BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Ba 15th, 2009

Khi chính trị được xem là quan trọng hơn những quyết định đầu tư

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Thông Tấn Xã Reuters

Khi chính trị  được xem là quan trọng

hơn những quyết định đầu tư

John Ruwitch

15-3-2009

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.
Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Đăng trong Chính trị, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | Leave a Comment »

Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Lời Tựa: Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế trong nước, mỗi năm Dung Quất sẽ bị lỗ khoảng 100- 150 triệu đô la vì đầu tư vào DQ không kiếm đủ tiền để trả lại tiền mượn nợ xây nhà máy lọc dầu. Bên cạnh đó, sản phẩm lọc dầu của Dung Quất sản xuất ra sẽ còn cao hơn giá sản phẩm mua của  Singapore vì dầu sản xuất ngoài khơi chở đến DQ mất 700-800 km, lọc xong thì lên tàu và chở vào Sài Gòn mất 700-800 km. Nếu dầu thô chuyển tới lọc ở Singapora và chở lại Sài gòn thì quãng đường gần hơn, không bị ô nhiễm môi trường ở Quãng  Ngãi, không bị ô nhiễm nước mặn làm ảnh hưởng kỹ nghệ 12 tỉ đô la xuất khẩu cá tôm hải sản.

******************************

Khi Chính Trị Được Xem là Quan Trọng Hơn Những Quyết định Đầu Tư

John Ruwitch

Thông Tấn Xã Reuters

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.

Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Dung Quất có khả năng lọc 65 triệu tấn dầu mỗi năm.
Đáp ứng được chừng 33% nhu cầu dùng trong nước.
Chi phí xây từ năm 1993 mượn  là 1,5 tỉ Mỹ Kim.
Hoàn thành năm 2008 và tổng chi phí lên gần 3,2 tỉ đô la.
*Nếu tính công lọc 1 tấn dầu là 11 Mỹ Kim  (lấy giá của Singapore), thì tổng số tiền lọc được 1 năm là:
6.5 triệu tấn x  $11/ tấn = 71,5 triệu đô la mỗi năm.
_Mượn 1.5 tỉ đô la, với lãi suất 6-8%, trong thời gian 30 năm, thì tiền lời VN phải trả cho ngoại quốc trong 15 năm qua là gần 1,3 tỉ đô la (90 triệu đô/ 1 năm x 15 năm).
_Nhà máy Dung Quất đi vào sản xuất đầu năm 2009. Lấy  tiền kiếm được qua việc lọc dầu TRỪ tiền trả lãi hàng năm cho việc mượn tiền xây dựng nhà máy = số tiền mà nhà máy Dung Quất thu được
Vì sau khi khởi công xây dựng từ 1993, nhưng không hoàn thành như tiến độ xây dựng là 5-7 năm,  khoảng thời gian gần đây VN phải mượn thêm 1,7 tỉ để hoàn tất công trình, nên món nợ thật sự xây Dung Quất là 3,2 tỉ đô la.
Năm 2009, tiền lời 1 năm phải trà cho việc vay mượn 3,2 tỉ đô la nầy là 3,2 tỉ đô x 6% = 192 triệu đô la/1 năm.
Tiền lời của nhà máy lọc dầu Dung Quất hàng năm là
71.5 triệu (tiền lời do lọc dầu) – 192 triệu (tiền phải trả lãi do vay mượn) = -120 triệu đô la
 

Tóm lại, nhà máy Dung Quất sẽ lỗ hàng năm là 120 triệu đô la. (chưa nhắc tới số tiền lãi phải trả lại cho ngoại quốc từ 1993-2008 là 1,3 tỉ đô la)

Nhiều nhà kinh tế tính rằng, số tiền lỗ thực sự lên đến hơn

250 triệu Mỹ kim hàng năm.

Giá xăng dầu:  theo các nhân viên cao cấp ngành dầu khí VN cho biết, thì giá xăng dầu của VN  trong nhiều năm sắp tới đây cũng sẽ vẫn cao hơn giá xăng dầu ở nước ngoài, và giá xăng dầu ở TQ cũng sẽ cao hơn giá mua xăng dầu phải nhập cảng ở  các nước ngoài, vì giá lọc dầu $11 / 1 tấn là giá lọc của  Singapore. Vì chính phủ có thể điều chỉnh giá lọc dầu ở Dung Quất phải cao hơn giá tiền  $11/ 1 tấn thì DungQuất mới bớt bị lỗ lã.

Nói một cách khác là toàn dân VN hiện nay phải mua xăng dầu giá cao hơn gia xăng dầu được nhập cảng của các nước ngoài và sẽ cao gấp rưỡi (1,5 lần) giá xăng nhập, và  dân chúng VN phải gánh hết lỗ lã do chính sách đầu tư sai lầm của nhà nước ở Dung Quất.

Trong suốt 5 năm qua, mỗi năm VN khai thác được trung bình từ 17 triệu tấn đến 21 triệu tấn đầu (2003-2008), và con số nầy đang giảm dần vì giếng dầu Bạch Hổ đã bắt đầu cạn do đã khai thác gần 20 năm qua.

Nếu VN không tìm được mỏ dầu, thì Dung Quất sẽ không có đủ dầu để lọc. Tuy vậy, nhà nước đã mượn tiền ngoại quốc để đầu tư xây dựng thêm 2 nhà máy lọc dầu nữa ở gần Hà Nội. Quan điểm của nhà nước là “có làm, là có ăn”

 

When politics weigh on investment decisions

JOHN RUWITCH

REUTERS

February 28, 2009 at 9:48 PM EST

DUNG QUAT, Vietnam — The $3-billion (U.S.) Dung Quat oil refinery, Vietnam’s biggest investment project to date, has been the source of many things for young mother Tran Thi Yen.

It has brought new roads to the sandy shoreline where Ms. Yen, 25, lives in an isolated region of central Vietnam. It has also attracted an army of workers from afar, including one who Ms. Yen, a petite woman with a warm smile, married.

And the flurry of construction on the refinery that officially opened last week also handed Ms. Yen a business opportunity on a silver platter. Last year, she built a roadside karaoke parlour that is already turning a profit.

“The only thing here before was sand,” she said holding her chubby seven-month-old baby.

The Vietnamese government may view cases like Ms. Yen’s as proof its decision to build the refinery here was visionary, bringing economic opportunity to one of Vietnam’s poorest regions.

But economists and political analysts have criticized the refinery project as, perhaps, the mother of all examples of how politics interferes with economic decision making in Vietnam.

The refinery, which took 15 years to build, was shunned by overseas investors as economically unviable due to its location in an isolated area, far from oil reserves. In the end, state oil monopoly Petrovietnam was forced to go it alone.

“It demonstrates that investment in the state sector is not very sensitive to economic considerations,” said Jonathan Pincus, dean of Ho Chi Minh City’s Fulbright Economics Teaching Program.

Since “doi moi” reforms started in 1986, Vietnam’s ruling Communist Party has been slowly extricating itself from direct control over economic activity. Thousands of state-owned companies have been “equitized,” a euphemism for privatized.

Still, politics can have a direct influence on investment projects to varying degrees depending on the sector, said Melanie Beresford, an associate professor at Macquarie University in Australia.

“They have a strategic view of industries that are essential for national development. Energy is obviously one of these … as are some of the other basic industries,” Ms. Beresford said.

The newly named Vo Van Kiet Street, after the late Prime Minister Vo Van Kiet, is a dusty strip of tarmac that stretches 23 km through the heart of the Dung Quat refinery’s economic zone to its port.

Mr. Kiet, prime minister from 1991 to 1997, is credited with the decision to build the 140,000-barrels per day refinery on the Quang Ngai coast and he is revered here.

Foreign investors pulled out over the decision to build in Quang Ngai because it was far from crude supplies and end users.

In 1995, France’s Total SA withdrew from a planned joint venture to build the refinery with Petrovietnam over the location. Then, in 2002, Russian state oil Zarubezhneft backed out due to disagreements over the plant’s distant location and technical issues.

Still, Le Van Dung, vice-chairman of the Dung Quat Economic Zone Authority, which oversees a swath of land nearly twice the size of Manhattan that is home to the refinery and other projects, called Mr. Kiet a man of “great strategic vision”.

“It is the responsibility not only of the prime minister, but also of the government to develop the central region, which lost millions of lives in the war but now is lagging in terms of economic development,” Mr. Dung said. “Instead of handing them a fish, they must be given a fishing pole.”

Mr. Dung said tax revenues in the county have risen and GDP per capita has jumped from about $400 in 2006 to $700 in 2008.

Some observers remain highly skeptical.

“Drop a capital intensive project that has few linkages to the local economy into a poor province and the local impact is minimal,” said one expert on the Vietnamese economy, who declined to be named due to concern of repercussions for airing views that run counter to the party line.

“Meanwhile, the distance from the oil is so great that the refining margins are likely to be negative. The end result? Pay over the odds for a money losing project that doesn’t create jobs.”

Despite some immediate gains made by many in the area, such as Ms. Yen, the karaoke shop owner, other residents have their gripes.

A total of 7,000 households will have been moved by 2015 to make way for the economic zone and new industrial investment.

Pham Thi Sach, 59, who lives beside Vo Van Kiet Street, worries about the unknowns.

“Here we can make a few hundred thousand dong every day by going to the morning market to trade seafood, but if we move to a new place we won’t know what to do,” she said.

The environment is a concern, too, particularly for some small-scale fishermen like Bui Quang Tien.

“The noise from the refinery scares away the fish so my catch has been smaller,” he said. “In the past I didn’t need to buy gas to go fishing, I just paddled, but now I have to go out to sea farther. So it costs more.”

Many, if not most, of the workers at the plant will come from outside because local residents lack the skills, although some of the other factories that will be built in the economic zone may be able to offer more in terms of local employment.

Some lessons have been drawn from the long and torturous Dung Quat experience, even if the Party line has been unswerving in its praise.

The country’s next two refineries, which will be bigger, are planned to go up in the much more advantageous locations of Nghi Son, just south of Hanoi, and Long Son, near the commercial hub of Ho Chi Minh City.

In addition, the foreign partners in the Nghi Son project, which is the less desirable location of the two, are being allowed to take part in refined product distribution, something Total and Zarubezhneft were denied and which might have made the Dung Quat project palatable.

 

———————————————–

BBT cám ơn bạn đã viết comment. Ban Biên Tập trích một ý kiến từ một website khác để trả lời bạn. Ý kiến dưới đây của Dr. Trần, post ngày 19-4-2009:

“Chỉ tính Dung quất mà thôi đã đầu tư 3,5 tỉ USD (mới đây thêm 200 triệu USD, sau khi đã thêm 600 triệu USD vài tháng truớc, trên số 2,5 tỉ USD đã được làm “nhỏ” bớt).

Sự ngu xuẩn trong việc đầu tư vào DQ chỉ có thể so sánh với sự xuẩn ngốc của việc nhập về mấy chục nhà máy đường phế thải từ TQ nay càng hoạt động càng lỗ, CP bỏ đi thì tiếc, ôm thì mỗi tháng phải bù lỗ mấy trăm tỉ VND.

Tại Dung Quất, tính tiền lời rẻ nhất 8% mà thôi, amortization 10 năm, thì mỗi tháng phải trả 42.464.660 USD, mỗi năm 510 triệu USD, theo cách tính tại đây: http://www.bankrate.com/calculators/…alculator.aspx

Tôi ghi “mortgage amount” là 3.500.000, “mortgage term” 10 years, 120 months, interest rate 8%, computer tính ra hàng tháng phải trả số trên (42.464,66 x 1000) thì 10 năm mới hết cả vốn lẫn lời.

Mỗi tấn dầu lọc ra chỉ tăng giá trị (nói khác đi là phí lọc dầu + tiền lời) theo giá thị trường chỉ vài chục USD là cùng, mỗi năm lọc 6 triệu tấn làm tăng giá trị cùng lắm 150 triệu USD, do đó chỉ tính tiền lời mà thôi 8% x 3,5 tỉ USD = 280 triệu USD, đem về 150 triệu USD, lỗ tiền lời 130 triệu USD.

Ngoài ra còn biết bao chi phí vận hành, phụ tùng thay thế, v.v… Tính rất rẻ các chi phí này 5 triệu USD / tháng mà thôi thì hàng năm DQ lỗ không duới 200 triệu USD.

Chưa hết, nếu tính amortization 10 năm thì mỗi năm trung bình phải trả vốn 350 triệu USD, nói khác đi nếu không bán đi thì mỗi năm CP VN phải bơm vào DQ ít nhất 550 triệu USD.

Nghe nói năm sau “cổ phần hóa” DQ. Tôi chúc họ good luck. Cổ phiếu DQ phải bán giá ÂM, vì hiện nay nợ cao hơn gấp đôi giá trị.

Hãng TOTAL lẽ ra đã cất xong từ 12 năm trước, giá rẻ hơn, tốt hơn, vì họ có nhiều máy móc phụ tùng từ các nơi khác đem qua, họ đang có các nhà máy tương tự từ hàng chục quốc gia khác, kinh nghiệm có, kỹ sư có, phụ tùng có, v.v… “

Tóm lại BBT cho rằng Dung Quất lỗ 120 triệu đô la /năm là quá nhẹ so với tính toán chi tiết trong ý kiến nói trên.Chưa tính tới tiền lới phải trả hàng năm tính từ 1993, thời điểm đi vay mượn tiền xây dựng Dung Quốc.

Đăng trong Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

Posted by adminbasam on 15/03/2009

QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ

1924 – 1954

VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP *

Nguyễn Hồng Dung

Tạp chí Lịch sử quân sự – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Dưới thời đô hộ Pháp, nhân dân, trí thức Việt Nam qua con đường Trung Quốc – Pháp đã biết đến một “Cách mạng tháng 10 Nga”, Lênin, chủ nghĩa cộng sản… Và người dân Việt Nam – ngay cả như đồng bào vùng núi – “đang mơ về nước Nga” (Thơ Tố Hữu).

Sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô – nhất là trong những thời điểm khó khăn của bản thân mình, của chính phủ, của Đảng Cộng sản Liên Xô, tình cảm của các nhà lãnh đạo, chuyên gia, các tầng lớp nhân dân Liên Xô về mặt tinh thần cũng như vật chất thật là sâu đậm, to lớn, mang ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất của Việt Nam.

Khác với một số quốc gia khác, nay đã hoà nhập với Việt Nam – nhưng do điều kiện lịch sử, trong quá khứ cũng đã có một bộ phận lực lượng vũ trang xâm lược, chống lại Việt Nam (Anh, Mỹ, Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…). Nước Nga, Liên Xô chưa hề có bộ đội mang vũ khí vào Việt Nam phản đối công cuộc cách mạng của Việt Nam.

Nhân dân Nga – Liên Xô trước sau vẫn mong muốn – và đã thực hiện – sự hoà nhập với Việt Nam. Tuy nhiên, trong một thời gian không ngắn, ý thức hệ, sự áp đặt, thiếu dân chủ của một bộ phận lãnh đạo Nga – Liên Xô, có thể nói chủ yếu là Stalin, đã làm cho sự hoà nhập Việt – Nga không được nhanh, đầy đủ và kết quả mong muốn cho cả hai phía.

Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, kể từ khi rời phía Nam sông Dương Tử, đi về phía Hoa Nam ngày nay, dừng chân trên vùng đồi ở phía Bắc sông Hồng rồi xuống đồng bằng sông Hồng, men theo biển vào Thanh – Nghệ – Tĩnh, tiếp đó phát triển đến Mũi Cà Mau thực tế là một phát triển “mở” chứ không “khép kín”. “Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ nét rằng Việt Nam có nguồn gốc Bách Việt… thuộc thành phần chính thống, trung kiên, bất khuất…”1, “trung kiên, bất khuất” bảo vệ mình để phát triển là phải khắc phục, vượt lên hoặc chung sống có điều kiện với khí hậu, thiên tai, thú rừng, kẻ dòm ngó, xâm lược.

Và phải cần có kinh nghiệm của bản thân, của hàng xóm lân bang “cùng hội, cùng thuyền”, nên Việt Nam đã sớm có những mối quan hệ “ngoại giao nhân dân”, “ngoại giao chính phủ” với các mường, động… với các thủ lĩnh vùng biên giới.

Khi có điều kiện, cũng đã chấp nhận sự có mặt buôn bán, trao đổi, giao lưu với các nước xa hơn – không có đường lục địa thông với Việt Nam – như Gia-va (In-đô-nê-xia), Nhật Bản, Phi-líp-pin… qua các thương cảng như Vân Đồn, Phố Hiến rồi Hội An, Sài Gòn…

Dưới thời Việt Nam chịu sự thống trị của phong kiến phương Bắc, hay trong những thời gian giữ được độc lập, tự do, vẫn phải “triều cống”, các đoàn sứ giả Việt Nam đến thủ đô các triều đại Trung Quốc cũng phải tranh thủ “giao lưu” với các đoàn, các sứ giả Cao Ly, Nhật Bản nếu họ cũng có mặt đồng thời tại đây. Cũng qua sự “hoà nhập” ngắn ngủi, nhỏ hẹp, nhưng các sứ thần cũng đã mang về Việt Nam – dù bị hạn chế – bị kiểm tra – nhiều tác phẩm văn hóa, nhiều bí mật ngành nghề để phát triển kinh tế, văn hoá trong nước.

Những kết quả “giao lưu”, “hội nhập” ấy đã giúp Việt Nam trong các ngành nghề in, làm hàng mỹ nghệ, có thêm các tác phẩm văn học của mình đã bị các triều đại Trung Quốc tịch thu với âm mưu xoá bỏ văn hoá Việt Nam, hiện biết thêm phần nào tình hình lịch sử văn hoá các nước khác.

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước dân tộc Việt đã sớm có hiểu biết về nhu cầu, về kết quả lợi ích của việc tìm hiểu nhau, học tập lẫn nhau trong một không gian hoà hợp, hoà nhập.

Thế kỷ thứ 19, Việt Nam “mang tiếng” là “bế quan, toả cảng”. Nhưng với những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, việc các vua Triều Nguyễn cử người đi Macao học cách đúc súng, đóng thuyền, mua báo Hồng Kông để đọc… là những động thái ” hoà nhập”, mong muốn hoà nhập, nhưng “lực bất tòng tâm”, không thực hiện được do nhiều nguyên nhân, chủ quan và khách quan.

Thực dân, đế quốc Pháp trong thời gian cai trị Việt Nam đã “cấm đi ra ngoài”, một thủ đoạn bưng bít, cấm hoà nhập.

“Lệ cấm đi ra ngoài là một cái lệ rất dã man. Anh cai trị tại ấn Độ, Nhật Bản cai trị Triều Tiên cũng là các nước khác cai trị dân thuộc địa khác không có nước nào có các chính sách như thế, chỉ có Pháp cai trị An Nam thì từ xưa – đến nay cho những người An Nam đi ra ngoài là sự phạm tội rất nặng”2.

Thống trị Việt Nam, nên mọi công việc ngoại giao của Việt Nam đều do chính quyền Pháp quyết định. Cùng với những “mất tự do” khác. nhân dân Việt mất luôn quyền “được hiểu biết, được hoà nhập”. Cũng cần phải công nhận rằng, mặc dù chính phủ Pháp có lệnh cấm đi ra ngoài, nhưng người Việt cũng tạo ra điều kiện để “xuất dương” bằng con đường công khai (đi học, du lịch…) hoặc bằng con đường bí mật tham gia các Hội kín, Đông Du, các tổ chức cách mạng, dù bị hạn chế bởi vòng vây của chính quyền, để nới rộng ra “vòng kim cô” của đế quốc Pháp, không chịu “cô lập”, “biệt lập”… với thế giới bên ngoài.

Những du học sinh Việt Nam sang Nhật thời Đông Du, được sự chỉ đạo của Phan Bội Châu, được sự giúp đỡ ban đầu của Chính phủ Nhật – lao động, học tập trong các trường văn hoá – quân sự Nhật Bản đã giúp cho các học sinh này hiểu biết thêm về nước Nhật “duy tân” đổi mới, đang dần tiến lên một nước hùng mạnh. Với các lưu học sinh, các binh lính, nhà buôn người Việt đi học, lao động, phục vụ chiến đấu ở Pháp, ở Nga, ở Châu Phi… cũng đã giúp họ “mở tai, mở mắt” khi hoà nhập với một xã hội văn minh, tiến bộ, dân chủ, cách mạng. Và khi họ trở về nước, dù ở hoàn cảnh nào, họ cũng thấy sự cần thiết phải “học hỏi”, “làm theo cái tốt” của các nước ấy, phải “đổi cũ ra mới, đổi xấu ra tốt”, phải làm cách mạng mới có thể ngang hàng được với các nước trong hoàn cầu thông qua con đường hoà nhập.

Năm 1924, bấy giờ đang ở Mátskơva, Nguyễn Ái Quốc đã có “Thư gửi đồng chí Pêtrôp, Tổng thư ký Đông Phương Bộ“, nêu lên “một ý kiến của tôi (Nguyễn Ái Quốc) đã ngẫm nghĩ từ lâu” và “thấy có trách nhiệm phải trình bày” rằng:

“Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự ĐƠN ĐỘC3.

Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Cũng có thể nói theo một cách khác, trên cơ sở nội dung bức thư trên của Nguyễn Ái Quốc: “Nếu các dân tộc phương Đông có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau – (có nghĩa là có thể hoà nhập với nhau) họ có thể biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng (chính trị, kinh tế, văn hoá, thương mại, quân sự…) và có thể tin cậy lẫn nhau (để chung sống và phát triển) để phối hợp hành động (chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá…) và để cổ vũ lẫn nhau”.

Phương Đông có những điểm tương đồng và dị biệt với Phương Tây.

Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên luận điểm: “đấu tranh giai cấp ở phương Đông không giống Phương Tây, chủ nghĩa Mác xây dựng cơ sở lịch sử của mình ở châu Âu, mà châu Âu không phải là toàn thế giới”, ” cần bổ sung chủ nghĩa dân tộc (một động lực – lòng yêu nước) vào chủ nghĩa Mác…”

Nắm vững thực tiễn Việt Nam, thực tiễn giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam nên Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương “chia địa chủ ra làm 3 hạng… đoàn kết với các tầng lớp yêu nước…, tiến hành chống đế quốc trước – để giải phóng dân tộc… đồng thời hạn chế sự bóc lột của phong kiến…, thành lập chính quyền cộng hoà dân chủ nhân dân (mà không lập Xô Viết, không chủ trương lập chính phủ chuyên chính vô sản…”

Những ý kiến trên đây của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 5 tại Mátskơva, năm 1924, người đã lên tiếng phê bình nặng lời các Đảng cộng sản, công nhân đã không “quan tâm đến các thuộc địa”, “không làm hoặc làm rất ít cho thuộc địa…”, đều là trái với những luận điểm của Quốc tế cộng sản, đứng đầu là Stalin.

Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Ái Quốc, anh thuỷ thủ đã đi, đã sống với rất nhiều người lao động các màu da trên thế giới, con người đã có kết luận: “chỉ có hai loại người – người đi áp bức và người bị áp bức” và giữa những người bị áp bức là một “mối tình giai cấp”. Trước khi đến Mátskơva năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được sự cần thiết phải “hoà nhập” – dù ở mức độ nào đó giữa các dân tộc – nhất là các dân tộc bị áp bức với nhau để “hiểu nhau, cổ vũ lẫn nhau…”.

Việc áp đặt và ràng buộc Nguyễn Ái Quốc vào Quốc tế Cộng sản (QTCS), không cho phép, hạn chế việc giao lưu giữa Nguyễn Ái Quốc với các đối tượng khác, nên vào năm 1925, khi Nguyễn Ái Quốc trở về Châu Á, QTCS đã không cấp cho Nguyễn Ái Quốc giấy giới thiệu với ĐCS Trung Quốc, với Quốc dân Đảng của Tôn Dật Tiên, không cung cấp tài chính đi đường, sinh sống.

Năm 1930, với “Chính cương, điều lệ Đảng tóm tắt”, dù đã “tế nhị” vừa làm vừa lòng QTCS, vừa giữ vững chủ kiến của mình cho cả một đường lối cách mạng của dân tộc4, nhưng vẫn bị QTCS và Stalin nghi ngại.

Trong lúc Liên Xô – đứng đầu nhà nước là Stalin, không chấp nhận những mối liên lạc của các đảng với các tổ chức chính phủ (mà chưa được QTCS đồng ý) vì quyền lợi của mình, Liên Xô đã “mở cửa” với Mông Cổ ngày 12 tháng 3 năm 1936. Để chống lại hiệp ước chống QTCS của Nhật và Đức ký ngày 25 tháng 11 năm 1936, Liên Xô lại bắt tay thoả thuận với Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch “đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc ngừng cuộc nội chiến và có cử chỉ hợp tác thân thiện với chính quyền Quốc dân đảng để chống lại Nhật Bản”5. Năm 1937, Liên Xô lại ký với Tưởng Giới Thạch hiệp ước không xâm lược ngày 21 tháng 8. Theo hiệp ước này, Liên Xô cung cấp cho Tưởng vật liệu chiến tranh qua Ngoại Mông, Tân Cương giữa lúc Hồng Quân Trung Hoa bị Tưởng vây đánh phải trường chinh từ căn cứ phía Nam lên phía Tây xây dựng cơ sở mới.

Nguyễn Ái Quốc cũng không thoát khỏi sự “xét nét” của QTCS. Không được triệu tập dự Đại hội 6 QTCS, bị bắt ở Hồng Kông năm 1931, rồi được ra tù với những lý do “không xác định rõ”… Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người bị cô lập – không được hoà nhập – trở thành “lữ hành cô đơn” (ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) trong những năm 1934 – 1938.

Tại đại hội VII, QTCS, bản tham luận của Trưởng đoàn đại biểu ĐCSĐD Lê Hồng Phong – tất nhiên phải thông qua QTCS, được coi như là chỉ thị của QTCS – phê phán Nguyễn Ái Quốc là “tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung 6.

Năm 1945, khi nhân dân Việt Nam giành được chính quyền, mặc dù ở Hà Nội có đại diện, chính phủ Liên Xô chỉ đến thảo luận với Việt Nam về những công dân Liên Xô, nếu có, trong quân đội Pháp – Nhật… mà không có cuộc gặp gỡ ngoại giao chính thức nào, kể cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có điện gửi Stalin…

Cũng phải đề cập tới, là trong những năm 40 giữa thế kỷ trước, Liên Xô còn bị ràng buộc bởi “Hiệp ước Xô – Pháp” có thời hạn 20 năm ký kết vào tháng 12 năm 1944, trong đó “hai bên cam kết không can dự vào công việc nội bộ của nhau” không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia (điều 5) nên, nếu Liên Xô – chính thức công nhận, ủng hộ Việt Nam – là vi phạm Hiệp định (Sau Chiến thắng Biên giới 1950, Liên Xô đã công nhận Việt Nam…).

Năm 1948, Nam Tư có công hàm chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam – nhưng Việt Nam – biết ứng xử, “giữ ý” với Liên Xô – thực chất cũng vẫn bị o ép, nên đã không mở được cửa sang phía Tây.

Không làm gì quá để Liên Xô có thể “mất lòng”, “chỉ trích” trong chủ trương hạn chế Việt Nam giao lưu, hoà nhập quốc tế, Việt Nam cũng đã khéo léo mở ra những cánh cửa – dù hẹp – để thoát khỏi “vòng vây” từ nhiều phía.

Việt Nam đã “kín đáo” giao thiệp với các nước láng giềng ở Đông Nam Á, với 2 nước Lào, Campuchia xin được đặt trụ sở đại diện chính phủ ở Băng Cốc (Thái Lan) được ra báo, xin được đặt một điện đài thu và chuyển các tin tức quốc tế tại Miến Điện (Mianma) để chuyển về Việt Nam…

Năm 1949, trả lời nhà báo Thái Lan Naiut Thorn Phokul, Hồ Chí Minh nói: “Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”.

“Năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật sang Liên Xô, tìm cơ hội gặp Stalin khi Mao Trạch Đông còn ở đó. Hồ Chí Minh được Stalin tiếp nhưng cuộc gặp không thành công, Stalin vẫn lạnh nhạt với ông Hồ và không chấp nhận ký một hiệp ước với Việt Nam như Liên Xô đã ký với Trung Quốc. Cũng trong phiên họp này, Stalin đã chất vấn ông Hồ tại sao giải tán Đảng cộng sản Đông Dương, tại sao chưa tiến hành cải cách ruộng đất”7.

Trong lúc Liên Xô – đứng đầu nhà nước là Stalin không chấp nhận những mối liên lạc của các đảng với các tổ chức chính phủ – (mà chưa được QTCS đồng ý), Hồ Chủ Tịch cũng đã nhiều lần tuyên bố “Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước yêu chuộng hoà bình, tự do, dân chủ”…

Tuy nhiên cho đến năm 1954 – gần 30 năm sau bức thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ Phương Đông – Nguyễn Ái Quốc, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng chưa làm gì được nhiều để hoà nhập.

Cuộc ngăn ngừa “hoà nhập của Việt Nam” với thế giới còn kéo dài mãi cho tới những năm 70 thế kỷ trước. Trong kháng chiến chống Mỹ, một mặt Liên Xô giúp đỡ Việt Nam theo ý thức hệ để bảo vệ “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á”, mặt khác vẫn không muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng với đối phương. (Vì nếu kéo dài chiến tranh – và thực tế đã diễn ra là trong khi Mỹ suy yếu ở Việt Nam, Liên Xô có điều kiện tăng trưởng kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang…). Ngay cả khi N. Khơrútsốp “bắt tay với Mỹ”, “chung sống hoà bình”, Việt Nam vẫn chưa được tự do hoà nhập. Bạn đồng minh lớn một thời của Liên Xô là Trung Quốc cũng từng cho “Mỹ là con hổ giấy”, từng tuyên bố “Trung Quốc là hậu phương lớn của Việt Nam đánh Mỹ” nhưng vẫn “răn đe” Việt Nam “hoà đàm” với Mỹ, “khuyên bảo” Việt Nam từ chối viện trợ của Liên Xô. Nhưng, chính Trung Quốc lại mở ra “ngoại giao bóng bàn” rồi đón Nichxơn tại Bắc Kinh, ưu ái “chú Sam Hoa Kỳ” không muốn Việt Nam chấm dứt chiến tranh sớm…

Là một người đã đi gần khắp thế giới “đã đến Châu Phi, qua các nước Châu Á, đến Mỹ, Anh, sống nhiều năm ở Pháp, ở Nga, đặt chân đến Thuỵ Sĩ, Đức, Xiêm… Nguyễn ái Quốc đã thực sự, qua thực tiễn của mình, của lịch sử, đã sớm nêu ra mệnh đề “đại đoàn kết, đại hoà hợp” – có thể hiểu là “đại hoà nhập”… không tán thành “đơn độc”, “biệt lập”, “đóng cửa”.

Thực ra, trên những văn bản chính thức qua cuốn “50 năm quan hệ Xô – Việt”, người đọc không tìm thấy một văn bản, một dòng chữ, một câu nói về việc Liên Xô hạn chế Việt Nam “hoà nhập”.

Nhưng trong đời sống chính trị, ngoại giao… có nhiều vấn đề không căn bản” mà lại có giá trị, sức mạnh như – hoặc hơn văn bản…

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chính phủ Việt Nam cũng khó có thể chính thức cho rằng Liên Xô cản trở Việt Nam hoà nhập. Chỉ có thể coi đó là quá khứ lịch sử, là một bài học, một kinh nghiệm cho hiện nay, mai sau.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu “Đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, đại thành công”. Hai chữ “đoàn kết” này không phải chỉ bó hẹp “đoàn kết” trong nước mà còn đoàn kết với các nước anh em, các nước bạn bè… Ngày 8 tháng 1 năm 1957, trong thư gửi các vị tăng ni và đồng bào tín đồ Phật giáo nhân dịp lễ Đức Phật thích ca thánh đạo, Hồ Chủ Tịch đã “thân ái gửi đến các vị lời chào đại hoà hợp”. Xét về mặt tư tưởng cũng như từ ngữ, “đại hoà hợp”8 có thể hiểu là “đại hoà nhập”, “hoà hợp” có vẻ như “cao” hơn “hoà nhập”? Có bao giờ “nhập” nhưng không “hợp”? Dù sao thì ý định hoà nhập của Hồ Chí Minh, của Việt Nam đã có từ lâu rồi.

Xét về mặt địa – chính trị, Việt Nam là nước lục địa, bán đảo, có chiều dài không nhỏ về bờ biển, là một bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương – một biển lớn ngày càng có tầm quan trọng cao – Việt Nam tất phải có nhu cầu – bắt buộc phải có nhu cầu hoà nhập để tự bảo vệ mình, để phát triển, phát triển cũng là để tự bảo vệ.

Quá trình giữ nước và dựng nước của nhân dân Việt Nam cho thấy nhân dân Việt – các triều đại trị vì ở Việt Nam – dù có vị vua này, thời gian kia – hạn chế, e ngại sự hoà nhập, nhưng nhìn chung hoà nhập vẫn là thiện ý, thiện chí là điều mong mỏi của Việt Nam, từ ngàn xưa cho đến nay.

Tuy nhiên sự hoà nhập, và hoà nhập phải được đòi hỏi cả hai phía. Cần tôn trọng những cái riêng của nhau, bảo tồn cái của mình, của bạn. Không nên (và thực ra cũng khó có thể làm được) để bị “hoà tan” trong khi hoà nhập.

Trong chiều dài của lịch sử, những cuộc chiến tranh về kinh tế, về lãnh thổ, tôn giáo, sắc tộc xẩy ra gây nên bao khổ đau cho con người sinh ra tính vốn lành, có một nguyên nhân là không biết, không được hiểu biết nhau, thương yêu nhau, không được hoà nhập với nhau…

Đức Phật, Đức Chúa, Thánh Môhamét và các vị khác… đều răn dạy, khuyên bảo “phải thương yêu nhau”, “thương yêu cả kẻ thù”, “tha thứ cho mọi sự không lành, người ác…”.

Trong thế kỷ thứ 21 này, nguyện vọng, xu thế của Việt Nam – của nước Nga – và của loài người trên hành tinh là chung sống hoà bình, hoà nhập.

Thực tiễn ở Việt Nam – dù chỉ qua một mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô đã chỉ ra:

- Dù có những quan điểm chính trị, tôn giáo, dân tộc… khác nhau, các nước đều có thể hoà nhập được với nhau 9.

- Hoà nhập không chỉ là một mong ước, nguyện vọng của đa số nhân dân mà có thể còn là một nhu cầu, yêu cầu của thời đại, một quy luật mới phát sinh buộc phải tìm hiểu, nghiên cứu, thực hiện.

Cho đến nay, dù ở những cấp độ khác nhau, ở những hiệu quả chưa đồng đều, chưa được mong muốn, về phía Việt Nam, cũng như về phía các quốc gia đối tác khác, Việt Nam đã là thành viên của Liên hợp quốc của ASEAN, của WTO, của khối cộng đồng Pháp ngữ… So sánh với thời kỳ còn “đóng cửa” do nhiều nguyên nhân – trong đó có “nguyên nhân” ý thức hệ, do QTCS…, Việt Nam đã học tập, được “thu hoạch nhiều “trong hoà nhập với cộng đồng quốc tế. Đối với Việt Nam, điều đó đang dần trở thành một “quy luật” tất yếu để tồn tại, phát triển.

Năm 2001, trong thời gian thăm nước Đức, Tổng thống Putin có nói:

“Lịch sử cũng như những đại dương, không chỉ có tách ra mà có khả năng nối liền”10.

Và hiện nay, “quy luật” đó đã được thực hiện trong quan hệ truyền thống Việt – Nga, cũng như mối quan hệ với nhiều quốc gia khác, trong một mái nhà chung của Hoà nhập./.

——————-

1 Bs. Ts. Nguyễn Thị Thanh, Việt Nam, Trung tâm nông nghiệp lúa nước và

công nghiệp đá xưa nhất thế giới, Việt Catholic, 30- 9- 2003 (Dẫn theo tư liệu tham khảo họ Đỗ, 6- 2007).

2 Báo Thanh niên số 63, ngày 3 tháng 10 năm 1926. Theo nhiều nhà nghiên

cứu, tuy bài viết này không ký tên tác giả, nhưng nhiều khả năng là do Nguyễn Ái Quốc viết.

3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, (1920 – 1925), Nxb Sự thật, 1980. tr. 207. Hồ

Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, 1995, đã đổi 2 chữ “Đơn Độc” này thành “Biệt lập“. Nguyên văn tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc là “isolement“.

4 Mặt khác, từ 1930 – đến 1940 cách mạng Việt Nam cũng đã phạm sai lầm

trong giáo điều tả khuynh.

5 Jean Baptiste Duroselle. Lịch sử ngoại giao từ 1919 đến ngày nay, bản dịch

của Lưu Đoàn Huynh, Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, 10/1944, tr. 276.

6 Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ, Đồng chí Lê Hồng Phong, một

lãnh tụ xuất sắc của Đảng, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 85.

7 Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945 – 1995, Tiên Rồng, 2004, tr. 215.

8 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb ST, tập 8, tr. 561.

9 Do không được hoà nhập sớm nên Việt Nam không nắm bắt được tình hình

quốc tế, thời cơ, xu thế thời đại, đã vi phạm giáo điều tả khuynh trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp 1950 – 1960, rồi sau đó là “bao cấp duy ý chí”, bị bao vây, cấm vận từ 1977 đến 1985…

10 Báo Thanh niên, ngày 10 tháng 6 năm 2008.

—————

* Tham luận tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”. Mời xem thêm hai bài liên quan trên số 91, 92, và các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị hủy bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“.

Đăng trong Lịch sử, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: