BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

836. NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ?

Posted by adminbasam on 27/03/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ?

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Chủ nhật, ngày 25/3/2012

(Asian Affairs, s 4/2011)

Tóm tt: Điều quan trọng là chỉ rõ ý định thực sự của chương trình hạt nhân ca Bắc Triều Tiên đ dự đoán tư thế hạt nhân trong tương lai của nước này và can dự có hiệu quả hơn vào các cuộc đàm phán và thương lượng về hạt nhân với chính phủ nước này. Các trường hợp phổ biến vũ khí hạt nhân chủ yếu được lý giải bằng cách sử dụng ba khuôn khổ lý thuyết: mô hình an ninh, mô hình hoạt động chính trị trong nước, và mô hình biu tượng chuẩn mực. Tuy nhiên, những mô hình này có nhng thiếu sót nghiêm trọng trong việc gii thích nguyên nhân căn bản của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bài báo này xem xét tình hình chính trị và kinh tế của Bắc Triều Tiên trong các giai đoạn quyết định của cuộc khủng hong hạt nhân thứ nht và thứ hai của Bắc Triều Tiên và lập luận rằng chương trình hạt nhân của nước này có th được giải thích bằng cách sử dụng mô hình tồn tại của chế độ.

Bắc Triều Tiên thường gây sợ hãi và đe dọa các nước Đông Bắc Á và cộng đồng quốc tế bằng cách tiến hành các hành động khiêu khích liên quan đến chương trình hạt nhân của nước này. Gần đây nhất, nước này đã làm cho thế giới ngạc nhiên bằng cách mở các cơ sờ xử lý uranium vào tháng 11/2010. Sự kiện này rõ ràng cho thấy vấn đề hạt nhân của Bắc Triều là không nên xem thường.

Một trong những vấn đề “nóng bỏng” nhất về việc không phố biến vũ khí hạt nhân hiện nay là liệu Bắc Triều Tiên cuối cùng sẽ từ bỏ chương trình hạt nhân của mình hay không. Các nhà phần tích được chia thành hai nhóm: những người tin rằng Bắc Triều Tiên cuối cùng sẽ từ bỏ chương trình hạt nhân của mình, như nước này đã làm trong Thỏa thuận Khung năm 1994, và những người cho rằng nước này sẽ bám lấy tham vọng của mình trở thành một cường quốc hạt nhân thực sự. Mặc dù khó có thể trả lời câu hỏi này, cộng đồng quốc tế phải làm điều đó trước khi nó có thể giải quyết thỏa đáng vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bước đi có ý nghĩa nhất tiến tới tìm kiếm câu trả lời là xác định rõ những ý định thực sự của Bắc Triều Tiên về chương trình hạt nhân của nước này. Việc xác định nguyên nhân căn bản của chương trình này sẽ cho phép cộng đồng quốc tế dự đoán tư thế hạt nhân của Bắc Triêu Tiên và ứng phó có hiệu quả hơn với những hành động của nước này trong các cuộc đàm phán và thương lượng về hạt nhân.

Hầu hết những nghiên cứu về những ý định hạt nhân của Bắc Triều Tiên đều tập trung vào những mối đe dọa từ bên ngoài là nguyên nhân của sự phát triển hạt nhân của nước này. Trên thực tể, tất cả các nước có vũ khí hạt nhân hiện nay đều biện minh cho sự phát triển vũ khí hạt nhân của họ trên cơ sở các mối đe dọa từ bên ngoài. Mô hình an ninh vẫn là họp lý, nhưng nó có một số hạn chế về việc giải thích ý định thực sự của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Bài báo này phân tích nguyên nhân của chương trình này từ một góc độ khác: mô hình tồn tại của chế độ.

Những khuôn khổ lý thuyết để phát triển vũ khí hạt nhân và trường hp Bắc Triều Tiên

Các trường hợp phổ biến vũ khí hạt nhân chủ yếu được giải thích bằng cách sử dụng ba khuôn khổ mô hình lý thuyết: mô hình an ninh, mô hình hoạt động chính trị trong nước, và mô hình biểu tượng chuẩn mực. Mô hình đầu tiên được sử dụng thường xuyên nhất để nói rõ các mục đích của vũ khí hạt nhân và xem xét các chương trình hạt nhân từ góc độ cân nhắc về an ninh quốc gia bằng cách cho rằng các nước phát triển đầu đạn hạt nhân để tăng cường an ninh quốc gia của họ chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài. Tuy nhiên, vũ khí hạt nhân có thể phục vụ cho các mục tiêu khác hơn là an ninh quốc gia. Hai mô hình kia tập trung vào điểm này. Mô hình hoạt động chính trị trong nước coi vũ khí hạt nhân là công cụ chính trị có thể được sử dụng để tăng cường vị thế hoặc lợi ích của các bên tham gia chính trị. Theo đường hướng này, các mối đe dọa từ bên ngoài được lý giải trong bối cảnh chính trị trong nước và do đó có thể tăng hoặc giảm để ứng phó với các hoạt động trong nước. Mô hình biểu tượng/chuẩn mực coi các khả năng về hạt nhân là biểu tượng tiềm tàng của sự hiện đại và thừa nhận rằng sự kiềm chế phát triên vũ khí hạt nhân có thể được coi là một dấu hiệu có ý nghĩa cho thấy một quốc gia sẵn sàng tuân theo các chuẩn mực quốc tế. Ngoài 3 khuôn khổ này, mô hình đòn bẩy công nhận vũ khí hạt nhân hoạt động như những con bài mặc cả để làm tăng tác dụng đòn bẩy quốc tế của một quốc gia.

Về ý định hạt nhân của Bắc Triều Tiên, các nhà phân tích đã nhiều lần nhấn mạnh các mối đe dọa quốc tế là nguyên nhân chủ yếu của chương trình hạt nhân của nước này. Sagan, giáo sư về Khoa học Chính trị thuộc trường Đại học Standford, lập luận rằng Bắc Triều Tiên và Irắc là hai ví dụ tiêu biểu nhất về động cơ đe dọa buộc phải tấn công, trái với Ixraen và Pakixtan, hai nước chế tạo vũ khí hạt nhân để ứng phó mang tính bảo vệ đối với các mối đe dọa an ninh thông thường. Kang, giáo sư về Quan hệ và Thương mại Quốc tế trường Đại học Southern California, cho rằng Bắc Triều Tiên đã tìm cách ngăn chặn các mối đe dọa của Mỹ, và rằng chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên được nhằm thể hiện một sự răn đe mạnh mẽ. Shen, giáo sư về Quan hệ Quốc tế trường Đại học Phúc Đán, lập luận rằng Bắc Triều Tiên đã trở nên lo ngại hơn về an ninh của mình với việc kết thúc Chiến tranh Lạnh và nghi ngờ cam kết của Trung Quốc về phòng thủ song phương như đã được đưa ra bởi Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Giúp đỡ lẫn nhau năm 1961, cam kết hai bên nỗ lực tối đa, như viện trợ quân sự, nếu bên kia bị tấn công. Platkovskiy, nhà báo Nga, cũng lập luận về mô hình an ninh, đã dẫn bình luận của cựu Bộ trưởng Ngoại giao Bắc Triều Tiên Kim Young-nam trong các cuộc đàm phán với người đồng chức Nga Eduard Shevardnadze năm 1991. Ông Kim Young-nam nói rằng Bắc Triều Tiên sẽ tự do phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt nếu Liên Xô quyết định phản bội họ. Hymans, phó giáo sư trường Đại học Southern California, nhận xét rằng Bắc Triều Tiên đã tìm cách có được vũ khí hạt nhân vì những lý do có liên quan đến lòng tự hào và chủ nghĩa dân tộc đối lập. Theo lý luận này, Bắc Triều Tiên muốn có bom hạt nhân từ lâu trước khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nhưng sự kết thúc cuộc chiến tranh này dẫn đến việc mất sự bảo trợ của Liên Xô và các đồng minh cộng sản khác ở Đông Âu. Do đó, quyết tâm của Bắc Triều Tiên có được khả năng hạt nhân có thế được giải thích rõ ràng bởi mô hình biểu tượng hơn là mô hình an ninh.

Goldstein, công tác tại Bộ Ngoại giao Mỹ từ năm 1994-1996, ông đã tham gia các cuộc đàm phán Mỹ – Bắc Triều Tiên về vấn đề hạt nhân, cho rằng mục đích của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên là đưa Oasinhtơn trở lại bàn thương lượng. Ông chỉ rõ rằng Bình Nhưỡng đe dọa chính quyền Oasinhtơn bằng cách rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 1993 và buộc phải tiến hành các cuộc đàm phán cấp cao Bắc Triều Tiên – Mỹ, và còn buộc chính quyền Bush phải tiến hành các cuộc đàm phán 6 bên một cách nghiêm chỉnh hơn bằng cách cho nổ một vũ khí hạt nhân vào năm 2006. Một số nhả quan sát nhận thấy một cơ sở đa mục đích đối với chương trinh hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Moore, phó giáo sư Mỹ nghiên cứu về quan hệ quốc tế và vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên, cho rằng Kim Châng In tìm cách có được vũ khí hạt nhân để đạt được 3 mục tiêu: đòi hỏi sự chú ý của Mỹ, giành được con bài mặc cả với Mỹ, và đạt được sự răn đe mạnh mẽ chống lại sự hiếu chiến của Mỹ. Phù hợp vói Moore, Mack, chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế thuộc trường Đại học Quốc gia – Ôxtrâylia, lập luận rằng Bình Nhưỡg coi bom hạt nhân là một phương tiện cân bằng chiến lược trong cuộc cạnh tranh quân sự với Xơun, một sự răn đe đối trọng chống lại các mối đe dọa của Mỹ, và một đòn bẩy mặc cả trong các mối quan hệ của nước này với Mỹ và Hàn Quốc. Ông cũng chỉ rõ rằng chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên nhằm sản xuất một số vũ khí mà nước này trước đây thường nhận được từ Liên Xô để tăng cường vị thế quốc tế của mình, tăng cường tư tưởng chủ thể (tự lực), và bảo vệ mình chống lại sự trả đũa của Hàn Quốc đối với các hoạt động khiêu khích của nước này.

Bất chấp nhiều nghiên cứu từ những quan điểm khác nhau này, một số nghiên cứu về mục đích hạt nhân của Bắc Triều Tiên đã ứng dụng mô hình sự tồn tại của chế độ, chỉ rõ mục đích của Bình Nhưỡng là duy trì chế độ như một nguyên nhân của chương trình hạt nhân của nước này. Mô hình này phát triển từ sụ chú trọng của Bình Nhưỡng đến quyền tự vệ, và việc họ sử dụng chương trình vũ khí hạt nhân như một công cụ để tháo ngòi nổ cho các mối đe dọa của Mỹ. Tuy nhiên, các mục đích đã được tuyên bố của các quan chức Bắc Triều Tiên về việc duy trì an ninh quốc gia chỉ là một phần trong các mục tiêu của nước này. Tình hình kinh tế và chính trị trong nước của Bắc Triều Tiên cũng lả cơ sở để Bắc Triều Tiên bày tỏ những lo ngại về an ninh của họ. Một cuộc điều tra kỹ lưỡng về tình hình trong nước vào các thời kỳ quyết định trong quá trình phát triển chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên sẽ cho thấy lợi ích hẹp hòi của chế độ Bình Nhưỡng, có nghĩa là sự tồn tại của chính chế độ này, là nguyên nhân căn bản của việc vạch quyết định về hạt nhân.

Sự phát triển hạt nhân và các nhân tố trong nước của Bắc Triều Tiên

Cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên và nạn đói khủng khiếp ca Bắc Triều Tiên

Bắc Triều Tiên bắt đầu chương trình hạt nhân của mình bằng cách ký một thỏa thuận hợp tác hạt nhân với Liên Xô năm 1959, nhằm phát triển công nghệ năng lượng hạt nhân, và sau đó xây dựng tổ hợp hạt nhân Yongbyon năm 1962. Nước này tuyên bố khởi động chương trình vũ khí hạt nhân năm 1983 bằng cách tiến hành các vụ nổ có sức công phá cao mang tính thử nghiệm. Trong Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao động Triều Tiên đã cử Kim Châng In là người kế nhiệm cha mình là Kim Nhật Thành bằng cách cử ông làm ủy viên Ban thường vụ Bộ Chính trị. Bình Nhưỡng cần thắt chặt sự đoàn kết dân chúng để làm cho con đường kế nhiệm quyền lực trở nên suôn sẻ, và Kim Châng In cần được sự ủng hộ của giới quân sự. Việc đưa ra chương trình vũ khí hạt nhân có thể phục vụ tốt nhất cho mục tiêu đoàn kết này. Theo Kim Jung-min, cựu quan chức cao cấp của Đảng Lao động Triều Tiên, chính phủ Bắc Triều Tiên đã gia tăng mạnh mẽ các nguồn tài lực mà nước này dành cho tổ hợp hạt nhân Yongbyon ngay sau Đại hội 6.

Từ năm 1989 đến 1991, Bắc Triều Tiên được cho là đã chiết xuất được 10kg plutonium từ lò phản ứng nghiên cứu của nước này ở Yongbyon thông qua quá trình tái chế các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng. Các hoạt động đó dẫn đến cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên của Bắc Triều Tiên vào năm 1993-1994. Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Xô năm 1985 và đã thực hiện một chính sách cải cách kinh tế và chính trị và cải thiện các mối quan hệ với Mỹ. Sự thay đổi chính sách này đã gây phương hại cho nền kinh tế cua Bắc Triều Tiên, vốn đã phụ thuộc quá nhiều vào các đồng minh cộng sản, và góp phần vào thất bại của kế hoạch kinh tế 7 năm lần thứ hai (1978-1984). Theo Natalia Bazhanova, thành viên nghiên cứu cao cấp thuộc Viện nghiên cứu phương Đông thuộc Viện Khoa học Nga, tỉ lệ tăng trưởng kinh tế của Bắc Triều Tiên không quá 2% vào năm 1980, 1982, 1984, và 1985 do thiếu các nguồn nguyên liệu. Nước này khởi xướng Luật Quản lý Công ty Liên doanh năm 1984 để kiếm lợi nhuận bằng cách kết hợp quản lý công ty với công nghệ và vốn nước ngoài. Bình Nhưỡng dự định vượt qua thời kỳ khó khăn này bàng cách thu hút vốn nước ngoài nhưng không thể đạt được mục đích này.

Bắc Triều Tiên tiếp tục chịu đựng sự suy thoái kinh tế vào cuối những năm 1980. Theo đúng kiểu cải cách kinh tế và chính trị của Liên Xô, Trung Quốc đã đối mặt với những đòi hỏi mạnh mẽ về dân chủ từ dân chúng vào năm 1986 – 1987. Theo dõi chặt chẽ tình hình này, Bắc Triều Tiên tìm cách ngăn chặn những đòi hỏi tương tự từ người dân của nước này. Kim Châng In đã thông qua một cương lĩnh rằng những người theo chủ nghĩa xã hội cần phát triển một cách sáng tạo học thuyết và chiến lược cách mạng của họ, vì những người theo chủ nghĩa tư bản cố gắng hết sức để mở rộng tư tưởng riêng của họ. Liên Xô đã chấm dứt viện trợ cho Bắc Triều Tiên vào năm 1987, buộc nước này phải cắt giảm khẩu phần ngũ cốc hàng ngày khoảng 10%, sau đó giảm thêm 10% nữa vào năm 1992. Nền kinh tế của Bắc Triều Tiên đã suy sụp nghiêm trọng đến mức chính phủ đã khởi xướng cuộc vận động “ăn hai bữa một ngày” vào năm 1987 và ngừng tất cả công trình xây dựng mới vào năm 1989. Việc Bình Nhưỡng quyết định tái chế plutonium năm 1989 phản ánh tình hình này. Để ngăn chặn người dân từ bỏ chế độ, Bắc Triều Tiên có lẽ đã quyết định nỗ lực xây dựng sức mạnh quân sự của mình.

Trong vòng xoáy của trật tự quốc tế đang thay đối, Bình Nhưỡng đã mất các đổi tác thương mại của mình (Liên Xô và các nước cộng sản ở Đông Âu), Kim ngạch thương mại của Bắc Triều Tiên với Liên Xô đã giảm từ 55,3% tổng kim ngạch thương mại của nước này xuống chỉ còn 10,2% trong giai đoạn 2 năm 1990 – 1991. Hơn nữa, Liên Xô yêu cầu Bắc Triều Tiên thanh toán buôn bán bằng đồng tiền mạnh năm 1991. Do tất cả các nhân tố này, nền kinh tế của Bắc Triều Tiên gần như đi đến chỗ suy sụp vào đầu những năm 1990, và dẫn đến nạn đói khủng khiếp đã cướp đi sinh mạng của một triệu người vào những năm 1990. Tình hình này đã phá vỡ kế hoạch kinh tế và các hệ thống phân phối lương thực của chính phủ, mà đã hoạt động như những công cụ then chốt để kiểm soát xã hội. Các thị trường nổi lên tự phát, và chế độ giám sát – nhờ nó mà Bắc Triều Tiên được biết đến – đã ngừng hoạt động một cách bình thường. Do đó Bắc Triều Tiên đã xem xét lại hiến pháp năm 1992 để tách ủy ban Quốc phòng ra khỏi ủy ban Nhân dân Trung ương và trao cho ủy ban này.quyên lãnh đạo tối cao về quân sự. Việc xem xét lại hiến pháp nhằm làm cho giới quân sự trở nên hùng mạnh hơn.

Cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên của Bắc Triều Tiên đã phát triển từ tình hình bi đát chưa từng thấy này. Nạn đói bất đầu xuất hiện vào năm 1993. Bắc Triều Tiên tuyên bố “tình trạng nửa chiến tranh”-chống phương Tây vào ngày 8/3/1993, từ chối tuân thủ yêu cầu của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) về việc tiến hành các cuộc thanh tra đặc biệt hai địa điểm chưa được đăng ký bị tình nghi là nơi đổ chất thải hạt nhân. Nước này tuyên bố rút khỏi NPT vào ngày 12/3/1993. Chế độ này đã có đầy đủ lý do để gây căng thẳng quốc tế, vì điều này làm tăng thêm sự đoàn kết dân tộc và chuyển hướng sự chú ý khỏi tình trạng suy sụp kinh tế nghiêm trọng của nước này. Ngày 5/4/1993, Kim Nhật Thành tuyên bố: “Chúng ta sẽ chống lại sức ép của Mỹ và trả đũa nếu họ tấn công đất nước chúng ta”. Đối với nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên này, khủng hoảng hạt nhân và xung đột với Mỹ chưa bao giờ là lựa chọn tồi tệ và có thế có hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại của chế độ này trước sự suy giảm kinh tế. Khi Bình Nhưỡng bắt đầu tách được các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng từ lò phản ứng 5 megawatt của họ vào tháng 5/1994, nạn đói đã đạt đến tình trạng gần như rộng khắp, với sản lượng ngũ cốc thấp hơn 20% mức trung bình năm 1989-1992. Khẩu phần lương thực trung bình hàng ngày giảm từ 600 đến 700 gam xuống còn 150 gam mỗi người mỗi ngày đối với hầu hết người dân thành thị và từ 700 đến 800 gam đối với các quan chức câp cao, nhân viên quân sự và những người lao động nặng nhọc. Chính phủ đã tìm cách chuyển hướng sự chú ý của dân chúng từ tình hình kinh tế khó khăn sang lập trường toàn cầu mạnh mẽ của nước này đối với Mỹ và IAEA.

Thậm chí trong những điều kiện này, Bắc Triều Tiên đã tìm cách quy cho việc phát triển hạt nhân của mình là do chính sách thù địch của Mỹ đối với Bình Nhưỡng và chính sách hạt nhân của Mỹ đã bố trí đầu đạn hạt nhân ở Hàn Quốc. Kim-Châng In thậm chí đà quy cho tình trạng thiếu lương thực trực tiếp là do Mỹ, cho rằng nạn đói bắt nguồn từ các biện pháp trừng phạt kinh tế và các mối đe dọa quân sự của Mỹ. Tuy nhiên, vũ khí hạt nhân chiến thuật mà Mỹ đã bố trí trên đất Hàn Quốc đã được đưa về Mỹ năm 1991, và chính quyền Clinton đã khởi xướng một chính sách can dự đối với Bắc Triều Tiên. Cái cớ của nước này về các hoạt động hạt nhân do đó là không hợp lý.

Cuộc khủng hoảng hạt nhân thứ nhất của Bắc Triều Tiên đã được giải quyết bởi quyết định của phương Tây nhằm mang lại cho Bình Nhưỡng những gì mà nước này hết sức cần – tức là, viện trợ kinh tế mạnh mẽ thông qua các cuộc đàm phán cấp cao với Mỹ, bãi bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế, và cung cấp hai lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ và dầu nặng. Những vấn đề có nghĩa nhất nhất ở Bắc Triều Tiên vào đầu những năm 1990 là suy thoái kinh tế và hậu quả là khủng hoảng chế độ. Chương trình hạt nhân thường được coi là công cụ để làm chuyển hướng sự chú ý khỏi các vấn đề kình tế.

Cuộc khủng hong hạt nhân th hai của Bắc Triều Tiên và các biện pháp cải thiện kinh tế (EIM)

Bắc Triều Tiên đã tỏ thái độ mạnh mẽ đối với Mỹ khi trợ lý ngoại trưởng James Kelly đến thăm Bình Nhưỡng vào tháng 10/2002, đồng thời tuyên bố rằng nước này có quyền sở hữu không chỉ uranium làm giàu ở mức độ cao (HEU), mà còn bất cứ loại, vũ khí nào mạnh hơn thế. Oasinhtơn coi phản ứng này là lời thú nhận về sự tồn tại của chương trình hạt nhân. Phản ứng mạnh mẽ của Bắc Triều Tiên, là sự phản ứng đối với chính sách theo đường lối cứng rắn của chính quyền Bush, do đó gây ra cuộc khủng hoảng hạt nhân thứ hai của Bắc Triều Tiên.

Tuy nhiên, phản ứng này cũng có một ý nghĩa thứ hai, gửi một thông điệp tới nhân dân Bắc Triều Tiên rằng chính phủ muốn làm gia tăng căng thẳng trong xã hội để xua tan không khí tự do lan tràn sau khi thông qua các Biện pháp Cải thiện Kinh tế (EIM), điều cho phép tự chủ hơn trong, sản xuất và quan lý. EIM mở rộng khoảng cách giữa người nghèo và người giàu. Những người cho những người khác vay tiền hoặc gạo có thể tích lũy tiền bằng cách thu lãi suất cao.

Cuộc khủng hoảng bản thân nó, có lẽ, được bắt đầu do sức ép quá mức của Mỹ đối với Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, chế độ Bắc Triều Tiên cũng nắm bắt cơ hội để đánh đi một thông điệp mạnh mẽ cho xã hội của chính mình, mà nó cho là đang trở nên buông lỏng rất nhiều trong bầu không khí tự do đang phát triển. Chưa rõ phản ứng của Bắc Triều Tiên có phải là một lời thú nhận về sự tồn tại của chương trình HEU hay không. Tuy nhiên, phản ứng mạnh mẽ của Bắc Triều Tiên đối với Mỹ dường như được nhằm ám chỉ rằng nước này có thể đi đến sở hữu vũ khí hạt nhân, và nhằm chỉ rõ ràng thính giả được mong muốn của nước này là chính công dân nước này.

Vụ thử hạt nhân đầu tiên và cnh khốn đn của chế độ Kim

Vào thời điểm diễn ra vụ thử hạt nhân đầu tiên của Bắc Triều Tiên tháng 10/2006, Bắc Triều Tiên lâm vào tình trạng thiếu đồng tiền mạnh. Nước này đã và đang đối mặt với các biện pháp trừng phạt tài chính nghiêm khắc, đặc biệt khi nước này không còn tiếp cận được với ngân quỹ trị giá 25 triệu USD được gửi ở ngân hàng Banco Delta Asia có trụ sở ở Macao sau khi chính phủ Mỹ cáo buộc Bình Nhưỡng can dự vào việc rửa tiền và phát tán đôla giả và áp đặt các biện pháp trừng phạt vào ngày 16/9/2005. Đồng tiền mạnh được gửi ngân hàng trên nghe nói là của Kim Châng In. Phó Đại sứ Bắc Triều Tiên tại Liên Hợp Quốc Han Song-ryol tỏ dấu hiệu cho thấy Bắc Triêu Tiên sẽ trở lại các cuộc đàm phán 6 bên nếu Mỹ giải tỏa các ngân quỹ này. Thông qua các cuộc đàm phán 6 bên, Bình Nhưỡng và Oasinhtơn đã đồng ý vào ngày 19/9/2005 bãi bỏ chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên, bình thường hỏa quan hệ ngoại giao của họ, và cung cấp viện trợ kinh tế cho Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, thỏa thuận này không tiến triển vì các biện pháp trừng phạt tài chính. Chế độ Bắc Triều Tiên đã chịu cảnh thiếu nghiêm trọng đồng tiền mạnh, vì các biện pháp trừng phạt tài chính đã ảnh hưởng đến việc buôn bán của Bắc Triều Tiên về vũ khí và ma túy. Thậm chí Bình Nhưỡng đã tiết lộ vụ tai nạn giao thông lớn liên quan đến tàu hỏa và máy bay lên thẳng và đòi bảo hiểm từ một công ty của Anh. Một hành động như vậy là khác thường đối với đất nước ẩn dật này, mà trước đây luôn tìm cách che giấu cộng đồng quốc tế bất cứ thảm họa thiên nhiên và các tai nạn lớn nào.

Bình Nhưỡng đã cố gắng nhưng thất bại trong việc khôi phục chế, độ phân phối công (PDS) vào tháng 10/2005 vì các địa điểm PDS không thể đáp ứng được các mục tiêu. Bắc Triều Tiên cũng chịu nạn lụt nghiêm trọng ở các vùng trồng ngũ cốc phía Tây Nam vào tháng 7/2006, làm tăng giá ngũ cốc 37% trong khoảng thời gian từ tháng 7-9/2006. Hơn nữa, Hàn Quốc đã hạn chế vận chuyển lương thực và phân bón cho nước này sau khi chính phủ Bắc Triều Tiên tiến hành vụ thử tên lửa vào tháng 7/2006.

Trong những hoàn cảnh này, chế độ Bắc Triều Tiên tìm cách tăng cường khả năng của mình bằng cách đẩy mạnh tư tưởng chủ thể thông qua việc theo đuổi vị thế cường quốc hạt nhân. Sau vụ thử tên lửa tháng 7/2006. Bắc Triều Tiên tuyên bố rằng “chúng ta tiến hành vụ thử này với 100% sự hiểu biết và công nghệ của chúng ta”, và nói thêm rằng “vụ thử này là một sự kiện lịch sử khuyến khích và làm cho các binh lính và nhân dân ta vui mừng, mong muốn có những khả năng tự vệ mạnh mẽ”.

Ba bên tham gia đóng vai trò có ý nghĩa trong các trường hợp phổ biến vũ khí hạt nhân; cơ sở năng lượng hạt nhân, giới quân sự, và giới chính trị gia. Nếu các liên minh được thành lập một cách có hiệu quả giữa ba bên tham gia này thì các chương trình vũ khí hạt nhân có xu hướng thành công, ở Bắc Triều Tiên ban lãnh đạo chính trị đã chủ động và thành lập một liên minh với giới quân sự. Ngay sau vụ thư hạt nhân, tờ Nodong Sinmun, cơ quan ngôn luận của Đang Lao động Triều Tiên, nhấn mạnh rằng “quân đội là lực lượng bảo vệ mạnh mẽ đảng và nhà lãnh đạo”. Chế độ Kim Châng In trong lịch sử đã chú trọng và duy trì quân đội, đổi lại quân đội đã ủng hộ hết lòng chế độ này. Việc phát triển chương trình hạt nhân là có lợi để tăng cường sự bên vững của chế độ Kim, đồng thời củng cố vị thế của giới quân sự. Giới tinh hoa quân sự của Bắc Triều Tiên dường như ủng hộ việc sản xuất đầu đạn hạt nhân, điều không có gì ngạc nhiên, do hầu hết vũ khí của nước này đã lỗi thời trước những khả năng quân sự ưu việt hơn của Hàn Quốc.

Vụ thử hạt nhân thứ hai và việc kế nhiệm quyn lực

Tháng 4/2009, Kim Châng In đã bổ nhiệm con trai út của ông là Kim Jong-un làm thanh tra ủy ban Quốc phòng, cơ quan có quyền lãnh đạo tối cao ở nước này. Việc bổ nhiệm này diễn ra sau khi Kim Châng In bị đột quỵ vào tháng 8/2008 và do đó đã được coi là một bước tiến đưa Kim Jong-un lên kế nhiệm cha. Vào thời điểm quyết định này, chế độ của ông Kim cần đến một tình hình khủng hoảng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kế nhiệm quyền lực. Trong tình hình khủng hoảng trước đó vào tháng 3-4/1993 khi Bắc Triều Tiên tuyên bố “tình trạng nửa chiến tranh” sau cuộc xung đột với IAEA và Mỹ và việc rút khỏi NPT, Kim Châng In đã kế nhiệm cha mình làm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng.

Sinh năm 1982, Kim Jong-un thiếu một sự nghiệp đầy đủ và quá trẻ đến mức chưa đảm nhận được cương vị lãnh đạo cao nhất của Bắc Triều Tiên. Do đó cần có những điều kiện đặc biệt để tăng cường sự đoàn kêt dân tộc và do đó làm cho việc kế nhiệm quyền lực của gia đình ông Kim trở nên sẵn sàng được chấp nhận hơn đối với dân chúng Bắc Triều Tiên. Tình trạng thiếu lương thực lên đến mức nghiêm trọng nhất vào năm 2008 kể từ nạn đói khủng khiếp vào giữa những năm 1990. Đối mặt với thời khắc quyết định này, tháng 10/2008, Chính phủ Bắc Triều Tiên đã yêu cầu tất cả các chợ cố định chỉ được mở cửa 10 ngày một lần và tìm cách kiểm soát giá cả. Việc kiểm soát thị trường được tăng cường, dẫn đến lệnh cấm buôn bán các sản phẩm nước ngoài vào đầu năm 2009. Vụ thử hạt nhân thứ hai của Bắc Triều Tiên dường như nảy sinh từ các môi trường chính trị và kinh tế này. Sau vụ thử một thiết bị hạt nhân ngầm tháng 5/2009, Bình Nhưỡng tuyến bố rằng vụ thử này đóng góp cho việc duy trì độc lập và chú nghĩa xã hội của BắcTriều Tiên. Vụ thử hạt nhân thứ hai này nhằm tăng cường ý thức dân tộc về độc lập sao cho chính phủ có thể tăng cường sự đoàn kết dân tộc, có lợi cho kế nhiệm lãnh đạo.

Việc bắt hai nhà báo Mỹ vào tháng 3/2009 có thể được hiểu trong khuôn khổ sự căng thẳng và an ninh chế độ. Bắc Triều Tiên coi việc rời bỏ đất nước là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với chế độ của ông Kim. Các nhà báo đã chụp ảnh đường biên giới Bắc Triều Tiên — Trung Quốc để đưa tin về những người rời bỏ Bắc Triều Tiên. Việc họ bị bắt và kết án 12 năm cải tạo lao động trong một trại giam là một dấu hiệu cho thấy những lo ngại của Bình Nhưỡng về tình trạng rời bỏ đất nước và mối đe dọa của nó đối với sự tồn tại của chế độ. Những hành động này được nhằm gây căng thẳng với Mỹ và, cùng với việc thử hạt nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho sự kế nhiệm lãnh đạo.

Nguyên nhân căn bản của chương trình hạt nhân của Bắc Triều Tiên

Mặc dù Bắc Triều Tiên đã cho rằng những tham vọng hạt nhân của nước này là do mối đe dọa từ bên ngoài, những nguyên nhân trong nước là trung tâm của sự phát triển hạt nhân của chế độ này. Những nguyên nhân này bao gồm các vấn đề phức tạp trong nước như tình trạng khốn đốn về kinh tế và sự kế nhiệm quyền lực. Các hoạt động hạt nhân cua Bắc Triều Tiên được nhằm tăng cường sự đoàn kết dân chúng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát trong nước. Nói cách khác, Bắc Triều Tiên đã theo đuổi một chính sách về sự tồn tại của chế độ thông qua chương trình hạt nhân.

Sự thất bại về kinh tế và sự kế nhiệm lãnh đạo là nền tảng cho các hoạt động hạt nhân của nước này. Bình Nhưỡng đã thành công trong việc chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào đầu những năm 1980 và đã bắt đầu một nồ lực kế nhiệm nữa (từ Kim Châng In sang con trai Kim Jong-un) vào đầu nắm 2009. Bắc Triều Tiên cần tạo ra một bầu không khí thích hợp cho việc kế nhiệm, và sự phát triển hạt nhân đường như đã được tiến hành để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao quyền lực này.

Tương tự, sự thất bại về kinh tế có khả năng dẫn đến sự sụp đổ của chế độ. Bắc Triều Tiên chịu đựng nhiều khó khăn từ nền kinh tế thất bại, và ban lãnh đạo của nước này lâu nay đã lo ngại về sự diệt vong của chế độ như một hậu quả của sự thất bại này. Cuộc khủng hoảng hạt nhân đầu tiên của Bắe Triều Tiên vào đầu những năm 1990 và vụ thử hạt nhân đầu tiên năm 2006 đều xuất phát từ những nguyên nhân kinh tế. Tuy nhiên, sự sụp đổ của chế độ cũng có thể đã được ngăn chặn theo cách khác – đó là cải cách kinh tế. Bình Nhưỡng cân nhắc việc mở cửa các thị trường của mình để tồn tại. EIM năm 2002 được coi là một nỗ lực như vậy. Tuy nhiên, Kim Châng In lo ngại rằng một quá trình như vậy có thể hủy diệt chế độ.

Để củng cố sự kiểm soát trong nước và đảm bảo an ninh chế độ. Bắc Triều Tiên đã nhấn mạnh chính sách songun (quân sự là đầu tiên) từ năm 1998. Chính sách này đã dốc toàn bộ các nguồn tài lực cho quân sự. Kim Châng In đã tuyên bố rằng việc tăng cường quân sự là quan trọng hơn phát triển kinh tế, và vũ khí mạnh sẽ làm cho đất nước hùng mạnh. Ông khởi xướng chính sách này để duy trì chế độ của mình trong cơn lốc suy sụp kinh tế vào những năm 1990. Kết quả của chính sách này là tăng cường quân sự thông qua các biện pháp như phát triển hạt nhân. Chế độ của Kim Châng In cũng đã tuyên bố ý định của mình là xây dựng một đất nước giàu mạnh vào năm 2012. Mục đích của chiến lược này là nâng cao vị thế của Bắc Triều Tiên về cả quân sự lẫn kinh tế. Chương trình vũ khí hạt nhân có thể góp phần hoàn thành mục tiêu này. Nói tóm lại, Kim Châng In đã nhấn mạnh rằng quân sự là thành phần quan trọng nhất trong các công việc quốc gia, và rằng ngành công nghiệp quốc phòng là đường huyết mạch để xây dựng một đất nước giàu mạnh. Nói tóm lại, nền kinh tế tiếp tục suy sụp, chế độ suy yếu, và việc cần thiết phải hỗ trợ cho sự tồn tại của chế độ đã khiến cho Bắc Triều Tiên phát triển chương trình vũ khí hạt nhân của mình.

Ch trích sự lý giải an ninh

Khi Hecker, thành viên cao cấp Viện Nghiên cứu Quốc tế Freeman Spogly thuộc trường Đại học Stanford, đã phỏng vấn các quan chức Bắc Triều Tiên ở Bình Nhưỡng ba tuần sau vụ thử hạt nhân đầu tiên năm 2006, họ nhấn mạnh rằng sự phát triển hạt nhân họ là do sức ép chính trị của Mỹ và được nhằm ngăn chặn Mỹ. Những nghiên cứu dựa trên mô hình an ninh hỗ trợ cho lý giải này. Tuy nhiên, có những kẽ hở trong lập luận của họ. Thứ nhất, Bắc Triều Tiên đã bày tỏ sự lo ngại về mối đe dọa hạt nhân của Mỹ từ đầu những năm 1950. Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Kim Nhật Thành đã nói: “Mặc dù Mỹ đang đe đọa đất nước ta bằng bom hạt nhân, điều đó không ảnh hưởng đến ý chí chống Mỹ của nhân dân ta để giành tự do và độc lập. Tuyên bố này cho thấy nỗi lo ngại sâu sắc và lâu dài của Bắc Triều Tiên về việc Mỹ có khả năng sử đụng bom hạt nhân đối với Bắc Triều Tiên. Bắc Triều Tiên cũng coi chiếc ô hạt nhân của Mỹ bảo vệ Hàn Quốc là một bằng chứng về mối đe dọa hạt nhân. Tuy nhiên, vụ thử hạt nhân đầu tiên của Bắc Triều Tiên đã được tiến hành năm 2006. Nếu nỗi lo ngại của Bắc Triều Tiên về mối đe dọa hạt nhân của Mỹ là rất nghiêm trọng, thì nước này đã có các đầu đạn hạt nhân từ trước đó lâu rồi. Ngoài ra, chiếc ô hạt nhân không phải là một chiến lược tấn công mà là phòng thủ, trong đó nó đề cập đến sự đảm bảo của một nước có vũ khí hạt nhân bảo vệ một nước không có vũ khí hạt nhân. Do đó, sự lo ngại này không phải là bằng chứng thích hợp về mối đe dọa hạt nhân.

Thứ hai, năm 2002, Bắc Triều Tiên cho rằng Đánh giá Tư thế Hạt nhân (NPR) năm 2001 và Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm 2002 là một bằng chứng rõ ràng về mối đe dọa của Mỹ, khi những hành động này chưa được thực hiện trong trường hợp Bắc Triều Tiên có thể trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với Mỹ. NPR cho thấy rằng các lực lượng hạt nhân có thể được sử dụng cho các cuộc tấn công của Mỹ vào Bắc Triều Tiên bằng tuyên bố rằng Bắc Triều Tiên, Irắc, Iran, Xyri, và Libi là các nước có thể dính líu đến những sự việc bất ngờ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với việc vạch kế hoạch của Mỹ, trong đó có các kế hoạch về các lực lượng hạt nhân. NSS thừa nhận khả năng xảy ra một cuộc tấn. công chặn trước bằng tuyên bố: “Để báo trước hoặc ngăn chặn những hành động thù địch như vậy của các kẻ thù của chúng ta, Mỹ sẽ, nếu cần, hành động ngăn chặn trước”. Tuy nhiên, nếu Bình Nhưỡng xúc tiến bước vào đối thoại với cộng đồng quốc tế, các chiến lược được hoạch định trong NPT và NSS sẽ không được thực hiện, Bắc Triều Tiên cũng chỉ rõ các bài phát biểu về “trục ma quỷ” của George W. Bush tháng 1/2002 và “tiền đồn chuyên chế” của Condoleezza Rice tháng 1/2005 là bằng chứng về chính sách thù địch của Mỹ. Tuy nhiên, ít người tin rằng Mỹ sẽ tấn công Bình Nhường. Mỹ đã đạt được tiến bộ trong các cuộc thương lượng với Bắc Triều Tiên vào nửa cuối năm 2005, đạt được một thoa thuận vào tháng 9/2005 bao gồm việc phi hạt nhân hóa Bắc Triều Tiên đổi lấy sự giúp đỡ kinh tế và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Oasinhtơn và Tokvo.

Thứ ba, các nhà phân tích sử dụng mô hình an ninh đã nhận xét rằng Bắc Triều Tiên đã cảm thấy bị đe dọa nghiêm trọng bởi những hoàn cảnh bên ngoài và bị thúc đẩy mạnh mẽ để phát triển vũ khí hạt nhân vào cuối những năm 1980. Tuy nhiên, nghiên cứu lịch sử cho thấy Bắc Triều Tiên đã quan tâm đến bom hạt nhân vào đầu những năm 1960. Việc xem xét kỹ lưỡng những tuyên bố của chính phủ cho thấy những lo sợ thực sự của Bắc Triều Tiên tập trung vào việc chế độ suy yếu hay sụp đổ, chứ không phải những mối đe dọa từ bên ngoài. Vào thời điểm sụp đổ của các chế độ cộng sản khắp Đông Âu, Kim Nhật Thành đã nhấn mạnh sự bền vững của chế độ Bắc Triều Tiên, đồng thời nhấn mạnh sự khác biệt của chế độ này với các chính phủ Liên Xô và Đông Âu là do nền tảng của tư tưởng chủ th. Đặc biệt, Kim Nhật Thành lập luận rằng chế độ của ông dựa trên sự ủng hộ thống nhất của Đảng Lao động Triều Tiên và nhân dân Bắc Triều Tiên. Trong phạm vi gần hơn, Kim Nhật Thành coi đường lối chính sách ngoại giao chính trị hướng Bắc của Hàn Quốc được thực hiện vào đầu những năm 1990 là một nỗ lực nhằm đồng hóa Bình Nhưỡng và nói rằng chính sách này không thể có hiệu quả, vì chế độ của ông được sự ủng hộ của ngưởi dân Bắc Triều Tiên. Những tuyên bố đó cho thấy sự lo ngại sâu sắc của nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên về sự tồn tại của chế độ của ông khi các chế độ cộng sản khác sụp đổ vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990.

Kết luận: Nhng tác động đối với đưng hướng phi hạt nhân hóa

Bắc Triều Tiên đã phản ứng mạnh mẽ đối với NPR của chính quyền Obama, trong đó Bắc Triều Tiên và Iran là hai mục tiêu tấn công hạt nhân tiềm tàng. Tỏ thái độ phản ứng, nước này tuyên bố rằng sẽ gia tăng và hiện đại hóa vũ khí hạt nhân của mình chừng nào mối đe dọa hạt nhân của Mỹ còn tồn tại. Làm cho các vấn đề này trở nên tồi tệ hơn, nền kinh tế đang suy sụp của Bắc Triều Tiên có thể thúc đẩy thêm các hoạt động phổ biến vũ khí hạt nhân.

Trong nhiều thập kỷ qua, mục đích của Bình Nhưỡng là mở rộng chủ nghĩa xã hội trên toàn bán đảo Triều Tiên, nhưng mục tiêu này đã trở nên lu mờ trong nạn đói vào những năm 1990. Bắc Triều Tiên phải giới hạn sự chú trọng của mình vào việc dồn các nguồn tài lực cho việc đảm bảo sự tồn tại của chế độ. Nỗ lực của Bình Nhưỡng để có được bom hạt nhân có thể cũng được quy cho việc nước này tập trung vào sự tồn tại của chế độ. Do đó, các chiến lược quốc tế nhằm phi hạt nhân hóa Bắc Triều Tiên cần tập trung vào các biện pháp sẽ đáp ứng các nhu cầu trong nước của nước này. Việc cung cấp viện trợ kinh tế để thúc đẩy các ngành công nghiệp của Bắc Triều Tiên sẽ là một trong những lựa chọn hợp lý nhất, vì những lo ngại của nước này về an ninh chế độ chủ yếu xuất phát từ sự suy sụp kinh tế của nước này. Hoặc các cuộc đàm phán 6 bên hoặc các cuộc đối thoại song phương Mỹ – Bắc Triều Tiên do vậy có thể mang lại những lợi ích kinh tế như là một sự khích lệ hấp dẫn nhất để Bình Nhưỡng xem xét việc phi hạt nhân hóa. Việc đảm bảo an ninh chế độ cũng sẽ là điều cần thiết đối với Mỹ nhàm đảm bảo sự tuyên bố phi hạt nhân hóa từ phía Bắc Triều Tiên. Trước hết, những sáng kiến xây dựng lòng tin cần được thực hiện để thúc đẩy sự hợp tác kinh tế và chính tri./.

About these ads

9 phản hồi to “836. NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ?”

  1. [...] 836. NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ? [...]

  2. [...] 836. NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ? [...]

  3. [...] 836. NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ? [...]

  4. chipheo@ said

    Nguyên nhân sâu xa của “hiện tượng Bắc Triều tiên”:
    -Bắc Triều Tiên tồn tại thế là “tên chủ Tàu” muốn thế để “đối trọng với thế giới tiến bộ
    -Bắc Triều Tiên làm thế là “tên chủ Tàu” muốn Triều Tiên làm thế ,phá rối để thế giới chẳng bao giờ được yên ổn
    – Triều tiên vừa là gã “A.Q”, khùng khùng điên điên, được Tàu dùng để chuyên chọc thối,vừa là những “Âm binh” chứa đầy những mầm mống “phản trắc. Chính vì thế Tàu ở cái thế vừa Đ. vừa run.Chính cì điều này nên không ít vụ việc ông chủ TÀU “dở khóc,dở cười”.Mọi điều chỉ có thể trả lời lúc “cờ tàn”

  5. Người TL said

    Triều tiên (đương nhiên là nói lãnh đạo TT) như cái thằng khùng, thằng điên. Bây giờ nó làm vậy để gây sự và qua đó là xin viện trợ. Toàn thế giới hãy cho nó chết đi.

  6. vytnt said

    Những quái thai của loài người ! Cùng dân tộc nhưng hãy xem công dân miền nam đi . người ta sống ,lao động và hưởng thụ thành quả của mình một cách tự tin . đằng này đã trót dại với ‘niềm tin’ ma quỷ rồi lại làm ‘đệ’ cho ‘thằng anh đểu’ để nó xui dại mằm ăn cháo suông ôm hàng nóng trông cửa cho nó còn dọa thiên hạ mong kiếm chút cơm thừa canh cặn thật là … đúng là họ nhà ủn – ỉn (ul – il)chỉ đến vậy mà thôi ! …VKL !

  7. van an said

    Sao trong tướng lãnh của Bình Nhưỡng không có người dám hy sinh vì đất nước : quăng một trái bom nguyên tử tại nơi gia đình ông Kim làm việc là xong chứ gì. Sao không thấy cảm tử quân như đội thần phong của Nhật

  8. Con thú không đuôi said

    NGUYÊN NHÂN CĂN BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH HẠT NHÂN BẮC TRIỀU TIÊN LÀ GÌ?
    kiếm cơm

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: