BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Sáu, 2011

144. Đứng lên chống lại kẻ bắt nạt – Trung Quốc

Posted by adminbasam on 30/06/2011

INQUIRER – Global Networking

Đứng lên chống lại kẻ bắt nạt

Trung Quốc 

Rodel Rodis

Ngày 29-6-2011

Cùng với việc người Philippines ở Mỹ háo hức lên kế hoạch cho những cuộc biểu tình trước cổng các văn phòng lãnh sự Trung Quốc ở Mỹ vào ngày 7-8, câu hỏi đặt ra là: tại sao người Philippines ở Philippines không nổi giận, tương tự như thế, trước kế hoạch của Trung Quốc nhằm dựng dàn khoan dầu ở quần đảo Trường Sa, trên phần thuộc Philippines, vào tháng 7 tới?

Không lẽ họ không biết đến điều mà Tân Hoa Xã đã nói từ hôm 24-5-2011, rằng Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đang triển khai tới Trường Sa một dàn khoan dầu nước sâu khổng lồ, Marine Oil 981, có thể tiến hành những mũi thăm dò sâu 3.000 mét, và được trang bị một mũi khoan có thể vào sâu tới 12.000 trong lòng đất?

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Tagged: , | 7 phản hồi »

143. LS Trần Vũ Hải đề nghị UBTV Quốc hội giải thích Điều 69 Hiến pháp: quyền biểu tình

Posted by adminbasam on 30/06/2011

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

******

Hà nội ngày 29 tháng 6 năm 2011

KIẾN NGHỊ CỦA CÔNG DÂN TRẦN VŨ HẢI

ĐỀ NGHỊ UBTVQH GIẢI THÍCH ĐIỀU 69- HIẾN PHÁP

 

Kính gửi: ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (UBTVQH)

Tôi, Trần Vũ Hải, công dân của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt  Nam (CHXHCNVN), địa chỉ liên hệ tai: 81 phố Chùa Láng, Đống đa, Hà Nội và 227 đường Hùng Vương, Quận 5, T.p Hồ Chí Minh, hiện đang hành nghề luật sư.

Theo Điều 53- Hiến pháp hiện hành của nước CHXHCNVN 1992 (“HP 1992”) “Công dân có quyền…tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, …

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật | 5 phản hồi »

142. Thượng viện Mỹ đồng lòng “phản đối” việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc trên biển Đông

Posted by adminbasam on 30/06/2011

Thông cáo báo chí

Thượng viện Mỹ đồng lòng

“phản đối” việc sử dụng vũ lực

của Trung Quốc trên biển Đông

27-6-2011

Washington, DC – Hôm nay, Thượng viện Mỹ nhất trí thông qua một nghị quyết phản đối việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc trên biển Đông và kêu gọi một giải pháp đa phương, hòa bình về các tranh chấp lãnh hải ở Đông Nam Á. Thượng nghị sĩ Jim Webb (đảng Dân chủ – bang Virginia), Chủ tịch Tiểu ban Đông Á – Thái Bình Dương, thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, giới thiệu nghị quyết ngày 13 tháng 6 cùng với thành viên tiểu ban, ông James Inhofe (đảng Cộng hòa – bang Oklahoma). Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman (đảng Dân chủ – Connecticut) và Daniel Inouye (đảng Dân chủ – bang Hawaii) là những người đồng tài trợ ban đầu.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung | 1 Comment »

141. Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam

Posted by adminbasam on 28/06/2011

Ối giời … Tiêu đời rồi em ơi?!

Xin Hua (Tân Hoa Xã)

Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận

với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam

English.news.cn 2011-06-28 22:42:37

Bắc Kinh, ngày 28-6 (Tân Hoa Xã) – Trung Quốc hôm nay thứ Ba đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam [Biển Đông] vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước.

“Chúng tôi cùng với phía Việt Nam đã có những cuộc thảo luận tới cùng trên vấn đề Biển Hoa Nam trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt, và hai bên đã thỏa thuận giải quyết những tranh chấp thông qua các cuộc hội đàm hữu nghị và tránh gây nên những động thái có thể làm trầm trọng thêm hay gây nên phức tạp cho vấn đề,” theo lời Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hồng Lỗi tại một cuộc họp báo ngắn.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung | 35 phản hồi »

140. Biển Đông hay tôi?

Posted by adminbasam on 28/06/2011

Foreign Policy

Biển Đông hay tôi?

Clyde Prestowitz

Ngày 24-6-2011

Vài điều đã cùng xảy ra ngày hôm qua, mở đầu cho một câu hỏi căn bản về con đường tương lai của Hoa Kỳ.

Đầu tiên tất nhiên là tuyên bố rút quân khỏi Afghanistan của Tổng thống Obama. Đây là một tuyên bố quan trọng không chỉ với Afghanistan mà còn là dấu hiệu cho thấy một nước Mỹ “mệt mỏi vì chiến tranh” (chữ dùng của tổng thống) đang bắt đầu có động thái giảm dần những cam kết an ninh dàn trải của họ. Không phải là ngẫu nhiên mà bài diễn văn được tổng thống đọc đúng vào lúc lãnh đạo phe đa số trong Quốc hội Mỹ Eric Cantor rút khỏi những cuộc đàm phán về giảm nợ do Phó Tổng thống Biden cầm trịch. Cantor cho biết ông từ chối ủng hộ bất kỳ ý kiến nào liên quan đến tăng thuế. Trong bối cảnh đó, rõ ràng là nước Mỹ sẽ giảm bớt cam kết, không chỉ do mệt mỏi vì chiến tranh, mà còn vì họ không còn đủ tiền chi trả nữa.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 10 phản hồi »

139. Điểm sách: Về đất nước Trung Hoa của Henry Kissinger

Posted by adminbasam on 28/06/2011

Bloomberg Businessweek

Điểm sách: Về đất nước Trung Hoa của Henry Kissinger

Ông quan về hưu đang nhìn tương lai của Trung Quốc ở ngay trong chính quá khứ cổ xưa của đất nước này.

Christopher Buckley

Ngày 27 tháng 6 năm 2011

Hay: Kissinger chia sẻ những điều chỉ mình ông được biết và từ đó đưa ra một cách lý giải về đất nước Trung Hoa từ góc độ lịch sử và triết học.

Dở: Đây không phải là loại sách để đọc giải trí trong kỳ đi nghỉ trên bãi biển.

Điều quan trọng nhất: dù người đọc có quan điểm thế nào về Kissinger thì đây vẫn là một cuốn sách không thể thiếu cho những người nghiên cứu mối quan hệ Trung-Mỹ.

Về đất nước Trung Hoa
Tác giả: Henry Kissinger
Nhà xuất bản: Penguin Press, 608 trang, giá $ 36

Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Tagged: | 10 phản hồi »

138. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA TRUNG QUỐC

Posted by adminbasam on 27/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 23/6/2011

TTXVN (Hồng Công 20/6)

Trang web tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 15/6 đăng bài của đặc phái viên Hàn Vịnh Hồng của báo này tại Bắc Kinh (Trung Quốc) cho biết những sự kiện mang tính tập thể giờ đây không phải là điều gì đó mới mẻ ở Trung Quốc. Điều làm mọi người bất an là những oán hận từ các đối tượng cụ thể được mở rộng ở phạm vi lớn hơn và ngày càng xuất hiện nhiều đòn báo thù tàn ác. Dưới đây là nội dung bài viết:

Một đôi vợ chồng trẻ người ngoại tỉnh bán hàng trước cửa siêu thị nảy sinh tranh cãi với nhân viên đội bảo vệ trị an sở tại. Sau đó, lãnh đạo địa phương và xe cứu thương tới hiện trường. Khi người vợ mang bầu chuẩn bị được đưa lên xe cứu thương, có người kiên quyết ngăn cản. Lúc này, hiện trường đã trở nên đông đúc với hàng trăm người vây quanh phẫn nộ và họ bắt đầu ném gạch đá, chai lọ vào nhân viên chính quyền cùng cảnh sát. Cuộc bạo động nhuốm màu bạo lực kéo dài ba ngày ở thị trấn Tân Đường thuộc thành phố Tăng Thành (Quảng Châu, Quảng Đông) đã khai màn như vậy.

Đọc tiếp »

Đăng trong Gia đình/Xã hội, Trung Quốc | 7 phản hồi »

136. Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Diplomat

Mỹ đã đẩy Trung Quốc tới giới hạn?

Mark Valencia

24-06-11

Khi căng thẳng gia tăng trên biển Đông, các nhà phân tích lấy làm lạ là vì sao Trung Quốc bất ngờ đưa các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mạnh mẽ như vậy.

Sau một loạt các sự cố gây gổ liên quan đến các tàu tuần tra của Trung Quốc và tiếp theo là các tuyên bố chính thức nhẹ nhàng, nhiều nhà phân tích đang cố tìm hiểu những gì thực sự đang diễn ra. Đặc biệt là, tại sao các bộ phận khác của chính phủ Trung Quốc lại đưa ra tín hiệu lẫn lộn, và lựa chọn gần như mọi hành động cùng một lúc là làm xấu hổ chính lãnh đạo của họ, phá hoại “chiến dịch lấy lòng” thành công và đã được nuôi dưỡng một cách cẩn thận của Trung Quốc đối với ASEAN, và đi vào đúng chiến lược của Mỹ về việc thuyết phục các nước ASEAN rằng họ cần Mỹ bảo vệ nếu bị Trung Quốc bắt nạt? Ở Trung Quốc, con tàu chính trị đã rời khỏi ga, và các nước ASEAN vừa thay đổi chỗ ngồi hoặc đổi toa xe trên tàu hoả?

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 5 phản hồi »

135. Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Yahoo News

Hoa Kỳ và Trung Quốc gặp gỡ

trong lúc căng thẳng gia tăng trên biển

25-06-2011

Honolulu, Hawaii (AFP) – Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có những buổi được xem như là đàm phán đầu tiên hôm thứ Bảy về những căng thẳng gia tăng trên biển Đông, với sự tức giận của Bắc Kinh về việc Washington hỗ trợ các nước Đông Nam Á.

Các viên chức cấp cao của các cường quốc Thái Bình Dương đang họp tại Honolulu, Hawaii, vài ngày sau khi Hoa Kỳ hỗ trợ Philippines và Việt Nam, [hai nước] lo lắng về điều mà họ cho là sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Bắc Kinh trên biển.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | 3 phản hồi »

134. Trung Quốc đang bị chỉ trích nghiêm khắc ở Biển Hoa Nam [Biển Đông]

Posted by adminbasam on 26/06/2011

Asia Times

Trung Quốc đang bị chỉ trích nghiêm khắc

ở Biển Hoa Nam [Biển Đông]

Giản Quân Ba [Jian Junbo] và Vũ Trọng [Wu Zhong]

Ngày 24 tháng 6 năm 2011

LUÂN ĐÔN và HỒNG  KÔNG – Ngày 1 tháng 7 tới Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ kỷ niệm lần thứ 90 ngày lập Đảng. Mặc dù để tồn tại đến ngày hôm nay thì Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chịu đựng được nhiều thử thách gay go, song rõ ràng là đang có những thử thách ở phía trước. Một vấn đề phải giải quyết trước mắt là tình hình căng thẳng leo thang ở biển Hoa Nam với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam.

Đối với Bắc Kinh thì đây không đơn thuần là một vấn đề thuộc về quan hệ quốc tế. Tình hình căng thẳng còn gây tác động lớn tới chiến lược về một “sự trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc và sự ổn định trong nước. Điều này lý giải vì sao cho đến lúc này Bắc Kinh vẫn cố gắng tự kiềm chế trước những gì mà Bắc Kinh xem là những hành động khiêu khích của Việt Nam. Trong những hành động đó có cả việc cố tình công khai tập trậm ở những lãnh thổ tranh chấp, đưa ra những tuyên bố có lời lẽ cứng rắn lên án “sự xâm lược của Trung Quốc” và để xảy ra những cuộc phản đối sôi sục chống Trung Quốc.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 7 phản hồi »

132. TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 24/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TƯƠNG LAI CỦA LỤC ĐỊA Á-ÂU Ở BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Hai, ngày 20/06/2011

TTXVN (Angiê 12/6)

Mạng tin “Địa chính trị” mới đây đăng bài nghiên cứu về biển Đông của tác giả Jure Vujic, luật sư, nhà địa chính trị, nhà văn mang hai quốc tịch Pháp và Croátia như sau:

Trong những thập kỷ tới, nước nào có sức mạnh sẽ giành được bá quyền tại khu vực này, đồng thời sẽ tạo được ảnh hưởng lên các dân tộc và hai khu vực kinh tế giàu nhất và sinh lời nhất thế giới là Tây Âu và Đông Nam Á.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 5 phản hồi »

130. Mỹ ủng hộ Philippines khi căng thẳng trên biển Đông bùng phát

Posted by adminbasam on 24/06/2011

Reuters

Mỹ ủng hộ Philippines khi

căng thẳng trên biển Đông bùng phát

Andrew Quinn

23-06-11

WASHINGTON, ngày 23 tháng 6 (Reuters) – Hôm thứ Năm, Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton đã cam kết hỗ trợ Philippines trong lúc căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực tranh chấp trên biển Đông.

Bà Clinton – phớt lờ một cảnh báo của Trung Quốc, kêu gọi Hoa Kỳ đứng ngoài tranh chấp – đã nói,  lợi ích quốc gia của Mỹ về tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế đang bị đe dọa.

Chúng tôi lo ngại rằng các sự cố gần đây trên Biển Đông có thể phá hoại hòa bình và ổn định trong khu vực. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên tự kiềm chế, và chúng tôi sẽ tiếp tục tham khảo ý kiến ​​chặt chẽ với tất cả các nước có liên quan, gồm Philippines là nước đồng minh đã ký hiệp ước với chúng tôi“. Bà Clinton cho biết khi xuất hiện chung với Bộ trưởng Ngoại giao Philippines, ông Albert del Rosario.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ quốc tế | Tagged: , , , | 22 phản hồi »

129. Đinh Kim Phúc: Thư ngỏ gửi ngài Hồ Cẩm Đào

Posted by adminbasam on 23/06/2011

Đôi lời: Bức thư của Nhà Nghiên cứu Đinh Kim Phúc gửi Hồ Cẩm Đào được Ba Sàm đăng ngày 11-10-2009. Nhân có bài viết-thư xoay quanh ông ĐKP, liên quan tới những đóng góp không nhỏ của ông trong cuộc đấu tranh với những hành động lấn lướt, gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông, song lại nhận được những đối xử không tương xứng, BS xin đăng lại bức thư này và dẫn ra một số bài viết của ông để bạn đọc rõ thêm sự vụ.

———–

Thư  Sài Gòn, ngày 23-6-2011

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc gửi Nguyễn Xuân Diện:
Nói lại cho rõ 

Trước nhất tôi xin chân thành cám ơn những tình cảm mà nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã dành cho tôi trong “Lá thư Sài Gòn 2” và nhân đây tôi xin nói lại cho rõ một số điều về cá nhân tôi. 

-  Tôi tham gia bộ đội từ năm 1977-1980 sau đó về học ngành Sư phạm Lịch sử tại Trường Đại học Cần Thơ (1980-1984).

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 19 phản hồi »

128. Vì một trật tự trên biển Hoa Nam

Posted by adminbasam on 23/06/2011

BS: Đoạn  Xã luận này lấy từ  phần mở đầu cho bản dịch từ báo Trung Quốc: Trung Quốc phải phản ứng đối với sự khiêu khích của Việt Nam  trên trang Boxitvn. Một bài viết với thái độ nghiêm khắc, không như trên VNExpress bữa qua khi đề cập tới điều này, bằng cái tựa quá rõ thái độ yếm thế, trước một bài viết hết sức láo xược: Báo Trung Quốc đề cập khả năng dùng sức mạnh trên Biển Đông, cho tới nội dung bên trong cũng cần phải xem lại một cách nghiêm túc, như “Bài xã luận của Văn Hối chỉ rõ rằng thông qua hai cuộc diễn tập hải quân ở khu vực Biển Đông …” Nên nhớ khi nói “chỉ rõ rằng” là thường mang hàm ý tích cực.

Xã luận:

Làm gì trước thái độ không còn úp mở của Trung Quốc?

Bauxite Việt Nam

Xin bạn đọc nhớ cho, bài báo chúng tôi giới thiệu dưới đây không phải là tiếng nói của một trang mạng địa phương Trung Quốc mà ta thường thấy nhan nhản, để đinh ninh rằng đó chưa phải là lập trường chính thức của Trung Nam Hải. Cũng không phải là tiếng nói của một cá nhân để có thể mơ hồ rằng quan điểm của người viết chưa hẳn là lập trường chính thống của đảng đàn anh. Đây là một bài xã luận hẳn hoi trên Hoàn Cầu thời báo, một trang báo đối ngoại của Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Như vậy là quá rõ. Đảng và Nhà nước Trung Quốc đã gióng lên hồi chuông về quyết tâm sử dụng vũ lực đối với Việt Nam để làm sao nuốt cho trôi mọi hoạt động lấn cướp Biển Đông mà họ ra mặt tiến hành từ 1956 đến nay, lúc âm thầm, lúc lộ liễu, nhưng xu hướng ngày càng hung hãn, mà họ thừa biết chỉ có Việt Nam mới đích thực là kỳ đà cản mũi, bởi hầu hết những gì họ đã ngoạm được cũng như những gì đang lăm le muốn ngoạm tiếp, đều thuộc chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam từ ngàn đời nay.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , , | 9 phản hồi »

127. CP PHÁP Ở ĐD LIÊN TỤC THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VN TRÊN HS-TS

Posted by adminbasam on 23/06/2011

CHÍNH PHỦ PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG

LIÊN TỤC THỰC THI CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM

TRÊN HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA-TRƯỜNG SA

(1909-1933)(*)

Đinh Kim Phúc

 “Hoàng Sa là một quần đảo thuộc về An Nam”

(Les Lettres étudiantes et curieuses-Tập 3 trang 38,

nhà xuất bản văn học Panthéon, năm 1843)

————–

Bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean Baptiste Nolin hoàn thành năm 1687.

 (Nguồn: Bản đồ ký hiệu C.C. 1144.A lưu trữ tại Thư viện quốc gia Bồ Đào Nha)

Khu vực quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa được ghi chú là: Baixos de Chapar de Pulls Scir (tạm dịch: Bãi cát Champa là bãi đá ngầm) nằm trong Vịnh Cochin Chine (Golfe de la Cochin Chine)

Khi nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, người Pháp đã nhận xét:

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Lịch sử | Tagged: , , , , , , , , , , , | 10 phản hồi »

126. Nguyễn Xuân Nghĩa: MỘT TẤM DƯ ĐỒ BỊ LÃNG QUÊN

Posted by adminbasam on 23/06/2011

MỘT TẤM DƯ ĐỒ BỊ LÃNG QUÊN

Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản năm 1606 tại Amsterdam 

Nguyễn  Xuân Nghĩa

Hoàng Sa là của ai dưới con mắt nhà địa dư học Hoà Lan?

Dainamax Magazine xin giới thiệu một tấm bản đồ Đông Nam Á xuất bản năm 1606 mà chúng tôi có bản chính từ đã lâu. Tấm bản đồ này được in lại năm 1613 trong cuốn địa đồ Atlas Mercator Hondius.

***
Gerardus Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan (Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham khảo về địa hình địa thế Á Đông. Tấm bản đồ trên đây là do Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ lại trước năm xuất bản 1606 và căn cứ trên những dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ 16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.

Đọc tiếp »

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Lịch sử, Quan hệ quốc tế | Tagged: , , , , , , , , | 11 phản hồi »

125. Đỗ Trung Quân: YÊU NƯỚC KHÔNG CHỈ RIÊNG AI

Posted by adminbasam on 23/06/2011

YÊU NƯỚC KHÔNG CHỈ RIÊNG AI  

Đỗ Trung Quân *

Nhân bài viết trao đổi thêm với cá nhân tôi của anh Văn Ngọc Trà …Xin có đôi lời thưa lại cùng anh. 

Các nhân vật mà tôi được hân hạnh xuất hiện cùng họ trong ngày 5 tháng 6 vừa qua vì lý do gì không xuất hiện sau đó , tôi tất nhiên không được phép trả lời thay. Phần lên tiếng hay không tùy thuộc quyền cá nhân của các vị ấy. [Ông Lê Hiếu Đằng vẫn xuất hiện trên mạng với những quan điểm đúng đắn và quyết liệt, nếu chúng ta vẫn theo dõi trên các Web và đài ngoài nước như Ba Sàm, RFI]

Riêng cá nhân tôi xin thưa lại như sau. Nhưng trước tiên phải có lời xin lỗi đã gây ngộ nhận với anh hay nhiều người khác trong entry ngắn “Tại sao Sài Gòn vắng lặng sau 3 tuần  xuống đường tôi chọn thể loại giễu nhại thông qua lời kể cũng giễu nhại của một người bạn Hà Nội. Nghĩa là như một tiểu phẩm hài hước. Nó có thể đúng, có thể thiếu lý lẽ. Có thể mở ra những cửa ngõ khác để phản biện trở lại. Nhưng dù gì, khi đã gây ngộ nhận thì  xin một lời thể tất. Tác giả đã đùa không đúng vào thời điểm cần nghiêm chỉnh.

Nhân đây cũng xin trở lại một vài chuyện đã cũ. Có móc túi trong đoàn tuần hành hay không ? Nếu chọn đoàn biểu tình để trà trộn móc túi những kẻ đấy ăn gan trời bởi lẽ công an chìm nổi đầy rẫy, kẻ gian nào dám chường mặt để thò tay vào túi ông … an ninh chìm thường phục [biết đâu trúng nhằm  túi ông ấy]. Vậy theo lô-gic là : không thể có kẻ cắp. Nhưng kẻ cắp vẫn có thể yêu nước và khi đã xuống đường cùng thể hiện lòng yêu nước, kẻ cắp ấy chắc chắn sẽ không thò tay vào túi ai cả. Kẻ cắp ấy trong trường hợp này, thật đáng kính trọng. Vậy “con ông cháu cha” có thể cùng xuống đường không ? Tại sao không ? Lòng yêu nước không độc quyền cho tầng lớp nào và cứ hễ là con ông cháu cha thì không “ lộn ruột”  trước thực trạng  giặc cướp rình rập ngoài cửa nhà mình. Có những vấn đề con cãi cha mẹ là chuyện thường tình bất kể gia cảnh. Nếu có ai đó là con ông cháu cha  không thể bước xuống lòng đường ,chỉ ngồi bên lề đường để nghiến răng nhìn bạn bè đồng lứa vung cao nắm tay cũng là điều đáng trân trọng. Tôi có mơ mộng không ? Có thể – nhưng tôi tin thế.

Phần tôi.

Tôi quan niệm biểu tình là sự bày tỏ một thái độ, nó là việc hoàn toàn tự nguyện của mỗi cá nhân . Việc chống ngoại xâm phương Bắc là chuyện nghìn  năm không chỉ một ngày một bữa. Sẽ thật ấu trĩ nếu tôi đòi hỏi  các cụ Nguyễn Đình Đầu , Nguyễn Huệ Chi  và các vị nhân sĩ , trí thức vv.. đã từng tham dự tuần hành từ nay, mỗi cuối tuần phải có mặt để xuống đường, ai vắng mặt sẽ đồng nghĩa với “ đầu hàng , thỏa hiệp hay bị định hướng “v.v.. Tôi hoàn toàn không cho rằng với những ai không xuống đường , không tuần hành, là không yêu nước bởi lẽ yêu nước có nhiều cách bày tỏ khác nhau. Như đã nói, tôi trước nay tôi vẫn  tôn trọng những người vắng mặt vì những lý do riêng của mình.

Cá nhân tôi cũng mỗi ngày lắng nghe động thái đối ngoại của nhà nước và động thái phản ứng của phía Trung Quốc trong từng hành động của họ. Nếu động thái ngoại giao nhà nước Việt Nam đã thực hiện không giống thực tế với những đáp trả Việt Nam từ phía Trung Quốc, chủ quyền, tài sản và sinh mạng ngư dân Việt nam  vẫn tiếp tục bị đe dọa . Thì khi ấy chắc chắn không riêng ai, không riêng tôi. Mọi người sẽ lại tiếp tục phản ứng  với cái gọi là hiểm họa phương Bắc.

Vài dòng chúc anh vui khỏe.

BS: Mời xem thêm:  + 94. Viết sau ngày 5-6 (bài này đã đăng ở blog cũ, có hơn trăm phản hồi, đã bị hacker xóa)  + 107. Trò chuyện với người (hoặc là) anh em (hoặc không);  +  114. Thư gửi những bạn trẻ xuống đường phản đối xâm lược.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 28 phản hồi »

124. Tự do tôn giáo có ý nghĩa gì ở Việt Nam

Posted by adminbasam on 23/06/2011

 American Thinker

Tự do tôn giáo có ý nghĩa gì ở Việt Nam

Michael Benge

Ngày 12 tháng 6 năm 2011

Đối với nhiều cựu chiến binh trong cuộc chiến tại Việt Nam thì Ngày Chiến sĩ Trận vong [Memorial Day] không chỉ là dịp để tưởng nhớ những người Mỹ đã chết trong Chiến tranh Việt Nam mà còn cả những người bản xứ đứng về phía chúng ta –  những người Việt, người Lào và người Kampuchia đã chết trong khi chiến đấu vì tự do và vì tất cả những con người vẫn đang phải chịu đựng sự ngược đãi của chế độ cộng sản tàn bạo ở nước họ. 

Tưởng như sự vi phạm nhân quyền và ngược đãi tôn giáo đã lên đến đỉnh điểm tại Việt Nam với đợt bắt giữ và bỏ tù hơn 1500 nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo trong thời gian trước Đại hội Đảng Cộng sản, thế nhưng chế độ cộng sản tàn bạo này đã tự vượt qua chính mình bằng cuộc tàn sát được cho là hơn 75 người Hmong theo đạo Thiên Chúa hồi tháng trước. Hàng trăm người khác đã bị thương và/hoặc bị bắt rồi bị đưa tới những địa điểm không ai biết.

Khoảng 9000 người Hmong, chủ yếu là những tín đồ Công giáo và Tin Lành đã tụ tập tại huyện Mường Nhé thuộc tỉnh Điện Biên ở Bắc Việt Nam vào ngày 1 tháng 5 để bày tỏ sự vui mừng trước lễ tuyên phúc của Giáo hoàng John Paul II. Theo các nguồn tin của tín đồ Công giáo thì “Đức Giáo hoàng người Ba Lan” quá cố, người từng chống lại cả những lực lượng Đức Quốc Xã lẫn chủ nghĩa cộng sản toàn trị, là nguồn cảm hứng đối với rất nhiều người Việt Nam, Lào, Kampuchia và tín đồ Thiên chúa giáo người Hmong bởi cách sống thể hiện tinh thần can đảm của ông và bởi lời hiệu triệu mạnh mẽ “hãy đừng sợ hãi” trong khi chống lại sự bất công xã hội và những chế độ kiểu Stalin trên khắp thế giới.

Các buổi lễ tôn giáo của người Hmong để tỏ lòng tôn kính dành cho đức giáo hoàng đã biến thành các cuộc phản đối ôn hòa đòi tự do tôn giáo và chấm dứt những hành động đối xử tồi tệ đối với nhân quyền, sự tham nhũng mang tính thể chế, bất công xã hội và tình trạng chiếm đoạt đất đai. Điện Biên một trong những tình nghèo nhất của Việt Nam tại vùng núi hẻo lánh giáp với Lào và Trung Quốc.  Khoảng 170 000 người Hmong chiếm 35% dân số của tỉnh (1,24% dân số của toàn Việt Nam) với mức thu nhập hàng năm không bằng một phần mười thu nhập trung bình hàng năm của người Việt.

Giống như đối với trường hợp những cuộc phản đối của những tín đồ Thiên Chúa Giáo người Thượng ở Tây Nguyên hồi năm 2001, chính quyền cộng sản, bằng hình thức thực sự phát-xít, đã phản ứng dữ đội bằng cách triển khai hàng ngàn lính bộ binh, cảnh sát cơ động và trực thăng vũ trang “Hind” tức MI-24. Mọi liên lạc ra bên ngoài đều bị tạm ngừng, điện bị cắt, cảnh sát và quân đội đã lập hàng rào để ngăn bất cứ ai ra vào tỉnh và tất cả các phương tiện truyền thông và người nước ngoài đều bị cấm đi tới khu vực này.  Một số người Hmong biểu tình đã chạy trốn vào những dãy núi ở gần đó và trực thăng đã chở các đơn vị “đặc công” tới để săn lùng họ. Được biết nhiều người Hmong lẩn trốn đã bị hành quyết tại chỗ khi bị bắt. Ít nhất hai bản người Hmong và một số khu vực bị nghi là che giấu những người biểu tình bỏ trốn đã bị tấn công bởi những chiếc trực thăng được trang bị rốc-két, súng cỡ lớn và súng máy nhiều nòng [Gatling gun]. Không biết có bao nhiêu người đã bị giết hoặc bị thương.

Thanh trừng sắc tộc “là một chính sách có chủ định được một sắc tộc hoặc một nhóm tôn giáo xây dựng nên để loại bỏ dân thường của một sắc tộc khác hoặc một nhóm tôn giáo khác ra khỏi những khu vực địa lý nào đó bằng những phương tiện mang tính bạo lực và khuyến khích khủng bố” (Tiểu ban Chuyên gia được thành lập căn cứ theo Nghị quyết 780 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc). Với trường hợp của những người Thượng hồi năm 2001 và hiện tại là người Hmong thì chế độ cộng sản Việt Nam đã phạm tội thanh trừng sắc tộc.

Điều 70 của Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định rằng “công dân phải được hưởng tự do tín ngưỡng và tôn giáo; công dân có thể theo hoặc không theo bất cứ một tôn giáo nào. Mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ phụng tín ngưỡng và tôn giáo được pháp luật bảo vệ. Không ai được phép vi phạm tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo [.]“

Tuy nhiên, Điều 70 lại có câu cảnh báo: “cũng như không ai được phép lạm dụng tín ngưỡng và tôn giáo trái với pháp luật và các chính sách của Nhà nước.” Câu cảnh báo này sau đó được định nghĩa trong Sắc lệnh Tín ngưỡng và Tôn giáo, ấy là chưa kể Hiến Pháp (Nghị định 22/2005) và Nghị định 26/1999 đều được dựa trên một chỉ thị của Đảng (Chỉ thị 37 CT/TW).

Các luật được dẫn ở trên có đầy dẫy những sự mơ hồ và mâu thuẫn và chúng không đưa ra những tiêu chí về thế nào thì bị coi là “lạm dụng”, song về cơ bản thì tất cả những luật đó đều tuyên bố rõ rằng mọi tôn giáo, hệ phái tôn giáo, nhà thờ, tăng lữ và các hoạt động tôn giáo đều phải được chấp thuận bởi chính quyền trung ương thì mới hợp pháp. Các tín đồ Thiên chúa Giáo người dân tộc thiểu số thường xuyên bị chính quyền cộng sản quấy nhiễu, đánh đập và tra tấn nhằm buộc họ phải từ bỏ niềm tin vào Chúa. Hiện nay chính phủ Việt Nam đang đề nghị sửa đổi các luật hiện hành vốn đã hà khắc để hạn chế hơn nữa tự do thờ phụng và tất cả những hoạt động liên quan đến nhà thờ.

Việt Nam luôn đòi rằng việc phong các chức tước tôn giáo (nhất là chức “Giám mục” và chức “Hồng y giáo chủ”) đều phải được chính phủ chấp thuận và chính phủ đã nhiều lần không chấp thuận những ứng cử viên do Vatican đề xuất. Các quan chức Việt Nam chắc chắn sẽ không cho phép các linh mục tới phụng vụ bốn cộng đồng Công giáo ở vùng Điện Biên trong cái được coi là “vùng trắng”, tức là nơi mà mức độ hạn chế tôn giáo là cao nhất trong cả nước.

Bất cứ ai tham gia các hoạt động tôn giáo không được chính quyền cho phép, kể cả các buổi cầu nguyện ngoài trời, các cuộc tụ tập để phản kháng hoặc biểu tình, đều là phạm tội  “phá hoại sự đoàn kết dân tộc của Việt Nam,” một tội danh có thể dẫn đến bản án mười năm tù giam hoặc hơn. Ngay cả nếu như các tín đồ Thiên chúa giáo người Hmong không tổ chức các cuộc tụ tập ôn hòa thì chỉ chỉ đơn thuần việc họ tiến hành các buổi cầu nguyện ngoài trời để tỏ lòng tôn kính dành cho lễ tuyên phúc của Đức Giáo hoàng John Paul II cũng khiến họ bị bắt và bị bỏ tù.

Trong khi người Hmong tụ tập để biểu tình thì bộ máy tuyên truyền của cộng sản Việt Nam đã cho các các chuyên gia kích động, các mục sư cộng sản và công an mật giả vờ hăng hái nhằm trà trộn vào những người biểu tình. Một số chuyên gia tuyên truyền đã [giả vờ] tuyên bố rằng họ đang “chờ Chúa tới để đưa họ tới Đất Hứa,” trong lúc đó số khác lại [giả vờ] quả quyết rằng họ ủng hộ việc thành lập một vương quốc tự trị của người Hmong. Những chủ đề đưa ra để đánh lạc hướng như vậy đã giúp cho nhà chức trách của Việt Nam có cái cớ để liệt những người biểu tình vào loại “mê tín,” “đòi đất,” “cực đoan” và “phản cách mạng,” và bằng cách ấy có lý do biện minh cho việc sử dụng vũ lực chống lại những tín đồ Thiên Chúa giáo người Hmong.

Những chủ đề trên đã được lặp đi lặp lại nhiều lần bởi các phương tiện thông tin đại chúng quốc doanh của Hà Nội và đáng tiếc là nhiều phương tiện đưa tin của nước ngoài lại sẵn sàng nhắc lại như vẹt. Những người cộng sản Việt Nam đồng ý với lý thuyết của chuyên gia tuyên truyền Đức Quốc xã Joseph Goebbels là nếu anh cứ lặp đi lặp lại một điều đại dối trá thì rút cục đến một lúc nào đó người dân sẽ tin điều dối trá đó.

Các nhóm nhân quyền đã kêu gọi điều tra những hành động dã man nói trên và tòa đại sứ Mỹ ở Hà Nội cũng hứa sẽ điều tra vấn đề này. Nhưng sự thật có lẽ rồi sẽ chẳng bao giờ được biết đến. Thông tin đã rò rỉ từ Giáo hội Việt Nam và Vatican và từ một số tổ chức phi chính phủ bằng cách nào đó đã dùng mưu mẹo để vượt qua sự ngăn chặn thông tin liên lạc. Bộ máy cộng sản Việt Nam đang hạn chế tự do đi lại và kiểm soát mọi phương tiện thông tin và các quan chức cộng sản và các chức sắc nhà thờ bù nhìn của họ là những người duy nhất được phép nói chuyện với quan chức và phóng viên nước ngoài. Công an theo dõi chặt chẽ những người ở nơi khác đến. Người nước ngoài không được phép đi lại tự do ở khu vực đó [Mường Nhé] và phải luôn có người của chính quyền đi kèm bên cạnh.  

Bộ ngoại giao Mỹ chắc chắn trong Báo cáo Thường niên về Nhân quyền sẽ nhắc tới những tín đồ Thiên Chúa giáo người Hmong bị ngược đãi. Thế nhưng Bộ ngoại giao đã liên tục nhiều lần không dám làm bất cứ điều gì có thể được cho là mang tính trừng phạt, chẳng hạn như xếp Việt Nam là một Quốc gia được Quan tâm Đặc biệt về ngược đãi tôn giáo mà như thế thì mới có thể trị được cái tính dễ tự ái của chế độ cộng sản này. Khỏi cần nói, Tổng thống Obama dường như chẳng biết tí gì về tình trạng ngược đãi tôn giáo và những vụ đối xử tồi tệ đối với nhân quyền đang diễn ra.

Nói cách khác tức là ban nhạc vẫn cứ tiếp tục chơi.

Michael Benge từng làm nhân viên ngoại giao tại Việt Nam trong 11 năm và 5 năm là tù binh chiến tranh. Ông hiện là nhà nghiên cứu về chính trị của Đông Nam Á. Ông hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực nhân quyền và tự do tôn giáo và ông viết rất nhiều về các chủ đề này.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền | Tagged: , , , , , , , , , , | 6 phản hồi »

123. Vũ Ngọc Tiến: THƯ SÀI GÒN 2

Posted by adminbasam on 22/06/2011

BS: Mong độc giả gắng giữ bình tĩnh khi đọc bức thư này, bởi vì chính những gì được diễn tả trong đó lại là những tín hiệu đáng … mừng, chỉ xót xa cho những con người đã và sẽ phải chịu mất mát nhiều cho tin mừng đó. Vừa đúng lúc chuẩn bị đăng bài này thì chợt thấy trên Tuổi trẻ tin: Phê chuẩn khởi tố công an đánh dân. Ngoài thứ hành vi này, còn có những dạng bắt giữ trái phép, nhục hình biến tướng, trấn áp tinh thần, quấy rối cuộc sống, tung tin bôi nhọ, v.v.. phải ngăn chặn và trừng trị. Để được như 6 điều CTHCM dạy CAND.

(Hu hu! Bài đăng lên vừa được 10 phút thì BS nhận được điện thoại của Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc đề nghị gỡ bài xuống do hoàn cảnh gia đình ông lúc này đang rất éo le, vợ ông phải nhập viện ngày mai vì bệnh hiểm nghèo đang ở vào giai đoạn cuối, người thân nghe tin ông bị làm khó dễ đang rất hoang mang. BS chấp nhận yêu cầu này, song vẫn ghi lại đôi dòng để độc giả rõ và xin mời qua trang của Nhà văn Trần Nhương.)

Trannhuong.com

Bổ sung, hồi 17h45, ngày 23/6/2011:

THƯ CỦA ÔNG ĐINH KIM PHÚC GỬI NGUYỄN XUÂN DIỆN

Thư Sài Gòn
Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc gửi Nguyễn Xuân Diện:
Nói lại cho rõ 

Trước nhất tôi xin chân thành cám ơn những tình cảm mà nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã dành cho tôi trong “Lá thư Sài Gòn 2” và nhân đây tôi xin nói lại cho rõ một số điều về cá nhân tôi. 

-   Tôi tham gia bộ đội từ năm 1977-1980 sau đó về học ngành Sư phạm Lịch sử tại Trường Đại học Cần Thơ (1980-1984).

-  Từ năm 1984-1991 là giáo viên Khoa Sử Địa Trường Đại học Cần Thơ (trong đó 2 năm 1986-1988 học Cao học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1).

-    Từ năm 1993 đến nay tôi công tác tại Trường Đại học Mở TP.HCM.

-   Tháng 10/2009, lúc bấy giờ tôi là Thư ký BBT của Tạp chí Khoa học của trường, nhân việc tôi viết lá thư gửi Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào để lên án hành động của Trung Quốc trên biển Đông lúc bấy thì liền bị PGS.TS Nguyễn Thanh (lúc ấy là Trưởng bộ môn Mác-Lenin của trường Đại học Mở TP.HCM và hiện nay đang công tác tại Đại học Công nghiệp TP.HCM) tố cáo tôi hoạt động “phản động”. Sau sự việc ấy tôi chuyển sang làm nghiên cứu viên của Khoa Đông Nam Á học của trường Đại học Mở cho đến hôm nay.

Kính,
Đinh Kim Phúc

Nguyễn Xuân Diện:

Vậy là đã rõ, bắt đầu từ ông Nguyễn Thanh “tố cáo” ông Đinh Kim Phúc hoạt động phản động, nên từ đó (2009) đến nay, an ninh Sài Gòn luôn luôn theo dõi ông Đinh Kim Phúc.

Tôi đề nghị:

1- Anh em khắp các nơi cung cấp cho chúng tôi Hồ sơ về ông Nguyễn Thanh đưa lên để công luận biết, giống như chúng ta đã biết về ông Tạ Xuân Tề (Hiệu trưởng ĐH Công nghiệp tp Hồ Chí Minh) – đã đe dọa các sinh viên đi biểu tình vừa rồi, bà Mai Hồng Quỳ (Hiệu trưởng ĐH Luật tp Hồ Chí Minh) – đã ngăn cản học giả Hoàng Việt đi hội thảo ở Mỹ…

2- Đề nghị Cục A.83 (tên gọi cũ A.25) công bố Hồ sơ đã theo dõi về ông Đinh Kim Phúc, nếu không phát hiện bất cứ điều gì là phản động thì cần lên tiếng để dư luận biết (vì hiện nay, vẫn còn có một số dư luận đang lan truyền về ông Đinh Kim Phúc). Trường hợp ông Đinh Kim Phúc có tội lỗi gì, xin xử lý đúng theo pháp luật.

3 – Nếu ông Nguyễn Thanh vu cáo ông Đinh Kim Phúc vào năm 2009, và hậu quả là làm phiền toái đến bản thân và gia đình ông Đinh Kim Phúc đến tận hôm nay, đề nghị các cơ quan có trách nhiệm khởi tố ông Nguyễn Thanh, trả lại sự trong sáng cho ông Đinh Kim Phúc – một người mà Nguyễn Xuân Diện và anh em trí thức rất ngưỡng mộ.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung | 38 phản hồi »

122. Trung Quốc phải phản ứng lại hành động khiêu khích của Việt Nam

Posted by adminbasam on 22/06/2011

Đôi lời: Đây thực chất là một tờ “báo đảng” của Trung Quốc, lần đầu tiên lên giọng hăm dọa trắng trợn. Những người có trách nhiệm về truyền thông Việt  Nam đọc để biết và tự ngẫm xem mình nên phản ứng ra sao, có nên tiếp tục gọi các cuộc biểu tình yêu nước của quần chúng là “tụ tập”, như cái lối mà TTXVN đã gọi?

Global Times

Trung Quốc phải phản ứng lại

hành động khiêu khích của Việt Nam

21-06-2011

Tranh chấp liên tục trên biển Hoa Nam (biển Đông) chủ yếu bắt nguồn từ Việt Nam. Thách thức lớn nhất đối với sự nhấn mạnh về một giải pháp hòa bình của Trung Quốc cũng có thể do Việt Nam.

Tùy tình hình diễn biến như thế nào, Trung Quốc phải sẵn sàng cho hai kế hoạch: thương lượng với Việt Nam về một giải pháp hòa bình, hoặc đáp trả sự khiêu khích bằng những trận đánh trả vào chính trị, kinh tế hoặc thậm chí cả quân sự. Chúng ta phải nói rõ về khả năng lựa chọn thứ hai, để cho Việt Nam giữ đúng mực về vấn đề biển Hoa Nam.

Việt Nam đã và đang có những hành động nguy hiểm trên biển Hoa Nam trong một thời gian. Họ đã chiếm 29 đảo của Trung Quốc. Họ có được lợi nhiều nhất từ ​​việc khai thác dầu và khí tự nhiên dưới đáy biển. Họ cũng là nước gây sự nhất trong việc đối phó với Trung Quốc.

Việt Nam là nước chủ trương mời Mỹ vào biển Hoa Nam như một “đối trọng”. Chính phủ của họ cũng đồng ý để cho cảm tính dân tộc trong dân chúng gia tăng. Hà Nội đã và đang là một tấm gương xấu ở Đông Nam Á.

Việt Nam đã bị mắc bẫy trong một niềm tin phi hiện thực rằng, miễn là Hoa Kỳ cân bằng trong  vấn đề Nam Hải, họ có thể công khai thách thức chủ quyền của Trung Quốc, và bỏ đi với món lợi rất lớn.

Trong các cuộc xung đột quân sự trước đó giữa hai nước, Trung Quốc đã cố gắng rất nhiều để kiềm chế. Nhưng điều đó dường như càng làm cho Việt Nam táo bạo hơn. Sự diễn giải của Việt Nam về chính sách hòa bình của Trung Quốc cho thấy rằng, bất cứ điều gì Việt Nam làm, Trung Quốc sẽ kiềm chế, không sử dụng vũ lực.

Kể từ cuộc xung đột quân sự giới hạn với Trung Quốc trên biển Hoa Nam hồi năm 1988, Việt Nam ngày càng gây sự trong việc thu tóm các đảo làm của riêng mình, không đếm xỉa đến chính sách truyền thống của Trung Quốc về việc “gác tranh chấp, cùng nhau phát triển“. Họ đang đẩy sự chịu đựng và lợi ích quốc gia của Trung Quốc lên tới giới hạn.

Trung Quốc đã gửi một thông điệp rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình trên biển Hoa Nam. Nếu Việt Nam tiếp tục khiêu khích Trung Quốc trong khu vực này, trước hết, Trung Quốc sẽ sử dụng lực lượng cảnh sát biển để đối phó với họ, và nếu cần, sẽ dùng lực lượng hải quân tấn công lại.

Trung Quốc nên nêu rõ rằng nếu quyết định đánh trả, Trung Quốc cũng sẽ lấy lại các hòn đảo mà Việt Nam đã chiếm đóng trước đây. Nếu Việt Nam muốn bắt đầu một cuộc chiến tranh, Trung Quốc có đủ tự tin để tiêu diệt tàu chiến xâm lược của Việt Nam, bất chấp sự phản đối có thể đến từ cộng đồng quốc tế.

Hoa Kỳ có thể làm cho tình hình bất ổn hơn trên biển Hoa Nam. Trung Quốc sẽ xử lý vấn đề này một cách cẩn thận, và có thể không tham gia vào một cuộc đối đầu trực tiếp với Mỹ.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc trả giá bằng rủi ro chiến lược gia tăng ở phía nam. Trung Quốc sẽ tiếp tục cống hiến cho hòa bình và phát triển, nhưng Trung Quốc phải sẵn sàng đối mặt với sự đối đầu và xung đột. Hành động khiêu khích của Việt Nam có thể trở thành một phép thử [phản ứng của Trung Quốc].


Ngọc Thu dịch từ: http://www.globaltimes.cn/NEWS/tabid/99/articleType/ArticleView/articleId/662453/China-must-react-to-Vietnams-provocation.aspx

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung | 70 phản hồi »

121. Ngư dân Việt Nam đang ở tuyến đầu trong cuộc xung đột với Trung Quốc

Posted by adminbasam on 22/06/2011

The Financial Times

Ngư dân Việt Nam đang ở tuyến đầu

trong cuộc xung đột với Trung Quốc

Ben Bland có mặt tại Đảo Lý Sơn

Ngày 20 tháng 6 năm 2011

Khi thuyền trưởng Trần Hiền 31 tuổi đang điều khiển một chiếc thuyền đánh cá của Việt Nam chạy ở vùng biển  gần Quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp bỗng nhìn thấy một chiếc tàu lớn của Trung Quốc thì ông đã biết chắc chuyện gì sắp xảy ra.

Đám nhân viên của cơ quan thủy sản Trung Quốc nhảy sang chiếc thuyền đánh cá dài 15 mét của ông và bất chấp hai bên không hiểu tiếng của nhau, họ cướp số cá và thiết bị trị giá gần 3000 đô la.

“Lúc đó chúng tôi đang ở vùng biển của Việt Nam và chúng tôi hoàn toàn có quyền đi lại ở đó, nhưng thuyền của chúng tôi không cách nào chạy nhanh hơn tàu của họ,” ông Hiền kể lại sự việc xảy ra vào lúc khoảng 9 giờ sáng ngày 14 tháng 6.

Ông Hiền là một trong số rất nhiều ngư dân Việt Nam từ đầu năm đến nay đã bị các tàu tuần tra của Trung Quốc cướp bóc thiết bị, cá hoặc thậm chí cướp cả tàu thuyền giữa lúc căng thẳng giữa hai nước láng giềng này về vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Nam [Biển Đông] đang sôi lên sùng sục.  

Hà Nội tuyên bố rằng một số ngư dân của họ đã bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắn và việc quấy nhiễu ngư dân của họ là vi phạm luật pháp quốc tế. Bắc Kinh thì vẫn nói đi nói lại rằng họ chỉ bắt giữ những người xâm phạm chủ quyền của họ hoặc không có giấy phép hợp lệ.

Đây là một trong những vấn đề tranh chấp kéo dài đã lâu ở những khu vực đánh bắt cá ở châu Á nơi mà những ngư dân chất phác chỉ vì muốn gỡ lại những khoản tiền đầu tư lớn cho nên họ đâu có bao giờ để ý đến “các vùng đặc quyền kinh tế” được thừa nhận trong luật pháp quốc tế.

Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam cái mối quan hệ được ngầm hiểu là “bạn bè tốt, láng giềng tốt, đồng chí tốt” thì thời gian gần đây nó đã sụt giá xuống tới mức thấp thảm hại sau khi Việt Nam tuyên bố Trung Quốc đã phá hoại các tàu thăm dò dầu khí của họ và làm nổ ra những cuộc biểu tình hiếm thấy xưa nay trên đường phố ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.  

Các cuộc tranh chấp ở Biển Hoa Nam – Brunei, Malaysia, Philippine và Đài Loan đều tuyên bố họ có chủ quyền đối với một phần hoặc toàn bộ biển này – có thể bị cuốn theo rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó có sự bất đồng chung về ranh giới trên biển và nhu cầu duy trì quyền sử dụng các tuyến đường hàng hải thương mại. Một số nước còn tin rằng Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa đang tranh chấp có chứa trữ lượng rất lớn dầu mỏ và khí đốt, một lời khẳng định cho đến nay vẫn chưa được chứng minh.

Song một nguyên nhân lớn gây ra sự căng thẳng ấy là vị thế của khu vực này như là một trong những nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên quan trọng thứ hai của thế giới: cá.

Khoảng 10% nguồn cung cấp cá của toàn thế giới là có nguồn gốc từ vùng biển này, theo nguồn tin từ Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc, trong khi  có tới 1,9 triệu tàu thuyền thường xuyên đánh bắt cá tại đây, theo lời của Simon Funge-Smith, quan chức cấp cao về ngành thủy sản làm việc cho Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc tại Băng Cốc.

Trong khi Trung Quốc là nước tiêu thụ và xuất khẩu cá lớn nhất thế giới thì nền kinh tế của Việt Nam vẫn còn đang phụ thuộc vào ngành này như là một nguồn thu nhập. Năm ngoái hải sản là nguồn thu nhập ngoại tệ lớn thứ hai của nước này, chiếm 7% lượng hàng hóa xuất khẩu trị giá 71,6 tỉ đô la.

Bất chấp những mối rủi ro phải chịu đựng do các tàu tuần tra của Trung Quốc gây ra – khoan hãy nói đến sự thách thức  của việc đi biển tại vùng biển thường xuyên có bão này – ông Hiền và thuyền phó Lê Tân của ông là người đã bị cướp chiếc thuyền đánh cá trị giá 20 ngàn đô la hồi năm 2006 vẫn có những lý do thích đáng để tiếp tục theo đuổi nghề cá.  

Họ có thể kiếm được những khoản tiền lãi kha khá nếu vớ được mẻ lớn những loại cá xuất khẩu nổi tiếng như cá ngừ, cá mú và cá chỉ vàng và họ chẳng có lựa chọn nào khác ở một vùng biển mà nghề thủy sản từ đang hoạt động hết công suất.

Ngoài ra còn có một yếu tố khác có tính quyết định. Chính phủ Việt Nam cũng như các chính phủ khác trong khu vực đang muốn đẩy ngư dân của họ mạo hiểm đánh bắt xa bờ nhằm làm giảm áp lực đặt lên ngư trường gần bờ hiện đã bị khai thác quá mức và đồng thời là để có bằng chứng dự phòng khi cần chứng minh các tuyên bố chủ quyền của họ.

Nếu trước những tuyên bố của Trung Quốc mà Việt Nam cứ mặc nhiên đồng ý thế thì Việt Nam sẽ “bị coi là hoàn toàn công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với vùng biển tranh chấp này [Biển Đông]”, Nguyễn Đăng Thắng, một chuyên gia Việt Nam về luật biển đã viết như vậy trong một bài viết dành cho Khoa Nghiên cứu Quốc tế của Trường S. Rajaratnam ở Singapore.

Việt Nam, cũng như các nước khác, đã từng bao cấp xăng dầu cho các tàu thuyền đánh bắt xa bờ cũng như cho vay vốn lãi suất thấp hoặc hỗ trợ tài chính cho những chủ tàu thuyền nào muốn nâng cấp phương tiện đánh bắt cá. Bộ nông nghiệp của Việt Nam cũng đang tiến hành một chương trình trang bị hệ thống định vị vệ tinh cho 3000 tàu thuyền đánh bắt xa bờ.

Một số nhà phân tích thậm chí còn cho rằng chính phủ Việt Nam có thể đang cung cấp những ưu đãi tài chính trực tiếp cho những ngư dân dám mạo hiểm đánh bắt cá ở những khu vực họ có thể gặp nhiều nguy hiểm nhất bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ. Ngư dân và các quan chức chính quyền địa phương đã phủ nhận tuyên bố nói trên.

Ông Hiền nói: “Cuộc sống của chúng tôi cực lắm, chúng tôi chỉ ao ước được chính phủ hỗ trợ nhiều hơn nữa.”

“Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục đuổi bắt ngư dân Việt Nam để trấn lột cho tới khi những người ngư dân Việt Nam nhẵn túi, nhưng mà còn lâu nhé.”

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

 

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Gia đình/Xã hội, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | 19 phản hồi »

120. Phát biểu của ông John McCain tại hội thảo về an ninh hàng hải trên Biển Đông ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS)

Posted by adminbasam on 21/06/2011

Phát biểu của ông John McCain trong hội thảo

về an ninh hàng hải trên Biển Đông tại 

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế

(CSIS)

 

20-06-2011

Cảm ơn John [Hamre] về lời giới thiệu hào phóng đó và cảm ơn tình bạn của anh trong nhiều năm qua. Tôi rất vui khi trở lại CSIS, nơi đã làm nhiều điều với mục đích thông báo suy nghĩ của Mỹ đến với thế giới và sự lãnh đạo của chúng tôi trong đó.

Như quý vị biết, tôi vừa từ Đông Nam Á trở về, và trước khi tôi chuyển qua chủ đề của hội nghị này, tôi muốn cung cấp một số cảm tưởng ngắn gọn về chuyến đi Miến Điện của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi được phép trở lại đất nước này trong 15 năm, điều đó cho thấy dấu hiệu về chính phủ dân sự mới này có thể đại diện cho một sự thay đổi so với quá khứ. Một thay đổi đáng chú ý khác là thủ đô mới của Nay Pyi Taw. Các tòa nhà chính phủ lớn, các cung điện chạm đá cẩm thạch, các khách sạn mới toanh, đường cao tốc với 18 làn xe, và điều kỳ lạ là: không có ai ở đó. Chỉ có chúng tôi là những chiếc xe duy nhất trên đường. Các tòa nhà gần như trống rỗng.

Đó là một điều kỳ quặc mà tôi đã trải qua. Và chắc chắn đó là một sự tương phản đáng buồn với sự nghèo đói khốn cùng ở Rangoon. Tôi đến thăm một phòng khám tư nhân [của những người bị bệnh] AIDS, mọi người đông nghẹt, nhiều trẻ em mồ côi, những người cần sự chăm sóc nhiều hơn là những người có sẵn để chăm sóc cho họ. Tôi đã đi đến một dịch vụ cung cấp tang lễ miễn phí cho các linh hồn quá cố của những gia đình quá nghèo, để cho những người thân yêu của họ được chôn cất đàng hoàng. Đau lòng lắm, và điều này làm cho các bạn ước muốn, phải chi chính phủ [Miến Điện] cũng đầu tư sự nhiệt tình và tài nguyên để phát triển đất nước của họ với mức độ tương tự như là việc xây dựng thủ đô.

Tuy nhiên, trong các cuộc họp của tôi với Phó Chủ tịch Thứ nhất, hai người đứng đầu Quốc hội, và những người khác, rõ ràng là chính phủ này muốn có quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ. Tôi nhấn mạnh rằng chính phủ Hoa Kỳ và tôi chia sẻ khát vọng này, và rằng một điều như thế không phải là không thể đạt được. Sau cùng, nếu Hoa Kỳ và Việt Nam có thể cải thiện quan hệ, mà tôi biết một hoặc hai điều về vấn đề này, thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên, điểm chính tôi đã nhấn mạnh rằng, bất kỳ sự cải thiện mối quan hệ nào cũng cần được xây dựng, không những qua các cuộc nói chuyện vui vẻ, mà còn cần có các hành động từ cả hai phía. Hoa Kỳ cần sẵn sàng đặt mọi phương diện chính sách của chúng ta lên trên bàn, và để làm thay đổi những điều cụ thể mà chính phủ Nay Pyi Taw đã hỏi chúng tôi. Nhưng điều này chỉ có thể được thực hiện cùng với các hành động cụ thể về phía họ, đặc biệt là những lời kêu gọi của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: phóng thích tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép Hội Chữ thập đỏ được tự do vào thăm tất cả các nhà tù, bắt đầu một quá trình hòa giải quốc gia thực sự, có liên quan đến các đảng đối lập chính trị và dân tộc, gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, và bảo đảm sự an toàn và tự do đi lại của bà Aung San Suu Kyi.

Tôi đã có cơ hội gặp Bà [Aung San Suu Kyi] trong chuyến viếng thăm của tôi, và lý do tôi vẫn còn hy vọng cho người dân Miến Điện đó là vì bà. Hôm qua là sinh nhật của bà Aung San Suu Kyi và bà bày tỏ niềm hy vọng này: ‘Nếu được hỏi điều gì tôi mong muốn trong ngày sinh nhật của mình, tôi muốn hòa bình, ổn định và thịnh vượng cho đất nước tôi’. Người phụ nữ tuyệt vời này vẫn còn là nguồn cảm hứng cho những người dân của bà và cho tôi. Và tôi đồng ý với bà rằng, đây không phải là lúc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh trừng phạt. Chúng ta cũng nên làm việc để thiết lập một Ủy ban Điều tra Liên hợp quốc, mà điều này không liên quan gì đến sự trừng phạt, và tất cả mọi thứ liên quan đến sự thật và công lý cho người dân Miến Điện.

Từ Miến Điện, tôi đã đi đến Singapore tham dự Đối thoại Shangri La, nơi mà một trong những chủ đề chính của cuộc thảo luận là chủ đề của hội nghị này: an ninh hàng hải ở biển Đông. Vấn đề này gây xúc động mãnh liệt giữa các nước tuyên bố chủ quyền trên vùng biển và vùng lãnh thổ. Và các chuyên gia thực sự hiểu những vấn đề phức tạp về lịch sử và pháp lý của những tuyên bố chủ quyền này, thì rất ít. Tôi đến từ Arizona, nơi mà chúng ta biết việc tranh đấu sử dụng đất và nước phức tạp như thế nào. Tôi cũng là một cựu lính Hải quân đã dành phần lớn cuộc đời của mình đi đây đó và làm việc về các vấn đề an ninh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và tôi càng lo ngại, rằng biển Đông đang trở thành một điểm nóng xung đột.

Những năm vừa qua cho thấy sự leo thang nhanh chóng về tình trạng căng thẳng giữa các nước trong khu vực hàng hải đang tranh chấp và hay thay đổi này. Tôi không cần phải nói lại cho quý vị ở đây nghe tất cả các sự cố này. Dĩ nhiên, điều quan trọng là tất cả các bên thực hiện sự kiềm chế. Và để chắc chắn rằng, các đối tác ASEAN của chúng ta sẽ cần phải thỏa hiệp, đặc biệt là các nước thoả hiệp với nhau, để đạt được một kết quả hòa bình và cùng có lợi, như nhiều nước  trong số các nước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là, tình hình này cần phải nói thẳng một chút: Một trong những lực lượng chính làm cho các căng thẳng trên biển Đông trầm trọng hơn, và làm cho giải pháp hòa bình của các tranh chấp này khó khăn hơn để đạt được, đó là hành vi hung hăng của Trung Quốc và việc đòi chủ quyền lãnh thổ vô căn cứ mà họ tìm cách theo đuổi.

Tôi chẳng vui vẻ gì để nói điều này.Tôi tin rằng một trong những lợi ích quốc gia hàng đầu của Hoa Kỳ là việc duy trì và tăng cường quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc. Tôi muốn Trung Quốc thành công và phát triển một cách hòa bình. Và tôi tin rằng không có lực lượng lịch sử nào lên án các nước của chúng ta (có lẽ ông McCain muốn nói các nước khác – không phải Trung Quốc – đang tranh chấp) về xung đột. Thật vậy, phạm vi hợp tác toàn cầu của chúng ta là rộng hơn bao giờ hết, kể cả các vấn đề an ninh hàng hải, rõ ràng để cho mọi người thấy các hoạt động chung của chúng ta ra ngoài khơi bán đảo Somali (Horn fo Africa).

Điều gây khó khăn cho tôi, và tôi nghĩ nó cũng gây khó khăn cho nhiều quý vị ở đây, đó là các tuyên bố mở rộng mà Trung Quốc tuyên bố trên biển Đông; các lý do căn bản cung cấp cho các tuyên bố này, không có cơ sở luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng quyết đoán mà Trung Quốc đang thực hiện để thực thi các quyền tự nhận của họ, gồm cả vùng biển trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các sự cố riêng biệt liên quan đến Việt Nam và Philippines. Bản đồ về cái gọi là chín vạch của Trung Quốc tuyên bố tất cả các đảo trên biển Đông là chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và tất cả các vùng lãnh hải của nó là vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Hơn nữa, những giải thích cụ thể về luật pháp quốc tế của Trung Quốc sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải – bóp méo nguyên tắc về khái niệm mở rộng cho mọi người đi vào, khái niệm loại trừ sẽ hạn chế đi vào [vùng biển]. Một số người ở Trung Quốc thậm chí còn đề cập đến học thuyết này, như trích dẫn, ‘chiến tranh pháp lý’.

Tại sao điều này quan trọng đối với Hoa Kỳ? Đây là câu hỏi mà nhiều người Mỹ sẽ hỏi, đặc biệt là khi chúng ta liên quan đến ba cuộc xung đột đã xãy ra, và khi nợ quốc gia của chúng ta thực sự trở nên không bền vững. Tại sao Mỹ nên quan tâm đến tranh chấp lãnh hải của các nước bên ngoài cách xa nửa vòng trái đất?   

Chắc chắn có lý do kinh tế để tham gia. Khu vực biển Đông là nguồn quan trọng về công việc làm và tài nguyên thiên nhiên có lợi cho nhiều người Mỹ. Tuy nhiên, có lẽ xét rộng hơn là yếu tố chiến lược. Trung tâm địa chính trị thế giới hấp dẫn đang chuyển sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực, trong đó nhiều nước đang trỗi dậy cùng một lúc về sự giàu có và sức mạnh. Điều này tạo ra sự va chạm giữa các quốc gia, nơi các tranh chấp cũ vẫn chưa được giải quyết. Hoa Kỳ có một lợi ích an ninh quốc gia trong việc duy trì sự cân bằng chiến lược thuận lợi trong khu vực quan trọng này. Và trọng tâm đó là để bảo vệ quyền tự do phổ quát trong việc đi lại và đi vào các vùng biển như một nguyên tắc căn bản của trật tự quốc tế.

Những nỗ lực phủ nhận tự do hàng hải trên biển Đông đặt ra một thách thức nghiêm trọng đến trật tự quốc tế, dựa trên luật lệ, rằng Hoa Kỳ và đồng minh của chúng tôi đã duy trì trong nhiều thập kỷ. Nếu những nỗ lực này thành công – sẽ liên tục bắt nạt, cho phép một nước áp đặt tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của mình bằng vũ lực và biến biển Đông thành một khu vực không cho các tàu thương mại và quân sự của các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, đi vào, hậu quả sẽ thật thảm khốc. Điều đó có thể thiết lập một tiền lệ nguy hiểm để làm suy yếu luật pháp quốc tế, theo cách mà những người có ý định bệnh hoạn chắc chắn sẽ áp dụng ở những nơi khác. Điều đó có thể tạo ra sự khuyến khích gia tăng quyền lực gây phiền hà khắp mọi nơi, để sử dụng vũ lực, điều mà các phương tiện pháp lý và hoà bình không thể bảo đảm cho họ. Và nó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn vào một ngày, khi hải quân Mỹ thấy rằng không thể đi vào và hoạt động một cách an toàn ở Tây Thái Bình Dương.      

Vậy thì Hoa Kỳ nên làm những gì? Để tôi cung cấp một vài đề nghị để kết thúc.

Thứ  nhất, về lập trường của Mỹ trên biển Đông, chúng ta nhận thấy rằng, nếu có thể, một chính sách rõ ràng có thể ổn định hơn so với một chính sách không rõ ràng. Tôi hoan nghênh Ngoại trưởng Clinton khi tuyên bố rằng các bên tranh chấp trên biển Đông phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương, và chúng ta sẽ tìm cách tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán. Đa số các nước châu Á hoan nghênh tuyên bố đó. Trên hết, đây là mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng, không phải giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, rất hữu ích cho chúng ta tiếp tục nói rõ quan điểm của Mỹ, để các nước khác có thể biết, Hoa Kỳ chấp nhận những yêu sách nào, yêu sách nào chúng ta không chấp nhận, và những hành động nào chúng ta chuẩn bị để hỗ trợ các chính sách và các đối tác của chúng ta, đặc biệt là Philippines, một nước đồng minh có ký hiệp ước.

Thứ hai, Hoa Kỳ nên hỗ trợ các đối tác ASEAN của chúng ta trong việc giải quyết tranh chấp của họ trên biển Đông, như một phương tiện cổ vũ ASEAN đoàn kết hơn để đối mặt với Trung Quốc. Trung Quốc tìm cách khai thác sự chia rẽ giữa các thành viên ASEAN – làm cho họ chống đối nhau, để phục vụ cho kế hoạch riêng của Trung Quốc. Giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các nước ASEAN, như Malaysia và Brunei gần đây đã thực hiện, sẽ cho phép các đối tác của chúng ta thiết lập một mặt trận thống nhất hơn.

Thứ ba, Hoa Kỳ cần giúp đỡ các đối tác ASEAN của chúng ta tăng cường sự phòng thủ trên biển và khả năng phát hiện – để phát triển và triển khai các hệ thống cơ bản như radar cảnh báo sớm và các tàu an ninh ven biển. Bù đắp sự thiếu thốn này, và tăng cường tập trận chung với chúng ta, sẽ cung cấp một hình ảnh hoạt động phổ biến hơn trên biển Đông và khả năng đối phó tốt hơn với các mối đe dọa.

Thứ tư, Thượng viện Mỹ cần quan tâm hơn đến Công ước LHQ về Luật Biển. Tôi biết điều này không phổ biến ở một số người bảo thủ. Chính tôi cũng đã nghi ngờ về công ước. Nhưng thực tế là, chính phủ các nhiệm kỳ kế tiếp của cả hai đảng đã tôn trọng những nhận xét cơ bản của Công ước, mặc dù không cần phải ký. Trong khi đó, các nước như Trung Quốc đã ký công ước mà không thực hiện đúng, nhắm tới việc từ chối [không cho các nước] đi vào vùng biển quốc tế. Điều này làm cho Hoa Kỳ phải dựa vào ân huệ của các nước ngoài cũng như dựa vào sức mạnh lớn hơn của chính mình để bảo đảm quyền đi lại của Mỹ. Nhưng những điều này là đặc ân, không thể được xem như lúc nào cũng có sẵn, đó là lý do Hải quân Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ Công ước [LHQ về Luật Biển] và tính pháp lý của nó, để bảo đảm nó phục vụ cho các hoạt động hải quân của chúng ta. Do đó, vì lý do an ninh quốc gia, Thượng viện cần phải quyết định, đã đến lúc phê chuẩn Hiệp ước Luật Biển.   

Thứ năm, chúng ta cần phải chuyển sức mạnh của lực lượng Mỹ, chú trọng nhiều hơn vào những khu vực cạnh tranh mới trỗi dậy, đặc biệt là Ấn Độ Dương và Biển Đông. Tôi đã tham gia với các đồng nghiệp của tôi ở Hội đồng Quân sự Thượng viện, Thượng nghị sĩ Carl Levin và Jim Webb, để kêu gọi cho thêm thời gian đánh giá lại kế hoạch về các căn cứ của chúng ta ở Nhật Bản và Guam. Và tôi đã làm như thế để Mỹ không phải rút khỏi châu Á, mà là tăng cường cam kết của chúng ta đối với an ninh trong khu vực.

Không phải là nơi Quốc hội có ý kiến về các thỏa thuận căn cứ trong khu vực, mà là thực tế tình hình mới và chi phí vượt quá mức, đã đặt vấn đề về các kế hoạch hiện tại của chúng ta, nên Quốc hội phải đặt những câu hỏi khó. Mục tiêu của chúng ta nên chuyển tới nơi có vị thế địa lý hơn, đưa quân đội rải rác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, như Bộ trưởng Quốc phòng Gates đã mô tả, và trung tâm của nỗ lực đó sẽ luôn luôn là những cam kết căn cứ của chúng ta với các đồng minh lịch sử như Nhật Bản và Nam Hàn.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải tiếp tục các khoản đầu tư cần thiết vào khả năng phòng thủ của chúng ta, đặc biệt là lực lượng hải quân, để duy trì sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới. Chúng ta đang phải đối mặt với áp lực rất lớn trong nước để cắt giảm chi tiêu, gồm cả chi tiêu quốc phòng, và một số cắt giảm chắc chắn cần thiết. Những người có lý lẽ có thể không đồng ý về việc cắt giảm này, nên cắt thêm bao nhiêu. Nhưng gần đây, khi Tổng thống cam kết cắt giảm 400 tỷ đô la về chi tiêu quốc phòng trong thời gian 12 năm, không có cơ sở chiến lược hợp lý về lý do tại sao con số này đã được lựa chọn hoặc những rủi ro gì nó sẽ gây ra, và Bộ trưởng Quốc phòng chỉ được nói về điều đó một ngày trước khi sự việc xảy ra, tôi nghĩ rằng những người có lý lẽ cũng có thể đồng ý rằng, điều này không phải là cách để lên kế hoạch quốc phòng của chúng ta. Chúng ta phải [lên kế hoạch] dựa vào chiến lược hướng dẫn, không thể [dựa vào] những con số tùy tiện.

Những sự kiện hiện đang xảy ra trên biển Đông sẽ đóng một vai trò quyết định trong việc định hình sự phát triển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ này. Và Hoa Kỳ phải tiếp tục tham gia tích cực vào quá trình đó. Về vấn đề này, tôi gặp rắc rối do các báo cáo gần đây của một số đồng nghiệp của tôi trong Quốc hội và một số ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Cộng hòa, cho thấy mong muốn rút khỏi thế giới và giảm các cam kết của chúng ta ở nước ngoài. Hoa Kỳ đã mắc phải sai lầm đó trước đây, và chúng ta nên học bài học lịch sử này, không để nó lặp lại. Cuối cùng, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, chính Mỹ được hưởng lợi lớn nhất nhờ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đó là duy trì bởi quyền lực và sự lãnh đạo của Mỹ. Chúng ta từ bỏ vai trò đó là nguy hiểm cho thế giới và cho chính chúng ta.

Nếu các bạn đến từ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ để mang một thông điệp về nhà với các bạn, thông điệp đó sẽ là: Luôn có xu hướng cô lập ở Mỹ, nhưng người Mỹ đã bác bỏ nó trước đây, và tôi tin rằng bây giờ người Mỹ sẽ bác bỏ nó một lần nữa. Sẽ luôn có một cơ sở vững chắc ở Mỹ hỗ trợ cho một chính sách quốc tế mạnh mẽ ở nước ngoài. Chính sách đó sẽ không thay đổi, kể cả ở Mỹ. Chúng tôi sẽ không rút khỏi hoặc không bị đẩy ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chúng tôi sẽ ở lại đó, [thực hiện] cam kết với bạn bè và đồng minh của chúng tôi, và chúng ta sẽ cùng nhau thành công.

Ngọc Thu, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, lược dịch từ: http://www.ustream.tv/recorded/15514848

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: | 17 phản hồi »

119. Bắc Kinh tham chiến

Posted by adminbasam on 21/06/2011

New York Post

Bắc Kinh tham chiến

Tại sao Việt Nam muốn chúng ta quay lại?

 Arthur Herman

Ngày 20-6-2011

36 năm sau khi đuổi người Mỹ khỏi Việt Nam, những nhà lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội bây giờ lại muốn chúng ta (Mỹ) quay lại. Sự thay đổi kỳ cục này có nhiều khía cạnh đáng châm biếm, nhưng nguyên nhân của nó thì đơn giản: Trung Quốc.

Bắc Kinh đã và đang gồng cơ bắp quân sự mới nhú cùng những tham vọng địa chính trị của họ, bất chấp sự hiện diện của các nước láng giềng. Cùng với các chiến dịch tấn công trên mạng toàn cầu, Trung Quốc bớt giống một siêu cường đang nổi lên mà lại có vẻ giống một kẻ hay bắt nạt và đang mất kiểm soát hơn.

Cuộc cãi cọ gần đây nhất với Việt Nam – một thời là đồng minh, bây giờ là kẻ thù không thay đổi của Trung Quốc – xoay quanh việc thăm dò dầu khí ở biển Nam Trung Hoa, nơi Trung Quốc yêu sách về chủ quyền duy nhất của họ, và là nơi Việt Nam vừa tiến hành tập trận hải quân bắn đạn thật để bảo vệ quyền của mình. Trung Quốc đã phản ứng bằng những cuộc tập trận riêng kéo dài suốt ba ngày đêm, mặc dù họ nói họ sẽ không “dùng đến vũ lực” để giải quyết tranh chấp. Tuy vậy, Việt Nam đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ hoan nghênh sự trợ giúp của nước ngoài – một lời mời kín đáo nhưng rất rõ ràng đối với Mỹ và hải quân Mỹ.

Ở đây có một cơ hội cho chính sách của nước Mỹ, không chỉ để khép lại mọi tranh cãi xung quanh cuộc chiến tranh gây chia rẽ nhất trong lịch sử Mỹ, mà còn để tìm ra một cách mới, có tính thực tiễn hơn, trong việc đương đầu với những nhà cầm quyền ở Bắc Kinh. Đó là bởi vì đang có những vấn đề đang sắp xảy ra cho Trung Quốc – và không chỉ trong quan hệ với láng giềng.

Trong vài tuần qua, một đợt sóng bất ổn nghiêm trọng đã tràn qua các thành phố ở Trung Quốc. Bạo lực bùng nổ – thậm chí có cả những vụ nổ bom – chống lại chính quyền Bắc Kinh.

Không có dấu hiệu nào của một cuộc nổi dậy có tổ chức theo kiểu Mùa xuân Ả-rập. Nhưng số vụ việc mà chính quyền gọi là “sự cố đám đông” (mass incidents, có người dịch là “sự cố lớn”) đang gia tăng đều đều. Năm 2008 có tới 127.000 vụ. Những vụ như thế sẽ tồi tệ đi trước khi chúng tốt lên – và không chỉ là do chính quyền Bắc Kinh vẫn không làm sao mà dập tắt được những ý kiến bất đồng trên Internet.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế như một hiện tượng của Trung Quốc đang chựng lại. Giá dầu tăng cao cùng lạm phát dâng lên đang xóa sạch nhiều thành tựu kinh tế. Nếu nền kinh tế Mỹ – nguồn đầu ra chủ lực cho hàng xuất khẩu Trung Quốc – không sớm phục hồi, thì điều ấy có thể đe dọa kỷ lục tăng trưởng dài lâu, chưa từng bị gián đoạn của Trung Quốc, và từ đây sẽ tạo đà cho nhiều rắc rối hơn.

Vâng, chuyện này thách thức hình ảnh trên truyền thông của Trung Quốc, vốn được khắc họa như một thế lực hùng mạnh biết tuốt, làm được tuốt. Thậm chí nhiều người trong chính quyền Obama có vẻ nghĩ rằng Trung Quốc lớn và hùng mạnh quá đến nỗi chúng ta không dám cản trở hoặc xúc phạm họ – nhất là khi họ nắm giữ tất cả các khoản nợ của  Mỹ. Nhưng người Mỹ có thói quen đánh giá quá cao các đối thủ. Trong Thế chiến II, truyền thông và thậm chí cả CIA cũng tin vào những lời tuyên truyền rằng kinh tế Xô Viết đang cạnh tranh với chúng ta – mãi cho đến những năm 1980 khi Liên Xô lộ ra là cũng chỉ là một nước chậm phát triển. (Nguyên văn: Third World basket, nghĩa là tập hợp các nước chậm phát triển, hoặc khối các nước không liên kết ở châu Phi và châu Á – ND).

Sau đó lại có nỗi lo sợ rằng công ty Nhật Bản sẽ mua Mỹ cùng với Trung tâm Rockefeller, cho tới tận những năm 90 khi những chiếc bánh xe văng khỏi cỗ máy tăng trưởng của Nhật Bản. Suốt hơn một thập niên, gói kích thích kinh tế kiểu Obama đã giữ cho Nhật Bản trụ được ở vị trí thứ hai.

Tăng trưởng của Trung Quốc thì là tăng trưởng thật sự, khoảng 6,1% GNP đầu người một năm trong thời gian 1978-2003 – mặc dù không ấn tượng lắm so với Nhật Bản (8,2%), Hàn Quốc (7,6%), và Đài Loan (7,1%) trong những giai đoạn cất cánh tương tự.

Nhưng điều ấy cũng tạo ra những vấn đề to lớn cho một chính quyền trung ương đang cố gắng kiểm soát nhân dân – những người dân mà, sau khi được hưởng quyền tự do kinh tế lớn hơn, đã bắt đầu muốn được tự quản đời sống của mình. Làn sóng bất ổn mới đây nhất đã cho thấy điều đó.

Nỗi sợ mất kiểm soát ở trong nước góp một phần vào việc nuôi sự phiêu lưu và hung hãn của Trung Quốc ở nước ngoài. Việt Nam chỉ là trường hợp mới đây nhất, và là lời đề nghị mở đối với Mỹ, xin sự giúp đỡ của Mỹ. Đề nghị này không nên bị bỏ qua.

Nhà Trắng dưới thời Obama đã mụ mị đi khi phải đối phó với Trung Quốc, chỉ trừ những lúc tung ra các bữa tiệc chiêu đãi khúm núm để tôn vinh các vị lãnh đạo của họ. Tuy nhiên, một lập trường mạnh mẽ, không vô nghĩa, sẽ được hoan nghênh bởi gần như mọi quốc gia khác, kể cả Ấn Độ, Nhật Bản, và toàn Tây Âu. Tin tặc Trung Quốc không chỉ theo sát Mỹ. Bọn họ đã làm đảo lộn các ngân hàng và doanh nghiệp ở Anh, và có tin rằng bọn họ còn thâm nhập cả vào máy tính của cả thủ tướng Đức lẫn thủ tướng Australia.

Cuối cùng thì, quả thật đứng dậy trước Trung Quốc có thể lại là điều tốt đẹp nhất cho chính người Trung Quốc.

Một nước Mỹ mạnh mẽ, quyết đoán, có thể khiến Bắc Kinh phải ngừng hành động bắt nạt nước khác và tập trung vào cải cách ở trong nước, trước khi nền kinh tế của chính họ trượt dốc và bất ổn bắt đầu lan tràn. Đó là điều Trung Quốc không muốn, và chúng ta không thể để như thế được.

Arthur Herman là tác giả cuốn sách “Gandhi và Churchill”, giải Pulitzer năm 2009.

Người dịch: Đỗ Quyên

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Việt-Trung | 3 phản hồi »

118. Biển Đông:tranh chấp leo thang TQ&VN gây thiệt hại rất lớn về kinh tế

Posted by adminbasam on 21/06/2011

International Business Times

Biển Hoa Nam [Biển Đông]:

Tranh chấp leo thang giữa Trung Quốc và

Việt Nam gây thiệt hại rất lớn về kinh tế

Michael Martin

Ngày 16 tháng 6 năm 2011

Hôm nay [16 tháng 6 năm 2011] Bắc Kinh đã cử một chiếc tàu tuần dương tới Biển Hoa Nam.

Ấy thế nhưng phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi vẫn xác nhận rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ “không sử dụng sức mạnh” trong tranh chấp gia tăng với Việt Nam và năm nước và vùng lãnh thổ về chủ quyền đối với vùng nước có giá trị lớn này.

Nhưng đến giờ thì thực sự cũng chẳng ai biết có bao nhiêu khí thiên nhiên và dầu mỏ ở bên dưới đáy biển Hoa Nam.

Một số nguồn tin của Trung Quốc ước tính trữ lượng là trên 200 tỉ thùng, tức là xấp xỉ 80% trữ lượng dầu mỏ của Ả-Rập Saudi, song số khác lại cho rằng đó là một sự thổi phồng quá mức.

Lợi thì chưa thấy đâu nhưng ngay bây giờ thì Trung Quốc đã có thể tính toán được rằng tình hình tranh chấp leo thang với Việt Nam về vùng biển nói trên sẽ gây thiệt hại thế nào tới nền kinh tế của Trung Quốc.

Nhìn sơ sơ thôi thì chi phí thiệt hại đã là 12,7 tỉ đô la Mỹ – tổng số tiền thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc trong năm 2010, theo nguồn tin của Tổng cục Thống Kê của Việt Nam.

Số tiền đó bằng bảy phần trăm thặng dư thương mại của Trung Quốc trong năm ngoái, một con số tuy nhỏ nhưng là một khúc quan trọng trong thu nhập của nước này.

Mặt khác, các nhà phân tích cho rằng nếu Trung Quốc dốc toàn lực cho cuộc chiến tranh có thể xảy ra thì tổn thất phải tính đến sẽ lớn hơn rất nhiều.

Đáp trả cuộc tập trận bắn đạn thật kéo dài sáu tiếng đồng hồ của Việt Nam ở Biển Hoa Nam – một tiếng đồng cho mỗi một nước và vùng lãnh thổ đang tuyên bố khẳng định chủ quyền đối với vùng biển này – phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố rằng Trung Quốc “sẽ không sử dụng sức mạnh” để đáp trả điều họ coi là những cuộc tấn công vào một khu vực mà nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa đang khẳng định có “chủ quyền không thể tranh cãi”.”

“Tôi nghĩ rằng kinh tế dứt khoát có mối liên quan nào đó trong lời tuyên bố này,” chuyên gia kinh tế trưởng Nariman Behravesh của tổ chức phân tích kinh tế hàng đầu thế giới IHS Global Insight đã nói như vậy trong một cuộc điện đàm từ Luân Đôn.

“Trung Quốc đang có mối liên kết thương mại ngày càng phát triển với tất cả các nước châu Á, nhất là những nước quan tâm tới Quần đảo Trường Sa,” Behravesh nói trong lúc ám chỉ tới những hòn đảo đang có tranh chấp ở ngoài khơi bờ biển chung của Trung Quốc và Việt Nam.

Các nhà phân tích tin rằng bất chấp Trung Quốc đang dùng những từ ngữ gay gắt tuôn ra dồn dập tại thời điểm này để buộc tội Việt Nam đe dọa quyền tự trị của Trung Quốc ở khu vực này, song Trung Quốc có lẽ rồi sẽ thực hiện đúng lời hứa của họ là sẽ giảm bớt căng thẳng trong quan hệ hai nước.

“Có một cách để đánh giá khả năng có thể dẫn đến xung đột vũ trang,” Tiến sĩ Donald K. Emmerson giám đốc Diễn đàn Đông Nam Á của Đại học Stanford đã nói như vậy.

Emmerson đã tham dự cuộc đối thoại Shangri-La 2011 tại Singapore sau khi tàu của Trung Quốc cắt đứt cáp của tàu khảo sát của PetroVietnam hồi cuối tháng trước. Trung Quốc vẫn giữ giọng điệu hòa giải vào thời điểm đó và cho đến tận lần tấn công tiếp theo vào hôm 9 tháng 6 khi một chiếc tàu khác của Trung Quốc đã cắt đứt cáp của tàu của PetroVietNam trong một diễn biến mà phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga gọi là một cuộc tấn công “có suy tính trước”.

“Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào lượng nhập khẩu nhiên liệu từ Trung Đông. Nhiên liệu nhập khẩu này đi qua Eo biển Malacca để đi vào Biển Hoa Nam. Nếu Trung Quốc tiến hành một cuộc chiến tranh tại khu vực vận chuyển quá cảnh nhiên liệu quan trọng bậc nhất này thì quyết định đó sẽ là không khôn ngoan,” Emmerson nói.

Đó là một lý do để chiến tranh không xảy ra ở Biển Hoa Nam.

Một lý do khác nữa để các nước Đông Nam Á và các vùng lãnh thổ đang có tranh chấp ở vùng biển này – tổng số là sáu, trong đó có Việt Nam, Philippine và Đài Loan – không gây chiến với Trung Quốc ấy là để duy trì sự ổn định địa chính trị trong vùng.

“Các nước có chung biên giới [biển] hiểu rằng một cuộc chiến tranh thực sự với những chiếc tàu chở dầu bị nổ tung trên biển sẽ là điều quá nguy hiểm đối với những quốc gia liên quan,” ông nói đồng thời giải thích rằng nền kinh tế thế giới sẽ rung chuyển dữ dội bởi sự gián đoạn của tuyến đường vận chuyển quan trọng này.

Hàng năm một nửa số tàu thuyền thương mại của thế giới tính theo khối lượng hàng hóa đi qua Biển Hoa Nam, Emmerson nói.

“Đó là một tuyến đường huyết mạch khổng lồ của thương mại toàn cầu. Mặc dù đúng là Biển Hoa Nam là hành lang [tốt nhất], song còn có những tuyến đường lựa chọn khác đòi hỏi chi phí cao hơn, ấy là đi tiếp về phía đông qua Philippine và Indonesia.”

Nếu chọn các giải pháp đó thì cả Emmerson lẫn Behravesh làm việc tại Global Insight đều coi tương lai của Trung Quốc nằm ở sự hợp tác của nước này với các đối tác ASEAN ở phía Nam.

Và điều này là có tiền lệ.

Emmerson giải thích rằng vào tháng 7 năm 2005 Trung Quốc, Trung Quốc, Philippine và Việt Nam đã cùng nhau tiến hành một dự án khảo sát địa chấn biển – các bên tham gia ký kết là các công ty như PetroVietnam chứ không phải là các ngoại trưởng hoặc thủ tướng. Dự án được tiến hành với danh nghĩa công việc chung giữa các công ty nhằm bắt đầu tìm kiếm để biết xem trữ lượng dầu dưới đáy biển là bao nhiêu. 

“Lúc đầu điều họ muốn là dự án thăm dò chung rồi sau đó mới là khai thác chung. Sau đó thì dự án này đã hết hiệu lực vào năm 2008,” ông nói thêm.

Nếu Trung Quốc cứ dứt khoát bám lấy lợi ích từ nguồn dầu mỏ có thêm này [từ Biển Đông] trong cuộc chạy đua không ngừng nhằm cung cấp nhiên liệu cho nền kinh tế đang tăng trưởng, thế thì Việt Nam cũng sẽ bám lấy lợi ích của họ.

“Tôi dĩ nhiên nghĩ rằng Việt Nam có đủ năng lực để khai thác nguồn dự trữ đó [dầu mỏ và khí đốt ở Biển Đông] thông qua các liên doanh,” Behravesh nói đồng thời giải thích rằng một mối quan hệ đối tác hai bên cùng có lợi trong lĩnh vực dầu mỏ có thể góp phần làm dịu sức nóng địa chính trị trong khu vực và cho phép sự khai thác chung các nguồn tài nguyên của khu vực.  

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

117. TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Posted by adminbasam on 20/06/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

TRUNG QUỐC TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Tư, ngày 15/06/2011

TTXVN (Hồng Công 13/6)

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 8/6 đăng bài của nhà bình luận độc lập Chu Tuệ Lai cho biết trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đang dần hình thành “sách lược hai cánh tay” và sách lược này có thể sẽ được Trung Quốc thực thi lâu dài. Dưới đây là nội dung bài viết:

Từ ngày 3 đến 5/6, Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 10 (còn gọi là Đối thoại Shangri – La 10) đã được tổ chức tại Xinhgapo. Đối thoại Shangri-La 10 không chỉ có quy mô lớn nhất mà lần đầu tiên còn chứng kiến sự có mặt của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc. Nhiều năm lại đây, Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) đã trở thành vấn đề khó tránh được tại Đối thaọi Shangri-La và năm nay cũng không là ngoại lệ. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt nhấn mạnh Trung Quốc nỗ lực vì hoà bình và ổn định của Biển Đông cho thấy “sách lược hai cánh tay” của Trung Quốc trong vấn đề về Biển Đông đã dần được thành hình.

Hai nhân tố quyết định tính phức tạp của vấn đề Biển Đông

Tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn là một mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng của nền ngoại gioa Trung Quốc nhiều năm nay. Việc này đương nhiên là chịu ảnh hưởng của vấn đề sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh của hải quân và không quân chưa được như ý muốn, nhưng cũng liên quan tới chiến lược ngoại giao phát triển toàn cục của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, việc có thành công hay không trong sách lược tránh không để vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn phụ thuộc vào hai nhân tố sau.

Thứ nhất, thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ có can dự vào vấn đề Biển Đông hay không. Là siêu cường thế giới, Mỹ không những có đồng minh và các căn cứ quân sự quan trọng nhất ở khu vực Đông Á, mà còn được nhiều nước trong khu vực dựa vào để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc. Do đó, vấn đề Biển Đông có trở nên phức tạp hay không, thái độ và chính sách của Mỹ đóng vai trò rất quan trọng. Một khi Mỹ thay đổi thái độ duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông, trắc trở và bất ngờ sẽ nảy sinh.

Lâu nay, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ lần lượt đặt ở châu Âu và vấn đề chống khủng bố. Tại khu vực Đông Á, Mỹ quan tâm nhiều tới các nước đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc. Đối với Đông Nam Á, Mỹ dường như không có thời gian để quan tâm tới khu vực này. Mãi tới năm 2010, Mỹ mới lớn tiếng tuyên bố trở lại Đông Nam Á. Trước đó, Mỹ thiên về xu hướng duy trì hiện trạng trong vấn đề Biển Đông hay nói một cách khác là Mỹ giữ lập trường “trung lập” trong vấn đề này. Và bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hà Nội vào tháng 7/2010 đã đánh dấu sự chuyển biến trong thái độ của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông, từ “trung lập” sang “can dự”. Sự thay đổi về thái đọ của Mỹ đã giúp các nước như Việt Nam và Philippin nhìn thấy hy vọng, trở nên mạnh mẽ hơn trong cả lời nói lẫn hành động. Ở khía cạnh khác, sự can dự của Mỹ đã khiến phức tạp hoá trở thành xu thế lớn của vấn đề Biển Đông.

Hai là, ASEAN có đoàn kết được hay không cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng vấn đề Biển Đông trở nên phức tạp hơn. Trong 10 nước thành viên ASEAN chỉ có 4 nước là Việt Nam, Philippin, Malaixia và Brunây đang tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó Việt Nam và  Philippin là hai nước chủ chốt. Đối với ASEAN, Biển Đông là vấn đề lớn ảnh hưởng tới tiến trình nhất thể hoá của tổ chức này. Hiện nay, ASEAN đang đứng trước khó khăn giữa nhất thể hoá nội bộ và xử lý quan hệ với Trung Quốc, duy trì ổn định khu vực.

Lâu nay, Trung Quốc kiên trì theo đuổi lập trường: Vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề giữa Trung Quố và ASEAN mà là vấn đề giữa các nước xung quanh Biển Đông với nhau. Vì vậy, Trung Quốc nhấn mạnh tới việc sử dụng cơ chế song phương để giải quyết vấn đề này, phản đối việc đa phương hoá và quốc tế hoá vấn đề Biển Đông. Đối với Trung Quốc, sự đoàn kết của ASEAN không chỉ đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một sức mạnh tập thể, mà còn đặt ngoại giao xung quanh Trung Quốc trước những thách thức toàn diện.

Trung-Mỹ thừa nhận có lợi ích chung ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Trước tình hình trên, Trung Quốc có thể sử dụng “sách lwocj hai cánh tay” để đối phó.

“Cánh tay thứ nhất” là thông qua tăng cường giao lưu hợp tác để giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của việc Mỹ can dự vào vấn đề Biển Đông trong khung nhận thức chung về việc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, cùng thắng mà nguyên thủ Trung Quốc và Mỹ đã đạt được. Tại cuộc Đối thoại Chiến lược An ninh Trung-Mỹ lần đầu tiên từ ngày 9 đến ngày 10/5 tại Oasinhton (Mỹ), hai bên thừa nhận có lợi ích chung trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, quyết định xây dựng cơ chế hiệp thương Trung-Mỹ về các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc hoan nghênh Mỹ tiếp tục phát huy vài trò tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sau đó, Tổng Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức đã thăm Mỹ, đề xuất việc xây dựng “quan hệ quân sự kiểu mới” với Mỹ, ở một mức độ nào đó đã giúp tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ về an ninh chiến lược.

Trong bài phát biểu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế ngày 31/5, ở Washington D.C, Trợ lý Ngoại giao Mỹ phụ trách các vấn đề châu Á-Thái Bình Dương, Kurt Campbell đã nói rằng “một trong những công việc quan trọng nhất mà Mỹ phải làm năm nay tại Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á chính là thể hiện nỗ lực hợp tác với Trung Quốc”. Tại Đối thoại Shangri-La 10, tuy Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates tuyên bố sẽ tiếp tục theo đuổi những cam kết an ninh với các nước đồng minh châu Á-Thái Bình Dương, hơn nữa còn duy trì lực lượng quân sự hùng mạnh tại châu Á, nhưng ở một mức độ rất lớn, người ta vẫn chưa thấy sự sáng rõ trong quan hệ Trung-Mỹ cũng như việc hai nước sẽ đóng vai trò gì hay Mỹ sẽ khôi phục vị thế của mình như thế nào tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương… Điều đó có nghĩa, phát biểu của Gates tại Đối thoại Shangri-La 10 đã không tách rời nền tảng hợp tác Mỹ-Trung.

Do vậy, trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ đều phải tuân theo chiến lược toàn cục của mỗi nước. Đối với Trung Quốc, vấn đề Biển Đông thuộc chủ quyền, là lợi ích cốt lõi và nước này không muốn thay đổi lập trường nhất quán là duy trì hiện trạng tự do đi lại ở Biển Đông và không thách thức vai trò lãnh đạo châu Á-Thái Bình Dương, nước này sẽ không đối kháng với Trung Quốc, đó là chưa nói đến việc vấn đề Biển Đông ở một ý nghĩa nào đó, chỉ là công cụ của Mỹ.

“Cánh tay thứ hai” là tiếp tục ngăn chặn sự đoàn kết của ASEAN trong vấn đề Biển Đông, kiểm soát vấn đề Biển Đông trong phạm vi song phương giữa Trung Quốc và các nước liên quan. Sách lược này được cấu thành bởi hai bộ phận.

Thứ nhất, cũng là bộ phận quan trọng nhất, là lợi dụng ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng để tăng cường hợp tác kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN. Ở mức độ nào đó, sự phát triển kinh tế của ASEAN không thể tách rời khỏi Trung Quốc. Từ khi Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc – ASEAN khởi động tới nay, thương mại song phương phát triển mạnh mẽ hơn. Từ tháng 1 đến tháng 4/2011, kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã đạt 110 tỷ USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ năm 2010. Với tốc độ phát triển này, kim ngạch thương mại song phương năm 2011 có hy vọng vượt qua mốc 300 tỉ USD. Lợi ích thương mại lớn như vậy sẽ là nguyên nhân chính khiến ASEAN khó có được sự đoàn kết trong vấn đề Biển Đông và gây khó dễ cho Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Thái Lan từng nói: “Vấn đề chủ quyền Biển Đông là chủ đề song phương, không nên làm nó trở thành vấn đề của toàn bộ ASEAN”.

Thứ hai là nhấn mạnh tới việc Trung Quốc quyết tâm giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hoà bình và nỗ lực vì sự hợp tác của khu vực. Từ lâu, khu vực ASEAN đã tồn tại kết cấu chiến lược: dựa vào Trung Quốc về mặt kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh, làm hạn chế những nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh với ASEAN thông qua hợp tác kinh tế của Trung Quốc. Do vậy, tại Đối thoại Shangri-La 10, ông Lương Quang Liệt đã có bài phát biểu với chủ đề “hợp tác an ninh quốc tế của Trung Quốc”, gửi đi thông điệp rằng quân đội Trung Quốc nỗ lực tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và hợp tác an ninh khu vực, coi trọng việc bảo vệ và tăng cường an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuyên bố của ông Lương Quang Liệt khẳng định sữ hỗ trợ việc làm dịu bớt những lo ngại về sự lớn mạnh của quân lực Trung Quốc.

Cùng với sự lớn mạnh của lực lượng hải quân và không quân Việt Nam cũng như tình cảm dân chúng lên cao, các biện pháp đối phó của Trung Quốc (trong vấn đề Biển Đông) chắc chắn sẽ ngày một cứng rắn. Nhưng xuất phát từ nhu cầu phát triển toàn cục của đất nước cũng như sự ổn định của khu vực, “sách lược hai cánh tay” mềm dẻo của Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục được thựchiện trong thời gian dài, trừ phi không gian hoà bình bị triệt tiêu.

***

TTXVN Bắc Kinh 12/6)

Tờ “Quốc tế tiên khu đạo báo”, ấn phẩm của Tân Hoa xã số ra ngày 10-16/6 có bài tổng hợp dài hơn một trang, với hàng tít nổi bật ngay trên trang nhất “Đông Nam Á trở thành vũ dài ra đòn giữa Trung Quốc và Mỹ”, tên tác giả được ghi là Bình luận viên thời sự Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, thể hiện thực trạng quan hệ Mỹ-Việt Nam cũng như quan hệ Mỹ-Việt Nam-Trung Quốc trong bối cảnh đang có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông như hiện nay và đối sách của Trung Quốc cần phải được xác định trong thời gian tới. Bài báo cho rằng “bối cảnh lớn” về sự “tan băng” trong giao lưu quân sự Trung -Mỹ tuy khiến bộ trưởng quốc phòng hai nước bề ngoài trao đổi rất vui vẻ nhưng sự thay đổi về “môi trường nhỏ” lại khiến Trung Quốc có cảm giác trước sau đều có địch.

Bài báo cho biết do Mỹ quyết định bán vũ khí cho Đài Loan, cộng thêm sự kiện tàu Cheonan ở bán đảo Triều Tiên khiến cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates và Phó Tổng tham mưu trưởng PLA công khai chỉ trích lẫn nhau, đưa đến bầu không khi của Đối thoại Shangri-La năm ngoái căng thẳng, tình hình an ninh khu vực trở nên nhạy cảm và phức tạp, cơ chế an ninh song phương và đa phương mong manh. Trước Đối thoại Shangri-La lần này, bầu không khí của diễn đàn cũng căng thẳng không kém, nhưng sau chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu năm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R.Gates và sau chuyến thăm Mỹ của đoàn đại biểu cấp cao PLA do Tổng tham mưu trưởng Trần Bỉnh Đức dẫn đầu từ ngày 15-22/5, quan hệ quân sự Trung-Mỹ đã ấm trở lại. Bộ trưởng R. Gates nói Mỹ không có ý đồ gây trở ngại cho ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Campbell cũng nói một trong những việc quan trọng nhất của Mỹ trong năm nay là phải ra sức hợp tác với Trung Quốc ở Đông Nam Á. Viên Bằng, Trưởng phòng Nghiên cứu nước Mỹ thuộc Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Trung Quốc nói, những lời nói như vậy đã xác định dòng suy nghĩ xuyên suốt cho Đối thoại Shangri-La lần này.

Tuy nhiên, khác với báo chí dự đoán, trong diễn đàn Đối thoại, R. Gates đã không bàn nhiều về quan hệ Mỹ-Trung mà tập trung nhấn mạnh nhiều hơn tới sự có mặt quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mặc dù kinh tế không sáng sủa, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm nhưng Mỹ vẫn kiên quyết thực hiện cam kết đảm bảo an ninh với các đồng minh ở khu vực này, trong đó Gates đặc biệt nhấn mạnh đến an ninh biển.

Theo cách sắp xếp truyền thống của Đối thoại Shangri-La, mỗi lần đối thoại đều có một chủ đề liên quan đến “an ninh biển”. Chủ đề năm nay tuy vẫn không ngoại lệ nhưng đọc lên lại có cảm giác “nhức mắt” là “phản ứng trước mối đe doạ an ninh biển”, dễ khiến người ta liên hệ đến những tranh chấp chủ quyền lãnh hải liên tục xảy ra tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thời gian gần đây. Về phương diện này, có thể nước chủ nhà đã cố ý tạo cho Đối thoại diễn ra không suôn sẻ thông qua việc đảo trình tự sắp xếp mang “tính sách lược”. Trước đây Mỹ và Trung Quốc lần lượt phát, đầu tiên là Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, Hàn Quốc hay Ấn Độ… Nhưng năm nay phát biểu của hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Trung Quốc đã tách ra cách nhau hai ngày. Liền ngay sau phát biểu của Bộ trưởng Lương Quang Liệt ngày 5/6 là phát biểu của Bộ trưởng các nước Malaixia, Việt Nam và Philippin. Quan sát tinh ý sẽ thấy ba nước nói trên đều là những nước có tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Trung Quốc, nhất là Việt Nam.

Một sĩ quan cao cấp PLA tham gia phái đoàn đối thoại Trung Quốc nói “trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam quả thực không đủ tư cách là bạn”. Có thể do được một vài nước lớn nào đó ủng hộ, trong thời gian “Đối thoại Shangri-La” Việt Nam đã lợi dụng hai bình diện để công khai chỉ trích Trung Quốc. Trong khi phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đã đóng vai quan “mặt đỏ”, vừa lớn tiếng nói đến tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh khu vực Biển Đông, vừa cao giọng cho thấy muốn cùng với nước hữu quan đối thoại để giải quyết vấn đề, nhưng mặt khác lại hưởng ứng theo Mỹ nhấn mạnh tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển và Luật biển quốc gia, tất cả mọi tranh chấp phải được giải quyết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế.

Đồng thời, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh lại tổ chức họp báo, đóng vai quan “mặt đen” chỉ trích Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam, rằng hành động của tàu hải giám Trung Quốc là “hành vi bạo lực”, “cơ quan chấp pháp biển của Việt Nam sẽ căn cứ theo luật biển quốc tế và luật ở trong nước để thi hành pháp luật trên biển” v.v…

Trong những phân tích ở phía sau đối với Việt Nam, thái độ của Mỹ vẫn được cho là không thể coi thường. Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Willard khi trả lời phỏng vấn của báo chí Trung Quốc đã cho biết rõ rằng “quan hệ giữa chúng tôi với quân đội Việt nam đã có thay đổi, chúng tôi muốn giữ xu thế này. Điều quan trọng nhất là quân đội hai nước chúng tôi hiểu nhau, trao đổi tình báo và từ đó mở rộng ra đến những tiêu chuẩn giá trị mà chúng tôi có thể chia sẻ để đảm bảo an ninh cho khu vực Biển Nam Trung Hoa”. Gates lại càng nói thẳng không hề giấu diếm: “Mỹ và Việt Nam cố gắng mạnh mẽ để xây dựng mối quan hệ song phương vững chắc và đầy sức sống. Mỹ cùng với Việt Nam đã thể hiện ra rằng sẽ xây dựng mối quan hệ sao cho không lặp lại lịch sử. Hôm nay lời cam kết mà dường như đã vượt qua được những trở ngại tưởng như không thể vượt qua đang định hướng cho chúng tôi xây dựng quan hệ đối tác bao gồm các lĩnh vực thương mại, đầu tư, giáo dục, y tế, an ninh và quốc phòng”. Rõ ràng trong vấn đề Biển Đông, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và các nước liên quan vẫn phức tạp và nhạy cảm hơn do sự can dự tích cực của Mỹ.

Báo Mainichi Shimbun của Nhật Bản ngày 4/6 cho hay bởi lo ngại Trung Quốc về mặt chiến lược nên Chính quyền Obama đã phải nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên “một tầm cao mới”. Báo dẫn kết quả một cuộc điều tra của Quốc hội Mỹ cho thấy, để ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát Biển Đông, Chính quyền Obama chuẩn bị để Việt Nam, nước láng giềng với Trung Quốc phát huy vai trò quân sự lớn hơn. Trước mắt, Mỹ đang mở rộng viện trợ quân sự cho Việt Nam và Philippin. Có thể nhận thấy ý đồ của Mỹ là muốn phát triển những nước này thành “đê chắn sóng Trung Quốc”. Tình hình nói trên đang báo trước một cuộc chạy đua vũ khí xung quanh hải dương có nguy cơ leo thang.

Thái độ bề ngoài “lui về tuyến sau để đứng vị trí thứ yếu” trong vấn đề điểm nóng Nam Hải (Biển Đông) lần này của Mỹ là rất đáng suy nghĩ. Trong vấn đề Biển Đông, tuy Mỹ vẫn giữ giọng điệu cũ nhưng muốn vấn đề Biển Đông được giải quyết thông qua cơ chế đa phương, đồng thời kiên trì “quyền tự do hàng hải”.

Trong bối cảnh nói trên, quan hệ quân sự Mỹ-Trung và vấn đề Biển Đông có mối liên hệ tế nhị. Trong quá trình lúc tiến lúc lùi của quan hệ quân sự không có nghĩa là quan hệ đã ổn định và hoàn hảo, Biển Đông không phải là vấn đề có thể giải quyết một lần nhưng nếu không có sự tiếp xúc giữa hai quân đội Trung-Mỹ thì vấn đề nhạy cảm này sẽ dễ đi đến chỗ mất kiểm soát.

Học giả trong nước Trung Quốc hiện nay cho rằng thái độ của Mỹ trong vấn đề Biển Đông hiện nay là lạnh lùng và kiềm chế. Có chuyên gai kiến nghị quân đội Trung Quốc cần phải tạm thời áp dụng sách lược phớt lờ, không va chạm trong điều kiện đối phó bình tĩnh, từ đó sẽ lấy tĩnh khắc chế động.

Một số đài truyền hình địa phương Trung Quốc như Đài truyền hình vệ tinh tỉnh Vân Nam tối 9/6 đã phát chương trình toạ đàm sôi nổi giữa các học giả xung quanh vấn đề Biển Đông hiện nay, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được nhân nhượng. Có tin cho biết Đài truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng Hồng Công cũng đang tổ chức chương trình bình luận xung quanh chủ đề này.

***

Trên mục Diễn đàn quân sự của Mạng Sina ngày 7/6/2011 có bài của Thượng uý Hồ Tử Lý thể hiện quan điểm của mình về vấn đề tranh chấp Biển Đông hiện nay, nội dung như sau:

Nhiều phen va chạm giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây về vấn đề Biển Đông không chỉ làm tăng thêm biến số cho quan hệ hai nước, mà còn làm tăng bầu không khí căng thẳng trong khu vực. Tình hình một lần nữa nhắc nhở mọi người rằng nếu bên liên quan không xử lý thoả đáng thì vấn đề Biển Đông sẽ trở thành nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến hoà bình và ổn định khu vực rõ nét nhất. Điều đặc biệt đáng chú ý là biểu hiện của Việt Nam lần này tỏ ra cứng rắn khác thường.

Ngày 29/5 tại buổi họp báo cuối tuần hiếm thấy, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cho biết “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Lời lẽ như vậy không những tỏ thái độ cứng rắn nhất từ trước đến nay, mà rõ ràng cũng đã phá vỡ giới hạn cần có trong vấn đề này.

Để làm rõ ngọn nguồn, cần phải trở lại cả quá trình của sự việc. Cách nói của Trung Quốc và Việt Nam tuy có phần khác nhau nhưng qua lời lẽ của hai bên vẫn có thể thấy được nội dụng khái quát của câu chuyện: Sáng sớm ngày 26/5 tàu chấp pháp của hải giám Trung Quốc tuần tra thường lệ trong vùng biển Nam Hải (Biển Đông), phát hiện tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam đang tác nghiệp ở đó, phía Trung Quốc lập tức yêu cầu Việt Nam dừng hành động “xâm phạm chủ quyền” nhưng tàu Việt Nam từ chối. Tàu Trung Quốc lập tức áp dụng biện pháp cưỡng chế, đã cắt đứt cáp quang của tàu thăm dò Việt Nam.

Hôm sau, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm đến Đại sứ quán Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc bồi thường mọi thiệt hại. Hôm sau nữa tại buổi họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả, phê phán Việt Nam “thăm dò dầu khí ở vùng biển do Trung Quốc quản lý, gây tổn hại đến quyền và lợi ích của Trung Quốc”, đồng thời cho biết hành động mà ngành chủ quản Trung Quốc áp dụng hoàn toàn là giám sát chấp pháp biển bình thường. Vậy là, ngày 29/5 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã thể hiện thái độ qua cách nói “hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”.

Khách quan mà nói, Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp chủ quyền ở vùng biển Nam Hải là một sự thực. Chúng ta cũng không có ý định mất nhiều lời ở đây, vì đó là vấn đề hết sức phức tạp, không ai thuyết phục được ai. Điều chúng ta muốn chỉ ra là sau khi hai bên xảy ra sự việc, vấn đề cần phải được giải quyết bằng thái độ như thế nào? Dàn xếp nhượng bộ cho êm ả, thông qua đối thoại hiệp thương để giải quyết, hay làm cho sự việc leo thang mất kiểm soát, thậm chí phải dùng đến cả biện pháp quân sự? Đáp an ở đây rất rõ ràng. Trong “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Nam Hải” (Biển Đông) đã quy định rõ “các bên không dùng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp Nam Hải” (Biển Đông). Lần này Việt Nam đã tỏ rõ lá bài “hải quân”, quả thực cũng khiến mọi người ngạc nhiên.

Kỳ thực, nếu phải so sánh lực lượng hải quân Việt Nam về cơ bản không ở cùng một cấp độ, cùng một bình diện với Trung Quốc. Sở dĩ Trung Quốc không dễ dàng nói đến việc sử dụng vũ lực, cũng không phải không tự tin mà vì như vậy không phù hợp với ý tưởng ngoại giao và quốc phòng của chính mình, cũng không muốn kẻ khác mượn cớ làm cho dư luận bên ngoài sôi lên “thuyết về mối đe doạ từ Trung Quốc”, lại càng không muốn vì thế mà ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định khu vực, gây tổn hại cho môi trường bên ngoài để tập trung xây dựng kinh tế ở trong nước. Nhưng như vậy hiển nhiên cũng không thể trở thành lý do để Việt Nam dễ dàng nói đến vũ lực. Việt Nam cần biết rõ rằng ngay từ thời kỳ đầu mới xây dựng chính quyền, Trung Quốc đã dám đương đầu với Mỹ trên chiến trường Triều Tiên thì sao có thể khuất phục trước sự hù doạ vũ lực của một quốc gia có lực lượng quân sự hạng ba?

Nguyên nhân Việt Nam lần này cứng rắn khác thường cũng trở thành điểm nóng để dư luận thế giới quan tâm. Tạp chí “Chiến lược quốc gia” của Mỹ cho rằng mấu chốt trong vấn đề Biển Đông là Mỹ khẳng định sẽ ngăn Trung Quốc dừng lại ở chuỗi đảo thứ nhất, nếu không được như vậy cũng phải dừng lại ở chuỗi đảo thứ hai. Dựa vào tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, Mỹ thực thi chiến lược này sẽ có thể bỏ một được mười. Xuất phát từ yếu tố này mà Mỹ gần đây đã mở rộng mức độ can thiệp vào vấn đề Biển Đông, lời lẽ đã rõ từ Diễn đàn khu vực ASEAN năm ngoái khi Ngoại trưởng H. Clinton công khai tỏ rõ thái độ, nói rằng vấn đề Nam Hải liên quan đến lợi ích của Mỹ, Mỹ có trách nhiệm cùng với nước hữu quan giải quyết vấn đề này.

Ngày 14/3 năm nay Ngoại trưởng H. Clinton trao đổi qua điện thoại với quan chức Philippin nói rõ tự do hàng hải ở vùng biển quốc tế xung quanh các quần đảo ở Biển Đông là hết sức quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Micheal Green, cựu quan chức phụ trách khu vực châu Á thuộc Uỷ ban an ninh quốc gia Mỹ cho rằng tuyên bố như vậy làm cho một số nước Đông nam Á “hơi cảm thấy tự tin”. Rõ ràng, thái độ của Mỹ đã khiến một số nước có tâm lý cáo mượn oai hùm tìm được chỗ dựa.

Tuy nhiên, những nước này cần sáng suốt nhận thấy rằng Mỹ tuy có nhảy vào cuộc xung đột lợi ích trong các công việc ở Biển Đông nhưng nếu sự vệic gần đến điểm giới hạn, nước Mỹ khi đó liệu có đủ ý chí làm được như vậy hay không? Trong cuộc chiến ở một nước nhỏ như Libi, Mỹ đều chủ động lùi về tuyến hai, vậy Mỹ sẽ dám đương đầu vũ lực với Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng cách nào? Tờ “The Huffington Post” phân tích rằng sau mấy chục năm Mỹ rút khỏi chiến trường Việt Nam, nay Việt Nam một lần nữa lại muốn sử dụng Mỹ để cân bằng với Bắc Kinh, vậy 58 nghìn người Mỹ cuối cùng vì sao lại thiệt mạng? Lịch sử như vậy tin rằng  Việt Nam không thể không biết rõ.

Trên thực tế, các bên đều không nên có ý tưởng đầy tranh chấp Biển Đông đến chỗ phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết, vì như vậy đối với ai cũng đều lợi ít hại nhiều. Vì thế từ nhiều năm nay Trung Quốc luôn áp dụng thái độ ôn hoà và nhân nhượng thận trọng. Hành động vượt quá quỹ đạo của nước hữu quan cũng cần phải được kiềm chế hết sức mình. Văn kiện có tên “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc” do Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc xuất bản năm 2007 đã nói rõ nước hữu quan đã khoan hơn 1.000 giếng dầu trong phạm vi “đường biên giới đứt đoạn” của Trung Quốc, mỗi năm khai thác trên 50 triệu tấn dầu khí. Hãng tin “United Press International-UPI” của Mỹ cho rằng tại vùng Biển Đông được gọi là “Vùng Vịnh Pécxích thứ hai”, Việt Nam, Philippin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây là các nước luôn chiếm địa vị chủ đạo về khai thác dầu khí nhưng Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng biện pháp quân sự để ngăn chặn các hành động nói trên. Tuy thế các nước hữu quan tuyệt đối không thể xem việc Trung Quốc nhìn nhận đại cục một biểu hiện yếu mềm  có thể lừa gạt mà phải thấy được rằng Trung Quốc không muốn làm to chuyện nhưng cũng không sợ ai mượn dịp để làm to chuyện, lại càng không sợ đe doạ vũ lực./.

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung, Trung Quốc | 4 phản hồi »

116. Đình công làm cho VN giảm bớt sức hấp dẫn nhân công rẻ hơn TQ

Posted by adminbasam on 19/06/2011

Bloomberg

Các cuộc đình công đang làm cho

Việt Nam giảm bớt sức hấp dẫn

nhân công rẻ hơn Trung Quốc

Ngày 16 tháng 6 năm 2011

Công ty sản xuất động cơ của Nhật Minebea Co. đã chọn Kampuchia chứ không phải Việt Nam để xây dựng một nhà máy sử dụng 5000 lao động trong một dấu hiệu cho thấy các cuộc tranh chấp lao động đang làm tổn thương sức hấp dẫn của Việt Nam như là một sự lựa chọn thay thế cho Trung Quốc vì nhân công rẻ. 

“Một cuộc đình công có thể dẫn đến tình trạng rối loạn,” Yasunari Kuwano, một người phát ngôn của Công ty Mineba đóng tại Tokyo đã nói như vậy về nhà máy trị giá 62 triệu đô la chuyên chế tạo động cơ điện cho các dụng cụ và thiết bị điện tử. “Nhân công là vấn đề chính chúng tôi nhắm tới khi quyết định chọn Kampuchia. Chúng tôi cần nhân công đáng tin cậy.”

Trong khi Mineba khởi công vào tháng trước ở Phnong Penh thì tập đoàn sản xuất cáp Volex Group Plc có trụ sở ở Luân Đôn và tập đoàn sản xuất đồ may mặc của Nhật Wacoal Holding Corp nằm trong số những nhà đầu tư tại Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc đình công bất hợp pháp nổ ra bất ngờ. Người lao động đòi được trả lương cao hơn sau khi lạm phát với tỉ lệ cao chưa từng có đã ảnh hưởng tới sức mua của họ.

Các cuộc đình công đã làm sứt mẻ mục tiêu của Việt Nam trong 25 năm qua là thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bằng cách chào mời nhân công đáng tin cậy với mức lương tối thiểu hiện nay chỉ bằng nửa các mức lương tối thiểu ở Trung Quốc nhằm gây dựng các trung tâm sản xuất. Đầu tư nước ngoài trực tiếp [FDI] tại Việt Nam đã giảm 48% trong 5 tháng đầu của năm 2011 xuống còn 4,7 tỉ đô la.

“Đất nước đang đứng trước một bước ngoặt mang tính quyết định” giám đốc quốc gia của Ngân hàng thế giới tại đất nước Đông Nam Á này đã nói như vậy tại Hà Nội “Việt Nam không thể mặc nhiên cho rằng FDI sẽ tiếp tục. Tiền có thể chạy sang nước khác.”

Thách thức từ lạm phát

Tháng 5 vừa qua, Lạm phát đã tăng nhanh lên mức cao là 19,8% so với 29 tháng trước đó, một mức lạm phát mà Ngân hàng Thế giới trong một bản báo cáo trong tháng này đã cho là “có thể chấp nhận được”. Ngân hàng phát triển [Ngân hàng Thế giới] cho rằng lạm phát sẽ lên đến mức cao nhất trong quý này rồi sau đó sẽ giảm dần xuống còn 15% vào cuối năm nay, đã  nói rằng Việt Nam phải kiên trì với các chính sách thắt chặt tiền tệ cho tới khi tỉ lệ lạm phát giảm xuống ít nhất một nửa.

Giá cả tăng vọt và tình hình mất ổn định trong các nhà máy đã khiến cho thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ của Việt Nam là kém cỏi nhất ở châu Á trong năm ngoái. Chỉ số chứng khoán VN Index đã giảm 13% so với cùng kỳ năm ngoái còn tiền đồng thì mất giá 7,8% so với đồng đô la.

Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hồi tháng 3 đã chuyển trọng tâm từ khuyến khích mở rộng kinh tế sang chống lạm phát và đã giảm mục tiêu tăng trưởng năm của năm 2011 từ mức cao nhất là 7,5 % xuống 6%. Với việc các công ty  xếp hạng tín nhiệm đã đánh tụt điểm định mức nợ quốc gia của nước này một phần vì sự yếu kém trong hoạch định chính sách kinh tế cho nên nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đang cảnh giác với việc đặt cược lâu dài vào Việt Nam.

Srithai Superware PCL (SITHSI), một công ty có trụ sở tại Băng Cốc chuyên sản xuất các bộ đồ ăn trong tháng này đã hoãn một kế hoạch mở rộng trị giá 5 triệu đô la tại nhà máy của họ ở miền Nam do “sự bất ổn kinh tế,” tổng giám đốc của nhà máy tại Việt Nam Santi Sakgumjorn, đã nói như vậy. Công ty này tuyên bố họ sẽ mở một chi nhánh tại nước láng giềng Lào.

“Mất lòng tin”

“Trong ngắn hạn chúng tôi không tin tưởng vào tình hình kinh tế ở Việt Nam,” Sakgumjorn nói như vậy trong một bức thư điện tử. Nhà máy đã gặp trở ngại do chi phí sản xuất gia tăng sau hai lần tăng lương trong năm nay, ông nói.

Người lao động tại Việt Nam nói rằng họ hầu như chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài đình công khi giá cả tăng cao. Tại một khu công nghiệp ở Hà Nội, anh công nhân Lê Kiên đọc lướt các mục quảng cáo việc làm sau ca làm việc của anh tại một nhà máy lắp ráp các loại cáp dùng cho xe máy của hãng Honda Motor và Yamaha Motor.

“Giá cả của mọi thứ – thực phẩm, xăng, điện – đều tăng nhanh hơn đồng lương tôi nhận được,” Kiên, 24 tuổi đã nói như vậy, lương tháng của anh tương đương với 87 đô la. “Tôi thậm chí không đủ tiền để cưới vợ. Làm sao tôi có đủ tiền để mua sữa cho con cơ chứ.”

Đấy là ngay cả sau khi Kiên và hầu hết 500 đồng nghiệp của anh đã tiến hành một cuộc đình công bất hợp pháp hồi tháng 4 và đã đòi được tăng lương 13%. Hãng của Đài Loan mà anh đang làm việc đã tăng lương cho công nhân hồi tháng 1, anh nói.

Yamaha tạm ngừng sản xuất

Các vụ tranh chấp lao động đã tấn công các nhà máy liên doanh sản xuất và cung cấp phụ tùng cho các công ty như Yamaha, Panasonic Corp., và Adidas AG. Yamaha đã buộc phải tạm ngừng việc sản xuất xe máy tại Hà Nội khi 4000 người lao động đã đình công hồi tháng 3. Nhà máy đã tăng lương cho công nhân để họ quay lại làm việc, người phát ngôn của hãng tại Tokyo là Shinichiro Irie đã nói như vậy.

Đã có 336 cuộc đình công xảy ra ở Việt Nam trong bốn tháng đầu năm nay, theo nguồn tin từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cứ cái đà này thì năm 2011 sẽ phá kỷ lục 762 cuộc đình công của năm 2008. Nhiều cuộc đình công chỉ là những vụ ngừng lao động không chính thức và không có giấy phép hợp pháp, theo lời của Tổ chức Lao động Quốc tế đóng tại Geneva [ILO].

“Ngày nào cũng có một vụ đình công xảy ra ở đâu đó trên đất nước này,” Youngmo Yoon, một chuyên gia của ILO về người lao động Việt Nam đã nói như vậy. “Hầu hết các cuộc đình công đều do công nhân tổ chức một cách tự phát.” Trong nhiều trường hợp thì người lao động đã giành được thắng lợi là được trả lương cao hơn,” ông nói.

Mức tăng lương cao nhất trong khu vực

Lương của người lao động Việt Nam dự kiến sẽ tăng gần 12% trong năm nay, đây là mức tăng cao nhất ở khu vực châu Á Thái Bình Dương và gần gấp đôi mức tăng trung bình trong khu vực, theo khảo sát các xu hướng tiền lương do tổ chức ECA International thực hiện. Việt Nam đã tăng mức lương tối thiểu lên 14% trong tháng trước.

“Đây là một cái vòng luẩn quẩn,” Prakriti, một nhà kinh tế làm việc tại Barclays Capital tại Singapore đã nói như vậy. “Lạm phát liên tục tăng, người lao động đình công vì bất mãn, tăng lương, và như thế là tất cả đều đổ dồn vào người tiêu dùng.”

Một số công ty vẫn tiếp tục đầu tư vào Việt Nam nơi mà 60% trong số 87 triệu dân là dưới 35 tuổi và mức lương tối thiểu là 85 đô la một tháng dựa trên sức mua tương đương [purchasing-power parity]  vẫn đang ở vị trí thấp nhất thứ hai so với các nền kinh tế châu Á khác như theo đánh giá của ILO vào năm 2009. Việt Nam chỉ đứng trên Bangladesh, trong khi mức lương tối thiểu ở Trung Quốc là 173 đô la. Chính phủ Việt Nam cam kết mục tiêu 20 tỉ đô la FDI vào Việt Nam trong năm nay.

First Solar Inc. (FSLR), hãng sản xuất tấm pin mặt trời hàng đầu thế giới có kế hoạch đầu tư ban đầu 300 triệu đô la cho một nhà máy ở miền nam Việt Nam. Nokia Oyj, hãng sản xuất điện thoại di động của Phần Lan hồi đầu năm nay đã nói rằng họ dự định khai trương một nhà máy trị giá 200 triệu euro (287 triệu đô la) ở gần Hà Nội trong năm 2012 để sản xuất điện thoại di động giá rẻ.

Sức ép lợi nhuận

Đối với những công ty đang hoạt động ở đất nước này [Việt Nam] thì việc tăng lương cho người lao động sẽ gây sức ép lên lợi nhuận, theo lời của Alan Phạm, giám đốc phụ trách hoạch định kế hoạch kinh tế của VinaCapital Investment Management Ltd., nhà quản lý quỹ [fund manager] lớn nhất tại Việt Nam.

“Nó càng làm tăng thêm tác động tiêu cực tới tâm lý của nhà đầu tư,” Ông Alan Phạm nói. Một sự sụt giảm đầu tư nước ngoài đang gây ra sự lo lắng đặc biệt bởi nó có thể làm  xấu thêm tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai, làm tăng sức ép lên tiền “đồng”, ông nói.

Chỉ có 15 trên 284 công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Hồ Chí Minh có cổ phiếu tăng giá trong năm 2011.

Gần một phần ba các cuộc đình công trong năm nay diễn ra tại các cơ sở của các công ty của Hàn Quốc, theo tin của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Phần lớn các cuộc đình công xảy ra tại các nhà máy sản xuất hàng may mặc, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Hàn Quốc tại TP Hồ Chí Minh Kim Soon Ok cho biết. Nhiều chủ lao động đã bị bất ngờ trước những vụ ngừng làm việc khiến cho nhà máy phải hoãn việc gửi hàng và hậu quả là những “khoản lỗ khổng lồ,” bà nói.

“Rủi ro nghiêm trọng”

Sự bất ổn về lao động là “một rủi ro nghiêm trọng” đối với các doanh nghiệp nước ngoài, Bath làm việc tại công ty tư vấn chuyên về đánh giá rủi ro Maplecroft Ltd đóng tại Luân Đôn đã nói như vậy hồi tháng 5. Năng suất lao động của Trung Quốc gấp 2,6 lần năng suất lao động của Việt Nam trong khi Thái Lan có năng suất lao động gấp 4,3 lần Việt Nam, theo một bản báo cáo tháng 1 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam. Sự việc lại càng tồi tệ thêm bởi vấn đề xung đột lao động và điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ trở nên bớt hấp dẫn các nhà đầu tư, giám đốc của Maplecroft là Alyson Warhurst nói.

“Các công ty đang chờ đợi để xem liệu Việt Nam có đủ khả năng quản lý lạm phát và sức ép tiền lương, Warhurst nói. “Nếu Việt Nam quản lý tồi, các công ty đa quốc gia sẽ có những lựa chọn thay thế khác. Họ có thể quay trở lại Trung Quốc. Họ có thể tìm nơi khác.”

– Bài viết của K. Oanh Ha và Diep Ngoc Pham tại Hà Nội. Có sự đóng góp của With Nick Heath và  Nguyen Dieu Tu Uyen tại Hà Nội, Makiko Kitamura ở Tokyo và Suttinee Yuvejwattan tại Băng Cốc. Biên tập: Adam Majendie, Chris Anstey, Anne Swardson

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Kinh tế Việt Nam | Tagged: , , | 6 phản hồi »

115. Hải quân Trung Quốc tập trận như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Posted by adminbasam on 19/06/2011

Los Angeles Times

Hải quân Trung Quốc tập trận

như là lời cảnh cáo tới Việt Nam

Thủy thủ Việt Nam tuần tra trên một hòn đảo thuộc Trường Sa. Những cuộc tập trận gần đây của Việt Nam ở gần quần đảo tranh chấp đã được hải quân Trung Quốc có câu trả lời đáp lại trong tuần vừa rồi (TTXVN/AFP/Getty Images/ 18-6-2011)

Barbara Demick

Ngày 18-6-2011

Những cuộc tập trận trên biển Nam Trung Hoa làm căng thẳng leo thang, tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Từ Bắc Kinh —  Tuần qua Hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận ba ngày – kể cả bắn đạn thật – trong khu vực tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, làm căng thẳng leo thang tại một khu vực có tiềm năng lớn về tài nguyên mà một số nước lân cận đều tuyên bố chủ quyền.

Hành động phô diễn sức mạnh hải quân ở nơi cách biên giới cực nam Trung Hoa tới hàng trăm hải lý được xem như một lời cảnh cáo gửi tới Việt Nam, nước mà trong tuần qua cũng đã tiến hành tập trận bắn đạn thật gần quần đảo Trường Sa. Một số nước tuyên bố chủ quyền đối với chuỗi đảo đá núi lửa không người ở này, nơi nằm giữa những vỉa san hô lởm chởm và bám đầy phân chim, nhưng được xem là một khu vực rất hấp dẫn, bởi vùng biển xung quanh vốn là bãi cá dồi dào và có thể chứa những mỏ dầu và khí đốt đáng kể.

Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, cả bốn nước đều tuyên bố quyền tài phán đối với một phần khu vực. Nhưng Trung Quốc cãi rằng chủ quyền của họ đã có từ lâu, vin vào những bản đồ quốc gia cổ cho thấy các đảo đó là một phần không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Hôm thứ sáu, truyền hình quốc doanh (của Trung Quốc) chiếu hình ảnh tàu tuần tra Trung Quốc bắn đạn nhiều lần vào một mục tiêu nằm trên cái gì đó giống như một hòn đảo không người ở, khi hai chiếc phản lực chiến đấu cùng sánh đôi bay vọt lên. Tin tức báo rằng 14 tàu đã tham gia, tập chống tàu ngầm và cập bờ biển, nhằm “bảo vệ những dải san hô và các tuyến đường biển”.

Trong vòng hai năm qua, Trung Quốc đã tăng cường yêu sách chủ quyền đối với những vỉa đá trên biển Nam Trung Hoa, một cách quyết liệt hơn. Tàu dân sự Trung Quốc ngày càng đối đầu nhiều hơn với tàu thăm dò dầu khí và tàu cá của các nước khác, cũng hoạt động trên vùng biển này.

Vụ căng thẳng gần đây nhất xảy ra hồi cuối tháng trước khi Việt Nam buộc tội một tàu cá Trung Quốc, được hai tàu tuần tra hộ tống, đã cố ý cắt cáp của một tàu khảo sát địa chấn thuộc sở hữu của PetroVietnam, công ty dầu khí quốc gia. Quan hệ giữa hai nước tiềm ẩn đầy căng thẳng: Hai bên đã có chiến tranh biên giới năm 1979, và kể từ đó đã vài lần xung đột trên biển, tại quần đảo Trường Sa cũng như một chuỗi đảo khác nữa tên là Hoàng Sa.

Chính quyền Việt Nam đang chịu áp lực từ chính giới truyền thông và những công dân nặng tinh thần dân tộc để phải đứng lên trước Trung Quốc. Cuộc đụng độ trên biển vào tháng 5 vừa qua đã làm bùng nổ một tinh thần chống Trung Quốc ở Việt Nam, và chính quyền đã cho phép vài cuộc biểu tình hiếm hoi diễn ra, nhằm làm cho đám đông, mà chủ yếu là thanh niên, có thể xả bớt phẫn nộ.

Các mạng xã hội cũng đổ thêm dầu vào lửa chống Trung Quốc, thậm chí có cả kiến nghị trên mạng đòi đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á.

“Việt Nam đã luôn luôn ở một vị thế tồi tệ khi có một láng giềng to lớn và hùng mạnh như Trung Quốc, nhưng chúng tôi cũng rất phẫn nộ khi chính phủ Việt Nam tỏ thái độ quỵ lụy như thế trước Trung Quốc” – Huỳnh Thục Vy, một blogger, nhà hoạt động, 27 tuổi, nói.

Quan chức Trung Quốc thì bảo họ chỉ thuần túy bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia.

“Chúng tôi không thể tránh khỏi việc phải xử lý vấn đề này. Người Việt Nam đang lấy khí đốt và xâm phạm lãnh thổ chúng tôi” – Hứa Quảng Ngọc (Xu Guangyu), một quan chức quân đội Trung Quốc đã về hưu, cũng là nhà phân tích của Hiệp hội Giải trừ quân bị và Kiểm soát vũ khí Trung Quốc, nói.

Trung Quốc cũng đã cử tàu dân sự lớn nhất của họ đi qua khu vực, phái tàu tuần duyên Haixun nặng 3000 tấn, trang bị trực thăng, đến Singapore. Và báo chí quốc doanh Trung Quốc trích lời một quan chức giấu tên ở Cục Hải dương nói rằng lực lượng hải giám dân sự sẽ được gia tăng từ 9000 nhân viên lên 15000 vào năm 2020.

Với việc Việt Nam và Philippines ra những cảnh báo gay gắt khi Trung Quốc xâm phạm sâu hơn đến các dự án thương mại của họ, các nhà quan sát cho rằng nguy cơ bạo lực đã hiện diện.

“Những diễn biến hết sức căng thẳng, khi các tàu biển có năng lực bán quân sự phớt lờ lời cảnh báo của nhau và tham gia vào những hoạt động gây hấn, có thể dễ dàng tiến triển thành xung đột quân sự” – Stephanie Kleine-Ahlbrandt, văn phòng Bắc Kinh của tổ chức Khủng hoảng Quốc tế, nhận định. “Một khi đạn nổ, chúng ta sẽ thấy mọi thứ leo thang thật sự”.

Cuộc tranh chấp cũng có một số ý nghĩa đối với Mỹ, nước hiện giờ có lực lượng hải quân lớn nhất ở Đông Nam Á và đã từng tuyên bố tự do hàng hải là lợi ích quốc gia của mình. Chính quyền Obama đã kêu gọi các bên có yêu sách mâu thuẫn giải quyết xung đột thông qua một tiến trình ngoại giao quốc tế, có sự tham gia của tất cả các bên có quyền lợi trong vấn đề này.

Trung Quốc bác bỏ cách tiếp cận của Mỹ, cãi lý rằng mọi khác biệt cần được giải quyết riêng rẽ với từng nước.

Do Trung Quốc giữ lập trường mạnh mẽ hơn trong quan hệ quốc tế, nên những nước láng giềng của họ đã lo sợ mà tiếp nhận sự tham gia của Mỹ hơn, thúc đẩy những nước như Việt Nam tìm đến Mỹ để có đối trọng trước thế lực của Trung Quốc.

Nhưng chính quyền Việt Nam cũng rất lưu ý đến một rủi ro, là quan hệ kinh tế đang được tăng cường của họ với Trung Quốc có thể bị gián đoạn. Cho đến giờ, họ đã rất thận trọng, tránh khiêu khích Bắc Kinh quá. Cuộc tập trận bắn đạn thật hôm thứ hai vừa rồi có vẻ là một hành động giảm nhẹ. Nó diễn ra gần đất liền và không có màn bắn tên lửa chống tàu biển.

“Vụ cắt cáp giống như một trò lưu manh” – ông Carl Thayer, một nhà Việt Nam học tại Học viện Quốc phòng Australia, nói. “Nhưng không vì thế mà Việt Nam phải phát động chiến tranh”.

Người dịch: Thủy Trúc

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Mỹ-Việt, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , | 6 phản hồi »

114. Thư gửi những bạn trẻ xuống đường phản đối xâm lược

Posted by adminbasam on 18/06/2011

Thư gửi những bạn trẻ xuống đường phản đối xâm lược

Đỗ Trung Quân

Tôi luôn được an ninh nhắc nhở hãy khuyên can các bạn đừng xuống đường.

Câu trả lời của tôi là “ Không thể !

Làm sao tôi với tư cách một người lớn tuổi hơn lại làm điều ấy khi các bạn bày tỏ lòng yêu nước của mình ôn hòa, không bạo lực không manh động. Cản trở các bạn, vậy tôi là ai ?

Khi viết huyết thư cùng hàng ngàn người khác đòi ra mặt trận đánh bọn PolPot tràn sang giết đồng bào mình năm 1978, tôi cũng trạc bằng tuổi các bạn bây giờ. Nay thì trước họa nghìn đời: Trung Nam Hải bá quyền gây hấn đe dọa chủ quyền đất nước. Các bạn cũng thế thôi.

3 năm trước một ông Hiệu trưởng Đại học tại Sài Gòn nói như ra lịnh: “Ở đây, ai không phải sinh viên thì ra về !” Câu trả lời từ một người áo rách, nón sờn: “Thế tôi đạp xích lô thì không yêu nước được à ?“ Anh xích  lô trẻ tuổi ấy chắc chắn không bao giờ là người nhảy vào hôi của của một người bị cướp giựt bất thành, khi tiền rơi vãi đầy đường ngày 17-6 vừa qua. Nạn nhân bị “ cướp” đến hai lần bởi thói tham lam, sự vô cảm của chính đồng bào mình. Buồn không !

Nhưng thôi, hãy trở lại với chuyện  của ta.

Hãy nhớ đến những con tàu đánh cá rách nát nằm cô đơn trên những bến của mình. Những con tàu không thể ra biển vì bị tàu Trung Quốc đâm, bắn. Những con tàu ấy còn may mắn trở về được dù không còn có thể ra biển. Biết bao tài sản khác của người ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu.

Những ngư dân Việt Nam, chính họ mới là người giữ biển hàng trăm năm nay. Chính họ hơn ai hết thuộc lòng từng cụm đảo chìm đảo nổi, từ những ngấn thủy triều, từng luồng cá. Sự có mặt của họ đã xác định chủ quyền biển đảo, lãnh hải của đất nước rồi. Nếu vì lẽ nào đó hoặc không còn phương tiện, hoặc bị đe dọa sinh mạng vì những kẻ luôn nhân danh “bạn tốt “, nếu họ không còn ra biển được phải nhường vùng biển sinh sống tự bao đời cho Trung Quốc thì chính chúng ta đang tự để mất dần lãnh hải chủ quyền thiết thực hàng ngày của chính mình.

Xuống đường chống Trung Quốc là chuyện phải phải làm. Nhưng cũng còn những điều thiết thực khác. Hãy chung tay giúp ngư dân mình bám biển. Ngư dân ra khơi được nghĩa là cơm áo vốn đã cơ cực vẫn còn. Nghĩa là bằng cách khác cũng khẳng định biển đảo, chủ quyền của mình còn.

Hãy chú ý đến chương trình này : Xây dựng chương trình Cùng ngư dân bám biển (SGTT).

-

BS ghi chú: Hai căn nhà, cũng đơn sơ, của Nhà thơ bên WordPress và Facebook lần lượt bị cướp, nên mời ổng tạm qua tá túc bên căn lều mới dựng tạm này. Hu hu! Cùng cảnh lang thang cơ nhỡ cả.

Một độc giả phản hồi: “Khuyên nhà thơ “Quê Hương” nói không với việc bày tỏ lòng yêu quê hương mới khôi hài làm sao!” Chợt nhớ tới bài thơ được phổ nhạc đã trở thành bất hủ, đưa vô cho thêm phần cảm xúc, hy vọng những người đưa ra lời khuyên may ra biết rơi lệ:

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , | 65 phản hồi »

113. Hiệp hai: quân ta đấu với quân mình

Posted by adminbasam on 18/06/2011

The Financial Times

Hiệp hai: quân ta đấu với quân mình

Philip Stephens

Ngày 16 tháng 6 năm 2011

Thỉnh thoảng một kinh nghiệm khôn ngoan được thừa nhận rộng rãi nào đó lại bị làm đảo lộn bởi một dòng tít báo mà ta thoáng nhìn thấy. Chuyện này đã xảy ra hôm nọ khi tờ Financial Times [Thời báo Tài chính] đưa tin “Việt Nam đang tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ trong vấn đề tranh chấp với Trung Quốc”. Từ một sự kiện cụ thể như vậy bài báo bằng quan điểm ước lệ hóa đã ví von trật tự thế giới mới như là một sự tranh giành giữa phương tây đã xác lập địa vị của mình xong xuôi rồi với phần còn lại đang trỗi dậy của thế giới. Điều thú vị ở chỗ đây lại là một câu chuyện về quân ta đấu với quân mình.

Vụ cãi nhau om xòm giữa Hà Nội và Bắc Kinh là vụ mới nhất xảy ra trong một loạt những tranh chấp về quyền kiểm soát Biển Hoa Nam [Biển Đông] giàu tài nguyên. Trung Quốc đã dùng những ngôn từ lỗ mãng để khẳng định chủ quyền của họ đối với toàn bộ vùng biển này. Nhưng cái đường đứt đoạn quy định ranh giới cho tham vọng nói trên ở trên các tấm bản đồ của Trung Quốc lại đang bị hầu hết các nước khác phản đối kịch liệt. Philippine, Malaysia, Brunei và Đài Loan cũng có những tuyên bố khẳng định chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền biển của riêng mỗi nước. Nhật Bản có tranh cãi riêng với Trung Quốc về một cụm đảo nằm ở Biển Hoa Đông [East China Sea].  

Như vậy là những xung đột nói trên đều không phải là điều gì mới mẻ. Sự hận thù giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng chẳng phải là mới. Người Mỹ mới bỏ đi chưa được 5 năm thì hai nước trên đã nện nhau chí chết ở biên giới vào cuối những năm 1970. Điều mới mẻ nằm ở những căng thẳng đột ngột gia tăng rõ rệt sau khi Trung Quốc thông qua một chính sách láng giềng quyết đoán rõ rành rành. 

Nằm ở vị trí chiến lược của Biển Hoa Nam, Vịnh Cam Ranh từng là một căn cứ không quân và hải quân then chốt của Mỹ trong cuộc chiến tranh giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Giờ đây Hà Nội nói rằng tàu nước ngoài (tức là tàu của Mỹ) có thể lại được phép sử dụng căn cứ hải quân này. Tín hiệu đánh về phía Bắc Kinh thế là đủ rõ. Nếu chèn ép quá đáng thì Việt Nam sẽ cung ứng sự hỗ trợ vật chất cho hải quân Mỹ để hải quân Mỹ đảm bảo tự do hàng hải.

Các nước khác cũng đang sửa sang lại phên giậu của nhà mình và hâm nóng mối quan hệ với Washington khi Trung Quốc bắt đầu vung gậy gộc. Những tranh chấp này có ý nghĩa rất lớn chứ không chỉ đơn thuần là việc Bắc Kinh muốn khôi phục lại hệ thống chư hầu cho phép vua chúa xưa kia của Trung Quốc có quyền bá chủ đối với những láng giềng nhỏ hơn.

Những tranh chấp này báo hiệu một hình thù phức tạp hơn của toàn thế giới chứ không chỉ đơn thuần là sự bất đồng được cho là giữa các cường quốc xưa nay và cường quốc mới nổi. Nếu chỉ vì thuận tiện mà vẽ một bức tranh địa chính trị ở đó lợi ích của các quốc gia đang nổi đụng độ với các lợi ích tương ứng của các nước thuộc khối phương tây, thế thì trật tự mới rất có thể sẽ nằm trong những đường viền không đều chồng chéo lên nhau. Một số nước thuộc phần còn lại của thế giới sẽ thích làm bạn với phương tây.

Mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc nom có vẻ như được coi bất di bất dịch là quan trọng nhất trong thế kỷ này, song điều khó lường nhất sẽ là những mối quan hệ đối đầu nhau giữa các nước không thuộc phương tây. Các cường quốc mới nổi hiển nhiên có chung những khao khát và khuynh hướng tự nhiên, nhất là họ đều phản đối sự thống trị của phương tây đối với những “bãi đất công” [commons: ý nói những khu vực của chung toàn thế giới, thí dụ như các tuyến đường hải hải quốc tế]. Nhưng thông thường sự kình  địch giữa chính những quốc gia này lại còn sâu sắc hơn sự kình địch giữa họ với phương tây.

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải [SCO] được thành lập cách đây mười năm đang khẳng định Trung Quốc, Nga và các nước Trung Á như Kazakhstan và Tajikistan có những mối quan tâm gặp gỡ nhau. SCO coi Ấn Độ, Pakistan và Iran nằm trong số các nước được hưởng địa vị quan sát viên. Một số người có lẽ đang coi tổ chức này như là một sự đối trọng tự nhiên đối với NATO. Nhưng cứ thử liệt kê các nước tham gia SCO thì sẽ thấy được sự mong manh của tổ chức này.

Nước Nga của Vladimir Putin đã khẳng định đứng về phía những nước không thuộc khối phương tây. Điều khôi hài ở chỗ là một quốc gia đến lúc này vẫn thích làm ra vẻ mình là một siêu cường ngang với Mỹ nhưng lại có vẻ hài lòng khi được chọn là một nước thuộc khối BRIC [các “cường quốc” mới nổi, gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nga].

Sự chọn lựa lập trường nói trên đã xảy ra ngẫu nhiên trong lịch sử hậu chiến tranh lạnh. Cách nhìn nhận thế giới của ông Putin chịu ảnh hưởng bởi sự nhục nhã của đất nước này sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ. Ông Putin là người Nga thuộc thế hệ không thể rũ sạch quan niệm rằng đối thủ tự nhiên của nước Nga là liên minh NATO do Mỹ dẫn đầu.

Chỉ cần một sự đánh giá khách quan chiến lược thì người ta sẽ khẳng định điều ngược lại. Những mối nguy lớn nhất đối với nước Nga hiện nay là nằm ở trong chính đất nước họ –  nền kinh tế lỗi thời và dân số sụt giảm nhanh chóng. Những thách thức đến từ bên ngoài đều nằm ở phía nam và phía đông nước Nga: từ chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo cho đến những sức ép nhằm vào một vùng Siberia dân số cứ mỗi ngày lại giảm đi và một Trung Quốc đang  ti toe.

Trung Quốc khinh thường Nga là một quốc gia đang suy tàn không đủ khả năng sản xuất bất cứ cái gì có ích ngoài dầu khí và không chóng thì chầy sẽ vùi giập đời mình trong rượu chè. Ngay cả kỹ thuật quân sự [của Nga] giờ đây cũng không đáp ứng những tham vọng của Bắc Kinh. Người Nga ắt phải biết điều này. Một viễn kiến chiến lược gạt bỏ mọi sự cảm tính sẽ cho ta thấy Moscow đang đánh đổi vai trò làm thằng khờ bị Bắc Kinh lợi dụng để hòa nhập vào nền kinh tế của phương tây.

Có thể thấy một điều rành rành là hiện nay Ấn Độ và Trung Quốc đang ganh đua nhau. Kể từ lần hai nước có chiến tranh đến nay thì nửa thế kỷ đã trôi qua. Ấn Độ nói rằng tình hình ở biên giới của nước họ với Trung Quốc hiện đang yên ắng hơn bao giờ hết. Song những dòng chảy thương mại và đầu tư đang lan rộng với tốc độ nhanh chóng đã khiến cho Ấn Độ chưa thể loại bỏ hoàn toàn những mối ngờ vực.

Trung Quốc đang là đối thủ lớn nhất của Ấn Độ trong cuộc vận động cho chiếc ghế ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Chiến lược quân sự của Ấn Độ vẫn bị tác động bởi khả năng xảy ra chiến tranh với nước láng giềng hùng mạnh của họ – Ấn Độ vẫn còn nuôi những mối ngờ vực bởi vì Bắc Kinh có mối quan hệ quân sự mật thiết với Pakistan.

Chính phủ Pakistan trong tháng này đã đề xuất Trung Quốc có thể được tạo cơ hội để sử dụng một căn cứ hải quân nằm ở phía tây nam cảng Gwadar. Chẳng điều gì nằm trong sự tính toán có thể khiến cho Ấn Độ bấn loạn cực điểm trước những tham vọng hải quân của Trung Quốc ở Đại Tây Dương cho bằng điều này; cũng chẳng điều gì đẩy Ấn Độ lại gần hơn về phía Washington cho bằng điều này.

Những điều sau đây dường như là những vấn đề đặc thù của châu Á: di sản của các cuộc chiến tranh trong quá khứ và những biên giới vẫn đang tranh chấp. Song, sự nổi lên của các cường quốc mới mặt khác sẽ tạo ra sự căng thẳng ở những nơi khác nữa. Thổ Nhĩ Kỳ được phương tây xem như là đang công khai ủng họ chế độ hiện nay ở Iran. Thế nhưng hai nước này cũng là đối thủ của nhau để tranh giành vị thế bá chủ trong vùng.

Những mối quan tâm chung đã kéo các nền kinh tế mới nổi lại gần với nhau hơn. Họ đang bớt phụ thuộc hơn vào phương tây so với trước. Sự mở rộng quan hệ nam-nam sẽ thúc đẩy thời kỳ tăng trưởng tiếp theo của thế giới. Nhưng còn lâu mới là điều hiển nhiên nếu cho rằng các nước ở vùng Mỹ La Tinh và châu Phi sẽ mãi mãi bằng lòng với vai trò là nước cung cấp nguyên liệu cho mấy nước lớn ở châu Á. Brazil đã tự coi mình là một trong những nước chỉ trích một cách nghiêm khắc nhất cái chính sách hối đoái của Trung Quốc.

Từ tất cả những điều nói trên sẽ thấy hiện ra một bức tranh toàn cầu trong đó sẽ có sự cạnh tranh lẫn thù địch rồi những liên minh trong vùng và sự hình thành những đường biên giới chằng chịt mà chẳng dựa trên cơ sở thực tế nào cả ngăn phương tây và phần còn lại của thế giới. Châu Âu rất có thể sẽ lựa chọn cách đứng ngoài vùng ảnh hưởng. Vai trò thích hợp của nước Mỹ sẽ là vai trò của sự cân bằng sức mạnh không thể không có.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Lưu ý: Các bài dịch đều có đường liên kết/link tới bài báo gốc, ngay tại tên trang báo, phía trên tựa bài, mời bà con bấm vào để truy cập. Riêng những bài phải đăng ký, như bài này, sẽ có nội dung bài gốc bên dưới.

 ———-

Round two: the rest versus the rest

By Philip Stephens

Published: June 16 2011 20:20 | Last updated: June 16 2011 20:20

Once in a while received wisdom is upturned by a fleeting headline. It happened the other day when the FT reported that “Vietnam seeks US support in China dispute”. The stylised view of the new global order frames it as a contest between the established west and the rising rest. The more interesting story is the one about the rest versus the rest.

The spat between Hanoi and Beijing is the latest in a series of disputes over control of the resource-rich South China Sea. In crude terms, China claims all of it. But the dotted line that marks out this ambition on Chinese maps is hotly contested by just about everyone else. The Philippines, Malaysia, Brunei and Taiwan have their own territorial and maritime claims. Japan has a separate argument with China about a cluster of islands in the East China Sea.

These clashes, then, are not new. Nor is the animosity between Vietnam and China. The Americans had not been gone five years before the two countries fought a vicious border war during the late 1970s. What’s new is the marked heightening of tension as China has adopted a strikingly assertive neighbourhood policy.

Strategically sited on the South China Sea, Cam Ranh Bay served as a pivotal US air and naval base during the war between South and North Vietnam. Now Hanoi says foreign (that means American) ships could again be given access to the naval facility. The signal to Beijing is clear enough. Push too hard and Vietnam will provide physical support to the US fleet in guaranteeing freedom of navigation.

Others have also been mending fences and warming their relationships with Washington as China waves its stick. There is more to such disputes than Beijing’s desire to restore the tributary system that afforded imperial China suzerainty over its smaller neighbours.

They are a harbinger of a global geometry more complex than the assumed standoff between status quo and emerging powers. Convenient as it is to paint a geopolitical landscape in which the interests of rising nations are in symmetrical collision with those of the west, the new order is more likely to have irregular and overlapping contours. Some among the rest will prefer the company of the west.

The relationship between the US and China looks set to be the most important of the present century, but the most volatile will be those that see the rest square up to the rest. The new powers, of course, have aspirations and instincts in common, not least in challenging western domination of the global commons. As often as not, however, the rivalries between these states are deeper than those with the west.

The decade-old Shanghai Co-operation Organisation speaks to an apparent confluence of interests between China, Russia and central Asian states such as Kazakhstan and Tajikistan. The SCO counts India, Pakistan and Iran among states with observer status. Some might consider the organisation a natural counterpoint to Nato. Yet to list the participants in the SCO is also to see the fragility of the enterprise.

Vladimir Putin’s Russia has put itself firmly on the side of the rest. Curiously for a state that still likes to pretend it is a superpower equal to the US, it seems happy to be designated one of the Bric nations.

This positioning is an accident of post-cold war history. Mr Putin’s worldview was shaped by national humiliation after the collapse of the Soviet Union. He is of a generation of Russians that cannot shake off the notion that Russia’s natural adversary is the US-led Nato alliance.

An objective strategic assessment would say the opposite. The biggest threats to Russia are internal – economic obsolescence and rapid population decline. The external challenges come from the south and east: from Islamist extremism and the pressures on a depopulated Siberia from a burgeoning China.

China scorns Russia as a declining nation, unable to produce anything useful except oil and gas, and slowly but surely drinking itself to death. Even its military technology now falls short of Beijing’s ambitions. Russians must know this. A strategic outlook unburdened by emotion would see Moscow exchange the part of useful idiot in Beijing for economic integration with the west.

The more obvious competition is between India and China. Half a century has passed since the two countries went to war. Indian officials say the country’s border with China is now one of its quietest. Yet the rapid expansion of trade and investment flows has not removed the suspicions.

China is the strongest opponent of India’s pitch for permanent membership of the UN Security Council. Indian military strategy is still shaped by the possibility of war with its powerful neighbour – its suspicions nourished by Beijing’s close military ties with Pakistan.

This month the Pakistan government suggested China could be offered a naval base at the south-western port of Gwadar. Nothing could be more calculated to heighten Indian neuroses about Beijing’s naval ambitions in the Indian Ocean; nor to nudge Delhi a little further in the direction of Washington.

These may seem peculiarly Asian problems, the legacies of past wars and still-disputed borders. But the rise of new powers will also create stresses elsewhere. Turkey is seen by the west as overly sympathetic to the present regime in Iran. Yet the two countries are also natural rivals for regional primacy.

Shared interests have pulled rising economies closer together. They are less dependent on the west. The expansion of south-south ties will fuel the next round of global growth. But it is far from self-evident that Latin American and African states will be forever content with the role of raw material producers for the Asian giants. Brazil already counts itself as one of the sternest critics of China’s exchange rate policy.

What emerges from all this is a global landscape in which competition and rivalries and regional alliances and hedging criss-cross the notional boundaries between the west and the rest. Europe may well choose to sit on the margins of influence. The likely role of the US will be that of the indispensable balancing power.

Đăng trong Chính trị, Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , , , | 5 phản hồi »

112. Căng thẳng trên biển Đông: có thể có một giải pháp?

Posted by adminbasam on 17/06/2011

Scribd

Phỏng vấn GS Carlyle A. Thayer:

Căng thẳng trên biển Đông: có thể có một giải pháp?

 14-06- 2011
HỎI: Đánh giá của ông về những căng thẳng gia tăng gần đây nhất trên Biển Đông là gì?

ĐÁP: Cả Trung Quốc và Việt Nam đang đi tới tiến trình xung đột nếu họ không ngưng việc gia tăng những rủi ro trong việc đáp trả lẫn nhau. Việt Nam đã phản đối các hành động của tàu dân sự giám sát biển Trung Quốc trong vụ cắt cáp, bằng cách gửi các tàu hộ tống đi cùng với các tàu thăm dò dầu khí của mình. Nếu Trung Quốc gửi thêm tàu tới để thực thi quyền tài phán của họ, có mỗi khả năng xảy ra sự cố như một vụ va chạm hoặc thậm chí đọ súng tùy thuộc vào hành động khiêu khích.

Phản ứng của Trung Quốc với thái độ thù địch ngay từ đầu. Thậm chí Trung Quốc còn không them điều tra bất kỳ sự cố nào. Hành vi của Trung Quốc có khả năng nhấn chìm các cuộc đàm phán đang thực hiện giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc áp dụng các hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002 và do đó cản trở kế hoạch cho một bộ luật ràng buộc pháp lý hơn: Quy tắc Ứng xử.

Những sự kiện gần đây trên Biển Đông cũng liên quan đến Philippines, nghĩa là tranh chấp lãnh thổ sẽ nổi bật vào tháng 7, khi các cuộc họp ASEAN được tổ chức tại hội nghị thượng đỉnh hàng năm và các cuộc họp liên quan. Áp lực quốc tế sẽ gia tăng đối với tất cả các bên, đặc biệt là Trung Quốc, để chấm dứt hành động khiêu khích và thỏa thuận một hòa ước hòa bình tạm thời. Nếu Trung Quốc phản ứng tiêu cực, điều này có thể tác động đến Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á dự kiến tổ chức ở ​​Jakarta vào tháng 10 khi Hoa Kỳ dự định ​​sẽ tham dự lần đầu tiên.

HỎI: Làm sao ông thấy kết quả này bây giờ khi Việt Nam tiến hành tập trận bắn đạn thật?

ĐÁP: Tập trận bắn đạn thật của Việt Nam là sự phản kháng lên tới đỉnh điểm. Việc tập trận liên quan đến việc pháo binh ven biển vào ban ngày và bắn súng hải quân vào ban đêm. Không có bắn thử tên lửa chống tàu. Khu vực có liên quan trải dài từ bờ biển đến đảo Hòn Ông xa 40 km. Việc tập trận đã không tiến hành gần nơi hai sự cố cắt cáp đã diễn ra. Và việc tập trận đã được thực hiện rất gần với đất liền để không có khả năng xảy ra bất kỳ sự liên quan nào đến tàu Trung Quốc.
Trung Quốc đã phản ứng có thể dự đoán – điên cuồng và bi thảm. Thực ra, Trung Quốc đã thông báo rằng họ sẽ tiến hành tập trận hải quân ở Tây Thái Bình Dương trước khi Việt Nam tuyên bố tập trận bắn đạn thật. Tàu Trung Quốc sẽ chỉ bị đe dọa nếu chúng xâm nhập vào lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam, không phải bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế của VN.
HỎI: Các phương tiện truyền thông nước ngoài nói rằng Việt Nam đã kêu gọi hòa giải quốc tế và muốn Mỹ giúp đỡ. Năm ngoái, Mỹ cho biết quyết định trong tranh chấp biển Hoa Nam là “lợi ích quốc gia” của mình – Chính xác đó là những gì lợi ích?

ĐÁP: Lập trường của Việt Nam đã được công bố trong câu trả lời về câu hỏi của một phóng viên tại buổi họp báo của Bộ Ngoại giao. Không phải là một sáng kiến ​​mới.
Lợi ích của Mỹ là duy trì sự an toàn và tự do hàng hải trên các tuyến đường biển quốc tế đi qua biển Hoa Nam. Mỹ có lợi ích quốc gia để thấy rằng những con tàu do Mỹ sở hữu và những con tàu do các đồng minh và bạn bè của Mỹ và tàu chở hàng hóa đến Hoa Kỳ và từ Hoa Kỳ không bị quấy nhiễu.

Mỹ cũng đã tuyên bố họ quan tâm trong việc ngăn chặn bất kỳ nước nào sử dụng quyền bá chủ trên biển Hoa Nam. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ không đứng về bên nào trong tranh chấp lãnh thổ.

HỎI: Thực tế, giải pháp gì có thể đạt được trong vấn đề này? Dường như chuyện đã xảy ra vào quá lâu, để đạt được một “giải pháp” sẽ vô cùng khó khăn.

ĐÁP: Giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Nam có lẽ không bao giờ thực hiện được. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không thể tranh cãi trên hầu hết biển Hoa Nam không căn cứ vào luật pháp quốc tế và do đó không tuân theo thỏa thuận. Tuyên bố của Trung Quốc cắt sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế mà Philippines và Việt Nam đã tuyên bố.

Trong khi đó, căng thẳng hiện tại có thể được giải quyết bằng cách tất cả các bên liên quan đồng ý kềm chế đe dọa hoặc sử dụng vũ lực và để duy trì hiện trạng, và hoàn tất việc đàm phán các hướng dẫn để thực hiện bản Tuyên bố Ứng xử (DOC). Điều này sẽ mang lại một số ổn định và có thể đoán được mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ven biển. Đây là điều tốt nhất có thể hy vọng bởi vì DOC mà Trung Quốc đã đồng ý với các nước thành viên ASEAN. Những đề nghị khác nhau cho hoạt động hợp tác về DOC có thể thực hiện cả phương pháp thực hiện và xây dựng lòng tin.

Về lâu dài, tranh chấp chủ quyền có thể xếp lại và các nước liên quan có thể đồng ý phát triển hợp tác [khai thác] tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. Họ cũng có thể áp dụng một quy tắc ứng xử nghiêm ngặt hơn nhưng để điều này có được ràng buộc pháp lý, sẽ cần phải có ý nghĩa của một hiệp ước.

Ngọc Thu dịch từ: http://www.scribd.com/doc/57825488/Thayer-China%E2%80%99s-Strategy-in-the-South-China-Sea-and-the-Prospect-for-Armed-Conflict

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

Đăng trong Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ Việt-Trung | Tagged: , , | 20 phản hồi »

 
%d bloggers like this: