BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for Tháng Mười, 2007

Tự đề cử

Posted by adminbasam on 30/10/2007

 Tự đề cử

Nguyễn Hữu Vinh

Vậy là một kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khá sôi động sắp được khép lại. Kể từ kỳ bầu cử thứ nhất cách nay 60 năm, người dân lại có được chút cảm giác hồi hộp, mong chờ. Tuy còn đó những hẫng hụt, những phỏng đoán mù mờ khi có quá nhiều ứng viên xin rút, bị loại không qua lá phiếu cử tri (kể cả số được đề cử), hay những vội vã, lúng túng trong nhiều khâu tổ chức từ hiệp thương, “gạn lọc”, cho tới khai báo, xác minh tài sản, đơn thư khiếu nại, tố cáo …, nhưng nếu những ai biết kiên nhẫn và chịu khó quan sát thì sẽ thấy được những tín hiệu đáng mừng. Cái mừng lớn nhất là một số lượng người tự ứng cử đông chưa từng thấy (223, so với 60 ở khóa 11), trong đó lại còn có nhiều người có tiếng tăm, những người đã, đang ở cương vị lãnh đạo cao cấp của nhà nước ít nhiều có được cảm tình trong dân chúng (cũng là chưa từng thấy). Đáng mừng nữa là nhiều vấn đề từng bị coi là “nhạy cảm” xưa nay ngại nói ra, giờ dân cũng được biết qua báo chí, như những băn khoăn về quy trình hiệp thương e còn thiếu khách quan, chuyện có tới 29 ứng viên thuộc diện Bộ Chính trị, trung ương quản lý bị đơn thư khiếu nại, tố cáo, hay việc một vị cựu thứ trưởng tự ứng cử đã được “trên” gọi điện thông báo là không ứng cử nữa … Nhưng cũng từ những tín hiệu đáng mừng này, nếu suy nghĩ rộng ra, xa hơn cho một tương lai xắp tới của bộ máy tổ chức nhà nước, cho kỳ bầu cử Quốc hội khóa 13 chẳng hạn, thì sẽ lại rất lo. Đó là cái khả năng phát sinh một khoảng trống lớn từ cách thức lựa chọn ứng viên để bầu ra những người đại biểu của dân.

Trừ kỳ bầu cử đầu tiên năm 1946 mang sắc thái hoàn toàn khác biệt, thì một điều rất dễ nhận thấy trong cách thức lựa chọn ứng cử viên để bầu đại biểu Quốc hội trong thời gian qua là chỉ có hai hình thức hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng lại có chung một điểm yếu. Một do cơ quan, đoàn thể của đảng, Nhà nước đề cử. Hai là cá nhân tự ứng cử. Hình thức thứ nhất chiếm vị trí tuyệt đối và kéo dài suốt từ Quốc hội khóa 2 cho tới nay. Còn hình thức thứ hai chỉ mới manh nha cách đây 10 năm, nhưng thực sự bắt đầu có ý nghĩa thì mới từ khóa 12 này.

Tại sao nói là “trái ngược” nhưng lại có điểm chung ?

Trái ngược: một do đảng, nhà nước “chọn”, một do cá nhân tự chọn.

Điểm yếu chung: những người được đề cử đều đang phải đảm đương trọng trách của đảng, nhà nước, hoặc đoàn thể thuộc đảng, nhà nước, nên gặp khó khăn rất nhiều cho công việc của Quốc hội. Phần đông trong số họ lại được chọn bởi các cơ quan hành pháp, tư pháp, hoặc dẫu có bởi đoàn thể thì cũng ít nhiều chịu sự “chủ quản” của cơ quan hành pháp. Như vậy tính đại diện và điều kiện để đại diện cho dân của họ chắc chắn bị hạn chế rất nhiều. Còn người tự ứng cử, không phải do đảng, nhà nước “chọn”, tính đại diện cho dân có vẻ rõ hơn, nhưng thực sự vẫn yếu. Vì người tự ứng cử thường không hoạt động trong một đoàn thể quần chúng nào, hoặc có hoạt động thì cũng không phải được đoàn thể đó đề cử, nên họ không được sự tôi luyện, đánh giá sâu sát cũng như mang tính đại diện của một nhóm quần chúng cử tri nào. Đây là điểm bất lợi cho chính các ứng viên đó, cũng là bất lợi chung cho việc chọn lựa đại biểu cho Quốc hội; nhất là trong hoàn cảnh mà thói quen của đông đảo cử tri qua nhiều năm là nghi ngại, không tin rằng thời buổi này mà vẫn còn có những kẻ sẵn sàng “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, chưa kể ý thức về một cơ quan dân cử phải thực sự trực tiếp từ dân, từ các hội đoàn của dân cũng chưa được nhiều và mạnh. Có thể cũng lại chính từ việc hiểu rất rõ thực tế này mà nhiều cá nhân có tâm huyết, năng lực, điều kiện để ra ứng cử cũng không mặn mà gì, họ mang cảm giác cô độc. Họ không muốn “đánh cá” uy tín của mình, vì dù sao thì việc trúng hay không cũng ít nhiều đánh giá sự tín nhiệm của quần chúng, kể cả bị “chụp mũ”, nghi oan là kẻ có ý đồ “cá nhân”, háo danh.

Chính vì vậy mà hoạt động tổ chức bầu cử Quốc hội vừa qua dường như đã gặp phải những lúng túng. Trong đó không thể không có những lo lắng về năng lực, tư cách, điều kiện của những vị tự ứng cử ra sao, bằng cách nào để đánh giá chính xác. Nếu vẫn theo cách “sàng lọc” rất hẹp và khá là đơn giản bằng lấy ý kiến cử tri nơi cư trú, nơi làm việc như lâu nay, cho một số lượng ứng viên quá lớn như vậy, liệu có bị “lọt lưới” nhiều người không xứng đáng không ? Còn nếu phải dùng đến biện pháp “thô”, là loại khi hiệp thương lần cuối ở hội đồng bầu cử, thì e rằng ít nhiều mất đi cái bản chất “trực tiếp” của quy trình bầu cử như luật định, là đã thay cử tri đi bỏ phiếu rồi. Cũng không loại trừ những lo ngại là rất có thể một kẻ “vô danh tiểu tốt” nào đó lại thắng cử trước một quan chức được đảng, nhà nước cử, chỉ do các khâu sàng lọc lâu nay quá bất hợp lý; nảy sinh nghi vấn rằng quan chức này kém tư cách, năng lực, mà chưa quen được tâm lý coi đó là chuyện bình thường. Rồi từ lo lắng này mà có thể phải sử dụng đến biện pháp hiệp thương để sàng lọc một cách khiên cưỡng. Đáng lo là những băn khoăn chính đáng rất có thể đã bị lẫn lộn với những thái độ muốn níu kéo lề lối cũ, e ngại sự có mặt của những người có năng lực, dám bảo vệ quyền lợi của người dân.

Còn có rất nhiều sự lúng túng khác nữa mà chỉ người trong cuộc thì mới có thể rõ hết được. Nhưng chỉ với cái kết quả “rơi rụng” còn lại 30 ứng viên trong tổng số 223 vị tự ứng cử là có thể thấy được bản chất vấn đề.

Thế mà một thực tế rất rõ là trong những kỳ bầu cử Quốc hội sau này sẽ càng phải giảm đáng kể số ứng viên do đảng, nhà nước chọn, những vị đang tại vị trong cơ quan hành pháp, tư pháp. Đương nhiên cùng lúc là phải tăng đáng kể những ứng viên không phải nằm trong diện này, nhất là ngày càng cần nhiều hơn số đại biểu chuyên trách, ngoài đảng và ít bị ràng buộc bởi những cơ cấu thành phần cứng nhắc như “độ tuổi”, “dân tộc”, “nữ” … Nhưng nếu vẫn lặp lại hiện trạng vừa qua, vẫn chỉ có hai loại ứng viên trên, thì chắc chắn không thể có được một Quốc hội mạnh, chưa kể sẽ nảy sinh những lúng túng, rồi dẫn tới những quyết định không hợp tình hợp lý, thậm chí thô bạo trong khâu “sàng lọc” ứng viên.

Để lấp cái “khoảng trống” trong phương pháp chọn lựa này, một điều hiển nhiên mà ở các nước văn minh đã thực hiện từ rất lâu, đó là việc “tự đề cử”. Những ứng viên này không thuộc diện được đảng, nhà nước chọn (đề cử), cũng không phải là cá nhân tự ứng cử, mà là được các hội đoàn quần chúng (ngoài số 6 tổ chức quần chúng của đảng và một vài hội, liên hiệp hội được “cơ cấu” cho phép đề cử ứng viên như lâu nay) cử ra. Họ là những người được tín nhiệm từ số 320 hội hoạt động trong toàn quốc, hơn 2150 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành thuộc trung ương và hàng chục nghìn hội ở các quận, huyện … Những tập thể quần chúng khổng lồ như vậy mà dường như lâu nay bị quên lãng. Một sự quên lãng quá ư đáng tiếc và phi lý ! Họ phải được, phải có sự khích lệ, giúp đỡ để tự đề cử những người đại diện của mình. “Tự” ở đây là tự các hội đoàn đó đề cử ứng viên, chứ không phải là đảng, nhà nước, hội đồng bầu cử “cơ cấu”, “phân bổ” chỉ tiêu vài ứng viên cho riêng vài hội, cũng không phải các ứng viên đó “đơn thương độc mã” tự mình ra ứng cử. Như vậy sẽ rất thuận lợi cho việc đánh giá và trợ giúp cho họ. Nhất là gần đây có những ý kiến rằng: nên buộc các ứng viên phải lấy được bao nhiêu chữ ký ủng hộ của cử tri thì mới đủ tiêu chuẩn, thậm chí cả một số tiền “đặt cọc” nữa, sẽ không còn là chuyện nan giải. Bởi vì cái sự “lấy chữ ký” mà không được đặt cơ sở của một vài hội đoàn, tập thể nào đó giới thiệu thì rất dễ trở nên chuyện cười cho thiên hạ (bằng việc lấy chữ ký bà con họ hàng, người qua đường chẳng hạn). Kể cả việc đảng cần có sự lãnh đạo thì cũng có thể gián tiếp thông qua các hội đoàn này, mà vẫn đảm bảo tính khách quan nhất định. Giờ đây các ứng viên có được sự hậu thuẫn của đoàn thể, từ vận động tranh cử, quyên góp tiền bạc, cho đến cả việc bảo vệ uy tín, sự an toàn nếu như có khiếu kiện, đe dọa nào đó. Nhưng đáng tiếc là hàng chục năm nay, chúng ta đã quên mất rằng những hội đoàn này chính là cơ sở tốt nhất để tạo điều kiện thử thách, rồi chọn lựa cho các ứng viên, không chỉ cho Quốc hội, mà còn cho tất thảy Hội đồng nhân dân các cấp. Có điều cái sự “quên” này đã đi vào thói quen quá lâu, giờ phải được nêu ra, cho phép và tập dượt. Đây chính là phương pháp có tính chất “trung dung”, mà lại sẽ là chính yếu sau này, để lấp đi cái khoảng trống của hai phương pháp kia, một sẽ phải “teo” dần, một mới sinh ra nhưng đầy mong manh, thiếu hợp lý.

Tất nhiên trong thời gian tới, bằng Luật về Hội và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội mới, có thể sẽ có những chuyển biến mới rõ ràng hơn cho việc chọn lựa đại biểu Quốc hội, nhưng việc dự thảo luật cũng rất cần lưu ý nhấn mạnh tới hình thức tự đề cử này, và khi luật đã đi vào cuộc sống cũng vẫn phải có ý thức rất mạnh mẽ thì mới thay đổi được những thói quen cũ.

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 47)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

Lệ đá

Posted by adminbasam on 30/10/2007

Lệ đá

- Uở, sao đi thị sát du lịch dzìa mà coi bộ buồn so dzậy sếp Phó Bí của em ?

- Lo thì đúng hơn Út Măng ạ … Thắng cảnh khắp nơi xuống cấp, “bê tông hóa” … Còn có cái núi đá Hòn Vợ Chồng giữa cánh đồng mênh mông là rõ đẹp, mọi người chen chúc xem, nhưng lại …

- Sếp lại hay lo nghĩ ảnh hưởng sức khỏe …

- … Tớ cứ nghĩ miên man suốt mấy ngày nay. Chuyện không phải là bình thường đâu. Chả là năm ngoái, chẳng hiểu do động đất thế nào mà cái Hòn Chồng nó lăn ra … “chết”, tức là đổ đánh ầm cái vỡ tan tành. Thế là tất cả các ban ngành vội vàng họp lại, bàn bạc không thiếu ý gì, mời cả nhiều đẽo đá gia tài danh, lại cả “Thần Đèn” nữa, xin trên chỉ đạo suốt mấy tháng trời. Cuối cùng ra cái “nghị quyết” là phải phục chế Hòn Chồng. Vừa “ngân sách”, vừa huy động toàn “Mạnh Thường Quân” khét tiếng, sử dụng công nghệ tiên tiến nhất, máy móc tinh vi nhập gấp từ tận Mỹ … tốn kém tới dăm tỷ. Nên mặc dù phải thêm thắt nhiều đá lấy các nơi về mà xong rồi là y hệt khi còn … “sống”.

- Chu cha, giỏi quá ta !

- Chưa xong đâu … Chỉ lạ là từ ngày Hòn Chồng nó “sống” lại thì tự dưng cái Hòn Vợ lại dở chứng …

- Nó lại muốn “chết” ?

- Không, nó … “khóc” mới quái chứ (lúc Chồng “chết” chả thèm “khóc”, giờ “sống” lại thì … Rõ cái giống đàn bà đỏng đảnh !) Tức là chả cứ giời mưa hay nằng đổ lửa, ở cái quãng “mắt” ấy, nước phun ra cứ gọi là chứa chan, nom rõ là … Được cái là từ đận í thì du khách tăng vọt, dê-đê-pê địa phương cũng vọt hẳn.

- Quá hay, phải dzui chớ sao sếp lại lo lắng dzậy ? Hay Sếp cũng bị “mê tín dị đoan” rồi ?

- Cậu đúng là cái loại “vô chính trị”, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chuyện … tiền ! Nghe này. Người xem đông, lại nhiều người khóc lóc theo, là ảnh hưởng tình hình chính trị địa phương lắm … cậu hiểu chửa ? Kinh nhất là bọn nhà báo Tây cứ quay phim chụp ảnh lung tung. “Quan trên trông xuống, người ta trông vào”, ai biết là bà con khóc cái hòn đá. Họ lại tưởng là …

- Úi, da … da … sếp Phó Bí của em sâu sắc quá ta. Đúng là một “chánh trị gia” có cỡ. Nhưng mà “chính trị” quá hóa vô … í … là hóa không để ý tới “văn hóa” đó nghen. Còn em á, thì em hiểu cái lý do “bà vợ” đó khóc rồi, cả chuyện nhiều người khóc cũng dzậy. Nên giờ em thử đề xuất một sáng kiến, sếp coi được hông.

- Nói nhanh đi.

- Dạ … giờ ta xin thêm “ngân sách”, trên cái “Hòn Chồng phục chế” mình khắc cái biển thiệt nhỏ, đề là “Tượng Ngài Hòn Chồng”. Còn kế bên cái “tượng” đó thì mình xây cái nấm mồ, gom “xác ổng” còn dư mảnh nào thì đưa dzô đó. Trên cái mồ mình ghi là “Nơi đây yên nghỉ Ngài Hòn Chồng”. Dzậy là êm hết. “Bà vợ” sẽ hết “khóc”, mà du khách cũng vẫn đông mà không bị khóc nữa. Rồi các “Mạnh Thường Quân”, các nhà thầu, chánh quyền đều … dzui cả.

- Nghe cũng hoành tráng đáo để nhẩy, mà có vẻ “hút khách” nữa … Nhưng mà sao nó cứ lằng nhằng quá, tớ chưa hiểu cái “thâm ý” của cậu …

- Sếp ráng động não chút đi … “chánh trị gia” của em thông minh lắm mà. Nếu cần triệu tập họp các ban ngành lần nữa. Nhưng lần này thì khỏi mới mấy “đẽo đá gia”, mà nên mời mấy cha nội “khoa học xã hội và nhân văn” là rõ hết à.

- Thôi, … nhưng mà cũng vui rồi … vui rồi …

“Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi … rồi

… Ái ân bây giờ là … hết khóc … lá là là lá lá là la …”

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 36)


Posted in Bài của Ba Sàm, Văn hóa | Leave a Comment »

31 năm – Vết thương chưa lành

Posted by adminbasam on 26/10/2007

31 năm – Vết thương chưa lành

Nguyễn Hữu Vinh

Đó là vết thương của cuộc chiến 30 năm, trong lòng bao người. Hàng triệu người vẫn hoan ca, nhưng cũng hàng triệu người còn âm thầm tự chữa trị, dễ cũng tới nửa đời người, tâm lý thắng-bại, được-mất … còn đeo đẳng. Với thời gian thì những ai sống trong nước, cái cảm giác dài lê thê không thể ví với người xa xứ. Nhịp sống-làm việc gấp gáp giúp vơi đi phần nào, nhưng không biết có phải do xa cách và cảnh sống phù hoa làm cho họ khó giành được sự cảm thông. Vì, nói cho cùng thì những biến đổi giúp yên lòng hơn phỏng đã được bao nhiêu ? Tác động của “đổi mới” cùng chuyện về thăm, gửi tiền, quà cho người thân dễ dàng cũng mới được mười mấy năm nay. “Học tập cải tạo”, làn sóng vượt biên, chuyện lo chạy xuất cảnh đoàn tụ, diện HO, con lai không còn ồn ã nữa … Vậy mà còn bao nhiêu chuyện không nhỏ, sao thật khó vượt qua. “Visa về nước” cho bà con – những người luôn được coi như “một bộ phận của Dân tộc” nghe sao mà lạ, tưởng đã bỏ, lại cũng vẫn còn. Việt Nam đã đi sau Trung Quốc, Ấn Độ, Philippins … về điều này, trong khi đáng ra phải trước họ bởi những vết thương chiến tranh, của các sự kiện 1954, 75′, 79′ … rất cần “thuốc” mạnh để giúp hàn gắn. Để là “một bộ phận của Dân tộc” không có nghĩa cứ phải khư khư một quốc tịch Việt Nam, trong khi cả thế giới đang chuyển dần sang xu hướng toàn cầu hóa. Luật Quốc tịch không công nhận công dân có hai quốc tịch, nhưng nghiễm nhiên ngày ngày có bao người vào quốc tịch Mỹ, Canada .. mà vẫn giữ quốc tịch Việt Nam. Đã qua rồi cái thời “Hội Việt kiều yêu nước” với đông đảo hội viên, hoạt động hăng say chống chiến tranh, giúp đỡ trong nước, tương thân tương ái. Giờ thì có được bao lăm trong trăm, ngàn hội đoàn, nhà thờ, chùa chiền người Việt ở ngoài “nối vòng tay lớn” với trong nước ? Quả là quá hiếm ! Rồi báo chí, văn hóa phẩm qua lại giữa trong-ngoài, cũng mới chỉ như “hương hoa” thôi.

Những hiện tượng như thầy Thích Nhất Hạnh, cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, ca sĩ Elvis Phương, nhạc sĩ Phạm Duy, … về thăm, hồi hương, kể cả gần đây – sự lên tiếng của cựu trung sĩ thông dịch Trung Hiếu (qua chuyện Nhật ký bác sĩ Đặng Thùy Trâm), mà nếu có ai được sống trong lòng cộng đồng người Việt ở Mỹ, Úc thì mới cảm được hết cái ý nghĩa ghê gớm của nó. Họ đã phải đấu tranh, hy sinh, vượt qua ác cảm, mặc cảm, lo sợ … để hướng tới những ước vọng cao cả là quê hương, là tình đồng loại. Thế mà đã có người bằng giọng bề trên độ lượng, vội bảo rằng “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Tưởng hay, nhưng ngẫm lại thật buồn. Sao gọi là “chạy lại” mà không nói được rằng đó như là “lá rụng về cội” ? Sao có thể làm cái vẻ hạ cố rằng “không đánh” mà không nói được là đất nước giang tay đón những người con xa xứ trở về ? “Không đánh” mà nhiều khi như đuổi, thậm chí “đẩy” bà con sang bên kia chiến tuyến. Nếu cứ mải mê với những chuyện “địch-ta”, “bỏ nước” … thì đến bao giờ non sông mới thực sự liền một giải ? Hàng tỉ đô la, ngàn vạn lượt người về thăm đâu dễ là minh chứng rằng những vết thương đã khép miệng. Phải chăng vì quá nghèo, ngàn năm chân lấm tay bùn nơi đồng ruộng, rồi dốc xương máu kiệt quệ cho ngày chiến thắng làm ta khó có được thái độ khoan hòa hơn, dễ quen cân đong đo đếm mọi sự chỉ bằng con số, mà quên rằng có những điều không thể nào đo đếm nổi ? Ví như vào những “Ngày kỷ niệm chiến thắng” này, không khí nô nức bằng băng cờ, khẩu hiệu … làm sao không khỏi chạnh lòng bao người từng một thời vì cái lẽ nào đó mà ít nhiều liên hệ với chế độ cũ. Có ai nghĩ rằng cũng nên tìm một lối thể hiện khác cho cái khung cảnh hân hoan đó không ?

Mới đây thôi, người ta đã công phu tập hợp sử liệu để chuẩn bị cho ra đời cuốn “Lịch sử thể dục thể thao cách mạng Việt Nam”. Ô hay ! Sao chuyện lớn vậy mà vẫn còn có người “vô tâm” lạ, dễ thường họ sẽ còn làm tiếp một cuốn “Lịch sử TDTT không cách mạng VN” nữa hay sao (nghĩa là đơn giản chỉ vì chưa có khả năng để thu thập sử liệu ở miền Nam giai đoạn chiến tranh, hay vì điều gì khác để mà từ cái lối “chính trị hóa” mọi thứ trở thành không có “chính trị” đến vậy) ? Lại nữa, giữa thái độ nhiệt thành của bao người hâm mộ, hiện tượng Phạm Duy đã bị dội một gáo “nước sôi” bằng một bài báo đầy những lờl lẽ nặng nề, xa lạ với tất cả những gì gọi là nghệ thuật. Và còn nhiều nhiều những câu chuyện kiểu như vậy, từ cách nói quen miệng nào là “phản cách mạng”, “ngụy” … cho đến cái “chủ nghĩa lý lịch” còn đeo dai dẳng cùng thói ưa thích tụng ca chế độ quá lời khiến mất đi bao nhiêu người tài để rồi thu nạp vào nhiều kẻ cơ hội.

“Người xây, kẻ phá”, vết thương khó lành, ít thuốc chữa, chỉ mới nhiều thuốc giảm đau thôi, vậy mà còn đi xát muối nữa sao ? Trở lại cách đây 60 năm khi Chính phủ đầu tiên của Nhà nước VNDCCH non trẻ ra đời, từ vị Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tới nhiều bộ trưởng đều là “dân Tây học”, “Tây du”. Giờ đã có một chính quyền vững mạnh, ta lại không thấy yên tâm, để mà quá hiếm những trí thức được đào tạo kỹ lưỡng ở nước ngoài (kể cả dưới chế độ cũ) giữ trọng trách trong chính quyền.

Quả là gian nan trên con đường tìm lại với nhau của Dân tộc. Chợt nhớ về ngót nửa thiên niên kỷ trước, khi Chúa Nguyễn Hoàng làm cuộc Nam tiến, mang theo lời chỉ giáo của Trạng Trình “Hoành sơn nhất đái/Vạn đại dung thân“. Rồi ngâm nga mấy vần thơ Huỳnh Văn Nghệ “Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long“. Thấy cảm khái cho cái nghĩa tình hòa quện Nam-Bắc, Trong-Ngoài.

Đảng, Nhà nước kêu gọi đại đoàn kết Dân tộc, nhưng để được “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” thì khó có thể chỉ chủ yếu bằng lời, mà phải mạnh mẽ hơn, ví thử bằng Luật (hay Pháp lệnh) về Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc.


(Tạp chí Nhà Quản lý – số 35/2006:  Liệu nên có Luật Về hòa giải và hòa hợp Dân tộc?)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Chiến tranh VN, Gia đình/Xã hội | 4 Comments »

74:Hội nhập xóm giềng

Posted by adminbasam on 23/10/2007


Hội nhập xóm giềng


Mờ sáng

Rầm! Chát! … Xoảng! …

- Á, mày giết tao à thằng chó …

- Con đĩ, mày dám láo à …

- Ối! Tôi không sống nổi với các người …

- Con mở cửa cho mẹ …

- Đóng cửa lại ngay không tao chém!

Hàng xóm 1(gõ cửa): này có chuyện gì thế?

- Ông bố (thò đầu máu me): có gì đâu, đùa vui tí í mà …

Choang! … Uỳnh! … Rắc! …

- Ái … gẫy tay bà rồi …

- Này, gẫy cũng khẽ mồm … “xấu chàng hổ ai” … mày không biết giữ “đoàn kết”, “đóng cửa bảo nhau” là tao cho “đi tàu suốt” luôn đấy!

Hàng xóm 2(hỏi vọng sang): có chuyện gì cần giúp không chị?

Bà mẹ (giọng tức tưởi): dạ không, … xụt … xịt … chúng em đang tập “diễn xuất” … đóng phim bạo lực đấy ạ …

Thằng con (bật cửa lao ra đường): … ối làng nước ôi … là làng nước ôi …

Ông bố (lao theo): này thằng khốn kia đứng lại … mày dám … “đào nhiệm” à? Không thoát tay tao đâu … về “giải quyết nội bộ” ngay …

Hàng xóm 3 (chặn đường): … đóng phim cả ngoài đường nữa hả bác? …

Ông bố (trợn mắt): này, ông đừng có mà “can thiệp vào công việc nội bộ” của nhà tôi nhá …

Tối mịt

Cả nhà lếch thếch kéo ra đường, quần áo tả tơi, mặt mũi teo toét máu … tay xách nách mang chăn màn nhàu nát …

Ông bố (chụm tay làm loa): loa … loa … xin được bố cáo toàn khu vực ạ … là nhà chúng em xin được hội nhập với xóm giềng ạ …

Hàng xóm: tức là chúng tôi cũng được đóng phim cùng à?

Ông bố (mếu): không có phim phóng gì đâu ạ … giờ là em nói thật đấy … Chúng em xin các bác ngủ nhờ một tối, được “cứu thương”, “cứu trợ phát triển” … đồ đạc vật dụng, sửa chữa nhà cửa … ạ … hu … hu … sao chúng tôi lại khổ thế này …

Hàng xóm: thế xong rồi thì sao?

Ông bố (tỉnh táo): À, xong rồi thì chúng tôi xin lại được … có gì “đóng cửa bảo nhau”, “giải quyết nội bộ” ạ!


Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 38-2006)

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền | 2 Comments »

Đúc người vì lợi ích dăm năm

Posted by adminbasam on 22/10/2007

Đúc người vì lợi ích dăm năm

(Thư ngỏ – Kính gửi các bác lãnh đạo ngành giáo dục từ xưa cho tới mai sau)

Nguyễn Hữu Vinh

Cháu không còn trẻ nữa, cũng không phải đi học nữa, nhưng thấy mình vẫn còn non nớt lắm, nên xin được xưng hô vậy. Già người mà vẫn thấy còn non cái dạ, lại hèn kém, đó chính là một trong những lý do quan trọng thôi thúc cháu viết lá thư này. Ngành giáo dục mà các bác lãnh đạo cháu xin được gọi là “cỗ máy đúc người”, và bức thư này cháu xin được gửi tới hết thảy các bác lãnh đạo của ngành trong nhiều thế hệ mà cháu cũng xin được mạn phép gọi là các “quản đốc phân xưởng đúc”. Tại sao vậy? Cháu sẽ xin được làm rõ.

  • Trước hết là ý muốn chia sẻ nỗi lo của các bác đang vật vã với chuyện đúc người bao nhiêu năm nay, cứ cải (cách) đi rồi cải lại mà càng bế tắc thêm.
  • Cái cỗ máy đúc người này nó làm cháu nhớ tới cuốn phim Đồi thịt băm, tức là nó băm vằm, nuốt chửng danh tiếng và mọi nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo các bác (nếu như ai đó thực tâm có). Các bác không thấy được, hoặc làm như không thấy, là nó chỉ như một cỗ máy trong một nhà máy khổng lồ, đã vận hành từ rất lâu với một sức mạnh và quán tính khủng khiếp. Hơn nữa, nó lại đóng vai trò vô cùng quan trọng là đúc ra mọi chi tiết cho những cỗ máy cái ở các phân xưởng khác. Thế mà cứ cố vặn vẹo nó nay tí mai tí mà không chịu cải đổi hẳn đi, không quan tâm tới các cỗ máy khác đang lôi kéo nhằng nhợ với nó thì đương nhiên sẽ bị nó nuốt chửng.
  • Cái cỗ máy này thực ra đã một thời có công tích ghê gớm, có điều hình như chưa thấy ai phân tích cái kiểu công tích này và việc nó tác động lại theo lối phản tác dụng ghê gớm ra sao tới xã hội chúng ta, và đến chính nó, cái cỗ máy làm ra công tích đó.

1. Công

Phải nói là giờ nhớn rồi, lại được mở mang hiểu biết ra bên ngoài nước mình, cháu mới càng thấy một điều là cái kiểu đúc người (giáo dục) ở ta trong những năm chiến tranh quả là tuyệt diệu. Đó là “triệu người như một”, đều tăm tắp, tuân lệnh răm rắp, không giống bên Tây nó “đúc” thì ra mỗi người mỗi kiểu. Duyên do thì nhiều lắm, cháu xin kể lể vài điều ra đây. Số là dân mình tuyệt đại đa số vốn đã nghèo khổ, ngoài việc chả biết gì ngoài lũy tre làng, lại phải chịu ảnh hưởng đủ thứ tư tưởng, văn hóa Nho Khổng, Phật, Lão nhưng bị thăng trầm méo mó đi qua bao đời, nên con người ta sống rất chi là khiêm nhường, yếm thế với “bề trên”, không kênh kiệu như bên Tây. Đến khi cách mạng nổi lên, giành độc lập, họ được bảo là mình giờ thành ông bà chủ xã hội hết rồi, nhưng khốn nỗi lại cứ bị các bố đầy tớ (tức là cán bộ – “đầy tớ của nhân dân”) mắng mỏ dạy bảo đủ kiểu, từ trẻ nứt mắt cho tới già kề miệng lỗ. Thành thử bà con chả biết đâu mà lần, càng phải khiêm tốn tợn, phát triển thêm luôn cái đức tính giả vờ nữa, tức là nói, nghĩ một đằng làm một nẻo. Điều này vô cùng là móc xích với cái công nghệ đúc người ở ta. Cụ thể là bọn trẻ con chúng cháu là nhân dân, thì nhẽ ra thầy cô, đến cả các bác bộ trưởng nữa, phải là đầy tớ của chúng cháu, đúng với cái khẩu hiệu của chế độ, là phải hết lòng phục vụ. Thế nhưng sự tình nó cứ ngược lại hết làm cho chúng cháu quen dần cái lối sống giả vờ mà ngày nay các bác đang khốn khổ để “tuyên chiến”, ấy là “gian dối trong thi cử”, “bệnh thành tích trong giáo dục”. Khởi đầu là cái “cá nhân” trong mỗi con người luôn được đè nén xuống dí dị; làm gì, nghĩ gì cứ là vừa phải theo “tập thể”, “đoàn thể”, vừa phải tin tưởng tuyệt đối ở “trên” (tức là ở các ông bà đầy tớ). Từ ngày còn bé tẹo, chúng cháu đã biết nhận thức là mình rất ngu, rất hư, rất chi là “cá nhân chủ nghĩa,” nên mọi hoạt động phải đi vào khuôn phép. Nào là hát đồng ca, vỗ tay đồng loạt, tập đánh vần cũng phải đồng thanh theo nhịp thước cô gõ chan chát (có nhẽ để sau này nhớn lên mà phát triển cái “đồng tình”, “đồng chí”, “đồng lòng”…?) Học được mấy bài hát mà thấy bài nào cũng có từ “ngoan”, “cố gắng”, “không khóc nhè” nên nó ngấm vào máu cái tính “ngoan” hết mực, đói mấy cũng phải tươi cười tin tưởng phơi phới. Kế đến là cái khoản “xin-cho” thôi thì đủ kiểu. Đến cả buồn tè, mót ị mấy cũng phải giơ tay xin phép, cô cho thì mới được đi, không thì cố mà nín, đùn ra đấy là rất hư, hết cả “phiếu bé ngoan”. (Ngày qua ngày, càng già cháu càng rõ là cái cảnh xin xỏ này nó cứ diễn ra suốt đến lúc chết. Nào là xin vào trường học, xin đăng ký hộ khẩu, xin khai sinh, khai tử, xin khai thành tích để được khen… Còn cái chuyện “nín” thì càng lớn lên càng giỏi, cháu xin nói ở phần sau). Cô kể chuyện xong mà không vỗ tay là hỗn, cũng hư là cái chắc. Thành thói quen như từ cha sinh mẹ đẻ để sau này cấp trên có nói (bậy) ra cái gì cũng cứ vỗ tay rào rào, làm láo mà cũng phải khen nức nở.

Nhớn lên tí, học cái kiến thức thì cũng rất đặc biệt, chúng cháu được vun đắp thật là nhiều, những thứ rất cao siêu nhưng thuộc “phe ta” thôi; những gì về thế giới bên ngoài, của kẻ địch, hay phe khác thì được coi là nọc độc nên rất hạn chế. Còn chuyện hai bên đánh nhau thì cũng toàn ta dũng cảm, khôn ngoan, thắng ào ào, địch thì hèn nhát, ngu si nên thua chạy như vịt cả. Viết bài luận về thơ, văn của các vị nổi tiếng, nhất là có chức sắc nữa, là cứ phải khen ngất giời chứ cấm có được chê, kể cả hơi “băn khoăn” tí cũng ăn điểm không là còn nhẹ. Làm văn về đất nước là phải “rừng vàng biển bạc”, phải có “gương người tốt việc tốt”, “chế độ ta tươi đẹp”. Tóm tắt là cái gì của ta, từ “trên” là “cực kỳ” (đúng, tốt), còn của địch là khốn nạn hết. Trong quá trình vun đắp là phải căng tai trợn mắt ra mà lĩnh hội, chứ đứa nào nhỡ có hơi “thiên nhiên” tí, nảy nòi ra cái tính thắc mắc, cãi bướng, ưa tranh luận là mệt ngay. Cái kiểu dạy “thầy đọc trò chép” mà giờ các bác đang khốn khổ loại trừ phát sinh chính từ đây, nó giúp cho chúng cháu là những kẻ được “lập trình” vào đầu ngay từ tấm bé cho những nhận thức là ý kiến của “trên” thì chỉ có đúng, phải tuân theo răm rắp, kẻ nào không đồng ý với “trên” là coi như kẻ thù. Còn đã là kẻ thù thì ắt xấu xa, phải tiêu diệt nếu như không chịu cải tạo. Để được rèn giũa thì ngoài thầy cô còn có tầng tầng lớp lớp các đoàn thể ngay từ nhi đồng, thiếu niên… kèm cặp cho chúng cháu ngày càng ngoan (nghĩa là kiểu “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”), có thêm “tinh thần tập thể”, giảm bớt cái “cá nhân” đi (mà giờ cháu mới hiểu là bên Tây nó hay gọi là có “cá tính”). Chưa hết, lại còn một lực lượng kiểu cảnh sát dân sự biệt danh là “Cờ đỏ”, tai mắt của thầy cô, xem có đứa nào vẫn còn hư không, làm cho đứa nào cũng cảm giác khó hiểu về bạn bè mình, còn mình thì lại tập cái tính sống ít hồn nhiên đi, thích phát hiện những đứa bạn hư để hớt lẻo với cô, để được công tích cho đỡ bị bảo là hư, là ngu. Mà chuyện công tích thì quan trọng khủng khiếp, trong hơn cả một đời người, từ khi đẻ ra cho qua cả lúc chết rồi. Vì có nhiều danh hiệu vô cùng để phấn đấu mà đạt cho được. Đứa nào không được danh hiệu thì sợ hãi khủng khiếp, cảm giác như bị bọn có danh hiệu nhìn ngắm mình như quái vật; vì số này rất ít, nên dưới đẳng cấp này thì chỉ còn có bọn tội phạm đi tù, cải tạo thôi. Để có danh hiệu là phải qua những công đoạn chấm điểm rèn luyện kỷ luật, từ đầu tóc, quần áo, nói năng, giờ giấc, rồi bọc, dán nhãn, giữ gìn sách vở sạch đẹp… (nhiều không kể hết được, cho cả cá nhân và tập thể). Thế rồi tính toán, “cân đối”, bình bầu, kèm theo là nhiều cuộc họp hành nữa. Cả trường xếp hàng nghe đọc điểm thi đua mỗi tuần, điểm cao là được khen, thấp là bị bêu riếu. Không khí ganh đua kèn cựa nhau từng li một muốn nghẹt thở, cứ gọi là mụ mị cả người, cảm giác tội lỗi, hèn kém luôn thường trực trong mình. Lại còn luôn luôn được hô những khẩu hiệu đạo đức mà những chữ “khiêm tốn”, “đoàn kết”, “kỷ luật” cứ gọi là ưu tiên hàng đầu. Trong mọi ngôn từ hàng ngày cho tới bài vở viết ra chúng cháu đều được dạy những từ ngữ rất chi là hoành tráng, gọi là ngôn ngữ ngợi ca. Nên cái không khí chung là cực kỳ… (xin lỗi, cháu không tìm ra được từ nào để diễn tả nữa). Và các bác sẽ chả lạ gì cái lối làm “bài văn mẫu” ngày nay đầy dẫy là có ngọn nguồn từ đây. Đến như cái “khẩu hiệu” nhiều năm nay trường nào cũng có, nghe rất chi là “đậm đà bản sắc dân tộc”, là “tiên học lễ, hậu học văn”, mà nào có mấy ai từ thầy đến trò được hiểu cho đúng cái chữ “lễ” của cụ Khổng Tử nó mênh mông đến nhường nào đâu. Cứ nghĩ theo lối tộc tệch là bọn trò chúng cháu phải trước hết “thấm nhuần” cái thái độ “lễ bái”, “lễ độ”, “lễ phép”, nhũn như con chi chi, có khi lại phải dâng “lễ lạt”, “lễ vật” nữa (tức là có… “phong bì”, “con gà nải chuối” cho thầy cô).

Ngoài nhà trường ra thì khắp nơi hang cùng ngõ hẻm, trong xóm ngoài làng, xưởng máy, ruộng đồng, cơ quan, đoàn thể, đêm ngày bằng mọi phương tiện từ báo, đài, thơ, truyện, ca, múa, nhạc, kịch, thể thao… cả “chuyên” và “không chuyên”, chúng cháu luôn luôn được tiếp tục “hun, đúc” không ngừng tất tật những gì thuộc về lòng trung thành, tin tưởng tuyệt đối, tự hào vô cùng về hiện tại, tương lai đất nước, chế độ, “bề trên”, căm thù tận xương tủy kẻ thù xấu xa. Tức là cái gì cũng có ranh giới tuyệt đối: tốt và xấu, ta và địch. Nên cái chữ “trồng người” nó phải được gọi là “đúc người” mới phải. Nghĩa là không có chăm bón, vun xới, nâng niu theo lối mơn trớn, “dân chủ giả hiệu” gì sất, mà là nung chảy, đổ khuôn, rèn, đột, dập, mài, dũa, cắt gọt, đánh bóng cho đến nhẵn thín, tròn xoe ra mới… vẫn chưa thôi.

Thế là những lớp người được trở nên vô cùng hoàn hảo, chả có chống đối, nghi ngờ, thắc mắc, tơ tưởng “đứng núi nọ trông núi kia”. Bảo đi là đi, bảo đánh là đánh, không một tí tiếc rẻ tài sản, máu xương. Sống cực kham khổ nhưng vẫn tươi hơn hớn, có biết bên ngoài người ta sống ra sao, nghĩ cả thế giới này cũng vậy, phần thì tin tưởng, phó thác ở “trên” dẫn lối chỉ đường hết. Cả triệu người như một hàng quân, tay nào khác đi một tẹo, dù là ý nghĩ, ánh mắt là trơ thổ địa ra, dễ bị nghi là phản động ngay, ít ra cũng là “thiếu kiên định”, phải tự đấm ngực kiểm thảo. Những diện có thể có những biểu hiện khác thường nhất, như là các nhà thơ, văn, nhạc…, dễ bất ngờ “thai nghén” những sản phẩm tinh thần trái cựa có nguy cơ ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu, lòng trung thành tuyệt đối, thì cũng được luyện làm sao các sản phẩm đó không những vẫn ở trong vòng kiểm soát (được gọi là theo “định hướng”) mà còn phải trở thành những khẩu hiệu hành động nóng dẫy. Những nhu cầu bản năng của con người từ ăn uống cho tới làm tình đều bị phỉ nhổ là thấp hèn, phải cố mà nín nhịn, kể cả nín không được mà tuôn ra thành văn, xổ ra thành tranh là cũng “ăn đòn” ngay; ngộ nhỡ có hơi tham tí mà “ăn vụng” lại không biết “chùi mép” là thôi rồi, tương lai mờ mịt luôn (dạo ấy có cái từ nghe còn kinh hơn án tử, gọi là “hủ hóa.” May quá giờ hiếm ai nhắc đến nữa). Vì rõ là mọi thứ nó đều có “suất” cả (giờ gọi là “bao cấp”). Sợ chết, thèm ăn, thèm “sinh hoạt” cũng phải bảo là không sợ, không thèm. Tức là cái trình độ nghĩ một đằng, nhưng nói, làm một nẻo điêu luyện lắm, như được “lập trình” sẵn cả rồi. Tóm tắt lại thì cháu tự cảm thấy mình như thể một thứ người-máy-sinh-học, được đúc ra từ cái phân xưởng đúc mà các bác gọi là “ngành giáo dục,” lại còn được nhiều phân xưởng khác gọt dũa, “mông má” thêm, nên giờ nhớn như lão già rồi mà nhìn ra thế giới thấy mình vẫn còn non nớt lắm. Cứ thế, cái thế hệ người-máy này lại quay lại rèn đúc, đẽo gọt thế hệ người-máy khác (nói bỏ quá, chứ cháu biết các bác cũng nằm trong số này, có khác chăng là thuộc loại “chất lượng cao” thôi – tức khả năng bắt chước, giả vờ, tuân lệnh răm rắp là hơn hẳn đồng loại). Cũng thi thoảng có vài người-máy do bẩm sinh hoặc quy trình đúc bị lỗi mà sinh cái tật hay có ý kiến riêng là được căn chỉnh ngay. Đó là loại bướng bỉnh, thiếu ý thức tập thể, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh chính trị kém. Mà căn chỉnh tức là “kiểm điểm”, “kỷ luật”, “mất thi đua”… cuối cùng là ảnh hưởng đến lương, thưởng, tem phiếu. Vậy là đâu lại vào đấy. Thật là tuyệt!

Báo hại cho phe địch cứ cậy giàu có văn minh mà không biết là đánh nhau với những lực lượng này thì chỉ có thiệt trở lên. Vì bên họ thì không có cái lối đúc người như thế này, mỗi sản phẩm mỗi kiểu, nên nó có cuộc sống rất là “cá nhân chủ nghĩa”. Nào là thắc mắc, đấu tranh, buồn nhớ nhà thì rên rỉ, hát nhạc vàng, rượu chè cờ bạc, ăn diện phè phỡn, gái mú. Ngoài đời họ cũng chả có đông đảo các ban ngành đoàn thể, phát động tuyên truyền, văn hóa tinh thần để rèn đúc theo kiểu “đồng tâm nhất trí” như ta; đã vậy lại còn để cho nhiều đoàn thể, báo đài nói cái giọng phản tuyên truyền lung lạc ý chí chiến đấu của quân dân nữa chứ. Nhất là cái lối thấy đánh nhau bị thua, chết nhiều quá là xót, đòi xem với xét. Thế thì khác gì bàn lùi, là nhận mình kém cỏi, không có chính nghĩa. Như thể hai phe dàn trận ra, một bên thì “triệu người như một” đều bắn, cùng a-la-sô đánh chí chết, chấp nhận hy sinh vô hạn, còn bên kia thì lại phải cãi nhau tiến hay lùi, không “tin tưởng ở trên”, lo thiệt hại nhiều nhân mạng. Thua sặc tiết là cái chắc! Thế mà giờ vẫn còn cãi nhau như mổ bò là vì sao bị thua. Giá chịu khó ngó đến lịch sử xa xưa thì sẽ thấy xã hội này được tổ chức cũng hao hao như cái thị quốc quân sự hùng mạnh Sparte ở Hy lạp thế kỷ thứ V trước Công nguyên, để mà biết mà dàn hòa chịu thiệt ngay từ đầu thì có phải yên chuyện không.

Đó là tóm tắt vài biểu hiện trong cái công tích của cỗ máy đúc người, chứ đi sâu chỉ ra hết, phân tích rõ thì đa dạng, thâm thúy vô cùng tận, phải những trí thức học giả mới làm nổi.

2. Tội

Thế rồi hòa bình lập lại, nhiều năm sau nữa mà cái cỗ máy đúc này nó chạy lại còn khỏe hơn hẳn xưa. Hình như cũng có nhiều vị hay chữ kiến nghị phải thay nó đi, đơn giản là xưa “đúc” chiến binh là chính, giờ thì phải “trồng người” như bên Tây để cho ra nhiều trí thức, công nhân bậc cao, nông dân giỏi công nghệ. Xưa đánh nhau lo mất nước, có phe nọ phe kia, nên cần “muôn người như một”. Giờ đâu còn lo nữa, thế giới đơn cực, chế độ thì vững như bàn thạch rồi, lại còn chơi với tất tật, kể cả những loại ngày xưa là kẻ thù nữa. Với lại cái trò đúc ấy nó cũng có mặt trái kinh khủng, làm cho ta thiếu hẳn những người-thật. Trước nay mình toàn “đúc”, mà người ta thì “trồng”; như cái cây ấy, chăm bón, vun xới rồi tự nó nhớn lên mơn mởn mỗi cây mỗi vẻ, chứ cứ khuôn hình “đúc” ra cứng nhắc, khô không khốc thì có mà đánh nhau mãi à? Hậu quả đau đớn là cứ bị mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, mới ngộ ra là vì ta quá thiếu người-thật, chỉ rặt những người-máy thôi, nào có dám cãi lại khi thấy “trên” làm sai. Thêm nữa là do “trên” thì các bác quản đốc, giám đốc biết thân biết phận, tâm niệm cái câu “ba anh hàng da thành anh Gia Cát Lượng” nên lãnh đạo theo lối “tập thể”, chứ không chơi kiểu “cá nhân” như bọn tư bản. Yên tâm quá, có chuyện gì thì cũng chịu trách nhiệm “tập thể”, tức là “hòa cả làng.” Cùng lắm là các bác đổ tại cái thằng… “cơ chế”, sợ gì chuyện làm sai, nên càng hay sai. Các bác lại còn thích kiểu ăn quả chắc, nên tuyển toàn loại người-máy thôi, ngại tuyển người-thật vì chúng nó hay cãi, dám hỗn láo vạch mặt cả cấp trên. Nhưng người- máy thì trông nó cứ “muôn người như một” nên cũng cực kỳ khó chọn, lý lịch anh nào thấy cũng na ná như anh nào, toàn “chấp hành”, “trung thành”, “khiêm tốn” cả. Các bác đành tổ chức thi… “chạy”. Anh nào “chạy” khỏe là ăn. Nhưng hóa ra những tay “chạy” khỏe thì làm việc lại cực ngu. Thế là các bác lại càng dễ mắc thêm sai lầm nữa.

Nhưng có lẽ các bác vẫn tính là thể nào cũng còn đánh nhau? Hay là cần các trí thức có phong cách như chiến binh người-máy? Hay các bác thấy giờ vi tính, rô-bốt ở tây nó phát triển quá nên nghĩ mình cả nửa thế kỷ nay thế là đi đúng cái kiểu “đi tắt đón đầu” rồi (đúc được người-máy)? Nên cỗ máy đúc vẫn cứ được dùng tiếp. Thi thoảng có tiếng kêu ca thì các bác lại xê dịch nó đi tị tẹo, sơn phết vào, hô là “cải cách”! Thế là yên chuyện.

Nhưng cái lũ người-máy-sinh-học giờ nó cũng quái ra phết. Không thấy đánh nhau nữa, lại thấy nhờ có cái “cơ chế thị trường” nên các người-máy có “cương vị” sống hơi bị Tây quá chứ không kham khổ như xưa nữa. Còn nhìn ra ngoài thì mới thấy là mình “thua em kém chị” ghê gớm. Thế là chúng nó nhao nhao lên. Một số thì lăn vào mà kiếm tình, tiền các kiểu, trong khi vẫn giữ cái vỏ người-máy. Số khác thì cố công nhồi nhét kiến thức bị hổng bao lâu nay, chỉ có điều nó vẫn bị cái thói quen là nhút nhát, sợ sệt không sửa được mấy, nên nhiều khi có cái sáng kiến cũng đành câm miệng, sợ dạy khôn người trên là bị mắng “thiếu khiêm tốn”, “gây mất đoàn kết nội bộ”. Cũng có một số ngộ ra là mình phải được có tí quyền này nọ chứ không thể như lớp trước mãi. Vậy là nảy sinh những xung đột xưa nay chưa từng thấy. Như tại xưởng đúc, nhiều thợ đúc bắt đầu áp dụng các ngón nghề cai ngục như ép học thêm, tra tấn, hỏi cung, lăng nhục người-máy, nhưng họ thường chỉ nhắm vào những loại hiền lành, ù lì thôi (khôn thế, chứ tra tấn loại người-máy khùng khùng có khi lại bị nó tra tấn lại thì khốn. Vì cũng có vài vụ người-máy nổi điên “xử lý” thợ đúc rồi). Đến độ nhiều người-máy bị hỏng “phần mềm”, bác sĩ gọi là sì-chét, là tâm thần, nói năng hành động lung tung, có những trường hợp tự tử nữa mới kinh. Tình trạng này giờ nhiều quá, công luận lên tiếng đòi có giải pháp, làm cho các bác quản đốc rối tinh không xoay xở kịp.

Khổ nữa là trong cái công cuộc “ra biển lớn” này (tức là làm ăn, quan hệ với khắp thế giới), những người-máy được đúc ra theo công nghệ cũ ngày càng bộc lộ kém cỏi. Vì không quen tự học hỏi, thường thụ động nên đơn giản là ra biển gặp sóng to gió lớn, cá mập, cướp biển nó rình rập mà cứ “gọi dạ bảo vâng”, “đặt đâu ngồi đấy”, chả có sáng kiến tối kiến gì cho ra hồn; khó khăn tí thì lại đòi về xin ý kiến chỉ đạo của “trên”, “trên” lại thỉnh thị “trên” nữa, hoặc dở “cẩm nang” ra đọc, thì có mà làm mồi cho bạch tuộc tư bản, nó chả phải vươn vòi gì mà cũng kiếm ăn tại chỗ được.

Vậy mà nhiều năm nay, cỗ máy cổ quái này lại còn được gia cố để hoạt động mạnh hơn. Vì tình hình hai chục năm qua theo cái “cơ chế thị trường”, nhiều vị chức sắc cũng kiếm ra phết, cả danh lẫn lợi (nói trắng ra là chức tước, đô-la và bằng cấp, thành tích rởm), đến độ nổi tiếng ra cả thế giới chuyện ta bị giặc nội xâm tham nhũng nó đánh, chả kém tiếng tăm ngày xưa ta đánh giặc ngoại xâm; thế nhưng các em người-máy có biết được bác nào là “giặc” thì cũng im thin thít, an toàn quá chứ còn gì. Lại có nhiều người-máy có cương vị vào là muốn được đúc lại, nâng cấp, dán thêm tem nhãn cho oách, dễ được lên làm đốc công, quản đốc… Cả xã hội giờ cứ như một đại công trường đúc người-máy. Các kiểu đúc: Đúc giả, giả vờ đúc, đúc lại, giả vờ đúc lại, giả vờ đã được đúc, đúc “tại chức”, đúc “từ xa”, đúc “thường xuyên”, đúc kiểu nâng cấp, kiểu khẩn cấp, “đẳng cấp quốc tế” nữa (nghe nói đang có phương án), vân vân và vân vân, mà lại vẫn cứ rập khuôn theo cái công nghệ cũ ấy. Cỗ máy đúc giờ phải tăng ca, ngày tới 4-5 ca mà vẫn không hết việc, thế mà các bác lại còn mới đưa ra chỉ tiêu phải đúc nâng cấp thêm mấy chục nghìn nữa mới ghê. Cung không kịp cầu nên tức khắc phát triển cực mạnh cái dịch vụ mua bán tem nhãn chứng nhận rởm là đã được đúc, được nâng cấp (mới thử kiểm tra cái tỉnh gì trên Tây Nguyên mà đã ngót gần hai nghìn vị “dính” rồi). Thử hỏi làm sao mà thay cái cỗ máy này đi được, nhất là ai cũng thấy “đúc” dễ hơn “trồng” rất nhiều, cho cả thợ đúc lẫn người-máy. Chỉ thấy thay hết đời bác quản đốc này lại đến bác quản đốc khác mà điều tiếng thì ngày càng nhiều là tại sao chất lượng người-máy ngày càng tệ. Rồi còn nảy sinh ra đủ kiểu phong phú, như thi thoảng lại có bác quản đốc phân xưởng khác muốn được giả vờ đúc lại, giả vờ nâng cấp để được tại vị hoặc lên chức giám đốc, mà to thế thì phải chiều chứ. Chưa kể mỗi khi các bác có hô hào “từ nay chấm dứt cái trò giả vờ đúc nhé” (tức là phát động “nói không với bệnh thành tích”, “chống gian dối trong thi cử”), cũng không ăn nhằm gì, vì các phân xưởng khác họ cũng “làm giả, ăn thật” đầy dẫy ra cả rồi, mà thu nhập, năng suất của họ lại còn bằng vạn phân xưởng đúc. (Nên nói trắng ra là người nhớn, “bề trên” không làm gương chống gian dối, “bệnh thành tích” trước đi mà lại bảo trẻ con, kẻ nghèo hèn chống thì chống thế nào được). Thành thử công nhân phân xưởng của các bác cũng phải thi đua tăng thu nhập với họ thì mới sống nổi chứ. Vậy là các người-máy nay được đúc ra thậm chí còn tệ hơn với sản phẩm của cái lối “nhanh, nhiều, tốt, rẻ” ngày xưa. Mệt nữa là các phân xưởng khác còn có đủ những quyền hạn khống chế cái xưởng đúc này để mà “vào guồng” cùng với mình. Ví như bên thiết kế (kiểu như tuyên giáo í mà), hay bên tài vụ (giống cái ngành tài chính ấy), quyền hành họ rất to, không nghe theo là họ “siết hầu bao”. Nhưng cũng chả thể đổ tại thiên hạ hết được vì cái công nghệ đúc của các bác nó quá lỗi thời rồi, trẻ con giờ nó lên vi tính, nhoằng một cái là nó biết hết ở bên Tây người ta thế nào, thế mà các bác cứ muốn nó phải nghe, phải tin những lời giáo lý theo kiểu “nói vậy mà không phải vậy” mãi sao được. Các bác cũng nào có chịu tin là bao nhiêu tệ nạn xã hội, giặc nội xâm tham nhũng, trò giả vờ ở cái xã hội này một phần chính là do cái lối đúc người của các bác mà ra. Có điều, thi thoảng cũng thấy thương các bác thật. Ấy là chuyện các công nhân đúc, họ vốn xuất thân cũng người-máy cả, quen cái công nghệ cổ quái này rồi, giờ đổi lại là họ chóng mặt, “chập mạch” ngay. Rồi xoay đủ kiểu để đánh bài cù nhầy. Nhất là giờ họ phải lo nhiều hơn tới cuộc sống, vì của đáng tội, lương ba cọc ba đồng sống sao nổi, nhìn ra ngoài thì đâu đâu cũng kiếm mạnh quá, họ có phát khùng lên, hay không chịu cố mà đổi từ “đúc” sang “trồng” cũng không lạ. Vừa rồi các bác mới hứa đại là mấy năm nữa thì lương họ được nâng lên mức “đủ sống”. Nói hay thế! Thế nào là đủ sống, sống dật dờ, hay sống phây phây? Thế lâu nay chả phải là họ vẫn sống, có thợ đúc nào chết đói đâu? Làm sao họ tin được. Càng rõ là ngay trong bản thân nhiều vị trong số các bác cũng không nhận ra hoặc không chịu nhận là mình có những thói quen cũ khác gì những công nhân đúc dưới mình đâu, thậm chí còn nặng hơn nhiều. Thật nan giải vô cùng!

Vậy thì thấy ngay là muốn thực sự đúc (trồng) được người-thật theo kiểu tiên tiến như bên Tây, phải bắt đầu bằng các bác lãnh đạo nhà máy, rồi tất tật các phân xưởng khác nữa đồng tâm nhất trí mới được. Đằng này các bác chỉ ở tầm quản đốc phân xưởng đúc thôi, đơn thương độc mã mà xoay xở, thì có bị nó nuốt chửng cũng chả oan. Chưa nói tới chuyện (xin lỗi các bác đừng giận) trong số các bác, nhiều vị i-qui cũng hơi bị cao, biết tỏng là chẳng đi đến đâu, nhưng thôi thì tặc lưỡi chấp nhận cống hiến theo kiểu “ngậm miệng…” là khỏe. Nên bao nhiêu năm nay cứ nghe các bác “cải cách” hết đợt này đến đợt khác xoành xoạch, mà toàn theo kiểu “giật mình,” tức là theo lối hình thức, manh mún, vội vã, chứ không có chiến lược lâu dài gì cả. Thành thử cái ngành “đúc người” càng đi vào ngõ cụt thêm, càng nhiều thêm chuyện tồi tệ trong học hành thi cử, từ các quan chức, thầy cô cho tới học trò.

Từ bé cháu đã nghe mãi lời giáo huấn “… vì lợi ích trăm năm trồng người”, nhưng cháu nghĩ quả tình chả thấy các bác trồng trọt gì mấy, thấy toàn là đúc thôi, ra rặt những người-máy, còn người-thật khan quá. Cái lợi ích thì cũng có, nhưng nó nặng về trước mắt vài năm để phục vụ chiến tranh, chứ làm gì được tới trăm năm, cho việc xây dựng đất nước, chưa nói tới chuyện “lợi bất cập hại” thì vô cùng tận, khó mà nói ra được hết.

3. Chữa trị

Giờ thì chắc các bác sẽ mắng “thế mày giỏi thì hiến kế đi xem nào”! Vâng, cháu xin hiến kế, để chia sẻ cái cơn vật vã của các bác với công cuộc “trồng người” này.

Thứ nhất: trước hết nếu đồng ý với những lý sự này của cháu, rằng cái lối đúc người bao năm nay là nguyên nhân đem đến nhiều thói tật tệ hại, ăn vào máu mấy thế hệ, vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, dưới đủ mọi hình thức, mức độ, giờ thay đổi là vô cùng khó, vướng víu nhằng nhịt với cả thiết chế xã hội, thì các bác hẳn đọc tiếp.

Thứ hai: các bác đừng sợ là “trồng người” theo kiểu Tây thì sinh ra những loại người-thật là sẽ “khó bảo”, hay “chống đối”, là mình “mất chế độ”. Nghĩ thế là các bác không tin tưởng vào đường lối đổi mới của “trên” rồi. Còn cứ sợ bóng sợ vía, lại cả nuối tiếc cuộc sống phè phỡn với bọn giặc nội xâm, rồi đâm ra nhùng nhằng, giả vờ cải cách, chẳng kiểu nào ra kiểu nào, dở Tây dở ta chẳng những tốn kém vô cùng, mà còn đúc ra thêm những người-máy quái dị nữa thì càng gay. (Thí dụ chả đâu xa, cái bác quản đốc xưởng đúc vừa về hưu ấy, rất tỉnh, biết tỏng là mình cũng dạng người-máy, nên xin tiền nhà máy để sang Tây cho nó “trồng” lại mình thành người-thật, chả biết để về mà làm gì. Thế là sinh chuyện dở mếu dở cười). Với lại cháu đọc sách mới biết là cách nay cũng gần trăm năm rồi, các cụ tiền bối mà ta tưởng là cổ hủ đã từng khuyên là phải học Tây, Nhật cái cách “trồng người” chứ có phải không đâu. Khi nước mình còn nô lệ, có cụ còn bỏ tiền túi ra đưa khối mầm non sang Nhật cho họ “trồng” hộ, đến lúc vừa độc lập mình còn mời nhiều vị được Tây thực dân nó “trồng” về giúp đất nước giỏi phết. Chưa hết, nhiều vị còn tranh thủ học Tây tại chỗ nữa, nên trội hơn hẳn, mới được tôn lên cầm đầu cách mạng. Thế là một phần nhờ những vị này, được học Tây, Tây học mà nên người-thật, để sau đó ta cướp lại được chế độ lần nữa chứ nào có mất mát (chế độ) gì đâu.

Có điều hình như nhiều bác cũng vẫn đinh ninh, là lối đúc người này của ta lâu nay, chính là học theo “Tây” từ lâu rồi, nên cứ yên trí vậy mà theo. Nhưng các bác hơi bị nhầm. “Tây” mà ta học theo ở đây thực ra là Tây-đông, tức là nước Liên-xô, thành trì XHCN đã sụp đổ mười mấy năm nay rồi. Mà bố này sụp đổ thì ta còn chạy theo học làm gì nữa, có mà học cái bóng ma! Hay là các bác cũng muốn…?

Thứ ba: khi đã “quán triệt” hết rồi (tức là phải cả ban giám đốc nhà máy, nhiều phân xưởng cũng chịu cắn răng mà theo), thì ta phải tìm ra tất tật những biểu hiện của lối đúc người theo kiểu cũ, mà cháu mới đưa ra được có vài ví dụ ở trên thôi. Tìm quyết liệt như truy nã tội phạm ấy. Phải nhấn mạnh là nó nhiều vô cùng vô tận, chọc sâu cắm rễ cực chắc vào toàn bộ đời sống xã hội, các ban ngành đoàn thể, tác động khủng khiếp tới cái công cuộc “trồng người”. Từ những ngôn ngữ cửa miệng (ví dụ ngay như cái từ “quán triệt” cháu quen mồm mà vừa dùng ấy, cũng nên bớt đi), chữ nghĩa trên sách, báo, diễn văn, bài học, khẩu hiệu, giọng điệu nói năng hàng ngày kêu cứ choang choang (như trên vô tuyến cứ ra rả “Mỗi người tốt, mỗi việc tốt là một bông hoa đẹp. Cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp”, e là thứ hoa sớm nở tối tàn, nên bỏ dần)… cho đến tác phong, thái độ, hành động cư xử giữa con người với nhau, đâu đâu cũng thấy tràn ngập cái lối đúc người lồ lộ. Tiếp đến là các danh hiệu này nọ thôi thì nhiều vô thiên ủng, các đoàn thể gọi là “quốc doanh” với những bộ máy khổng lồ. Hai thứ này mấy chục năm nay tham gia vào cái công cuộc đúc người vô cùng đắc lực. Tạm gọi các đoàn thể này nó như những phân xưởng đánh bóng, mạ kền cho sản phẩm đúc. Còn những danh hiệu này nọ lại như cái nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”… Tất cả nó đi vào luôn chuyện dạy dỗ, nhìn nhận, đánh giá con người, không theo kiểu “trồng”, mà là “đúc.”

Thứ tư: khi tìm ra hết rồi, giờ mới đến cái thực sự được gọi là “tuyên chiến”. Đó là tuyên chiến với cái bệnh hoạn này trong toàn xã hội, chứ không phải chỉ riêng trong cái ngành đúc người của các bác. Mà tuyên chiến là rất nghiêm trọng rồi (như kiểu chiến tranh giữa hai nước), thì phải lập tức đưa ngay vào hệ thống luật pháp. Phải sửa luật giáo dục, luật báo chí, luật thi đua khen thưởng (nên cho luật này teo dần), luật dân sự (cả luật nhà giáo, luật về hội mà các bác đang tính làm nữa) v.v…, để có biện pháp áp chế từ kỷ luật cho tới phạt tiền, bỏ tù những ai mắc cái căn bệnh đúc người theo lối cũ. Sửa lại, thay thế hết những sách, báo, văn bản rặt những ngôn ngữ kiểu đúc người.

Có luật rồi thì phải có cái bộ máy nó chấp hành luật này. Vậy là cái tòa án để xét xử phải được coi trọng, được độc lập, phát triển mạnh vào, để cho phép học trò nó kiện cả nhà trường nếu vi phạm, chứ đừng coi đó là hỗn. Vì ta cứ hô chế độ ta dân chủ gấp triệu lần chế độ cũ thì phải chứng tỏ ra chứ.

Có hai cái này rồi, giờ nếu bố bộ trưởng nào mà có bằng tiến sĩ theo kiểu “học giả bằng thật”, nhân viên nó kiện ra tòa là mất chức như chơi. Trẻ con nó nhìn vào đó mà hãi, không dám học kiểu lếu láo nữa. Thầy cô mà lại đi hành hạ, đấm đá, cưỡng bức học trò, dạy kiểu “đọc-chép”, “làm bài văn mẫu”, “lớp mẫu”, “giờ dạy mẫu”, không chịu khích lệ tự học, tranh luận là nó cũng kiện ra tòa luôn. Quan tòa nào mà kiếm cớ không xử thì cũng bị… ra tòa luôn. Bố nào mà quen mồm, đọc diễn văn toàn kiểu “thành công rực rỡ”, “phấn khởi thi đua”, “đồng tâm nhất trí” là phạt tiền luôn, thậm chí đưa ngay vào trường để được “trồng” lại theo chương trình mới. Có thể lúc đầu thì các bác chưa quen, dễ bị ăn phạt, phải châm chước tí chút, nhưng rồi dần dần sẽ quen thôi, là ổn.

Nhưng có lẽ các bác lại bảo “phạt lắm thế, mà lương thì ba cọc ba đồng, lấy đâu mà nộp?” Ấy là cái chuyện xã hội hóa giáo dục, y tế. Khởi thủy là do các bác cứ cố, cứ vội mà chứng tỏ chế độ ta ưu việt hơn bọn Tây tư bản, vì sợ không làm nhanh thì lại “mất chế độ”, nên chơi kiểu “nhà nước lo tất”; rồi lại sợ thả ra cho tư nhân thì lại chả phổ cập được cái công nghệ đúc người, lo nó trồng người kiểu tư bản thì mình cũng “mất chế độ”. Khốn nạn là nhà nước giờ đang còn nghèo lấy đâu ra tiền mà “lo tất”. Báo hại vô cùng, “ôm tất” rồi chả còn tiền mà trả lương cho các bác để có ngày nộp phạt. Nhưng giờ bỏ kiểu đúc này rồi, mà chuyển sang trồng người hẳn hoi, thì phải nhanh chóng cho phát triển tư nhân để họ gánh đỡ cho nhà nước chứ gì nữa. Còn sợ “mất chế độ” á? Cứ sợ thế nên mới mất lòng tin, mất nhân tài, tài nguyên… thậm chí mất cả thể diện quốc gia, rồi có ngày mới mất chế độ vào tay bọn giặc nội xâm thật ấy chứ.

Nhưng cũng phải đề phòng khả năng các vị lập pháp lại không đồng lòng sửa những luật này, vì thực tình trong ngót 500 vị, thể nào cũng không thiếu những vị chịu ơn nghĩa cái lối đúc người cũ. Vậy chỉ còn cách nữa là ông chủ tịch nước ra cái sắc lệnh, bao quát hết luôn, chiếu vào đó mà thực hiện thôi.

Song song với luật (sắc lệnh) và tòa là phải có cái bộ máy để tẩy não cho người-máy, tức là tuyên truyền. Mà những bộ máy này cũng phải được quản chặt bằng luật, nếu lơ-tơ-mơ tuyên truyền theo kiểu cũ là cũng phạt. Nhất là phải cho các vị này đi học, tự học, tự đọc tử tế mà thấm nhuần, biết chọn lọc trong những giáo lý Phật, Lão, Khổng đẹp đẽ cao quý từ ngàn đời cả thế giới người ta kính nể, rồi đưa vào cuộc sống, vào nhà trường, chứ cứ để các vị “tự biên tự diễn” chế ra những lời dạy, khẩu hiệu của mình mà bắt người ta tin như là của thánh hiền bao năm nay là nguy hiểm vô cùng.

Còn chuyện nan giải nữa là những thợ đúc, đông đúc như thế mà thay đổi để họ đều biết cách trồng trọt là khó lắm. Phải đưa họ đi trồng lại thôi. Ai lo chuyện này? Đành giật gấu vá vai vậy. Đó là những thợ đúc trông đỡ giống người-máy nhất, nói trắng ra đó mới thực sự là thành phần ưu tú. Thêm nữa là khi đỡ lo “mất chế độ” rồi thì phải mạnh dạn mà thuê thợ trồng trọt bên Tây, nhất là số anh chị em định cư bên ấy thuộc diện gọi là “một bộ phận của dân tộc” về để cùng mở lớp. Ta cứ lặng lẽ mà làm thôi, đừng hô hoán là “đẳng cấp quốc tế” này nọ như lâu nay, chả lại bị phạt. Có tốn kém, thiếu kinh phí thì cứ cắt bớt ngân sách của mấy cái phân xưởng đánh bóng, mạ kền đi cũng tạm ổn, vì số này ngốn tiền là hơi bị kinh.

Thế là “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, tuyên chiến với một thứ giặc giã mới từ nhà trường cho tới xã hội – giặc gian dối, giả dối, háo danh hão, hám thành tích cuội, u mê, đớn hèn… rồi sinh ra tham nhũng.

Nhưng cũng còn nhiều biện pháp lắm, chứ chả phải làm qua quít mà xong đâu, cháu cứ nôm na tạm vậy đã, để phần cho các chuyên gia của các bác lo tiếp.

Cháu xin hết và cũng xin các bác bỏ quá nếu cháu ăn nói có hàm hồ, hỗn xược, vì cháu vẫn còn non nớt như đã thưa ngay từ đầu.

Kính chúc các bác khỏe, luôn tỉnh táo để khỏi bị cái máy đúc nó nuốt chửng mất sự nghiệp.

© 2007 talawas

-

Bài được đăng trên blog Ba Sàm từ năm 2007, nhưng do bị tin tặc đột nhập, xóa mất, nay đăng lại nên không còn các phản hồi ban đầu.

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | 3 Comments »

Tự giáo dục

Posted by adminbasam on 19/10/2007

Tự giáo dục


Thế là vụ việc đình đám về cái website của Bộ Giáo dục – Đào tạo bị học trò Minh Trí “nghịch ngợm” (tạm gọi là vụ Hacker Trí*) đã coi như được khép lại sau những tranh cãi kéo dài, cả những thông tin trái chiều. Duy chỉ có một điều khá thú vị mà không cần phải đợi tới khi mãn cuộc mới đánh giá được. Đó chính là sự cần thiết vô cùng phải Tự Giáo Dục (trước hết) cho ngành giáo dục của chúng ta.

Ngôn từ nghe có vẻ lạ. Bởi xưa nay, người ta thường nói tới chuyện “tự học”, đã ai bảo rằng phải “tự giáo dục” ? Ví như chỉ trong hơn một thế kỷ qua, bao nhiêu bậc thức giả của đất nước để lại bao công trình văn hóa, tư tưởng văn minh tiến bộ mà đến hôm nay chúng ta còn chưa học hỏi, truyền thụ, áp dụng được nhiều (từ những Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch…, cho đến Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Phan Ngọc, Nguyễn Hiến Lê…), vậy mà trong số họ, phỏng có được mấy người có những học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ này nọ ? Rõ là chủ yếu bằng con đường tự học mà các vị đã có những kiến thức uyên bác. Nhưng lâu nay ta đã quen khi dùng từ “học” thường hàm ý chỉ kiến thức, còn nói tới giáo dục là nói tới điều to tát hơn, bao gồm cả nhân cách nữa. Tựa như câu “Tiên học lễ, hậu học văn” vậy – tức giáo dục dạy cả “lễ” và “văn”. Đương nhiên, không ai không hiểu rằng các vị tiền bối đó ngoài thuần túy tự học kiến thức, đã phải tự rèn nhân cách đến thế nào mới có thể để lại cho hậu thế từ tri thức uyên thâm tới lòng kính trọng vô cùng.

Vậy thì ta cần học tập ở các vị tinh thần “tự học”, “tự giáo dục” bản thân – tự học kiến thức và tự rèn nhân cách. Mà muốn “tự” được thì không phải chỉ ở trường lớp, mà còn ngoài xã hội, qua sách vở… Không phải chỉ khi còn tuổi cắp sách tới trường, mà phải luôn học khi vào đời, bất kỳ ở địa vị nào trong xã hội, cho tới nhắm mắt xuôi tay.

Và quanh vụ Hacker Trí, cái sự “tự giáo dục” đã trỗi dậy trong lòng người để biết ơn nghĩa, tự nhận lỗi, rộng lượng, trung thực, dẹp bỏ lối đố kỵ, ganh ghét, thù vặt, sĩ diện – giấu dốt, đạo đức giả,… Cụ thể:

1. Với em Trí: Có được sự tự học kiến thức ngoài nhà trường thì em mới có được khả năng “hack” như vậy. Nhưng còn những khiếm khuyết từ ý thức tôn trọng pháp luật, đến bản tính hiếu thắng của tuổi trẻ, hay cả sự thiếu “khôn ngoan” cần thiết của một con người để có được một cuộc sống bình an trong xã hội này… thì Trí còn phải tự học, tự rèn rất nhiều.

2. Với ông Quách Tuấn Ngọc: Cái học là học kẻ “dưới cơ” mình, một tay “mơ” thôi nhưng cũng làm những chuyên gia hàng đầu về công nghệ thông tin của Việt Nam phải một phen rát mặt. Sự rèn là ở phép ứng xử. Từ chỗ vội phản ứng nặng nề, thái quá, ông đã bình tĩnh lại, có lời xin lỗi trên báo chí(2). Quả là đáng quý !

3. Với ông Nguyễn Tử Quảng: trong khi nhiều sự còn chưa rõ ràng, ông đã ném ra một “quả bom”. Đó là việc Trí sử dụng thẻ tín dụng của người khác(3). Nếu ông thực công tâm, hiểu hơn về pháp luật, về cả đạo lý ở đời thì chắc chắn sẽ không vội tung ra thông tin này; chưa nói tới việc đối tượng mà ông vội ám chỉ như kẻ tội đồ (ăn cắp?) cũng như một học trò của ông thôi. Đến như ông thượng tá trưởng phòng Chống tội phạm cộng nghệ cao-C15 Bộ Công an, người nắm rõ và có trách nhiệm nhất trong việc này, mà cũng còn phải rất thận trọng, khi được hỏi mới dè dặt rằng “việc đó chúng tôi đang tiến hành điều tra“(4).

Liên tưởng tới điều mà dân gian hay chê cười, là lối “bới lông tìm vết” và “tung hỏa mù”. Tựa như chuyện B tố cáo A ném đất vào nhà mình, trong khi mọi người đang nghi hoặc thì, để có thêm trọng lượng cho lời tố cáo của mình, B kể thêm “tội” là hình như năm ngoái A ăn trộm gà ở làng bên. Vậy là A rất dễ… ăn đòn đủ. Với cái lối tư duy và hành xử đó, nếu là ở một vị quan tòa thì không biết sẽ có bao nhiêu người phải chịu oan gia?

4. Với ông Nguyễn Thiện Nhân: Những cố gắng xông xáo, đưa ra nhiều thông điệp gắng bắt kịp với nhiệm vụ gian nan, mới mẻ từ khi chấp chính đến giờ của ông, chưa hẳn đều thuộc về cái bản lĩnh cao của một “chính khách”. Thêm vụ Hacker Trí cho hiểu hơn điều này. Tuy chuyện có vẻ như “con trẻ”, nhưng lại cho ông một bài học mới về việc cần phải “tỉnh” của một vị lãnh đạo đầu ngành.

Trong toàn bộ nội dung bức thư của ông, những nhầm lẫn về thời điểm em Trí đột nhập trang web của Bộ, rồi thái độ phê phán nghiêm khắc với Trí mà lại “quên” phê cái tắc trách, chê cái kém cỏi của thuộc cấp của mình, “quên” làm cho rõ thực hư việc em Trí đã cảnh báo bằng nhiều cách với người có trách nhiệm của trang web để mà … cám ơn em, kể cả lời đính chính vụng về của ông sau đó (nhưng lại cũng “quên” làm gương bằng việc xin lỗi em Trí vì mình đã nhầm lẫn nên đã tạo ra một “tình tiết tăng nặng” cho cái “tội” của em (5) thực tình vẫn chưa đáng gọi là bài học lớn lắm so với tầm cỡ lãnh đạo như ông. Mà là ở chỗ: như một vị tướng chỉ huy binh chủng, năng lực bao quát và tầm nhìn cho cả chiến cuộc mới là quan trọng, chứ không phải là nhảy vào những sự vụ, ôm súng xông lên bắn vào lô-cốt địch – những việc của mấy anh binh nhì, cao hơn thì cấp trung, đại đội. Thậm chí trong “chiến dịch” này, dường như nhiệm vụ “đánh địch” chủ yếu lại không phải thuộc về “binh chủng” của ông, cùng lắm là “hiệp đồng tác chiến” thôi – nó thuộc về công ty VDC, ngành Bưu chính Viễn thông, Tòa Dân sự (nếu như thuộc cấp của ông – chứ không phải đến ông – chọn giải pháp khởi kiện).

5. Với cơ quan tố tụng: Đã rõ là sai phạm của Trí theo luật pháp hiện hành chưa đến mức xử lý hìnhsự, mà chỉ ở mức hành chính-dân sự. Đành rằng trong hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn còn nhiều khiếm khuyết, nhưng không thể vì vậy mà có thể vi phạm những thủ tục tố tụng, và quan trọng hơn là phạm vào những quyền tự do cá nhân, dù đó là một “đứa trẻ”. Việc gọi hỏi, hay niêm phong và kiểm tra máy tính của Trí là liên quan đến điều đó, nhất là sự vụ lại được thực hiện bởi cơ quan CSĐT. Có lẽ sự việc mang màu sắc nghiêm trọng bởi đã động đến một cơ quan lớn, mà kẻ dám “hỗn” lại quá ư “thấp cổ bé họng” nên đã làm nhiều người quên đi những nguyên tắc tố tụng này, hoặc muốn bỏ qua để cho nhanh được việc.

6. Với báo chí: Những phản ứng quá sớm ở vài tờ báo khi nhiều tình tiết vẫn chưa được làm rõ chưaphải là điều đáng nói. Có hai thái cực, một “bênh” em Trí, một “bênh” những người quản trị trang web. Có những báo đã đăng tải rất nhiều ý kiến phản hồi của độc giả trong nhiều kỳ; dù cái sự “quá tốn nhiều giấy mực” cho một vụ việc không lớn, trong khi còn bao tiêu cực ghê gớm cần giành diễn đàn lên án (như vụ Bệnh viện Chợ Rẫy, hay ngay trong giới chức từ ngành Giáo dục cho tới chínhquyền tỉnh Bạc Liêu, trường Cao đẳng VHNT Đăk Lăk chẳng hạn), thì vẫn chưa phải là đáng bàn bằng việc báo đó chỉ đăng ý kiến một chiều mà thôi. Và vậy là cái tính khách quan tối quan trọng của báo chí đã bị đánh mất, đi liền đằng sau là một dấu hỏi của dư luận!

7. Với địa phương, nhà trường, Cty VDC: Một hình ảnh chung là bình tĩnh, thận trọng và có chừng mực (6).Tuy nhiên, việc nhà trường kỷ luật em Trí (ngoài việc xử phạt hành chính của cơ quan có trách nhiệm) cũng cần được xem lại về quyền hạn qua Nội quy nhà trường và Luật Giáo dục 2005, cácNghị định 75, 139 đi kèm. Bởi vì em Trí thực hiện việc xâm nhập trang web này ở ngoài giờ học, ngoài cổng trường. Nên cái sự “tự giáo dục” nó đã có ý nghĩa ngay ở chỗ: hành xử công minh, đúng mực (đặc biệt là với lớp trẻ, người yếu thế) cho ta kinh nghiệm về sau, với những việc tương tự; cả cho người khác nhìn vào đó mà tự giáo dục mình.

Thế mới biết sự tự học, tự giáo dục ở nước ta nó quan trọng đến thế nào, kể cả khi những mục tiêu hoành tráng như đến năm 2015 sẽ có thêm những 20 nghìn tiến sĩ có phải là thực chất (hay chỉ góp phần làm trầm trọng thêm hai cái “bệnh” mà ngành Giáo dục đang phát động tuyên chiến, là “thành tích” và “gian dối trong thi cử”?). Nhất là trong khi cả xã hội lại đã quá quen tới hơn nửa thế kỷ rồi lĩnh hậu quả khôn lường từ lối học thụ động (bị giáo dục), lười suy nghĩ, sợ ý kiến trái chiều, ham chạy theo bằng cấp, thành tích, hư danh…; lại thêm nặng về trí dục mà đức dục thì sao lãng hoặc “rèn” theo lối áp đặt, “hô khẩu hiệu”, dễ khuyến khích những kẻ đạo đức giả, “ăn theo nói leo”, “đặt đâu ngồi đó”.

(1) Em Trí, học sinh lớp 12 trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vĩnh Long, phát hiện lỗi bảo mật trên website của Bộ GD-ĐT, đã để lại file cảnh báo, liên hệ với VDC(Cty đồng quản trị website này) từ tháng 7-2006. Thấy không có phản ứng sửa lỗi, ngày 27-11-2006 Trí đã can thiệp vào website, thay ảnh bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân bằng ảnh của mình.(2) Ông Ngọc (giám đốc Trung tâm CNTT-Bộ GD-ĐT) dùng những từ ngữ nặng nề như “tội phạm”, “bố con chúng nó”, “nó” để nói về em Trí. Sau đó ông đã có thư xin lỗi trên mạng Edunet.(3) Trong một bài báo dài ngót một trang báo, ông Quảng (giám đốc Trung tâm An ninh mạng BKIS) đã đưa ra nhiều “dấu hiệu” về Trí, như “… không chỉ tấn công các website như chúng ta biết mà còn có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài để mua bán trên mạng với số tiền lên tới hàng nghìn USD…”(4)Khi được hỏi việc ông Quảng đưa thông tin Trí có dấu hiệu sử dụng nhiều thẻ tín dụng mang tên người nước ngoài, thượng tá Trần Văn Hòa: “Khi chưa có kết luận cuối cùng, chúng tôi không thể trả lời ngay được”.(5) Trong bức thư “Nỗi đau của tôi trong ngày 20-11-2006″, ông Nhân nói rằng em Trí đã phá website vào đúng ngày Nhà giáo 20-11 (“Khoảng 12 giờ trưa ngày 20-11, tôi được tin website của Bộ đã bị tấn công”). Sau đó, ông đính chính là “vào dịp 20-11″(?). Như vậy thì cái thư của ông sẽ phải có nhanđề là “Nỗi đau của tôi saungày 20-11″ và nội dung phải được sửa lại… rất nhiều!!!(6) Giám đốc Sở Bưu chính-viễn thông Vĩnh Long “chúng tôi sẽ (…) xử lý trên tinh thần vừa răn đe vừa tạo điều kiện phát triển cho một tài năng tin học tương lai”. Phó giám đốc Sở GD-ĐT Vĩnh Long: “… Trí là một học sinh ngoan hiền, có năng khiếu đặc biệt về tin học (…) đã kiên trì cảnh báo các đơn vị quản trị mạng. Đó là đức tính đáng quý…”. Trưởng phòng phát triển dịch vụ của VDC: “… Dưới góc độ công việc, chúng tôi phải cảm ơn Trí…”.

Nguyễn Hữu Vinh

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 46)

Bài được đăng từ năm 2007, nhưng do blog bị tin tặc phá xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu.

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Tagged: | 4 Comments »

Đạo đức cởi truồng

Posted by adminbasam on 17/10/2007

Đạo đức cởi truồng *

Con: bố ơi, hồi con bé bố mẹ không cho con mặc quần à, lại còn chụp ảnh con cởi truồng nữa ?

Bố: ừ …

Con: sao thế ạ ?

Bố (cau mày): cái thằng hỏi buồn cười. Trẻ con mà …

Con: thế sao cứ lớn lên thì mới phải mặc quần ạ ?

Bố (cười, lúng túng): à, là vì không mặc thì ngượng lắm. Nhớn mà cởi truồng ra đường thì … nhất là bạn bè người quen bắt gặp cười cho, xấu hổ có mà chui xuống đất cũng không hết.

Con: thế trẻ con thì không biết xấu hổ hả bố ?

Bố: cũng gần đúng thế, càng lớn càng khôn ra là càng biết xấu hổ.

Con: thế ngộ nhỡ ai không biết xấu hổ mà cứ cởi truồng thì sao ạ ?… Mà người ta đeo mặt nạ vào, như mặt nạ Trung thu bố mua cho con ấy, thì ai biết họ là ai ?

Bố (cười lớn): ái, chà chà … thằng này hỏi quái phết … Thế này nhá … Trong cuộc sống ấy con ạ, ngoài cái xấu hổ, sĩ diện, tự trọng, nặng nữa gọi là nhục, thì còn có luật pháp nó bắt buộc mình phải làm gì, không được làm gì nữa. Chứ không phải là cứ tự ý mình thấy hay thì làm, không hay thì thôi đâu. Học lên nữa con sẽ biết. Nên cu cậu giờ nhớn rồi, mà không biết xấu hổ, cứ tồng ngồng ra đường là bị … “luật pháp” phạt tiền đấy, mà không có tiền nộp phạt là chú công an sẽ tóm cái này của cậu, nhốt lại là hết cả … tè.

Con: thế thì cái “luật pháp” với cái “xấu hổ” thì cái nào to hơn hả bố ?

Bố (trố mắt): khiếp cái thằng, định làm triết gia hay sao đây ! … Chuyện này hơi khó … đại để là mỗi cái đều có cái hay của nó, đều cần thiết. Nếu ai cũng biết xấu hổ mà tránh đừng làm thì chả phải cần đến luật pháp. Nên từ xưa hàng nghìn năm tới giờ mới có cả những học thuyết, rồi cả tôn giáo nữa, khuyên răn đạo đức, dạy phép tắc, lễ nghi, ứng xử … thế nào là hay, là dở cho con người ta kỹ lưỡng kinh khủng. Chỉ bất đắc dĩ ai không biết thế nào là xấu hổ, là sai thì mới phải đưa luật ra. Thành thử cả hai đều quan trọng, cái thì có tính chất dạy dỗ, khuyên bảo, cái thì kiểu đe nẹt, trừng phạt.

Con: thế sao con thấy trên vô tuyến dạo này người lớn toàn cãi nhau là ông này làm thế này là đúng luật, ông kia là sai luật, cả nhiều ông bị đi tù nữa. Nhưng chả thấy nói là ông này xấu hổ, ông kia không biết nhục, rồi có đáng … “chui xuống đất” hay không. Họ không có học thuyết, tôn giáo hả bố ? Họ làm sai nhưng chưa nặng bằng cởi truồng nên chưa xấu hổ à ? Mà bố còn bảo càng lớn càng biết xấu hổ cơ mà ?

Bố: …

Con: bố còn bảo càng khôn thì càng biết xấu hổ nữa …

Bố: à, bố nói thế là nói chung thôi. Chứ bây giờ nhiều người càng khôn thì lại càng không biết xấu hổ ấy chứ lị …

Con: sao người lớn rắc rối thế hả bố ? Mà như thế thì làm sao người lớn dạy cho trẻ con được ạ ?

Bố (thở dài): ừ … gay thế đấy …

Con: thế những ông “không biết xấu hổ” thì họ dạy con họ thế nào ạ ?

Bố: à … Sẽ có hai loại. Một loại thì họ dạy con họ là … là … “chúng mày mà nghe lời tao, làm theo tao là nhục lắm đấy nhá !” Còn loại thứ hai thì họ dạy con họ cứ làm … y như họ.

Con: thế thì loại nào là khôn hả bố ?

Bố: ngu hết !

Con (tròn mắt): ???

Bố: khôn á, thì chỉ có mỗi cách là …. “ngậm miệng … “

Con: là không dạy gì cả ?

Bố:

Con: … à, là “chui xuống đất” luôn !

Ba Sàm

*(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 50-2006: Đạo đức có tuổi tác)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục | Leave a Comment »

Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen, …

Posted by adminbasam on 13/10/2007

Nhạc: đỏ, xanh, vàng, đen,

Đó là về 4 “dòng” ca khúc ở ta một thời mà không biết có nên tự hào rằng chẳng có nước nào trên thế giới lại có được sự phong phú theo cái lối đó. Sự “phong phú” vương vấn hình ảnh “nồi da xáo thịt” (mà lại vương vào trong thơ ca mới đau chứ). Thiết nghĩ không thể không nói, chúng ta cứ tránh né mãi, tránh né nhiều chuyện quá, làm sao mở rộng cửa mà “ra biển lớn” được.

1. Mở cuốn Từ điển tiếng Việt thì chỉ duy nhất nhạc vàng được cắt nghĩa, là thứ “nhạc bi lụy[1]. Nghe không ổn. Bực mình mua một quyển đời mới hơn, thì được “cập nhật” một nghĩa mới nữa là “có giai điệu buồn[2]. Nghe càng tệ (dễ lẫn với cả nhạc … “đỏ” chứ chả chơi – như cái bài “Hồn tử sĩ” chẳng hạn, lễ tang các vị cấp cao là đều cử hành); mà dẫu có phải bổ sung thêm rằng khái niệm đó chỉ “sống” có một thời – thời chiến tranh 1954-1975, chủ yếu được các nhạc sĩ phía Nam sáng tác, thì cũng vẫn không thể đầy đủ cho cái sự “phức tạp” của nó. Vì nếu đi vào phân tích cái chất nhạc rất đặc biệt không lẫn đi đâu được của thể loại này thì phải giành cho các nhà chuyên môn.

2. Còn khái niệm nhạc đỏ, có lẽ là trong dân gian, để nói tới thứ nhạc có lời ca ngợi đất nước, “tăng gia sản xuất”, cách mạng, đảng, lãnh tụ, có yêu đương cũng gắn với lao động, chiến đấu … và tất tật những gì minh chứng rằng chế độ ta tươi đẹp; mà nhạc điệu thì đương nhiên là phải phù hợp với lời rồi, vui cùng vui, buồn cùng buồn (vẫn phải là điệu buồn bi tráng). Nhưng cẩn thận hơn, giở lại cuốn Từ điển đời mới, thì đã có thêm khái niệm nhạc đỏ, là “nhạc thường có âm điệu sôi nổi, mạnh mẽ, có nội dung ca ngợi tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc2. Đơn giản thế là cùng. Thật là tiếc cho các nhà từ điển học dày công biên soạn cả chục năm !

3. Thế còn nhạc xanh ? Cái tên này cũng trong dân gian thôi, có lẽ đó là thứ nhạc về tình yêu đôi lứa, “mây gió trăng hoa” … linh tinh, mà lời ca không “động” tới những gì thuộc về … nhạc đỏ, nét nhạc cũng không có cái “bi lụy” đặc thù như nhạc vàng. Vậy mà một thời cũng ít nhiều bị “hạn chế”, vì dễ làm sao lãng tư tưởng cách mạng trong thanh niên, những người lính ra trận.

4. Nhạc đen ? Quả tình đây là khái niệm mà người viết bài này mạo muội đưa ra để chỉ tất cả những ca khúc chưa được các nhà quản lý “duyệt” cho … “sinh” hoặc “phục sinh”. Nên tới tận hôm nay, sau hơn 30 năm chiến tranh kết thúc mà ta vẫn chưa được thưởng thức hàng chục ngàn ca khúc – những đứa con tinh thần của các nhạc sĩ tài năng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, … – vì chúng vẫn đang nằm trong “bóng tối”. Nhưng vẫn phải nói cho rõ vì sao có những hai loại muốn được “sinh” và “phục sinh”. Đó chính là những ca khúc của các nhạc sĩ sống dưới chế độ Sài Gòn trong khoảng những năm 1954-1975 (cần “phục sinh”) và các nhạc sĩ ở hải ngoại sau 1975 (cần “sinh” … trong nước).

5. Nhưng, có chia như vậy mà thấy vẫn không ổn. Vì cũng có thể có người bảo: đã gọi là “đen” thì phải là thứ “phản động”. Còn không “phản động”, nhưng có “vấn đề”, chưa được duyệt thì phải gọi là “xám” chứ.Và như vậy thì phải có tới năm, bảy “dòng” nhạc chứ chả chơi. Người khác lại cãi: phân loại kiểu đó là kiểu”chính trị”, phi nghệ thuật … Càng rắc rối hơn nếu như có một nhạc sĩ hải ngoại nào đó (nhất là diện có lý lịch “xấu”) lại nổi hứng sáng tác một bài hát cực kỳ “đỏ” vào, thì không biết liệu có được … duyệt, đưa vào danh sách nhạc đỏ để lưu hành trong nước không ? Chưa hết ! Lại có người muốn phát hành cái đĩa CD gồm những ca khúc thuộc diện “đen”, “xám” nhưng người ta lại chơi nhạc không lời thôi (không hát) thì sao ? Cái “phản động” là nó ở trong lời ca chứ có phải do điệu nhạc đâu. Còn nếu sợ có tên bài “mang nội dung phản động” thì người ta chọn những bài có tên “không phản động” thì sao ? v.v.. Chà … quá là rối rắm phải không quý vị ? Nếu có nhiều kẻ thích sinh sự như kẻ viết bài này thì chắc các “quan văn hóa” phải xin bỏ hết chế độ kiểm duyệt đi mất. Mà không rõ cái chế độ kiểm duyệt của ta có cái “ba-rem” gì không, như lối chấm bài văn bao năm nay mà nhà văn Nguyên Ngọc[3] vừa mới “than Trời” ấy ? Giả sử có “ba-rem”, thì liệu có được xây dựng nên một cách nghiêm cẩn, chí ít bởi các nhà chuyên môn về âm nhạc, chứ không phải được tuỳ ý quyết định chỉ bằng vài ba cán bộ quản lý ? Còn nếu không có thì đã rõ là trong lĩnh vực âm nhạc này còn đáng phải “đổi mới” không thua gì là chuyện giáo dục ấy chứ. Chẳng nói đâu xa, như trong điện ảnh, cách nay hơn 20 năm, bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai đã phải “lên” đến các cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước để quyết định có được công chiếu hay không.

6. Còn nếu có ý thức nghiên cứu mang tính học thuật, lịch sử, gạt sang một bên những thiên kiến chính trị, thì không thể bỏ qua bất cứ thể loại âm nhạc nào nêu trên. Cùng với nhiều hiện tượng văn hóa khác, âm nhạc hiện đại của nước ta đã có bước nhảy vọt khác thường chỉ trong khoảng nửa thế kỷ, do chịu ảnh hưởng của trào lưu âm nhạc phương Tây, nhưng lại vẫn hòa quyện rất rõ với âm hưởng nhạc dân tộc. Ví như nhạc vàng, không biết đã có ai đi sâu nghiên cứu về nét gần gũi của nó với nhạc cải lương (đơn giản, dễ hát, âm điệu buồn phương Nam, nhưng không phải lúc nào cũng “uỷ mị”, hoặc thậm chí có “uỷ mị” nhưng lại thấy yêu đời hơn) ? Hay với nhạc đỏ, khó lý giải được vì sao trong đó có rất nhiều ca khúc tuy chất “chính trị” rất “nặng”, nhưng chất “nghệ thuật” vẫn cao, từ giai điệu cho tới hòa âm không khác gì những bản aria (có khi lại đầy chất dân tộc, vừa “tây” vừa rất “ta” nữa) mà lời ca cũng rất thơ. Nó đã đóng vai trò là một công cụ tuyên truyền rất mạnh. Càng khó lý giải hơn (?) khi chỉ sau năm 1975 không lâu, hầu như vắng bóng những ca khúc có được “đẳng cấp” nghệ thuật như vậy; nhiều nhạc sĩ cố công sáng tác phục vụ công tác tuyên truyền nhưng vẫn chẳng thể nào có được tác phẩm đáng để “đi vào lịch sử”. Một ví dụ dễ thấy là đợt vận động sáng tác quốc ca cách đây hơn 20 năm chẳng hạn, đủ các điều kiện thuận lợi, các giải thưởng chờ đón, thế mà chẳng có được bản nào sánh nổi với bản Tiến quân ca. Phải chăng đã có một “cơ duyên” lịch sử không bao giờ được lặp lại, khi mà cùng lúc, một thế hệ những nhạc sĩ, họa sĩ, nhà văn, thơ … Việt Nam phát lộ tài năng bởi tiếp thu nền văn minh, dân chủ phương Tây đồng thời hồ hởi với công cuộc giải phóng dân tộc nên đã có biết bao tác phẩm nghệ thuật “để đời” đến vậy (không phải chỉ trong âm nhạc) ?

Nhạc “ta” ít được nghiên cứu, tìm con đường phát triển hợp lý cho nó trong thời kỳ mới, trong khi những thể loại âm nhạc hàn lâm một thời dày công đào tạo, giờ không dễ tiếp tục theo lối đó; còn những “bài ca đi cùng năm tháng”, tuy giá trị nghệ thuật khá cao nhưng mang nhiều dấu ấn lịch sử, chính trị không thể cứ “ca” mãi. Tác động của âm nhạc lên đời sống tinh thần của mỗi con người Việt Nam ta là rất lớn chỉ trong một thế kỷ qua, thời tiền chiến, rồi thời chiến nó mang những ý nghĩa khác hẳn với thời nay. Không thể không suy nghĩ khi mà những giá trị đạo đức đang băng hoại nghiêm trọng đều có phần tác động không nhỏ bởi lối tư duy thực dụng coi thường giá trị thẩm mỹ (trong âm nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu, điện ảnh …) qua hệ thống giáo dục, qua phương tiện thông tin tuyên truyền, hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Thế mới càng thông cảm với giới trẻ ngày nay cứ bị người già khó chịu vì hát hỏng nhạc tây chán lại thêm những trò break-dance, hip-hop … , có hát nhạc đỏ thì có khi nó lại xuyên tạc đi. Có thể vì chúng nhảy nhót hát hò mà không biết “quán triệt” như người lớn - “chẳng có chính chị, chính em gì sất”. Nhưng cũng chớ nên nghĩ rằng chúng không cảm thấy hẫng hụt, cô đơn khi cứ phải “xài đồ ngoại” mãi như vậy.

 Nguyễn Hữu Vinh

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 52)


[1]Từ điển Tiếng Việt, 1997, Trung tâm Từ điển học

[2]Từ điển tiếng Việt, 2007, Trung tâm Từ điển học

[3] Tia Sáng, số 18/2007, Gỡ sao đây ?

Posted in Bài của Ba Sàm, Văn hóa | Tagged: , , | Leave a Comment »

82:Bí mật đời … riêng

Posted by adminbasam on 09/10/2007

Bí mật đời … riêng

.

- Đọc gì mà say sưa thế Út Măng ?

- Dạ thưa sếp, em đọc cái “Hồi ký … của một ả ca-ve” …

- Cái gì ? Nó tên là gì … đưa xem nào !

- “Em-so-ri” … Em thấy sếp Phó Bí của em ưa đi múa karaoke quá nên em chọc sếp chơi đó mà …

- Cái thằng …

- … Mà giờ sao các chị em vùng lên dữ quá, đua nhau ra hồi ký, làm nhiều cha lên ruột … rồi nhào đi mua. Cha thì lo mình “được” thành nhân vật chánh trong đó, cha thì muốn học hỏi kinh nghiệm … “tình trường”, “chơi” làm sao mà sau này khỏi được vinh danh trong “hồi ký” của các em. Thêm các bà nữa, ngờ ông xã mình dính chấu … cũng mua gấp coi. Còn cánh xế tụi em thì tò mò coi xem có … sếp mình trong đó không. Dzậy là sách bán chạy như tôm tươi … Cười muốn chết !

- Thôi chết ! Đúng thế hả ?

- Bộ sếp nhiều việc quá hổng có đọc sách báo gì hết trơn …

- Vậy là phải có biện pháp quản lý, chứ kiểu này thì …

- Thì lộ hết bí mật “tư tác”, bí mật “đời riêng”, con riêng, tài sản, tài khoản riêng …

- Không phải chuyện đùa đâu nhá.

- Nhưng theo ngu ý của em thì phát triển ba cái “hồi ký” này cũng hay chớ. Không chừng mình còn phải phát động thành cái phong trào … Từ rày mấy cha nội đỡ đi quậy … lo lỡ có ngày nó ra đời cái “Hồi ký của một ả ca-ve” thiệt thì gay. Chưa nói tới mấy quan tham xộ khám rồi, ngồi bóc lịch là dễ “nhàn cư vi … viết hồi ký” … Bán cũng chạy khủng khiếp luôn … Còn mấy tay “dựa cột” thì khỏi nói, sắp mất mạng thì còn gì nữa mà mất mà sợ, “hồi ký” bán ra là con cháu mấy đời tiêu xài khỏe re, khỏi … phấn đấu, khỏi lo đấu tranh đòi xóa cái “chủ nghĩa lý lịch” nữa.

Dzậy là các “ô dù”, “huynh đệ” ngồi nhà tha hồ mà run …”lạy Trời từ kiếp sau con xin chừa …”

- Đúng là … khủng khiếp quá ! Sao mình không lường trước được chuyện này nhỉ? Phải cấm, phải quản lý hết mới được !

- Dạ, nhưng mà sếp tính cho kỹ chớ rủi họ lại “lách luật”, họ không ra cái “hồi ký”, mà ra cái thứ kêu bằng “hồi ức”, “hồi tưởng” … thì … chào thua !

- Đấy, cái kiến thức “làm luật” ăn nhau là ở chỗ ấy. Mình phải bao quát hết, quản chặt tất cả những loại “hồi” nọ “hồi” kia …

- …

- Mà này … cậu không nghe gì à ? Hí hoáy cái gì đấy … viết cái gì đấy ?

- Dạ, em viết những chỉ thị của sếp … dzô cái … nhật ký của em.

- “Nhật ký” ?

- Chà, sếp dzô tư quá đi. Không những em viết mà em còn tính xuất bản đó …

- Hả ? Cậu định giết tôi đấy hả ? Cậu mà chơi kiểu này á, … là còn nguy hiểm hơn cái trò “hồi ký” đấy. Cậu có biết lâu nay cậu đã là người của …

- … của công chúng ?

- … Bao nhiêu mánh bí mật “quân cơ” tôi tâm sự, đem ra hỏi ý kiến cậu thì lộ béng hết chứ còn gì … là tôi đi tù chứ còn gì.

- Nhưng như dzậy thì em mới khỏi mắc tội “không tố giác tội phạm”, mới được khen thưởng, cất nhắc …

- Bố láo ! Cậu định phản tôi, định phắn trước hả ?

- Dạ không … mà là em cũng phòng hờ, rủi … chị nhà có giận gì sếp, giận “bề trên” của sếp mà ra cái hồi ký thì chắc em chết chùm theo sếp luôn …

- Nguy to … nguy to … Đã thế thì cấm cả “nhật ký” luôn !

- Dạ, dzậy thì em xin chuyển qua viết cái “tuần ký”, “nguyệt ký” … Giờ mình dzô cái Vê-kép-tê-ô rồi, nên áp dụng luật nó phải như bên tây, từ ngữ là phải thiệt chính xác đó sếp …

- Cấm tất, cứ có chữ “hồi”, có chữ “ký” là cấm.

- Dzậy thì ba cái “bút ký”, “ký sự”, “ký họa” … ?

- Cũng cấm luôn cho yên chuyện ! Chặt chẽ thế thì hết cửa chưa ?

- Dạ, dzậy đúng là “hết cửa”, là cấm cửa … cả làng Văn-Hóa-Nghệ-Thuật luôn!


Ba Sàm

(Diễn Đàn – ngày 9-9-2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Tiểu phẩm Tếu, Văn hóa, Đảng/Nhà nước | Tagged: | 2 Comments »

Hỏi ý con Kiến con

Posted by adminbasam on 06/10/2007

Hỏi ý con Kiến con


Con: bố ơi, bố nhìn này … con sâu to thế mà bọn kiến nó khiêng được, nom cứ như thể là nó đưa đám ấy bố nhỉ …

Bố: ối giời ơi … Biết cái quái gì mà đưa đám … Mà đưa tao cái điếu cày đã nào, cả tăm nữa … Nó đem về nhà nó chén đấy …

Mẹ: này mình ơi, ra em bàn cái vụ “nghỉ hè, nghỉ Tết” cái xem nào. Chứ người ta hỏi ý kiến phụ huynh, vô tuyến đài cứ là loạn cả lên chả biết thế nào cả.

Bố: ối giời ơi … lại cũng “kiến” với chả “voi”. Mấy chục năm nay vưỡn thế, giờ các bố muốn làm gì cứ làm, giỏi thì cứ thử đi. Sai thì lại sửa …

Mẹ: nhưng mà nó là cái chuyện thiết thân, giảm nghỉ hè cho chúng nó thì mình đỡ lo cái đận học hè, chơi bời lêu lổng, “chữ thầy giả thầy”, chán bi đáo rồi lại ra sông ra hồ vầy nước thì không khéo … Với lại Tết mình lại có thêm thì gian cho chúng nó lên thị xã chơi nữa chứ …

Con: a, hoan hô ! Tết này được nghỉ thêm hả mẹ ?

Bố: yên nào, nhóc con hóng chuyện người nhớn …

Con: con tưởng là bàn chuyện chúng con được nghỉ Tết thêm chứ ạ ?

Mẹ: đúng rồi … Việc của chúng mày đấy … là giảm … là nghỉ hè in ít thôi, tăng cái nghỉ Tết, nghỉ lễ lên cho nó “giảm tải” học hành … Ừ mà lạ nhỉ, sao nhà trường với lại ở “trên” người ta không hỏi ý kiến chúng nó nhỉ …

Con: hỏi ý kiến con thì con cứ là giơ cả hai tay …

Bố: này, mẹ con mày ở trên giời xuống đấy hở, mà háu bở thế ? Gớm … ý-kiến-con … có mà ý-con-kiến thì có ! Các “ông Nhà nước”, các ông í như voi như hổ, còn mình chỉ phận “con sâu cái kiến” thôi nhá. Các bố quyết gì, bảo gì thì chúng con phải theo thôi … Cái ngữ suốt ngày vục mặt xuống bùn với phân gio mà cày bừa đồng áng thì biết đằng mò nào mà …

Con: thế còn trẻ con … ?

Bố: chúng tao là “kiến” … thì chúng mày chỉ là phận … con của con kiến chứ còn gì … là con ấu trùng í. Ai điên mà đi hỏi cái lũ ấu trùng. Hiểu chửa ?

Con: à … có khi bố nói đúng thật đấy. Cô giáo con cô í dạy những câu như là “người đông như kiến cỏ” này, … rồi phải chịu khó “kiến tha lâu đầy tổ” … , “con kiến mà kiện củ khoai” … “con kiến mà leo cành đa” … là nói người dân đấy bố ạ.

Bố: thì chả là dân đen này chứ còn thằng nào vào đấy nữa … Là “dân đen” tức là nó nghèo khổ bửn thỉu, đen nhẻm như cái lũ kiến đen kia kìa …

Con: thế nhưng cô giáo lại bảo là đừng tưởng con kiến bé nhỏ là yếu ớt, ngu ngốc đâu. Cô kể cái chuyện “Voi-Kiến”buồn cười lắm cơ … Là lũ Kiến sợ Voi lắm, nhưng chúng nó biết đoàn kết, lại khôn đáo để. Nên một hôm chúng nó chui được vào tai con Voi …

Bố: … rồi nó đốt chứ gì ?

Con: không đâu ạ. Nó không đốt … Nhưng Voi thì tức lắm, chỉ chờ chúng nó ra là trị tội dám láo …

Bố: đúng quá !

Con: thế mà bọn Kiến nó còn đẻ ra đấy nhung nhúc những lũ Kiến con nhá ….

Mẹ: rõ khiếp !

Con: vâng … nó làm tổ luôn trong í, ngày ngày ra ra vào vào kiếm ăn tha mồi về mà Voi lại chả dám làm gì …

Bố: sao thế ?

Con: … vì duyên do là lũ Kiến con í, chúng nó suốt ngày nô đùa, nhảy nhót, tranh ăn … lại còn tẩn nhau khóc lóc loạn cả lên. Thế là anh Voi đinh tai nhức óc, điên đầu nhưng chả làm được gì, lại còn sợ nữa chứ …

Mẹ: ừ nhỉ ?

Con: … từ đấy giở đi Voi ta rõ là hiền lành ngoan ngoãn, nhũn như con … giun. Đi đâu, làm gì cũng phải rón rén se sẽ thôi, cũng phải hỏi-ý-kiến lũ Kiến con, chỉ lo chúng nó mà tức lên … nó lại la hét …

Bố: ối giời … Lại còn mai kia chúng nó nhớn lên, không biết điều là nó còn … đốt cho, thì có mà …

Con: đúng đấy ạ !!!

Ba Sàm

(Tạp chí Thế giới Văn hóa – số 10-2007)

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | 1 Comment »

58:Con thú tật nguyền

Posted by adminbasam on 05/10/2007

 

 

Con thú tật nguyền[1]


 

Nguyễn Hữu Vinh


Có ai đó chợt hỏi tôi “con người hơn con vật ở cái gì ?” Tôi đã chỉ ngay vào đầu. Người đó cười “sao không đặt tay lên ngực nhỉ ?” Tôi bảo từ bé tôi được dạy vậy, coi cái trí khôn (ở trong đầu) giúp cho con người chiến thắng muôn loài, làm ra của cải vật chất … là quan trọng hơn cả. Vậy còn thứ kia, cái con tim ấy, nó làm gì ? Nó không giúp tôi suy nghĩ, nhưng nó lại biết rung động, cho tình yêu đôi lứa, yêu con người, thiên nhiên, cuộc sống tự do … Nói đơn giản thì cái đầu là để nghĩ, còn con tim là để yêu.

Nhưng khổ cho con tim, khi tôi khốn khó, cần có cái ăn cái mặc, thì nó không được coi là quan trọng. Thế rồi khi có ăn có mặc, tôi lại có cái thói quen … quên nó mất rồi, nên nó lại tiếp tục bị quên, để tôi còn lo bon chen hơn nữa … tức là làm giàu, sống xa xỉ. Đến một ngày, tôi bắt đầu chán cái sự xa xỉ, vội sờ tay lên ngực mình, không còn thấy con tim thổn thức nữa. Nó đập như một cỗ máy.

Nhưng có lần tôi chợt để ý, khi nghe con gà trống ngoài vườn gáy rất nhiều, nó còn kêu … túc … túc … , nhặt lên lại thả xuống cái hòn sỏi, như mời gọi, rủ rê ai đó ? Hóa ra cu cậu vừa xổng chuồng, thoáng nghe tiếng cô gà mái nhà bên đang kêu … coóc … coóc … Một hôm khác, tôi lại nghe con chim vành khuyên trên cây sau nhà hót … chích … chích … rõ vui, nhìn ra thấy nó luồn cành bắt sâu chăm chỉ. Nó như thăm hỏi con chim bạn đang lặng lẽ, ngày qua ngày luẩn quẩn trong cái lồng đẹp đẽ tôi treo trên cành.

Tôi tự hỏi có phải con gà trống, con chim vành khuyên, chúng có thứ hơn mình, một con tim để mà rung động ? Thế thì so với chúng, tôi tuy là “con thú khôn nhất” nhưng “không tim” – không biết yêu.

Tôi quyết thử đi tìm cách hâm nóng cái con tim như cỗ máy của mình.

Lần thứ nhất: tôi tìm đọc sách, thấy sao nửa đầu thế kỷ trước trên văn đàn có thật là nhiều tác giả tài danh, tác phẩm hay thế. Mà không phải chỉ đơn thuần có truyện, còn bao nhiêu là sách nghiên cứu văn hóa, lịch sử. Lại còn thơ, nhạc, họa nữa cũng tuyệt diệu, gọi là để đời. Tôi tự gọi cái thời đó là thời “Phục hưng (hay Khai sáng chẳng hạn) của văn hóa Việt Nam”. Còn bây giờ thì sao nhỉ ? Đất nước ta độc lập, thống nhất rồi, đời sống lại còn có vẻ tấn tới nữa. Thế mà sao khác quá. Người ta ít đọc, đọc thì toàn sách “ngoại”, hát cũng phải nhạc ngoại mới hay. Khổ nhất là cái món thơ ngoại thì hơi bị khó “nhá”, trong khi thơ nội thì dù có đưa vào chương trình học mà cũng ít bài nào làm người ta thuộc nổi chứ nói gì tới ngâm vịnh cả đời như thơ thời phong kiến, thực dân. Lạ nhất là có hàng nghìn tiến sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu văn hóa … chứ đâu phải lác đác vài vị như ngày trước, thế mà hiếm thấy tác phẩm nào sánh được với người xưa. Hay là các vị viết chuyên phục vụ … xuất khẩu cả (như giày dép, quần áo chẳng hạn) ? Tôi thử lần hỏi bạn bè ở nước ngoài, thì tịnh không thấy có tác phẩm nào. Thế là cái con tim tôi nó lại lạnh đi. Chẳng oan cho nó, vì bao nhiêu những nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ … , những người thường có con tim dễ “thổn thức” nhất mà còn vậy, huống hồ …

Lần thứ hai: tôi quyết định thử làm “sĩ” xem vì sao nên nông nỗi này. Đầu tiên là định làm văn, thi sĩ, nhưng hỏi các vị đàn anh thì họ cười chua chát, bảo rằng nếu tôi có cái tài viết thì vẫn chưa đủ, mà còn phải biết viết theo kiểu “lách” nữa. Ngoài những bí ẩn mà tôi chưa hiểu nổi, thì cái gọi là “lách” đó, theo họ, nào là phải tránh “đụng chạm”, tránh nói quá xấu, mà phải có “gương tốt điển hình”, kể cả văn vẻ, nhân vật cũng không nên gai góc quá vì nó không phải là “phổ biến”, nhất là phải đúng với mục tiêu phấn đấu của …. triệu năm nữa, vân ..vân ... thì cái anh xuất bản, phát hành mới chịu (hỏi tại sao, thì họ hay chỉ tay lên trên … trời). Kế đến là phải cẩn thận, rất dễ được các nhà gọi là phê bình “mổ xẻ” ra trò nếu như mình có cái gì đó hơi khang khác, quai quái. Họ sẵn sàng dùng dao búa (tức là dùng ngôn từ “đao to búa lớn”, chứ đừng nhầm là kiểu xã hội đen) để chỉ vẽ cho người viết, mà không cần hiểu rằng độc giả mới là người quyết định. Vì quả tình trên văn đàn cũng quá thiếu mục tiêu để mà phê bình, nên mình nhú lên một chút là các vị đang muốn luyện bút liền ca bài “Trước ngày hội … bắn” ngay. Chưa hết đâu, sẽ còn có cả các vị quản lý của các vị này nữa, mà vũ khí thì tối tân hơn. Tức là chả cần “phê” với “bình” gì sất, mà là a-lê “kiểm điểm !” … Ôi, chưa hết đâu, cứ gọi là “Người người lớp lớp“, nhưng mệt quá rồi, không kể nữa. Nên tốt nhất là cứ viết theo kiểu “nhạt” là an toàn nhất (thực tình thì đây cũng là cách sống khôn ngoan của con người luôn). Nhưng viết “nhạt” thì quá dễ rồi, đúng với cái con tim lạnh của tôi rồi, trong khi tôi đang cố hâm nóng nó cơ mà. Đang bực mình thì đúng lúc nghe có cái hội nghị về lý sự, phê phán gì đó trong cái lĩnh vực này, tôi cố tìm hiểu để, thôi thì biết đâu quán triệt được cái định hướng tư tưởng một cái là mình yên tâm, nổi hứng viết hay thì sao. Nhưng chả có cách nào biết nội dung cái hội nghị, cho rõ đường lối chủ trương, tôi đành (chơi sang tí) kiếm nhờ cái vi tính, bật lên lướt oép một cái. Thế mà chả thấy đâu cái trang oép của cái hội văn thơ, chỉ thấy toàn oép của mấy xã ở tận Đồng Nai (họ lại còn có cả phần tiếng Anh mới oách chứ). Tội nghiệp quá, thế mà cứ nghĩ hội này của nhà nước thì cũng phải tươm lắm chứ. Giá các vị biết mà ké cẩm tí chút vào cái oép của xã nào đó thì hay biết bao, bà con nông dân lại còn được nhờ nữa.

Tôi lại thử ngó qua mấy “sĩ” khác, như bên sân khấu, điện ảnh, âm nhạc … Hóa ra cũng có chung một mô-tip cả. Thí dụ trong âm nhạc, có vị cố mãi lấy cảm hứng mà vẫn chưa được ca khúc nào trứ danh, đành tạm chấp nhận sáng tác những bài tầm tầm cho thanh niên nó nhảy nhót, tán tỉnh nhau; nghĩ “thế cũng là đóng góp rồi, cho chúng nó đỡ lêu lổng”. Nhưng báo hại là lại bị “đặt vấn đề” ngay là loại nhạc “gây sốc”, ăn búa rìu luôn (có vị luật sư còn hiến kế là nên xem xét vấn đề vi phạm pháp luật nữa mới hãi chứ). Vội nhảy sang loại nhạc “ngợi ca”, cứ hô khẩu hiệu loạn cả lên là ổn, chả có ai phê là nhạc … “gây ngủ” gì cả, mà lại rất dễ đắt với các Đài phường (tức là cái loa truyền thanh công cộng kêu choe choé của các phường xã cưỡng bức người ta nghe). Nếu quý vị chưa phân biệt được hai cái trường phái này thì tôi xin dẫn chứng. Đại để bài hát mà có câu “anh tức em sao chảnh dễ sợ”, sẽ dễ bị liệt vào loại “gây sốc”, là phiền. Nhưng đổi tí thôi, thành “anh góp ý em sao lơ là phấn đấu” là ổn ngay (biết đâu, tích cóp lại là có ngày còn được danh hiệu ấy chứ), dù “em” chả bao giờ biết thế nào là “phấn đấu” cả, nghe chỉ có gây ngủ. Nhưng an toàn vô cùng. Và tôi chợt ngộ ra là phải luôn sáng tác nhạc bằng cái … đầu lạnh, thật người lớn vào, già khọm thì càng tốt, chứ cứ bằng con tim hơi bốc một tí, trẻ con một tí là gay.

Thế mà vẫn chưa hết, nhiều vị, nhất là diện cao niên và danh tiếng, còn phàn nàn quanh chuyện phong tặng danh hiệu. Nào là phải làm đơn xin xỏ, xét lên xét xuống, tranh cãi, mà muốn tránh cũng không được (vì “chơi” khác người là “mệt” ngay – như phần trên đã viết. Nhất là sẽ bị trơ khấc ra là kẻ “chậm tiến”, nhục lắm !). Thế là hết cả hứng sáng tác, vì buồn bực, giận dỗi, cả cảm giác bị xúc phạm; chẳng khác gì đang được bay bổng thì … hết xăng, rơi bẹt xuống đất, “chết” luôn … cái tâm hồn nghệ sĩ của mình. Vì các vị ấy thì ta đều biết là những người tuy có thể thiếu cái đầu lạnh, nhưng lại có con tim nóng và thường nhạy cảm, khái tính. Vẫn chưa hết. Lại còn chuyện có vị do có trái tim cũng hơi … âm ấm, làm người ta nhầm tưởng là đa tài, là thể nào cũng có cái đầu lạnh nữa, nên được đưa qua kiêm luôn làm “quản lý”-tức là chăn dắt cái giới “sĩ” của mình. Một số vị khác thì thấy tim mình hình như hơi bị … man mát đi, nên ứng biến rất khôn, nhảy ngay sang nhóm đầu lạnh (quản lý). Nảy sinh ra bao nhiêu là chuyện dở khóc dở cười.

Còn vô vàn chuyện nữa đã làm tôi nản chí, nghĩ nếu cứ quẩn quanh quanh quẩn mãi thế này thì chả biết đến bao giờ cái ngành “sĩ” của ta mới khấm khá lên được. Thế là tôi cũng hết muốn hâm nóng con tim, thề nhiều kiếp sau cũng quyết không theo cái nghiệp “sĩ”. Đang chán nản quá thì có ông bạn hí hửng khoe là dạo này hình như có tí “khởi sắc” trong cái làng văn, mấy cuốn sách hơi bị “nhạy cảm” mà vẫn lọt lưới được. Hỏi ra thì đúng vậy. Một cuốn của cái ông Trường viết về lịch sử nội chiến ở Việt Nam, nhà Nguyễn đánh ông Quang Trung. Đụng đến chữ “nội chiến”, rồi “hạ” ông Quang Trung, “nâng” nhà Nguyễn có ông Nguyễn Ánh bị các nhà sử-chính trị cách mạng gắn cho cái tội “cõng rắn cắn gà nhà” là quá liều rồi)[2]. Cuốn thứ hai của nhà ông Hoài, đem cái Cải cách ruộng đất long trời lở đất ra mà bôi bác (cũng quá là táo tợn đi)[3]. Cuốn thứ ba là của ông Ngọc, ai đời lại đi ca ngợi là đế quốc thực dân ngày xưa cũng đem lại cho ta nào là chữ quốc ngữ, rồi văn hóa văn minh phương Tây … (trái với “đường lối tuyên truyền” rồi)[4]. Nghiến ngấu hết ba cuốn sách, tôi phấn khởi tợn, sắm ngay bút mực định khởi công viết, ấy thế mà lại có tay khác nói ngang ngay. Hắn bảo “ối giời … toàn những tác phẩm viết ra từ đời tám hoánh, của mấy bố “điếc” không sợ … kiểm điểm“. Tôi giật mình, ngẫm mới thấy đúng thật. Ba nhà này, một bác thì đang yên vị tít tận phía bên kia trái đất, hai cụ ngồi ngay Thủ đô nhưng thuộc diện “xưa nay (cực) hiếm” rồi, gọi là U90. Bảo “điếc” không sợ, quả cấm có sai ! Thương cảm nữa là cụ Ngọc, trong lời phi lộ của cuốn sách lại phải những hai lần nhắc tới cái sống cái chết của mình. Vậy có lẽ là các vị quản lý cũng biết thương, còn tí cái đạo lý người Việt “kính lão đắc thọ”, nên tha không kiểm điểm (hay là sợ đang kiểm điểm giữa chừng thì ngộ nhỡ các cụ … ? Thôi chả dám nói). Chưa xong, tay bạn còn bảo “thử hỏi cái cô Tư nhà văn chân đất mà xem, bạn đọc cứ là cả triệu, thế mà vẫn được mấy bố tuyên huấn cạo rửa ra trò vì cái “tội” nói xấu chế độ … tỉnh nhà. Báo chí, Hội văn thơ phải lăn vào mà bảo vệ một ngôi sao hiếm hoi trên bầu trời văn nghệ “đêm … sau đổi mới”. Thoát cái “tội” viết thì lại đến cái ” tội” phát ngôn thiếu suy nghĩ. Thế là cũng phải cúi đầu xin lỗi mới yên để tìm đường viết theo kiểu lách[5].

Thế là tôi lại nản. Chả nhẽ giờ phải chơi kiểu như chị em mình ngày xưa chửa hoang, “đẻ con tinh thần” ra, nuôi dấm nuôi dúi trong nhà, rồi chờ đến lúc xắp … về cõi mới chạy giấy khai sinh, mới xin cho nó bước ra cửa, để cho nó tiễn đưa mình luôn à ?

Nhưng được cái là con tim tôi từ dạo đó nó khôn lên bao nhiêu. Nó biết … nghĩ mới quái chứ, không thua gì cái đầu. Nhờ nó, tôi đâm ra khôn kinh khủng, vì có thêm cả con tim không những không làm cái đầu “chệch hướng”, mà còn biết nghĩ thay cho cái đầu nữa, nó không bao giờ thèm thổn thức, rung động, kể cả lỗi lầm. Họa chăng khi cần thì nó cũng giả vờ thổn thức, … là tuyệt cú mèo. Cũng từ dạo đó, tôi chẳng thèm quan tâm đến bọn gà, chim nữa, còn nỗi đau niềm vui của thiên hạ thì càng xa lạ.

Không giống ai. Tôi tuy vẫn có con tim biết yêu, nhưng yêu một cách … lạnh lùng. Còn cái đầu thì lại lười đi, nó ít phải nghĩ hơn. Tôi như “con thú tật nguyền”.


(Tạp chí Nhà Quản lý – số 44/2007 – trên blog này là bản đầy đủ)


[1] “Đạo tên” truyện của Ngụy Ngữ

[2] Tạ Chí Đại Trường – Việt Nam thời Tây Sơn Lịch sử nội chiến 1771-1802

[3] Tô Hoài – Ba người khác

[4] Phan Ngọc – Sự tiếp xúc văn hóa Việt Nam với Pháp

[5] Nguyễn Ngọc Tư – Cánh đồng bất tận

Posted in Bài của Ba Sàm, Văn hóa | 2 Comments »

Thảm họa sập cầu Cần Thơ: Những cái lý để từ chức

Posted by adminbasam on 03/10/2007

Thảm họa sập cầu Cần Thơ

Những cái lý để từ chức

Trong cuộc sống hàng ngày, bất cứ nỗi đau nào của con người cũng rất cần được một sự xoa dịu an ủi nào đó. Có nhiều đối tượng cần có cử chỉ xoa dịu với những người có nỗi đau, nhưng tựu chung chỉ có hai loại: người trợ giúp và kẻ phải đền bù. “Trợ giúp” là từ phía những người vô can, tức là không mắc lỗi đối với nỗi đau đó. Còn “đền bù” là từ những kẻ liên can, mắc lỗi ít nhiều gây ra nỗi đau. Về hình thức, cũng có nhiều cách để trợ giúp và đền bù, nhưng chỉ dưới hai dạng: vật chấttinh thần. Trợ giúp hay đền bù về vật chất đều không khác nhau bao nhiêu (cả hình thức lẫn mức độ nhiều ít) gồm sức lực, tiền bạc, của cải, hay một phần cơ thể như hiến máu, tủy, nội tạng. Còn về tinh thần thì trợ giúp và đền bù lại khác hẳn nhau (cả hình thức lẫn mức độ). Trợ giúp là bằng tiếng nói, lời ca, vần thơ, câu chuyện … tường thuật, phân tích, an ủi, ca ngợi, động viên, và bằng hành động làm chứng trước công luận, tòa án. Còn đền bù là bằng lời nói hối lỗi, tự xỉ vả và hành động nhận lỗi từ xin chịu hình phạt bằng thôi công việc, từ chức, chịu kỷ luật,  bị trục xuất, nhận tội rồi đi tù, cho tới tự tử, hoặc chuộc lỗi là làm việc gì đó để hạn chế, bù đắp tổn thất. Một khi không tự giác đền bù thì sẽ không tránh khỏi búa rìu dư luận, cao hơn sẽ có biện pháp tổ chức, xử lý hành chính, hình sự, đây cũng chính là điểm khác nhau căn bản nữa giữa “trợ giúp” và “đền bù” – đó là ý thức tự giác.

Mỗi loại, mỗi dạng xoa dịu đều có những giá trị, ý nghĩa khác nhau.

Từ đó, ta thử nhìn lại thảm họa sập cầu Cần Thơ[1] vừa qua, gây nên nỗi đau ghê gớm không chỉ cho những gia đình có người thân bị nạn, mà cho tất cả những người dân Việt – trong, ngoài nước, cho cả ít nhất là những người không phải dân Việt nhưng có liên quan ít nhiều, như đang sống, làm việc ở Việt Nam, yêu quý người dân Việt Nam v.v.. Hai dạng xoa dịu – vật chất, tinh thần – chúng ta đều đã rõ trong mấy ngày qua, nhiều tỉ đồng, bao nhiêu thời gian, công sức và máu, những bài báo, thư điện, đoàn lãnh đạo, quần chúng thăm hỏi. Trong hai dạng đó có đủ hai loại – trợ giúp và đền bù ? Quả tình chúng ta mới chỉ thấy những người trợ giúp, là tất cả những con người, cơ quan, tổ chức “vô can” trong vụ này. Còn loại xoa dịu bằng đền bù từ những người “liên can” thì sao ? Đó chính là điều đáng bàn ở đây.

Lần đầu tiên sau 3 ngày cầu sập, ngày 29-9-2007 đã có cuộc họp báo[2]của chủ đầu tư-Bộ Giao Thông Vận tải và nhà thầu chính-liên danh TKN. Đây thực chất là những bên “liên can” cần phải có những cử chỉ đền bù để xoa dịu nỗi đau cho cả trăm triệu con người. Và họ đã làm gì ? Chủ tịch tập đoàn Taisei và những người đại diện cho các nhà thầu Nhật Bản đã gửi lời xin lỗi đến toàn thể nhân dân Việt Nam và hứa “chăm sóc tốt gia đình những người bị nạn và những người bị thương”. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng cũng gửi lời “xin lỗi tới toàn thể nhân dân, người bị nạn và gia đình”. Đó là một phần của sự đền bù bằng tinh thần. Còn cao hơn, như nói ở trên, bằng xin thôi công việc, từ chức, đi tù … thì chưa có. Bộ trưởng Dũng khi được hỏi về trách nhiệm thì ông nói “nhà thầu chính sẽ chịu trách nhiệm chính, chủ đầu tư là Bộ GTVT cũng có trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước”; thậm chí ông còn phủ nhận là ngày 27-9 ông đã nói “trách nhiệm chính thuộc chủ đầu tư dự án”. Về khả năng xin từ chức, ông bảo “phải đợi đến sau khi điều tra, xác định nguyên nhân từ đâu và trách nhiệm của bộ trưởng đến đâu, từ đó chiếu theo quy định của pháp luật tôi sẽ xem xét đến việc có từ chức hay không”.

Đến đây nổi lên một điều quan trọng là trong hai đối tượng phải chịu trách nhiệm chính trong vụ sập cầu này, một – nhà thầu Nhật Bản – gần như sẽ phải chờ tới phán quyết của cơ quan pháp luật, còn một – chủ đầu tư, Bộ GTVT – lại không hẳn phải như vậy. Ông bộ trưởng Dũng nói việc ông có xem xét tới chuyện từ chức hay không còn phải chờ kết quả điều tra, nhưng ông lại quên chính điều ông nói ngay trước đó là Bộ GTVT của ông “cũng có trách nhiệm về mặt quản lý nhà nước”. Mặc dù ông đã cố làm nhẹ vấn đề bằng những từ ngữ dễ gây cho người đọc phẫn nộ về thái độ lẩn tránh trách nhiệm, nhưng ít ra cũng gợi nên cho bất cứ ai am hiểu có thể nhận ra rằng việc đi tù thì phải đợi tới kết quả điều tra, nhưng việc làm kiểm điểm, xin từ chức, chịu kỷ luật đảng v.v.. thì lại không cần phải đến vậy, đó chính là cái trách nhiệm về quản lý nhà nước mà ông nói. Cũng như trong câu hỏi của nhà báo, rằng ở các nước khác, khi xảy ra sự cố nghiêm trọng như vậy, bộ trưởng thường từ chức, họ đâu có phải như ông – đòi đợi có kết quả điều tra ? Ông cũng như họ, đều có cái trách nhiệm về quản lý nhà nước, một khi xảy ra sự cố nghiêm trọng thuộc phần hành mình quản lý, lẽ đương nhiên mình phải chịu trách nhiệm tức thì.

Có điều, ở đây ta cũng thử đi tìm sự cảm thông nhất định với ông Dũng, đó là từ việc cất nhắc cho tới từ chức của ông còn phụ thuộc vào “tổ chức”, vào sự sắp xếp của đảng, ông không dễ “tự ý” mà xin được. Vậy thì ông có thể “xin” được tự kiểm điểm, nhận hình thức kỷ luật nào đó trong trách nhiệm người cán bộ, đảng viên hay không ? Ông có rất nhiều “vũ khí” cho mình, ví như tinh thần “phê, tự phê” của người đảng viên chẳng hạn. Nhất là nếu như ông còn là bí thư hay phó bí thư Đảng đoàn, Ban cán sự cơ quan Bộ nữa.

Một lần nữa cảm thông với ông Dũng khi ông nói cần “chiếu theo quy định của pháp luật” để xét việc ông có xin từ chức hay không, ta thử lần tìm tới văn bản pháp luật liên quan. Đó là Pháp lệnh công chức 1998 (được sửa đổi năm 2000 và 2003)[3], thì chỉ có 6 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc – Điều 39) chứ hoàn toàn không có hình thức “xin từ chức”. Điều này quá dễ hiểu vì đã là “xin” có nghĩa phải là “tự”, là tự giác. Liệu ông bộ trưởng GTVT có biết điều này ? Hay “pháp luật” mà ông nói ở đây là Luật Xây dựng, Luật Hình sự ? Dĩ nhiên hai bộ luật này (cùng kết quả điều tra) chỉ xác định trách nhiệm cụ thể, thường là gián tiếp, của ông trong thảm họa sập cầu Cần Thơ chứ không quy định việc ông có phải tự “xem xét đến việc có từ chức hay không”.

Thế nên thật rõ ràng rằng việc “xin từ chức” chính là một giải pháp nằm ngoài quy định của pháp luật, tuy nhiên nó lại gắn liền, nằm ngay sau những quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước, của công tác tổ chức cán bộ, thái độ gương mẫu của người lãnh đạo, của phẩm chất người đảng viên, và nằm trong cái đạo lý của một con người bình thường, cao hơn thì ở cái tiết tháo của một “nhà quan” khi đối mặt với những đau đớn tột cùng của muôn người, không thể không tự nhận cho mình một hình phạt để tựa như sự đền bù cho những tổn thất mà mình phải gánh phần trách nhiệm chính. Ông có thể tham gia hiến máu cho những người bị thương, có thể nghẹn ngào khi đọc lời tạ lỗi, nhưng với cương vị một bộ trưởng “liên can”, từng đó thôi chưa đủ, chưa xứng, thậm chí dễ gây nghi ngại thành phản tác dụng cho đòi hỏi phải xoa dịu nỗi đau.

Có một cái lý đời thường nữa, là nếu người lãnh đạo thực sự nghiêm minh, có năng lực, ý thức trách nhiệm thì đương nhiên bộ máy của mình sẽ ít khả năng gây ra tổn thất lớn, còn một khi thực tế ngược lại (để xảy ra sự cố vừa qua) thì có nghĩa ông ta đã không đủ tiêu chuẩn cho vị trí của mình. Vẫn biết rằng ông rất dễ lại đổ cho “cơ chế”, thế nhưng cái “tập quán” này cũng không thể để tiếp tục “sống” dai dẳng; đơn giản là cũng nhờ “cơ chế” nên mới có bao nhiêu cái ơn mưa móc, để những con người không đủ tiêu chuẩn vẫn được cất nhắc lên những vị trí trọng yếu, vậy thì khi gây ra tổn thất, không thể quay ra đổ tại cho nó được. Càng cần thiết phải nghiêm khắc hơn khi mà ngành GTVT đã có quá nhiều những bê bối lớn nhất trong lịch sử nước nhà, từ vụ lật tàu E1[4] cho tới vụ PMU18[5] nhưng không hề có sự nhận lãnh trách nhiệm thỏa đáng của người lãnh đạo đầu ngành, chỉ thấy họ được “hạ cánh an toàn”. Thêm nữa, tổn thất trong vụ sập cầu này cũng quá lớn về tiền của, nhân mạng, lòng tin vào chính quyền, lợi ích kinh tế của đất nước, đời sống dân sinh của hàng triệu bà con nông dân đồng bằng sông Cửu Long, … đâu dễ tiếp tục lối tránh né đó mãi ?

Tới đây, liệu có cần thêm một câu hỏi rằng có phải đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn đang phát động, chắc phảibằng hành động chứ không phải lời nói xuông (?), một đợt “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” kéo dài trong nhiều năm ? Và đây rõ là một thử thách khốc liệt cho chính những người lãnh đạo lãnh trọng trách phải đi đầu, làm gương trước dân trong đợt học tập này.

Đó là những cái lý giúp cho ông bộ trưởng GTVT không phải băn khoăn nhiều đến việc xin từ chức.

(Tạp chí Nhà Quản lý – số 52)

[1] VietnamNet 26/9/2007: VideoClip Vụ sập cầu ở Cần Thơ

[2] Báo Tuổi Trẻ, ngày 30-9-2007, Mọi việc hoàn hảo, trừ … thảm hoạ (!)

[3] Trang thông tin điện tử Văn phòng Quốc hội: http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/index.html

Posted in Bài của Ba Sàm, Chính trị, Gia đình/Xã hội, Kinh tế Việt Nam, Đảng/Nhà nước | Leave a Comment »

Giả Dối là cha Gian Dối

Posted by adminbasam on 02/10/2007

Giả Dối là cha Gian Dối

- Út Măng ơi, ăn mừng đi, quả này thắng lớn rồi …

- Oáo, sếp Phó Bí tôi hồi này còn chơi lô-tô Kiến thiết Thủ đô nữa hay sao đây ?

- … Cậu biết không, các thầy vừa thông báo quyết định đặc cách cho tớ …

- Thành “Ông Trạng” luôn khỏi học ?

- Không, có mà điên ….

- Được làm … thầy luôn ?

- Cậu cứ lăng nhăng. Tức là giờ tớ chả phải thi thố, “vượt rào” vượt cạn môn nào hết. Một phát luận án tốt nghiệp là xong !

- Dóc tổ … à, xin lỗi … là sếp nói chơi hay thiệt dzậy ?

- Tớ có nói dối … mà làm gì … Nhưng mà có điều làm tớ hơi băn khoăn …

- Băn khoăn là không “quay” mà phải chuyển qua “cọp” luận án chớ gì ?

- Không phải, mà là cái tên của nó cơ, là “CHỐNG-GIAN-DỐI-TRONG-THI-CỬ”.

- ???

- Làm sao mà mắt trợn ngược thế ? Cậu cho là khó quá à ? Không biết là tớ đang bán tín bán nghi đây này, là có phải các bố muốn “chơi” mình, thấy mình “dính” mấy quả thi mấy môn trước nên giờ …

- Sếp lại đa nghi rồi. Theo thằng em thì đây là chiến thuật gọi là”dĩ độc trị độc” và “nhất cử lưỡng tiện” cực hay. Tức là các thầy biết sếp quá siêu cái dzụ … “ảo thuật” trong thi cử, giờ vừa khó đối phó với sếp, lại vừa muốn “tìm kiếm tài năng”… trẻ để chống gian dối …, nên mới quyết dzậy.

- Cậu nói nghe có lý … Thôi, giờ mình bàn thẳng luôn vào nội dung nhá. Là theo cậu, sẽ viết gì đây, chẳng nhẽ mình lại … không giữ “bản quyền” các “chiêu” của mình à ?

- … Đúng là khó … À, mà được rồi … em có cách cực hay, đi vào bản chất vấn đề mà lại không lộ “chiêu” …

- Được lắm, nói đi !

- Giờ bắt đầu, mình phải xác định xem căn nguyên làm sao mà sinh ra cái dzụ gian dối này. Nên em hỏi sếp nghen. Sếp có thích đi học không ?

- Có mà điên, vì sự nghiệp … là phải thăng tiến thì đi chứ. Tần này tuổi rồi, lại chả có năng khiếu khỉ gió gì …

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,

Ham rong chơi qua mỗi lần trốn học” …

- Đó … vấn đề là ở đó đó … Dzậy nếu sếp không đi học thì sao ?

- Cậu hỏi ngớ ngẩn quá. Thứ nhất là cái bằng này là bắt buộc này, nếu không có nó là … nghỉ khỏe. Thứ hai, cái học vị kia mà không có, thì … mình như cái thằng “vô học”, chúng nó có cả. Lúc đưa lên “bàn cân”, người ta cân nhắc … là mình thua. Ai mà đánh giá rõ được năng lực, tư cách … với lại nói chung cái khoản này, nếu xét kỹ thì mình cũng … hơi bị gay.

- Dzậy là xong, đó là một phần của cái Luận án này, nó được đổi tên là “DIỆT-GIẢ-DỐI-ĐỂ-CHỐNG-GIAN-DỐI” …

- Nghe lạ quá. Giả dối cái gì ?

- Tức là cái chuyện sếp đi học chớ cái gì nữa, đâu phải do nhu cầu nâng cao kiến thức, rồi chuyện đánh giá cán bộ qua bằng cấp, cũng dễ bị “dỏm” theo cái bằng của sếp luôn. Giờ tiếp nghen. Thế em hỏi sếp là nếu sếp, sếp A, sếp B … nhiều sếp bự đi học, mà thi đều bị rớt thì có ảnh hưởng gì không ?

- Ảnh hưởng quá đi chứ. Nhà trường sẽ bị đánh giá chất lượng dạy này, rồi … người ta cười cho … toàn thằng tai to mặt nhớn mà … dốt, lười.

- Quá chuẫn đi. Nghĩa là các thầy cũng sẽ phải tìm cách dạy, thi cử kiểu du di cho các cha đậu “chăm phần chăm” là thầy trò cùng dzui cả. Dzậy là được ba mục trong luận án rồi. Tiếp … Còn sắp nhỏ ở nhà, tụi nó có thắc mắc chuyện sếp đi học không ?

- … À, chúng nó cứ trêu tớ. Thằng nhớn nó còn bảo “bố cứ yên tâm đi, khi nào thi, con chỉ cần đeo râu mang kính vào, con vào con thi hộ bố là … ngon hết”. Bọn trẻ giờ khôn đáo để, gì cũng biết hết !

- Đó, chúng nó “khôn” là tại sếp, tại người lớn hết … Tức là nội cái dzụ “giả đi học” của sếp cũng thành như “vẽ đường hươu chạy” cho tụi trẻ, nó sẽ coi gian dối trong thi cử là … chân-lý-sáng-ngời. Rồi nó cũng phải “phấn đấu” học … “quay” sao cho giỏi, cho hơn cha thì sau này nhà mới có phước chớ. Sơ sơ vài mục dzậy là cũng thấy được tình trạng giả dối tràn lan trong xã hội nó là căn nguyên của chuyện gian dối thi cử, học hành … Tức là mấy thằng Giả Dối nó là cha cái tụi Gian Dối đó. Mình muốn chống Gian Dối, thì trước tiên, mình phải phăn cho ra hết mấy thằng cha … mắc dịch của nó đã. Diệt được thằng cha rồi thì làm sao có được thằng con. Khỏi chống với đỡ gì luôn, khỏe re à !…

- Ấy, hượm đã. Thế còn mẹ nó, mẹ mấy thằng Gian Dối ấy ? Mình mà diệt mẹ nó đi thì có phải tốt hơn không ?

- Á, ý hay tuyệt ! Chứng tỏ là sếp cũng … đâu đến nỗi. Đây chính là phần hai của luận văn. Nhưng hơi bị kẹt đây …

- Kẹt gì ?

- Kẹt vì mẹ tụi nó … là … chính là sếp đó, chớ còn ai …

- Cái gì ???

- … Tức là mấy thằng Giả Dối ấy, nó … “tằng tịu” với sếp, sếp cũng “thương” lại nó luôn, rồi sếp mới mang “bầu”, mới “đẻ” ra mấy thằng Gian Dối … Ghê chưa ?

- Trời ơi ! Nghe khủng khiếp quá ! Thế chả nhẽ …

- … “chả nhẽ” sếp tự diệt sếp chớ gì ? Rồi sếp cũng tội nghiệp cho “người tình” của sếp nữa phải hông ? Dzụ này thì em chịu … xin để sếp quán triệt cái “phê, tự phê” coi …

- Hượm đã ! Út Măng, hượm đã … Thế … thế còn ông nội nó, cụ cố nội nó, cả lò nhà nó … của mấy thằng Gian Dối í … còn sống cả không ?

- Trời ơi Trờ … ời … ! … Bộ sếp muốn “tiêu” luôn hay sao mà hỏi dzậy ??

Ba Sàm

Posted in Bài của Ba Sàm, Giáo dục, Tiểu phẩm Tếu | Leave a Comment »

 
%d bloggers like this: