sẽ phát cho em ấy một bảng-tưởng-lệ để khen thưởng và ghi nhận sự cố gắng. Mỗi em cũng có sổ điểm hàng tháng đem về nhà cho cha mẹ xem, ký tên, và học sinh đem trở lại nộp cho thầy giáo.

Ở Mỹ, ở bậc tiểu học từ lớp 1 đến lớp 6, không có lớp trưởng hoặc lớp phó và cũng không có ban lãnh đạo lớp.

Ở Mỹ, mỗi 3 tháng có phiếu điểm một lần. Vào ngày có phiếu điểm, các em học sinh sau giờ ăn trưa được về nhà sớm. Thầy, cô giáo không phải dạy vào buổi chiều hôm ấy. Tất cả thầy cô ngồi trong lớp và chuẩn bị tiếp phụ huynh bắt đầu lúc 2 giờ đến 6 giờ chiều. Phụ huynh đến trường và từng người một được mời vào lớp nói chuyện 5–15 phút với thầy cô dạy con em của mình. Ai đến trước vào trước, ai đến sau thì đứng ngoài lớp chờ đợi phiên mình. Phiếu điểm được phát tận tay phụ huynh và phụ huynh có thể hỏi thêm về khả năng học tập của con cái mình. Phụ huynh thường ghé thăm 4 thầy hoặc cô giáo và hỏi điểm từng môn học, sự tiến bộ của con mình. Ngay từ lớp 2, lớp 3, các em đã học các môn toán, khoa học, tiếng Anh, môn học xã hội (social study như địa lý nước Mỹ, lịch sử nước nhà, các nước láng giềng, văn hóa nước nhà, sinh hoạt hay các hoạt động trong cộng đồng, kinh tế… mỗi cô giáo chỉ đánh giá hay ghi điểm môn mà họ giảng dạy.

Đánh giá về cá nhân của học sinh nhiều chi tiết như sau:

– Thói quen và thái độ: A = giỏi; B = Khá; C = trung bình; D = không đạt; F = failing; N = cần sửa đổi.

Trong đó có việc đánh giá cá tính của học sinh như:

– Hạnh kiểm, đạo đức, cách cư xử (conduct):

  • tự kìm chế
  • tôn trọng
  • tham dự các hoạt động trong lớp
  • luôn luôn có thái độ biết suy nghĩ đến người khác
  • tôn trọng quyền của người khác
  • tôn trọng của cải và đồ dùng của người khác

– Ý thức học tập (work and study habits):

  • Biết cách tổ chức công việc
  • Hoàn tất công việc
  • Học tập độc lập không nhờ bạn bè, cô giáo giúp đỡ
  • Theo đúng sự hướng dẫn cách làm bài
  • Hoàn thành các bài học, bài làm ở nhà và nộp đúng thời hạn
  • sử dụng thời gian có hiệu quả
  • sử dụng và bảo quản sách vở sạch sẽ và bàn học sạch sẽ

Hạnh kiểm và đạo đức cũng chỉ để dành riêng cho cha mẹ hiểu biết thêm về con mình, yếu tố này không ảnh hưởng gì đến việc chuyển trường và nhập học (giống như miền Nam Việt Nam trước 1975).

6. Hệ thống chính trị: Trong trường học không có chương trình học tập chính trị. Không có học về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và các học thuyết.

Trường học chỉ thuần túy là giáo dục. Vì giáo dục và chính trị là hai lĩnh vực khác nhau.

Ngoài giờ học, vào ngày thứ bảy và chủ nhật, các em học sinh có thể tham gia Hướng Đạo Sinh Việt Nam hoặc Phật tử, hoặc các phong trào sinh hoạt của thanh thiếu niên công giáo như đoàn Thánh Thể. Các em tham gia với tinh thần tự nguyện. Không ai đề nghị hay ép buộc phải tham gia. Các phong trào này chủ yếu là sinh hoạt cắm trại, ngủ đêm trong các lều, thăm các thắng cảnh trong nước, giúp các em yêu thích cuộc sống và sinh hoạt ngoài trời. Các phong trào này dạy cho các em các trò chơi, các môn thể thao lành mạnh, các bài ca cộng đồng vui tươi và nhiều sức sống, tập cho các em làm việc với tinh thần đồng đội và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.

Sâu xa hơn là tạo cho các em thói quen tháo vát và chia sẻ với cha mẹ mọi việc trong gia đình. Nhờ vậy việc học tập của các theo các phong trào này cũng cải thiện hơn. Ngoài ra, các phong trào còn giúp các em sống hướng thiện, nhân ái, giúp đỡ người gặp hoạn nạn, giúp phân phối các vật phẩm cứu trợ cho đồng bào bị thiên tai, bão lụt, cháy nhà, chiến tranh.

Mặt lợi ích mà phong trào này đem lại cho các em là không hút thuốc, không uống bia, rượu, không nói tục, nói dối, ngay thẳng và chính trực. Trường học nào có nhiều em tham gia các phong trào thường được các phụ huynh tin tưởng và yêu thích. Các em theo các phong trào này khi lớn lên trong xã hội thường trở thành các công dân gương mẫu trong gia đình, nơi làm việc, và thành đạt trong đời sống. Người thanh niên và thiếu nữ Việt Nam nào có tham gia các phong trào Hướng đạo, Phật tử, các phong trào Công giáo hầu như về sau khi lớn lên ít phạm pháp, nhất là luật hình sự. Có thể nói các phong trào này là những nơi sinh hoạt lành mạnh nhất, làm cho họ trưởng thành hơn, có nhiều trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội. Đó cũng là những nơi hun đúc lòng yêu nước, xây dựng nền tảng gia đình và tạo nếp sống lành mạnh của các thanh thiếu niên miền Nam.

Những trao đổi trên đây chỉ mới xới lên một vấn đề rất hệ trọng mà hầu như chưa được bàn tới, từ một góc nhìn của người “ngoài cuộc”, chắc chắn còn hạn chế nhiều, chúng tôi mong rằng sẽ có thêm những ý kiến của chính các học sinh, phụ huynh, nhà giáo và các học giả.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2009, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

 

 

Đăng trong Bài của Ba Sàm, Bài của Trần Hoàng, Giáo dục | Tagged: | Leave a Comment »