BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Ba, 2009

Làm Thế Nào mà Trung Quốc đã và đang Tạo Ra một Đế Chế Nô Lệ Mới ở Châu Phi

Posted by adminbasam on 31/03/2009

Daily Mail

Làm Thế Nào mà Trung Quốc đã và  đang Tạo Ra một Đế Chế Nô Lệ Mới ở Châu Phi

By PETER HITCHENS

Last updated at 12:00 PM on 28th September 2008

Narrow escape: Peter Hitchens

Tôi nghĩ rằng chắc có lẻ tôi sẽ chết trong ít phút nữa thôi. Một đám đông vào khoảng 50 người đàn ông bị lừa dối và bị khích động mạnh đang vây quanh chiếc xe của tôi, một số người đang cố lật ngược chiếc xe, những người khác đang đập vào xe bằng những viên đá lớn, tất cả đang la hét gào lên những lời lăng mạ và nguyền rủa chúng tôi.

Họ đã bắt đầu đánh bể những cửa xe. Tôi đang nghĩ bước kế đó là họ sẽ kéo chúng tôi ra và, nhưng thôi…, chúng ta hãy đừng nghĩ về chuyện ấy nữa…

Tôi cố gắng không nhìn vào mắt của họ, nhưng họ đang trợn trừng mắt vào tôi và các bạn đồng hành của tôi với sự cuồng nộ và ghét bỏ mà trước đó tôi chưa từng nhìn thấy ở bất cứ gương mặt của người nào như thế. Những người bạn đồng hành của tôi, cô Barbara Jones và anh chàng Richard van Ryneveld đang ngồi ở các băng ghế phía sau xe thì cũng giống như tôi chẳng giúp được gì hết.

Nếu chúng tôi bước ra, chắc chắn chúng tôi sẽ bị đánh tới chết. Nếu chúng tôi ngồi yên trong xe, chắc chắn chúng tôi cũng bị đánh tới chết.

Hai người bạn đồng hành người Phi Châu của chúng tôi – một cách rất điên khùng theo quan điểm của chúng tôi – đã bước ra khỏi xe để cố giải thích với đám đông.

Đối với chúng tôi, rõ ràng rằng hai anh bạn người Phi Châu đang giảng đạo về sự không dùng sự bạo động trước (mặt một đám người đang lên cơn tức giận như) một cơn gió lốc hung bạo đang tàn phá mọi vật trên đường mà nó di chuyển.[1]

Cuối cùng, sau khi những chuyện đập phá xe kéo dài vào khoảng chừng 40 giây, nhưng tôi có cảm tưởng như là 30 phút, một trong hai anh bạn Phi Châu của tôi nghĩ ra một chuyện hợp lý, anh ta chuồi ngược vào trong xe và liều mạng lùi xe lại rất nhanh xuống con đường đá đầy bụi – để lại người bạn của anh ta đàng sau với đám đông.

Nhờ ơn chúa, chúng tôi đã không bị trượt vào một con kênh dẫn nước, mà cũng không bị lật xe, hay không nổ lốp xe. Xuyên qua đám bụi mà chúng tôi đã làm ra vì quá vội vã khi chúng tôi tẩu thoát, chúng tôi đã có thể nhìn thấy những kẻ muốn sát hại chúng tôi đang chạy đuổi theo với tốc độ nhanh kinh hoàng để theo kịp chiếc xe. Nhưng chúng tôi đã vừa vặn có đủ thời gian để làm một cú quẹo rất nhanh trở về hướng xuất phát, cú quẹo nầy cho phép chúng tôi đi về phía trước và vượt đám đông một khoảng rất xa.

Thế là chúng tôi đã gần như bỏ lại một người hướng dẫn đường cho chúng tôi mà không biết vận mạng của anh ta ra sao (Điều đó là dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên để tự bào chữa cho tôi vào lúc ấy) khi ấy, đột nhiên chúng tôi nhìn thấy anh bạn người Phi Châu kia tách rời khỏi đám đông và đang chạy với sự nhanh nhẹn như ở Olympic, chạy trước những người đuổi theo bị che khuất bởi đám bụi mù.

Chúng tôi vội vã đẩy cho cánh cửa sau xe mở ra để cho anh chàng nầy có thể nhảy vào cho nhanh, động cơ nghiến ken két, và chúng tôi đã đột ngột chuyển hướng, xe nhồi lên rồi thụt xuống đau ê ẩm người trên con đường mòn đầy đá.

Chúng tôi đã lo sợ rằng sẽ có một nút chặn đường khác để ngăn chặn cuộc trốn thoát của chúng tôi, và tất cả mọi chuyện sẽ bắt đầu lại lần nữa. Nhưng đã không có (ai chận đường nữa), và sau cùng chúng tôi đã nhận ra rằng chúng tôi đã thoát, ngay cả anh chàng người Phi Châu mà sự ngu ngốc của anh ta gần như làm cho chúng tôi bị giết (cũng đã thoát).

Anh chàng nầy nói với chúng tôi rằng cái đám đông người Phi Châu chận đường ấy muốn giêt chúng tôi chứ không muốn giết anh ta, vì nếu không thì anh ta sẽ chẳng bao giờ trốn thoát được. Chúng tôi cần phải bị giết chết. Chúng tôi không chết. Đó là một cảm giác thú vị, không phải là không vui sướng một cách hoàn toàn.

Tại sao những người Phi Châu ấy đã muốn giết chúng tôi? Lý do gì đã làm nên sự tức giận của họ? Họ đã nghĩ rằng nếu tôi tường thuật cách sống và làm việc của họ, họ có thể mất công ăn việc làm để sinh sống.

Vậy mà gọi là sinh sống ư? Đang chết dần chết mòn thì đúng hơn.

Hình các mỏ đồng và cobalt trong hang sâu thẳm

Những người nghèo, người mất hết niềm hy vọng, những người giận dữ (với chúng tôi như đã viết ở trên) sống bằng cách đào những mãnh quặng cobalt và quặng đồng trong đất bẩn bị ô nhiễm và bụi của các mỏ đồng bị bỏ hoang ở Congo, rữa những thứ mà họ tìm thấy trong các giòng nước nhiễm bệnh dịch tả chứa đầy cứt người, sau đó đẩy lên đồi những túi đồ to lớn nặng chừng 100 kg trên những chiếc xe đạp cũ kỷ để tới một thị trấn Lakasi gần đó, nơi mà những người trung gian mua lại các món ấy để bán cho những nhà doanh nghiệp mà chủ yếu là bán cho những doanh nghiệp người Trung Quốc đang cần những thứ kim loại quan trọng nầy.

đào quặng đồng và cobalt

Thấy họ đi chậm chạp một cách đáng thương làm tôi nhớ lại các hình ảnh của các người thợ mỏ thất nghiệp ở Anh trong những năm 1930s, đang đi chệnh choạng về nhà dưới trời mưa lất phất với những túi xách chứa những mảnh than vụn gom lại từ những đống chiến lợi phẩm đánh cắp.

Ngoại trừ rằng ở đây cái nóng quá mức làm cho việc lao động 5 lần khó khăn hơn, và điều kiện làm việc và cuộc sống ở đây thì cực kỳ gian khổ hơn bất cứ thời gian nào từng được biết ở Anh kể từ thế kỷ thứ 18 (1601-1799).

Nhiều người chết vì những mỏ có từ lâu đời sụp đổ xuống trên bọn họ, hay bị thương một cách đáng sợ mà không có hy vọng được điều trị thuốc men.

Nhiều người nhỏ bé còn hơn những trẻ em. Vào một ngày gặp hên, họ có thể kiếm được 3 đô,  chỉ đủ hổ trợ cho sự hiện hữu mong manh trong những khu vực nghèo nàn sốt rét và bệnh tật.

Chúng tôi đã từng có mặt trước đây ở vùng mỏ bị đào xuống sâu trông rất xấu xí nầy, vùng nầy giống như là nơi ở của một đám tội nhân bị bắt từ một nước khác đem về đây và sống trong một đế chế nô lệ thời cổ.

Những con người bị bại trận, gục đầu xuống làm việc không bao giờ dứt trong mấy chục hố đất đào sâu xuống bằng tay. Gương mặt của họ, khi nhìn thấy, thì trống không và chẳng còn niềm hy vọng.

Tại một mỏ do người TQ làm chủ, người thợ mỏ ở Zambia, với cặp mắt lạc thần và trống rỗng đang chống cuốc nghĩ mệt…

Trước đó chúng tôi đã từng bị đuổi đi khỏi đây bởi một cảnh sát viên mập mạp ăn hối lộ, ông ta giả vờ nói rằng giấy tờ của chúng tôi là không hợp pháp, nhưng ông ta thật sự nhận những lời chỉ thị từ một tên anh chị có cặp mắt của người chết và hắn chỉ còn có một tai, tên này ngồi sát bên viên cảnh sát.

Khi chúng tôi quay trở lại với nhiều giấy phép của chính quyền, tay anh chị nầy đã chuẩn bị xong cuộc phục kich (bằng cách cho nhiều người Phi Châu chận đường chúng tôi như đã viết ở trên).

Những người đào mỏ khoáng sản đã lo sợ – và những ông chủ xấu xa gây tội ác của họ nắm ngay được nổi sợ ấy – rằng nếu những người giống như tôi (nhà báo) nói ra công khai cuộc sống bị ô nhiễm của họ thì rồi sau đó cái mỏ khoáng sản nầy có thể bị đóng cửa và công việc với đồng lương một ngày 3 đô la có thể bị tước mất hết. (giống VN quá, ta hãy nhìn nhớ lại xem một số những người ngoài miền Bắc họ có thái độ bảo vệ y hệt vậy…)

Tôi không thể nào đưa ra cho bạn một lời cắt nghĩa nào rõ ràng hơn về mức độ thu nhỏ lại của những gì độc ác, đồi bại và tội lỗi nhất mà tôi tin là hiện đang xẩy ra ở Phi Châu.

Quá tuyệt vọng, vì thế hầu hết các nước ở Châu Phi đang tự bán mình vào trong một kỷ nguyên mới của tham nhũng và tình cảnh nô lệ thực sự khi Trung Quốc tìm kiếm để mua hết tất cả các kim loại, các mỏ khoáng sản và mỏ dầu mà Trung Quốc có thể chạm tay vào: mua đồng dành để chế dây điện và dây điện thoại, kim loại cobalt dành cho việc chế tạo điện thoại di động và các động cơ phản lực – đấy là những vật liệu ròng của đời sống thời hiện đại.

(còn tiếp)

Người dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


PETER HITCHENS: How China has created a new slave empire in Africa

By PETER HITCHENS
Last updated at 12:00 PM on 28th September 2008

I think I am probably going to die any minute now. An inflamed, deceived mob of about 50 desperate men are crowding round the car, some trying to turn it over, others beating at it with large rocks, all yelling insults and curses.

They have just started to smash the windows. Next, they will pull us out and, well, let’s not think about that …

I am trying not to meet their eyes, but they are staring at me and my companions with rage and hatred such as I haven’t seen in a human face before. Those companions, Barbara Jones and Richard van Ryneveld, are – like me – quite helpless in the back seats.

If we get out, we will certainly be beaten to death. If we stay where we are, we will probably be beaten to death.

Our two African companions have – crazily in our view – got out of the car to try to reason with the crowd. It is clear to us that you might as well preach non-violence to a tornado.

At last, after what must have been about 40 seconds but that felt like half an hour, one of the pair saw sense, leapt back into the car and reversed wildly down the rocky, dusty path – leaving his friend behind.

By the grace of God we did not slither into the ditch, roll over or burst a tyre. Through the dust we churned up as we fled, we could see our would-be killers running with appalling speed to catch up. There was just time to make a crazy two-point turn which allowed us to go forwards and so out-distance them.

We had pretty much abandoned our other guide to whatever his fate might be (this was surprisingly easy to justify to myself at the time) when we saw that he had broken free and was running with Olympic swiftness, just ahead of pursuers half hidden by the dust.

We flung open a rear door so he could scramble in and, engine grinding, we veered off, bouncing painfully over the ruts and rocks.

We feared there would be another barricade to stop our escape, and it would all begin again. But there wasn’t, and we eventually realised we had got away, even the man whose idiocy nearly got us killed.

He told us it was us they wanted, not him, or he would never have escaped. We ought to be dead. We are not. It is an interesting feeling, not wholly unpleasant.

Why did they want to kill us? What was the reason for their fury? They thought that if I reported on their way of life they might lose their livings.

Livings? Dyings, more likely.

Peking power: A Chinese supervisor cajoles local workers as they dig a trench in Kabwe, Zambia

These poor, hopeless, angry people exist by grubbing for scraps of cobalt and copper ore in the filth and dust of abandoned copper mines in Congo, sinking perilous 80ft shafts by hand, washing their finds in cholera-infected streams full of human filth, then pushing enormous two-hundredweight loads uphill on ancient bicycles to the nearby town of Likasi where middlemen buy them to sell on, mainly to Chinese businessmen hungry for these vital metals.

To see them, as they plod miserably past, is to be reminded of pictures of unemployed miners in Thirties Britain, stumbling home in the drizzle with sacks of coal scraps gleaned from spoil heaps.

Except that here the unsparing heat makes the labour five times as hard, and the conditions of work and life are worse by far than any known in England since the 18th Century.

Many perish as their primitive mines collapse on them, or are horribly injured without hope of medical treatment. Many are little more than children. On a good day they may earn $3, which just supports a meagre existence in diseased, malarial slums.

We had been earlier to this awful pit, which looked like a penal colony in an ancient slave empire.

Defeated, bowed figures toiled endlessly in dozens of hand-dug pits. Their faces, when visible, were blank and without hope.

We had been turned away by a fat, corrupt policeman who pretended our papers weren’t in order, but who was really taking instructions from a dead-eyed, one-eared gangmaster who sat next to him.

By the time we returned with more official permits, the gangmasters had readied the ambush.

The diggers feared – and their evil, sinister bosses had worked hard on that fear – that if people like me publicised their filthy way of life, then the mine might be closed and the $3 a day might be taken away.

I can give you no better explanation in miniature of the wicked thing that I believe is now happening in Africa.

Out of desperation, much of the continent is selling itself into a new era of corruption and virtual slavery as China seeks to buy up all the metals, minerals and oil she can lay her hands on: copper for electric and telephone cables, cobalt for mobile phones and jet engines – the basic raw materials of modern life.

(to be continued)

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

Báo Cáo Đặc Biệt: Trung Quốc ở Châu Phi

Posted by adminbasam on 30/03/2009

Những gì đã xảy ra tại Phi Châu từ 2003-2008, thì hiện nay cũng đã và đang diễn ra ở Việt Nam…

Báo Cáo Đặc Biệt: Trung Quốc ở Châu Phi

Richard Behar

Fast Company Magazine

June 1 – 2008

Người dịch: Trần Hoàng

Phía Nam của sa mạc Sahara hiện nay là quang cảnh của một trong những cuộc chiếm đoạt tài nguyên bóc lột tới tận xương mà thế giới đã và đang chứng kiến.

Trong khi Mỹ đang bận rộn với cuộc chiến ở Iraq (tốn kém 500 tỉ đô la và vẫn còn đang gia tăng), và trong lúc các nhà kinh tế học hàng đầu đang tiếp tục viết ra những bài nghiên cứu tranh luận: liệu các nguồn tài nguyên quan trọng dành cho sự sống đang cạn dần hết rồi hay không, thì các nhà lãnh đạo Trung Quốc không bỏ mất bất cứ cơ hội nào. Trong vòng một vài ba năm, Trung Quốc đã và đang trở thành một quốc gia đầu tư hung hản nhất ở Phi Châu.

Không cần phải hỏi, cuộc xâm lăng trong lĩnh vực thương mại nầy là một trong những biến cố quan trọng nhất ở vùng phía nam của sa mạc Sahara kể từ khi chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh (1945-1991) – một nồ lực to lớn quan trọng nhất và đầy ấn tượng đang tái vẽ lại bản đồ kinh tế toàn cầu. Một cựu thứ trưởng bộ ngoại giao của Mỹ đã gọi nó là một cơn sóng thần. Một số những người khác gọi miền nầy là Châu-Phi-của-Trung-Quốc.

Hiện đang có nhiều người Trung Quốc sống ở Nigeria (Phi Châu) còn hơn số lượng những người Anh từng sống ở đây suốt khoảng thời gian thịnh vượng nhất của Vương Quốc Anh. Từ những tập đoàn do nhà nước làm chủ, đến những tập đoàn liên doanh với nhà nước và cho tới những người chủ các doanh nghiệp nhỏ, những người Trung Quốc đang phá hủy khắp đại lục Châu Phi.

Hơn một triệu công dân người Trung Quốc đang di chuyển lòng vòng từ chỗ nầy đến chỗ khác ở Phi Châu. Mỗi một dự án khổng lồ được thông báo bởi chính quyền Trung Quốc lại sinh ra những nền kinh tế phụ thuộc đi kèm theo đó và những cao ốc đông đúc người trú ngụ, tựa như là những làn sóng nhỏ của một viên đá (được ném ra và) lan tỏa trên khắp mặt hồ.

Bắc Kinh đã tuyên bố năm 2006  “là Năm của Phi Châu,”    và các nhà lãnh đạo Trung Quốc hết người nầy lại đến người khác đã và đang thực hiện những cuộc viếng thăm Phi Châu.  Không một cường quốc nào khác đã tỏ ra có sự quan tâm tương tự, hay có công sức tương tự, hay có khả năng thuần nhất để gây thiện cảm với các nhà lãnh đạo Phi Châu. Và cũng không giống như nổ lực không có tính chất đều đặn của Mỹ ở Iraq, người Trung Quốc không tuyên truyền nền dân chủ, thưa các bạn. Người Trung Quốc có mặt ở đó để lấy những cái gì mà họ cần để cung cấp cho nền công nghiệp của họ. Hiện tượng nầy có tên ở miền phía nam của sa mạc Sahara là: Các Món ăn đem về nhà của người Đại Hán.

Ý kiến bởi James Forrest

Chúng tôi đang toan tính để tài trợ tiền bạc cho việc xây dựng một đường rầy xe lửa ở miền Copperbelt. Người Trung Quốc đã mua một mỏ đồng và mang vào 2000 người công nhân Trung Quốc để họ không phải thuê mướn những  người ZambiaĐây không phải là những gì mà những người dân Zambia đã từng mong đợi khi mà chính quyền Zambia đã ban đặc quyền cho công ty  khoáng sản Trung Quốc Chambishi Mining.

Những vali tiền bạc của người Trung Quốc và những món tiền cho mượn mà không lấy tiền lờithì không phải là chuyện giỡn. Những nhà lãnh đạo nước Zambia đang đùa với lửa.

Một bài báo từ nhật báo Zambia Times Popular viết rằng: lòng tức giận hướng tới người Trung Quốc đang ngày càng gia tăng. “Người Trung Quốc không được ưa thích (ở Zambia). Người ta không cần họ có mặt ở đây”

*******************************

Những Người Phi Châu Đang Bị Đánh Đập Tàn Bạo tại những Xí Nghiệp của người Trung Quốc,

Robyn Dixon, phóng viên của báo Times,

ngày 6-10-2006

Maamba, Zambia –

Sâu hun hút trong một đường hầm của vùng mỏ Collum, bụi than bay thành vòng dày đặt, và bụi làm nghẹt thở những công nhân tựa như Chengo Nguni. Anh ta mô tả công việc trả lương 2 đô la mỗi ngày bằng một tiếng thở dài: Người giám thị của anh ta la hét không dứt bằng thứ tiếng Trung Quốc. Đôi giày bằng cao su của Chengo bị hở lổ. Những cái nút để kiếm soát dòng quặng đồng rời khỏi mỏ thường thường gây ra một cú điện giựt mỗi khi chạm vào.

Nhưng điều khốn nạn nhất về đời sống trong những mỏ do người Trung Quốc làm chủ ở miền Nam của Zambia là làm việc mà không có được một ngày nghĩ hàng tuần.  Ấy là điều chưa từng có bao giờ.

 

Quyền lực Bắc Kinh: Một giám thị người TQ đang nhắc nhở công nhân địa phương khi những cộng nhân nầy đang đào một cái mương ở Kabwe, Zambia

Peking power: A Chinese supervisor cajoles local workers as they dig a trench in Kabwe, Zambia

Khi viên bộ trưởng của chính quyền Zambia chú ý tới miền nầy, bà Alice Simango, đã nhìn thấy những điều kiện làm việc tại vùng mỏ Collum, bà đã gạt lệ khóc trên hệ thống truyền hình quốc gia và cáo buộc giới quản lý Trung Quốc đang đối xử với các công nhân người Zambia như những súc vật, buộc lòng chính quyền Zambia đóng mỏ Collum trong 3 ngày vào tháng 7-2006.

Sự đói khát của Trung Quốc về nguồn vật liệu ròng và năng lượng đang lèo lái cuộc đầu tư mới khắp đại lục Phi Châu, với thương mại giữa Trung Quốc và đại lục nầy tăng cao hơn 3 lần kể từ năm 2000 tới hơn 40 tỉ đô la mỗi năm.(Ở Việt Nam, thì thương mại của TQ xuất khẩu qua VN là 19 tỉ, còn VN xuất khẩu qua TQ là gần 1 tỉ, báo cáo năm 2008.)

Trung Quốc là thị trường chính cho dầu hỏa của nước Sudan.

Trung Quốc cũng đang đầu tư vào dầu hỏa của nước Nigeria,

Trung Quốc cung cấp cho nước Angola giàu nguồn dầu hỏa mượn tiền 2 tỉ đô la với các điều kiện rất dễ dàngvà cải thiện các mối liên hệ vói Tổng thống Robert Mugane của chế độ độc tài Zambia, hành động của TQ đã bị chỉ trích bới các nhà kinh tế và các nhà hoạt động nhân quyền. Những người chỉ trích nói rằng các tiêu chuẩn lao động và môi trường của người Trung Quốc thường là rất thấp.

Ở Ghanna, các nhà môi trường đã và đang cáo buộc công ty dầu hỏa Sinopec của Trung Quốc về việc đã làm ô nhiễm một công viên quốc gia.

Ở Zambia, đang có một biểu tình có bạo động về chuyện các mức lương bổng thấp và các điều kiện nghèo nan trong các xí nghiệp của người Trung Quốc.

Tại một mỏ đồng của nước NFC Phi Châu, một mỏ do người Trung Quốc làm chủ ở miền đông bắc của Zambia, hàng trăm công nhân người Zambia đã biểu tình bạo động vào cuối tháng 7, vì các báo cáo cho rằng giới quản lý người Trung Quốc đã từ chối tăng lương. 4 người công nhân Zambia đã bị bắn và bị thương bởi các công nhân người Trung Quốc của công ty nầy.  Một người công nhân khác đã bị bắn bởi cảnh sát.

Cũng giống như những người công nhân tại mỏ Collum, những công nhân NFC đã làm reo chống lại các điều kiện làm việc nghèo nàn, lương thấp, và  các tiêu chuần an toàn lỏng lẻo. Năm ngoái, một vụ nổ tại một xí nghiệp chất nổ thuộc công ty con của NFC ở Chambishi đã giết chết toàn bộ các công nhân người Zambia đang làm việc ở đây – hơn 50 người chết. NFC là một xí nghiệp của tập đoàn Kim-Loại -không-phải- thuộc-nhóm-Sắt do nhà nước Trung Quốc làm chủ.

Những người xứ Công Gô liều tính mạng của họ để đào qua những núi quặng thải để tìm kiếm những mãnh quặng kim loại.

The Congolese risk their lives digging through mountains of mining waste looking for scraps of metal ore

Sự tức giận ngày càng gia tăng đã châm ngòi một cuộc tranh luận trong các cuộc bầu cử tổng thống ở Zambia hồi gần đây, với việc đại sứ Trung quốc tại Zambia đưa ra lời bình luận đề nghị rằng Bắc Kinh có thể cắt đứt mối quan hệ với Zambia, và các nhà đầu tư Trung Quốc có thể rút ra khỏi nước nầy nếu như ứng cử viên đối lập hàng đầu Michael Sata thắng cuộc tuyển cử ngày 28 tháng 9 nầy.

Michael Sata đã từng hăm dọa đuổi cổ những nhà thương mại Trung Quốc ra khỏi nước nếu ông ta thắng cử trở thành tổng thống. Tuy vậy Sata đã thua trong cuộc tuyển cử ấy, và ông ta đã cáo buộc có gian lận bầu cử khắp nơi.

Đánh trả: Phóng viên Peter Hitchens với Michael Sata, nhà chính trị đối lập có biệt danh là Vua Rắn hổ mang

Fighting back: Peter Hitchens with Michael Sata, the opposition politician nicknamed ‘King Cobra’

Trong cao điểm của chiến dịch vận động tranh cử, đảng Tiền Phong Yêu nước của ông Michael Sata đã cho rằng sự sử dụng các computer của Trung Quốc để đếm phiếu có thể làm thiên lệch kết quả nghiên về phía có lợi cho chính quyền đương nhiệm, các nhân viên tòa đại sứ Trung Quốc đã mạnh mẻ chối bỏ lời cáo buộc nầy.

***********************************************

Comment:

Những gì đã xảy ra tại Phi Châu từ 2003-2008, thì hiện nay cũng đã và đang diễn ra ở Việt Nam…

Trước khi di chuyển 1 triệu người dân Trung Quốc đến Phi Châu, thì vào các năm 2003-2006, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã viếng thăm riêng các nhà lãnh đạo các nước Phi Châu và dùng chiến thuật biếu xén tiền bạc và quà cáp. Về mặt chính thức,  TQ cho chính phủ các nước nầy vay các khoảng tiền từ 2- 5 tỉ đô la với tiền lời rất thấp để giải quyết các vấn nạn trong nước. TQ còn viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp để thực hiện việc xây dựng đường sá, cầu cống, hải cảng, và viện trợ vũ khí cho chính quyền của 16 nước Phi Châu.

Sau khi lấy lòng được các chính phủ ấy, TQ mời tất cả các nhà lãnh đạo Phi Châu đến viếng thăm Trung Quốc hàng năm để chiêu đãi và thực hiện các kế hoạch mua chuộc và đánh bẩy khác. Kế đó là giai đoạn đầu tư các hãng xưởng quốc doanh của TQ vào Phi Châu.

Khi đầu tư mở các xí nghiệp tại 16 nước Phi Châu, các hãng quốc doanh của Trung Quốc đã biếu xén chia tiền lời hàng tháng cho các nhà lãnh đạo của các nước nầy để làm cho họ ủng hộ và chấp thuận tất cả các dự án lớn của TQ và đồng thời đàn áp các lực lượng đối lập nào lên tiếng phản đối. (Báo chí địa phương ở các nước Phi Châu viết rất nhiều về các vụ biếu xén hối lộ cho các nhân viên cao cấp của các chính quyền và kèm theo với hình ảnh và bằng chứng).

Kết quả TQ mua hết các mỏ khoáng sản, nhiên liệu và trúng thầu hầu hết tất cả các dự án công nghiệp về xây dựng đường sá, cầu cống, nhà máy hóa chất, nhà máy điện của hầu như tất cả các nước phi Châu.

Hiện nay, những gì Trung Quốc đã làm ở Phi Châu thì cũng đang làm giống như vậy ở VN. Nếu đọc các bài báo viết về Châu Phi, người ta có thể liên kết với các bài điểm báo của báo chí Việt  Nam trong thời gian mấy tháng qua, và có thể đoán biết là TQ đã bí mật cho nhà nước VN mượn những số tiền khổng lồ để chống chọi với sự khủng hoảng tài chánh và kinh tế, và TQ cũng biếu xén các món tiền khác … Đổi lại, nhà nước VN phải ủng hộ để cho TQ lấy hết tất cả các hợp đồng khai mỏ bô xít, điện, xi măng, hóa chất…trong thời gian gần đây.

Các mặt hàng dệt, áo quần xuất khẩu 12 tỉ mỗi năm của VN trong 20 năm vừa qua thực chất là của nước ngoài, vì đa số các xí nghiệp nầy là do người TQ, Nam Hàn và Đài Loan làm chủ, số xí nghiệp do người VN làm chủ hoặc do quốc doanh thì rất ít, phần lớn các xí nghiệp VN chỉ là các xí nghiệp may gia công, và người VN chỉ làm công trong các hãng may vì lương của công nhân Việt Nam rất rẽ, chỉ bằng 1/3 lương của công nhân TQ.

 

Fast Company: Special Report: China In Africa

Richard Behar

The sub-Sahara is now the scene of one of the most bare-knuckled resource grabs the world has ever seen.

While America is preoccupied with the war in Iraq (cost: half a trillion dollars and counting), and while think-tank economists continue to spit out papers debating whether vital resources are running out at all, China’s leadership isn’t taking any chances. In just a few years, the People’s Republic of China (PRC) has become the most aggressive investor-nation in Africa.

This commercial invasion is without question the most important development in the sub-Sahara since the end of the Cold War — an epic, almost primal propulsion that is redrawing the global economic map. One former U.S. assistant secretary of state has called it a “tsunami.” Some are even calling the region “ChinAfrica.”

There are already more Chinese living in Nigeria than there were Britons during the height of the empire. From state-owned and state-linked corporations to small entrepreneurs, the Chinese are cutting a swath across the continent. As many as 1 million Chinese citizens are circulating here. Each megaproject announced by China’s government creates collateral economies and population monuments, like the ripples of a stone skimmed across a lake.

Beijing declared 2006 the “Year of Africa,” and China’s leaders have made one Bono-like tour after another. No other major power has shown the same interest or muscle, or the sheer ability to cozy up to African leaders. And unlike America’s faltering effort in Iraq, the Chinese ain’t spreading democracy, folks. They’re there to get what they need to feed the machine. The phenomenon even has a name on the ground in the sub-Sahara: the Great Chinese Takeout. …….

COMMENT BY JAMES FORREST

We are attempting to finance the construction of a railroad in the Copperbelt region. The Chinese bought a mine and brought in 2,000 Chinese workers so they would not have to hire Zambians.

This is not what the Zambians expected when the Zambian Government granted the concession to Chambishi Mining Plc. The Chinese briefcases and zero interest loans are no joke. They play rough. Here is an article from the Zambian Times Popular resentment toward the Chinese is growing. “They’re not liked. They’re not wanted here.”


Africans Lash Out at Chinese Employers

by Robyn Dixon,

Times Staff Writer

October 6, 2006 MAAMBA, Zambia

Deep in the tunnel of the Collum mine, coal dust swirls thickly, and it’s stifling for workers such as Chengo Nguni. He describes his $2-a-day job with a sigh: His supervisor yells incomprehensibly in Chinese. His rubber boots leak. The buttons to control the flow of ore out of the mine often deliver an electric shock. But the worst thing about life in the Chinese-owned mine in southern Zambia is that there is no such thing as a day off. Ever.

When the government minister concerned with the region, Alice Simango, saw the conditions at the Collum mine, she wept on national television and accused the management of treating workers like animals, prompting the government to close the mine for three days in July. China’s hunger for raw materials and energy is driving new investment across Africa, with trade between China and the continent up more than 300% since 2000 to more than $40 billion a year.

China is the main market for Sudan’s oil. It has invested in Nigerian oil, provided oil-rich Angola with a $2-billion loan with easy terms and improved relations with Robert Mugabe’s Zimbabwean regime, which is criticized by economists and human rights activists.

Critics say Chinese environmental and labor standards are often poor. In Ghana, environmentalists have accused Chinese oil company Sinopec of desecrating a national park. In Zambia, there is a growing backlash over low wages and poor conditions in Chinese operations.

At the NFC Africa copper mine in Chambishi, a Chinese-owned operation in northeastern Zambia, hundreds of workers rioted in late July over reports that the management was reneging on a pay increase. Four were shot and wounded by Chinese employees of the company. Another was shot by police. Like their counterparts at the Collum mine, the NFC workers rail against poor working conditions, low pay and lax safety standards. Last year, a blast at an NFC subsidiary explosives factory in Chambishi killed every worker on the site — more than 50 people. NFC is a subsidiary of China’s government-owned Chinese Non-Ferrous Metals Corp.

The growing resentment sparked an acrimonious debate in Zambia’s recent presidential elections, with Chinese Ambassador Li Baodong making comments suggesting that Beijing might sever ties and investors might pull out if leading opposition candidate Michael Sata won the Sept. 28 vote. Sata, who at one point threatened to expel Chinese traders if he became president, lost the election, and he alleged massive vote fraud. In the heat of the campaign, his Patriotic Front claimed that the use of Chinese computers to tally the count could skew results in the government’s favor, an accusation strongly denied by Chinese Embassy officials.

http://www.fastcompany.com/magazine/126/special-report-china-in-africa.html

http://www.dailymail.co.uk/news/worldnews/article-1063198/PETER-HITCHENS-How-China-created-new-slave-empire-Africa.html#comments

Posted in Trung Quốc | Leave a Comment »

Châu Âu: Một lục địa mất phương hướng

Posted by adminbasam on 29/03/2009

The New York Times

Châu Âu: Một lục địa mất phương hướng

ngày 3/16/2009
người dịch: Trần Hoàng
 

Paul Krugman

(Fred R. Conrad/The New York Times)

Paul Krugman sinh năm 1953, là giáo sư về kinh tế học và các sự vụ về quốc tế tại trường đại học Princeton, tiểu bang New Jersey. Ông đang phụ trách một cột báo thường kỳ  cho nhật báo The News York Times.

Paul Krugman đã thắng giải thưởng Nobel về kinh tế năm 2008, với luận thuyết thương mại mới: Phân tích về các mô hình thương mại và vị trí của hoạt động kinh tế.

******************************

Tôi đang lo ngại cho Âu Châu. Thật ra, tôi lo ngại cho toàn thế giới – Hiện nay không có nơi trú ẩn an toàn nào cho cơn bão kinh tế toàn cầu. Nhưng tình hình tại Âu Châu hiện nay làm tôi e ngại còn hơn tình hình tại Hoa kỳ.

Nói rõ ra, tôi sẽ không lập lại các lời than phiền cố hữu nào mà Hoa kỳ thường ca thán về thuế ở Âu Châu quá cao hoặc các phúc lợi xã hội quá hào phóng. Các quốc gia có phúc lợi xã hội cao không phải là nguyên do của cuộc khủng hoảng tại Âu Châu hiện nay. Thực tế, như tôi giải thích dưới đây, các phúc lợi xã hội này thật sự là các yếu tố làm giảm nhẹ cuộc khủng hoảng.

Điều nguy hiểm rõ ràng và hiện nay tại Âu Châu đến từ một phương hướng khác — sự thất bại của lục địa nầy trong việc đối phó một cách có hiệu quả dành cho cuộc khủng hoảng tài chánh nầy.

Âu Châu đã thiếu hiệu quả trong cả hai chính sách tài khóa và tiền tệ: lục địa nầy đang phải đối mặt với một sự suy thoái cũng tệ hại ít lắm thì cũng bằng với Hoa kỳ, nhưng Âu Châu lại đang làm quá ít (so với Hoa Kỳ) để chống lại sự suy thoái này.

Về chính sách tài chánh, sự so sánh nầy đối với Hoa kỳ là đáng chú ý. Nhiều kinh tế gia, trong đó có tôi, từng lý luận rằng kế hoạch kích thích kinh tế của chính quyền Obama là quá nhỏ so với chiều sâu cuộc khủng hoảng. Nhưng bất cứ điều gì người Âu Châu đang thực hiện thì lại quá quá nhỏ hơn so với những hành động của Mỹ.

Sự khác biệt về chính sách tiền tệ (giữa Hoa Kỳ và Âu Châu) thì cũng đáng chú ý không kém. Ngân hàng Trung ương Âu Châu (ECB) kém năng động hẳn so với Quỹ Dự trữ Liên bang Hoa kỳ (FED); nó đã quá chậm trong việc giảm lãi suất (thật ra ngân hàng nầy đã tăng lãi suất vào tháng 7 năm ngoái), và tránh né bất cứ những biện pháp mạnh mẽ nào nhằm giải ngân các thị trường tín dụng.

Điều duy nhất có hiệu quả và tốt lành cực độ (cho việc đối phó với khủng hoảng) ở châu Âu lại chính là điều mà lục địa nầy đang bị chỉ trích nhiều nhất – đó là qui mô và sự hào phóng của các hệ thống trợ cấp xã hội, những hệ thống  nầy đang giảm nhẹ đi tác động của sự suy thoái  kinh tế

Trợ cấp an sinh xã hội không phải là chuyện nhỏ. Vấn đề này không tầm thường chút nào. Bảo hiểm sức khỏe toàn quốc và trợ cấp thất nghiệp rộng rãi đã bảo đảm rằng, ít ra cho đến hiện nay, dân Âu châu chịu đau khổ ít hơn dân Hoa kỳ. Và các chương trình này cũng sẽ giúp chịu đựng chống đỡ được sự tiêu xài trong nền kinh tế đang bị suy thoái.

Nhưng các yếu tố “ổn định tự động” ấy không thể thay thế cho các hành động tích cực.

Tại sao Âu châu lại thua kém? Lãnh đạo kém cỏi là một phần trong của câu chuyện nầy. Các viên chức ngân hàng Âu châu, những người đã hoàn toàn tính sai độ sâu của cuộc khủng hoảng, họ dường như vẫn còn tự mãn một cách lạ lùng. Và để nghe bất cứ điều gì tại Hoa kỳ, có thể được đem ra so sánh tương tự với những chỉ trích thiếu hiểu biết của vị Bộ trưởng tài chánh Đức, thì quí vị phải nghe từ chính …các nhân vật thuộc đảng Cộng Hòa (của Mỹ).

Nhưng có một vấn nạn sâu xa hơn: Sự hòa nhập kinh tế và tiền tệ tại Âu châu đã đi quá xa so với các thể chế chính trị. Kinh tế của nhiều quốc gia Âu châu đã được liên kết chặt chẽ gần giống như sự liên kết về kinh tế của nhiều tiểu bang của Hoa kỳ – và phần lớn (16 nước) Âu châu cùng chia sẻ với nhau một đơn vị tiền tệ chung. Nhưng khác với Hoa kỳ, Âu châu không có một loại- định-chế-trên- toàn-lục-địa cần thiết để đối phó với một cuộc khủng hoảng khắp lục địa nầy.

Đây là một lý do chính trong việc thiếu sót một hành động tài chính: Hiện nay không có một chính phủ nào ở vào địa vị gánh lấy trách nhiệm cho toàn nền kinh tế Âu châu. Điều Âu châu có được, thay vào đó, là các chính phủ quốc gia, và quốc gia nào cũng đều ngần ngại mượn một số nợ lớn để tài trợ cho một kế hoạch kích thích kinh tế, mà kế hoạch ấy sẽ cung cấp phần nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, lợi ích cho các cử tri thuộc các quốc gia khác.

Có thể quý vị trông đợi rằng các chính sách tiền tệ sẽ mạnh mẽ hơn. Sau cùng, cho dù không có một chính phủ toàn Âu châu, vẫn còn có một Ngân hàng Trung ương Âu châu (ECB). Nhưng ECB thì không giống như Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang FED (của Hoa Kỳ). FED có thể làm cuộc mạo hiểm vì FED được ủng hộ bởi một chính phủ quốc gia thống nhất – một chính phủ đã hành động để chia sẻ các nguy cơ từ các hành động táo bạo của FED, và chắc chắn sẽ chi trả cho những thua lỗ của FED nếu các nỗ lực của FED nhằm giải ngân các thị trường tài chánh bị thất bại. Ngân hàng Trung ương Âu châu E.C.B., do phải làm thỏa mãn và đáp ứng tới 16 quốc gia thường tranh cãi nhau, nên ngân hàng nầy không thể trông đợi vào một mức độ ủng hộ tương đương (như FED được tin cậy và ủng hộ của chính phủ Mỹ )

Nói theo cách khác, Âu châu hóa ra có cấu trúc rất yếu trong thời kỳ khủng hoảng.

Câu hỏi lớn nhất là điều gì sẽ xảy ra cho các nền kinh tế Âu châu đã từng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ tiền tệ còn dồi dào vài năm trước, chẳng hạn như Tây Ban Nha

Trong phần lớn thập niên vừa qua, Tây Ban Nha là một Florida của Âu châu, nền kinh tế quốc gia này được nâng bổng bởi một cuộc tăng trưởng đầu cơ khổng lồ trong bất động sản. Cũng như tại Florida, phát triển ngành bất động sản rất mạnh mẽ nay đã trở thành phá sản. Hiện nay, Tây Ban Nha đang cần phải tìm các nguồn thu nhập mới và việc làm khác để thay thế những việc làm bị mất trong công nghiệp xây dựng.

Trong quá khứ, Tây Ban Nha đã có thể cải thiện tính cạnh tranh bằng cách hạ giá đơn vị tiền tệ. Nhưng nay quốc gia này đang sử dụng Euro – và đường lối mở ra phía trước chỉ có thể là một quy trình khó khăn của việc giảm lương bổng. Tiến trình này đã rất khó khăn trong thời kỳ kinh tế còn tốt đẹp nhất, và sẽ khó khăn không thể tưởng tượng nổi nếu, vì tất cả mọi chuyện hiện giờ dường như  chắc chắn thế, nền kinh tế toàn Âu châu đang bị suy giảm và đang có khuynh hướng tiến tới sự thiểu-phát (deflation) trong nhiều năm sắp tới.

Có phải tất cả điều nầy có ý nghĩa rằng Âu châu đã sai lầm để tự liên kết (thành liên hiệp châu Âu) quá chặt chẽ hay không? Có nghĩa là, nói một cách đặc biệt, việc khai sinh đồng tiền Euro đã là một sai lầm? Có thể là như vậy.

Nhưng Âu  châu vẫn có thể chứng minh rằng  những người hoài nghi chuyện nầy đã bị sai lầm, nếu như các chính trị gia tại lục địa này bắt đầu chứng tỏ tài năng lãnh đạo nhiều hơn nữa. Họ sẽ làm được như vậy hay không?

*********************

*http://en.wikipedia.org/?title=Paul_Krugman#Nobel_Prize*
*http://en.wikipedia.org/wiki/Welfare_state
 

nguồn: http://www.nytimes.com/2009/03/16/opinion/16krugman.html?scp=3&sq=krugman&st=cse

Posted in Khủng hoảng kinh tế châu Âu, kinh tế thế giới | Leave a Comment »

Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng

Posted by adminbasam on 27/03/2009

TIME

Tấm bưu thiếp gửi từ Hà Nội

Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng

A police officer directs rush-hour traffic in Saigon, Vietnam (Zoriah / Zuma)

Martha Ann Overland / Hà Nội

Thứ Tư, ngày 25-3-2009

 

Khi anh Trần Công Tiến kể lại chuyện đó (anh nói rằng) anh đã tức giận điên lên và đã không còn nhịn nhục được nữa. Cách đây vài tuần, anh bị ra lệnh tấp vào lề đường bởi một công an giao thông vì anh lái xe chạy ngược chiều trên con đường một chiều, anh kể là anh đã cố gắng tỏ ra biết điều. Tiến cho rằng khoản tiền đút lót 6 đô la [100 nghìn đồng] đã được anh đưa ra là cao hơn mức bình thường; thế nhưng viên công an muốn có nhiều hơn để bỏ qua lỗi vi phạm luật lệ giao thông này. Lời qua tiếng lại giữa hai bên đã gia tăng. Những lời xỉ nhục đã tuôn ra. Và thế rồi Tiến đã hành động rất nhanh. “Tôi đã chộp cổ hắn ta và đẩy thật mạnh,” anh kể. Trước đây tôi chưa bao giờ dám thách thức công an. Tôi đã chán ngấy với trò tham nhũng rồi và vào thời điểm đó tôi đã quá thất vọng!” Cuối cùng, Tiến đã được cho đi khi một viên công an khác tới và xoa dịu tình thế đó.

Nhưng Tiến không phải là người duy nhất sống trong sự cuồng nộ. Ở tỉnh Kiên Giang thuộc miền nam, vào tháng 12 -2008, những nông dân giận dữ đã ném những hộp xăng đang cháy vào công an đang trưng thu nhà đất của họ và đã cầm giữ trong một thời gian ngắn ba trong số những công an đó làm con tin, bắt một công an phải lột hết cả áo quần.

Năm ngoái 2008, những nông dân ở tỉnh Hưng Yên đã đánh nhau với các giới chức chính quyền khi những người này đang cố tịch thu ruộng đất của nông dân rồi bán lại cho những nhà kinh doanh. “Đàn ông, đàn bà và trẻ con đã đánh trả bằng tay không, ném bùn đất, và đánh bằng bất cứ thứ gì họ túm được,” theo lời ông Nguyễn Đình Liên, ông ta đang làm việc ngoài ruộng khi công an đến. “Trước nay tôi  chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng kiểu như thế.”

Nạn tham nhũng ở Việt Nam là không có gì mới mẻ. Năm ngoái, tổ chức Minh bạch Quốc tế đã xếp hạng Việt Nam đứng thứ 121 trong tổng số 180 quốc gia trong Chỉ số Đánh giá Tham nhũng. Thế nhưng có lẽ thật là dễ dàng để bỏ qua những hành động tống tiền thường ngày vẫn xảy ra của các cán bộ nhà nước khi mà nền kinh tế của Việt Nam lúc trước đang phát triển thuận lợi và mức thu nhập đã từng tăng lên gấp hai lần mỗi vài ba năm.

Trường hợp đó hiện nay không còn nữa. Người dân đang bị bóp chặt bởi sự suy thoái kinh tế, họ đang ngày càng thất vọng bởi tệ nạn tham nhũng dai dẳng tại quốc gia này, theo lời ông Trịnh Hòa Bình, viện trưởng về môi trường và sức khỏe ở Viện Nghiên cứu Xã hội thuộc nhà nước tại Hà Nội.

Các cán bộ nhà nước đang nắm giữ các đặc quyền đặc lợi dành riêng cho họ trong khi tình trạng kinh tế của những người Việt Nam bình thường đang trở nên không ổn định hơn. Dân chúng tức giận, ông nói, các cán bộ tham nhũng đó hiếm khi bị trừng phạt vì nhận tiền hối lộ.

Phản ứng bạo lực mạnh mẽ chống lại công an đang diễn ra khắp đất nước là bất bình thường, khi xét rằng Việt Nam là một quốc gia áp dụng chế độc tài tương đối có hiệu quả, nơi những người bất đồng chính kiến hiếm khi được khoan dung. Trong hai vụ xô xát xảy ra gần đây, những người đi xe gắn máy bị cảnh sát kéo vào lề đường đã đốt cháy xe máy của họ hơn là để xe bị công an giam giữ.

Tháng 2-2009, một chiếc xe hơi đã kéo một viên công an ở Hà Nội đi xa 15 foot trước khi bỏ chạy luôn.

Tại tỉnh Đồng Nai ở miền nam, một đám đông giận dữ chứng kiến việc một viên công an đánh một người lái xe, họ đã dùng gạch đá đập vỡ chiếc xe mô tô của viên công an này.

Những vụ xô xát đó chỉ gom góp được chút ít mối quan tâm của báo chí do nhà nước quản lý, hệ thống truyền thông bỏ qua hầu hết mọi chuyện khi đề cập tới tội phạm hay lưu manh côn đồ. Thế nhưng nhân chứng, những người đưa lên mạng trực tuyến các đoạn phim từ máy quay video hay điện thoại di động có camera quay cảnh những chiếc xe máy bị đốt cháy và nông dân đánh nhau với công an , đã nói lên rằng sự bùng phát bạo lực là một dấu hiệu cho thấy công chúng cuối cùng đã sử dụng chính thứ bạo lực này để chống lại tham nhũng.

Chính quyền đã không xác nhận rằng liệu những vụ tấn công cảnh sát có phải đang gia tăng hay không, nhưng mối quan ngại đã đủ để Bộ Công An phải tổ chức một hội nghị vào cuối năm trước để bàn về vấn đề này. Đại tá Huỳnh Thế Kỷ, giám đốc công an tỉnh Ninh Thuận ở phía nam, người tham gia trong hội nghị này, đã quy cho tình trạng gia tăng bạo lực là do “số thanh thiếu niên thiếu sự giáo dục thích hợp và bị hư hỏng.”

Ông Kỷ nói là ông muốn thấy công an được trang bị hơn nữa những công cụ tinh vi hiện đại hơn để tự bảo vệ họ, song ông nói thêm rằng “thái độ của một số công an đôi khi chưa thích hợp. Công an phải làm việc với tinh thần phục vụ nhân dân. Họ phải có hành vi đúng đắn hơn.”

Những tầng lớp lao động chân tay ở Việt Nam đã nổi lên chống lại các nhà chức trách từ trước đây — với những thắng lợi. Cuộc nổi dậy nổi tiếng nhất của nông dân đã nổ ra tại tỉnh Thái Bình ở miền bắc vào năm 1997. Bị đè nặng quá sức bởi thuế má và các lệ phí bất hợp pháp, hàng ngàn nông dân đã thách thức các viên chức địa phương qua một diễn biến kéo dài vài tháng. Khi những yêu cầu của họ cần được lắng nghe nhưng lại bị phớt lờ, họ đã ném đá vào các cán bộ cốt cán của Đảng Cộng sản, tấn công các trụ sở làm việc và nhà ở của những cán bộ này, và cầm giữ một số cán bộ làm con tin trong nhiều ngày. Sau cùng, chính phủ trung ương đã nắm lấy quyền điều hành, kỷ luật xử phạt các viên quan chức địa phương và tống một số viên chức nầy vào tù cùng một số nông dân nữa.

Vào năm sau 1998, một bản quy định trên toàn quốc được biết đến như là Nghị định 29 đã được thông qua, cho phép sự tham dự nhiều hơn vào việc đưa ra quyết định ở địa phương và ban cho các công dân nhiều cơ hội hơn nhằm để xả cơn giận của họ trước những viên chức cấp xã.

Thập niên tăng trưởng kinh tế đáng ngạc nhiên vừa qua ở Việt Nam đã giúp làm dịu những tâm trạng thất vọng này. Thế nhưng 10 năm trôi qua, với những cải thiện chỉ ở bên lề về tính minh bạch và với tình trạng tham nhũng vẫn tiếp tục lan tràn, lòng nhẫn nại đang mòn dần để trở nên mong manh nguy hiểm – một thực tế mà ban lãnh đạo của Việt Nam đang nhận ra. “có tình trạng tham nhũng và lạm dụng chức quyền tại các địa phương,” theo thừa nhận của ông Nguyễn Minh Thuyết, một đại biểu lâu năm trong Quốc hội Việt Nam.

Mặc dầu vậy, ông Thuyết đã không tha thứ những vụ tấn công gần đây vào tài sản (xe, cơ quan) của chính quyền, ông Thuyết nói là ông hiểu về nỗi tức giận và đồng ý rằng chính phủ phải làm nhiều hơn nữa để cải thiện tính minh bạch.

Trong lúc công ăn việc làm tiếp tục biến đi mất và nạn lạm phát ngốn vào đồng lương, sẽ không dễ dàng gì để xoa dịu những con người đang bị giáng những cú đòn mạnh mẽ nhất này khi mà công an vẫn đang toan tính chỉa tiền của người dân để lấy những khoản rất nhỏ nhoi. “Công an hiện nay thậm chí còn tham nhũng hơn trước đây,” một tài xế taxi ở Hà Nội tên là Nguyễn Văn Cường đã nói một cách cay đắng.

“Ngày nào tôi cũng bị công an chặn lại vài lần.” Và khi mà ít năm trước chỉ chi có 100.000 đồng, tức là khoảng 6 đô la là đủ, thì bây giờ không thể ít hơn 200.000. “Điều ấy có nghĩa là có một số ngày tôi làm việc mà chẳng có tiền công, vì công an lấy đi hết tất cả những gì tôi làm ra,” anh Cường bảo. “Làm sao mà quí vị có thể không tức giận được cơ chứ?”

Hiệu đính: Trần Hoàng

 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

 

TIME

Postcard from Hanoi

Vietnamese Fight Back Against Cop Corruption

By Martha Ann Overland / Hanoi

Wednesday, Mar. 25, 2009

As Tran Cong Tien tells it, he was mad as hell and he wasn’t going to take it anymore. Pulled over by a Hanoi traffic cop a few weeks ago for driving in the wrong direction down a one-way street, he says he tried to be reasonable. Tien claims the $6 bribe offered was more than fair, but the officer wanted more to ignore the traffic violation. Words between the two escalated. Insults flew. And then Tien snapped. “I grabbed his neck and pushed hard,” he says. “I have never dared challenge the police. I’m fed up with corruption and at that moment I was just so frustrated!” Tien was eventually let go when another officer came along and defused the situation. But he is not alone in his rage. In southern Kien Giang province in December, angry villagers threw flaming gasoline canisters at police commandeering their property and briefly held three of them hostage, forcing one to disrobe. Last year, farmers in Hung Yen province battled authorities trying to seize their land and resell it to developers. “Men, women and children fought back with their bare hands, with mud, with anything they could grab,” said Nguyen Dinh Liem, who was working in his rice paddy when police arrived. “I had never seen that kind of thing before.” (See pictures of the Vietnam-China border war.)

Corruption in Vietnam is nothing new. Last year, Transparency International ranked Vietnam 121st out of 180 on its Corruption Perception Index. But it was perhaps easier to overlook occasional shakedowns from officials when Vietnam’s economy was doing well and incomes were doubling every few years. That’s no longer the case. People being squeezed by the economic downturn are increasingly frustrated by the nation’s enduring corruption, says Trinh Hoa Binh, head of environment and health at the government-run Institute of Sociology in Hanoi. Officials are maintaining their special privileges while the economic position of ordinary Vietnamese is becoming more precarious. They are incensed, he says, that corrupt officials are rarely punished for taking bribes.

The anti-police backlash playing out around the country is unusual considering that Vietnam is a relatively efficient authoritarian state where dissent is rarely tolerated. In two recent incidents, motorcycle riders pulled over by police set their own bikes alight rather than let them be impounded. Last month, a car dragged a Hanoi policeman 15 feet before racing off. An angry crowd seeing a cop roughing up a driver in the southern province of Dong Nai used bricks to smash the officer�s motorcycle.

The incidents have garnered only limited attention in state-run media, which dismiss most as the work of criminal minds or hooligans. But witnesses, who have posted videos and camera-phone shots online of burning motorcycles and farmers battling police, say the spurt of violence is a sign that the public has finally had it with corruption.

The government won’t confirm whether attacks on police are on the rise, but it is concerned enough that the Ministry of Public Security held a conference late last year to address the issue. Colonel Huynh The Ky, the director of security in southern Ninh Thuan province who attended the conference, attributed the increase to “teenagers who lack proper education and are corrupted.” Ky said he would like to see police provided with more sophisticated equipment in order to protect themselves, but he added that the “attitude of some police officials sometimes is not appropriate. Police have to work in the spirit of serving the people. They must have proper behavior.”

Vietnam’s working classes have risen up against authorities before — with results. The most famous farmers’ revolt took place in the northern province of Thai Binh in 1997. Burdened by excessive taxation and illegal fees, thousands of villagers challenged local officials over the course of several months. When their demands to be heard were ignored, they stoned Communist Party cadres, attacked their offices and homes, and held officials hostage for days. The national government eventually took charge, disciplining local officials and sending some to jail, along with some of the farmers. The following year, a national law known as Decree 29 was passed, allowing for more participation in local decision-making and giving citizens more opportunities to vent their grievances to commune-level officials.

The past decade of stunning economic growth in Vietnam helped to ease these frustrations. But 10 years on, with only marginal improvements in transparency and with corruption still rampant, patience is wearing dangerously thin again — a fact that Vietnam’s leadership recognizes. “There is corruption and abuse of power in local areas,” concedes Nguyen Minh Thuyet, a senior member of Vietnam’s National Assembly. Though he does not condone the recent attacks on government property, Thuyet says he understands the anger and agrees that the government must do more to improve transparency.

As jobs continue to vanish and inflation eats away at wages, it is not going to be as easy to placate those who are being hit the hardest when police attempt to extort them for petty cash. “The police are even more corrupt than they were before,” Hanoi taxi driver Nguyen Van Cuong says bitterly. “In one day, I can be stopped several times.” And where 100,000 dong, or about $6, might have been enough a few years ago, now nothing less than 200,000 will do. “It means some days I work for nothing, as they take everything I make,” Cuong says. “How can you not get angry?” 

Posted in Pháp luật, Tham nhũng | Leave a Comment »

Hành Động của Trung Quốc Tác Động tới những chính sách của Manila

Posted by adminbasam on 26/03/2009

The Straits Times

Hành Động của Trung Quốc Tác Động tới những chính sách của Manila

Bruce Gale, phóng viên kỳ cựu

Thứ Tư, ngày 25-3-2009

Đó có phải là một vụ ức hiếp hay là lối cư xử thông thường về mặt ngoại giao? Vào tuần trước nhiều chính trị gia Philippines đã lo ngại cực kỳ khi tin tức lan truyền tới Manila rằng Bắc Kinh đã phái đi chiếc tàu tuần tra hiện đại nhất của họ để tăng cường sự khẳng định về chủ quyền của Trung Quốc ở vùng Biển Đông. Nhưng phản ứng tại Manila đã tiết lộ rất nhiều về tình trạng dễ bị tổn thương sâu sắc của quốc gia này hơn là những khuynh hướng thù địch của Trung Quốc.

Hành động (gởi tàu chiến) của Trung Quốc đã đến chỉ ít ngày sau khi Bắc Kinh phản đối chống lại quyết định của Tổng thống Glorya Arroyo ký kết ban hành một Dự luật vốn dễ gây tranh cãi qui định rõ những đường ranh giới trên biển của nước này. Được biết đến như là luật về đường cơ sở, điều luật này đã bao gồm những vùng bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Quần đảo Trường Sa và Bãi đá ngầm Scarborough *.

Trường Sa, được tin rằng có nhiều dầu lửa, khí đốt và hải sản, bao gồm khoảng 100 hòn đảo nhỏ có địa hình thấp không trồng trọt được, dải đá ngầm nằm dưới mực nước biển, và những đảo san hô được xác định có vị trí chiến lược nằm đối diện những tuyến đường biển chuyên chở hàng hóa bận rộn nhất của thế giới. Những đảo nầy cũng được các nước Việt Nam, Đài Loan, Malaysia và Brunei tuyên bố có chủ quyền.

Quốc hội Philippines đã thông qua Dự luật đường cơ sở nầy vào tháng trước cốt vượt qua thời hạn cuối cùng vào ngày 13 tháng 5-2009 của Hiệp định về Luật Biển của Liên hiệp quốc dành cho các quốc gia thành viên để xác định rõ những vùng lãnh hải của nước họ.

Mối quan ngại ban đầu trước sự đe doạ này đã đặt ra sự toàn vẹn lãnh thổ của Philippines bởi các hoạt động của hải quân Trung Quốc đã vượt quá lãnh vực chính trị. Thượng nghị sĩ Francis Escudero, một thành viên của phe đối lập Genuine Opposition, đã mô tả việc làm của Trung Quốc như là một “chính sách ngoại giao pháo hạm.” Và Cố vấn An ninh Quốc gia Norberto Gonzales đã nói: “Việc triển khai tàu tuần tra đó …sẽ nhắc nhở chúng ta rằng thậm chí trong kỷ nguyên đối thoại và hiểu biết lẫn nhau này, vẫn luôn luôn có những quốc gia chuyên đi hăm dọa những quốc gia khác được nhìn nhận là yếu đuối như quốc gia chúng ta”. Philippines, ông nói thêm, có thể sẽ phải tìm kiếm sự trợ giúp từ Hoa Kỳ và Asean.

Tình trạng yếu kém của quân đội Philippines đều được mọi người biết rõ. Cựu chỉ huy phó hải quân Amable Tolentino đã thừa nhận vào năm ngoái rằng quân đội của Phi thua kém quân đội các quốc gia khác cũng có yêu sách chủ quyền trên vùng biển đảo này. Chiếc đô đốc hạm của Hải quân Philippines là một chiếc khu trục hạm (nhỏ) được đặt làm từ năm 1943.

Tuy nhiên, những phát biểu của các nhà quan sát Philipines thì đáng được xem xét hơn. Khi viên Bộ Trưởng truyền thông và báo chí Philippines Cerge Remonde sau đó đã thừa nhận rằng, giọng điệu phản đối của Trung Quốc ngay từ đầu cũng chẳng có gì nghiêm trọng hơn những gì Manila đã đưa ra nếu như Trung Quốc hoặc những quốc gia có yêu sách chủ quyền khác đối với khu vực đang tranh chấp thông qua đạo luật tương tự như thế (của Philippines).

Và bằng cách đưa ra sự thông báo trước về hoạt động gởi tàu chiến của Trung Quốc tới vùng biển nầy, các giới chức đã thừa nhận rằng Trung Quốc vẫn giữ nguyên sự tuân thủ và các cam kết của họ trong Bản tuyên bố về Ứng xử giữa Các bên năm 2002 trên Biển Đông (được ký kết bởi 10 nước) [1]

Bắc Kinh không phải là đang hăm doạ Manila. Đúng hơn là nước này đang đáp ứng lại việc tăng cường lực lượng quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực nầy sau một biến cố xảy ra ngày 8 tháng Ba 2009, khi một trong những chiếc tàu khảo sát (vẽ địa diện dưới đáy biển) của Washington theo như báo cáo đã bị hải quân Trung Quốc quấy nhiễu ngoài khơi đảo Hải Nam.

Thật sự, điều quan trọng hơn trước mắt đối với Philippines về những diễn biến gần đây trên Biển Đông không nằm trong ý nghĩa quan trọng về địa chính trị của nước này, mà là nằm trong sự tác động của các diễn biến đó đối với nền chính trị trong nước.

Bằng việc nhấn mạnh đến tình trạng không tự bảo vệ được mình của Manila trong sự đối mặt với thách thức được đặt ra bởi một lực lượng hải quân ngày càng hiện đại của Trung Quốc, phản ứng của giới tinh hoa chính trị của nước này đã làm dễ dàng hơn cho Tổng thống Arroyo để tái xác nhận sự ủng hộ của bà dành cho liên minh dài lâu Hoa Kỳ-Philippines.

Ví dụ, trong một cuộc điện đàm với Tổng thống Barack Obama, bà Arroyo theo như tin tức cho biết đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Hiệp Ước Thăm Viếng Quân sự – một hiệp ước song phương có thể gây tranh cãi nhằm kiểm soát hoạt động của các lực lượng Hoa Kỳ tại nước này. Chính phủ Philippines đã buộc phải bảo vệ cho bản hiệp ước nầy trong những tuần gần đây khi sự tức giận của dân chúng sôi sục về hành động từ chối của đại sứ Hoa Kỳ để giao nộp một lính thủy quân lục chiến bị kết tội hãm hiếp một phụ nữ Philippines.

Và bằng việc tập trung chú ý vào phản ứng của Bắc Kinh đối với quyết định của bà Arroyo ký vào Dự luật tái lập tuyên bố những yêu sách lãnh thổ của Manila, giới chính trị trong nước đã và đang giúp đánh bóng cho những thành tích dân tộc chủ nghĩa của vị Tổng thống nầy.

Năm ngoái, các nhà lập pháp phe đối lập đã cáo buộc bà ngấm ngầm phá hoại yêu sách chủ quyền của đất nước đối với Trường Sa bằng việc tham gia vào một thỏa thuận giữa ba nước trong khu vực này với Trung Quốc và Việt Nam **.

Một phản ứng khác có thể xảy ra đối với những diễn biến vào tuần trước – một bước tái gia tăng thêm sức mạnh cho những nỗ lực hiện đại hóa quân đội – là khó thực hiện hơn. Những căng thẳng nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Philippines vào giữa thập niên 1990 đã nhắc nhở Quốc hội Philippines cho phép có một chương trình hiện đại hóa. Thế nhưng việc tập trung vào chương trình hiện đại hóa đó – và tình trạng nghi vấn tham nhũng – đã dẫn đến quyết định cho sửa chữa và phục hồi các trang thiết bị quân sự hơn là mua mới.

Để làm cho điều nầy thay đổi sẽ cần có một mối đe doạ to lớn hơn nhiều phô bày ra hơn là từ một chiếc tàu tuần tra đơn lẻ của Trung Quốc.

 

Hiệu đính: Trần Hoàng

[1] http://www.aseansec.org/13163.htm

* Xem trên wikipedia.

** Mời xem các bài quanh vụ việc này trên trang basam.tk:

-“169:Chớ phản bội trong thỏa thuận Trường Sa;

- 171:Thỏa thuận Trường Sa là hợp hiến;

- 172:Mañalac: tôi sẽ làm chứng; – 174:Phản bội Trường Sa?

 

8 phim của thủy thủy tàu Impeccable ghi lại hành động gây hấn                                                                               rất thiếu giáo dục của Hải Quân Trung Quốc.

*“Độc giả  có thề vào thẳng mạng http://www.YouTube.com và gõ nhóm chữ “Chinese ships approach USNS Impeccable.”

Sau khi bạn đã xem xong các băng hình, bạn có thể góp lời bình luận ở phía dưới. Hiện thời ở một số băng hình đang diễn ra các cuộc tranh luận sôi nổi bằng Anh ngữ, cho thấy Hồng Vệ Binh CSTQ đang ráo riết tranh giành chính nghĩa và chủ quyền Biển Đông, ít nhất là qua cuộc chiến bàn phim maý điện toán.

Bản tin trên báo Computerworld ghi rằng vụ chạm trán xảy ra nơi phía nam một căn cứ hải quân TQ, nơi trú đóng một số tàù ngầm tối tân nhất của TQ, kể cả các tàu được thiết kế để sẽ chở các phi đạn nguyên tử.

Vị trí này cũng không xa nơi một phi cơ do thám kiểu EP-3 của Hải Quân Mỹ đã đụng với một chiến đấu cơ Trung Quốc năm 2001, làm chết người phi công Trung Quốc và buộc phi cơ Mỹ này phải hạ cánh khẩn tại một căn cứ không quân Trung Quốc, nơi phi hành đoàn Mỹ sau đó bị TQ giam giữ.

Một lý do cho thấy vì sao Hải Quân Mỹ đưa các băng video này lên mạng YouTube: để củng cố lời biện minh của Hải Quân Mỹ rằng tàu Mỹ thực ra là tử tế lắm, lúc đó đang thực hiện công tác quan sát bản đồ đáy biển thì bị 5 tàu Trung Quốc tới gây sự. Bản văn Hải Quân Mỹ phổ biến ngày 8-3-2009 đã nói rằng công tác thám sát lúc đó là ở lãnh hải quốc tế, 75 dặm phía nam Đảo Hải Nam, thì 5 tàu TQ tới gần gây sự. Chứ không phải là tàu Mỹ tiến vào sát biển của Trung Quốc bao giờ.

Trong băng hình, có lúc cho thấy tàu Trung Quốc tới sát đuồi tàu Mỹ, khều móc dây cáp tàu Mỹ thả dòng dây.

Có lúc, bạn sẽ nghe người thu băng hình này nói với anh bạn thủy thủ cùng tàu, “Tớ muốn ghi băng hình thằng [tiếng nói tục] cà chớn này đang khều dây cáp tàu mình, để khi tới gặp nó ở Hồng Kông, tớ có thể đấm vào mặt nó.”

Độc giả Việt Nam không cần phảỉ hẹn đấu võ với thủy thủ Tàu ở Hồng Kông. Hãy lên mở trận chiến bàn phím điện toán, vào mạng YouTube và dùng những ngôn ngữ lịch sự để cho toàn thế giới thấy được rằng Biển Đông là của Việt Nam. Nơi đó đã từng xảy ra trận hải chiến 1974 ở Hoàng Sa, và trận hải chiến 1988 ở Trường Sa. Hãy nói cho cả thế giới biết rằng, trên Biển Đông đã có dòng máú Việt đổ ra để gìn giữ lãnh hải. Hãy nói như thế, nói thật lớn, cho cả thế giới biết. Trong khi rất nhiều người trên toàn cầu đang vào xem các băng hình này…”  theo Trần Khải http://www.dcvonline.net/php/index.php

Hệ Thống Âm thanh Tần số thấp dùng để phát hiện Tàu Ngầm

người dịch: Trần Hoàng 

Hải quân Hoa Kỳ đang có kế hoạch để đưa vào sử dụng một hệ thống phát hiện tàu ngầm mới, được biết với tên là hệ thống dùng Âm Thanh Tần Số Thấp LFA (Low Frequency Active Sonar), hệ thống nầy sẽ được triển khai đem ra sử dụng khắp 80% của các đại dương trên toàn cầu.

LFA được căn cứ trên sự kiện rằng âm thanh ở tần số rất thấp (100-1000 Hertz) có thể truyền đi với một khoảng cách rất xa và phát hiện được những tàu ngầm có động cơ chạy rất êm.

Hệ thống LFA sử dụng âm thanh cường độ mạnh (nhưng có tần số thấp), ở mức độ gây ra tiếng ồn 235 decibels hay lớn hơn (Hải quân đưa ra con số tiếng ồn ở mức độ 160 decibels vào khoảng 2 km cách nguồn phát ra tiếng ồn hay hệ thống LFA) [ tiếng ồn của động cơ phản lực bay thấp ngay trên đầu là khoảng 120-135 db; tiếng tồn của xe cô chạy trên đường cao tốc là 80-90 db] âm thanh tiếng ồn có tần số thấp nầy được phát ra từ những nguồn phát âm thanh kéo theo đàng sau các tàu như Impeccable (tagos class).

Hệ thống âm thanh có tên là SURTASS kéo đàng sau tàu đang dùng hiện nay thì bị giới hạn khả năng phát hiện các tàu- ngầm- có- động- cơ- chạy- rất- êm, ít phát ra tiếng động.

Vì vậy, cuộc nghiên cứu LFA nầy sẽ diễn ra trong thời gian sắp tới và kéo dài trong một khoảng thời gian khá lâu ở những khu vực nơi hệ thống âm thanh có tần số thấp kéo theo sau tàu đi qua.

LFA đang đề nghị dùng các tàu lớn có tiêu chuẩn TAGOS để thực hiện công tác dò tìm tầu ngầm ở tầm xa hơn nữa (hơn 2 km)

http://www.fas.org/irp/program/collect/lfa.htm

Low-Frequency Active (LFA)

The U.S. Navy plans to deploy a new submarine detection system, known as Low Frequency Active Sonar (LFA), throughout 80% of the world’s oceans. LFA is based on the fact that very low frequency sound [100-1000 Hz] can travel great distances and detect quiet submarines. The LFA system uses intense sound, reportedly at levels in the range of 235 decibels or greater [the Navy has given a figure of 160 dB at about 2 km from the LFA] generated by massive sound transmitters towed behind TAGOS-class ships.

Current passive SURTASS towed array sonars are limited in their capability to detect quiet submarines. Thus research has been going on for some time in the area of low frequency active (LFA) towed array sonar. LFA offers the potential for TAGOS ships to make longer range detections of quiet submarines.

The shallow-water acoustics problem has risen in importance due to the increased salience of regional conflicts where the US Navy may to encounter slow, diesel submarines close to shore. The shallow-water, slow submarine is significantly more difficult to detect and classify acoustically than the cold war threat, due to the complex propagation, high clutter, and low target Doppler. Effective sonar performance requires new processing algorithms which cannot be implemented on current Naval platforms due the high processing requirements. A Hybrid Digital/Optical Processor (HyDOP) is to demonstrate the feasibility of using embedded scalable high performance digital and optical processing to solve this problem. This requires application of computationally intensive algorithms which cannot be implemented in real time using conventional processors. A high-speed optical correlator being developed by the Naval Research Laboratory (NRL) will act as acoprocessor to an Intel Paragon XP/S-25 computer.

LFA has been under development for more than a decade, and has been tested perhaps 25 times in several oceans since 1988. The Navy has already tested LFA for over 7,500 hours. IOT&E of LFA was completed in October 1992, in the Gulf of Alaska, testing an engineering development model (EDM) of the LFA system installed in a converted, monohull research vessel. COMOPTEVFOR found the SURTASS LFA system potentially operationally effective and potentially operationally suitable.

BBN has developed the ARTS array vehicle concept specifically to address the formidable problems of low-frequency active sonar sources. The array creates a dish shaped pattern of very loud, low frequency, variable broadband sound (235 dB re 1 µPa @ 100-1000 Hz) that reaches out roughly 100 miles. The towed array is deployed about 100 meters deep at three knots, pulsing on a 10% duty cycle. In recent experiments, Low-Frequency Active (LFA) system has detected submarines at long ranges. The first LFA ship, TAGOS 23, is under construction. Four dedicated vessels are planned, divided between the Atlantic and Pacific Fleets In the interim, a leased ship, Cory Chouest, is being used as a fleet asset to test and validate LFA technologies. In addition, compact acoustic source technologies are under development that will provide a 50% reduction in weight and power requirements. Successful maturing of these technologies will allow LFA-type arrays to be deployed from existing TAGOS 19-class vessels.

Critics of LFA, such as the Natural Resources Defense Council [NRDC], charge that it will expose marine mammals to noise pollution at a level 200 billion times greater than that which is known to disturb them. Several years ago the $40 million acoustic thermometry of ocean climate (ATOC) program of the Scripps Institution of Oceanography in La Jolla, CA proposed to operate a low frequency underwater sound source in the heart of the Monterey Bay National Marine Sanctuary. Although ATOC proposed to generate noise at a level of only 195 decibels, NRDC successfully intervened to stop this research program pending further study of the effects of low-frequency sound on marine mammals. The Navy has agreed to NRDC’s request that an EIS be prepared for the LFA program. The LFA Draft Environmental Impact Statement is due in August 1997, and is being written by the contractor for the system. The American Oceans Campaign has been working in coalition with a number of other environmental groups to keep tabs on government and industry underwater sound generation.

 

Sources and Resources

  • Cetaceans Do Not Have Standing To Sue the Government to Challenge Navy Use of SURTASS / LFA, appeals court ruling in The Cetacean Community v. George W. Bush, October 20, 2004
  • SURVEILLANCE TOWED ARRAY SENSOR SYSTEM (SURTASS) DOT&E FY 95 Annual Report
  • Hybrid Digital/Optical Processor R. A. Dukelow, R. M. Hidinger Naval Command, Control and Ocean Surveillance Center, San Diego, CA
  • Currents: The Unquiet Oceans Todd Preston E-Magazine (March-April 1997)
  • Navy Noises Continue William Rossiter Cetacean Society International Whales Alive! Vol. VI No. 1 January 1997
  • Sound Sound Policies and the LFA William Rossiter, CSI President Whales Alive! Vol. V No. 4 October 1996
  • Navy’s secret weapon no longer running silent Jean-Michel Cousteau Planet ENN 19 August 1996
 

The Straits Times (Singapore)
March 25, 2009 Wednesday

China’s move impacts on Manila politics

Bruce Gale, Senior Writer

WAS it a case of bullying or normal diplomatic conduct? Many Philippine politicians feared the worst last week when news reached Manila that Beijing had dispatched its most modern patrol ship to reinforce China’s assertion of sovereignty in the South China Sea. But the reaction in Manila revealed more about the nation’s acute sense of vulnerability than China’s hostile intentions.

China’s move came just days after Beijing protested against President Gloria Arroyo’s decision to sign into law a controversial Bill defining the nation’s maritime boundaries. Known as the baselines law, the legislation included areas claimed by China in the disputed Spratly Islands and the Scarborough Shoal.

The Spratlys, believed to be rich in oil, gas and fish, consist of about 100 low- lying barren islets, reefs and atolls strategically positioned across one of the world’s busiest shipping lanes. They are also claimed in part by Vietnam, Taiwan, Malaysia and Brunei.

The Philippine Congress passed the baselines Bill last month in order to beat the May 2009 deadline of the United Nations Convention on the Law of the Sea for member nations to define their territorial waters.

Initial concern over the threat posed to Philippine territorial integrity by Chinese naval operations cut across the political spectrum. Senator Francis Escudero, a member of the Genuine Opposition, described it as ‘gunboat diplomacy’. And National Security Adviser Norberto Gonzales said: ‘The deployment of the patrol ship…should remind us that even in this era of dialogue and understanding, there will always be nations that threaten perceived weak nations like us’. The Philippines, he added, might seek help from the United States and Asean.

Manila’s military weakness is well-known. Former navy vice-commander Amable Tolentino acknowledged last year that the country’s military was inferior to that of other claimant countries. The flagship of the Philippine Navy is an escort destroyer commissioned in 1943.

Statements by Philippine observers, however, were more measured. As Philippine press secretary Cerge Remonde later acknowledged, the tone of the initial Chinese protest was no more serious than what Manila would have issued if China or other claimants to the disputed region had passed similar legislation.

And by giving prior notification of the deployment, officials admitted that China had remained true to its obligations under the 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea.

Beijing was not browbeating Manila. Rather, it was responding to a United States military build-up in the region after an incident on March 8, when one of Washington’s surveillance vessels was reportedly harassed by the Chinese navy off Hainan island.

Indeed, the more immediate importance for the Philippines of recent developments in the South China Sea lay not in its geopolitical significance, but in its impact on local politics.

By underscoring Manila’s sense of helplessness in the face of the challenge posed by an increasingly modern Chinese navy, the reaction of the nation’s political elite made it easier for President Arroyo to reaffirm her support for the longstanding US-Philippine alliance.

In a telephone conversation with US President Barack Obama, for example, Ms Arroyo was reported to have expressed support for the Visiting Forces Agreement – a controversial bilateral pact that governs the conduct of US forces in the country. The Philippine government has been forced to defend the treaty in recent weeks as anger simmers over the US embassy’s refusal to hand over a marine convicted of raping a Filipino woman.

And by focusing attention on Beijing’s reaction to Mrs Arroyo’s decision to sign the Bill restating Manila’s territorial claims, local politicians have helped burnish the President’s nationalist credentials.

Last year, opposition legislators accused her of undermining the country’s claim to the Spratlys by entering into a tripartite marine agreement on the area with China and Vietnam.

Another possible reaction to last week’s developments – a reinvigoration of military modernisation efforts – is more problematic. Serious tensions between China and the Philippines in the mid-1990s prompted the Philippine Congress to authorise a modernisation programme. But the focus of that modest – and allegedly corruption-riddled – programme has been on repair and refurbishment rather than the purchase of new equipment.

Getting that to change will require a much greater threat than that posed by a single Chinese patrol vessel.

Posted in Biển Đông/TS-HS, Chính trị, Quan hệ quốc tế, Trung Quốc | Leave a Comment »

Những cuộc tấn công vào Đế chế Mạng Trực Tuyến đang trở lại tại châu Á

Posted by adminbasam on 25/03/2009

Tạp chí Kinh tế Viễn Đông

FAR EASTERN ECONOMIC REVIEW

Những cuộc tấn công vào Đế chế-Mạng-Trực-Tuyến đang  trở lại  tại châu Á

Geoffrey Cain

Số tháng 3-2009

 

Được lôi cuốn bởi tổ chức Hiến chương 77 của Czechoslovakia, một tập hợp không thuộc về nhà nước gồm những người nhà tranh đấu xã hội vào năm 1977 chỉ trích gay gắt những vụ đàn áp nhân quyền, nhóm Hiến chương ’08 của Trung Quốc tuyên bố:

Đối với Trung Quốc, con đường dẫn dắt ra khỏi tình trạng nguy hiểm của chúng ta hiện nay là tự tước bỏ khỏi bản thân chúng ta cái ý niệm độc đoán về sự trông cậy vào một thứ “lãnh tụ tìm đường khai sáng” hay một “công chức lương thiện” nào đấy và thay vào đó là hướng tới một hệ thống tự do, dân chủ, và sự cai trị bằng luật pháp, và hướng tới cổ vũ và nuôi dưỡng sự phát triển về ý thức thành những công dân hiện đại, những công dân coi nhân quyền như là nguyên tắc cơ bản và việc tham dự (vào bảo vệ và quảng bá nhân quyền) như là một nhiệm vụ.

Hơn 8.000 người đã ký vào bản Hiến chương 08 — được công bố ngày 10-12-2008, nhân kỷ niệm lần thứ 60 ra đời bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hiệp quốc – nhằm tận dụng một năm có sự chú ý mạnh mẽ của dư luận quốc tế hướng vào Trung Quốc. Tuy nhiên, không giống như những người đi trước ở Czechoslovakia, các học giả và nhà hoạt động Trung Quốc trong nhiều tháng đã ký tên vào bản văn kiện theo lối điện tử, tụ tập quanh những chiếc máy tính tại nơi làm việc của họ và các quán cà phê, tránh né được sự kìm kẹp chặt chẽ của chính quyền trên mạng Internet để nhanh chóng dẫn tới một hành động phản đối dữ dội trên mạng trực tuyến khắp đại lục Trung Quốc.

Làn sóng phản ứng dữ dội đã xuất hiện nhằm chống lại chính quyền Trung Quốc vì chính quyền nầy, trước thế vận hội Olympic, đã từng hứa nới lỏng các hạn chế truyền thông. Hai ngày trước khi bản Hiến chương được công bố trên mạng trực tuyến (8-12-08), công an đã bắt giữ hai nhà hoạt động, trong đó có nhân vật chỉ trích xã hội nổi tiếng Liu Xiabo, vì những nghi ngờ về việc phổ biến rộng rãi bản Hiến Chương để lấy chữ ký (ủng hộ). Họ vẫn chưa được trả tự do và nơi giam giữ cũng không được cho biết. Sau đó công an đã triệu tập ít nhất là 70 trong số 303 người ký tên ban đầu và ra lệnh cho họ phải rút lại những hành động ủng hộ của mình.

Đảng Cộng sản Trung Quốc đang phải hoảng hốt về sự bùng nổ những người sử dụng các trang Web ở nước này – đã có tới 220 triệu người sử dụng Internet vào năm 2008, một bước nhảy vọt từ mức 162 triệu năm 2007, và 22 triệu năm 2000 – Tất cả những người sử dụng internet là những độc giả tiềm tàng của những thứ tài liệu nhạy cảm như bản Hiến chương ’08. Tỉ lệ truy cập Internet của nước này, kết hợp với một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và cú đòn suy thoái tại các quốc gia phương Tây, đang thúc đẩy cuộc đàn áp thẳng tay của chính quyền Trung Quốc giữa những nỗi lo sợ về tình trạng bất ổn ở đất nước nầy.

“Một số lượng gia tăng các quốc gia trong khu vực đang sử dụng ngày càng nhiều các biện pháp kỹ thuật tương tự để sàng lọc và kiểm soát, mặc dù không phải luôn có được trình độ công nghệ tiên tiến như Trung Quốc, những thứ mà Trung Quốc đã và đang sử dụng trong những năm qua để hạn chế quyền tự do trên mạng Internet,” đó là nhận xét của Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông nam Á của Uỷ ban Bảo vệ các Nhà báo và là cựu trưởng văn phòng đại diện tại Bangkok. “Những quốc gia này cũng đang sử dụng cùng một thứ luật an ninh quốc gia mà Bắc Kinh triển khai để thanh minh cho những vụ bắt bớ và bỏ tù những người viết trên mạng Internet,” ông nói.

Việt Nam, với những hoạt động blog chống đối cộng sản sôi động, đã trở thành kẻ theo đuôi trước tiên. Chính phủ nước này đã chế ra một hệ thống tường lửa không giống ai tại Đông nam Á, rập khuôn theo kiểu của Trung Quốc mặc dù vẫn có thế vượt qua được. Vào tháng 12-2008, chính phủ nước này đã loan báo là họ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp từ Google và Yahoo! để đưa ra qui định và kiểm soát cộng đồng blog đang bùng nổ tại Việt Nam, giờ đây được tính lên tới hàng trăm ngàn blog. Yahoo! 360 là một sân chơi được ưa thích cho hoạt động blog ở Việt Nam, một viễn cảnh mà các blogger Việt Nam đã và đang cảm thấy lo ngại khi công ty này giao nộp thông tin cá nhân của nhà báo Trung Quốc Shi Tao vào năm 2005, dẫn tới bản án phạt tù 10 năm đối với ông vì tội “tiết lộ bí mật quốc gia.” Những blogger khác, trong đó có ông Nguyễn Văn Hải, dưới bút danh Điếu Cày, người từng lên tiếng (công khai) chống lại những thương thảo của Việt Nam với Trung Quốc quanh vấn đề Quần đảo Trường Sa, đã bị bắt vì những tội danh đáng ngờ là trốn thuế.

Những bước đi của chính phủ đang làm sôi sục một phản ứng chống đối dữ dội. Các blogger ủng hộ cho phong trào đang bí mật gắn kết lại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp và xuất thân của họ thì khác nhau, nhưng hầu hết là những sinh viên hiểu biết về công nghệ thông tin, những người ủng hộ cho việc lật đổ chính quyền và lớn tiếng chống lại Trung Quốc.

Hoạt động ngầm trên mạng trực tuyến ở Việt Nam đã bắt đầu vào tháng 12-2007 giữa lúc có các cuộc biểu tình chống lại việc đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với Quần đảo Trường Sa.

Hàng ngàn sinh viên phản kháng cần có một chỗ để phối hợp và quảng bá cho các kế hoạch của họ. Mạng Internet, khi đó là một lĩnh vực đi đầu trong quốc gia đang công nghiệp hóa nhanh chóng này, đã chứng tỏ là một mặt trận tiền phương rất phổ biến thông qua đó các blogger đã tổ chức phối hợp những cuộc biểu tình phản đối và công bố ngay lập tức những hình ảnh về sự tàn bạo của công an Việt Nam.

Những hành động trả đũa của chính quyền đã bắt đầu vào mùa hè năm ngoái 2008 nhằm chống lại các cư dân mạng sau khi họ đã phối hợp tổ chức thêm nhiều hơn những cuộc biểu tình phản đối chống lại Tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội và đã đột nhập vào một trang Web tin tức chuyên bênh vực nhà nước, trang Dân Trí, vào tháng Năm, 2008. Nỗ lực kiểm duyệt của Việt Nam tuy chưa sánh được với hệ thống kiểm duyệt thô bạo của Trung Quốc, nhưng Hà Nội hiện đang áp dụng những công nghệ giống hệt với Bắc Kinh.

Vậy mà Thái Lan, từng được trưng ra như là có hoạt động truyền thông cởi mở và phát triển mạnh mẽ, nay đã bắt đầu hệ thống trấn áp bằng kiểm duyệt có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử của họ nhằm chống lại những người chỉ trích chế độ quân chủ, Thái Lan đang chặn hơn 2.300 trang Web và kết án những người vi phạm lên tới 15 năm tù giam.

Chính quyền Bangkok cũng đang chơi trò phương Đông phản đối phương Tây về mặt ngoại giao để chống lại những sức ép dân chủ của phương Tây, theo một bản báo cáo của Ủy Ban bảo vệ các Nhà Báo (CPJ) cho hay.

Bộ luật về tội khi quân của nước này, từng nhắm vào những cuốn sách và bài báo được xuất bản chỉ trích nhà vua, nay đã nới rộng hiệu lực tới cả lĩnh vực Internet. Cuộc đàn áp đã bắt đầu vào năm 2007 khi các nhà chức trách chặn trang mạng YouTube vì có một đoạn phim video đả kích Vua Bhumibol Adulyadej kính yêu. Trong số những quy định ngặt nghèo về Internet của Thái Lan, các trang Web không được đăng những bức ảnh bất cứ ai nằm phía trên ảnh quốc vương. Hiện nay, theo lời những người chỉ trích, các quy định nầy đã vượt đi quá xa những câu chỉ trích mang tính thuần túy chống lại nhà vua, và qui định nầy đang chuyển hướng thành một cuộc săn đuổi được tin là mang tính chính trị mà trong đó không một ai được nói về gia đình hoàng tộc nầy. Trong lúc những cuộc căng thẳng giữa các đảng phái chính trị gia tăng, cuộc trấn áp có thể được mở rộng, theo như các báo cáo của tổ chức CPJ. Thủ tướng Abhisit Vejjajiva đã đặt lên hàng ưu tiên việc bảo vệ chế độ quân chủ chống lại những chỉ trích.

Đối với Arthit, một blogger Thái Lan nổi tiếng, người đã không cho biết họ của ông ta, những viễn cảnh phải vào nhà tù vì đưa ra nghi vấn về hoàng tộc đang làm mọi người lo sợ. “Với danh nghĩa tội khi quân, họ có thể hợp pháp hóa bất cứ hành động nào [chống lại sự chỉ trích] một cách tiện lợi,” ông nói.

Vào năm 2005, Harry Nicolaides, một giáo viên tiếng Anh người Úc ở Bangkok, đã tự xuất bản một cuốn truyện được coi là chỉ phát ra cho một nhóm người rất nhỏ. Một thông điệp ngắn gọn từ cuốn truyện đặt nghi vấn về những phẩm chất xứng đáng của vị thái tử đã giáng vào ông một bản án ba năm tù giam vào đầu năm nay; ông đã nhận được một lời tha thứ của hoàng gia vào tháng trước và đã quay trở về Úc.

Thậm chí tại Malaysia và Cambodia, những nơi từng duy trì những tiêu chuẩn dân chủ cho hoạt động trên mạng trực tuyến, hiện đang bóp chặt những tin tức nào hoạt động được xem như là có tính chất chống đối (chính quyền).

Vào tháng 12-2008, Phnom Penh đã trở thành vùng đối tượng của việc gia tăng dần dần hoạt động kiểm duyệt trên mạng sau khi chính phủ thông qua luật kiểm duyệt trên mạng đầu tiên của nước này để đối phó với trang reahu.net, một trang Web có những bức hoạ mô tả các vũ nữ truyền thống khỏa thân *, mặc dù Bộ trưởng Thông tin Khieu Kanharith đã từng hứa hẹn là luật này sẽ chỉ nhắm vào những sản phẩm khiêu dâm và “đồi bại” mà thôi. Thế rồi vào tháng 2-2008, một bản báo cáo gây tranh cãi của Global Witness, một tổ chức phi chính phủ [NGO], đề cập tình trạng tham nhũng trong khai khoáng và dầu mỏ đã được xác định là (và hiện nay vẫn) không thể truy cập vào được. Những lời kết tội đã được chĩa thẳng vào mạng AngkorNet, một nhà cung cấp dịch vụ Internet, về hành động kiểm duyệt đối với bản báo cáo, và những ý kiến kết luận về những mối quan hệ của chính phủ ở cấp cao với ban lãnh đạo của công ty này đã xuất hiện. Cho tới giờ, AngkorNet đã phủ nhận việc ngăn chặn trang Web ấy, trang nầy đã ám chỉ các viên chức chính phủ về việc che giấu hàng triệu đô la tiền lại quả.

Malaysia, nước vào năm 1996 đã hứa sẽ không kiểm duyệt Internet, thì hiện nay cũng đang tăng cường hệ thống kiểm duyệt trên mạng trực tuyến của mình, với ít nhất là ba cơ quan chính phủ giờ đây đang thực hiện việc kiểm tra các blog và trang Web nổi tiếng. Raja Petra, người sáng lập trang Web được nhiều người ưa thích Malaysia Today, đã bị bắt giữ năm 2008 theo Đạo luật An ninh Nội địa của nước này do ông viết những bài chỉ trích chính quyền.

Và hội đồng tư vấn Miến Điện, nơi đã thất bại trong việc ngăn chặn việc sử dụng Internet trong thời gian diễn ra cuộc Cách mạng Vàng năm 2007, đã gửi những nhân viên của họ tới Trung Quốc để huấn luyện về công nghệ thông tin. Chính phủ Miến cũng được cho là đã phát động những cuộc tấn công theo kiểu từ-chối-phục-vụ để chống lại các trang Web của những ngươi lưu vong vào thời điểm trùng khớp với lễ kỷ niệm Cách mạng Vàng. Đài Tiếng nói Dân chủ của Miến Điện đóng tại Na Uy đã truy dò theo những cuộc tấn công của Trung Quốc và Nga. [Những kẻ tấn công] đã sử dụng những máy tính được sắp đặt dưới dạng vô chủ … mặc dù theo tôi nghĩ rõ ràng mọi người đều thấy là chính phủ Miến Điện đó … đã có niềm khích lệ lớn nhất để tấn công vào các trang Web chỉ trích họ,” theo lời ông Crispin.

Trong khi các chính quyền phương Tây mất đi ảnh hưởng của họ trong việc chống lại ảnh hưởng đang lớn dần của Trung Quốc, hệ thống kiểm duyệt Internet trong khu vực nầy đang chuyển sang không phải là một chiều hướng lúc tiến lúc lùi mà là một hiện trạng đang phát triển. Các tay chơi cường quốc trên thế giới đã đón chào Trung Quốc đến với sân khấu nầy, và những hậu quả đang đánh vào quyền tự do ngôn luận. “Điều đó đã gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ đối với các chính phủ trong khu vực rằng họ không còn bị bó buộc để đi theo những cuộc cải cách dân chủ mà trước đó họ từng phải chịu áp lực của phương Tây để chấp nhận,” theo nghi nhận của ông Crispin, “bao gồm sự tự do báo chí và Internet.”

Ông Cain là một tác giả của mạng Global Voices Online.

Hiệu đính: Trần Hoàng

 
 

San Francisco Chronicle

Bloggers, Những “Phiến quân” Mới ở Việt Nam

Geoffrey Cain, Ban Đối ngoại của Chronicle

Chủ nhật, ngày 14-12-2008

 

Với hệ thống Internet không dây đường truyền tốc độ cao, miễn phí hiện có sẵn tại những tiệm cà phê và các trường đại học trên khắp Việt Nam, các blogger đang ngày càng thách thức hệ thống kiểm duyệt và Đảng Cộng sản cầm quyền.

Chúng tôi sẽ không xuống đường, chúng tôi sẽ không la to lên bất cứ câu nào. Chúng tôi đang ngồi trước màn hình, gõ bài và đưa lên mạng,” đó là lời của một sinh viên đại học, người có tên trên Web là Mr. Cold. “Đó là cách mà chúng tôi chống đối.”

Mr. Cold là một phần của một lũ chiến binh blogger, những người viết bài dưới những bí danh như Blacky và Viet+die. Họ được mọi người biết đến vì những quan điểm chống đối chính quyền và họ đưa lên mạng những biến cố (những câu chuyện) không hề xuất hiện trong hệ thống truyền thông đã được kiểm duyệt của nhà nước. Những trang web của nhà nước như VietnamNet và Vietnam News đưa tin tức tiêu biểu về kinh doanh, về bộ máy quan liêu của nhà nước và những dự án phát triển được nhà nước bảo trợ.

“Họ (truyền thông nhà nước) quyết định những gì chúng tôi sẽ được nghe, những gì chúng tôi sẽ phải đọc và những gì chúng tôi sẽ trông thấy,” Mr. Cold viết. “Họ là những kẻ nô lệ của những người Cộng sản.”

Mặc dù Đảng Cộng sản đã và đang nới lỏng các hạn chế lên thị trường kinh tế trong những năm gần đây, nhưng họ lại không nới lỏng sự kìm kẹp của họ lên hầu hết báo chí, đài truyền hình và phát thanh, những hệ thống truyền thông nầy vẫn nằm dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ.

Vào tháng Sáu, một phiên tòa đã kết án nhà báo Nguyễn Việt Chiến hai năm tù giam vì đã tường thuật về một vụ bê bối tham những lớn trong chính phủ năm 2006. Bốn người khác đã bị thu thẻ nhà báo vì đã phê phán (chính quyền) việc bắt giữ ông Chiến, theo tin từ hãng thông tấn Associated Press [AP].

Cho mãi tới năm 2007, sự bất đồng quan điểm chính trị hầu như không có hiện hữu ở Việt Nam, ngoại trừ cuộc phản kháng được chính quyền cho phép năm 2003 phản đối cuộc xâm chiếm của Hoa Kỳ ở Iraq. Thế nhưng các blogger và những trang Web tin tức không đăng ký đã làm cho các giới chức nhà nước tức giận bằng việc thảo luận về AIDS, ma túy và tình dục, và quan trọng nhất, là vì họ lên tiếng chỉ trích chính quyền.

Hậu quả, Hà Nội vào tháng Mười đã thành lập một cơ quan mới – Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử – nhằm kiểm soát Internet. Cơ quan mới đã châm ngòi lửa cho những mối lo ngại rằng các nhà lãnh đạo Cộng sản ở đây sẽ thiết lập một phiên bản tiếng Việt của bức “Vạn lý Tường lửa” [Great Firewall] của Trung Quốc, một chương trình kiểm duyệt trực tuyến mạnh để chặn những trang Web phê phán chính phủ Trung Quốc. Khoảng 17,5 triệu trong 86 triệu dân chúng Việt Nam sử dụng Internet, theo các số liệu của chính phủ cho biết – một mức gia tăng mạnh mẽ chỉ từ 200.000 người dùng vào năm 2000.

Tín hiệu gửi tới các blogger

“Luật pháp còn cho các nhà chức trách công cụ pháp lý khác để đàn áp quyền tự do báo chí tại Việt Nam, nước nầy đã nằm trong số các quốc gia tồi tệ nhất trong khu vực liên quan tới sự quấy nhiễu của chính quyền đối với các nhà văn và nhà báo,” theo nhận xét của ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông nam Á của Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo có trụ sở tại New York. “Các xử lý thô bạo đối với ông Nguyễn Văn Hải là có ý nghĩa  gửi đi một thông điệp tới tất cả các blogger trong cả nước.”

Vào tháng Chín, ông Nguyễn Văn Hải, người đã lập blog dưới cái tên Điếu Cày, đã bị kết án 30 tháng tù giam cho hành động trốn thuế. Trước khi bị bắt, ông Hải đã từng kêu gọi những cuộc biểu tình chống lại chuyến rước đuốc Olympic khi nó được đưa qua Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng Tư và ông cũng đã chỉ trích Trung Quốc về hành động đàn áp dã man của họ tại Tây Tạng. Việt Nam vẫn thận trọng trước những sự việc làm mếch lòng nước láng giềng hùng mạnh của mình.

“Những quy chế kiểm duyệt mới này là không phù hợp với quyền tự do ngôn luận, một quyền đã được công nhận bởi hiến pháp và những công ước quốc tế được Việt Nam ký kết,” anh Lê Minh Phiếu, một sinh viên được học bổng ngành luật hiện đang theo học tại Pháp đã nhận xét.

Tuy nhiên, ông Đỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ thông tin và truyền thông, đã bảo vệ cho hành động đàn áp thẳng tay, bằng việc cho các nhà báo trong nước biết rằng Việt Nam “phải đối mặt với nhiều thông tin không chính xác” từ các blogger. Bộ này cũng cho biết có khoảng 1,1 triệu blog, hầu hết trong số đó là không được kiểm soát. Trong tương lai gần, ông Doãn nói, ông sẽ yêu cầu Google và Yahoo trợ giúp để “kiểm soát” giới blog. Cả hai gã khổng lồ ở Thung lũng Silicon đã bị chỉ trích nặng nề vì giúp chính phủ Trung Quốc trấn áp những nhà bất đồng chính kiến.

Một số blogger Việt Nam nghĩ rằng việc thách thức chính quyền là hại nhiều hơn lợi và họ đã chọn lựa cách thúc đẩy những sửa đổi theo một chiều hướng nhẹ nhàng hơn.

Blog E-Learner 2.0 của Nguyễn Anh Hùng, là một ví dụ, sẽ dạy những trẻ em nghèo cách sử dụng công nghệ chỉ một lần đưa lên và vận hành. “Tôi muốn giúp để mọi người biết về những gì đang diễn ra trong nền kỹ thuật công nghệ ở Việt Nam,” anh nói.

Trang blog Vàng Anh quảng bá cho quyền tự do ngôn luận song không phải là thúc đẩy cho một sự chấm dứt chính thể đang cai trị. Các nhà hoạt động phía sau blog được nhiều người ngưỡng mộ thường gặp gỡ nhau mỗi tuần trên các chat room, họ thảo luận về những đề tài nóng của đất nước.

Song nhiều blogger ưa thích thách thức chính quyền Cộng sản và người láng giềng lớn nhất của nó.

Tháng Mười hai năm ngoái, các blogger có hoạt động tích cực đã cùng phối hợp tổ chức một cuộc phản kháng lớn ngay trước cửa Tòa Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nhắc lại chủ quyền tối cao của nước ông đối với quần đảo Trường Sa trên Biển Đông, nơi cũng được yêu sách chủ quyền bởi Việt Nam và Đài Loan. Những người biểu tình — hầu hết là sinh viên — đã hô to “Đả đảo Trung Quốc!” và “Việt Nam muôn năm!”

Trang tin tức bị đột nhập

Vào tháng Năm, các blogger đã đột nhập vào trang Dân Trí, một trang Web tin tức phổ biến được nhà nước chỉ đạo, rồi viết lên những khẩu hiệu ủng hộ dân chủ và tinh thần dân tộc ví như “Các công dân chúng ta, hãy đòi hỏi đa nguyên!” “Những người Cộng sản bịt miệng báo chí!”

Các blogger cũng đã chỉ trích cách xử lý có tính chất nặng tay của công an đối với những người nông dân phản kháng, những người nông dân đã cho rằng chính quyền đã từ chối trả cho họ những khoản bồi thường thỏa đáng về những phần đất bị nhà nước tịch thu.

Trong lúc này, hầu hết các blogger đang theo dõi việc truy cập vào chương trình Yahoo 360 của họ, một sân chơi cho việc blog hết sức phổ biến và ưa thích đối với những người Việt Nam trẻ tuổi.

“Chúng tôi gặp may là chính quyền đã không kiểm duyệt Yahoo 360, thế nhưng họ sẽ làm với những quy định mới,” Mr. Cold dự báo. “Chính quyền của chúng tôi đã chậm chạp trong việc đáp ứng với các blog.”

 

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

bài tiếng Anh ở đây:

http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?l=21&u=25&mx=442&lmt=5

 

FAR EASTERN ECONOMIC REVIEW
March 2009

The Cyber-Empire Strikes Back In Asia

By Geoffrey Cain

Drawing on Czechoslovakia’s Charter 77, an informal collective of social critics who in 1977 decried human-rights abuses, China’s Charter ‘08 reads:

For China, the path that leads out of our current predicament is to divest ourselves of the authoritarian notion of reliance on an “enlightened overlord” or an “honest official” and to turn instead toward a system of liberties, democracy, and the rule of law, and toward fostering the consciousness of modern citizens who see rights as fundamental and participation as a duty.

More than 8,000 people signed the Charter — released on Dec. 10, 2008, the 60th anniversary of the United Nations Universal Declaration of Human Rights — capitalizing on a year of intense international attention on China. Yet unlike their predecessors in Czechoslovakia, Chinese scholars and activists for months dotted their signatures on the document digitally, huddled around computers in their offices and cafes, dodging the government’s tight Internet grip that quickly led to a cyber-backlash across the continent.

The backlash came against China’s promises to loosen its media restrictions before the Olympics. Two days before the Charter was released online, police detained two activists, including prominent social critic Liu Xiabo, on suspicions of spreading the Charter for signatures. They still have not been released and their whereabouts are unknown. Police later summoned at least 70 of the 303 original signatories and ordered them to detract their support.

The Chinese Communist Party is jittery over the country’s explosion in Web users — there were 220 million Internet users in 2008, a leap from 162 million in 2007 and 22 million in 2000 — who are all potential readers of sensitive documents like Charter ‘08. The country’s Internet penetration rates, combined with a global economic crisis and declining clout of Western countries, is prompting China’s crackdown amid fears of instability.

A growing number of regional countries are increasingly using the same sort of filtering and monitoring techniques, though not always as technologically advanced, that China has used for years to curb Internet freedom,” said Shawn Crispin, Southeast Asia representative for the Committee to Protect Journalists and former review Bangkok bureau chief. “They are also using the same sort of national security legislation that Beijing deploys to justify the arrests and sentencing of Internet-based writers,” he said.

Vietnam, with its vibrant anticommunist blogging movement, has been first to follow suit. The country’s government has crafted a firewall like none other in Southeast Asia, modeled after China’s though not as impenetrable. In December 2008, the government announced it would seek help from Google and Yahoo! to regulate Vietnam’s booming blogosphere, now numbering in the hundreds of thousands of blogs. Yahoo! 360 is the blogging platform of choice in Vietnam, a prospect that has bloggers worried as the company gave up Chinese journalist Shi Tao’s private information in 2005, leading to his 10-year imprisonment for “leaking state secrets.” Other bloggers, including Nguyen Van Hai, who spoke out against Vietnam’s negotiations with China over the Spratly Islands under the pen name Dieu Cay, have been arrested under questionable tax evasion charges.

The government’s moves are brewing a backlash. Militant bloggers are secretly conglomerating in Ho Chi Minh City. Their backgrounds vary, but most are tech-savvy students, who advocate overthrowing the government and speaking out against China.

Vietnam’s underground cyber-movement began in December 2007 amid protests against China’s claim to the Spratly Islands. Thousands of student protestors needed a place to co ordinate and advertise their plans. The Internet, then a frontier in the quickly industrializing country, proved a popular front through which bloggers coordinated protests and instantly published photographs of police brutality.

Government reprisals began last summer against cyber-dissidents after they coordinated more protests against the Chinese embassy in Hanoi and hacked a progovernment news Web site, Dan Tri, in May. Vietnam’s censorship push hardly matches the ruthlessness of China’s, but Hanoi is nonetheless mimicking Beijing’s techniques.

Yet Thailand, once showcasing a flourishing open media, has initiated the world’s most far-reaching censorship crackdown in history against critics of the monarchy, blocking over 2,300 Web sites and sentencing offenders to up to 15 years in prison. Bangkok, too, is playing East against West diplomatically to resist Western democracy pressures, says a report by the CPJ.

The country’s lese majeste law, once focusing on printed books and articles critical of the king, has expanded to the Internet in force. The crackdown started in 2007 when authorities blocked YouTube for a video that lampooned the beloved King Bhumibol Adulyadej. Among Thailand’s harsh Internet regulations, Web sites cannot place pictures of anyone above the monarch. Yet the regulations, say critics, have moved far beyond mere statements against him, turning into a political witch hunt wherein no one can even speak about the royal family. As tensions between political parties mount, the repression could widen, reports the CPJ. Prime Minister Abhisit Vejjajiva has already made protecting the monarchy against criticism a priority.

For Arthit, a popular Thai blogger who does not give his last name, the prospects of going to prison for raising a question about a royal are frightening. “In the name of lese majeste, you can legitimize any action [against criticism] conveniently,” he said. In 2005, Harry Nicolaides, an Australian English teacher in Bangkok, self-published a novel that allegedly reached only a handful of people. One brief passage that questioned the merits of the crown prince landed him a three-year jail sentence earlier this year; he received a royal pardon last month and returned to Australia.

Even Malaysia and Cambodia, which once maintained democratic standards online, are now clamping down on material deemed subversive. In December 2008, Phnom Penh became the subject of creeping cyber-censorship after the government passed the country’s first Internet-censorship law in response to reahu.net, a Web site featuring paintings of nude traditional dancers, although Minister of Information Khieu Kanharith promised the law would only hit pornographic and “immoral” material. Then in February 2008, a controversial report by Global Witness, an NGO, on mining and oil corruption was found to be (and remains) inaccessible. Accusations were leveled at AngkorNet, an Internet service provider, for censoring the report, and speculations about high-level government connections to the company’s leadership arose. To date, AngkorNet has denied blocking the Web site, which implicated government officials for hiding millions of dollars in kickbacks.

Malaysia, which promised not to censor the Internet in 1996, is also step ping up its cyber-censorship, with at least three government agencies now keeping tabs on popular blogs and Web sites. Raja Petra, who founded the popular Malaysia Today Web site, was detained in 2008 under the country’s Internal Security Act for his writings that criticized the government.

And the Burmese junta, which failed to keep a lid on Internet use during its 2007 Saffron Revolution, has sent officials to China for training in information technology. The government also allegedly launched denial-of-service attacks against exile Web sites on dates coinciding with the anniversary of the Saffron Revolution. The Democratic Voice of Burma based in Norway traced the attacks to China and Russia. “[The attackers] made use of compromised zombie computers . . . though I think it’s clear to all that Burma’s government . . . had the most incentive to attack these critical Web sites,” said Mr. Crispin.

As Western powers lose their clout in Asia against China’s rising influence, Internet censorship in the region is turning out not to be a back-and-forth trend but a developing status quo. The world’s power players have welcomed China to the stage, and the repercussions are hitting free online speech. “That’s sent a powerful signal to governments in the region that they are no longer obliged to follow through on the democratic reforms they had once been pressured by the West to adopt,” noted Mr. Crispin, “including press and Internet freedom.”

Mr. Cain is a Phnom Penh-based author for Global Voices Online.

* Mời xem bản dịch bài báo về vụ nầy, số 23:Họa sĩ Gây tranh cãi Phản công.

Posted in ASEAN, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền | Leave a Comment »

Bauxite thử thách chính quyền Việt Nam

Posted by adminbasam on 23/03/2009

Một kế hoạch khai mỏ thử thách những người hoạch định chính sách của Việt Nam

Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Anh Le Tran

Thứ Hai, ngày 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công ty Trung Quốc đang đói khát tài nguyên khoáng sản được phát triển những dự án khai thác bauxite khổng lồ trên vùng Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông. Nước VN đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm 1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite. Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

(Nhưng đối với chính phủ VN,) Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, mà các chất nầy cần phải được lưu giữ một cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty Trung Quốc đã giành được cả hai gói thầu để xây dựng hai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô xít (của người Trung Quốc) không phải là những công nghệ có sẵn tốt nhất. ông Nguyễn Thanh Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản đối mạnh mẻ nhất về kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật (làm các nước có kỹ thuật cao không thể trúng thầu được) với mục đích để cho các công ty Trung Quốc (trúng thầu và ) có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn .

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bô xít mới (cho quốc gia của họ).

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và chứa bùn thải độc hại. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát triển nữa nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không có nhiều tại vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu hoạch mùa màng sẽ tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng phát triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào tháng 11-2007 [1], Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường nào có tính chiến lược  được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế hoạch khai thác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giá những tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra lệnh cho Bộ Công Thương xin phép bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4- 2009, ông Hải đã loan báo vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắc Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì  liệu những thay đổi ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.

Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất.

Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả những người liên quan trong vấn đề bô xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi điều ấy quá muộn hay không.

Ông Anh Le Tran giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học Lasell College ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Hiệu đính: Trần Hoàng

[1] đúng ra tháng 11-2008

Comment:

*Với mục đích làm cho VN suy yếu, Trung Quốc đã dụ được VN khai thác bô xít bằng một kế hoạch khai mỏ lạc hậu thời 1930. Đây là một chiến lược tinh vi có được sự tiếp tay của các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở VN. Kế hoạch khai mỏ bô xít chỉ nhằm kéo VN đầu tư vào một dự án 15 năm, ít có lợi hơn trồng cây cà phê và trà (trị giá xuất khẩu hơn 3 tỉ đô la hàng năm), và làm cho VN tốn kém tối thiểu là 25 tỉ đô la (VN phải đầu tư và tốn khoảng 1,5 tỉ đô la hàng năm trong 15 năm).

Không cần khai thác bô xít, chỉ cần làm café và trà, thì trong vòng từ 2010 đến 2025, VN cũng đã mang về nguồn lợi xuất khẩu nông sản trà, cà phê, hạt tiêu là 3 tỉ/ 1 năm x 15 năm = 45 tỉ đô la. Không tính đến việc thu hút khách quốc tế đến du lịch vùng Tây Nguyên.

Dự án khai mỏ bô xít sẽ làm suy kiệt tài chánh của VN trong 15 năm sắp đến, sẽ làm bất ổn về mặt xã hội vì muốn khai thác mỏ là phải chiếm đất đai của các sắc tộc; sẽ làm ô nhiễm đất đai của nông dân và các người sắc tộc, và làm giảm sự thu hoạch các vụ mùa cà phê, trà, do thiếu nước tưới. Ngoài ra chất thải của bô xít sẽ làm nhiễm độc nguồn nước uống ở sông Đồng Nai.

Sự suy yếu tài chánh sẽ làm VN không có đủ tiền bạc mua vũ khí hiện đại hóa quốc phòng, sẽ làm Việt Nam trở nên suy yếu, và cuối cùng  TQ sẽ chiếm phần còn lại của quần đảo Hoàng sa, Trường Sa và làm chủ Biển Đông mà không gặp được một sự chống đối. Chừng ấy, nếu VN có kêu cứu, thì các nước ngoài cũng không can thiệp vì họ đã nhìn thấy rõ VN và TQ đang hợp tác chặc chẻ để khai thác bô xít.

Suốt 23 năm kể từ khi đổi mới từ 1986-2009, VN tuyên bố vào tháng 3/2008 là có dự trữ ngoại tệ là 22 tỉ đô la. Nhưng thực tế nhiều tháng qua, các tỉnh không có tiền trả lương và họ phải mắc nợ các thầy giáo và cô giáo. Chúng ta tự hỏi: một kế hoạch đầy tốn kém như vậy, không có lợi lộc so với nông sản cafe, cao su, trà, và VN phải đầu tư nhà máy điện, phải bỏ tiền túi ra để xây dựng tuyến đường bộ và đường sắt chở bô xít từ Tây Nguyên xuống vùng biển miền Trung, phải xây dựng thêm 1 hải cảng mà hiện nay VN chưa có cảng nào ở Bình Thuận và Phan Rang. Thêm vào đó, trong khi từ đầu năm đến nay, VN đã phải gởi 82 ngàn công nhân đi lao động nước ngoài, trong khi đó, lại nhập khẩu hàng chục ngàn công nhân người TQ, liệu đó có phải là giải pháp kinh tế tốt hay không?

Trung Quốc có thừa tiền để vứt bỏ vài tỉ đô la để dụ VN vào kế hoạch khai mỏ bô xít (làm VN tốn kém ít nhất là 25 tỉ đô la). Số tiền vài tỉ là quá nhỏ đối với  TQ vì suốt 30 năm chuyển qua kinh tế tư bản, TQ có một số dự trữ ngoại tệ lên đến 2000 tỉ đô la. TQ có ngân sách quốc phòng bằng là 70 tỉ đô la năm 2009, 7% ngân sách quốc gia. Việc bỏ ra 1 tỉ đô la 1 năm trong 15 năm sắp đến của Trung quốc để làm suy yếu VN chiếm Biển Đông, Trường Sa, Hoàng Sa mà không tốn một viên đạn là điều chắc chắn một nhà chiến lược nào cũng sẽ làm.

Sau cùng, VN phải lệ thuộc kinh tế vào TQ trong ít nhất 50 năm sắp tới.

———————————–

Hồi tháng 12-2008, vì giá dầu xuống quá thấp và Nga cần tiền, Putin đã ký một hiệp ước thương mại với Trung Quốc. Trong hiệp ước ấy, Nga đồng ý bán tất cả dầu hỏa và khí đốt cho Trung Quốc kể từ 2010 đến 2025. Kết quả của việc ấy là Trung Quốc và Nga đã có một cuộc tập trận chung để thắt chặt tình hữu nghị. (Nga đã mắc sai lầm khi gây ra chiến tranh với Georgia vào tháng 8-2008. Kết quả là các doanh nghiệp Âu Châu đã rút hết các đầu tư ra khỏi Nga, và qua đầu tư ở Tunisia và các nước Phi Châu gần Tunisia. Điều nầy, làm cho Russia mất mỗi tháng hàng 7 tỉ đô la đầu tư. Giá dầu từ 147 đô xuống 40 đô 1 thùng đã làm cho Nga hụt ngân sách. Giá chứng khoáng của Nga sụt giảm 70% và thất nghiệp nổi lên khắp nơi làm Nga thâm hụt thêm ngoại tệ.)

Tuy vậy, Nga khẳng định không bao giờ có ý bán các sản phẩm có kỹ thuật cao cho Trung Quốc kể từ sau khi TQ mua các chiến đấu cơ SuKhôi 27 của Nga vào năm 2001, đem về tháo ra từng mảnh, và TQ làm ra chiến đấu cơ J-11.  Kiểu mẫu chiếc phản lực J-11 nầy giống hệt như Sukhoi 27, chỉ khác tên gọi. Hiện nay, Nga đang kiện TQ ra tòa về tội vi phạm tác-quyền.

Khi phía Bắc và phía Nam biên giới của Trung Quốc không bị đe dọa bởi Nga và Việt Nam, Trung Quốc sẽ rãnh tay làm các kế hoạch khác  và mục đích sau cùng của các kế hoạch ấy thì chắc chắn sẽ không có lợi cho VN.  (tóm gọn Biển Đông để đánh cá và khai thác mỏ dầu và khí đốt; chặn con dường tiếp tế nhiên liệu, và vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật, Nam Hàn, và Đài Loan khi cần thiết…)

 

Asia Sentinel

A Mining Plan Tests Vietnam’s Policymakers

Written by Anh Le Tran Monday, 23 March 2009

Chinese seek to develop bauxite mines in environmentally and socially sensitive area

Vietnamese environmentalists and social scientists are growing increasingly concerned over the environmental, social, economic and political implications of a government plan to allow minerals-starved Chinese companies develop massive Central Highlands bauxite mining projects.

Vietnam is estimated to have up to 8 billion tonnes of bauxite ores, used to produce alumina, a white powder that is smelted to produce aluminum. Two big projects to mine bauxite and produce alumina have been kicked off in Lam Dong and Dac Nong Provinces. The country has estimated that it will need up to US$20 billion in investment by 2025 to make use of the resource. Enter the Chinese.

The idea of exploiting rich bauxite reserves is not new. As long ago as the 1980s, when the country was a member of the Council of Mutual Economic Assistance (CMEA), an economic bloc founded by the Soviet Union and other Eastern European communist states, Vietnam brought a program to mine bauxite before the CMEA. But after Soviet analysts studied the feasibility of the program, the CMEA recommended against the idea, mainly due to serious environmental concerns.

Those concerns haven’t gone away. The only thing that has changed is the intensity of the opposition and the multiplying of other concerns as well as environmentalists and social scientists have rung alarm bells over the potential destruction.

Bauxite mining involves the discharge of toxic which must be stored safely and permanently. However, the Central Highlands terrain makes it more difficult to safely store the slurry to prevent contamination to the surrounding and downstream areas. In addition, critics see high risk regarding the situation in which the Chinese companies have won both bids to construct two big alumina plants (costing nearly US$500 million each) and possibly will venture into other projects as well.

The concern is that the technologies won’t be the best available. Nguyen Thanh Son, a Vietnamese expert in the area and one of the most prominent opponents of the plan, says the Chinese side won the bids is due to the lowering of technology standards by the Vietnamese side so that Chinese companies could offer attractive bidding prices.

China itself has faced serious environmental problems associated with bauxite mining, prompting it to close several mines in Guangxi even with demand for bauxite on the rise. Some critics thus view China’s high level of involvement in Vietnam’s bauxite projects as a form of exporting environmental degradation while trying to secure a new source of supply.

In terms of economic efficiency, the projects don’t seem to fare well even with a simple cost-and-benefit analysis. The Central Highlands is home to important cash crops, coffee, tea, and rubber, that have earned increasing amounts of hard currency through exports. However, the survival of these crops will be in great danger due to two key factors.

First, as more projects are implemented, more land will be cleared for mining and storing the toxic mud. After the bauxite ores are mined, the soil is no longer suitable for growing crops without extensive remediation. Second, bauxite mining and alumina production require extensive water, which is already limited in the region. As a result, water availability for growing will be severely reduced, leading to poorer crops. Together, these two factors raise the spectre of the potential loss of the region’s comparative advantage in growing the cash crops and strangle its ability to develop a new comparative advantage in ecotourism, which is increasingly popular worldwide.

The economic costs will even be much greater when other negative externalities, including environmental degradation, are factored in. On the other hand, the benefits are doubtful. It has been pointed out that with the same level of investment, the rate of return of a bauxite project is far less than coffee-growing. Moreover, to be competitive, the production of alumina requires a cheap and readily available source of electricity that Vietnam currently does not have and will not have for any time soon.

With its chronic shortage of electricity, the shifting of this type of energy toward alumina production will further exacerbate the problem, putting other types of production at risk.

With respect to the social and political impacts, the full-scale implementation of the bauxite projects will further marginalize ethnic groups in the region as their cultural green living space is drastically reduced, with the potential to create social tension in an already delicate area. In addition, the presence of Chinese bauxite-related workers in this military strategic region has created an uneased feeling in certain Vietnamese.

Government responses and actions have been inadequate at best. In November 2007, Prime Minister Nguyen Tan Dung signed a directive approving the plan for mining, processing and use of bauxite. However, up to this point, there has not any approved strategic environmental evaluation to assess the environmental impacts of the bauxite plan in accordance with Vietnamese environmental laws.

Vinacomin, the state-owned enterprise in charge of carrying out the plan, held two conferences in 2007 and 2008 to assess the impacts of the bauxite projects. During these occasions, many Vietnamese experts expressed their deepest concerns regarding the serious negative impacts of the plan. However, nothing of significance has materialized to address these concerns since the projects are still underway.

In the face of continued opposition, Prime Minister Dung held a meeting to discuss issues relating to bauxite mining in early January this year. He concluded by ordering the Ministry of Industry and Trade to seek permission from the politburo of Vietnam’s communist party to continue the projects and asking Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai to hold a scientific conference to address the issues.

Although the conference has been scheduled for some time during the first half of April, Hai already announced last week that the projects in Lam Dong and Dac Nong will continue as planned. That has prompted observers to raise the question whether the conference will produce any meaningful changes that would be accepted by the government.

Given the government’s responses, one thing is clear: it has a very determined political will to go ahead with the bauxite plan in the face of opposition. The question that arises is why there is such a strong political will for a seemingly unsound plan. Critics have speculated a few possible answers. The most often mentioned is the influence of China through the political channel at the top level.

What is really at stake now is whether the Vietnamese government has the political courage to meaningfully involve all of the stakeholders and correct the shortcomings before it is too late.

Anh Le Tran teaches economics and management at Lasell College in Massachusetts in the United States.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Chính trị, Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

Sự phát triển sẽ dẫn đến dân chủ

Posted by adminbasam on 22/03/2009

Người vợ của Chí Sĩ Phan Bội Châu

LẤY ẢNH LÀM CHỒNG (Chuyện bà Phan Bội Châu) 

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940)

Cụ Phan Bội Châu (1867-1940) là một nhà yêu nước vĩ đại. Suốt đời ông đã quên mình và quên cả gia đình, chỉ hoạt động vì dân vì nước. Ông làm được điều nầy, một phần nhờ sự hy sinh cao cả của vợ ông, bà Phan Bội Châu.

Bà Phan Bội Châu tên thật là Thái Thị Huyên, con ông Thái Văn Giai. Ông Thái Văn Giai là một nhà Nho, sống tại thôn Đức Nam, làng Diên Lâm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, và là bạn học của ông Phan Văn Phổ, thân sinh Phan Bội Châu. Bà Thái Thị Huyên sinh năm 1866 (bính dần), lớn hơn chồng một tuổi.

Phan Bội Châu vốn có chí hoạt động cách mạng, muốn trì hoãn việc lập gia đình, nhưng ông là con trai độc nhất trong một gia đình đã bốn đời có con trai một, nên thân sinh ông bắt ông phải cưới vợ sớm. Hai ông bà đính hôn lúc còn nhỏ tuổi, và làm lễ cưới năm 1888 (mậu tý) do sự sắp đặt của gia đình hai bên.

Cưới vợ được tám năm, ông vẫn chưa có con mà thân phụ ông muốn có cháu bồng, nên bà Thái Thị Huyên (chánh thất, vợ cả) đã cưới bà thứ thất (vợ nhỏ) cho chồng năm 1896.(1) Bà thứ thất của Phan Bội Châu tên là Nguyễn Thị Em.

Chẳng bao lâu bà thứ thất (bà Em) sinh được một con trai và bà chánh thất (bà Huyên) cũng sinh thêm một trai nữa. Theo tục lệ xưa, tuy con bà chánh thất sinh sau, nhưng được làm anh, còn con bà thứ thất sinh trước, lớn tuổi hơn, lại phải làm em. Để khẳng định tôn ty trong gia đình, Phan Bội Châu đặt tên con bà chánh thất (nhỏ tuổi hơn) là Phan Nghi Huynh, con bà thứ thất (lớn tuổi hơn) là Phan Nghi Đệ. “Nghi huynh nghi đệ” có nghĩa là “anh xứng đáng ra anh, em xứng đáng ra em.” Cách thức sắp đặt gia đình của Phan Bội Châu theo đúng đạo cương thường trong Nho giáo.

Phan Bội Châu vốn không có chí khoa cử sĩ hoạn, nhưng để có điều kiện hoạt động cách mạng, ông dự kỳ thi hương tại trường thi Nghệ An năm canh tý (1900) và đỗ giải nguyên (thủ khoa). Sau đó Phan Bội Châu vào Huế mượn cớ theo học trường quốc tử giám để tìm cách liên kết nhân tài. Cuối năm 1904 (giáp thìn), Phan Bội Châu xin phép trường quốc tử giám về quê ăn Tết, thật sự là rời Huế để chuẩn bị qua Nhật hoạt động. Trước khi ra đi năm 1905, Phan Bội Châu đã tự viết hai tờ giấy ly dị vợ, giao cho hai bà vợ để phòng thân, rủi công việc của ông bị bại lộ, nhà cầm quyền có thể đến làm phiền hai bà, thì hai bà trưng giấy ly dị để khỏi bị liên lụy.(2)

Phan Bội Châu viết rất nhiều sách, nhưng ngược lại nói rất ít về gia đình. Sách vở cũng ít đề cập đến gia đình Phan Bội Châu. Có thể bà thứ thất (Nguyễn Thị Em) từ trần trước khi Phan Bội Châu bị bắt về nước năm 1925, vì khi người Pháp dẫn giải Phan Bội Châu từ Hà Nội vào Huế cuối năm đó, đi ngang qua thành Nghệ An, chỉ có một mình bà chánh thất đến gặp Phan Bội Châu được nửa giờ đồng hồ. Trong câu đối khóc bà vợ thứ, Phan Bội Châu kể:

“Có chồng mà ở góa, mấy chục năm tròn, ơn trời gặp hội đoàn viên, vội bỏ đi đâu, trao gánh nặng về phần chị cả;

“Vì nước phải liều mình, biết bao bạn cũ, cõi Phật đưa lời trân trọng, thiêng thời phải gắng, chung lòng hăng hái với thầy tôi.”

Bà chánh thất Thái Thị Huyên từ trần năm 1936 (bính tý). Trước lúc bà sắp từ trần, Phan Bội Châu làm câu đối bằng chữ Nho (chữ Tàu) gởi về an ủi vợ:

“Trấp niên dư cầm sắc bất tương văn, khổ vũ thê phong, chi ảnh vi phu, nhật hướng sằn nhi huy nhiệt lệ;

“Cửu tuyền hạ băng thân như kiến vấn, di sơn điền hải, hữu thùy tương bá, thiên xai lão hán bả không quyền.” (1936)

Tạm dịch:

“Hai mươi năm đàn nhịp không hòa, gió thảm mưa sầu, lấy ảnh làm chồng, ngày ngóng đàn con tuôn giọt lệ;

“Dưới chín suối bạn bè gặp hỏi, dời non lấp biển, có ai giúp mợ, trời ghen thân lão nắm tay không.”

Sau đó, khi bà Thái Thị Huyên từ trần ngày 21-5-1936 (1-4-bính tý), Phan Bội Châu khóc vợ qua câu đối:

“Tình cờ động khách năm châu, hơn ba mươi năm chồng có như không, cố đứng vững mới ghê, nuốt đắng ngậm cay tròn đạo mẹ;

“Khen khéo giữ bốn đức, gần bảy mươi tuổi sống đau hơn thác, thôi về mau cho khỏe, đền công trả nợ nặng vai con.” (3)

Về phần hai người con trai của Phan Bội Châu, cha là một nhà khoa bảng nổi tiếng, nhưng vì yêu nước, đi làm cách mạng, nên gia đình quá nghèo túng khó khăn, đã phải đi sống nhờ ở nhà người khác, và hai ông không được học hành gì nhiều. Có người nói rằng, thuở nhỏ hai ông phải trốn tránh để khỏi bị Pháp bắt, nhưng vẫn nhiều lần bị các hương chức địa phương làm khó dễ.(4)

Khi Phan Bội Châu bị Pháp đưa về an trí ở Huế. Phan Nghi Huynh ở lại Nghệ An hầu hạ bà mẹ ruột, tức bà vợ cả của Phan Bội Châu, và chỉ vào Huế vài lần thăm cha rồi trở ra Nghệ An sinh sống với mẹ.

Phan Nghi Đệ cũng hoạt động cách mạng, bị Pháp bắt ở Nghệ An khoảng sau năm 1930. Pháp ra điều kiện nếu Phan Bội Châu chịu bảo lãnh ông Đệ về Huế sống với Phan Bội Châu thì Pháp sẵn sàng đưa ông Đệ về Huế, nghĩa là Pháp chỉ định cư trú đối với ông Đệ như đối với Phan Bội Châu, đồng thời Pháp tiện việc kiểm soát hai cha con cùng một lúc.
Phan Bội Châu trả lời rằng như thế, Pháp chỉ giao cho ông giữ tù giùm cho Pháp mà thôi, chứ Pháp chẳng tốt lành gì, nên Phan Bội Châu không nhận. Dầu vậy, Pháp vẫn đưa Phan Nghi Đệ về Huế sống với Phan Bội Châu. (Theo lời kể của cháu nội Phan Bội Châu, hiện sống ở Canada.)

Phan Nghi Đệ sống bên cạnh Phan Bội Châu cho đến khi cha qua đời năm 1940. Năm 1946, Phan Nghi Đệ chạy tản cư về An Truyền (làng Chuồn), huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, và từ trần tại đây. Sau đó ông được cải táng về nằm cạnh cha, trong vườn nhà Phan Bội Châu ở dốc Bến Ngự, Huế.

Ngoài hai người con trai, Phan Bội Châu còn một người con gái tên là Phan Thị Như Cương. Bà Như Cương là con của Phan Bội Châu và bà vợ thứ là Nguyễn Thị Em. Bà Như Cương có chồng là Vương Thúc Oánh. Vương Thúc Oánh cũng hoạt động chính trị, lúc đầu theo Phan Bội Châu, sau theo Lý Thụy (Hồ Chí Minh). Khi được biết Lý Thụy là người bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu, bà Như Cương xin phép cha cho mình ly dị chồng. Phan Bội Châu không chấp thuận. Theo lệnh cha, bà Như Cương không ly dị Vương Thúc Oánh, nhưng từ đó bà sống ly thân, không tiếp xúc với chồng nữa. (Theo lời kể của cháu nội Phan Bội Châu hiện sống tại Canada.)

Để hiểu rõ hơn về bà Phan Bội Châu, có lẽ nên nghe lời ông kể về bà cho các con ông nghe:

“Nầy con,

“Các con ơi! Cha mầy e chết rày mai, có lẽ với mẹ mày không được một phen gặp nhau nữa! Nhưng nếu trời thương ta, cho hai ta đồng thời gặp nhau ở suối vàng cũng vui thú biết chừng nào.

“Nhưng đau đớn quá! Mẹ mầy e chết trước ta. Ta hiện giờ nếu không chép sơ những việc đời Mẹ mầy cho các con nghe, thời các con rồi đây không biết rõ Mẹ mầy là người thế nào, có lẽ bảo Mẹ ta cũng như người thường thả cả.

“Than ôi! Ta với Mẹ mầy, vợ chồng “thật” gần năm mươi năm, mà quan quả “giả” gần bốn mươi năm [quan: vợ chết, quả: chồng chết]. Khi sống chẳng mấy hồi tương tụ; mà đến khi chết lại chỉ tin tức nghe hơi! Chúng mầy làm con người, đã biết nỗi đau đớn của Cha mầy với Mẹ mầy, chắc lòng mấy con thế nào cũng an thích được.

“Bây giờ ta nhơn lúc sắp sửa chết, mà chưa chết, đem lịch sử Mẹ mầy nói với mầy.

“Mầy nên biết, nếu không có Mẹ mầy, thời chí của Cha mầy đã hư hỏng những bao giờ kia.

“Cha ta với Tiên nghiêm [cha] của Mẹ mầy xưa, đều là nho cũ rất nghiêm giữ đạo đức xưa. Mẹ mầy lớn hơn ta một tuổi. Hai ông đính thông gia với nhau từ khi con còn nên một. Tới năm Mẹ mầy hai mươi ba tuổi [tuổi ta, tức 1888], về làm dâu nhà ta. Lúc ấy, Mẹ ta bỏ ta đã tám năm, trong nhà duy có cha già với em gái bé. Ta vì sinh nhai bằng nghề dạy trẻ, luôn năm ngồi ở quán phương xa, cái gánh sớm chiều gạo nước gởi vào trên vai Mẹ mầy. Cha ta đối với con dâu rất nghiêm thiết, nhưng chẳng bao giờ có sắc giận với Mẹ mầy. Cha ta hưởng thọ được bảy mươi tuổi, nhưng bệnh nặng từ ngày sáu mươi. Liên miên trong khoảng mười năm, những công việc thuốc thang hầu hạ bên giường bệnh, cho đến các việc khó nhọc nặng nề mà người ta không thể làm, thảy thảy một tay Mẹ mầy gánh cả. Kể việc hiếu về thờ ông gia, như Mẹ mầy là một việc hiếm có vậy.

“Trước lúc cha ta lâm chung [1900], ước một phút đồng hồ, gọi Mẹ mầy bồng mầy tới cạnh giường nằm, chúc ta rằng: “Ta chết rồi, mầy phải hết sức dạy cháu ta, và hết sức thương vợ mầy. Vợ mầy thờ ta rất hiếu, chắc trời cũng làm phúc cho nó.” Xem lời nói lâm chung của Cha ta như thế, cũng đủ biết nhân cách Mẹ mầy rồi.

“Năm Cha ta sáu mươi sáu tuổi [1896], còn hiếm cháu trai, vì ta là con độc đinh [con trai duy nhất], nên cha ta cũng khát cháu lắm. Mẹ mầy muốn được chóng sinh trai cho vừa lòng Cha, nên gấp vì ta cưới thứ mẫu mầy, chẳng bao lâu mà em mầy sinh. Trong lúc thằng Cu mới ra đời, Mẹ mầy gánh vác việc ôm ấp đùm bọc hơn một tháng. Cha ta được thấy cháu đầu hoan hỉ quá chừng. Thường nói với ta rằng: “Ta chỉ còn một việc chết chưa nhắm mắt, là mầy chưa trả cái nợ khoa danh mà thôi”.[5] Mẹ mầy nhân đó càng ân đức thứ mẫu mầy, thân yêu nhau hơn chị em ruột.

“Kể đức nhân về ân ái với người phận em như Mẹ mầy cũng ít có.

“Cứ hai chuyện như trên, bảo Mẹ mầy là Mẹ hiền về thời cựu chắc không quá đáng. Nhưng mà bắt buộc cho ta phải trọn đời nhớ luôn, thời lại vì có một việc: Nguyên lai nhà ta chỉ có bốn tấm phên tre suông, chẳng bao giờ chứa gạo tới hai ngày. Nhưng vì trời cho tính quái đặc: thích khoản khuếch [khoản đãi rộng rãi], hay làm ân. Hễ trong túi đựng được đồng tiền, thấy khách hỏi tức khắc cho ngay. Thường tới khi từ trường quán về, ta tất mang luôn khách về nhà, khách hoặc năm, sáu người, có khi mười người chẳng hạn, nhưng chiều hôm sớm mai, thiếu những gì tất hỏi Mẹ mầy. Mẹ mầy có gì đâu! Chỉ dựa vào một triêng [gánh] hai thúng, từ mai tới hôm [từ sáng tới tối] mà hễ nghe chồng đòi gì thời có nấy. Bổng dạy học của ta tuy có nhiều, nhưng chưa một đồng xu nào là tay Mẹ mầy được xài phí. Khổ cực mấy nhưng không sắc buồn; khó nhọc mấy nhưng không tiếng giận. Từ năm ta ba mươi sáu tuổi [1902], cho tới ngày xuất dương, những công cuộc kinh dinh việc nước, Mẹ mầy ngầm biết thảy, nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, Mẹ mầy ngồi dựa cột, kế một bên ta nói: “Thầy chắc toan bắt cọp đó mà? Cọp chưa thấy bắt mà người ta đã biết nhiều sao thế?” Mẹ mầy tuy có nói câu ấy, mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá!

“Bây giờ nhắc lại trước khi ta xuất dương, khoảng hơn mười năm. Nghèo đói mà bạn bè nhiều; cùng khốn mà chí khí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ân Mẹ mầy.

“Tới ngày ta bị bắt về nước, Mẹ mầy được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ có một câu nói rằng: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi, từ đây trở về sau, chỉ trông mong Thầy giữ được lòng Thầy như xưa, Thầy làm những việc gì mặc Thầy, Thầy không phiền nghĩ tới vợ con.”

“Hỡi ôi! Câu nói ấy ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta, mà té ra ủ dài năm tháng, chẳng một việc gì làm, chốc chẵn mười năm.

“Phỏng khiến Mẹ mầy mà chết trước ta, thời trách nhiệm của ta e còn nặng mãi mãi. Suối vàng quạnh cách, biết lối nào thăm; đầu bạc trăm năm, còn lời thề cũ. Mẹ mầy thật chẳng phụ ta, ta phụ Mẹ mầy!

“Công nhi vong tư” chắc Mẹ mầy cũng lượng thứ cho ta chứ “. (1936) (6)

Hình ảnh bà Thái Thị Huyên, qua lời kể chuyện của Phan Bội Châu, có thể được xem là biểu tượng của thế hệ phụ nữ Việt Nam theo truyền thống Nho phong ngày xưa, âm thầm gian khổ gánh vác toàn bộ công việc gia đình, để chồng có thể dồn mọi nỗ lực lo việc đất nước.

Đúng như lời Phan Bội Châu đã viết: “Nghèo đói mà bạn bè nhiều, cùng khốn mà chí khí vững, thiệt một phần nửa là nhờ ân Mẹ mầy “. Một nửa sự nghiệp của Phan Bội Châu là nhờ bà Thái Thị Huyên vững tay lo việc gia đình. Chẳng những riêng Phan Bội Châu, mà hầu như một nửa sự thành công của nhiều danh nhân Việt Nam và trên thế giới đều nhờ ơn các bậc hiền phụ. Đáng quý thay!

tác giả TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)

CHÚ THÍCH:

1. Theo tục lệ ngày xưa, vợ cả (chánh thất) cưới vợ nhỏ (thứ thất) cho chồng.
2. Tôn Quang Phiệt, “Một vài kỷ niệm về Phan Bội Châu”, đăng trong Ông già Bến Ngự, hồi ký của một nhóm tác giả, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1982, tr. 53.
3. Các câu Phan Bội Châu an ủi và khóc vợ, trích từ Chương Thâu, Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tt. 442-444.
4. Tôn Quang Phiệt, bài đã dẫn, tt. 53-55.
5. Lúc nầy Phan Bội Châu chưa đậu cử nhân. Năm 1900 (canh tý), ông đậu giải nguyên (đậu đầu) kỳ thi Hương trường thi Nghệ An vào tháng 7 thì tháng 9 cụ Phan Văn Phổ từ trần.
6. “Công nhi vong tư” nghĩa là lo việc chung mà quên việc riêng .

source: http://calitoday.com/news/view_article.html?article_id=38dd3e9e4f8612401182c76d5bd2cd1c

 

**************************************

 

Blog Ba Sàm xin giới thiệu đến quí bạn đọc bài thứ nhất trong một loạt 5 bài của giáo sư chính trị học Ronald Inglehart và Christian Welzel. Đây là một loạt bài rất đặc sắc có nguồn ở cuối bài.

Bài 1: Làm Thế Nào mà Sự Phát Triển Dẫn đến Dân Chủ

 

Trong vài ba năm qua, một sự bùng nổ của dân chủ đã và đang nhường bước cho một sự suy thoái dân chủ. Giữa năm 1985 và 1995, hàng đoàn các quốc gia đã thực hiện bước chuyển đổi tới dân chủ, mang lại một niềm hạnh phúc, và niềm tin cao độ về tương lai của nền dân chủ.

Nhưng gần đây hơn, thể chế dân chủ đã và đang rút lui ở Bangladesh, Nigeria, Phillippines, Nga (Russia), Thái Lan, và Venezuela, và những toan tính của chính phủ Bush để thiết lập một thể chế dân chủ ở Afghanistan và Irag dường như để lại cho cả hai quốc gia nầy trong cuộc xáo trộn. Những sự phát triển nói trên, cùng với sự phát triển quyền lực  của Trung Quốc và Nga, đang làm cho nhiều nhà quan sát bình luận rằng nền dân chủ đã và đang đạt mức cao nhất và không còn gia tăng lên nữa.

Kết luận ấy là sai lầm. Những điều kiện nằm bên dưới các xã hội khắp thế giới hướng tới một thực tế phức tạp nhất. Tin xấu nhất là: thật là không thực tế để khẳng định rằng các định chế dân chủ có thể được thiết lập một cách dễ dàng, hầu như bất cứ nơi nào, và tại bất cứ thời điểm nào. Mặc dù dự đoán của tương lai là không bao giờ mất niềm hy vọng, nền dân chủ  chắc chắn nổi dậy và sống còn chỉ khi nào mà một số điều kiện văn hóa và xã hội có mặt vào thời điểm ấy. Chính phủ Bush đã bỏ qua thực tế nầy khi toan tính cấy dân chủ vào trong nước Iraq mà không thiết lập trước  an ninh trong nước và đã không nhìn thấy các điều kiện văn hóa đã làm nguy hại nổ lực nầy (của ông ta.)

Tuy vậy, điều tốt là các điều kiện dẫn tới dân chủ có khả năng và làm trổi dậy  tiến trình hiện đại hóa, mà dựa theo bằng chứng thực nghiệm ở khắp nơi, thì tiến trình nầy sẽ làm gia tăng dân chủ. Hiện đại hóa là một hội chứng của các thay đổi xã hội liên kết với kỹ nghệ hóa. Một khi đã chuyển động rồi, sự hiện đại hóa có khuynh hướng xâm nhập tất cả các khía cạnh của đời sống, mang lại sự chuyên môn hóa nghề nghiệp, đô thị hóa, gia tăng các mức độ giáo dục, gia tăng tuổi thọ, và sự phát triển kinh tế nhanh chóng.  Những sự kiện nầy tạo ra một tiến trình làm gia tăng sức mạnh  để chuyển đổi đời sống xã hội và các định chế chính trị, dẫn đến gia tăng sự tham dự lớn lao vào trong chính trị và – theo dài hạn – thiết lập các  thể chế chính trị có tính chất dân chủ càng ngày càng gia tăng. Ngày nay, chúng ta có một ý kiến rõ ràng hơn trước rất nhiều về việc tại sao và như thế nào mà tiến trình dân chủ hóa xẩy ra.

Khuynh hướng lâu dài hướng tới dân chủ luôn luôn xảy đến, khi thì tăng cao, khi thì giảm xuống. Vào lúc khởi đầu của thế kỷ 20, chỉ có một nhúm nhỏ các quốc gia dân chủ hiện hiện, và các quốc gia nầy thiếu nền dân chủ mở rộng theo các tiêu chuẩn ngày nay.

Có một sự gia tăng chính trong số lượng các nước dân chủ tiếp theo sau đệ I thế chiến (1918), một sự gia tăng khác tiếp theo sau thế chiến thứ II (1945), và một sự gia tăng lần thứ ba vào lúc chấm dứt chiến tranh lạnh (1991). Mỗi một sự gia tăng nầy đều được tiếp diễn theo sau một sự suy thoái (của số lượng các quốc gia theo nền dân chủ), mặc dầu vậy, con số các quốc gia theo chế độ dân chủ không bao giờ rơi trở lại vào lúc ban đầu. Vào lúc khởi đầu của thế kỷ thứ 21, vào khoảng 90 quốc gia có thể được xem là có tính chất dân chủ.

Mặc dù nhiều nước trong số 90 các quốc gia dân chủ là vẫn còn có lầm lỗi, khuynh hướng nói chung thật là đầy ấn tượng: trong dài hạn, sự hiện đại hóa mang lại nền dân chủ. Điều nầy có nghĩa rẳng sự nổi dậy về kinh tế của Trung quốc và Nga có một khía cạnh tích cực: Những thay đổi nằm bên dưới đang diễn ra và làm cho sự xuất hiện của các hệ thống chính trị dân chủ và tự do càng ngày càng gia tăng một cách chắc chắn trong những năm sắp tới. Điều ấy cũng có nghĩa rằng không có lý do nào để hốt hoảng về sự kiện rằng thể chế dân chủ hiện nay dường như đang ở vào thế phòng vệ. Các dấu hiệu, hoạt động về hiện đại hóa và dân chủ hóa đang càng ngày càng trở thành rõ ràng, và chắc chắn rằng chúng sẽ tiếp tục hoạt động.

Cuộc Tranh Luận (The Great Debate)

Khái niệm dân chủ hóa có một lịch sử lâu dài. Suốt các thế kỷ 19 và 20, học thuyết Marxist về hiện đại hóa tuyên bố rằng : xóa sạch quyền tư hữu sẽ làm chấm dứt sự bóc lột, bất bình đẳng và mâu thuẫn.

Một phiên bản của chủ nghĩa tư bản vào thời đó lại cho rằng: sự phát triển kinh tế sẽ dẫn tới sự gia tăng trong các tiêu chuẩn sống và gia tăng nền dân chủ.

Hai tầm nhìn về sự hiện đại hóa cạnh tranh nhau dữ dội suốt cuộc chiến tranh lạnh (1945-1991).

Vào thập kỷ 1970, tuy vậy, chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu đi xuống, và không có sự phát triển kinh tế  mà cũng  không có sự dân chủ hóa ở trong nhiều quốc gia nghèo. Dường như rằng: chẳng có phiên bản nào của đời sống lý tưởng và một nơi sống lý tưởng, và các nhà chỉ trích đã lớn tiếng nói lên rằng lý thuyết hiện đại hóa đã chết rồi.

Tuy vậy, kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh, 1991, khái niệm hiện đại hóa đã có một đời sống mới, và một phiên bản mới của lý thuyết hiện đại hóa đã và đang trổi dậy, cùng với các điềm chỉ rõ ràng dành cho sự hiểu biết của chúng ta về sự phát triển của nền kinh tế địa cầu chắc chắn sẽ dẫn đến đâu.

Vứt bỏ hết các những sự đơn giản nhất về các phiên bản đầu tiên của nó, khái niệm mới về sự hiện đại hóa cho thấy rõ các sự thay đổi văn hóa đang diễn ra, chẳng hạn như sự trổi dậy của bình đẳng giới tính (nam nữ); làn sóng gần đây của sự hiện đại hóa; và lý thuyết hòa bình dân chủ.

Trong  lịch sử nhân loại, các tiến bộ kỹ thuật cực kỳ chậm chạp và các sự phát triển mới trong sản xuất thực phẩm được châm ngòi bằng  sự gia tăng dân số –  Điều nầy đã đánh bẩy các nước có nền kinh tế nông nghiệp vào trong một trạng thái bảo hòa mà không có sự gia tăng trong các tiêu chuẩn sống. (Và như thế người ta chứng kiến rằng ) Lịch sử được xem như là sự lập lại theo vòng tròn, hay một sự thoái bộ trong thời gian dài tiếp theo sau một thời kỳ vàng son quá khứ.

Tình thế đã bắt đầu thay đổi với cuộc cách mạng kỹ nghệ  1850 và  sự xuất hiện của phát triển kinh tế cơ bản – sự phát triển nầy đã dẫn đến các quan điểm cộng sản và tư bản về hiện đại hóa. Mặc dầu các lý thuyết nầy cạnh tranh nhau một cách dữ dội, cả hai đều có mục đích hướng tới sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và mang lại sự tham gia của một khối đông nhiều người vào lĩnh vực chính trị. Và mỗi bên (cộng sản và tư bản) đều tin rằng các nước đang phát triển của Thế-giới-thứ-Ba sẽ đi theo con đường của mìnhđể hiện đại hóa.

còn tiếp

người dịch Trần Hoàng

Nguồn http://www.cfr.org/publication.html?id=18587

Posted in Dân chủ/Nhân Quyền, Gia đình/Xã hội, Lịch sử | Leave a Comment »

Việt Nam đã Bắt đầu Khai thác mỏ Bô xít

Posted by adminbasam on 18/03/2009

TS. Nguyễn Thành Sơn: Đăk Nông trước bài toán hậu khai khoáng Bô-xít

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO
V/v làm rõ một số ý kiến tại cuộc Tọa đàm về bauxite ngày 20/2/2009

Trân trọng kính gửi:

- Đ/c Trương Tấn Sang UV Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư

- Đ/c Ngô Văn Dụ Bí thư TW Đảng CSVN, Chánh Văn phòng TW Đảng

Tôi được mời tham gia cuộc Tọa đàm về bauxite do Văn Phòng Trung Ương tổ chức ngày 20/2/2009. Do thời lượng Tọa đàm có hạn, vì chưa có điều kiện phát biểu, chấp hành ý kiến chỉ đạo của đ/c Ngô Văn Dụ – chủ trì Tọa đàm, tôi xin được trình bầy với Ban Bí thư và Văn phòng TW Đảng CSVN một số ý kiến như sau:

1/ Trước hết tôi hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc Tọa đàm đều cho rằng việc lựa chọn nhà thầu Trung Quốc (TQ) vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Trong các tham luận công khai, tôi cũng như các nhà khoa học đều hiểu, nhưng chưa nêu thẳng vấn đề: lựa chọn nhà thầu Trung Quốc là một sai lầm cố ý của Tập đoàn Than và Khoáng sản (TKV). Tôi xin nói rõ hơn như sau:

- Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực tiếp tham gia (là gíam đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là Tổng giám đốc cty nhiệt điện). Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.

- Để chọn được nhà thầu TQ, Than và Khoáng Sản Việt nam đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu, đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả Trung Quốc, Nga và Ấn Độ cũng đang chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này). Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp để “chuyển giao” sang VN).

- Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu Trung Quốc, với lý do làm “nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở Trung Quốc, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài các nhà thầu Trung Quốc) tham gia đấu thầu.

Ngoài ra, tương tự như dự án luyện đồng Sinh Quyền, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm alumina cũng rất quan trọng. Tôi e ngại rằng (để đấu thầu, giảm chi phí đầu tư), chất lượng sản phẩm alumina do TQ chào sẽ rất thấp để sau này TQ sẽ mua lại với giá rẻ mạt (như hiện đang mua loại đồng của Sinh Quyền). TQ không có công nghệ nguồn về nhôm, cũng phải đi nhập của các nước phát triển, còn sản phẩm alumina của TQ có chất lượng khác nhau và có tiêu chuẩn thấp hơn so với của các nước phát triển.

2/ Về ý kiến cho rằng cần phát triển bauxite hơn phát triển cây công nghiệp (của các đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và Phan Tuấn Pha- Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông)

Cả hai đ/c đại diện cho Đảng bộ và UBND các tỉnh có dự án bauxite đều phát biểu ủng hộ tiếp tục triển khai các dự án bauxite vì hai lý do chính: (i) bauxite có lợi thế hơn sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, điều, cau su) vì giá bán sản phẩm nông nghiệp rất biến động; và (ii) nếu không khai thác bauxite thì (bauxite vẫn chỉ là đất), 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phê phán chúng ta tại sao không khai thác!.

(i)Trước hết, tôi cho rằng cả hai ý kiến này đều không chính xác, và nếu xem xét kỹ thì đây là những ý kiến phản khoa học, do thiếu thông tin.

Bauxite gắn chặt với vùng đất đỏ bazan trên Tây Nguyên là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh, còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn, có tái sinh (nhờ được trồng trên đất bazan tài sản vô giá của quốc gia này). Thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Phát triển cây công nghiệp góp phần duy trì và làm tăng thêm mầu xanh cho môi trường, giảm các nguy cơ như lũ ống, lũ quyét, hạn hán kéo dài, duy trì và phát huy được thế mạnh của đất đỏ bazan.

Còn khai thác bauxite sẽ làm mất đi thế mạnh của Tây Nguyên, hủy diệt mầu xanh, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy vơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quyét xẩy ra nhiều hơn. Nếu tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay, về lâu dài cái giá phải trả của VN là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên (do sẽ thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi) và có nguy cơ còn làm mất và ô nhiễm nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương, TP. HCM v.v.).

(ii) Giá bán sản phẩm nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhu cầu tiêu dùng của cả loài người về cà phê, chè, đều là ổn định, được tiêu thụ ở rất nhiều nước, không có sản phẩm thay thế.

Giá bán sản phẩm bauxite biến động rất lớn, nhu cầu của TG cũng thay đổi và chỉ được sử dụng chủ yếu tập trung ở một số nước có ngành chế tạo xe hơi và máy bay như Mỹ, Nhật, Đức, Nga, TQ.

Tôi xin cập nhật những thông tin gần đây nhất: giá bán nhôm trên Thị trường Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) giao động rất lớn, giá thấp nhất 1040U$/tấn (1993) và cao nhất lên tới 3249 U$/tấn (2006).

Chỉ từ tháng 7/2008 đến tháng 10/2008 giá nhôm tại LME đã giảm từ 3300 xuống còn 1885 rồi 1500 U$/tấn.

Theo đánh giá của các chuyên gia về nhôm, hiện nay giá bán hòa vốn đối với 75% các nhà máy phải là 2500U$/tấn trong khi giá thành sản xuất bình quân của thế giới 2700-3200U$/tấn.

Vì thế các nước đã và đang tiếp tục cắt giảm sản lượng (chỉ tính riêng năm 2008: TQ đã cắt giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với công suất 3,22-3,70 triệu tấn/năm, 10% sản lượng alumina; tập đoàn Alcoa của Mỹ đã giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với 3,5 triệu tấn/năm; Brazin giảm tới 40% sản lượng nhôm; Nga- giảm 25%, Tadzickistan (thuộc LX cũ)- 10% v.v.).

Trong các năm tới thị trường và giá bán của sản phẩm bauxite sẽ còn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu đi: dự báo năm 2009, nhu cầu alumina của TQ chỉ có 27,83 tr. tấn, trong khi tổng công suất của các nhà máy sản xuất lên tới 32,97 tr.tấn (thừa 5,14 tr.tấn).

(iii) Về ý kiến (của tỉnh Đắc Nông) cho rằng cần khai thác bauxite ngay bây giờ chứ không để giành cho thế hệ sau, “nếu không khai thác thì bauxite cũng chỉ là đất thôi”: đây cũng là ý kiến phản khoa học và ngắn về tầm nhìn. Tôi xin báo cáo như sau:

- Nếu hiện nay chúng ta sớm phát triển ngành công nghiệp bauxite-nhôm, thì chúng ta phải đối mặt với một bất cập rất lớn không thể vượt qua là thiếu điện giá rẻ. Trên thế giới các nước đều gắn nhôm với thủy điện, vì chỉ có thủy điện mới cho giá rẻ (dưới 3cents/kWh) trong khi tỷ trọng chi phí về điện trong chi phí sản xuất nhôm rất cao (chiếm tới 40-65%).

Gần đây, Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ đã phải cho vay bù lãi suất tới 2-3%/năm để một công ty nhôm của TQ đầu tư 3,2 tỷ U$ xây dựng nhà máy nhôm ở Mã Lai vì hai lý do:

(i) Khuyến khích việc đưa các dự án nhôm tiêu hao nhiều điện năng ra nước ngoài (trong khi TQ cũng không phải thiếu điện trầm trọng như VN);

(ii) Nhà máy nhôm này (do TQ nắm không ít hơn 50%) được quyền mua toàn bộ sản lượng điện của nhà máy thủy diện Bakun công suất 2400MW sẽ được Mã Lai xây dựng ở tỉnh Saravac với giá bán điện chỉ có 2 cents/kWh. Dự án thủy điện này cũng do một tổng công ty nhà nước khác của TQ là Sinohydro xây dựng. Toàn bộ sản phẩm nhôm sẽ được bán lại cho TQ. Các tập đoàn nhôm UC Ruasal (Nga) và Alcoal (Mỹ) cũng coi việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện để có được nguồn điện lớn với giá rẻ là ưu tiên số 1 trong hoạt động của mình.

Toàn bộ tiềm năng về thủy điện của các tỉnh Tây Nguyên, nếu được khai thác hết cũng chỉ tương đương với dự án nói trên của Mã Lai. (2)

- Nếu sau 20-30 năm nữa chúng ta mới phát triển ngành công nghiệp nhôm, thì con cháu chúng ta sẽ không “phê phán chúng ta là dốt”, như ý kiến của đ/c bí thư tỉnh Đắc Nông, ngược lại, thế hệ mai sau sẽ phải cám ơn chúng ta là đã rất thông minh, có tầm nhìn xa về khoa học công nghệ. Nhân đây tôi xin nói rõ hơn:

+ Tại cuộc hội thảo đầu tiên về bauxite ở Đắk Nông tháng 12/2007 do tỉnh Đắt Nông và TKV tổ chức, trong tham luận của mình tôi đã lưu ý đến bom Napal- là một loại bom cháy, có sức hủy diệt cao là một phát minh của Đại học Ha Vớt Hoa Kỳ, rất có hại trong chiến tranh, nhưng rất có ích trong phát triển kinh tế.

+ Theo dự báo của các nhà khoa học, sau 20-30 năm nữa, trình độ khoa học công nghệ (trong đó có các công nghệ về hóa-lý) sẽ cho phép chúng ta áp dụng phát minh trên của Đại học Ha Vớt trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Kim loại nhôm sẽ được sử dụng để phát điện (có thể thay cho dầu mỏ, khí đốt và than đá hay uranium đang dần cạn kiệt) với hiệu suất rất cao. Theo tính toán của các nhà khoa học, để sản xuất ra 1 “đơn vị nhôm”, chúng ta cần 1 “đơn vị năng lượng” (đơn vị này hiện nay rất lớn). Nhưng sau 20-30 năm nữa, trình độ công nghệ cho phép thực hiện qui trình ngược lại, từ 1 “đơn vị nhôm” chúng ta có thể sản xuất ra được gần 2 “đơn vị năng lượng” dựa trên nguyên lý hoạt động của bom Napal (phản ứng ô xy hóa của kim loại nhôm tinh khiết cho phép chúng ta thu được một lượng nhiệt rất lớn).

+ Ngoài ra hiện nay ô xít nhôm Al2O3 (là alumina- sản phẩm của các dự án bauxite Tây Nguyên để xuất khẩu) mới chỉ được dùng làm nguyên liệu thô cho ngành luyện nhôm và sản xuất một số hóa chất đơn giản khác.

Nhưng trong tương lai, cũng như các loại ô xít kim loại khác sẽ được sử dụng để khử khí thải CO2 trong các nhà máy nhiệt điện để thu được khí CO2 (là một dạng khí cháy, có nhiệt năng cao) có thể tái sử dụng lại ngay cho chính các nhà máy nhiệt điện hay cho các lò hơi công nghiệp. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều thành tựu (bản quyền và bí quyết công nghệ) trong vấn đề này (chủ yếu cũng là của Mỹ).

+ Trên quan điểm khoa học và công nghệ, Đảng ta đã rất sáng suốt khi trong Báo cáo chính trị của Đại hội X đã bỏ cụm từ “khai thác bô-xít và sản xuất alumin” ra khỏi danh mục các sản phẩm cần được hỗ trợ đầu tư phát triển, thay vào đó, đã khẳng định “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”.

Tôi cho rằng, ý kiến của đ/c Bí thư tỉnh Ủy Đắk Nông tại cuộc Tọa đàm là không có tính khoa học và càng không phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

3/ Về ý kiến cho rằng công nghệ của Trung Quốc là tốt: Tại cuộc Hội thảo do Liên hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật VN (VUSTA) (Chủ tịch VUSTA là ông Hồ Uy Liêm) tổ chức ngày 19/1/1009 vừa qua, trong Báo cáo của mình tôi đã nêu rõ một ví dụ về công nghệ lạc hậu, không hiệu quả (công nghệ luyện đồng) mà TQ mới chuyển giao cho TKV trong dự án đồng Sinh Quyền gần đây. Tôi cho rằng không cần nhắc lại. Nhân đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm:

Những nhà máy alumina phía Nam TQ (mà TKV đã tổ chức cho một số cán bộ ngoài TKV đi thăm quan) sử dụng loại bô xít (sa khoáng) khác hẳn với bô xít của Tây Nguyên (phong hóa) về nguồn gốc. Quá trình sản xuất alumina thực chất là các quá trình hóa-lý. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên kết quả phân tích về thành phần thạch học và thành phần hóa học của quặng chứ không thể sao chép “copy” và đánh giá công nghệ bằng mắt thường.

Ngoài ra, chất lượng quặng bauxite của VN (tuy chưa có được đánh giá chi tiết, nhưng) căn cứ vào các thông tin hiện có, thì không cao, đòi hỏi phải tuyển để nâng cao chất lượng trước khi áp dụng công nghệ Bayer.

4/ Về ý kiến cho rằng khai thác bauxite sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và không chiếm nhiều đất canh tác của các tỉnh Tây Nguyên:

- Trước hết, về kinh tế, các nhà khoa học đều khẳng định điều ngược lại. Rất may, lần nào, theo báo cáo tại cuộc Tọa đàm của chính đ/c Hoàng Sỹ Sơn- phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng, các dự án bauxite hàng năm chỉ đóng góp 120-150 tỷ đồng cho ngân sách địa phương chứ không phải 1500-2000 tỷ (được phóng đại lên 10 lần) như trả lời trên báo của đ/c Chủ tịch tỉnh Đắk Nông. Thực ra mức đóng góp này là không tương xứng so với số tiền rất lớn VN phải đi vay để đầu tư, và thấp hơn nhiều nếu chúng ta đầu tư vào mục đích khác, không phải là bauxite.

- Về diện tích chiếm đất, tuy diện tích không lớn so với toàn vùng lãnh thổ của Tây Nguyên, nhưng diện tích đất bị các dự án chiếm dụng vĩnh viễn lại là những nơi có giá trị canh tác cao, và (theo báo cáo của sở TNMT Đắk Nông) lớn hơn nhiều lần diện tích được tạo ra hàng năm (so với thành tích mở rộng khai hoang, trồng rừng) của các địa phương này.

5/ Về nội dung bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: tôi cho rằng ý kiến của đ/c Chủ tịch VUSTA (Hồ Uy Liêm) nêu trong Tọa đàm (đã không đại diện cho các nhà khoa học) là rất khiếm nhã. Tôi nghĩ cá nhân đ/c Hồ Uy Liêm cần chính thức xin lỗi Đại tướng về lời phát biểu gây nghi ngờ nội dung bức thư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ và thêm cảm phục Đại Tướng về bức thư đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm đó. Bản thân tôi đã từng làm đại diện cho Bộ Mỏ và Than của VN làm việc tại Ban Thư ký của COMECON trong cùng thời gian phía Chính Phủ VN đưa dự án bô-xít Tây Nguyên vào Chương trình hợp tác đa biên của COMECON (ngoài tôi, khi đó còn có nhiều người khác chứng kiến như các anh Dương Đức Ưng- đại diện cho Bộ Cơ khí Luyện Kim (nay là Bộ Công thương), Lê Dũng- đại diện cho UB KHKT (nay là Bộ Khoa học công nghệ) v.v.). Chúng tôi có đủ thông tin và điều kiện để tìm hiểu dự án này. Những vấn đề Đại tướng đã nêu trong thư là hoàn toàn chính xác. Khi đó (và cả bây giờ), Liên Xô và các nước thành viên COMECON rất cần bô-xít của VN để luyện nhôm cung cấp cho ngành chế tạo xe hơi, máy bay, và trang thiết bị quân sự-quốc phòng. Liên Xô (cũ) không cần chè của VN (khi đó người dân LX chỉ dùng chè của Ấn Độ hay của Srilanca), mà chỉ cần bô-xit của VN, nhưng vẫn khuyên VN không phát triển dự án bô-xít mà phát triển các nông trường chè.

6/ Về nhiều ý kiến cho rằng bài tham luận của TKV là “rất hay nhưng khó tin”. Nhân đây, tôi cũng xin bình luận thêm như sau:

- Trước hết, có thể thống nhất một điều là: VN lần đầu tiên triển khai các dự án bauxite, chưa có kinh nghiệm thực tế, nên những vấn đề đang được nêu ra đều chỉ nằm trên giấy (kể cả nhận định của Bộ Công thương, hay cam kết của TKV), còn dừng ở mức độ lý thuyết, dựa trên các thông tin trên TG (của các nhà khoa học) đều chưa được thực tế chứng minh đúng/sai . Điều có thể ai cũng đã nhận ra là tính rủi ro (về mọi mặt: công nghệ, kỹ thuật, môi trường, an ninh, quốc phòng, v.v…) trên thực tế quá cao, còn những giải pháp mới chỉ là “khẩu hiệu”.

- Bản thân tôi là một cán bộ làm việc ở Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) từ khi TKV mới được thành lâp đến nay (hiện nay tôi được giao giữ chức Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, là chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng), tôi cũng cho rằng những “giải pháp” của TKV không có cơ sở khoa học, mới chỉ dừng lại ở mức độ nói về vấn đề bùn đỏ ( có độ pH cao), TKV cam kết là không nguy hại, có thể xử lý được. Nhưng, như trên tôi đã nêu, bùn đỏ sẽ ít nguy hiểm khi được xử lý bằng công nghệ thải “khô”, còn với công nghệ thải “ướt” như TKV và các nhà thầu TQ đang áp dụng ở Tây Nguyên (chất lỏng 54,4%, chất rắn 45,6%) thì lại rất nguy hại bởi các lý do sau: (i) “Khô” có nghĩa là ít chất sút ăn da (NaOH) lẫn trong bùn đỏ; (ii) Nếu thải “khô”, các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn “ướt” thì dung dịch bùn đỏ sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa rất nguy hiểm, dễ bị trôi lấp; (iii) Với công nghệ “khô” thì các đập chắn của các hồ bùn đỏ không phải chịu lực, chỉ có chức năng “chắn”. Ngược lại, với công nghệ thải “ướt”, các đập của hồ bùn đỏ (theo lựa chọn của TKV cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 850m so với mực nước biển) sẽ giống như các đập hồ thủy điện, phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra, nên kém an toàn.

- Than và Khoáng sản Việt Nam nói sẽ rất coi trọng vấn đề xử lý vấn đề bùn đỏ theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, vì lợi ích của chủ đầu tư, các thiết kế hồ bùn đỏ đều lấy theo tiêu chuẩn GB của TQ. Với qui mô hồ thải bùn đỏ lớn như của TKV (rộng 116ha), các nước trên thế giới phải đầu tư hàng trăm triệu US$, trong khi hồ bùn đỏ của TKV do TQ thiết kế có mức đầu tư ít hơn nhiều lần. Thực tế các dự án nhiệt điện của TKV do các nhà thầu TQ thực hiện đã cho thất, các tiêu chuẩn GB của TQ thường thấp hơn nhiều so với của các nước khác, trong khi đó các nhà thầu TQ thường hay “nói một đằng làm một nẻo”, càng không ai dám tin.

- Vấn đề hoành thổ và bảo vệ môi trường trong khai thác bauxie: mọi người đều hiểu rất rõ thực trạng môi trường của vùng Quảng Ninh của nước ta hiện nay như thế nào ?

- Một điều nữa không thể không làm các đại biểu nghi ngờ là: (i) Tác giả của những bài trình diễn, tham luận đó của TKV là anh Nguyễn Chí Quang – người đã từng bị Thanh tra Chính Phủ yêu cầu TKV buộc thôi việc trong dịp Thanh tra CP làm việc với TVN năm 1999-2000. Sau khi bị sa thải, thời gian gần đây, anh Quang lại đích thân Chủ tịch HĐQT TKV nhận làm “cố vấn riêng” cho cá nhân Chủ tịch HĐQT. Mặc dù vậy, trong các giao dịch, anh Quang vẫn tự coi mình là cố vấn của HĐQT TKV, cũng có mặt cùng Chủ tịch HĐQT để báo cáo trong nhiều cuộc hội thảo và công khai phát biểu dưới tư cách là “đại diện cho TKV”; (ii) Các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và trình độ thực sự về bauxie-nhôm trước đây (khi làm việc với COMECON, như Hoàng Kim Phú, Tô Ngọc Thái, Nguyễn Hoàng Ban v.v.) thì không được TKV sử dụng, trong khi TKV lại tích cực sử dụng một kỹ sư đã về hưu là Dương Thanh Sùng – người được đánh giá (công khai tại hội thảo của VUSTA) là chỉ thuộc loại “chai lọ” trong lĩnh vực bauxite-nhôm. Chính vì sự mập mờ này đã làm cho nhiều người (ngay cả trong TKV và cả bản thân Đại tướng) không thể tin cậy vào những gì “Than và Khoáng sản Việt Nam nói”.

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn “MẬT” của Đảng ủy TKV gửi cho cá nhân tôi với nột dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bô-xít của TKV. Tôi rất bất bình về nội dung công văn này. TKV không những không tiếp thu ý kiến của tôi (trong khi TKV chưa có ý kiến nào để phản bác và dư luận rộng rãi đều đồng tình ủng hộ ý kiến của tôi”, nhưng Đảng ủy TKV lại có văn bản mang tính răn đe theo kiểu “cả vú lấp miệng em” như vậy là không thể chấp nhận được. Nhân đây, tôi xin chính thức báo cáo với Ban Bí thư cũng như VP TW Đảng về vấn đề này như sau:

- Từ trước khi thủ tướng phê duyệt quy hoạch bô-xít, tôi đã viết nhiều bài báo khoa học phân tích tính không khả thi của các dự án bauxite đăng trên các tạp chí của VN. Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007, tôi đuợc mời tham luận tại cuộc Hội thảo đầu tiên ở Đắk Nông (12/2007) đến nay, tôi (tuy đang hưởng lương do TKV trả) vẫn đã và đang chính thức phát biểu công khai, minh bạch ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một cán bộ KHKT phản đối việc triển khai các dự án bauxite trên Tây Nguyên.

- Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải đối các việc làm của TKV hay của Bộ Năng lượng (cũ). Những ý kiến phản đối của tôi trước đây được cho là “trái” với các quyết định của TKV, và của Bộ NL đến nay đều được thời gian chứng minh là hoàn toàn đúng đắn (như việc chấm thầu không đúng của dự án điện Na Dương, việc sửa đổi hồ sơ mời thầu có lợi cho nhà thầu trong các dự án điện, việc di chuyển nhà sàng Hòn Gai ra địa điểm Nam Cầu trắng, việc gia tăng qua mức sản lượng than của các mỏ để xuất khẩu cho TQ, v.v..)

- Cũng chính vì “trung ngôn thì nghịch nhĩ” tôi đã từng “được” TKV “xử lý” theo cách áp đặt cho luân chuyển công tác theo tiêu chí việc gì đang làm tốt thì không cho làm nữa, giao cho việc mới khó hơn, để nhường chỗ cho những “chung thần” chỉ biết làm theo.

- Bản thân tôi, là một cán bộ KHKT được Đảng và Nhà nước ưu tiên cho đi đào tạo nhiều lần ở nước ngoài, là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?.

- Tôi không cần phải được Đảng Ủy TKV nhắc nhở về việc tôn trọng pháp luật, trong khi TKV đã cố tình lợi dụng cơ quan ngôn luận của mình (Tạp chí Than-Khoáng sản VN) để công khai vi phạm Luật báo chí, tung tin sai sự thật, bôi nhọ danh dự của tập thể công ty do tôi phụ trách (đúng vào dịp tôi đang bận dự thảo về bauxite ở Đắk Nông)

8/ Về Hội thảo sắp tới do Chính Phủ sẽ tổ chức: (i) Tôi cho rằng cần được chuẩn bị kỹ và phải có đủ thời lượng cần thiết, tạo được tính công khai, dân chủ, tránh hình thức vội chụp mũ; (ii) Nội dung Hội thảo nên tập chung ưu tiên bàn kỹ về tính khả thi về kinh tế, đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ; và (iii) Để tiết kiệm thời lượng cho việc trao đổi đầy đủ có lẽ không nên mời các đối tác nước ngoài tham dự vì có nhiều vấn đề tế nhị và nhậy cảm.

Kinh nghiệm cho thấy tại hội thảo 10/2008 ở Đắk Nông vừa qua, các đối tác nước ngoài chỉ lợi dụng thời lượng của hội thảo để làm marketing và quảng bá cho bản thân họ. Còn trên thực tế họ làm như thế nào thì phía VN (Bộ Cơ khí luyện kim trước kia và TKV ngày nay) đã đi xem, thăm quan, khảo sát gần như khắp TG rồi. Nếu đã mời đối tác nước ngoài, cần mời đầy đủ cả các đối tác cũng đã từng khuyên chúng ta không nên làm ồ ạt như hiện nay (như nhà thầu của Pháp)

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn các đ/c đã cho phép tôi có dịp trình bầy ý kiến của mình. Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.

Kính thư,

TS. Nguyễn Thành Sơn

Nguồn: Đàn Chim Việt

 

 

Thế là xong! cờ Trung Quốc đã tung bay trên bầu trời Tây Nguyên

RFA

Việt Nam đã Bắt đầu Khai thác mỏ Bô xít

Mỏ bauxite đã được lên kế hoạch tại Việt Nam sẽ tạo ra công ăn việc làm, nhưng một số chuyên gia lo sợ về tác động tới môi trường của nó.

Ngày 17-3-2009

 

HÀ NỘI – Các giới chức Việt Nam xem ra đã có sẵn ý định để phát động một dự án khai thác bauxite gây nhiều tranh cãi tại vùng Cao nguyên Trung phần bất chấp những cảnh báo từ một số chuyên gia và vị Đại tướng anh hùng Võ Nguyên Giáp cho rằng dự án này có thể hủy hoại môi trường ở đây.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi kế hoạch khai thác bauxite là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước” và đã chấp thuận cho nhiều dự án khai thác mỏ có quy mô lớn tại Cao nguyên Trung phần.

Kế hoạch chính của chính phủ nầy kêu gọi các nguồn vốn đầu tư khoảng 15 tỉ đô la từ đây cho đến trước năm 2025 để khai thác những nguồn dự trữ bauxite dồi dào của Việt Nam, được ước tính là lớn vào hàng thứ ba trên thế giới.

Bauxite được xem như là thứ quặng nhôm quan trọng nhất và thường thường là mỏ lộ thiên.

Những bài báo gần đây nhất cho biết ông Dũng trước đó đã phê chuẩn một bản chỉ thị vào tháng 11 cho phép khai thác, chế biến, và sử dụng quặng bauxite trong vùng cao nguyên trồng cà phê đang ngày càng phát triển. (1)

Dự án này đã và đang gặp phải  nhiều sự phản đối từ các nhà khoa học và một số cư dân địa phương, những người nầy sợ rằng việc khai mỏ lộ thiên sẽ tàn phá hủy diệt những khu  rừng rộng lớn và những khu vực đang sản xuất trồng trọt và tạo ra những núi chất bùn thải độc hại.

Hầu hết cư dân ở đây cho biết họ mong khu mỏ sẽ cung cấp công ăn việc làm đang hết sức khan hiếm, trong lúc nền kinh tế của Việt Nam suy giảm một cách đột ngột vì hậu quả của cuộc suy thoái trên toàn cầu.

Tập đoàn Than và Khoáng sản Quốc gia Việt Nam do nhà nước quản lý đã và đang bắt đầu xây dựng một nhà máy aluminum và đang chuẩn bị cho những hoạt động khai thác lớn tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắc Nông.

Công ty Vinacomin đang có mục đích sản xuất từ 4,8 triệu đến 6,6 triệu tấn nhôm hàng năm từ bây giờ cho đến trước năm 2015, theo tin từ cơ quan truyền thông nhà nước cho hay.

Lo ngại và phản đối

“Giữa những người đang quan ngại về những dự án bauxite, tôi quan tâm tới các khía cạnh xã hội và văn hóa của Tây Nguyên,” ông Nguyên Ngọc, một nhà văn và là chuyên gia về miền nầy đã cho biết.

“Văn hóa của Tây nguyển có thể được gọi là một nền văn hóa núi rừng, với một mối gắn kết gần gủi giữa con người và thiên nhiên … Nếu như đất đai và rừng rậm của vùng Tây Nguyên mà biến mất, thì văn hóa của nó cũng sẽ bị hủy diệt, xã hội của Tây Nguyên sẽ bị mất ổn định, và những tộc người thiểu số nơi đây sẽ không còn tồn tại nữa.”

Tại Đắc Nông, ông nói, nơi quặng bauxite lớn nhất của Cao nguyên Trung phần, mỏ nầy “có một lớp quặng rất mỏng, vì thế quặng trải rộng ra trên mặt đất.”

“Để đào bô xít như đã được lên kế hoạch tại Đắc Nông, sẽ cần phải mất  hai phần ba diện tích của thành phố nầy,” ông nói.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc công ty Red River Energy Co., một công ty con của Vinacomin, đã cho biết rằng chất thải “bùn đỏ” được sinh ra bởi việc khai khoáng  chứa đựng 70% nước và 30% quặng, thứ mà ông nói là “rất nguy hiểm cho môi trường vì 70% trong số đó là hợp chất NaOH,” hoặc còn gọi là natri hydroxide [chất xút ăn mòn da].

Ông Trần Bình Chử, phó trưởng khoa địa chất thuộc trường Đại học Mỏ & Địa chất Hà Nội, cũng nêu lên những quan ngại.

“Việc Khó khăn là đổ chất thải đi đâu. Dù cho anh có giữ nó, thì cũng sẽ có một số tác động vì nó có thể thẩm thấu vào trong đất,” ông Chử phân tích.

Ông Nguyễn Lân Dũng, một giảng viên đại học và đại biểu Quốc hội, đã đề nghị có thêm thông tin và thảo luận về vấn đề này.

“Tôi biết qua báo chí rằng dự án nầy đã được chính phủ lên kế hoạch cẩn thận để tránh gây ô nhiễm,” ông Dũng nói. “Với tư cách cá nhân, tôi không có được đầy đủ thông tin để chắc chắn là kế hoạch ấy được đảm bảo an toàn — vào lúc này tôi hoàn toàn không được biết đầy đủ.”

Bức thư của ông Giáp

Vào tháng Một, người hùng thời chiến tranh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, 97 tuổi, đã gửi một bức thư ngõ tới ông Dũng đề nghị những kế hoạch khai thác bauxite phải được đình hoãn cho tới khi các chuyên gia quốc tế đã nghiên cứu được tác động tới môi trường của nó.

Ông Giáp, viết bức thư qua trang thông tin trực tuyến VietnamNet, cũng đã cho biết là ông lo ngại dự án này có thể gây tổn hại tới các dân tộc thiểu số trong vùng nầy.

Ông Giáp vẫn sử dụng uy tín về mặt tinh thần ở Việt Nam vì  lãnh đạo đánh thắng các lực lượng thực dân Pháp và Mỹ trong vai trò là nhà lãnh đạo quân sự và là người bạn thân thân tín với nhà lãnh đạo cách mạng đã quá cố Hồ Chí minh.

Ông đã trích dẫn những mối quan ngại trong số các nhà khoa học và các nhà hoạt động xã hội về “mối đe doạ nghiêm trọng tới môi trường tự nhiên và xã hội gây ra bởi những dự án khai thác bauxite.”

“Tuy nhiên, những dự án này vẫn được thực hiện,” ông cho biết thêm.

Ông nói rằng vào đầu những năm 1980 ông đã lãnh đạo một công trình nghiên cứu  liệu xem có thể khai thác bauxite tại khu vực này hay không, và các chuyên gia Liên Xô đã khuyên cáo phản đối dự án nầy bởi vì “mối nguy hiểm của sự huỷ hoại nghiêm trọng môi trường sinh thái.”

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

 
 

RFA

Vietnam Set To Open Mine

2009-03-17

A planned bauxite mine in Vietnam will provide jobs, but some experts fear its environmental impact.

HANOI—Vietnamese authorities appear set to launch a controversial bauxite mining project in the Central Highlands region despite warnings from some experts and war hero Gen. Vo Nguyen Giap that it could harm the environment.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state” and  approved several large-scale mining projects for the country’s Central Highlands.

The government’s master plan calls for investments of around U.S. $15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Bauxite is considered the most important aluminum ore and is generally strip-mined.

Earlier media reports said Dung had approved a directive in November allowing the mining, processing, and use of bauxite ore in the mountainous coffee-growing region.

The project has met with protests from scientists and some residents, who fear open-cut mining will destroy vast forest and crop areas and create mountains of toxic sludge.

Most residents say they expect the mine to provide badly needed jobs, as Vietnam’s economy slows sharply as a result of the worldwide slowdown.

State-run Vietnam National Coal and Mineral Industries Group (Vinacomin) has begun building an aluminum factory and is preparing for major mining operations in Lam Dong and Dac Nong provinces.

Vinacomin is aiming for annual aluminum production of 4.8 million to 6.6 million tons by 2015, state media have reported.

Fears and protests

“Among many concerns for the bauxite projects, I’m interested in the social and cultural aspects of the western highlands,” Nguyen Ngoc, a writer and expert on the region, said.

“Its culture could be called a forest culture, with a close attachment between humans and nature … If the land and forest base of the western highlands disappear, its culture will be broken, its society will be unstable, and these ethnic minorities will no longer exist.”

In Dac Nong, he said, with the most bauxite ore in the Central Highlands, the mine “has a very thin layer of ore, so they spread it out widely on the earth”

“To excavate bauxite as planned in Dac Nong, it will take two-thirds of the surface of the city,” he said.

Nguyen Thanh Son, director of Red River Energy Co., a Vinacomin subsidiary, said “red mud” waste generated by the mine contains 70 percent water and 30 percent ore, which he called “very dangerous to the environment because 70 percent of that is NaOH,” or sodium hydroxide.

Tran Binh Chu, deputy head of the geology department of Hanoi Mining and Geology University, also raised concerns.

“The problem is where to leave the waste. Even if you keep it, there will be some impact as it could penetrate into the soil,” Chu said.

Nguyen Lan Dung, an academic and deputy in the National Assembly, called for more information and discussion.

“I know from the media that the project was carefully planned by the government so as to avoid pollution,” Dung said. “Personally, I don’t have enough information to be sure it’s guaranteed safe—I just don’t know enough yet.”

Giap’s letter

In January, war hero Gen. Vo Nguyen Giap, 97, sent an open letter to Dung asking for the bauxite mining plans to be put on hold until international experts had studied the environmental impact.

Giap, writing for the online news site VietnamNet, also said he feared it could harm ethnic minorities in the region.

Giap still wields moral authority in Vietnam for leading the defeat of French colonial forces and Americans as military leader and confidant to late revolutionary leader Ho Chi Minh.

He cited concerns among scientists and activists about “the serious risk to the natural and social environment posed by bauxite exploitation projects.”

“However, these projects have still been implemented,” he added.

He said that in the early 1980s he had overseen a study on whether to mine for bauxite in the region, and that Soviet experts had advised against the project because of the “risk of serious ecological damage.”

Original reporting by An Nguyen, Thien Giao, and Thanh Quang. Additional reporting by Agence France-Presse. Vietnamese service director: Diem Nguyen. Executive producer: Susan Lavery. Written in English by Sarah Jackson-Han.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

Khai thác bauxite có hại vĩnh viễn hơn là có lợi cho VN

Posted by adminbasam on 17/03/2009

ASIA TIME

Kế hoạch bauxite của Việt Nam mở ra một bể quan ngại

Duy Hoàng

Ngày 17-3-2009

Một trong những vùng cây cối xanh tươi nhất trên đất nước Việt Nam phải đối diện với sự thiệt hại khốc liệt về sinh thái nếu như chính phủ nước này tiến tới những kế hoạch trị giá hàng tỉ đô la để khai thác và chế biến bô- xít (bauxite quặng nhôm).

Mối nguy hiểm mà người ta tiên đoán trước đã châm ngòi cho sự phản đối công khai hiếm có trong xã hội bị chính phủ kiểm soát, với các công dân, các nhà khoa học, phương tiện truyền thông, các blogger và thậm chí cả các sĩ quan quân đội đang đưa ra những ý kiến phản đối mạnh mẽ.

Mặc dù không được phối hợp một cách hiển nhiên, quan điểm bất đồng chung của họ là một phần của hoạt động môi trường ở Việt Nam đang bắt đầu nảy nở, đáng chú ý với việc thách thức uy quyền không bị tranh cãi theo truyền thống của nhà nước trong việc thi hành những dự án phát triển kinh tế có quy mô lớn.

Trong những tháng gần đây, một số nhà khoa học trong nước đã viết những bài báo có nghiên cứu kỹ lưỡng, một số đã được công bố trên phương tiện truyền thông bị nhà nước kiểm soát, phơi bày những yếu kém trong các kế hoạch khai thác hầm mỏ của chính phủ. Một trang thông tin trong nước bị nhà nước kiểm soát, trang vietnamweek.net, đã đưa lên trang đầu ý kiến khảo sát vấn đề này, trong khi các blogger đã cung cấp thậm chí còn nhiều hơn nữa những bài phân tích phản đối .

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gọi việc khai thác bauxite này là “một chính sách lớn của đảng và nhà nước”, và ông đã chấp thuận vài dự án khai thác lớn trên vùng cao nguyên trung phần. Kế hoạch tổng thể của chính phủ kêu gọi những nguồn vốn đầu tư vào khoảng 15 tỉ đô la cho tới năm 2025 để khai thác những nguồn dự trữ bauxite dồi dào của Việt Nam, ước tính lớn thứ ba trên thế giới.

Trong thập kỷ qua, sự trỗi dậy của Việt Nam như là một nước xuất khẩu nông sản bắt đầu phần lớn từ việc trồng cà phê và các vụ mùa thu hoạch nông sản khác trong vùng cao nguyên phì nhiêu ở miền trung. Đó là một vùng có vẻ đẹp tuyệt vời với tiềm năng du lịch-kinh tế dồi dào. Vì vậy nhiều người Việt Nam đang có nghi vấn về cơ sở kinh tế hợp lý và sự suy xét đúng đắn đối với môi trường trong việc chuyển đổi những gì được coi là một vùng kinh tế đã mang lại hiệu quả trở thành một hầm mỏ lộ thiên sâu hoắm.

Bauxite được biến đổi thông qua một quá trình chuyển hóa độc hại thành chất alumina, nguyên liệu thô dùng cho việc chế biến nhôm. Được biết đến bởi các nhà khoa học về môi trường như là “chất bùn đỏ,” một sản phẩm phế thải, nếu như không được quản lý một cách đúng đắn, bùn đỏ ấy có thể gây ô nhiễm các nguồn cung cấp nước và giết chết toàn bộ cây cối thực vật. Cứ mỗi tấn alumina được sản xuất ra, sẽ có ba tấn bùn đỏ được sinh ra, theo phân tích của các chuyên gia quốc tế.

Nước Úc, một nhà sản xuất nhôm hàng đầu thế giới, đang xử lý vấn nạn nầy qua việc thải loại bùn đỏ ở nước họ vào  những vùng xa xôi hẻo lánh ít có mưa, như vậy sẽ làm giảm nhẹ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước. Ở Việt Nam, nơi có một khí hậu rất ẩm ướt và đông dân cư, không có điều kiện thừa mứa xa xỉ của những vùng đất rộng lớn không sử dụng đến (nên không thể làm như Úc được).

Việt Nam cũng không được mọi người thừa nhận về chuyên môn trong việc quản lý nguồn rác thải công nghiệp đầy nguy hiểm. Phong trào bảo vệ môi trường đang nổi lên ở Việt Nam lo ngại rằng chất cặn bã độc hại từ việc xử lý bô-xít có thể sẽ rỉ xuống các sông ngòi, chảy vào những vùng đông đúc dân cư, bao gồm Châu thổ sông Mekong ở phía nam nước này.

Để có thể sống còn về phương diện thương mại, việc chế biến bô xít (quặng nhôm) luôn luôn đòi hỏi điều kiện giá điện rẻ. Bởi vì Việt Nam đang đối diện với tình trạng thiếu thốn điện năng ngày càng gia tăng, ý nghĩa kinh tế trong việc khai thác bauxite và nguồn xuất khẩu với lợi nhuận thấp của nó là đáng nghi ngại và sẽ có khả năng phải đòi hỏi những khoản trợ cấp lớn của nhà nước chỉ để bù đắp cho những chi phí này.

Chính phủ đã loan báo những kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt dài 250 km ra tới bờ biển Thái Bình Dương dành riêng cho việc vận chuyển nhôm (alumina) được chế biến. Ở đó có một bến cảng lúc này vẫn chưa được xây dựng sẽ được thiết lập chỉ để dành riêng cho những dự án khai thác bauxite.


Raw Bauxite, Alumina, Cement Grade

Hình của bô xít alumina dùng để làm ra xi măng. Alumina là một aluminum oxide (Al2O3). Từ loại vật liệu alumina ròng nầy, người ta chế ra nhôm và xi măng. gạch làm bằng nhôm, keo nhôm, vỏ của các chiến hạm, hàng không mẫu hạm, máy bay,

Những kế hoạch đó cũng đã nhấn mạnh thêm những mối quan ngại về môi trường rằng các kế hoạch xuất khẩu alumina của chính phủ thể hiện là một mưu đồ kém cỏi sinh ra và được lên kế hoạch một cách đơn giản nhằm mục đích dành quyền lợi cho nền công nghiệp hóa quốc doanh do nhà nước làm chủ đạo.

Những người chỉ trích khác đã đặt nghi vấn rằng liệu có phải những quan chức thân cận với Thủ tướng Dũng và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có những cổ phần được chia chác riêng trong những mối liên doanh quá tốn kém này hay không.

Yếu tố Trung Quốc

Ngoài ra cũng có một yếu tố quan trọng mang tính chiến lược nhạy cảm đối với những liên doanh này. Mối quan tâm và hợp tác của Trung Quốc trong ngành công nghiệp bauxite của Việt Nam đã được thiết lập thông qua một bản tuyên bố chung được công bố sau một cuộc họp vào cuối tháng Sáu [năm 2008] giữa tổng bí thư Đảng Cộng sản [Việt Nam] và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Trong những thỏa thuận tiếp theo sau đó giữa Liên Hiệp các xí nghiệp Nhôm Trung Quốc và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, sự việc đã trở nên rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ là thị trường chủ yếu cho các sản phẩm xuất khẩu alumina của Việt Nam.

Như một phần trong các kế hoạch sắp xếp đó, hàng ngàn công nhân Trung Quốc đang được trú đóng vĩnh viễn tại Việt Nam để trợ giúp cho quá trình sản xuất, theo các giới chức địa phương Việt Nam cho biết.

Theo một chuyến hành trình tìm hiểu thực tế gần đây tới tỉnh Lâm Đồng được tổ chức bởi đảng Việt Tân thiên về ủng hộ nền dân chủ, các công nhân Trung Quốc đang xuất hiện với số lượng ngày càng đông đảo trên vùng đất cao nguyên trung phần.

Các bức ảnh có được bởi Việt Tân cho thấy những dãy nhà cửa mới được xây dựng giành cho công nhân Trung Quốc và những quán ăn bên đường với những biển hiệu viết bằng chữ Trung Quốc.

Các blogger Việt Nam, với nhiều lời phê phán sự xâm lấn của Trung Quốc vào các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và những am hiểu rằng Bắc Kinh đã ép buộc Hà Nội chấp nhận một hiệp định biên giới không công bằng trong năm nay, đã đặt nghi vấn vì sao lại cần đến các công -nhân- khách người Trung Quốc như vậy trong một đất nước với một số lượng người lao động dư thừa và tình trạng thất nghiệp của công nhân ngày càng gia tăng.

Các blogger cũng đã diễn tả những mối quan ngại rằng lực lượng quân sự giả trang thành công nhân và những gián điệp Trung Quốc lén lút có thể đã trà trộn vào số công nhân TQ làm việc ở đây. Trong một bức thư ngỏ vào tháng Một gửi tới bộ chính trị đảng cộng sản, ông Võ Nguyên Giáp, nhà lãnh đạo quân sự cộng sản nổi tiếng và gần đây thường có những phê phán chính phủ, đã lên tiếng báo động về mối đe doạ chiến lược tiềm tàng từ các công nhân Trung Quốc không được kiểm soát này.

Tướng Giáp 97 tuổi nhắc đến vùng cao nguyên trung phần như là cửa ngõ chiến lược vào Việt Nam, nơi mà những cuộc chiến tranh trước đây đã giành được thắng lợi và bị mất đi qua việc giành quyền kiểm soát đối với vùng cao nguyên của khu vực nầy.

Một tháng sau lời cảnh báo của tướng Giáp, bức thư nầy được duy nhất một tờ báo tại Việt Nam bằng lòng đăng tải, một vị tướng hồi hưu thứ hai đã đưa ra một bức thư tương tự kêu gọi ban lãnh đạo đảng hãy xem xét lại việc cho phép một sự hiện diện vĩnh viễn của người Trung Quốc ở miền trung bộ của đất nước này.

Hầu hết người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống trên vùng núi cao miền trung và họ là những người dân có vẻ phù hợp với việc chịu đựng trước gánh nặng chủ yếu của môi trường trong kế hoạch khai thác bauxite của chính phủ. Họ có nguy cơ phải gánh chịu rủi ro mất hết đất đai của mình với chút ít hoặc không có được khoản bồi thường và bị ảnh hưởng bởi rác thải công nghiệp tràn lan không được quản lý sau đó.

Cũng không có gì rõ ràng rằng các công ăn việc làm được sinh ra qua hoạt động khai thác bauxite, thậm chí nếu như các việc làm nầy được giành cho người Việt trong nước hơn là các công nhân Trung Quốc được đưa tới, sẽ đủ để thay thế cho những người bị mất việc làm vì bị bắt buộc loại bỏ những cánh đồng cà phê, chè và hạt điều đang tồn tại trước đó.

Chính từ những kế hoạch được thai nghén vội vã này của chính phủ mà các hoạt động môi trường của Việt Nam và những lời kêu gọi cho sự phát triển lâu dài có khả năng ít ảnh hưởng đến môi trường đang được mọi người nghe thấy.

Ông Duy Hoàng là một nhà lãnh đạo của Việt Tân đóng tại Mỹ, một đảng chính trị ủng hộ dân chủ hoạt động tại Việt Nam nhưng không được thừa nhận.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

*Các bài đọc thêm:

Tập Trung Tất cả các bài và hình ảnh về việc Trung Quốc khai thác bô- xít ở Bảo Lâm, Lâm Đồng, và Đắc Nông của các bloggers để bạn đọc tham khảo.

Vì mục đích tìm hiểu và tham khảo, bạn nào phát hiện những bài viết, hình ảnh về chủ đề bô-xít thì báo tin cho biết nhé. Thanks.

1./ Đông A Thị; SOS Bảo Lâm  (dân chúng địa phương cho biết con em của họ là sinh viên VN, đã được TQ cho học bổng đi du học tiếng Trung ở  TQ từ năm 2005, nay trở về làm cho bô-xit; kèm 9 Hình ảnh công nhân TQ, nhà cửa, hiệu ăn tiếng  TQ)

http://au.blog.360.yahoo.com/blog-Lc2MB8YlaaeYVcyDEREjwVU-?cq=1&p=2325

2./ GTC ; Bô xít Tây Nguyên, 1 dự án không thể dừng ! (2 hình ảnh về sự thay đổi môi trường trước và sau khi khai thác bô-xít; toàn bộ cây cối biến mất; quang cảnh rất kinh hoàng)

http://blog.360.yahoo.com/blog-STaS.dwjfqf6NQiqloFynoRgBuJV0Shbmw–?cq=1&p=50#comments

3./Thiện Giao; Vụ bô-xít: Ai đã quyết định, và ai sẽ phủ quyết?

http://banconong.com/index.php?view=story&subjectid=2032

4./ X- cafe; Dự án “Dội bom nguyên tử” xuống Tây Nguyên! (4 nhân vật VN và TQ liên quan trong vụ Bô-xít. Bài tóm tắt vì sao các nước khai thác chạy qua khai thác bô xít ở VN: vì môi trường bị hủy hoại, nước uống bị ô nhiễm, sinh vật và thực vật biến mất )

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=289345

 

ASIA TIMES

Vietnam bauxite plan opens pit of concern 

By Duy Hoang

Mar 17, 2009

One of Vietnam’s most verdant regions faces severe ecological damage if the government moves ahead with its multi-billion dollar plans to mine and process bauxite. The perceived risk has sparked a rare public outcry in Vietnam’s government-controlled society, with residents, scientists, state media, bloggers and even military officers lodging vocal protests.

Though apparently not coordinated, their collective dissent is part of a budding Vietnamese environmental movement, notable for challenging the state’s traditionally unquestioned authority in implementing large-scale economic development projects.

In recent months, a number of local scientists have written thoroughly researched articles, some published in state-controlled media, exposing weaknesses in the government’s mining plans. A state-sanctioned domestic news site, vietnamweek.net, has been at the forefront of probing the issue, while bloggers have provided even more critical analysis.

Prime Minister Nguyen Tan Dung has called bauxite exploitation “a major policy of the party and the state”, and he has approved several big mining projects for the country’s central highlands. The government’s master plan calls for investments of around US$15 billion by 2025 to tap Vietnam’s rich bauxite reserves, estimated to be the third-largest in the world.

Over the past decade, Vietnam’s rise as an agricultural exporter has come in large part from increased cultivation of coffee and other cash crops in the central highland’s fertile plateau. It is an area of stunning beauty with rich eco-tourism potential. Thus many Vietnamese question the economic rationale and environmental wisdom of converting what is already an economically productive area into an open pit mine.

Bauxite is converted through a toxic process to alumina, the raw material for making aluminum. Known by environmentalists as “red sludge”, the waste product, if not properly managed, can contaminate water supplies and choke off vegetation. For every ton of alumina produced, three tons of red sludge is given off, according to international experts.

Australia, a world leader in aluminum production, addresses the problem by disposing of its red sludge in remote outback areas with little rainfall, thus mitigating the risk of waterway contamination. Vietnam, which has a comparatively wet climate and is densely populated, does not have the luxury of vast tracts of unused land.

Nor is the country recognized for its expertise in managing hazardous industrial waste. Vietnam’s emerging environmental movement fears the toxic residue from processing bauxite could run off into rivers that flow into heavily populated areas, including the Mekong Delta in the country’s southern region.

To be commercially viable, bauxite processing usually requires access to cheap electricity. Because Vietnam faces mounting power shortages, the economics of bauxite mining and its low-margin exports are in doubt and will likely require heavy state subsidies just to cover costs.

The government has already announced plans to build a dedicated rail line to transport the produced alumina 250 kilometers to the Pacific coast. There a yet-to-be-built port will be installed to serve exclusively the bauxite projects.

Those plans, too, have underscored environmental concerns that the government’s alumina export plans are an ill-begotten scheme devised simply for the sake of state-led industrialization. Other critics have questioned whether officials close to Prime Minister Dung and Deputy Prime Minister Hoang Trung Hai have personal stakes in the big-ticket ventures.

China factor
There is also a touchy strategic dimension to the ventures. Chinese interest and cooperation in Vietnam’s bauxite industry was established through a joint statement issued after a meeting last June between Communist Party secretary general Nong Duc Manh and China’s President Hu Jintao. In subsequent agreements between the Aluminum Corporation of China Ltd and state-owned Vietnam Coal and Mining Industry Group, it has become clear that China will be the primary market for Vietnamese alumina exports.

As part of those arrangements, thousands of Chinese workers are to be stationed permanently in Vietnam to assist in the production, according to local Vietnamese authorities. According to a recent fact-finding trip in Lam Dong province organized by the pro-democracy Viet Tan party, Chinese guest workers are appearing in growing numbers in the central highlands. Pictures obtained by Viet Tan show rows of newly constructed housing for Chinese workers and roadside restaurants with signs in the Chinese language.

Vietnamese bloggers, many critical of China’s encroachment on the Paracel and Spratly Islands and perceptions that Beijing bullied Hanoi into accepting an inequitable border treaty this year, have questioned why Chinese guest workers are required in a country with a labor surplus and growing unemployment.

Bloggers have also expressed concerns that undercover Chinese military and intelligence agents could mix in with the workers. Vo Nguyen Giap, the famed communist military leader and later sometimes government critic, sounded the same alarm about the potential strategic threat of unregulated Chinese workers in an open letter in January to communist party’s politburo.

The 97-year-old Giap referred to the central highlands as the strategic gateway to Vietnam, where previous wars have been won and lost through gaining control of the region’s high ground. A month after Giap’s warning, which only one newspaper in Vietnam was willing to publish, a second retired general issued a similar letter calling on the party leadership to reconsider allowing a permanent Chinese presence in the middle of the country.

Most of Vietnam’s ethnic minorities live in the central highlands and they are the people likely to bear the environmental brunt of the government’s bauxite scheme. They risk losing their lands with little or no compensation and subsequent exposure to mismanaged industrial waste.

Nor is it clear that the jobs created by bauxite production, even if they went to local Vietnamese rather than imported Chinese workers, would be enough to replace those lost with the forced elimination of pre-existing coffee, tea and cashew fields. It’s from these ill-conceived government plans that Vietnam’s grassroots environmental movement and calls for more sustainable development are being heard.

Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, an unsanctioned pro-democracy political party active in Vietnam. 

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ Việt-Trung | Leave a Comment »

Khi chính trị được xem là quan trọng hơn những quyết định đầu tư

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Thông Tấn Xã Reuters

Khi chính trị  được xem là quan trọng

hơn những quyết định đầu tư

John Ruwitch

15-3-2009

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.
Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Chính trị, Kinh tế Việt Nam | Tagged: , | Leave a Comment »

Đầu Tư ở Dung Quất : Lỗ 120 triệu đô mỗi năm

Posted by adminbasam on 15/03/2009

Lời Tựa: Theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế trong nước, mỗi năm Dung Quất sẽ bị lỗ khoảng 100- 150 triệu đô la vì đầu tư vào DQ không kiếm đủ tiền để trả lại tiền mượn nợ xây nhà máy lọc dầu. Bên cạnh đó, sản phẩm lọc dầu của Dung Quất sản xuất ra sẽ còn cao hơn giá sản phẩm mua của  Singapore vì dầu sản xuất ngoài khơi chở đến DQ mất 700-800 km, lọc xong thì lên tàu và chở vào Sài Gòn mất 700-800 km. Nếu dầu thô chuyển tới lọc ở Singapora và chở lại Sài gòn thì quãng đường gần hơn, không bị ô nhiễm môi trường ở Quãng  Ngãi, không bị ô nhiễm nước mặn làm ảnh hưởng kỹ nghệ 12 tỉ đô la xuất khẩu cá tôm hải sản.

******************************

Khi Chính Trị Được Xem là Quan Trọng Hơn Những Quyết định Đầu Tư

John Ruwitch

Thông Tấn Xã Reuters

DUNG QUẤT, Việt Nam – Xưởng lọc dầu 3 tỷ đô-la ở Dung Quất, dự án đầu tư lớn nhất của Việt Nam đến nay, là nguồn của rất nhiều điều đối với người mẹ trẻ Trần Thị Yến.

Dự án này đã mang lại nhiều con đường mới dẫn đến đến bờ biển đầy cát, nơi chị Yến, 25 tuổi, sống trong một cuộc khu vực cô lập ở miền Trung Việt Nam.

Dự án nầy cũng đã thu hút được một đội ngũ công nhân từ xa, trong đó có một người, mà chị Yến, một phụ nữ nhỏ bé có nụ cười thân thiện, đã lấy làm chồng. Và một loạt các công trình xây dựng trên xưởng lọc dầu chính thức mở cửa vào tuần trước cũng giúp cho chị Yến một cơ hội kinh doanh tốt để hốt bạc. Năm ngoái, chị đã dựng quán karaoke ở lề đường và đã thu được lợi nhuận.

“Ở đây trước kia chỉ có cát,” chị Yến nói, khi đang bồng đứa bé bụ bẩm bảy tháng tuổi.

Chính phủ Việt Nam có thể xem các trường hợp giống như của chị Yến như là một bằng chứng về quyết định của họ xây dựng xưởng lọc dầu ở đây là sáng suốt, là mang lại cơ hội phát triển kinh tế đến một trong những vùng nghèo nhất của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế và các nhà phân tích chính trị đã chỉ trích dự án lọc dầu này, và đây có lẽ là một ví dụ rõ rệt nhất trong số tất cả các ví dụ về việc chính trị đã can thiệp và xen vào việc đưa ra các quyết định kinh tế tại Việt Nam ra làm sao.

Xưởng lọc dầu Dung Quất, mất 15 năm để xây dựng, đã bị các nhà đầu tư nước ngoài tránh xa vì ( họ cho rằng xưởng nầy) không thể nào có lời về mặt kinh tế bởi vì vị trí của xưởng nằm trong một khu vực cô lập, ở xa các nguồn dự trữ dầu. Cuối cùng, công ty quốc doanh dầu hỏa độc quyền, Petro Vietnam, đã buộc phải một mình bỏ vốn đầu tư.

Jonathan Pincus, Khoa trưởng Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright của Thành phố Hồ Chí Minh nhận xét, “Điều đó chứng tỏ rằng việc đầu tư vào lãnh vực quốc doanh của nhà nước không nhạy bén với những cân nhắc kinh tế.”

Kể từ khi chương trình “Đổi mới” bắt đầu vào năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tự rút lui một cách chậm chạp ra khỏi sự kiểm soát trực tiếp hoạt động kinh tế. Hàng ngàn doanh nghiệp làm chủ bởi nhà nước đã và đang được “cổ phần hoá”, một chữ thay thế cho chữ “tư hữu hoá”.

(Thực tế trong hơn 20 năm đổi mới ở VN, chỉ có 3% các nhà máy chuyển từ quốc doanh ra cổ phần hay liên doanh giữa tư nhân và nhà nước – theo báo cáo năm 2008 của một nhà kinh tế VN trên tờ báo mạng VNN của chính phủ  VN- Người dịch)

Chính trị có thể vẫn có ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án đầu tư ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào khu vực kinh tế, Melanie Beresford, phó giáo sư tại trường Đại học Macquarie tại Úc nói.

“Họ có một quan điểm chiến lược về các ngành công nghiệp, những ngành nào là chủ yếu dành cho sư phát triển đất nước. Năng lượng rõ ràng là một trong những ngành công nghiệp loại này … cũng như một số trong những ngành công nghiệp cơ bản khác,” bà Beresford cho biết.

Con đường mới được đặt tên là đường Võ Văn Kiệt, lấy tên của vị thủ tướng quá cố, là một dải đất đầy bụi trải dài 23 km chạy xuyên qua trung tâm của khu vực kinh tế của xưởng lọc dầu Dung Quất đến khu vực bến cảng.

Ông Kiệt, Thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, đang được ghi công là có quyết định để xây dựng xưởng lọc dầu 140 ngàn thùng dầu mỗi ngày trên bờ biển Quảng Ngãi và ông ta đang được dân chúng ở đây tôn kính.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã rút ra khi nhà nước Việt Nam quyết định xây dựng xưởng lọc dầu tại tỉnh Quảng Ngãi bởi vì xưởng quá xa khu cung cấp dầu thô và người tiêu dùng.

Năm 1995, công ty Total SA của Pháp đã rút khỏi kế hoạch liên doanh để xây dựng xưởng lọc dầu với PetroVietnam tại đây. Sau đó, vào năm 2002, hãng dầu quốc doanh Nga Zarubezhneft, cũng đã rút đi bởi vì các bất đồng về địa điểm xa xôi của xưởng lọc dầu nầy và các đề tài kỹ thuật.

Tuy vậy, Lê Văn Dũng, Phó Chủ tịch của Khu kinh tế Dung Quất, trông coi một vùng đất gần như gấp hai lần kích thước của khu Manhattan (ở New York) là nơi đặt xưởng lọc dầu và các dự án khác, đã gọi ông Kiệt là một người có “tầm nhìn chiến lược rất vĩ đại”.

“Đó không chỉ là trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, mà còn là của chính phủ để phát triển miền Trung, nơi đã mất hàng triệu người trong chiến tranh nhưng bây giờ thì đang tụt hậu, nói theo nghĩa phát triển kinh tế,” ông Dũng nói. “Thay vì trao cho một con cá, chính phủ nên cho họ một cần câu.”

Ông Dũng đã cho biết thuế doanh thu trong quận đã và đang tăng lên và GDP bình quân mỗi đầu người đã nhảy từ khoảng 400 đô-la trong năm 2006 đến 700 đô-la trong năm 2008.

Một số quan sát viên vẫn tiếp tục rất nghi ngờ.

“Thả một dự án với vốn đầu tư rất lớn, mà dự án ấy có ít mối liên kết với nền kinh tế địa phương, vào một tỉnh nghèo thì tác động của nó lên địa phương ở mức tối thiểu,” một chuyên gia về kinh tế Việt Nam đã phát biểu như thế, người nầy từ chối cho biết tên vì lo ngại các hậu quả xảy ra vì đưa ra các ý kiến đối nghịch lại với đường lối của đảng.
“Trong khi đó, khoảng cách đến khu trữ dầu quá lớn đến nổi mức lãi của xưởng lọc dầu chắc chắn là có khả năng là âm (lỗ). Kết quả cuối cùng là gì? Trả tiền quá nhiều cho một dự án thất bại về mặt tiền bạc và dự án đó không tạo được công ăn việc làm.”

Mặc dù dự án nầy mang lại một số lợi lộc tức thì cho một số dân trong khu vực nầy, chảng hạn như chị Yến, một người chủ tiệm Karaoke, nhưng những người dân địa phương có những than phiền khác.

Tổng số 7000 căn nhà sẽ phải di chuyển đi nơi khác trước năm 2015 để dành chỗ cho khu vực kinh tế nầy và các kề hoạch đầu tư công nghệ mới.

Bà Phạm Thị Sách, 59, người sống bên cạnh đường Võ Văn Kiệt, đang lo lắng về các tương lai mờ mịt.

“Ở đây chúng tôi có thể kiếm được vài trăm nghìn đồng mỗi ngày bằng cách đi chợ mỗi buổi sáng để bán hải sản, nhưng nếu chúng tôi di chuyển đến một địa điểm mới, chúng tôi sẽ không biết phải làm gì đây,” bà Sách cho biết.

Môi trường cũng là một chuyện đáng quan tâm nữa, đặc biệt là đối với một số ngư dân đánh cá nhỏ như Bùi Quang Tiên.

“Những tiếng ồn từ xưởng lọc dầu làm cá bỏ chạy, vì thế việc đánh bắt của tôi càng ít ỏi hơn,” ông nói. “Trong quá khứ tôi không cần phải mua xăng để đi đánh cá, tôi chỉ cần chèo, nhưng bây giờ tôi phải đi ra biển xa hơn. Do đó, việc đánh cá tốn kém nhiều hơn nữa.”

Nhiều người, nếu không phải là hầu hết, các công nhân tại nhà máy sẽ đến từ các tỉnh bên ngoài vì các cư dân địa phương thiếu khả năng kỹ thuật, mặc dù một số nhà máy khác sẽ được xây dựng trong khu kinh tế có thể có khả năng cung cấp việc làm khác cho dân cư địa phương.

Một số bài học đã được rút ra từ kinh nghiệm lâu dài và đau khổ ở Dung Quất, ngay cả khi đường lối của Đảng đã và đang phát ra đều đặn lời ca tụng công trình này của họ.

(Điều đáng ngạc nhiên là đảng và nhà nước đang phát triển thêm 2 nhà máy lọc dầu khác mặc dù có sự lỗ lã trong suốt 15 năm qua (ở Dung Quất) và sẽ còn lỗ lã mỗi năm ít nhất là 150-200 triệu đô la trong hàng chục năm tiếp theo mà ai ai cũng nhìn thấy được từ nhà máy lọc dầu Dung Quất [1].– người dịch)

Hai xưởng lọc dầu kế tiếp của Việt Nam, các xưởng nầy sẽ lớn hơn, đang lên kế hoạch xây dựng ở địa điểm nhiều thuận lợi hơn ở Nghi Sơn, phía nam Hà Nội, và ở Long Sơn, gần trung tâm thương mại của thành phố Hồ Chí Minh.

Thêm vào đó, các đối tác nước ngoài trong dự án Nghi Sơn, địa điểm ít được chuộng hơn Long Sơn, đang được cho phép tham gia vào hệ thống phân phối các sản phẩm từ việc lọc dầu, đây là các thương vụ mà Total SA và Zarubezhneft đã bị từ chối trước đây, và thương vụ nầy có thể đã khiến dự án Dung Quất có khả năng là món dễ ăn hơn (nhưng không phải là món ăn đặc biệt.)

Người Dịch: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

[1] Dung Quất có khả năng lọc 65 triệu tấn dầu mỗi năm.
Đáp ứng được chừng 33% nhu cầu dùng trong nước.
Chi phí xây từ năm 1993 mượn  là 1,5 tỉ Mỹ Kim.
Hoàn thành năm 2008 và tổng chi phí lên gần 3,2 tỉ đô la.
*Nếu tính công lọc 1 tấn dầu là 11 Mỹ Kim  (lấy giá của Singapore), thì tổng số tiền lọc được 1 năm là:
6.5 triệu tấn x  $11/ tấn = 71,5 triệu đô la mỗi năm.
_Mượn 1.5 tỉ đô la, với lãi suất 6-8%, trong thời gian 30 năm, thì tiền lời VN phải trả cho ngoại quốc trong 15 năm qua là gần 1,3 tỉ đô la (90 triệu đô/ 1 năm x 15 năm).
_Nhà máy Dung Quất đi vào sản xuất đầu năm 2009. Lấy  tiền kiếm được qua việc lọc dầu TRỪ tiền trả lãi hàng năm cho việc mượn tiền xây dựng nhà máy = số tiền mà nhà máy Dung Quất thu được
Vì sau khi khởi công xây dựng từ 1993, nhưng không hoàn thành như tiến độ xây dựng là 5-7 năm,  khoảng thời gian gần đây VN phải mượn thêm 1,7 tỉ để hoàn tất công trình, nên món nợ thật sự xây Dung Quất là 3,2 tỉ đô la.
Năm 2009, tiền lời 1 năm phải trà cho việc vay mượn 3,2 tỉ đô la nầy là 3,2 tỉ đô x 6% = 192 triệu đô la/1 năm.
Tiền lời của nhà máy lọc dầu Dung Quất hàng năm là
71.5 triệu (tiền lời do lọc dầu) – 192 triệu (tiền phải trả lãi do vay mượn) = -120 triệu đô la
 

Tóm lại, nhà máy Dung Quất sẽ lỗ hàng năm là 120 triệu đô la. (chưa nhắc tới số tiền lãi phải trả lại cho ngoại quốc từ 1993-2008 là 1,3 tỉ đô la)

Nhiều nhà kinh tế tính rằng, số tiền lỗ thực sự lên đến hơn

250 triệu Mỹ kim hàng năm.

Giá xăng dầu:  theo các nhân viên cao cấp ngành dầu khí VN cho biết, thì giá xăng dầu của VN  trong nhiều năm sắp tới đây cũng sẽ vẫn cao hơn giá xăng dầu ở nước ngoài, và giá xăng dầu ở TQ cũng sẽ cao hơn giá mua xăng dầu phải nhập cảng ở  các nước ngoài, vì giá lọc dầu $11 / 1 tấn là giá lọc của  Singapore. Vì chính phủ có thể điều chỉnh giá lọc dầu ở Dung Quất phải cao hơn giá tiền  $11/ 1 tấn thì DungQuất mới bớt bị lỗ lã.

Nói một cách khác là toàn dân VN hiện nay phải mua xăng dầu giá cao hơn gia xăng dầu được nhập cảng của các nước ngoài và sẽ cao gấp rưỡi (1,5 lần) giá xăng nhập, và  dân chúng VN phải gánh hết lỗ lã do chính sách đầu tư sai lầm của nhà nước ở Dung Quất.

Trong suốt 5 năm qua, mỗi năm VN khai thác được trung bình từ 17 triệu tấn đến 21 triệu tấn đầu (2003-2008), và con số nầy đang giảm dần vì giếng dầu Bạch Hổ đã bắt đầu cạn do đã khai thác gần 20 năm qua.

Nếu VN không tìm được mỏ dầu, thì Dung Quất sẽ không có đủ dầu để lọc. Tuy vậy, nhà nước đã mượn tiền ngoại quốc để đầu tư xây dựng thêm 2 nhà máy lọc dầu nữa ở gần Hà Nội. Quan điểm của nhà nước là “có làm, là có ăn”

 

When politics weigh on investment decisions

JOHN RUWITCH

REUTERS

February 28, 2009 at 9:48 PM EST

DUNG QUAT, Vietnam — The $3-billion (U.S.) Dung Quat oil refinery, Vietnam’s biggest investment project to date, has been the source of many things for young mother Tran Thi Yen.

It has brought new roads to the sandy shoreline where Ms. Yen, 25, lives in an isolated region of central Vietnam. It has also attracted an army of workers from afar, including one who Ms. Yen, a petite woman with a warm smile, married.

And the flurry of construction on the refinery that officially opened last week also handed Ms. Yen a business opportunity on a silver platter. Last year, she built a roadside karaoke parlour that is already turning a profit.

“The only thing here before was sand,” she said holding her chubby seven-month-old baby.

The Vietnamese government may view cases like Ms. Yen’s as proof its decision to build the refinery here was visionary, bringing economic opportunity to one of Vietnam’s poorest regions.

But economists and political analysts have criticized the refinery project as, perhaps, the mother of all examples of how politics interferes with economic decision making in Vietnam.

The refinery, which took 15 years to build, was shunned by overseas investors as economically unviable due to its location in an isolated area, far from oil reserves. In the end, state oil monopoly Petrovietnam was forced to go it alone.

“It demonstrates that investment in the state sector is not very sensitive to economic considerations,” said Jonathan Pincus, dean of Ho Chi Minh City’s Fulbright Economics Teaching Program.

Since “doi moi” reforms started in 1986, Vietnam’s ruling Communist Party has been slowly extricating itself from direct control over economic activity. Thousands of state-owned companies have been “equitized,” a euphemism for privatized.

Still, politics can have a direct influence on investment projects to varying degrees depending on the sector, said Melanie Beresford, an associate professor at Macquarie University in Australia.

“They have a strategic view of industries that are essential for national development. Energy is obviously one of these … as are some of the other basic industries,” Ms. Beresford said.

The newly named Vo Van Kiet Street, after the late Prime Minister Vo Van Kiet, is a dusty strip of tarmac that stretches 23 km through the heart of the Dung Quat refinery’s economic zone to its port.

Mr. Kiet, prime minister from 1991 to 1997, is credited with the decision to build the 140,000-barrels per day refinery on the Quang Ngai coast and he is revered here.

Foreign investors pulled out over the decision to build in Quang Ngai because it was far from crude supplies and end users.

In 1995, France’s Total SA withdrew from a planned joint venture to build the refinery with Petrovietnam over the location. Then, in 2002, Russian state oil Zarubezhneft backed out due to disagreements over the plant’s distant location and technical issues.

Still, Le Van Dung, vice-chairman of the Dung Quat Economic Zone Authority, which oversees a swath of land nearly twice the size of Manhattan that is home to the refinery and other projects, called Mr. Kiet a man of “great strategic vision”.

“It is the responsibility not only of the prime minister, but also of the government to develop the central region, which lost millions of lives in the war but now is lagging in terms of economic development,” Mr. Dung said. “Instead of handing them a fish, they must be given a fishing pole.”

Mr. Dung said tax revenues in the county have risen and GDP per capita has jumped from about $400 in 2006 to $700 in 2008.

Some observers remain highly skeptical.

“Drop a capital intensive project that has few linkages to the local economy into a poor province and the local impact is minimal,” said one expert on the Vietnamese economy, who declined to be named due to concern of repercussions for airing views that run counter to the party line.

“Meanwhile, the distance from the oil is so great that the refining margins are likely to be negative. The end result? Pay over the odds for a money losing project that doesn’t create jobs.”

Despite some immediate gains made by many in the area, such as Ms. Yen, the karaoke shop owner, other residents have their gripes.

A total of 7,000 households will have been moved by 2015 to make way for the economic zone and new industrial investment.

Pham Thi Sach, 59, who lives beside Vo Van Kiet Street, worries about the unknowns.

“Here we can make a few hundred thousand dong every day by going to the morning market to trade seafood, but if we move to a new place we won’t know what to do,” she said.

The environment is a concern, too, particularly for some small-scale fishermen like Bui Quang Tien.

“The noise from the refinery scares away the fish so my catch has been smaller,” he said. “In the past I didn’t need to buy gas to go fishing, I just paddled, but now I have to go out to sea farther. So it costs more.”

Many, if not most, of the workers at the plant will come from outside because local residents lack the skills, although some of the other factories that will be built in the economic zone may be able to offer more in terms of local employment.

Some lessons have been drawn from the long and torturous Dung Quat experience, even if the Party line has been unswerving in its praise.

The country’s next two refineries, which will be bigger, are planned to go up in the much more advantageous locations of Nghi Son, just south of Hanoi, and Long Son, near the commercial hub of Ho Chi Minh City.

In addition, the foreign partners in the Nghi Son project, which is the less desirable location of the two, are being allowed to take part in refined product distribution, something Total and Zarubezhneft were denied and which might have made the Dung Quat project palatable.

 

———————————————–

BBT cám ơn bạn đã viết comment. Ban Biên Tập trích một ý kiến từ một website khác để trả lời bạn. Ý kiến dưới đây của Dr. Trần, post ngày 19-4-2009:

“Chỉ tính Dung quất mà thôi đã đầu tư 3,5 tỉ USD (mới đây thêm 200 triệu USD, sau khi đã thêm 600 triệu USD vài tháng truớc, trên số 2,5 tỉ USD đã được làm “nhỏ” bớt).

Sự ngu xuẩn trong việc đầu tư vào DQ chỉ có thể so sánh với sự xuẩn ngốc của việc nhập về mấy chục nhà máy đường phế thải từ TQ nay càng hoạt động càng lỗ, CP bỏ đi thì tiếc, ôm thì mỗi tháng phải bù lỗ mấy trăm tỉ VND.

Tại Dung Quất, tính tiền lời rẻ nhất 8% mà thôi, amortization 10 năm, thì mỗi tháng phải trả 42.464.660 USD, mỗi năm 510 triệu USD, theo cách tính tại đây: http://www.bankrate.com/calculators/…alculator.aspx

Tôi ghi “mortgage amount” là 3.500.000, “mortgage term” 10 years, 120 months, interest rate 8%, computer tính ra hàng tháng phải trả số trên (42.464,66 x 1000) thì 10 năm mới hết cả vốn lẫn lời.

Mỗi tấn dầu lọc ra chỉ tăng giá trị (nói khác đi là phí lọc dầu + tiền lời) theo giá thị trường chỉ vài chục USD là cùng, mỗi năm lọc 6 triệu tấn làm tăng giá trị cùng lắm 150 triệu USD, do đó chỉ tính tiền lời mà thôi 8% x 3,5 tỉ USD = 280 triệu USD, đem về 150 triệu USD, lỗ tiền lời 130 triệu USD.

Ngoài ra còn biết bao chi phí vận hành, phụ tùng thay thế, v.v… Tính rất rẻ các chi phí này 5 triệu USD / tháng mà thôi thì hàng năm DQ lỗ không duới 200 triệu USD.

Chưa hết, nếu tính amortization 10 năm thì mỗi năm trung bình phải trả vốn 350 triệu USD, nói khác đi nếu không bán đi thì mỗi năm CP VN phải bơm vào DQ ít nhất 550 triệu USD.

Nghe nói năm sau “cổ phần hóa” DQ. Tôi chúc họ good luck. Cổ phiếu DQ phải bán giá ÂM, vì hiện nay nợ cao hơn gấp đôi giá trị.

Hãng TOTAL lẽ ra đã cất xong từ 12 năm trước, giá rẻ hơn, tốt hơn, vì họ có nhiều máy móc phụ tùng từ các nơi khác đem qua, họ đang có các nhà máy tương tự từ hàng chục quốc gia khác, kinh nghiệm có, kỹ sư có, phụ tùng có, v.v… “

Tóm lại BBT cho rằng Dung Quất lỗ 120 triệu đô la /năm là quá nhẹ so với tính toán chi tiết trong ý kiến nói trên.Chưa tính tới tiền lới phải trả hàng năm tính từ 1993, thời điểm đi vay mượn tiền xây dựng Dung Quốc.

Posted in Bô-xít Tây Nguyên, Quan hệ Việt-Trung | 1 Comment »

QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ 1924 – 1954 VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP

Posted by adminbasam on 15/03/2009

QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN XÔ

1924 – 1954

VÀ VẤN ĐỀ HÒA NHẬP *

Nguyễn Hồng Dung

Tạp chí Lịch sử quân sự – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Dưới thời đô hộ Pháp, nhân dân, trí thức Việt Nam qua con đường Trung Quốc – Pháp đã biết đến một “Cách mạng tháng 10 Nga”, Lênin, chủ nghĩa cộng sản… Và người dân Việt Nam – ngay cả như đồng bào vùng núi – “đang mơ về nước Nga” (Thơ Tố Hữu).

Sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô – nhất là trong những thời điểm khó khăn của bản thân mình, của chính phủ, của Đảng Cộng sản Liên Xô, tình cảm của các nhà lãnh đạo, chuyên gia, các tầng lớp nhân dân Liên Xô về mặt tinh thần cũng như vật chất thật là sâu đậm, to lớn, mang ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất của Việt Nam.

Khác với một số quốc gia khác, nay đã hoà nhập với Việt Nam – nhưng do điều kiện lịch sử, trong quá khứ cũng đã có một bộ phận lực lượng vũ trang xâm lược, chống lại Việt Nam (Anh, Mỹ, Pháp, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…). Nước Nga, Liên Xô chưa hề có bộ đội mang vũ khí vào Việt Nam phản đối công cuộc cách mạng của Việt Nam.

Nhân dân Nga – Liên Xô trước sau vẫn mong muốn – và đã thực hiện – sự hoà nhập với Việt Nam. Tuy nhiên, trong một thời gian không ngắn, ý thức hệ, sự áp đặt, thiếu dân chủ của một bộ phận lãnh đạo Nga – Liên Xô, có thể nói chủ yếu là Stalin, đã làm cho sự hoà nhập Việt – Nga không được nhanh, đầy đủ và kết quả mong muốn cho cả hai phía.

Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, kể từ khi rời phía Nam sông Dương Tử, đi về phía Hoa Nam ngày nay, dừng chân trên vùng đồi ở phía Bắc sông Hồng rồi xuống đồng bằng sông Hồng, men theo biển vào Thanh – Nghệ – Tĩnh, tiếp đó phát triển đến Mũi Cà Mau thực tế là một phát triển “mở” chứ không “khép kín”. “Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ nét rằng Việt Nam có nguồn gốc Bách Việt… thuộc thành phần chính thống, trung kiên, bất khuất…”1, “trung kiên, bất khuất” bảo vệ mình để phát triển là phải khắc phục, vượt lên hoặc chung sống có điều kiện với khí hậu, thiên tai, thú rừng, kẻ dòm ngó, xâm lược.

Và phải cần có kinh nghiệm của bản thân, của hàng xóm lân bang “cùng hội, cùng thuyền”, nên Việt Nam đã sớm có những mối quan hệ “ngoại giao nhân dân”, “ngoại giao chính phủ” với các mường, động… với các thủ lĩnh vùng biên giới.

Khi có điều kiện, cũng đã chấp nhận sự có mặt buôn bán, trao đổi, giao lưu với các nước xa hơn – không có đường lục địa thông với Việt Nam – như Gia-va (In-đô-nê-xia), Nhật Bản, Phi-líp-pin… qua các thương cảng như Vân Đồn, Phố Hiến rồi Hội An, Sài Gòn…

Dưới thời Việt Nam chịu sự thống trị của phong kiến phương Bắc, hay trong những thời gian giữ được độc lập, tự do, vẫn phải “triều cống”, các đoàn sứ giả Việt Nam đến thủ đô các triều đại Trung Quốc cũng phải tranh thủ “giao lưu” với các đoàn, các sứ giả Cao Ly, Nhật Bản nếu họ cũng có mặt đồng thời tại đây. Cũng qua sự “hoà nhập” ngắn ngủi, nhỏ hẹp, nhưng các sứ thần cũng đã mang về Việt Nam – dù bị hạn chế – bị kiểm tra – nhiều tác phẩm văn hóa, nhiều bí mật ngành nghề để phát triển kinh tế, văn hoá trong nước.

Những kết quả “giao lưu”, “hội nhập” ấy đã giúp Việt Nam trong các ngành nghề in, làm hàng mỹ nghệ, có thêm các tác phẩm văn học của mình đã bị các triều đại Trung Quốc tịch thu với âm mưu xoá bỏ văn hoá Việt Nam, hiện biết thêm phần nào tình hình lịch sử văn hoá các nước khác.

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước dân tộc Việt đã sớm có hiểu biết về nhu cầu, về kết quả lợi ích của việc tìm hiểu nhau, học tập lẫn nhau trong một không gian hoà hợp, hoà nhập.

Thế kỷ thứ 19, Việt Nam “mang tiếng” là “bế quan, toả cảng”. Nhưng với những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, việc các vua Triều Nguyễn cử người đi Macao học cách đúc súng, đóng thuyền, mua báo Hồng Kông để đọc… là những động thái ” hoà nhập”, mong muốn hoà nhập, nhưng “lực bất tòng tâm”, không thực hiện được do nhiều nguyên nhân, chủ quan và khách quan.

Thực dân, đế quốc Pháp trong thời gian cai trị Việt Nam đã “cấm đi ra ngoài”, một thủ đoạn bưng bít, cấm hoà nhập.

“Lệ cấm đi ra ngoài là một cái lệ rất dã man. Anh cai trị tại ấn Độ, Nhật Bản cai trị Triều Tiên cũng là các nước khác cai trị dân thuộc địa khác không có nước nào có các chính sách như thế, chỉ có Pháp cai trị An Nam thì từ xưa – đến nay cho những người An Nam đi ra ngoài là sự phạm tội rất nặng”2.

Thống trị Việt Nam, nên mọi công việc ngoại giao của Việt Nam đều do chính quyền Pháp quyết định. Cùng với những “mất tự do” khác. nhân dân Việt mất luôn quyền “được hiểu biết, được hoà nhập”. Cũng cần phải công nhận rằng, mặc dù chính phủ Pháp có lệnh cấm đi ra ngoài, nhưng người Việt cũng tạo ra điều kiện để “xuất dương” bằng con đường công khai (đi học, du lịch…) hoặc bằng con đường bí mật tham gia các Hội kín, Đông Du, các tổ chức cách mạng, dù bị hạn chế bởi vòng vây của chính quyền, để nới rộng ra “vòng kim cô” của đế quốc Pháp, không chịu “cô lập”, “biệt lập”… với thế giới bên ngoài.

Những du học sinh Việt Nam sang Nhật thời Đông Du, được sự chỉ đạo của Phan Bội Châu, được sự giúp đỡ ban đầu của Chính phủ Nhật – lao động, học tập trong các trường văn hoá – quân sự Nhật Bản đã giúp cho các học sinh này hiểu biết thêm về nước Nhật “duy tân” đổi mới, đang dần tiến lên một nước hùng mạnh. Với các lưu học sinh, các binh lính, nhà buôn người Việt đi học, lao động, phục vụ chiến đấu ở Pháp, ở Nga, ở Châu Phi… cũng đã giúp họ “mở tai, mở mắt” khi hoà nhập với một xã hội văn minh, tiến bộ, dân chủ, cách mạng. Và khi họ trở về nước, dù ở hoàn cảnh nào, họ cũng thấy sự cần thiết phải “học hỏi”, “làm theo cái tốt” của các nước ấy, phải “đổi cũ ra mới, đổi xấu ra tốt”, phải làm cách mạng mới có thể ngang hàng được với các nước trong hoàn cầu thông qua con đường hoà nhập.

Năm 1924, bấy giờ đang ở Mátskơva, Nguyễn Ái Quốc đã có “Thư gửi đồng chí Pêtrôp, Tổng thư ký Đông Phương Bộ“, nêu lên “một ý kiến của tôi (Nguyễn Ái Quốc) đã ngẫm nghĩ từ lâu” và “thấy có trách nhiệm phải trình bày” rằng:

“Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông, đó là sự ĐƠN ĐỘC3.

Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”.

Cũng có thể nói theo một cách khác, trên cơ sở nội dung bức thư trên của Nguyễn Ái Quốc: “Nếu các dân tộc phương Đông có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau – (có nghĩa là có thể hoà nhập với nhau) họ có thể biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng (chính trị, kinh tế, văn hoá, thương mại, quân sự…) và có thể tin cậy lẫn nhau (để chung sống và phát triển) để phối hợp hành động (chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá…) và để cổ vũ lẫn nhau”.

Phương Đông có những điểm tương đồng và dị biệt với Phương Tây.

Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên luận điểm: “đấu tranh giai cấp ở phương Đông không giống Phương Tây, chủ nghĩa Mác xây dựng cơ sở lịch sử của mình ở châu Âu, mà châu Âu không phải là toàn thế giới”, ” cần bổ sung chủ nghĩa dân tộc (một động lực – lòng yêu nước) vào chủ nghĩa Mác…”

Nắm vững thực tiễn Việt Nam, thực tiễn giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam nên Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương “chia địa chủ ra làm 3 hạng… đoàn kết với các tầng lớp yêu nước…, tiến hành chống đế quốc trước – để giải phóng dân tộc… đồng thời hạn chế sự bóc lột của phong kiến…, thành lập chính quyền cộng hoà dân chủ nhân dân (mà không lập Xô Viết, không chủ trương lập chính phủ chuyên chính vô sản…”

Những ý kiến trên đây của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, đại biểu dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ 5 tại Mátskơva, năm 1924, người đã lên tiếng phê bình nặng lời các Đảng cộng sản, công nhân đã không “quan tâm đến các thuộc địa”, “không làm hoặc làm rất ít cho thuộc địa…”, đều là trái với những luận điểm của Quốc tế cộng sản, đứng đầu là Stalin.

Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Ái Quốc, anh thuỷ thủ đã đi, đã sống với rất nhiều người lao động các màu da trên thế giới, con người đã có kết luận: “chỉ có hai loại người – người đi áp bức và người bị áp bức” và giữa những người bị áp bức là một “mối tình giai cấp”. Trước khi đến Mátskơva năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được sự cần thiết phải “hoà nhập” – dù ở mức độ nào đó giữa các dân tộc – nhất là các dân tộc bị áp bức với nhau để “hiểu nhau, cổ vũ lẫn nhau…”.

Việc áp đặt và ràng buộc Nguyễn Ái Quốc vào Quốc tế Cộng sản (QTCS), không cho phép, hạn chế việc giao lưu giữa Nguyễn Ái Quốc với các đối tượng khác, nên vào năm 1925, khi Nguyễn Ái Quốc trở về Châu Á, QTCS đã không cấp cho Nguyễn Ái Quốc giấy giới thiệu với ĐCS Trung Quốc, với Quốc dân Đảng của Tôn Dật Tiên, không cung cấp tài chính đi đường, sinh sống.

Năm 1930, với “Chính cương, điều lệ Đảng tóm tắt”, dù đã “tế nhị” vừa làm vừa lòng QTCS, vừa giữ vững chủ kiến của mình cho cả một đường lối cách mạng của dân tộc4, nhưng vẫn bị QTCS và Stalin nghi ngại.

Trong lúc Liên Xô – đứng đầu nhà nước là Stalin, không chấp nhận những mối liên lạc của các đảng với các tổ chức chính phủ (mà chưa được QTCS đồng ý) vì quyền lợi của mình, Liên Xô đã “mở cửa” với Mông Cổ ngày 12 tháng 3 năm 1936. Để chống lại hiệp ước chống QTCS của Nhật và Đức ký ngày 25 tháng 11 năm 1936, Liên Xô lại bắt tay thoả thuận với Quốc dân Đảng Tưởng Giới Thạch “đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc ngừng cuộc nội chiến và có cử chỉ hợp tác thân thiện với chính quyền Quốc dân đảng để chống lại Nhật Bản”5. Năm 1937, Liên Xô lại ký với Tưởng Giới Thạch hiệp ước không xâm lược ngày 21 tháng 8. Theo hiệp ước này, Liên Xô cung cấp cho Tưởng vật liệu chiến tranh qua Ngoại Mông, Tân Cương giữa lúc Hồng Quân Trung Hoa bị Tưởng vây đánh phải trường chinh từ căn cứ phía Nam lên phía Tây xây dựng cơ sở mới.

Nguyễn Ái Quốc cũng không thoát khỏi sự “xét nét” của QTCS. Không được triệu tập dự Đại hội 6 QTCS, bị bắt ở Hồng Kông năm 1931, rồi được ra tù với những lý do “không xác định rõ”… Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người bị cô lập – không được hoà nhập – trở thành “lữ hành cô đơn” (ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp) trong những năm 1934 – 1938.

Tại đại hội VII, QTCS, bản tham luận của Trưởng đoàn đại biểu ĐCSĐD Lê Hồng Phong – tất nhiên phải thông qua QTCS, được coi như là chỉ thị của QTCS – phê phán Nguyễn Ái Quốc là “tàn dư của cương lĩnh các nhóm cộng sản cũ đã máy móc chia giai cấp địa chủ thành hạng đại và trung 6.

Năm 1945, khi nhân dân Việt Nam giành được chính quyền, mặc dù ở Hà Nội có đại diện, chính phủ Liên Xô chỉ đến thảo luận với Việt Nam về những công dân Liên Xô, nếu có, trong quân đội Pháp – Nhật… mà không có cuộc gặp gỡ ngoại giao chính thức nào, kể cả khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có điện gửi Stalin…

Cũng phải đề cập tới, là trong những năm 40 giữa thế kỷ trước, Liên Xô còn bị ràng buộc bởi “Hiệp ước Xô – Pháp” có thời hạn 20 năm ký kết vào tháng 12 năm 1944, trong đó “hai bên cam kết không can dự vào công việc nội bộ của nhau” không tham gia một liên minh nào chống lại nước kia (điều 5) nên, nếu Liên Xô – chính thức công nhận, ủng hộ Việt Nam – là vi phạm Hiệp định (Sau Chiến thắng Biên giới 1950, Liên Xô đã công nhận Việt Nam…).

Năm 1948, Nam Tư có công hàm chính thức đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam – nhưng Việt Nam – biết ứng xử, “giữ ý” với Liên Xô – thực chất cũng vẫn bị o ép, nên đã không mở được cửa sang phía Tây.

Không làm gì quá để Liên Xô có thể “mất lòng”, “chỉ trích” trong chủ trương hạn chế Việt Nam giao lưu, hoà nhập quốc tế, Việt Nam cũng đã khéo léo mở ra những cánh cửa – dù hẹp – để thoát khỏi “vòng vây” từ nhiều phía.

Việt Nam đã “kín đáo” giao thiệp với các nước láng giềng ở Đông Nam Á, với 2 nước Lào, Campuchia xin được đặt trụ sở đại diện chính phủ ở Băng Cốc (Thái Lan) được ra báo, xin được đặt một điện đài thu và chuyển các tin tức quốc tế tại Miến Điện (Mianma) để chuyển về Việt Nam…

Năm 1949, trả lời nhà báo Thái Lan Naiut Thorn Phokul, Hồ Chí Minh nói: “Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”.

“Năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật sang Liên Xô, tìm cơ hội gặp Stalin khi Mao Trạch Đông còn ở đó. Hồ Chí Minh được Stalin tiếp nhưng cuộc gặp không thành công, Stalin vẫn lạnh nhạt với ông Hồ và không chấp nhận ký một hiệp ước với Việt Nam như Liên Xô đã ký với Trung Quốc. Cũng trong phiên họp này, Stalin đã chất vấn ông Hồ tại sao giải tán Đảng cộng sản Đông Dương, tại sao chưa tiến hành cải cách ruộng đất”7.

Trong lúc Liên Xô – đứng đầu nhà nước là Stalin không chấp nhận những mối liên lạc của các đảng với các tổ chức chính phủ – (mà chưa được QTCS đồng ý), Hồ Chủ Tịch cũng đã nhiều lần tuyên bố “Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các nước yêu chuộng hoà bình, tự do, dân chủ”…

Tuy nhiên cho đến năm 1954 – gần 30 năm sau bức thư của Nguyễn Ái Quốc gửi Bộ Phương Đông – Nguyễn Ái Quốc, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng chưa làm gì được nhiều để hoà nhập.

Cuộc ngăn ngừa “hoà nhập của Việt Nam” với thế giới còn kéo dài mãi cho tới những năm 70 thế kỷ trước. Trong kháng chiến chống Mỹ, một mặt Liên Xô giúp đỡ Việt Nam theo ý thức hệ để bảo vệ “tiền đồn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á”, mặt khác vẫn không muốn Việt Nam ngồi vào bàn thương lượng với đối phương. (Vì nếu kéo dài chiến tranh – và thực tế đã diễn ra là trong khi Mỹ suy yếu ở Việt Nam, Liên Xô có điều kiện tăng trưởng kinh tế, xây dựng lực lượng vũ trang…). Ngay cả khi N. Khơrútsốp “bắt tay với Mỹ”, “chung sống hoà bình”, Việt Nam vẫn chưa được tự do hoà nhập. Bạn đồng minh lớn một thời của Liên Xô là Trung Quốc cũng từng cho “Mỹ là con hổ giấy”, từng tuyên bố “Trung Quốc là hậu phương lớn của Việt Nam đánh Mỹ” nhưng vẫn “răn đe” Việt Nam “hoà đàm” với Mỹ, “khuyên bảo” Việt Nam từ chối viện trợ của Liên Xô. Nhưng, chính Trung Quốc lại mở ra “ngoại giao bóng bàn” rồi đón Nichxơn tại Bắc Kinh, ưu ái “chú Sam Hoa Kỳ” không muốn Việt Nam chấm dứt chiến tranh sớm…

Là một người đã đi gần khắp thế giới “đã đến Châu Phi, qua các nước Châu Á, đến Mỹ, Anh, sống nhiều năm ở Pháp, ở Nga, đặt chân đến Thuỵ Sĩ, Đức, Xiêm… Nguyễn ái Quốc đã thực sự, qua thực tiễn của mình, của lịch sử, đã sớm nêu ra mệnh đề “đại đoàn kết, đại hoà hợp” – có thể hiểu là “đại hoà nhập”… không tán thành “đơn độc”, “biệt lập”, “đóng cửa”.

Thực ra, trên những văn bản chính thức qua cuốn “50 năm quan hệ Xô – Việt”, người đọc không tìm thấy một văn bản, một dòng chữ, một câu nói về việc Liên Xô hạn chế Việt Nam “hoà nhập”.

Nhưng trong đời sống chính trị, ngoại giao… có nhiều vấn đề không căn bản” mà lại có giá trị, sức mạnh như – hoặc hơn văn bản…

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chính phủ Việt Nam cũng khó có thể chính thức cho rằng Liên Xô cản trở Việt Nam hoà nhập. Chỉ có thể coi đó là quá khứ lịch sử, là một bài học, một kinh nghiệm cho hiện nay, mai sau.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu khẩu hiệu “Đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, đại thành công”. Hai chữ “đoàn kết” này không phải chỉ bó hẹp “đoàn kết” trong nước mà còn đoàn kết với các nước anh em, các nước bạn bè… Ngày 8 tháng 1 năm 1957, trong thư gửi các vị tăng ni và đồng bào tín đồ Phật giáo nhân dịp lễ Đức Phật thích ca thánh đạo, Hồ Chủ Tịch đã “thân ái gửi đến các vị lời chào đại hoà hợp”. Xét về mặt tư tưởng cũng như từ ngữ, “đại hoà hợp”8 có thể hiểu là “đại hoà nhập”, “hoà hợp” có vẻ như “cao” hơn “hoà nhập”? Có bao giờ “nhập” nhưng không “hợp”? Dù sao thì ý định hoà nhập của Hồ Chí Minh, của Việt Nam đã có từ lâu rồi.

Xét về mặt địa – chính trị, Việt Nam là nước lục địa, bán đảo, có chiều dài không nhỏ về bờ biển, là một bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương – một biển lớn ngày càng có tầm quan trọng cao – Việt Nam tất phải có nhu cầu – bắt buộc phải có nhu cầu hoà nhập để tự bảo vệ mình, để phát triển, phát triển cũng là để tự bảo vệ.

Quá trình giữ nước và dựng nước của nhân dân Việt Nam cho thấy nhân dân Việt – các triều đại trị vì ở Việt Nam – dù có vị vua này, thời gian kia – hạn chế, e ngại sự hoà nhập, nhưng nhìn chung hoà nhập vẫn là thiện ý, thiện chí là điều mong mỏi của Việt Nam, từ ngàn xưa cho đến nay.

Tuy nhiên sự hoà nhập, và hoà nhập phải được đòi hỏi cả hai phía. Cần tôn trọng những cái riêng của nhau, bảo tồn cái của mình, của bạn. Không nên (và thực ra cũng khó có thể làm được) để bị “hoà tan” trong khi hoà nhập.

Trong chiều dài của lịch sử, những cuộc chiến tranh về kinh tế, về lãnh thổ, tôn giáo, sắc tộc xẩy ra gây nên bao khổ đau cho con người sinh ra tính vốn lành, có một nguyên nhân là không biết, không được hiểu biết nhau, thương yêu nhau, không được hoà nhập với nhau…

Đức Phật, Đức Chúa, Thánh Môhamét và các vị khác… đều răn dạy, khuyên bảo “phải thương yêu nhau”, “thương yêu cả kẻ thù”, “tha thứ cho mọi sự không lành, người ác…”.

Trong thế kỷ thứ 21 này, nguyện vọng, xu thế của Việt Nam – của nước Nga – và của loài người trên hành tinh là chung sống hoà bình, hoà nhập.

Thực tiễn ở Việt Nam – dù chỉ qua một mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô đã chỉ ra:

- Dù có những quan điểm chính trị, tôn giáo, dân tộc… khác nhau, các nước đều có thể hoà nhập được với nhau 9.

- Hoà nhập không chỉ là một mong ước, nguyện vọng của đa số nhân dân mà có thể còn là một nhu cầu, yêu cầu của thời đại, một quy luật mới phát sinh buộc phải tìm hiểu, nghiên cứu, thực hiện.

Cho đến nay, dù ở những cấp độ khác nhau, ở những hiệu quả chưa đồng đều, chưa được mong muốn, về phía Việt Nam, cũng như về phía các quốc gia đối tác khác, Việt Nam đã là thành viên của Liên hợp quốc của ASEAN, của WTO, của khối cộng đồng Pháp ngữ… So sánh với thời kỳ còn “đóng cửa” do nhiều nguyên nhân – trong đó có “nguyên nhân” ý thức hệ, do QTCS…, Việt Nam đã học tập, được “thu hoạch nhiều “trong hoà nhập với cộng đồng quốc tế. Đối với Việt Nam, điều đó đang dần trở thành một “quy luật” tất yếu để tồn tại, phát triển.

Năm 2001, trong thời gian thăm nước Đức, Tổng thống Putin có nói:

“Lịch sử cũng như những đại dương, không chỉ có tách ra mà có khả năng nối liền”10.

Và hiện nay, “quy luật” đó đã được thực hiện trong quan hệ truyền thống Việt – Nga, cũng như mối quan hệ với nhiều quốc gia khác, trong một mái nhà chung của Hoà nhập./.

——————-

1 Bs. Ts. Nguyễn Thị Thanh, Việt Nam, Trung tâm nông nghiệp lúa nước và

công nghiệp đá xưa nhất thế giới, Việt Catholic, 30- 9- 2003 (Dẫn theo tư liệu tham khảo họ Đỗ, 6- 2007).

2 Báo Thanh niên số 63, ngày 3 tháng 10 năm 1926. Theo nhiều nhà nghiên

cứu, tuy bài viết này không ký tên tác giả, nhưng nhiều khả năng là do Nguyễn Ái Quốc viết.

3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, (1920 – 1925), Nxb Sự thật, 1980. tr. 207. Hồ

Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, 1995, đã đổi 2 chữ “Đơn Độc” này thành “Biệt lập“. Nguyên văn tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc là “isolement“.

4 Mặt khác, từ 1930 – đến 1940 cách mạng Việt Nam cũng đã phạm sai lầm

trong giáo điều tả khuynh.

5 Jean Baptiste Duroselle. Lịch sử ngoại giao từ 1919 đến ngày nay, bản dịch

của Lưu Đoàn Huynh, Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, 10/1944, tr. 276.

6 Viện nghiên cứu Hồ Chí Minh và các lãnh tụ, Đồng chí Lê Hồng Phong, một

lãnh tụ xuất sắc của Đảng, Nxb CTQG, H, 1997, tr. 85.

7 Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945 – 1995, Tiên Rồng, 2004, tr. 215.

8 Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb ST, tập 8, tr. 561.

9 Do không được hoà nhập sớm nên Việt Nam không nắm bắt được tình hình

quốc tế, thời cơ, xu thế thời đại, đã vi phạm giáo điều tả khuynh trong cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp 1950 – 1960, rồi sau đó là “bao cấp duy ý chí”, bị bao vây, cấm vận từ 1977 đến 1985…

10 Báo Thanh niên, ngày 10 tháng 6 năm 2008.

—————

* Tham luận tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”. Mời xem thêm hai bài liên quan trên số 91, 92, và các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị hủy bỏ): “Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“.

Posted in Lịch sử, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

92:ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN HƠN: CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ

Posted by adminbasam on 14/03/2009

ĐỂ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG

ĐÚNG ĐẮN HƠN:

CÁI NHÌN TỪ LỊCH SỬ *

Ths. Ngô Vương Anh

Báo Nhân dân

Đặt vấn đề

Lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam kể từ khi Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) ra đời, năm 1930, đã chuyển hướng theo một dòng chảy mới. Những chặng đường đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước sau đó được định hướng theo lý tưởng cộng sản chủ nghiã (CSCN), thể hiện trong đường lối lãnh đạo cách mạng của ĐCSVN từ khi ra đời đến nay. Đường lối cách mạng có vai trò quyết định sự thành, bại của phong trào cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã có những giai đọan đường lối cách mạng chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng. Những sự sai lệch trong đường lối và trong việc triển khai thực hiện đường lối đã gây ra những hệ quả không tốt cho phong trào cách mạng, gây ra những tổn thất cho lực lượng cách mạng. Từ nhận thức và qua những họat động thực tiễn, Hồ Chí Minh và ĐCSVN đã nhiều lần đấu tranh, điều chỉnh để đường lối cách mạng của Đảng trở lại đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển. Cho tới nay những bài học lịch sử quanh vấn đề này vẫn mang nhiều ý nghiã. 1. Đầu năm 1930, Hội nghị hợp nhất thành lập ĐCSVN do Nguyễn Ấi Quốc chủ trì đã thông qua Chánh cương vắn tắt; Sách lược vắn tắt; Điều lệ vắn tắt; Chương trình vắn tắt của ĐCSVN và Lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc sọan thảo. Tuy vắn tắt song những văn kiện này đã nêu được những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng Việt Nam, tuyên bố về sự lựa chọn con đường cách mạng từ khi Đảng mới ra đời. Chiến lược cách mạng của Đảng là tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam là thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, dân chủ do một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân lãnh đạo. Các nội dung dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa không tách rời nhau và nằm trong một quá trình phát triển cách mạng.

Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tế Việt Nam khi nêu bật tinh thần: Tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, đoàn kết tập hợp mọi lực lượng dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân để chống đế quốc đế quốc và tay sai. Trong cuộc đấu tranh này, Đảng cần tập hợp được khối lực lượng đông đảo nhất, huy động được sức mạnh đoàn kết to lớn nhất mới giành được thắng lợi. Nhiệm vụ giành độc lập, giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức nô lệ được coi là nhiệm vụ có ý nghĩa cấp bách, sống còn, được đặt trước nhiệm vụ đấu tranh giai cấp. Trong khi xác định: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa c.m (cách mạng – NV) đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”, Chánh cương… đưa ra mục tiêu “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo” [2, 3 - 4]. Tuy nhiên, Luận cương chánh trị do Tổng bí thư Trần Phú mang về và được thông qua trong Hội nghị tháng 10/1930 của Đảng lại đặt mục tiêu: “tịch ký hết ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung nông và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chánh phủ công nông” [2, 95]. Hội nghị tháng 10/1930 coi những quan điểm nêu trong những văn kiện của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng là “sai lầm chính trị và nguy hiểm” và ra Án nghị quyết thủ tiêu những văn kiện đó. Sự phê phán này dựa theo những quan điểm mang nặng khuynh hướng “tả” – nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản – trong việc chỉ đạo phong trào cách mạng thế giới của Quốc tế cộng sản (QTCS) sau Đại hội VI (1928) của tổ chức này – khi những tư tưởng cực đoan về đấu tranh giai cấp của Stalin chi phối đường lối của QTCS. Lãnh đạo ĐCSVN trong khỏang thời gian từ tháng 10/1930 đến tháng 3/1938 là những nhà cách mạng được QTCS đào tạo tại trường Đại học cộng sản Phương Đông và được cử về lãnh đạo phong trào cách mạng trong nước: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập. Sự chỉ đạo, giúp đỡ cách mạng Việt Nam cuả QTCS trong giai đoạn này khá tòan diện: về tổ chức và tư tưởng chính trị, về đào tạo cán bộ, hỗ trợ tài chính và thiết lập các đường dây liên lạc… Trần Phú và những Tổng Bí thư sau đó nhận trách nhiệm cao nhất với QTCS về việc thực hiện những Nghị quyết của QTCS trong phong trào cách mạng Đông Dương không thể làm trái những điều được QTCS chỉ dẫn. Tháng 11/1931, Hà Huy Tập trong bài viết Hoạt động của Đảng cộng sản Đông Dương, đã nhấn mạnh với các đồng chí trong Xứ ủy Bắc kỳ: “Tất cả các quyết định của quốc tế cộng sản có uy lực đối với tất cả mọi người cộng sản không trừ một ai, và chúng ta chỉ có việc thực hiện, trung thành, chứ không phải xuyên tạc chúng thành những giáo lý cơ hội chủ nghĩa”. [1, 39]

Luận cương tháng 10/1930 “coi địa chủ là cừu địch của nông dân mà đã thế thì phải đánh đổ và thâu hết ruộng đất của chúng nó” đã dẫn đến quan điểm cực đoan trong chỉ đạo đấu tranh ở Nghệ – Tĩnh những năm 1930 – 1931: “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Phong trào nổi dậy của nông dân Xô viêt Nghệ – Tĩnh bị suy giảm sức mạnh và thất bại trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền thực dân và phong kiến tay sai. Mặc dù vậy, sự phê phán những sai lầm của Hội nghị hợp nhất và “đồng chí Quốc” khá nặng nề và còn kéo dài nhiều năm sau đó. Sự phê phán đó hiện rõ trong các văn kiện: Thư của Trung ương gửi cho các cấp đảng bộ (9/12/1930); Tư liệu bổ sung về nguồn gốc các tổ chức cộng sản ở Đông Dương; Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương (1933); Đảng cộng sản Đông Dương và sự phát triển của phong trào cộng sản trong thời ký từ Đại hội VI đến Đại hội VII (1934); Nghị quyết chính trị của Đại hội (congre‟s) lần thứ nhất Đảng cộng sản Đông Dương (28/3/1935); Thư của Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng cộng sản Đông Dương (ngày 31/3/35) gửi Quốc tế cộng sản (31/3/1935); Báo cáo của đồng chí Lê Hồng Phong gửi Quốc tế cộng sản (1935)…[1, 38 - 39] Trong giai đọan tư tưởng Hồ Chí Minh bị phê phán nặng nề vẫn có hai bản chỉ thị của Trung ương nội dung tỏ ra đồng nhất với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc. Đó là Chỉ thị của Trung ương Thường vụ về vấn đề thành lập Hội “Phản đế đồng minh” (ngày 28/11/1930) và Chỉ thị của Trung ương gửi Xứ uỷ Trung kỳ về vấn đề thanh đảng Trung kỳ (20/5/1931). Về hai bản chỉ thị này còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu (về hòan cảnh ra đời, người chấp bút soạn thảo, việc phổ biến và triển khai thực hiện…) nhưng đây là sự điều chỉnh của Ban chấp hành Trung ương về quan điểm chủ trương sách lược đối với tầng lớp trên, phát triển đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở công nông là gốc. Sự điều chỉnh này xuất phát từ thực tiễn nóng bỏng của cách mạng Đông Dương trong cao trào 1930 – 1931. Tuy vậy sự điều chỉnh này chưa đủ để những luận điểm cách mạng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc chiếm ưu thế với những quan điểm được coi như “chính thống” đang ngự trị trong Ban chấp hành Trung ương khi đó. (Xem thêm [1]) Sau Đại hội lần thứ VII QTCS (7/1935), trước nguy cơ phát xít và những biến chuyển nhanh chóng trên thế giới và Đông Dương, ĐCSVN có những điều chỉnh chiến lược cách mạng của mình. Những Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 và sau đó là Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) ghi nhận sự trở lại tương đồng với những quan điểm đúng đắn trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt trên những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc lên trên hết. Đường lối đúng đắn đó đã đoàn kết được đông đảo quần chúng trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện mục tiêu cao nhất: giành độc lập dân tộc. Từ sau Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) cho đến tháng 8/1945, ĐCSVN đã tập hợp được khối lực lượng quần chúng đông đảo và tích cực chuẩn bị về mọi mặt để khi thời cơ đến kịp thời lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, giành độc lập dân tộc, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Để khẳng định vững chắc chiến lược giải phóng dân tộc đúng đắn trong đường lối của mình và đi đến thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, ĐCSVN đã trải qua 10 năm (1931 – 1941) tự nhận thức và đổi mới trong những điều kiện ngặt nghèo của lịch sử. Để có bước phát triển trong lý luận và chỉ đạo thực tiễn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, ĐCSVN đã trải qua cuộc đấu tranh giữa cái cũ “tả khuynh”, giáo điều, biệt lập… với cái mới mềm dẻo, đòan kết, sáng tạo… Cuộc đấu tranh này có thể đánh giá là sâu sắc cả ở cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng.

Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương gửi Ban chấp hành QTCS (ngày 6/4/1938) viết: “Lúc trước đồng chí Sinitchekine (Bí danh của Hà Huy Tập – NV) làm Tổng thư ký, nhưng vì đồng chí có lầm lỗi về chính trị, vì Đảng chủ trương rằng các hộ quần chúng phải tổ chức theo lối công khai và bán công khai, còn đồng chí thì nói: “Tổ chức công khai và bán công khai là đúng, nhưng chỗ nào không có những điều kiện ấy, thì bất đắc dĩ có thể tạm thời tổ chức bí mật; Đảng cho đó là xu hướng thỏa hiệp với những phần tử cô độc tả khuynh nên không cử đồng chí làm Tổng thư ký nữa.” [3, 385]… Tổng thư ký mới được bầu là Nguyễn Văn Cừ – một người cộng sản trẻ tuổi trưởng thành từ thực tiễn đấu tranh và là một nhà lý luận xuất sắc của ĐCSVN. 2. Từ cuối năm 1953 đến năm 1956, ở nông thôn các tỉnh miền Bắc đã diễn ra 8 đợt phát động quần chúng và 5 đợt cải cách ruộng đất (CCRĐ). Trong tổng số 3314 xã, với khoảng 10 triệu dân, đã tịch thu hơn 70 vạn hecta bằng 44, 6% diện tích ruộng đất trong vùng chia cho gần 4 triệu nông dân. Những gì đã diễn ra trong 5 chiến dịch kéo dài tới hơn hai năm được ghi nhận như một cuộc vận động nông dân “long trời lở đất” – như các phương tiện thông tin tuyên truyền thời đó thường nhắc đến. CCRĐ được bắt đầu trước bước ngoặt lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến. Thời kỳ tổng phản công đòi hỏi huy động đến mức tối đa mọi nguồn lực trong nước – mà “nông dân là quân chủ lực” – và tranh thủ tối đa nguồn viện trợ vũ khí, quân trang, quân dụng của Liên Xô và Trung Quốc – hai trụ cột của phe XHCN khi đó. CCRĐ ở Việt Nam đã được xem như những tiêu chí biểu hiện cho tính cách mạng, cho tính cộng sản và cũng là điều kiện cho sự viện trợ… Tất cả tạo nên những áp lực để Luật Cải cách ruộng đất được Quốc hội thông qua tháng 12/1953, trước khi mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ chỉ ít ngày. Khẩu hiệu đơn giản “Người cày có ruộng” – gói trọn mơ ước ngàn đời của những người nông dân – đã là ngọn cờ tập hợp đòan kết đông đảo nông dân ở tất cả các vùng nông thôn Việt Nam đấu tranh dưới ngọn cờ của ĐCSVN từ năm 1930. Sau khi giành được Chính quyền về tay nhân dân, khẩu hiệu “Người cày có ruộng” đã được hiện thực hóa từng bước với các mức độ khác nhau ở từng địa phương, đo bằng con số thống kê diện tích ruộng đất được cấp cho nông dân và số nông dân được chia ruộng ngày càng tăng. ĐCSVN đã thực hiện từng bước mục tiêu “Người cày có ruộng” trong từng giai đọan của cuộc kháng chiến. CCRĐ cũng có thể nhìn nhận như một nỗ lực của cách mạng Việt Nam để hòan tất mục tiêu “Người cày có ruộng” – nhưng đó là một bước hòan tất không trọn vẹn. Phong trào này cùng với phong trào “chỉnh đốn tổ chức Đảng và chính quyền” – được tiến hành kết hợp với CCRĐ từ đợt 4, đợt 5 – đã phạm sai lầm “tả khuynh” nghiêm trọng. Số người bị quy oan, bị xử lý sai chiếm tỷ lệ rất cao. Mức 5,68% địa chủ trong dân số địa phương là cao hơn rất nhiều so với thực tế. Tổng số người bị quy trong CCRĐ đã được thống kê là 172.008 người; số người bị oan sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%.

Hơn 15 vạn đảng viên trong tổng số 17, 8 vạn đảng viên; 2876 chi bộ trong tổng số 3777 chi bộ, đã dự chỉnh đốn Đảng. Tổng số cán bộ, đảng viên bị xử lý, sau khi chỉnh đốn là 84000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Nhiều chi bộ tốt bị coi là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu hình phạt nặng nề: tù hoặc bắn. Tình hình chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng rất bi đát. Số cán bộ lãnh đạo các cấp này bị xử lý oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội dự chỉnh đốn đều bị xử lý. Gần đây ra soát lại cho kết quả: tất cả đều bị quy sai (!).[6, 10 - 13] Việc truy bức, dùng nhục hình rất phổ biến trong các cuộc đấu tố. Ông Tố Hữu – Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương lúc đó – sau này nhớ lại: “Không thể kể hết những cảnh tượng bi thảm mà những người bị quy oan là địa chủ, ác bá (mà trong thực tế là trung nông) phải chịu đựng ở những nơi được phát động.”. (Nhớ lại một thời kỳ – Nxb Hội nhà văn; Hà Nội, 2000, tr 278 – 279). (Xem thêm [6]) Cũng cần phân biệt những sai lầm trong chủ trương đường lối với những sai lầm tự phát khi tiến hành tại cơ sở. Chủ trương “phóng tay phát động quần chúng” đã bị buông lỏng cho “đòan”, “đội” cải cách lộng quyền: truy bức để “đôn” tỷ lệ địa chủ cho đủ 5% dân số như một mức quy định bắt buộc; kích động, hù dọa quần chúng, khuyến khích họ tố oan cho nạn nhân; dùng nhục hình với đối tượng khi chưa có tòa án xét xử… Những điều này không hề có trong chủ trương chỉ đạo CCRĐ. Nội san Cải cách ruộng đất số 15 (ngày 19/2/1956) viết trong bài “Những điều cần chú ý trong việc vạch giai cấp”: “Tránh để xảy ra nhục hình, phải nắm vững chính sách phân hóa. Tránh gò cho đủ 5% địa chủ”. [6, 11]. Nhưng ở các cấp dưới, tình hình dường như đã không thể kiểm soát. Những biện pháp tàn ác tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi do những sai lầm nghiêm trọng và vô nguyên tắc: vi phạm những quyền tự do cá nhân; tô đậm đến mức tuyệt đối hóa yếu tố thành phần, thậm chí cho rằng quyền lãnh đạo nông thôn phải thuộc về bần cố nông. (Có nơi tăng tỷ lệ bần cố nông trong chi uỷ lên tới 97%); dùng quần chúng đã bị kích động để vạch tội đảng viên; xử lý tràn lan với thái độ hẹp hòi những đảng viên không phải là bần cố nông; cán bộ đội không phải là đảng viên được quyền xử lý đảng viên và cả kết nạp đảng viên; mang những biện pháp đấu tranh với địch để đấu tranh, xử lý nội bộ…. (xem thêm [5, 435 - 438]) Nhân dân sinh hoang mang và hòai nghi. Nội bộ Đảng mất đòan kết vì nghi kỵ lẫn nhau. Những sai lầm trong việc thực hiện CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức mang đậm màu sắc tả khuynh đã để lại những tổn thất to lớn cho cách mạng về cả con người và tổ chức. Giai đoạn này đi qua để lại nhiều bài học lịch sử đa chiều và một vết hằn sâu trong ký ức. Bộ Chính trị đã xác nhận: “Tư tưởng thành phần chủ nghiã trong cải cách ruộng đất có tư tưởng nông dân, đặt bần cố nông lên trên tất cả, thậm chí đặt bần cố nông lên trên Đảng… Tư tưởng tả khuynh trong cải cách ruộng đất đã chớm nở lúc đầu; nó đã đưa đến chỗ học tập kinh nghiệm nước bạn một cách máy móc và không chiụ điều tra nghiên cứu đầy đủ tình hình xã hội ta để định chủ trương chính sách cụ thể cho thích hợp… Trong lúc thi hành thì một mực nhấn mạnh chống hữu khuynh trong khi những hiện tượng tả khuynh đã trở nên trầm trọng… từ khu trở xuống thì hệ thống cải cách ruộng đất trở nên một hệ thống ở trên cả Đảng và chính quyền. Tác phong độc đoán chuyên quyền, do đó mà trở nên phổ biến, không đi theo đường lối quần chúng, mà thực tế đã trấn áp quần chúng, nhẹ tuyên truyền giáo dục, buộc quần chúng làm những điều trái với ý muốn, với lương tâm của họ, có khi trái với chân lý và chính nghĩa.” [5, 430]. Bộ Chính trị cũng nhận thấy: “trong Đảng và ngoài nhân dân đang chờ những biện pháp sửa chữa gấp rút và kiên quyết của Trung ương và Chính phủ…” Những phản hồi từ thực tiễn đang ở giai đọan “nóng” nhất của CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức, những ảnh hưởng sau Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô đã làm những người lãnh đạo CCRĐ giật mình bừng tỉnh. Từ giữa năm 1956, nhiều Hội nghị Bộ chính trị, Ban bí thư và Ban chấp hành Trung ương liên tiếp họp với nội dung chủ yếu là bàn về việc sửa sai của CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức. Đáng chú ý nhất là Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 (Khóa II) họp hai lần từ tháng 9 tới tháng 11/1956. Hội nghị đã vạch rõ những sai lầm, gọi đúng tên những sai lầm đã mắc phải là “tả khuynh”, phân tích những nguyên nhân và đưa ra những chủ trương, giải pháp khẩn trương để sửa sai. Hội nghị chủ trương nhanh chóng khôi phục lại danh dự và cương vị cho những người đã bị xử lý oan sai; công khai xin lỗi nhân dân và đền bù, chăm sóc thích đáng cho thân nhân những người đã tự sát hoặc bị xử bắn oan… Nhiều cán bộ cấp cao của Đảng đã phải chịu trách nhiệm vì những sai lầm đã xảy ra: Trường Chinh từ chức Tổng bí thư; Lê Văn Lương, Trưởng Ban tổ chức Trung ương, phụ trách công tác chỉnh đốn tổ chức, ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Bí thư; Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban chấp hành Trung ương và thôi giữ chức Thường trực Ủy ban CCRĐ Trung ương… Hội nghị Trung ương 10 cũng thông qua một loạt Nghị quyết chuyên đề về công tác tư tưởng, về dân chủ hóa bộ máy, về thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, về tăng cường chế độ pháp trị, về kiện tòan tổ chức và cải tiến lề lối làm việc… Thái độ thực sự cầu thị, thắng thắn, trung thực và quyết tâm sửa chữa sai lầm của ĐCSVN đã là những điều kiện quan trọng để việc sửa sai tiến hành đạt hiệu quả. Nhân dân đã công bằng và độ lượng khi nhận thấy Đảng đã trung thực truớc những khuyết điểm của mình và dũng cảm nói thẳng với dân, với cán bộ để cùng nhau quyết tâm sửa chữa. Và lòng dân yên nên Đảng còn giữ được chữ tín, chữ kính và dần dần ổn định tinh thần xã hội.… 3. Sau tháng 4/1975, tưởng chừng Việt Nam đã có thời cơ để cất cánh về kinh tế như đã xuất hiện thời cơ chiến thắng về quân sự. Cả dân tộc bước vào giai đọan lịch sử mới với tâm trạng phấn khởi, tự tin về sự tòan thắng của cách mạng Việt Nam. Bước ra từ vầng hào quang thắng lợi của cuộc chiến tra

nh với khí thế “ào ào xốc tới”, với tinh thần “một ngày bằng hai mươi năm”, tưởng chừng chỉ cần một khoảng thời gian ngắn là có thể xây dựng thành công “nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. Đại hội IV của ĐSCVN (12/1976) đã kỳ vọng vào “khả năng” đó. Trong niềm say mê chiến thắng, không ai có thể tiên liệu tương lai thất bại. Sự nôn nóng muốn có ngay nền kinh tế thuần nhất xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã dẫn đến việc đẩy nhanh việc thực hiện cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam một cách ồ ạt, vội vã ngay sau ngày giải phóng. Kết quả thu được lại ngược với mong muốn. Mô hình, cơ cấu kinh tế không phù hợp được đặt trên cái nền sản xuất xã hội nghèo nàn lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá nặng nề đã dẫn Việt Nam đến cuộc khủng hỏang kinh tế – xã hội sâu sắc. Nguyên nhân chính của cuộc khủng hỏang này có thể nêu lên là: Duy trì quá lâu những cơ chế điều hành nền kinh tế đã tỏ ra mất sức sống: coi kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế XHCN, phân bố mọi nguồn lực theo kế hoạch, không thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch; không thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, coi kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu; muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân; xây dựng nền kinh tế khép kín, hướng nội theo hướng thiên về phát triển công nghiệp nặng; thi hành phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân cào bằng – điều này đã triệt tiêu các động lực kích thích sản xuất do ít quan tâm đến lợi ích cá nhân, bao cấp tràn lan gây tâm lý thụ động, ỷ lại… Số liệu thống kê cho thấy: Trong giai đọan 1976 – 1980, tốc độ tăng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ là 1,4%; và tổng thu nhập quốc dân (GNI) chỉ tăng 0,4% khi tốc độ tăng dân số hàng năm là 2,24%. Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giữa các tháng 12 của các năm cho thấy một tốc độ lạm phát phi mã: Năm 1986 tăng 874,7%, năm 1987 tăng 323,1%, năm 1988 tăng 449,4%… Nhiều chỉ tiêu đầy tham vọng của kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 thực hiện không đạt. Đáng chú ý nhất là chỉ tiêu về sản lượng lương thực: Kế hoạch đề ra là 21 triệu tấn, chỉ đạt 11,6 triệu tấn – gần bằng mức năm 1976; sản lượng thóc bình quân đầu người giảm từ 211kg năm 1976 xuống 157 kg năm 1980…[9,387 - 389] Nhưng nguyên nhân sâu sa hơn, nguyên nhân của các nguyên nhân, bắt nguồn từ nhận thức. Cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng những năm cuối thập kỷ 70 đến cuối thập kỷ 80 trong thế kỷ XX diễn ra ở Việt Nam là có thật và sâu sắc song vì những trở lực trong nhận thức – những “húy kỵ” – về những nguyên tắc cơ bản của mô hình kinh tế cũ như chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (nhất là đất đai), về lao động tập thể, độc quyền của nhà nước về thương nghiệp và giá cả; về kế hoạch hóa tập trung; về quan niệm rằng tư bản là bóc lột, là đối lập với chủ nghiã xã hội – mà kinh tế thị trường thì sản sinh ra chủ nghĩa tư bản… cùng với thói quen bao cấp đã hình thành lâu năm càng làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng. Cũng vì những sự ràng buộc về quan niệm, nhận thức, không phải thuật ngữ “khủng hỏang” đã được tiếp nhận ngay để có biện pháp ứng phó, để có “thuốc chữa đúng bệnh” mà thọat đầu mới chỉ là “rối ren”, “rối lọan”…, nên cuộc khủng hỏang đó không được dự báo kịp thời, dẫn đến việc khắc phục có nhiều khó khăn, lúng túng. Về tính chất, đây là cuộc khủng hỏang kinh tế – xã hội. Mặc dù không phải là khủng hoảng chính trị theo nghĩa sụp đổ thể chế, đổ vỡ hệ thống quyền lực hay đảo lộn nội các nhưng cuộc khủng hỏang này chứa đựng các nguy cơ làm mất ổn định chính trị không thể xem thường. Cuộc khủng hỏang này đặt ĐCSVN trước nhiệm vụ lịch sử hệ trọng và khó khăn: Phải tạo được bước ngoặt sửa sai cơ bản từ đường lối chính sách, trước hết trên lĩnh vực kinh tế, và cả với tổng thể đường lối, để đứng vững và phát triển

Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam diễn ra như một tất yếu, trong bối cảnh trên thế giới cùng diễn ra nhiều cuộc cải tổ, cải cách… ở Liên Xô, ở các nước XHCN Đông Âu và ở Trung Quốc đã diễn ra trước đó (từ năm 1978) vẫn còn đang tiếp tục. Ở tất cả những nước trong hệ thống XHCN lúc này đều đã hiện rõ những bất ổn của mô hình CNXH đã xây dựng, những biểu hiện trì trệ, khủng hoảng đều đã hiện rõ, báo hiệu nguy cơ sụp đổ đang hiện hữu rất gần. Cũng như các nước này, Đổi mới ở Việt Nam xuất phát từ những bức xúc bên trong. Việt Nam có tham khảo những bài học của các nước này song không áp dụng máy móc, cũng không có “cú hích” từ bên ngòai mà chính những khó khăn, bế tắc buộc các cơ sở phải trăn trở, bươn trải tìm lối thóat, phải “bung ra” để tự cứu. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô bắt đầu từ tháng 4/1985, còn ở Việt Nam.thì việc “phá rào” tự cứu bắt đầu từ trước đó khá lâu. Ở tầm vĩ mô, sau nhiều cố gắng cải thiện mô hình cũ – với nhiều phong trào, nhiều chiến dịch, giương lên nhiều lá cờ… cả trong kinh tế và trên lĩnh vực tư tưởng – mà không có kết quả, tình hình ngày càng bế tắc, những bộ óc thực tế đã nhận ra rằng không thể tiếp tục duy ý chí. Họ bắt đầu nhận thấy cách nghĩ của những người đi trước là khả kính nhưng bất khả thi [Xem thêm [7]). Ở các cấp thấp hơn, hội chứng “kinh tế thiếu hụt” ngày càng trầm trọng, lâm vào khủng hoảng, cán bộ nhân dân ở một số địa phương đã tìm cách “phá rào”, luồn lách qua những “khe hở hẹp” của thể chế hiện hành để họat động có hiệu quả hơn. Nhìn tòan cục, ban đầu những cuộc “phá rào” từ cơ sở đều không có bài bản, chỉ là những giải pháp cụ thể trong thực tiễn, chưa có người chủ xướng tầm cỡ quốc gia. Nhưng sau một thời gian (từ năm 1979 đến năm 1986) thực tiễn chứng minh rằng cần thiết và có thể đổi mới tòan diện, đã tạo nên bước chuyển biến quyết định trong tư duy lãnh đạo từ những người giữ cương vị cao nhất của Đảng – đánh dấu chính thức và mạnh mẽ từ Đại hội Đảng VI (12/1986). Thực tiễn đã vượt trước chính sách. Chính thực tiễn sinh động đổi mới ở các cơ sở, các địa phương đã cung cấp tư liệu cho việc hình thành đường lối Đổi mới toàn diện của ĐCSVN. Từ những tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn đã tiến đến những bước tháo gỡ lớn về tư duy kinh tế. Nhiều quan điểm bảo thủ, sơ cứng, những định kiến và ngộ nhận về kinh tế hàng hóa, về tư sản; về ngoại bang, về bóc lột đã lùi bước trước cái nhìn thực tế và tự tin hơn về kinh tế thị trường về hợp tác đa phương và hội nhập, về một sự “cộng sinh” trong môi trường kinh tế mới. Sau khi “phá rào” thành công, nhiều “cái hàng rào” đã được xử lý thay vì xử lý “kẻ phá rào”, nhiều đối tượng có thể “bị thổi còi” lại được “cầm còi”. Đó là con đường ngọan mục từ “phá rào”, đột phá đến đổi mới, đến sự phát triển khởi sắc kinh tế.

Đặc biệt, một số trường hợp những người đã từng chỉ đạo quyết liệt những chiến dịch “thổi còi” trước đây lại khởi xướng và chỉ đạo việc tháo gỡ, giải thóat cho những người bị “thổi còi”. Đó là ông Trường Chinh: năm 1967 là người quyết định đình chỉ “khóan hộ” ở Vĩnh Phúc đến năm 1980 đã ủng hộ khoán ở Hải Phòng và những năm 1984 – 1985 là người đi đầu trong việc tìm tòi đổi mới tư duy. Ông Đỗ Mười – người chỉ huy hai cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Bắc (1958 – 1960) và miền Nam (1978) – khi ở cương vị Thủ tướng (1988) rất ủng hộ Đổi mới và góp phần tạo ra “bước ngoặt” quyết định năm 1989. Cho đến hết nhiệm kỳ thứ VI Đại hội ĐCSCVN (1991), khi đường lối Đổi mới ở Việt Nam đã định hình tương đối rõ nét, công cuộc Đổi mới đã trải qua nhiều bước đột phá có hệ thống: Bước đột phá khai mở chấp nhận kinh tế tư hữu và thị trường tự do tồn tại bên cạnh và đồng hành với “thị trường có tổ chức” từ năm 1979 với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (Khóa IV). Bước đột phá chuyển hẳn sang chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước và đổi mới tổng thể chính sách kinh tế từ Đại hội ĐCSVN lần thứ VI (12/1986). Hòan thiện chính sách kinh tế mới, chấm dứt chế độ thống nhất quản lý thu mua phân phối cũ, chuyển nền kinh tế vào cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với Nghị quyết Trung ương 6, Khóa VI (1989). Đó là quá trình khai mở đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế, tự chủ mở rộng quan hệ kinh tế đa phương, từng bước hội nhập kinh tế thế giới và khu vực… Cùng với ba bước đột phá trên tổng thể nền kinh tế là những “vận động” mạnh mẽ về đường lối trên bốn lĩnh vực: – Nông nghiệp, sau Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (1981) và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), người nông dân đã được giải phóng khỏi những ràng buộc của chế độ tập thể công hữu, chuyển sang chế độ hợp tác kiểu mới. Sức sản xuất trong nông nghiệp đã thật sự được giải phóng bằng việc thực thi chế độ tự chủ của kinh tế hộ nông dân. Năm 1986, Việt Nam phải nhập khẩu 534.000 tấn gạo, năm 1988 còn phải nhập 395.900 tấn nhưng chỉ những vụ thu hoạch đầu tiên sau “Khoán 10”, cũng những người nông dân Việt Nam đó, trên chính mảnh đất của họ đã từng canh tác lâu đời đã đưa sản lượng lương thực lên gần 20 triệu tấn và còn dành ra 1,4 triệu tấn để xuất khẩu. An ninh lương thực của đất nước được đảm bảo, số lượng gạo xuất khẩu những năm gần đây luôn giữ vững ở mức trên 4 triệu tấn/năm. – Công thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước không còn bị gò ép vào các hình thức “hợp tác”, “tập thể”. Các hộ cá thể được tự do sản xuất và buôn bán những mặt hàng tiêu dùng thông thường. Luật công ty TNHH và Công ty cổ phần được ban hành năm 1990 cho khu vực dân doanh đã xác lập vai trò hợp pháp của kinh tế tư nhân, là bước ngoặt giải phóng sức sản xuất của kinh tế, thương nghiệp ngoài quốc doanh. – Kinh tế đối ngọai với các nước “khu vực II” (ngòai khối SEV – “khu vực I”) được mở rộng. Họat động xuất nhập khẩu được nới rộng khỏi những độc quyền của Nhà nước đã tạo thêm nguồn vốn và thị trường tiêu thụ cho sản xuất trong nước. – Các xí nghiệp quốc doanh được tự chủ hơn với “kế hoạch ba thành phần” bắt đầu từ Quyết định 25 và 25 CP (1981). Các xí nghiệp kinh doanh năng động hơn và đã có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thành thị, khai mở thị trường tự do. Năm 1989, Nhà nước xóa bỏ bao cấp qua giá với các xí nghiệp quốc doanh đã đẩy nhanh việc sàng lọc, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, giảm bớt gánh nặng bao cấp để giải “bài tóan” doanh nghiệp nhà nước theo hướng “cổ phần hóa”, “công ty hóa” trong giai đọan sau. Từ nhận thức đến hành động tháo gỡ những cơ chế ràng buộc, phá bỏ những rào cản để giải phóng sức sản xuất thực chất là sự trở lại với những nguyên lý đúng đắn về mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất với trình độ của quan hệ sản xuất – mà một thời duy ý chí đã muốn đưa quan hệ sản xuất phát triển vượt trước và hy vọng nó sẽ kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Giai đoạn lịch sử từ Đại hội IV (1976) đến hết nhiệm kỳ Đại hội VI của ĐCSVN (1991) ghi nhận một Đảng cộng sản cầm quyền từ chỗ vấp sai lầm, thất bại nặng nề, đã nhận thức được tình thế và có được giải pháp thuận theo quy luật để vượt qua khủng hỏang, chuyển nền kinh tế vào thế ổn định và phát triển đúng hướng, đạt nhiều thành tựu trong hòan cảnh khó khăn. Thành công đó đã được đánh giá là “kỳ diệu”, “bất ngờ”, “khó hiểu ngay cả với người trong cuộc”… Thành công này cũng được đánh giá là “cao nhất có thể đạt được xét theo những khả năng hiện thực trong điều kiện lịch sử”. Thành công này thuận với ý nguyện của nhân dân và hợp với xu hướng phát triển của thời đại.

Vài lời kết:

Nhìn lại những giai đọan lịch sử khi đường lối của ĐCSVN không phù hợp với thực tiễn cách mạng có thể thấy một điểm chung. Đó là sự sao chép những quan điểm chỉ đạo đường lối từ một “nơi khác” về áp dụng trong thực tiễn Việt Nam một cách máy móc. – Trong giai đọan đấu tranh giành độc lập dân tộc là sự sao chép rập khuôn những chỉ thị của QTCS khi thực tiễn cách mạng ở những nước thuộc địa phương Đông (như Việt Nam) hoàn toàn khác so với tình hình cách mạng ở những nước tư bản công nghiệp châu Âu. – Trong CCRĐ là sự sao chép công thức, cách làm từ các “nước bạn” và áp dụng một cách cực đoan trên diện rộng. – Sau tháng 4/1975 là công cuộc xây dựng mô hình CNXH dựa trên sự sao chép một mô hình có sẵn, duy ý chí để đạt mục đích.

Sự sao chép đó có căn nguyên từ lối tư duy giáo điều: Áp dụng những quan điểm, những nguyên lý bất biến; không tính đến những điều mới mẻ từ thực tiễn – và căn bệnh kinh nghiệm: Phóng đại vai trò của kinh nghiệm và nhận thức cảm tính, phủ nhận tính tích cực của tư duy sáng tạo. Hai “căn bệnh” trên thường thấy trong lối tư duy của những người sản xuất nhỏ, trong một nền sản xuất nhỏ. Ở đó lý luận khoa học chưa phát triển và không được coi trọng. Lối tư duy kinh nghiệm vụn vặt và những nhận thức sơ cứng trong vỏ bọc kinh nghiệm, được coi như “khuôn vàng thước ngọc”… và trích dẫn được thay thế cho suy nghĩ. Cũng nhìn từ những lần điều chỉnh đường lối, sửa sai, khắc phục những hậu quả do sai lầm để lại, có thể thấy ý nghĩa của thực tiễn, của những bài học thực tiễn, của quan điểm thực tiễn khi vận dụng lý luận để xây dựng đường lối lãnh đạo cách mạng của ĐCSVN. Thực tiễn cách mạng sinh động là căn cứ để điều chỉnh, sửa chữa những sai lầm khuyết điểm trong đường lối, để đường lối mới phù hợp hơn với thực tiễn và thúc đẩy thực tiễn phát triển đúng hướng, hợp quy luật. Khi đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn, tự nó đã mang tính khả thi.và bao hàm cả sức mạnh để thay đổi cái cũ, tạo lập cái mới, cách làm mới. Đường lối chỉ đúng đắn khi được xây dựng dựa trên sự am hiểu thực tiễn sâu sắc, bởi những người họat động thực tiễn năng động và có khả năng tổng kết thực tiễn. Nguyễn Ái Quốc trước khi đưa ra những luận điểm sáng tạo về cách mạng Việt Nam trong những văn kiện của Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng đã là một trong những nhà cách mạng có kinh nghiệm và hiểu biết nhất về tình hình các nước thuộc địa lúc đó. Hội nghị Trung ương ĐCSVN tháng 11/1939 và Hội nghị trung ương lần thứ 8 (5/1941) của Đảng đã quyết định điều chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc trên cơ sở nhận thức nhạy bén và đúng đắn tình hình thực tiễn, sau khi đã nhận ra những gì không phù hợp trong việc thực hiện những giáo điều được QTCS chỉ dẫn. Thực tiễn nghiệt ngã của những tổn thất nặng nề về cán bộ, về tổ chức trong CCRĐ đã buộc Đảng gấp rút sửa sai trong thời gian ngắn sau đó. Khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng trong những thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX là một thực tế không mong muốn một lần nữa buộc ĐCSVN điều chỉnh đường lối lãnh đạo cách mạng của mình. Năng lực lãnh đạo của một Đảng cầm quyền trước hết và cơ bản nhất là năng lực tìm tòi xác lập đường lối, chính sách đúng đắn để phát triển đất nước. Trong lịch sử của mình, đã hơn một lần đường lối cách mạng của ĐCSVN tỏ ra không phù hợp với thực tiễn phong trào cách mạng. Nhờ phát hiện và sửa chữa kịp thời những sai lầm trong đường lối mà ĐCSVN đã đạt được những thành công. Đại hội X của ĐCSVN đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”, coi đây là giải pháp mấu chốt để “phát huy sức mạnh dân tộc, đẩy mạnh tòan diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Nhiệm vụ đó bao hàm việc đổi mới nhất quán đường lối, chính sách trên nhiều vấn đề cơ bản, tòan diện của hệ thống thể chế kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị.

Đây là việc khó, luôn có nguy cơ sai lầm. Những nguy cơ, thách thức bên ngòai và cả bên trong (đã được Đảng xác định) vẫn hiện hữu do Đảng đã tự làm suy yếu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Những đòi hỏi bức bách từ cuộc sống, thể hiện xu thế đổi mới tiến bộ, trong bối cảnh quốc tế mới cũng đang tạo những khả năng để sàng lọc, kiểm chứng tính đúng đắn của đường lối và cả phương pháp hoạch định đường lối, chính sách của ĐCSVN. Bài học thực tiễn trong lịch sử xây dựng và điều chỉnh để đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn hơn vẫn cần được xem xét.

—————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ngô Vương Anh, Quá trình khẳng định chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc trong đường lối của Đảng giai đọan 1931 – 1941, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 (345), 2005. 2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, tập 2, 346 trang. 3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tập 6, 782 trang. 4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2001, tập 14, 713 trang. 5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 17, 922 trang. 6. Phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, Tạp chí Xưa&Nay, Hà Nội, số 297, 2007, trang 10 – 15. 7. Đặng Phong, Duy tân và Đổi mới, Tạp chí Xưa&Nay, số 151, 2003, trang 13 – 15. 8. Dương Trung Quốc, Hơn nửa thế kỷ “Dân cày có ruộng”, Tạp chí Xưa&Nay, số 297, 2007, trang 4 – 9.

——-

* Tham luận tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển” .Mời xem thêm các bài viết về cuộc hội thảo này (riêng trang web của Hội thảo có lẽ đã bị hủy bỏ): Việt Nam học trong thế kỷ 21“; “Thăm ban tổ chức hội thảo VN học lần ba“; “Nghiên cứu Việt học ‘không độc quyền‘”; ” Đánh giá lịch sử mở rộng lãnh thổ của Việt Nam“; ” Kiến giải của một người Nhật về ông Hồ“; ” Chủ tịch VN nói chuyện với học giả nước ngoài“;

Posted in Lịch sử, Đảng/Nhà nước | 3 Comments »

91:Nghịch cảnh Hồ Chí Minh-Trần Phú qua văn kiện đầu tiên của ĐCSVN

Posted by adminbasam on 13/03/2009

Từ Chính cương và sách lược vắn tắt

 

của Hồ Chí Minh

đến Luận cương Chính trị của Trần Phú

Một nghịch cảnh cần làm sáng tỏ

Đào Phan

Đã đến lúc có thể mở bức màn che ẩn một nghịch cảnh đầu tiên trên chương lịch sử của Đảng và của Hồ Chí Minh, mà cũng là một nghịch lý ít ai ngờ tới ngay trong thời đại mới của nước ta : Đó là việc bản “Chánh cương của Đảng” do Bác Hồ đưa ra Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 năm 1930 đã bị Hội nghị Trung ương ngay tháng 10 cũng năm 1930 xoá bỏ và thay thế bằng “Luận cương chánh trị” của Trần Phú bấy giờ vừa trở về nước ! (1) Vậy thì giờ đây khi bàn về xây dựng Đảng, Đảng ta sẽ dựa vào “Chánh cương” từ lúc đầu của Bác Hồ, hay là vẫn theo “Luận cương” của Trần Phú viết ra sau đấy? Một vấn đề bật ra như thế hiển nhiên đang đòi hỏi những tư liệu được truy cứu rất xác thực trong các văn kiện qua sáu chục năm lịch sử của Đảng ta.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 năm 1930 được triệu tập dưới sự chủ toạ của Hồ Chí Minh, lúc đó mang tên Nguyễn Ái Quốc, là Uỷ viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế cộng sản. Trong “Lời kêu gọi” sau khi Đảng ta được thành lập, do Bác ký tên “thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam”, Bác đã viết rõ rằng: “Nhận chỉ thị của Quốc tế cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ” trong việc tổ chức ra Đảng ta với chính cương, sách lược, chương trình, điều lệ của Đảng (2).

Đảng ta vẫn trước sau khẳng định nhất quán việc Hội nghị thành lập Đảng đã : “Quyết định thống nhất ban tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và điều lệ Đảng do Bác thảo ra”, Đảng cũng nhấn mạnh rằng : “Xuất phát từ tính chất xã hội Việt Nam vốn là nước thuộc địa và nửa phong kiến, trên cơ sở nội dung cuốn Đường cách mạng, chính cương và sách lược của Đảng” do Người khởi thảo là chính cương và sách lược được xác định cho cách mạng nước ta. Đảng đặc biệt nêu bật rằng : “Hội nghị thành lập Đảng có tầm quan trọng ngang một Đại hội, vì nó đề ra đường lối, chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam và những nguyên tắc cơ bản về xây dựng Đảng” (3).

Vậy thì phải chăng là điều trái nghịch “xây dựng Đảng” khi Trần Phú vừa tốt nghiệp trường Đại học ở Liên Xô, lại về triệu tập gấp một Hội nghị Trung ương Đảng trong tháng 10 cũng năm 1930, để ra nghị quyết xoá bỏ cả các văn kiện vừa được thông qua ngay tại “Hội nghị thành lập Đảng có tầm quan trọng ngang một Đại hội” và do “đại diện của Quốc tế cộng sản là Nguyễn Ái Quốc đã chủ tọa” ? Bản nghị quyết của Hội nghị Trung ương do Trần Phú về triệu tập đã nêu rõ hai quyết định quan trọng nhất là : “a) Thủ tiêu chánh cương, sách lược và điều lệ cũ của Đảng” do Bác Hồ biên soạn ; “b) Bỏ tên “Việt Nam cộng sản Đảng” mà lấy tên “Đông Dương cộng sản Đảng”. Và bản nghị quyết đó của Hội nghị Trung ương kia còn quy kết cả cho “Hội nghị hiệp nhất” là đã sai lầm về chính trị…, sai lầm về sách lược…, sai lầm về điều lệ và tên Đảng…, quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu, ấy là một sự rất nguy hiểm” (4).

Trong lúc quyết định xoá bỏ “Chánh cương của Đảng” do Bác Hồ vừa khởi thảo, cuộc Hội nghị Trung ương này lại cũng đã thông qua bản “Luận cương chánh trị” của Trần Phú đưa ra thay thế. Vậy thì điều gì suốt trong sáu chục năm qua đã làm cho cả đảng viên và nhân dân vẫn cứ tưởng rằng “Luận cương” của Trần Phú là “Cương lĩnh” đầu tiên để xây dựng một Đảng do Bác Hồ đã sáng lập và đào luyện ? Mặc dầu các văn kiện quan trọng đó từ lâu vẫn được Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng cất giữ. Và mãi tới nay Tạp chí Lịch sử Đảng mới có thể đưa ra một lời kêu gọi là : “Đã đến lúc các nhà sử học phải hiệu chỉnh lại những đánh giá sai lầm về Chánh cương vắn tắt và sách lược vắn tắt (do Bác Hồ viết) và Luận cương chính trị (của Trần Phú)… Hãy trả về đúng chỗ đứng Lịch sử của bản Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh khởi thảo là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta” (5).

Hiển nhiên bấy giờ Trần Phú phải hành động theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đã đặt dưới sự lãnh đạo của Stalin sau ngày Lênin qua đời. Thế nhưng vấn đề trước tiên cần được minh định hôm nay là trong thư gửi các cấp Đảng bộ tháng 12-1930, Trung ương của “Đảng cộng sản Đông Dương” vừa do Trần Phú về làm Tổng Bí thư cũng phải ghi nhận Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 năm 1930 là “Đại hội hiệp nhứt” Đảng. Vậy thì dựa vào nguyên tắc tổ chức nào “Hội nghị Trung ương do Trần Phú về triệu tập ngay tháng 10 cũng trong năm đó lại cứ tự mình đổi tên “Đảng cộng sản Việt Nam” và xoá bỏ luôn “Chánh cương, sách lược, điều lệ” của Đảng vừa được thông qua ngay tại “Đại hội hiệp nhất” dưới sự chủ toạ của Bác là đại diện chính thức của Quốc tế Cộng sản ?

Phải chăng đây là một ngoại lệ khi một Hội nghị Trung ương có thể xoá bỏ cả các quyết định của một Đại hội toàn quốc ? Khi bản nghị quyết tháng 10 và tiếp liền đó là bức thư tháng 12 kia của Trung ương do Trần Phú làm Tổng Bí thư có thể tự mình quy kết thiếu chân thực rằng : “Hội nghị hiệp nhứt đã chủ trương các công việc rất sơ sài, mà có nhiều điều không đúng với chủ trương của Quốc tế”. Rồi cũng bức thư này còn viện cớ là “Lâm thời Trung ương cử ra sau lúc Hội nghị hiệp nhứt không nhóm một lần nào”, ‒ mặc dầu chỉ mới hơn nửa năm trong hoàn cảnh bị khủng bố ‒ mà xoá bỏ luôn Lâm thời Trung ương từ Hội nghị thành lập Đảng và biện bạch rằng : “Công việc nặng nề của Trung ương (mới) là phải làm cho rõ ràng những sự mập mờ, sửa đổi những sai lầm trong công việc “Hội nghị hiệp nhứt” (6). Tức là sửa đổi những sự “mập mờ” và những “sai lầm” trong công việc của Bác Hồ từ cuộc Hội nghị thành lập Đảng ta!

Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đã quy kết cho “Đại hội hiệp nhất” một sai lầm to lớn trong việc đặt tên Đảng. Vậy thì quyết định bỏ tên “Đảng cộng sản Việt Nam” và thay đổi thành “Đảng cộng sản Đông Dương” phải chăng đã làm biến hoá ngược hẳn cả từ đường lối chiến lược cho đến đường lối tổ chức của Đảng ta ? Khi giải thích rằng “Đảng chúng ta phải lấy tên là Đảng cộng sản Đông Dương thì mới đúng”, bức thư đầu tháng 12 năm 1930 của Trung ương vừa thay thế cũng xác định rõ rằng: “Vấn đề “tên” Đảng nói qua thì tưởng là việc hình thức, việc nhỏ thôi, nhưng kỳ thực nó có quan hệ lớn vì nó có thể ảnh hưởng đến tư tưởng và hành động của Đảng”. Tờ truyền đơn của “Đông Dương cộng sản đảng” lúc đó “giải thích việc đổi tên Đảng “còn lập luận một cách nguỵ biện rằng “Ba xứ Việt Nam, Cao Miên, Lào, tuy thường gọi là ba nước nhưng kỳ thực chỉ thành một xứ mà thôi”. Rồi bức thư tháng 12 kể trên của Trung ương lại biện bạch cho việc phải đổi tên là Đảng cộng sản Đông Dương vì: “Ba xứ ấy đều bị một đế quốc Pháp áp bức, nằm dưới một chính phủ đế quốc thống nhất ở Đông dương” (7).

Lập luận nguỵ biện đó đã xoá cả “ba nước” vốn có tư cách là ba quốc gia dân tộc trải qua lịch sử lâu đời, để cố ghép thành “một xứ” mang tên Đông Dương. Chính thực dân Pháp cũng đã sáp nhập “ba nước” Việt Nam, Cao Miên, Lào thành “một xứ” để toan xoá mất bản sắc dân tộc và tư cách quốc gia của mỗi cộng đồng từng có chủ quyền riêng trên đất mình. Cách thôn tính rồi sáp nhập các dân tộc bị xâm lược vào chung một tên để xoá mất bản sắc dân tộc và tư cách quốc gia của họ như thế, vốn là một thủ đoạn của các triều đại phong kiến xâm lược xưa mà sử sách gọi bằng chữ “kiêm tính”, còn khi nói về “Sắc lệnh hoà bình” cuối năm 1917, thì chính Lênin đã lên án sự “kiêm tính của bọn Đại Nga”, và vạch rõ rằng đó là “thôn tính các lãnh thổ bên ngoài cho nên chính quyền Xô viết phải “tuyên bố xoá bỏ tức khắc” và không điều kiện” (8).

Thế nhưng tới ngày Lênin đã ốm nặng và không còn điều hành các việc quan trọng được nữa, thì Stalin lại đưa ra một cơ chế thống nhất các nước cộng hoà dân tộc họp thành Liên bang Xô viết, mà ngay bấy giờ Lênin liền phải phê phán nghiêm khắc rằng “vẫn chỉ là cái cơ chế của nước Nga” trước kia, và tóm lại là “vẫn mượn cơ chế cũ của Nga hoàng” rồi chỉ tìm các “phết nhẹ cho nó một lớp véc ni Xô viết” (9).

Phương án của Stalin bị Lênin bác bỏ phải chăng có thể làm sáng tỏ thêm vì sao Trần Phú được cử gấp trở về nước đổi tên “Đảng cộng sản Việt Nam” thành ra “Đảng cộng sản Đông Dương”, cũng đã tìm cách sáp nhập cả Lào và Cao Miên vào Đảng của Việt Nam bằng việc “làm cho Lào và Cao Miên có Đảng bộ”, mà hồi đó thực tế chỉ gồm người Việt Nam chứ chưa hề thấy ai là cộng sản người Lào hoặc Cao Miên.

Ngay từ đầu “định tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam” Bác Hồ đã phân tích cụ thể với các đại biểu trong cuộc hội nghị hợp nhất rằng: “Cái từ Đông Dương rất rộng và theo nguyên lý chủ nghĩa Lênin, vấn đề dân tộc là một vấn đề rất nghiêm túc, người ta không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng mình, làm như thế là trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin. Còn cái từ Việt Nam hợp với cả ba miền (Trung, Nam, Bắc) và không trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin về vấn đề dân tộc” (10).

Rõ ràng cũng là “nguyên lý chủ nghĩa Lênin” mà từ sau ngày Lênin qua đời, Bác Hồ đã hiểu và làm khác hẳn “nguyên lý chủ nghĩa Lênin” do Stalin từng diễn giải bằng một tác phẩm được áp dụng từ Liên Xô sang Việt Nam.

Trong việc đổi tên “Đảng cộng sản Việt Nam” thành ra “Đảng cộng sản Đông Dương” cuối năm 1930, phải chăng có mối liên hệ với việc Bác đã tuyên bố giải tán “Đảng cộng sản Đông Dương” cuối năm 1945, rồi tới đầu năm 1951, thì lại khôi phục không phải “Đảng cộng sản Đông Dương” mà là “Đảng lao động Việt Nam” ? Một khi Người đã có điều kiện để trả lại cho Lào và Cao Miên quyền dân tộc tự quyết đúng với nguyên lý chủ nghĩa Lênin, như Người từng giải thích trung thực tại Hội nghị thành lập Đảng ta. Thế nhưng hai chục năm trước thời điểm có thể khôi phục với tên “Đảng lao động Việt Nam”, ngay lúc “Đảng cộng sản Việt Nam” bị áp đặt làm cho Lào và Cao Miên có Đảng bộ để sáp nhập thành “Đảng cộng sản Đông Dương”, chính việc đổi tên Đảng cũng đã gặp phải những sự phản kháng không nhỏ ở trong Đảng bấy giờ.

Chính bức thư do Trung ương của “Đảng cộng sản Đông Dương” gửi cho các cấp Đảng bộ ngày 9 tháng 12 năm 1930 đã ghi nhận là : “Ở Bắc Kỳ thì giải thích rằng vì dân tộc tự quyết của Lênin nên không thể bắt vô sản Cao Miên và Lào vào Đảng với mình được. Ở Trung Kỳ thì nói rằng Đảng ta do sự hiệp nhất Tân Việt, Cộng sản Liên đoàn và An Nam cộng sản đảng mà ra, nên cái tên phải do sự liên kết chữ “Việt” và chữ “Nam” để biểu hiện sự hiệp nhứt của hai đoàn thể. Ở Nam Kỳ lại cho rằng lấy tên An Nam thì hẹp quá, còn lấy tên Đông Dương thì rộng quá, nên phải lấy tên Việt Nam”. Mỗi đảng bộ đã bày tỏ sự phản đối một cách khác nhau, song không đảng bộ nào muốn chấp nhận tên gọi “Đảng cộng sản Đông Dương”. Bức thư trên đây còn nêu thêm rằng :

“Đối với án nghị quyết và thư, chỉ thị của Quốc tế thì các Đảng bộ Trung, Nam, Bắc đều tỏ ra thái độ lãnh đạm. Những kế hoạch lập Đảng và nhiệm vụ hiện thời mà Quốc tế Cộng sản đã chỉ bảo rõ ta trong án nghị quyết và thư, chỉ thị đã gửi tới Trung, Nam, Bắc từ hồi tháng hai tháng ba năm nay, nghĩa là hai ba tháng sau khi hiệp nhứt, thế mà các Đảng bộ các kỳ đều bỏ xó, đến nay (là tháng chạp Tây năm 1930) không thừa nhận và không hết sức thi hành. Ở Nam Kỳ, vấn đề án nghị quyết và thư, chỉ thị của Quốc tế đã hai, ba lần đề nghị Lâm thời xứ uỷ nhưng bị đa số phản đối. Nhiều đồng chí lấy lẽ rằng Quốc tế đã tổ chức ra Đảng cộng sản Việt Nam, những kế hoạch của Đại hội hiệp nhứt đã định đều là của Quốc tế Cộng sản” (11).

Tiếp đến hai bức thư của Bác Hồ viết ngày 20 và 23 tháng 4 năm 1931 từ ngoài nước gửi Ban chấp hành Trung ương của “Đảng cộng sản Đông Dương” do Trần Phú làm Tổng Bí thư cũng nêu xác thực về các biểu hiện đó bấy giờ mà Bác nói rõ là việc “phản đối chỉ thị Quốc tế” từng diễn ra trong Đảng bộ Trung Kỳ và cả Đảng bộ Bắc Kỳ. Vì hai bức thư viết trong bí mật, Bác dùng những chữ tắt cần giải mã như : “T” tức là Trung kỳ, “B” tức là Bắc kỳ, “Đ” tức là Quốc tế Cộng sản, và “Hội nghị Octobre” tức là Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 bỏ tên “Đảng cộng sản Việt Nam”. Ở đoạn nói về “Vấn đề tên Đảng”, bức thư đề ngày 20 đã viết cụ thể : “Trung đề nghị chờ bao giờ Cao Miên và Lào có Đảng rồi sẽ nhập các Đảng lại và đổi tên. Thế là các đồng chí Trung không hiểu chỉ thị Quốc tế nói rằng Đảng phải gồm cả vô sản ở Đông Dương và không hiểu nhiệm vụ Đảng là phải làm cho Lào và Cao Miên có Đảng bộ. (Trung ương đã in và phát hành chỉ thị quốc tế chưa? Sao thấy trong nghị quyết Bắc có hỏi: Trung ương bảo thảo luận “chỉ thị” là chỉ thị nào?…” (12).

Rồi tới bức thư đề ngày 23, ở đoạn nói về “Vấn đề nhiệm vụ tới”, Bác Hồ cũng nhắc lại việc “B phản đối chỉ thị Quốc tế” tức là xứ uỷ Bắc kỳ phản đối. Và người còn nêu rõ mối quan hệ đã bị nhiễu loạn đối với người từ sau Hội nghị tháng 10 năm 1930, tới mức Trung ương mới do Trần Phú đứng đầu lại có thể xấc xược nhận xét nhà sáng lập của Đảng ta là “vô lý và lộn xộn”, khi Bác nhắc Trung ương gửi báo cáo cho người bấy giờ vẫn là uỷ viên Bộ phương Đông và phụ trách Cục Phương Nam của Quốc tế Cộng sản. Không chấp nhận việc gửi báo cáo sang cho người như trước đó nữa, phải chăng là ngầm phủ nhận cương vị của Bác mà chưa có thể làm sao cho Quốc tế Cộng sản gạt bỏ ngay được ? Bác đã phải nói rõ cảnh éo le của người trong thư gửi về Trung ương do Trần Phú làm Tổng Bí thư rằng Quốc tế : “Họ thường hỏi tôi vì sao mà bị lộ ? Vì sao mà bị ? Để suy nghĩ và tìm cách sửa đổi. Nhưng trong không báo cáo ra, cho nên tôi cũng ú ớ !…” Chính vì Trung ương không gửi báo cáo ra cho Bác nữa, khiến người phải nêu “Vấn đề nhiệm vụ tới” một cách minh bạch như sau :

a) Từ ngày Hội nghị Octobre, tôi nghĩ trong nước đã có Trung ương, ngoài đã có Đ (tức là Quốc tế Cộng sản), vậy nên công việc tôi chỉ là như “thùng thơ”. Vậy nên tôi xin Đ đổi chỗ, vì “thùng thơ” thì người khác cũng làm được. Vì thế mà Đ có thơ định trách nhiệm cho tôi (thơ đó tôi có gửi copie cho Trung ương) ‒ tức bản sao.

b) Nếu Trung ương báo cáo thường ‒ tức đều đặn ‒ và rõ ràng (détaillé) thì chúng tôi không đòi báo cáo các nơi làm gì, song từ ngày Hội nghị tháng 10 năm 1930 đến nay, Trung ương chưa có lần báo cáo nào tương tự hết. Như việc B phản đối chỉ thị Quốc tế mà cũng đến bây giờ ‒ tháng 4 năm 1931 ‒ người quen và Trung ương mới nói đến ! Vẫn biết hoàn cảnh khó khăn và Trung ương lắm việc, nhưng “họ” cũng cần phải biết tình hình rõ ràng và cũng vì vậy mà phải yêu cầu các nơi báo cáo. Nhờ hai tờ báo cáo Xứ hội nghị gửi ra, mới biết hơi rõ vì không thấy báo cáo nữa, và “họ” đương hỏi cho được báo cáo Nam kỳ. Vả lại khi trước (Octobre) chúng ta đã khẳng định rằng, hễ các nơi báo cáo thì làm hai bản, một gửi cho Trung ương, một gửi ra (cho Bác là đại diện của Quốc tế). Thế là đỡ việc cho Trung ương, và Quốc tế lại biết rõ tình hình, Đ cũng tán thành cách đó. Như vậy thì có gì là “vô lý” và “lộn xộn” ?

c) Tôi không trao kế hoạch gì riêng cho T và B (tức Trung kỳ và Bắc kỳ), chỉ có những thông báo gấp như về ngày 1-5, những chỉ thị đại khái như chỉ thị vừa rồi và những tài liệu nghiên cứu dịch ra thì tôi cứ vẫn gửi ba bản cho Trung ương và T và B (Trung ương lúc đó đóng tại Nam kỳ). Làm như thế là cho mau, cho tiện và cho chắc chắn (nếu chỗ này không tiếp được thì có chỗ khác tiếp).

d) Thơ vừa rồi Trung ương nói : “Chỉ có việc giao thông và báo chương thì tôi giao thiệp với “họ”, chứ báo cáo thì vô lý và “lộn xộn”. Nếu làm như đã nói trên, thì chẳng những không có gì là “vô lý” và “lộn xộn”, mà lại chạy việc lắm. Nếu không vậy thì tôi giao thiệp với T và B cũng không có tác dụng gì.

e) Thơ Trung ương tôi cứ vậy gửi đi rồi ‒ tức Bác gửi Quốc tế cả bức thơ của Trần Phú gửi ra nhận xét Bác là “vô lý” và “lộn xộn”, rồi quy định cho Bác từ đó chỉ làm “giao thông” và “báo chương”, khiến Bác phải nói rằng công việc ấy sẽ biến người chỉ còn như một “thùng thư” ! Tuy thế trong thư người cũng nói rõ với Trung ương là ngay sau đấy Quốc tế đã “có thư định trách nhiệm cho tôi”, chứ không phải chỉ làm một “thùng thư” như Bác còn viết tiếp rằng : “Nhiệm vụ tôi đã làm như thơ Đ đã định, cho nên khi có việc gì Đ cũng nói với tôi, mà khi tôi có ý kiến gì (như phê bình T và B mới đây) cũng có Đ đồng ý.

“Vậy nên khi Đảng nghị định hoặc yêu cầu gì thì tôi cũng nên biết. Nếu không biết gì cả, khi “họ” hỏi đến, tôi biết đường nào mà nói. Nếu chỉ biết truyền thơ qua, đưa thơ lại, nếu không tham gia ý kiến với Đ và với Trung ương, thì tôi ở đây cũng không ích gì lắm. Vì việc đưa thơ thì đồng chí khác cũng làm được…” (13).

Hai bức thư trên đây của Bác Hồ viết trong thời điểm tháng 4 năm 1931 đã có thể góp vào những bằng chứng về cái nghịch cảnh mà Người bị áp đặt ngay sau Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 do Trần Phú về triệu tập theo “chỉ thị và thư của Quốc tế”. Phải chăng nghịch cảnh ấy đối với nhà sáng lập của Đảng ta lại đã có nguyên do từ cái nghịch lý trong việc đổi tên Đảng và xoá bỏ cả chính cương và điều lệ của Đảng cộng sản Việt Nam do Bác Hồ vừa xác định tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 năm 1930 ? Thật rõ ràng sự nhiễu loạn đối với Bác tới mức coi việc người nhắc hỏi báo cáo là điều “vô lý” và “lộn xộn”, đã có nguồn gốc gần nhất ở bản “Luận cương chính trị” và bản “Nghị quyết trung ương” của Trần Phú”, từng quy kết những “sai lầm rất nguy hiểm” cho cuộc “Đại hội hiệp nhứt”, kể từ “sai lầm chính trị” tiếp đến “sai lầm về điều lệ và tên Đảng”, để rồi đòi hỏi “làm cho Đảng bôn-sê-vích hoá” (14).

Phải chăng đó là một cách “bôn-sê-vích hoá” mà thực chất là “Stalin hoá” khác hẳn nguyên lý chủ nghĩa Lênin về xây dựng Đảng ? Một cách “bôn-sê-vích hoá” bắt đầu từ “vô hiệu hoá” nhà sáng lập của Đảng cộng sản đã kế thừa các tư tưởng của Lênin, các di sản của dân tộc và nhân loại được nhận thức từ học thuyết Mác !

Cách xử trí hết sức thô bạo đối với Bác Hồ bấy giờ rõ ràng cũng là một sự trấn áp vốn rất quyết liệt cả về tư tưởng và về tổ chức đối với Đảng cộng sản Việt Nam vừa được thành lập. Sự trấn áp thô bạo kia hiển nhiên bắt nguồn từ chỗ nghị quyết Trung ương tháng 10 năm 1930 đã quy kết rằng “Chính cương” và “sách lược” của Đảng cộng sản Việt Nam là “quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”, còn “điều lệ” và “tổ chức” của Đảng thì “mất cả ý nghĩa giai cấp tranh đấu” trong lúc “giai cấp tranh đấu của công nông chống đế quốc, tư bổn và địa chủ lại sâu sắc hơn và quan trọng nhứt, càng ngày càng có tánh chất kịch liệt” (15).

Những điều kết luận ấy do Trần Phú mang từ Liên Xô về Việt Nam hồi đó đã có liên hệ với các quan điểm của Stalin từng lập luận rằng “vấn đề dân tộc là một vấn đề thứ yếu”, và bên cạnh nó thì cuộc “đấu tranh giai cấp ngày càng diễn biến quyết liệt” ngay trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là cho đấu tranh giai cấp trở thành vấn đề quan trọng bậc nhất !

Ngược lại, đứng trên lập trường giai cấp vô sản của Mác và Lênin để nhận thức vấn đề dân tộc, trong việc sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam bấy giờ Bác Hồ đã xét cả về mặt dân tộc chứ không chỉ riêng về giai cấp, khi Bác vạch rõ rằng “không thể bắt buộc các dân tộc khác gia nhập Đảng mình” một cách “trái với nguyên lý chủ nghĩa Lênin về vấn đề dân tộc”. Trên cương vị một nhà cách mạng phương Đông đi tìm con đường giải phóng dân tộc ngay trong thế giới hiện đại, từ năm 1925 Bác đã khẳng định một hiện thực mà các dân tộc bị áp bức đều có thể cùng nhìn nhận : “Lênin là người đầu tiên đã chỉ rõ rằng nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được… Việc Lênin giải quyết vấn đề dân tộc hết sức phức tạp ở nước Nga Xô viết là một thứ vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ trong các nước thuộc địa ” (16).

Theo cách hiểu ngay từ đầu của Hồ Chí Minh về các nguyên lý cách mạng của Lênin, thì vấn đề dân tộc cũng có một tầm quan trọng chủ yếu, tới mức nếu không có sự tham gia tích cực của các dân tộc thuộc địa thì cách mạng xã hội không thể có được. Thế nhưng bàn về vấn đề dân tộc ở nước Nga, khi còn là một đế chế đã kiêm tính nhiều dân tộc bị thống trị, từ năm 1913 Stalin lại lập luận rằng: “Vấn đề dân tộc ở nước Nga chỉ là một vấn đề thứ yếu” (17).

Stalin vốn chỉ nhấn mạnh “đấu tranh giai cấp” mà rất coi nhẹ “vấn đề dân tộc” như Lênin nhận xét. Phải chăng đó cũng là sự trái nghịch do Trần Phú đã mang về để đối lập với Nguyễn Ái Quốc khi qui kết cho người là “quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”, khi cũng áp đặt ở nước Việt Nam một thứ quan điểm nêu bật “giai cấp tranh đấu là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” ?

Lập luận nhằm chống lại Nguyễn Ái Quốc không thể chỉ xuất phát từ một Trần Phú ‒ con trai của nhà nho Trần Văn Phổ quê ở Hà Tĩnh đã vào Quảng Ngãi ngồi ghế tri huyện, rồi tự thắt cổ để chống lệnh của công sứ thực dân ép buộc cướp bóc nông dân cơ cực ! Vậy thì bàn tay nào tận bên Liên Xô bấy giờ từng có thể áp đặt cho Bác một nghịch cảnh éo le hồi ấy, bằng cách dựa vào cái lẽ “giai cấp tranh đấu là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” ? Nhất là khi một cán bộ vừa tốt nghiệp trường đại học ở Liên Xô về Việt Nam năm 1930, từng được Nguyễn Ái Quốc dạy cho những bài đầu tiên từ quyển Đường Kách mệnh ngay tại Quảng Châu mới năm 1925 ! Bức thư của Bác viết từ Quảng Châu ngày 18 tháng 12 năm 1924 gửi Chủ tịch đoàn của Quốc tế Cộng sản đã nêu rằng :

“Tôi đến Quảng Châu vào giữa tháng 12. Tôi đã gặp tại đây vài ba nhà cách mạng quốc gia Việt Nam, trong số đó có một người đã xa rời xứ sở từ hai mươi năm nay. Trong cuộc thảo luận, tôi đã giải thích cho ông hiểu sự cần thiết của tổ chức và sự vô ích của những hành động không cơ sở. Ông đã đồng ý. Và đây là các việc mà chúng tôi đã bắt đầu cùng nhau tiến hành :

a) Tôi đã vạch ra một kế hoạch tổ chức và xin gửi kèm bản sao theo đây.

b) Sau khi tán thành kế hoạch này, ông ấy đã đưa cho tôi một bản danh sách của 14 người Việt Nam đã cùng ông hoạt động bấy lâu.

c) Tôi đã chọn 5 nguời quê ở 5 tỉnh khác nhau. Chúng tôi sẽ cử một người Việt Nam đưa họ tới Quảng Châu. Tôi sẽ huấn luyện cho họ về phương pháp tổ chức” (18).

“Người đi xa xứ sở” đó chính là nhà yêu nước Phan Bội Châu đã ra đi từ năm 1905. “Kế hoạch tổ chức” được chính nhà cách mạng tiền bối tán thành là quyết định thành lập ngay “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” trong đó có nhiều thành viên của Đảng Phục Việt do Phan Bội Châu làm thủ lĩnh. Còn Trần Phú là một thanh niên trong bản “danh sách của 14 người Việt Nam” đã được cụ Phan chuyển cho Nguyễn Ái Quốc. Vậy thì sau khi được sang Liên Xô học tiếp mấy năm, tại sao đến ngày vừa nhận nhiệm vụ về nước hoạt động, Trần Phú đã có thể tự mình lập ra một Trung ương mới và làm Tổng Bí thư để xoá bỏ cả “Chính cương” và “Sách lược” của Đảng do Bác xây dựng “trên cơ sở nội dung cuốn Đường Kách mệnh” ?

Lúc Bác Hồ đứng ra thay mặt Quốc tế Cộng sản để triệu tập đại biểu các tổ chức cộng sản trong nước sang Hương Cảng họp dưới sự chủ trì của người, thì chỉ có Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh, Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu… tham gia Hội nghị thành lập đảng ngày 3 tháng 2, chứ Trần Phú thì vẫn đang học ở Liên Xô. Vậy mà chỉ nửa năm sau đấy trở về nước, Trần Phú liền lên án gay gắt rằng “Hội nghị hiệp nhứt” đã phạm sai lầm “rất nguy hiểm”, cả từ Chính cương và Sách lược cho đến điều lệ và tổ chức của Đảng cộng sản Việt Nam. Sự lên án gay gắt đó còn cứ tiếp tục mãi tới sau ngày Bác đã thoát khỏi ngục Hương Cảng và lại bí mật tìm sang Liên Xô qua bao gian nan, để rồi đầu năm 1934 được đưa “vào học” một lớp nghiên cứu sinh ! Trong bản báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 31 tháng 3 năm 1935, “Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương” vẫn quy kết một cách xuyên tạc rằng: “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội do Nguyễn Ái Quốc sáng lập mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” (19).

Tiếp theo đòi hỏi “làm cho Đảng bôn-sê-vích hoá” mà thực chất là “Stalin hoá” do Trần Phú nêu thành nghị quyết, nhằm “vô hiệu hoá” quyển Đường Kách mệnh do Bác Hồ từng đem giảng dạy thành những “nguyên tắc cơ bản về xây dựng Đảng”, Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương bấy giờ vẫn nhấn mạnh rằng: Tàn dư của tư tưởng quốc gia và chủ nghĩa cải lương còn rất nặng trong Đảng và gây trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản. Ban lãnh đạo hải ngoại thấy rằng việc đấu tranh không khoan nhượng chống lại lý luận cơ hội chủ nghĩa của “Việt Nam Thanh niên đồng chí Hội” là cần thiết và yêu cầu Nguyễn Ái Quốc phải viết một cuốn sách nhỏ để “tự phê bình” những sai lầm đã mắc phải trong việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam ! Phải chăng báo cáo đó do “Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương” gửi Quốc tế Cộng sản tháng 3-1935 có liên quan tới Đại hội tháng 7 năm 1935 của Quốc tế Cộng sản, khi Nguyễn Ái Quốc chỉ được tham dự với tư cách là “đại biểu dự thính”, trong lúc Lê Hồng Phong trở thành Uỷ viên BCH của Quốc tế Cộng sản và hai đại biểu chính thức nữa của Đảng cộng sản Đông Dương bấy giờ lại là Nguyễn Thị Minh Khai và Hoàng Văn Nọn. Nghịch cảnh của Bác vẫn tiếp diễn : một lãnh tụ khai sáng của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930, lại còn được đưa “đi học” và giúp đỡ các “học sinh” trong trường, giữa lúc Quốc tế chẳng giao nhiệm vụ nào nữa, rồi tới Đại hội Quốc tế năm 1935 chỉ làm “đại biểu dự thính”!

Kể từ những ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, có một vấn đề hết sức trọng yếu trong việc Bác viết “Chính cương” và “Sách lược” để xây dựng Đảng, mà mãi tới năm 1955 tại Hà Nội, Hồ Chí Minh mới nhắc lại rằng : Trong lời “Kêu gọi các nhà cách mạng phương Đông” từ năm 1919, nhằm xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, vạch cho các dân tộc “con đường đi tới một đời sống có đủ điều kiện xứng đáng với con người”, Lênin đã nhấn mạnh ở chỗ phải biết:

“Dựa vào lý luận và thực tiễn chung của chủ nghĩa cộng sản, áp dụng vào những điều kiện đặc biệt, không có ở các nước Châu Âu; phải biết vận dụng lý luận và thực tiễn ấy vào điều kiện, khi nông dân là quần chúng cơ bản, khi cần phải giải quyết nhiệm vụ đấu tranh không phải là chống tư bản, mà chống những tàn tích của thời trung cổ”.

Và Bác Hồ còn nêu bật rằng: “Đó là những chỉ thị đặc biệt quý báu đối với một nước như nước chúng tôi là nơi 90% dân số sống về nghề nông, là nơi còn tồn tại rất nhiều những tàn tích của chế độ phong kiến quan lại thối nát” (20).

Bác đã nhắc nhở một đòi hỏi của Lênin đối với “các nhà cách mạng phương Đông” là không thể rập khuôn theo phương Tây, “phải biết” vận dụng cả lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa cộng sản một cách không thể máy móc “vào những điều kiện đặc biệt, không có ở các nước Châu Âu”. Lênin còn nhấn mạnh với các nhà cách mạng phương Đông là phải: “Đem học thuyết cộng sản vốn được viết cho những người cộng sản ở các nước tiên tiến, mà dịch ra tiếng nói của mỗi dân tộc” chưa phát triển và bị nô dịch dưới ách thực dân. Chắc hẳn khi viết Chính cương và Sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, Hồ Chí Minh cũng phải đem học thuyết cộng sản “dịch ra tiếng nói” của chính dân tộc Việt Nam, chứ không rập khuôn hay bắt chước một cách giáo điều theo những công thức xơ cứng.

Cho nên trong lúc nhận thấy lời kêu gọi của Lênin mang những “chỉ thị đặc biệt quý báu” đối với một nước như nước Việt Nam, là nơi đang cần giải quyết một cuộc “đấu tranh không phải chống tư bản”, là nơi mà cuộc đấu tranh chủ yếu không phải là của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư bản trong nước, Bác Hồ đã sớm phòng ngừa cái tệ “một mực bắt chước” khi người nêu rằng: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (21).

Chắc hẳn cũng vì vậy mà khi viết Chính cương và Sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam, bấy giờ Bác Hồ đã đề ra một nguyên tắc trong cuộc cách mạng chống đế quốc và phong kiến ở nước ta là : “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, (thanh niên, Tân Việt, phái Nguyễn An Ninh v.v…) để kéo họ đi về phe giai cấp vô sản. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam thì phải lợi dụng, ít nữa làm cho họ trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến v.v…) thì phải đánh đổ. Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thỏa hiệp” (22)

Thế nhưng đến Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 đổi thành “Đảng cộng sản Đông Dương” thì bản “Luận cương chính trị” của Trần Phú đã lật ngược rằng : “Trí thức, tiểu tư sản, học sinh v.v… là hạng có xu hướng quốc gia chủ nghĩa, chúng nó đại biểu cho quyền lợi cho tất cả giai cấp tư bổn bổn xứ, chứ không phải chỉ bênh vực quyền lợi riêng cho tiểu tư sản mà thôi. Trong thời kỳ chống đế quốc chủ nghĩa thì hạng ấy cũng hăng hái tham gia, nhưng chỉ lúc đầu mà thôi, chúng nó không thể binh vực quyền lợi cho dân cày được, vì chúng nó phần nhiều có giây giướng với bọn địa chủ…” Phủ nhận tất cả ảnh hưởng của các phong trào yêu nước trước năm 1930, Luận cương của Trần Phú còn lên án từ “bọn Huỳnh Thúc Kháng” cho đến “bọn Nguyễn An Ninh”, và đưa ra một quan điểm cực đoan về cuộc đấu tranh giai cấp là : “Sự tranh đấu của giai cấp ở Đông Dương ngày càng bành trướng. Điều đặc biệt và quan trọng nhứt trong phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự đấu tranh của quần chúng công nông có tính chất độc lập rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như trước nữa” (23).

Rõ ràng đó là một thứ lập luận hết sức cô độc biệt phái do đã quan niệm sai về đấu tranh giai cấp.

Nghị quyết Trung ương tháng 10 năm 1930 dựa vào luận cương chính trị của Trần Phú còn quy kết cho “Chính cương” và “Sách lược” do Bác Hồ đề ra là phạm “sai lầm rất nguy hiểm” vì đã : “Chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ ; đối với đại địa chủ thì tịch ký ruộng đất, và đối với tiểu, trung địa chủ thì chủ trương lợi dụng họ, ít ra cũng làm cho họ đứng trung lập. Như thế là sai lầm và nguy hiểm”. Bản nghị quyết này lại phê phán thêm rằng : “Trong sách lược nói phải lợi dụng bọn tư bổn mà chưa rõ mặt phản cách mạng, ít ra cũng phải làm cho chúng nó trung lập, tức là như biểu Đảng đừng chủ trương công nhận tranh đấu với tư bổn bổn xứ nữa” (24).

Trong khi nghị quyết đó nhấn mạnh rằng “giai cấp tranh đấu của công nông” là điều “quan trọng nhất” ngay ở Việt Nam, thì luận cương của Trần Phú cũng từ đầu chí cuối chỉ kêu gọi “mở rộng hàng trận công nông”, không hề nhắc tới “đoàn kết dân tộc” mà chỉ nêu bật “mâu thuẫn giai cấp”. Luận cương của Trần Phú đã vạch ra thành “hàng trận” giữa một phía là “thợ thuyền và dân cày” chống lại bên kia bao gồm tất cả “đế quốc, phong kiến, địa chủ, phú nông, tư bản bản xứ, tiểu tư sản, trí thức, học sinh v.v…” Sự trái ngược căn bản giữa “Luận cương” kia của Đảng cộng sản Đông Dương so với “Chánh cương” do Bác Hồ viết cho Đảng cộng sản Việt Nam vốn khởi thuỷ là ở điểm ấy : Luận cương của Trần Phú chỉ nhằm mở rộng “hàng trận công nông” và “đấu tranh giai cấp” một cách biệt phái cực đoan ; trong lúc chính cương của Bác Hồ lại nêu bật “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” nhờ sự tập hợp lực lượng rộng lớn nhất để đánh đổ đế quốc thực dân và chế độ phong kiến, như “Hội nghị hiệp nhất” của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra việc lập “Đồng minh phản đế” tức mặt trận chống đế quốc (25).

Đáng chú ý là ngay sau khi vừa xoá “Chính cương” của Đảng do Bác Hồ đề ra, tự bản chỉ thị tháng 11-1930 của Trung ương do Trần Phú làm Tổng Bí thư vẫn phải ghi nhận trung thực về tình hình ở Nghệ Tĩnh bấy giờ : “Địa chủ, phú nông và một số quan lại nhỏ trong nông thôn đã phân hoá, và một số lớn đã nghiêng về cách mạng, họ đã tỏ ra trọng và phục Đảng cộng sản và phong trào công nông. Giai tầng tư sản nhỏ ở Nghệ Tĩnh như buôn bán đều có ý thức, xu hướng cách mạng” (26).

Thế nhưng mới sang đầu năm 1931 thì Xứ uỷ Trung kỳ của Đảng cộng sản Đông Dương đã vội “làm cho Đảng Bôn-sê-vích hoá” bằng một chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ “thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” ! Rồi tiếp đấy chẳng bao lâu sau khi Trần Phú bị Pháp bắt ngày 18 tháng 4-1931, thì có chỉ thị Trung ương ngày 20 tháng 5-1931 gửi Xứ uỷ Trung kỳ để ngăn chặn việc “thanh trừ trí phú địa hào”, và lại nhấn mạnh tinh thần căn bản đúng như Đồng minh phản đế đã nêu : “Xuất phát từ chỗ giác ngộ phản đế, ghét Pháp từ trước tới nay, nên trong hàng ngũ Đảng có những thư gia đệ tử, cựu nho, trung, tiểu, địa chủ, phú nông, trung nông ở nông thôn, và một số giáo viên, học sinh chữ Pháp, một số tiểu thương, tiểu chủ hay con nhà tiểu thương, tiểu chủ ở thành thị, cùng với một số thợ xí nghiệp, một số công chức, tổ chức hỗn hợp lại trong một phong trào… Nhưng đa số đồng chí hết sức trung thành, đã hiến thân cho Đảng đến giọt máu cuối cùng” (27).

Hiện thực ấy của cách mạng nước ta và việc xây dựng Đảng ta, ngay cả sau khi đã bị áp đặt thành “Đảng cộng sản Đông Dương” và xuyên suốt đến ngày khôi phục lại “Đảng Lao động Việt Nam”, hiển nhiên đã bắt nguồn từ “Chánh cương” và “Sách lược” do Bác Hồ nêu ra đầu tiên chứ không phải từ “Luận cương” và “Nghị quyết” của Trần Phú mang về thay thế. Sau này khi nói về “Mặt trận dân tộc thống nhất”, người còn vạch rõ rằng: “Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam” (28).

Bàn về vai trò của trí thức trong cuộc cách mạng của công nhân, từ năm 1921 khi còn ở nước ngoài Bác đã nhấn mạnh rằng : “Ở Ấn Độ, ở Nhật Bản, ở Trung Quốc, nhất là ở Trung Quốc, phần nhiều là các nhà trí thức trung thành với sự nghiệp của giai cấp công nhân đang lãnh đạo giai cấp này trong cuộc đấu tranh” (13). Nhận định rất trung thực đó của Bác Hồ từ năm 1924 cũng được xác minh đến khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 cho tới mãi sau này ở nước ta.

Cũng như nói về “tư bản” trong mặt trận chống “đế quốc”, thì Bác lại nêu bật một hiện thực lớn trên thế giới: “Ănghen dù là con nhà tư bản, ông đã trở nên một người thầy dạy chủ nghĩa cộng sản cho chúng ta”. Rồi nói luôn về “địa chủ” trong mặt trận chống đế quốc, chính Bác còn nhấn mạnh rằng: “Đồng chí Bành Bái ở Trung Quốc, gia đình đồng chí ấy là đại địa chủ, đại phong kiến, nhưng đồng chí ấy đã tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh rất quyết liệt chống địa chủ và phong kiến… Địa chủ cũng có đôi người làm cách mạng, nước ta cũng như các nước khác, ta cũng có vài đồng chí đại địa chủ mà làm cách mạng, hồi bí mật có bao nhiêu tiền của giúp cho Đảng hết, cam chịu tù đầy. Họ tuy là người trong giai cấp địa chủ, nhưng lập trường và tư tưởng đã đứng về phe vô sản, là người của giai cấp công nhân… Đồng chí xuất thân là địa chủ, nhưng họ tự nguyện hiến hết ruộng đất, để chia cho nông dân, như thế thì không có gì đáng xấu hổ. Dù mọc ở bùn thối lên nhưng hoa sen vẫn thơm đẹp. Địa chủ mà thật thà tiến bộ thì cũng như hoa sen vậy” (29).

Rõ ràng từ những tổng kết trên cả thế giới và qua các nhà yêu nước tiền bối của mình, Bác Hồ đã nêu rõ về “địa chủ” về “tư bản”, về “trí thức”, trong Chính cương và Sách lược để xây dựng Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1930 xuyên suốt cách mạng nước ta.

Chỉ sau mấy năm Đảng ta bị tan vỡ do cuộc khủng bố trắng hồi 1931-1932 của thực dân và phong kiến, tới khi có thể khôi phục tổ chức của Đảng và phong trào cách mạng trên cả đất nước, Bác lại tiếp tục chủ trương mặt trận thống nhất “Hoa Nam, Đông Dương, Thái Lan, Malaixia”, Bác Hồ đã tự thấy có “bổn phận bức thiết đối với các Đảng của chúng tôi là phải đề xuất” một số đề nghị trong đó có việc “thực hiện mặt trận thống nhất”. Nhờ đấy ngay từ những năm 1936-1939, “Mặt trận dân tộc dân chủ” theo đường lối của Bác lại khôi phục phong trào cách mạng rất rộng rãi sôi nổi khắp nước ta, bằng cách “kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động hợp pháp” đúng như Bác đã nêu trong thư vừa kể (30).

“Mặt trận dân tộc dân chủ” bấy giờ quả nhiên đã bắc một nhịp cầu có vị trí quyết định đối với phong trào cứu quốc từ năm 1941, khi Bác về nước triệu tập ngay Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 lập “Việt Nam độc lập đồng minh” tức “Mặt trận dân tộc thống nhất” giành độc lập của dân tộc. Trong bức thư ngày 6 tháng 6 năm 1941 ký Nguyễn Ái Quốc gửi toàn thể đồng bào, kêu gọi “các bậc phụ huynh, các hiền nhân và chí sĩ, các bạn sĩ, nông, công, thương, binh”, từ đấy Bác càng nêu bật là phải đặt “quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”, và càng nhấn mạnh “toàn dân đoàn kết” để ai nấy đều “hiệp lực đồng tâm” (31).

Từ đấy, rõ ràng “độc lập đồng minh” đã trở về đúng với cội nguồn là “phản đế đồng minh” từng được đề ra ngay trong Hội nghị thành lập Đảng tháng 2-1930, và tinh thần căn bản của “Chính cương” và “Sách lược” do Bác Hồ từng khởi thảo cho Đảng cộng sản Việt Nam lại được khôi phục hoàn toàn với “Mặt trận dân tộc thống nhất”, trở thành bí quyết thành công của cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945, tiếp đến các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thế nhưng phải chăng có những lúc khối “đoàn kết dân tộc” lại bị phá vỡ bởi cuộc “đấu tranh giai cấp” đã bị áp dụng một cách giáo điều sai với tư tưởng của Lênin và quan điểm của Bác Hồ ? Và phải chăng đó chính là những lúc mà trong Đảng ta có các quan điểm đối lập hẳn với Bác Hồ trong việc vận dụng lý luận của Lênin về “vấn đề dân tộc” và “vấn đề giai cấp” ?

Trong Đảng ta hơn một nửa thế kỷ vừa qua, rõ ràng chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo duy nhất nêu bật lời của Lênin “Kêu gọi các nhà cách mạng phương Đông”, khi Người nhắc phải vận dụng sáng tạo các lý luận cộng sản. Đây chính là mối quan tâm của Lênin về “vấn đề nông dân” do Bác tiếp thu như một “vấn đề giai cấp” gắn với “vấn đề dân tộc” mà Bác coi thực chất là “vấn đề nông dân”. Đứng trên quan điểm giai cấp công nhân của một chiến sĩ quốc tế cộng sản, cuối năm 1923 tại Đại hội quốc tế nông dân ở Mátxcơva, Bác đã xác định rằng “nông dân là quần chúng căn bản” có nghĩa như thế nào khi bản tham luận quan trọng của Người vạch rõ :

“Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử phải lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minh với giai cấp nông dân. Những trào lưu cơ hội chủ nghĩa nịnh nông dân, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu, là động lực duy nhất của cách mạng, là đội ngũ cách mạng nhất, đều chỉ đi tới chủ nghĩa phiêu lưu, chủ nghĩa cực đoan, vô chính phủ và đi tới chỗ phản bội chủ nghĩa Lênin mà thôi” (32).

Bấy giờ, mới cuối năm 1923, chưa xuất hiện “chủ nghĩa Mao” là thứ chủ nghĩa cơ hội “nịnh nông dân”, coi nông dân là một lực lượng chủ yếu của cách mạng và là đội ngũ cách mạng nhất. Song đến “Chỉ thị Trung ương” ngày 20 tháng 3 năm 1931 của Đảng cộng sản Đông Dương do Trần Phú làm Tổng Bí thư, thì lúc nêu bạn “đồng minh sinh tử của giai cấp công nhân”, lại nhấn mạnh rằng “giai cấp nông dân là một lực lượng chủ yếu của cách mạng” nước ta (33).

Phải chăng cũng do cái chủ nghĩa cơ hội “nịnh nông dân” ấy, mà ngay trong đầu năm 1931 Trần Phú vừa về nước đã có lệnh: “thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” ? Rõ ràng chỉ thị kia đã đối lập hẳn với “yêu cầu giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân” từng do Bác Hồ nêu lên khi vạch rõ rằng: “Trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc lại thực chất là vấn đề nông dân, thì cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo” (34).

Đứng trên lập trường giai cấp vô sản để giải quyết vấn đề dân tộc ở một nơi mà nông dân đông tới 90% dân số cả nước, Bác Hồ lại không hề mang tư tưởng biệt phái về giai cấp công nhân như nhiều Đảng cộng sản bên phương Tây bấy giờ, chỉ nêu “đấu tranh giai cấp” chứ không bàn tới “đoàn kết dân tộc” ở các thuộc địa là một yêu cầu to lớn. Bởi vậy, đến năm 1924 khi Lênin vừa qua đời, Bác vẫn thẳng thắn phê phán những tư tưởng biệt phái về giai cấp trong vấn đề dân tộc, khi nhân danh các dân tộc mà viết: “Nếu giai cấp vô sản phương Tây coi Lênin là một thủ lĩnh, một lãnh tụ, một bậc thầy, thì các dân tộc phương Đông lại thấy Lênin là một con người còn vĩ đại hơn nữa, cao quý hơn nữa” (35).

Bác không chỉ nhìn thấy giai cấp trong đấu tranh, mà rộng hơn nữa, còn nhìn thấy dân tộc và con người trong cách mạng. Cho nên tới năm 1925 lại nhắc đến Lênin trong lòng các dân tộc mất nước, Bác cũng vẫn thẳng thắn gạt bỏ tư tưởng biệt phái về giai cấp ở các Đảng cộng sản bên phương Tây bấy giờ đang rất coi thường vấn đề dân tộc, khi Bác có thể làm mếch lòng cả Stalin mà viết rõ ra rằng: “Lênin đã đặt cơ sở cho một kỷ nguyên mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa. Lênin là người đầu tiên đã kiên quyết lên án một thành kiến về vấn đề này còn âm ỷ trong đầu óc của nhiều nhà cách mạng châu Âu và châu Mỹ” (36).

Dù là một nhà cách mạng phương Đông sinh ra từ Grudia, nhưng Stalin vẫn cứ cho rằng: “Vấn đề dân tộc ở nước Nga chỉ là một vấn đề thứ yếu”! Tư tưởng biệt phái coi nhẹ vấn đề dân tộc để chỉ nhấn mạnh vấn đề giai cấp, phải chăng còn có nguyên nhân cụ thể từ các quan niệm xuyên tạc về sự hình thành dân tộc ? Vận dụng lý luận của Mác trong vấn đề dân tộc, Stalin cũng đã trình bày sai về Mác, và sai lạc cả lịch sử của nhiều dân tộc khi lại cho rằng: “Quá trình tan rã của chế độ phong kiến và phát triển chủ nghĩa tư bản đã đồng thời là một quá trình của sự tập hợp những con người thành dân tộc… Không còn nghi ngờ gì nữa là chỉ đến những giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản thì các dân tộc mới được tập hợp” (37).

Quan điểm đó của Stalin rõ ràng không thể xác thực đối với Việt Nam mà sự hình thành dân tộc đã có quá trình lịch sử từ trước đây mấy ngàn năm, chứ không chờ tới ngày tan rã của chế độ phong kiến và ngày có mặt chủ nghĩa tư bản phương Tây kéo sang hơn một trăm năm vừa qua. Thế nhưng chính do quan niệm không xác thực ấy đối với cả Cao Miên và Lào vốn cũng hình thành quốc gia từ rất lâu đời, cho nên mới đem ghép hai nước đó vào một “Đảng cộng sản Đông Dương” trái với quan điểm của Lênin về “vấn đề dân tộc”, khi đã có một văn kiện từ Liên Xô “gửi cho những người cộng sản ở Đông Dương” lại coi Cao Miên và Lào chỉ là “dân tộc thiểu số”! (38).

Từ những lời của Lênin kêu gọi các nhà cách mạng phương Đông, đến “Chính cương” và “Sách lược” của Đảng cộng sản Việt Nam, Bác Hồ đã trải qua bao đoạn chống chọi với chủ nghĩa giáo điều và tư tưởng biệt phái ở phương Tây cả trong vấn đề giai cấp và trong vấn đề dân tộc. Rồi tới những năm Đảng ta từng bước đưa “Chính cương” và “Sách lược” của Bác vào thực tiễn, thì Bác lại trải qua bao đoạn chống chọi với luận điệu xuyên tạc và thủ đoạn áp đặt từ châu Âu sang châu Á cũng như chung quanh Người. Song các thành công và thất bại của Đảng trong sáu chục năm vừa qua phải chăng cũng đã chứng tỏ rằng: Chỉ có thực hiện và phát triển đúng “Chính cương” và “Sách lược” của Bác mới đạt được thành công và tránh được thất bại !

Khẳng định chân lý ấy giữa lúc đang có cuộc khủng hoảng tư tưởng trong đảng viên và đại chúng, càng đòi hỏi nhiều trí tuệ và tâm huyết để nói thẳng các sự thật to lớn và rất đau lòng ! Mỗi cán bộ tự thấy cần suy nghĩ về vận mệnh của đất nước đang vượt qua bao khó khăn chồng chất, ắt cũng tự hỏi rằng những khó khăn chồng chất ấy hiện nay phải chăng đã có một nguyên do hết sức nghiêm trọng. Bắt đầu thống nhất nước nhà, giành được độc lập trọn vẹn, thì lại làm sai “Chính cương” và “Sách lược” của Bác từng vạch ra để xây dựng Đảng ta suốt nửa thế kỷ vừa qua ?

Vậy thì để suy nghĩ về vấn đề to lớn của hơn một nửa thế kỷ sẽ tới, cũng cần hết sức nghiêm túc xem xét nguyên do từ đâu mà lúc bắt đầu đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội là việc gắn liền với nền độc lập dân tộc, lại đã toan đổi “Quốc ca” sau khi xoá bỏ tên nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” và đổi thành nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” ? Liệu điều đó có liên quan như thế nào với sự kiện xoá bỏ “Chính cương” và “Sách lược” do Bác Hồ đã khởi thảo cho Đảng cộng sản Việt Nam, rồi áp đặt bản “Luận cương chính trị” của Trần Phú mà sáu chục năm vừa qua vẫn được coi là “Cương lĩnh cách mạng” đầu tiên của một Đảng do Bác từng sáng lập và đào luyện !

Thế nhưng trong lúc nêu bật các điều trên đây, thì bản báo cáo chính trị năm 1976 lại nhiều lần nhấn mạnh rằng sau khi đã thống nhất, trên đất nước ta vẫn diễn ra một “quá trình đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp giữa hai giai cấp tư sản và vô sản”. Ngay lúc bắt đầu kế hoạch những năm 1976-1980 nhằm “hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam”, bản báo cáo đã khẳng định “cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản” (39).

Phải chăng báo cáo chính trị của Đảng năm 1976 vẫn mang ảnh hưởng bản luận cương chính trị của Trần Phú năm 1930, chứ không căn cứ vào “Chính cương” và “Sách lược” do Bác Hồ vạch ra để giành độc lập dân tộc và để đi lên chủ nghĩa xã hội? Làm sao vừa nhờ “đoàn kết dân tộc” mà đánh bại được đế quốc và nguỵ quyền, lại liền quay ra “đấu tranh giai cấp” một cách quyết liệt để rồi đối đầu với các đồng minh cách mạng đã cùng giai cấp công nhân giành lấy độc lập dân tộc, chỉ vì muốn sớm áp đặt vào miền Nam một thứ quan liêu bao cấp từng bị thất bại ở miền Bắc!

Bác Hồ đã vượt qua bao giáo điều và áp đặt mới có thể dắt dẫn cả dân tộc đi tới được những đỉnh cao thắng lợi của đất nước trong thế kỷ XX này. Song phải chăng cũng do các giáo điều từng đem áp đặt khác hẳn “Chính cương” và “Sách lược” của Người, mà Đảng ta và đất nước phải gánh chịu những tổn thất nặng nề do để sai lầm nghiêm trọng như trong cải cách ruộng đất v.v…?

Tư liệu góp bàn về vấn đề “Xây dựng Đảng” ắt còn có thể kể ra nhiều nữa. Tôi chỉ xin nêu một phần, mong được cho thêm ý kiến, để kịp bổ khuyết và trình Đại hội với tất cả tấm lòng vì lợi ích của đất nước.

ĐÀO PHAN

NGUỒN : Xưa & Nay, số 327 (tháng 3.2009) và 329 (tháng 4.2009)
bản đầy đủ đăng trên talawas

(1) Lê Mậu Hãn, Tạp chíLịch sử Đảng, tháng 5-1990, tr. 18.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, H, 1981, tập 2, tr. 303.

(3) Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng biên soạn, Nxb Sự thật, H, tr. 38-39, và 40.

(4) Văn kiện Đảng, 1930-1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng xuất bản, Hà Nội, 1977, tr. 84-85 và 87.

(5) Tạp chí Lịch sử Đảng, bài đã dẫn, tr. 22.

(6) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 189-190 (BCH Trung ương lâm thời tháng 2 năm 1930 gồm có : Trịnh Đình Cửu, Trần Lan, Nguyễn Hơi, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Hạ Bá Cang, Phạm Hữu Lầu. -BCH Trung ương do Trần Phú về lập ra tháng 10 năm 1930 gồm có : Trần Phú, Trần Văn Lan, Lê Mao, Nguyễn Phong Sắc, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nha, Lưu Lập Đạo).

(7) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 187 và 191.

(8) V. Lênin, Toàn tập, bản tiếng Pháp, Nxb Ngoại văn, Moscou, T. 26, tr. 255 và 257.

(9) V. Lênin, Toàn tập, sđd, T. 36, tr. 609 và 613.

(10) Tạp chí Lịch sử Đảng, bài đã dẫn, tr. 20.

(11) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 190-191 và 194.

(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 3, tr. 45.

(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 3, tr. 52-54.

(14) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 87.

(15) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 80 và 85.

(16) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 2, tr. 1 và 2.

(17) J. Stalin, Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Nxb Ngoại văn, Moscou, 1954, bản tiếng Pháp, tr. 35.

(18) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 1, tr. 314-315.

(19) Lê Mậu Hãn, Tạp chí Lịch sử đảng, tháng 5-1990, tr.19.

(20) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 7 tr. 204 và 206 (xem thêm V.I. Lênin, Toàn tập, tập 39, bản tiếng Việt, tr. 372).

(21) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 4, tr. 491.

(22) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 2, tr. 297.

(23) Văn kiện Đảng, 1930-1945, Ban NCLSĐ xuất bản, H, 1977, tr.67 và 70.

(24) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 84-85.

(25) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 194.

(26) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 175-176 và 178.

(27) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 286-287

(28) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 9, tr. 403.

(29) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 1, tr. 250

(30) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 6, tr. 357 và 396.

(31) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 3, tr. 55, 58 và 114.

(32) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 3, tr. 147 và 148.

(33) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 1, tr. 157-158.

(34) Văn kiện Đảng, sđd. tr. 224.

(35) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 8, tr. 604.

(36) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 1, tr 232.

(37) Hồ Chí Minh, Toàn tập, T. 2, tr.1.

(38) J. Sta-lin, sđd, tr. 19 và 43.

(39) Văn kiện Đảng, sđd, tr. 43.

(Đây là bài viết đầy đủ được lấy từ trang Diễn Đàn, ngày 11-5-2009)

Posted in Lịch sử, Đảng/Nhà nước | 4 Comments »

89:Khủng Hoảng kinh tế ảnh hưởng người Nghèo ở VN

Posted by adminbasam on 10/03/2009

AFP

Tình trạng suy giảm

kinh tế  trên toàn cầu

gây thiệt hại cho

những người nghèo

nhất  ở Việt Nam

 

Hãng thông tấn Pháp AFP

Ngày 8-3-2009


THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH — Việc bán bắp ngô trên vỉa hè ở Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam có thể là một việc xa lạ đối với Wall Street hay Square Mile của London (trung tâm thị trường chứng khoán ở New York và thủ đô Luân Đôn ở Anh – Tr.H), thế nhưng Lê Thị Hoa nói rằng cô đã và đang gặp nhiều khó khăn do tình trạng suy giảm kinh tế.

Từ những tài xế taxi và những người bán hàng rong trên đường phố cho tới những nhân viên văn phòng và người đầu cơ trên thị trường, mọi người dân ở đây đều đồng ý rằng những khó khăn về tài chính của thế giới đã quét vào bờ biển Việt Nam, và người nghèo đang phải gánh chịu những nỗi đau khổ.

“Tôi không bán được nhiều trong suốt ba tháng vừa qua,” theo lời của chi Hoa, 37 tuổi, với làn da dãi dầu mưa nắng qua năm tháng miệt mài với công việc buôn bán của mình trên những đường phố bụi bặm và hỗn loạn của Sài Gòn ngày xưa, trung tâm kinh tế của Việt Nam.

Chị Hoa cho biết năm ngoái chị kiếm được hơn 100.000 đồng (sáu đô la) một ngày, thế nhưng giờ chị chỉ cố được chưa tới 80.000.

“Mọi người đang nói về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Mọi người đều gặp nhiều khó khăn hơn trước đây, và tôi không phải là ngoại lệ,” chị bảo vậy, và cố gắng mang lại một nụ cười tự nhiên mặc cho tình trạng gian khổ hiện nay.

Mặc dù Việt Nam cộng sản đã thay đổi nhanh chóng trong 10 năm qua, nhưng nước này vẫn còn nghèo khó và chủ yếu dựa vào trồng trọt, trong khi những nhà chuyên môn cảnh báo rằng tình trạng suy giảm kinh tế đang đe doạ làm chậm bước phát triển và nhận chìm hàng triệu người Việt trở lại cảnh bần cùng.

Khoảng 12 triệu trong tổng số dân 86 triệu người đã sống ở mức nghèo khổ và vô số những người khác đang mấp mé mức đó một cách nguy hiểm, theo các số liệu mới nhất của chính phủ cho biết.

John Hendra, Điều phối viên Thường trú của Liê hiệp quốc tại Việt Nam, nói với hãng AFP rằng rõ ràng đất nước này đang cảm nhận được những hiệu quả của cuộc suy giảm kinh tế — và những người nghèo khổ nhất chính là những người sẽ phải trả giá nặng nhất.

“Trong khi hiện thời có ít dữ liệu vững chắc thiết lập những lời dự đoán, mức sút giảm gần đây nhất về nhập khẩu, mức gia tăng xuất khẩu, việc vận chuyển hàng hóa và các sự viếng thăm của du khách quốc tế trong tháng Hai gợi lên rằng một tình trạng chậm lại rất đáng kể đang diễn ra tại Việt Nam,” ông Hendra cho AFP biết.

“Giống như những nền kinh tế mở cửa và đang phát triển khác, Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi mức suy giảm nhu cầu nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Nhật và EU, những thị trường nầy tiêu thụ tới 60% hàng hóa xuất khẩu của nước này,” ông nói.

“Dầu vậy, hiện nay điều tõ ràng chính là sự suy thoái trên toàn cầu sẽ ảnh hưởng tới công ăn việc làm và cả mức nghèo đói khi mà nhiều gia đình Việt Nam sống chủ yếu nhờ vào lương-tiền- kiếm-được chỉ mấp mé ở trên mức nghèo đói và kết quả vì thế mà họ đang có nguy cơ thực sự rơi trở lại vào tình trạng nghèo đói.”

Mặc dù lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam vẫn tương đối cách ly và bởi vậy ít bị thiệt hai của cuộc khủng hoảng toàn cầu, song nền kinh tế nước này ngày càng hòa nhập và ngày càng phải dựa vào xuất khẩu.

Mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội(GDP) đã giảm xuống 6,2% năm 2008, mức thấp nhất trong gần 10 năm qua và là một cú sút giảm đột ngột từ 8,5% năm 2007.

Trong khi đó, bộ lao động Việt Nam lo ngại sẽ có tới 400.000 công nhân có thể bị mất việc làm trong năm nay.

Ayumi Konishi, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Phát triển Á châu tại Việt Nam, đã cho rằng rối loạn kinh tế “sẽ tất yếu tác động xấu lên mức tăng trưởng của Việt Nam và điều đó có nghĩa rằng những nỗ lực tiếp theo của nước này nhằm giảm đói nghèo ở thành thị và nông thôn sẽ không dễ dàng.”

Những con số mới đây nhất của chính phủ đưa ra đặt số người sống trong mức nghèo khó ở vào khoảng 13% của dân số vào năm 2008 — hoặc khoảng 12 triệu người. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với hơn 60% vào năm 1990. (Dân số của 13 tỉnh miền Tây là 18 triệu dân, và số người nghèo khó đã hơn 90% rồi, hay khoảng hơn 16 triệu dân đang sống ở mức nghèo khó – Tr.H )

Việt Nam định nghĩa về tình trạng đói nghèo theo cách tính mức tiêu dùng trung bình hàng tháng trên một người là dưới 200.000 đến 270.000 đồng, tùy thuộc vào nơi nào mà người đó sống. Mức này bằng với mức gần 40 xu một ngày.

Nhưng không phải ai ai cũng bi quan trong năm 2009, khi có vài nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã chỉ ra rằng mặc dù mức tăng trưởng đang chậm lại, nó vẫn còn mạnh mẽ, với việc chính phủ đang nhắm vào mức 6,5% năm 2009.

“Chúng tôi không được miễn trừ trước các khó khăn của nền kinh tế toàn cầu, song Việt Nam đang chứng tỏ là hồi phục rất nhanh một cách đáng kinh ngạc,” đó là nhận xét của Tom Tobin, tổng giám đốc HSBC Việt Nam, tại Thành phố Hồ Chí Minh.

“Tôi nghĩ là Việt Nam sẽ nhanh chóng quay trở lại tình trạng cũ một cách rất nhanh chóng.”

Đó là chút an ủi cho Hoàng Việt, 23 tuổi, người đã quay trở về vùng miền trung Việt Nam nghèo khó để tìm kiếm việc làm sau khi anh bị mất việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi anh kiếm được khoảng 900.000 một tháng – 1,5 đô la một ngày.

Trong hoàn cảnh khó khăn tương tự ở tỉnh Quảng Ngãi miền trung — 90% của những người nghèo sống ở các miền quê, theo số liệu của Liên hiệp quốc — có chị Nguyễn Thị Bé Thương, giống như anh Việt, đang sống trong một ngôi nhà có nến bằng xi măng, không có điện, không có nước.

“Cuộc sống đã và đang trở nên khó khăn hơn nhiều trong mấy tháng nay. Thật là khó lòng kiếm được việc làm dễ dãi với mức lượng đủ sống và những người chủ cư xử với mình công bằng,” cô gái 23 tuổi này cho biết.


Hiệu đính: Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Kinh tế Việt Nam | Tagged: | Leave a Comment »

84:Bầu Cử Truất Phế Madison Nguyễn

Posted by adminbasam on 03/03/2009

 

 

Los Angeles Times

Người Việt ở San Jose

có thể bầu cử truất phế

một trong những vị đại

biểu do họ bầu ra

Sự tức giận đối với nữ ủy viên hội đồng Madison Nguyễn đã thành hình sau sự đổ vỡ của việc đặt tên cho Khu Thương mại Sài Gòn. Thật khó khăn cho việc vừa phải làm vui lòng nhóm sắc dân của cô và vừa làm đại diện cho tất cả các cử tri của mình, Nguyễn nói.

My-Thuan Tran

Ngày 2-3-2009

Tường trình từ San Jose – Cách đây ba năm (2006), Madison Nguyễn đã trở thành khuôn mặt mới mẻ trong làng chính trị người Mỹ gốc Việt, một chính khách thị thành hãnh tiến tại San Jose. Hình ảnh của cô được đăng tải trên bìa của các tờ tạp chí;  người được chọn lựa này dường như nắm giữ những niềm hy vọng cho cộng đồng người Việt đang nổi lên ở thành phố này.

Giờ đây cô đang ở trong một cuộc chiến đấu cho sự nghiệp chính trị của mình, trở thành đích nhắm của những người Mỹ gốc Việt tin rằng cô đã phản bội họ.

Các cử tri sẽ quyết định vào thứ Ba này liệu xem có truất phế vị nữ ủy viên hội đồng thành phố 34 tuổi này hay không. Đây sẽ là lần đầu tiên một người Mỹ gốc Việt bị tước khỏi chức vụ từ cơ quan công quyền. Một số người tin rằng đây sẽ là một cuộc thử nghiệm lớn hơn: liệu đời sống chính trị của người Việt tại Mỹ có thể đi xa hơn là một nghị trình được định rõ bởi niềm mong đợi rằng những ai mà cộng đồng này bầu lên sẽ phải làm (đúng những gì) như họ được yêu cầu.

Trong hơn một năm qua, Nguyễn đã và đang chịu sự chỉ trích dữ dội bởi vì cô khước từ đặt tên cho khu buôn bán đầu tiên của người Việt tại thành phố này là Little Saigon, cái tên của một sắc dân sôi động sống trong vòng Quận Cam này và tên Little Saigon đã được lựa chọn bởi các cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên nước Mỹ. Đối với một số người, cái tên đó đại diện cho một mặt trận đoàn kết chống lại cái chế độ cộng sản mà nhiều di dân đã phải trốn chạy.

Lời đề nghị của cô Nguyễn, với cái tên Thị trấn Thương mại Sài Gòn [Saigon Business District], đã được một số người Mỹ gốc Việt xem như là một sự sỉ nhục, mặc dù  Nguyễn tuyên bố tên ấy là một thỏa hiệp chính trị được thành hình sau khi xem xét hơn nửa tá  tên khác. Cô cho biết cô đã cố cân bằng việc tranh đua lợi ích từ những cử tri bên trong và bên ngoài cộng đồng người Việt.

Thế nhưng nỗ lực của Nguyễn cho hành động độc lập và thỏa hiệp chính trị đã có một hiệu quả ngược lại. Hàng ngàn người đã biểu tình phản kháng bên ngoài tòa thị chính. Một nhà hoạt động đã tiến hành một cuộc đấu tranh tuyệt thực trong 29 ngày. Hàng trăm người đã nguyền rủa cô tại một cuộc họp Hội đồng Thành phố, viện dẫn tới những cuộc tranh đấu của họ để trốn thoát khỏi chế độ cộng sản sau cuộc Chiến tranh Việt Nam.

“Bà ta đã hoàn toàn đánh mất niềm tin tưởng của mọi người,” đó là nhận xét của ông Paul Lộc Lê, một kế toán tại địa phương và từng là người ủng hộ cô Nguyễn song giờ đây là thủ quỹ cho chiến dịch phế truất cô.

Nguyễn nói rằng cô đang phải chịu đựng những khó khăn đang ập đến khi một chính trị gia của người sắc tộc đang cố gắng xử dụng sự độc lập chính trị (mà sự kiện này) có thể đụng chạm với những niềm mong đợi có tính chất văn hóa đặc thù.

“Cộng đồng người Việt là một trong những cộng đồng phức tạp nhất mà tôi đã và đang phải đương đầu,” cô Nguyễn nhận xét. “Thật mỉa mai khi đó là cộng đồng của chính bản thân tôi.”

Trong khi Nguyễn vẫn giữ thái độ bình tĩnh khi phải đối mặt với cơn bão táp phản đối, thì những địch thủ của cô đã nhanh chóng đổ lỗi cho những sai lầm đã được nói tới. Khi nói chuyện với một đám đông các sinh viên đại học rằng nỗ lực phế truất cô đã trở thành một “gánh xiếc,” sự diễn dịch của một số người Mỹ gốc Việt cho là cô đã gọi các cử tri của mình là những con thú vật.

Cuộc tranh cãi quanh việc phế truất cô đã loang rộng ra khắp cộng đồng người Việt ở San Jose, chiếm ngự hàng đầu (trong chương trình của ) đài phát thanh tiếng Việt và tràn ngập các quán cà phê và những tiệm phở nằm rải rác trên con đường Story Road trong trung tâm của khu vực này.

Những người ủng hộ việc phế truất tin rằng đa số người Mỹ gốc Việt ở thành phố này phản đối cô Nguyễn và rằng lá phiếu sẽ chứng mình rằng họ có thể sắp xếp để có đủ sức mạnh chính trị loại bỏ một ai đó trong thành phần của họ.

Nguyễn đang gạt bỏ ý niệm cho rằng cô đã mất sự ủng hộ trong địa hạt của mình. Mặc dù có một số cử tri Việt Nam không đồng tình với cô về cái tên của khu buôn bán, cô nói, song những mối quan hệ qua lại mà cô có trong cuộc vận động bầu cử (trước đó) đang khiến cho cô tin rằng họ sẵn sàng bỏ qua .

Đối với Nguyễn, việc phế truất này là một sự thử nghiệm của việc liệu xem các cử tri người Mỹ gốc Việt có thể vượt quá quan điểm chính trị với chương trình nghị sự độc nhất mà cô nói là đã và đang chỉ rõ tính chất của cộng đồng di dân này.

“Trách nhiệm đến với đứa con gái của cộng đồng là kinh khủng. Trách nhiệm ấy là một niềm vinh dự cho người đảm nhận, song trên thực tế, trách nhiệm ấy lại không thực tế,”  Nguyễn nói. “Tôi không thể nói lời đồng ý vào mọi lúc. Tôi không thể chỉ lắng nghe từ một người. Tôi có trách nhiệm đối với tất cả các cử tri của mình. Tôi không chỉ là một đứa con gái của cộng đồng người Mỹ gốc Việt mà thôi.”

Nguyễn nói rằng sự thất bại đầy sai lầm cho việc đặt tên cho khu thương mại đã dạy cô những bài học về việc  đại diện cho cộng đồng người Việt, chẳng hạn như sự cần thiết mời thêm người tham gia và đối thoại.

Nguyễn còn cho biết cô đang cố gắng vượt quá những nhiệm vụ theo đúng tiêu chuẩn của một thành viên hội đồng thành phố bằng cách mang những cử tri người Mỹ gốc Việt của cô tới bàn thảo luận: như đích thân gọi điện thoại các nhà lãnh đạo cộng đồng, thông báo các cuộc họp ở tòa thị chính trên phương tiện truyền thông tiếng Việt và tham dự nhiều sự kiện văn hóa và chính trị.

Văn phòng của cô, theo cô cho biết, thường giúp đỡ những người Mỹ gốc Việt ở khắp vùng Bay Area, quanh những vấn đề về dịch vụ di trú và những công việc về nhà đất. Cô chỉ ra những dự án đã được khởi động nhằm đem lại lợi ích cho người Mỹ gốc Việt: một trung tâm sinh hoạt cộng đồng và một vườn hoa có tính đại diện cho cộng đồng.

Nhưng những người ủng hộ cho việc phế truất cô vẫn tiếp tục nghi ngờ. Những dự án này, họ nói, cho thấy rằng Nguyễn phục vụ cho một nhóm ít ỏi những bạn bè “chí thân” của bà.

“Madison chỉ tin cậy vào nhóm người rất thân cận của bà ấy và không thèm đếm xỉa tới những người còn lại trong cộng đồng,” theo lời ông Lê, một kế toán. “Điều đó làm cho mọi người nổi giận. Lúc đầu bà  ta đã hứa rằng sẽ làm việc cho mọi người, chứ không phải chỉ cho những (nhóm có) quyền lợi riêng.”

Chiến dịch chống lại việc phế truất của Nguyễn đang nhắm vào việc hổ trợ các mối quan hệ của cô với cộng đồng người Việt. Một tờ rơi bươm bướm bóng nhoáng bằng tiếng Việt nhắc nhở  các cử tri rằng cô Nguyễn cũng đã từng là một người tị nạn từng phải trốn chạy khỏi Việt Nam bằng thuyền sau chiến tranh. Trong một chiếc đĩa hình DVD cô đã gửi tới các cử tri, Nguyễn hiện ra với bộ áo dài truyền thống và đang vận động để tiểu bang California chính thức chấp nhận lá cờ vàng sọc đỏ  của Nam Việt Nam, lá cờ nầy vẫn còn là một biểu tượng đầy sức mạnh đối với những người Mỹ gốc Việt.

“Đôi lúc, trái tim như thắt lại vì những con người mà tôi toàn tâm toàn ý muốn đại diện cho họ trong chính quyền và vẫn còn đang muốn làm thế, lại chính là những người đang phản đối lại mọi điều mà tôi đang làm,” cô nói.

Những người ủng hộ cho việc phế truất cô nói rằng cuộc vận động của cô Nguyễn đến quá muộn màng và rằng những sai lầm của cô đi xa hơn cả vấn đề đặt tên cho khu buôn bán. Theo họ, tình trạng tội phạm trong khu vực đã và đang gia tăng, tiền đóng thuế đã bị tiêu hoang phí và có những thỏa thuận ở hậu trường với những nhà phát triển địa ốc đã và đang diễn ra. “Cái tên Little Saigon chỉ là chuyện sau cùng trong một loạt các sai lầm của bà ấy mà thôi,” ông Le nhận xét.

Nguyễn cho là những lời tố cáo là không đúng và bị khuấy động bởi ảnh hưởng chính trị.

Cả hai phía (hâu thuẫn truất phế và chông sự truất phế) đang trông đợi vào một sự đông đảo xuất hiện từ những cử tri người Việt. Tuy nhiên, nhóm di dân này chỉ chiếm chưa tới 30% khu vực bầu cử hội đồng, vì thế  cả hai bên đang vận động những cử tri gốc Latino cũng như da trắng. Nếu như cô Nguyễn bị phế truất, sẽ có một cuộc bầu cử đặc biệt để điền vào chiếc ghế ủy viên của cô. Và, Nguyễn nói, cô có thể tập hợp lực lượng lại và tranh cử lần nữa.

my-thuan.tran@latimes.com

Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Chính trị, Gia đình/Xã hội | Tagged: | Leave a Comment »

83:VN Thiếu đường sá xe lửa Bến Cảng vận chuyển Hàng Hóa

Posted by adminbasam on 02/03/2009

The Earrth Times

Theo các nhà phân tích

Việt Nam phải đẩy mạnh

chi tiêu vào xây dựng

cơ sở hạ tầng

Hãng thông tấn Đức DPA

Thứ Ba, ngày 24-2-2009

Thành phố Hồ Chí Minh – Việt Nam đang rơi vào tình trạng nghiêm trọng (vì) thiếu chi tiêu vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng mà nước này cần có  để duy trì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao, các chuyên gia đã nhận xét trong một buổi gặp mặt các nhà quản trị kinh doanh hôm thứ Ba.

“Nếu các vị nhìn vào các tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, thì việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng cần phải nhiều gấp đôi mức tăng trưởng GDP,” theo nhận xét của ông Andrew Hong, giám đốc tài chính công ty của PriceWaterhouseCoopers Capital tại Malyasia.

Tại Việt Nam, “sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng cần phải vào khoảng 15% của tổng sản phẩm quốc nội, thế nhưng thay vào đó thì sự đầu tư có số lượng chưa tới 10%.

Paul Hoogwaterts, đại diện tại Việt Nam của Maersk, hãng vận tải biển hàng đầu trên thế giới, cho rằng việc thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng đã gây nên tình trạng thắt cổ chai nghiêm trọng tại các bến cảng của Việt Nam trong năm 2008, và chỉ tới khi nền kinh tế toàn cầu chậm lại thì nó mới giảm bớt được sức ép.

“Năm ngoái vào tháng Tư và tháng Năm (2008), việc thiếu thốn cơ sở hạ tầng đã thực sự giáng cú đòn vào chúng tôi,” ông Hoogwaerts nói. “Chúng tôi đã bị tắc nghẽn rất nhiều hàng hóa tại các hải cảng, bởi vì các nhà nhập khẩu đang mua hàng nhập vào Việt Nam cứ như thể là không còn có ngày mai.”

Ông Hoogwaerts cho là sự sút giảm xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam từ mùa thu năm ngoái (2008) đã ban cho đất nước này một cánh cửa của cơ hội để đuổi theo kịp những nhu cầu cung cấp về cơ sở hạ tầng. Việt Nam hiện đang trông đợi chín cảng công-ten-nơ mới được đưa vào sử dụng trong vài năm tới, thế nhưng VN lại sẽ cần khởi động một chu kỳ xây dựng bến cảng mới vào năm 2012 để bắt kịp với nhu cầu trong tương lai.

Nền kinh tế của Việt Nam đang bị lệ thuộc nặng nề vào xuất khẩu, lĩnh vực chiếm tới 70% GDP năm 2008. Các nhà xuất khẩu từ lâu đã kêu ca rằng cơ sở hạ tầng cho giao thông vận tải không thích hợp đang gây nên những khó khăn cho các hàng hóa của họ đến tay người tiêu dùng ở Âu châu và Hoa Kỳ (rất chậm trễ).

Bởi vì Việt Nam không có những cảng nước sâu để có thể tiếp nhận thế hệ hiện nay của những loại tàu lớn chở các thùng hàng (công-ten-nơ), nên hàng hóa bắt buộc trước hết phải được vận chuyển (bằng các tàu nhỏ) tới những hải cảng lớn hơn như Singapore và Hong Kong rồi chuyển sang tàu lớn khác.

Hải cảng hàng đầu của nước này có thể tiếp nhận những tàu chở các thùng hàng có trọng tải 80.000 tấn, là Tân cảng-Cái Mép mới ở phía nam Thành phố Hồ Chí Minh, đang được dự trù mở cửa vào tháng Sáu này.

Việt Nam đã và đang tỏ ra đặc biệt thiếu hiệu quả trong việc hợp nhất những khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Những cảng mới mở ở Thành phố Hồ Chí Minh và Tân Cảng-Cái Mép được lưu thông bởi những con đường quốc lộ bốn làn xe thường xuyên bị kẹt cứng những xe gắn máy hai bánh. Hệ thống đường xe lửa chở hàng hóa của nước này đều ở mức tối thiểu.

Ông Hoogwaerts cho rằng những quyết định của chính phủ đang cho xây những 9 hải cảng công-ten-nơ nhỏ bé thay vì xây một cảng lớn có vẻ như đã được định hướng sai lầm.

Mới đây hơn, chính phủ đã (sai lầm khi) phát triển những kế hoạch xây dựng một cảng nước sâu cho trung chuyển hàng hóa tại Vịnh Vân Phong ở miền trung của nước nầy, cách xa mọi sân bay và cách những trung tâm sản xuất quanh Thành phố Hồ Chí Minh hàng trăm cây số.

Nhưng ông Hong phát biểu rằng đầu tư tư nhân, chứ không phải sự cung cấp tài chánh của chính phủ, sẽ phải được yêu cầu để cung cấp tiền bạc cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết. Vào năm 2010 phần của chính phủ được cho rằng sẽ giảm xuống còn 23% trong tổng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng, trong khi đó đầu tư tư nhân sẽ tăng lên 44%.


Hiệu đính: Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Posted in Kinh tế Việt Nam | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: